người đàn bà mặc quần và nhảy múa

Túy Ca

Nàng cũng có thể là một giai nhân đồng tính nữ tiên phong và ngổ ngáo nhất trong lịch sử nhân loại với những người tình mà người ta vĩnh viễn không bao giờ được biết tới. Hình tượng lưỡng tính ấy cũng rất có thể đã chỉ là một siêu phẩm liều lĩnh và hoàn hảo của công nghệ PR thời tân điện ảnh. Nhưng điều mà Marlene để lại cho thế giới là những chiếc quần dành cho quí bà, những người đàn bà thích sải những cặp trường túc để đạp đổ định lề, và để nhảy múa.

Lưỡng tính hay phi giới tính?

Nàng bao phủ đài huyền thoại bản thân bằng một làn sương khói lẫn lộn thực ảo, với lời xác thực duy nhất được kẻ trong cuộc mang theo xuống tuyền đài, bỏ lại phía sau hàng thế hệ tín đồ vĩnh viễn ôm trong lòng mối ngờ hoặc về những sự thật nhạy cảm không thuộc về mình. Mặc nhiên, phong cách, nghiệp mệnh và tuyên ngôn sống của nàng mãi mãi được ngưỡng vọng và tôn vinh bởi những tâm hồn tự do, những đứa con trai và con gái của Thần Ái Tình phi giới tính.

Nàng chưa từng khẳng định bất cứ cuộc dan díu ái tình nào với một phụ nữ, trong khi các nhân vật do nàng hóa thân, luôn biến đổi khôn lường, và luôn phảng phất một sự nhập nhằng bất định giữa hình hài một người đàn bà sắc sảo, ngấm ngầm lửa dục, và một khi nào đó khác, nàng lại có sự quyến rũ của một quí ngài lạnh lùng và tàn nhẫn. Không ai được biết đến một madame Marlene thật sự.

Vậy mà nàng lại là tất cả để đại diện cho tinh thần tự do luyến ái và tất cả những lý tưởng tối thượng mà cộng đồng gay trong thế giới đương đại vẫn hết lòng ngưỡng vọng và tụng ca.

Chính vẻ lưỡng tính thanh lịch và quyến rũ kì lạ của Dietrich khiến nàng trở thành hình mẫu lí tưởng của dòng bút siêu xa xỉ MontBlanc mang tên nàng: Marlene Dietrich như một sự ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho một tinh thần mã thượng quí phái bên trong dáng vẻ của một tuyệt tác nghệ thuật cầu kì và tinh xảo. Dòng Marlene Dietrich là những thanh viết máy mạ bạch kim và nạm một viên saphire màu xanh biếc, gợi nhớ tinh thần siêu phẩm Blue Angel.

Một sản phẩm xa xỉ nổi tiếng khác của thế hệ siêu tín đồ của madame Marlene là dòng nước hoa Angel của Thierry Mugler. Tay tài hoa cổ quái đích thân thiết kế vỏ chai hình ngôi sao sắc lạnh, bên trong chứa thứ hợp hương màu xanh biển óng ánh thuần khiết. Hình ảnh đôi lưỡng quyền cao, mái tóc hung chải chuốt và vẻ lạnh lùng quí ông phía trên một thân hình Vệ Nữ của Dietrich cũng luôn ám ảnh các bộ sưu tập haute couture của Mugler, tạo nên những thế hệ phiên bản sặc sụa khí chất nữ quyền.

Phong mạo của nàng, ngang tàng nhưng không thô lậu. Marlene sở hữu cho mình một sự khôn ngoan tinh tế của một diva sành sõi, khéo léo chọn những bộ nội y tôn tạo kiêu hãnh cho khuôn ngực cao, những bộ smoking chít eo sắc sảo, những cặp quần dài khoe tối đa đôi trường túc trứ danh, và kỹ năng trang điểm tuyệt nghệ cho đến về sau vẫn làm khuôn mẫu cho những tín đồ trường phái pinup, những cặp lưỡng quyền cao bên dưới đuôi mắt khép hờ, trễ nãi và gợi tình.

Như một nàng thơ bất hủ của thời trang và tinh thần avant garde, vị tổ nghiệp haute couture Yves Saint Laurent đã từ khí chất lưỡng tính ma mị của madame Marlene mà làm nên một cuộc cách mạng vĩ đại, vĩnh viễn đảo lộn tủ quần áo nhân loại dưới cái tên cũng sặc sụa hơi khói như giọng ca của chính nàng – Le Smoking.

Cây vĩ cầm mồ côi và Thiên Sứ bạc phần

Maria Magdalene Dietrich sinh ngày 27 tháng 12 năm 1901, tại Berlin, con gái của một trung úy cảnh sát. Nàng lớn lên giữa môi trường của âm nhạc và bắt đầu biểu diễn vĩ cầm từ năm 12 tuổi. Nàng luôn ưng chọn mặc những bộ tuxedo của các cậu con trai hơn là mặc váy. Dường như nàng đã hiển hiện tài năng của một thần đồng âm nhạc cho cả một tương lai được định hình trải thảm. Nhưng chỉ vài năm sau đó, cuộc đời cô nhỏ tomboy chợt rẽ ngoặt ngoạn mục, khi cô mất cả cha lẫn mẹ trong một vụ tai nạn, và chính Marlene bị thương nặng nơi cổ tay, nàng không còn chơi vĩ cầm được nữa. Tất cả những gì nàng còn lại cho tương lai chỉ là một phong mạo dị biệt và một tâm hồn vĩnh viễn đóng cửa với thế giới bên ngoài.

Mãi mãi về sau, không ai biết gì về những năm hoa niên trong đời Marlene sau đó, cho đến mốc thời gian 1921, cô thay tên đổi họ và thi tuyển vào trường kịch nghệ nổi tiếng khắt khe nhất nước Đức của đạo diễn Max Reinhardt. Marlene đã không đủ xuất sắc để dành được suất học tại học viện danh tiếng của ông. Dietrich tái xuất trong buổi diễn thử trước mắt Reinhardt 2 năm sau đó, lần này, Reinhardt thua cuộc, còn Dietrich nghiễm nhiên trở thành học viên kịch nghệ của ngôi trường khắc nghiệt nhất Berlin. Nơi đây, nàng đã bắt đầu sắm một vài vai phụ trên cả sân khấu ca kịch lẫn một số phim ngắn, cùng lúc làm thuê tại một xưởng làm găng tay để trang trải học phí. Sau khi ra trường, Marlene đã bắt đầu hình thành tên tuổi của mình trong thị trường màn bạc mới, khi này còn là kỹ xảo tân kỳ trong làng giải trí thế giới.

Dường như số phận đã mỉm cười và xoa đầu cô nhỏ thích mặc đồ con trai. Êm ái như một bước dạo đài vinh quang, Marlene – như một cô đào mới nổi và đang được ưa chuộng, kết hôn với đạo diễn Rudolf Sieber và có với nhau bé gái Maria. Lại một lần nữa, dường như con đường trải dưới chân Marlene trở nên rõ ràng và quang đãng, nếu như không có cuộc gặp gỡ định mệnh với tay đạo diễn người Áo, kẻ đã âm thầm trong một thời gian dõi theo từng khuôn hình màn bạc thuở ban đầu của nàng, từ khi còn là một cô học trò trường kịch nghệ.

Khi này, nàng Marlene 29 tuổi với hơn 20 bộ phim trong hồ sơ, và vừa trúng đậm một vai để đời trong bộ phim làm nên huyền thoại của Josef von Sternberg – Blue Angel. Quả tình, cái tên đầy màu sắc hi vọng Thiên Sứ Xanh đã phù trợ một đòn bẩy tuyệt hảo, chính thức bắn tung cả Marlene lẫn Sternberg lên vòm trời cao nhất của các minh tinh thượng thặng, lưu danh mãi về sau. Điều duy nhất bị bỏ lại sau lưng nàng là chồng và con gái Maria, khi cùng Sternberg lên đường chinh phạt hào quang Hồ Ly Vọng.

Nước cờ mạo hiểm của “quí bà mặc quần”

Cho đến tận nay, các nhà phê bình và cả giới thời trang vẫn xem hình tượng Marlene Dietrich trong Blue Angel là một hình hài tiên khởi của nét quyến rũ lưỡng tính mãi mãi trở thành dấu ấn bất hủ của huyền thoại Marlene. Một trong những scene gây dư luận nhất ở Morocco, nàng xuất hiện trong bộ smoking đen của đàn ông và hát tặng một quí bà, hiển nhiên là đang ngất ngây vì những lời ve vuốt thốt lên từ một bộ dạng lịch thiệp lưng ong. Marlene nhón tay cầm lấy cành hồng đặt trên đùi người phụ nữ, hôn nàng thật nhẹ lên môi, và chính thức in dấu son của nụ hôn đồng tính nữ đầu tiên lên lịch sử màn bạc thế giới.

Đó đã là một nước cờ hình ảnh liều lĩnh nhưng Marlene đã thắng. Mọi khán phòng lặng ngắt với những đôi mắt mở to và những bộ hàm tê liệt, trước mắt họ là một người đàn bà “dám” mặc quần áo đàn ông và công khai thứ cảm khoái nhục dục kì quặc của việc luyến ái với kẻ được Chúa cho một chức năng và thân thể giống như chính mình. Thế mà trông nàng mới lộng lẫy, ma mị, và trên hết, trông nàng mới gợi tình làm sao!

Không lâu sau, Dietrich được đánh giá là người mặc nam phục đẹp nhất Hollywood.

Hiệu quả của nước cờ liều đã được khẳng định, và không còn có gì có thể ngăn Sternberg cùng Marlene tiếp đục theo đuổi hình tượng lưỡng tính của cái mà họ cùng gọi là “trò hề ở Morocco”. Nàng xuất hiện ở khắp nơi trong một phong thái được chờ đợi trước – hẳn nhiên là ngời ngời nam tính, nhưng luôn gây bất ngờ. Khi thì kiểu đồng phục lính thủy phóng túng phong tình, lúc thì bộ tuxedo trắng ngạo nghễ dáng vẻ công tử bột, thậm chí là cả những bộ quần áo lót của nam giới, vỗ về ôm chặt lấy những đường cong đàn bà. Quí bà quí cô ngỡ ngàng lần mò cảm xúc xa lạ khi ao ước được nàng ném cho những ánh đong đưa qua đuôi mắt dài sắc lẻm, cùng lúc không quên nhắc cánh đàn ông nhớ rằng đằng sau lớp áo quần của chính họ là một thân hình Vệ nữ xanh xao, tràn trề nhục dục, nhưng có vẻ như, chỉ “có vẻ” thôi, không dành cho các quí ngài!

Những giai thoại quanh nữ thần luyến ái

Một cách cố tình, hay chỉ vì chính Marlene cũng say sưa với cuộc sổng chuồng của một góc quái tính dục tình tiềm ẩn, nàng mặc nhiên ve vãn, dù bằng một sự ý nhị rất đàn bà, với mọi cô đào có mặt ở phim trường. Những giai thoại ái tình lập tức được truyền miệng, người ta đồn rằng nàng có thể ân ái cả với đàn ông lẫn đàn bà, và tên của các nữ yếu nhân được nhắc đến nhiều nhất là Edith Piaf và đào Greta Garbo.

Phần lớn những giai thoại dựng đứng quanh người đàn bà mặc quần là những cuộc đồn thổi khoái trá của giới đói tin nhàn hạ, hoặc nhờ công thêu dệt tận tâm của các tay phóng viên lá cải, nhưng một sự thật được minh chứng duy nhất trong hồ sơ tình sử của Marlene là cuộc tình dài hơi với nữ sĩ Mercedes de Acosta. Họ công khai những cử chỉ luyến ái, với Acosta ở vị thế mềm mại và lệ thuộc của nữ giới, và Marlene trong vai trò người đàn ông, mà ngày nay giới lesbian gọi là “femme” và “butch”. Mối quan hệ “bạn hữu” này kéo dài 10 năm. Vài năm sau khi Marlene mất, con gái bà, trong cuốn tự truyện, có nhắc đến các giai thoại về mối tình giữa bà và Greta Garbo nhưng cũng không có lấy một lời khẳng định rõ rệt nào. Hẳn nhiên, công chúng vẫn có nhu cầu gắn đính hai cô đào đối thủ trên màn bạc, cùng được biết đến bởi vẻ quyến rũ đầy nam tính này vào thành một đôi đồng tính ái hoàn hảo, với đầy đủ tính li kỳ huyễn hoặc sặc mùi màn bạc cine.

Ngoài ra, trong suốt quãng đời sự nghiệp của mình, Dietrich được biết đến như một bậc thầy trong nghệ thuật kích hoạt cơn đói tin của công chúng và báo giới bằng những vụ dan díu tình ái, chóng vánh hoặc kéo dài hàng thập niên, mà không nhất thiết phải sỗ sàng tự vén màn phòng the. Khi thủ diễn trong bộ phim Destry Rides Again, Dietrich ngả vào vòng tay bạn diễn là tài tử Jimmy Stewart. Mối tình kết thúc ngay khi bộ phim đóng máy. Năm 1938, người ta lại nghe đồn chuyện nàng gặp gỡ và quyến luyến với văn sĩ Erich Maria Remarque, rồi đến 1941 là người hùng quân đội và tài tử cine Pháp Jean Gabin. Cuộc tình ồn ào cuối cùng của Marlene, khi này đã hơn 50 tuổi là với nam tài tử Yul Brynner, và tiếp theo là một số vụ dan díu chóng vánh kéo dài đến khi huyền thoại lưỡng tính này trên 70 tuổi. Trong hồ sơ tình sử của Thiên Sứ Xanh còn có John Wayne, George Bernard Shaw và John F.Kennedy. Cho đến tận cuối đời, Dietrich vẫn bảo bọc cho người chồng bị bỏ rơi và nhân tình của ông tại Âu châu, và về sau tại một trang trại ở San Fernando Valley, California.

Trên thực tế, không ai biết chính xác điều gì đã xảy ra, ngay cả các chuyên gia điện ảnh, các tay viết tự truyện lừng danh nhất cho đến tận bây giờ vẫn chưa ngưng cuộc cãi vã, với những chứng cớ bác bỏ lí lẽ lẫn nhau về xu hướng tình dục của Marlene và danh sách những bạn tình của nàng. Một nửa chiếc giường còn lại, bên cạnh Marlene, vẫn luôn là một dấu ba chấm lững lờ.

Điệu cabaret phản chiến và hồ sơ điệp viên nhị trùng

Đại Thế Chiến nổ ra, đích thân Hitler viết thư mời Dietrich quay về Đức và thẳng thừng đề nghị nàng làm nhân tình, không quên lời cảnh báo rằng cuộc sống của nàng có thể trở nên rất “bất tiện” nếu từ chối. Marlene, cũng thẳng thừng và ngang tàng không kém, từ chối tay độc tài hiếu sát với tư cách một công dân Hoa Kỳ chính hiệu. Con gái và người chồng bị bỏ rơi của nàng khi này cũng đang sống tại Mỹ, và Marlene hồn nhiên tin chắc rằng họ đang được bảo vệ an toàn tuyệt đối khỏi các cuộc tấn công của quân Nazi. Không chỉ ngừng lại ở lời chối từ kiêu hãnh, trong suốt những năm chiến tranh, Dietrich không ngừng truyền bá các thông điệp chống Quốc xã đến với công chúng Đức của nàng, bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Nàng thân chinh xông pha đến các mặt trận quốc tế, mặc quần shorts đội mũ chóp, nhảy điệu cabaret và hát “Falling In Love Again” bằng thứ giọng điệu đàng sặc khàn hơi khói. Mãi về sau, Marlene vẫn coi đây là thời kì ý nghĩa nhất cuộc đời biểu diễn của mình. Nàng trở thành người đàn bà đầu tiên được trao tặng huân chương Tự Do (American Medal of Freedom), và nhận Huân chương Bội tinh Pháp quốc.

Về sau, trong hơn 150 trang hồ sơ về Marlene Dietrich của FBI, người ta còn tìm ra những chứng cứ cho thấy sự nghi ngờ của chính phủ Hoa Kỳ dành cho cô đào gốc Đức, và đồng thời một lá thư tay do điệp viên đặc vụ E.E.Conroy gửi Hoover, nhắc về việc Dietrich bị quân Nazi bắt vào tháng Giêng năm 1945 tại Pháp, cũng với tội danh gián điệp.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, con gái và cháu trai của Marlene còn khẳng định rằng trong suốt 11 năm ẩn dật cuối đời, bà vẫn duy trì hoạt động chính trị, qua các cuộc điện thoại với một số chính khách đối lập hàng đầu thế giới, trong đó có Ronald Reagan và Mikkhail Gorbachew.

Dân Do Thái ở Hollywood liệt Dietrich vào danh sách đen trong suốt gần hai năm vì cho rằng bà theo xu hướng thân Quốc Xã, trong khi đối với không ít dân Đức, Dietrich vẫn bị coi là kẻ phản quốc.

Năm 1996, sau một số tranh cãi, người ta đã quyết định không lấy tên nàng đặt cho một con đường ở Berlin Schoeneberg – nơi sinh trưởng của Marlene. Tuy nhiên, tháng Mười Một, 1997, trung tâm Marlene Dietrich Platz được khai trương tại Berlin, vinh danh giai nhân giọng khói – người đàn bà nổi tiếng của nước Đức, biểu tượng tuyệt mỹ của Tự Do và Dân Chủ.

Ngày 16 tháng Năm 2002, Marlene Dietrich được công nhận là công nhân danh dự của thành phố Berlin.

Quý bà phả khói vào những bản tình ca

Sau những hoạt động mang màu sắc chính trị tự do của thời kì Đại Thế chiến, sự nghiệp điện ảnh của Marlene, vào những năm 1950 đã đi đến hồi suy tàn. Sternberg không ngần ngại bỏ rơi Thiên Sứ Xanh một thời, với lời tuyên bố rằng nàng “sẽ chẳng ra gì” nếu không có ông ta.

Rất có thể Sternberg đã đúng, nếu vai trò anh thư Đại Thế Chiến của Marlene đã không thuyết phục đến như thế, để đặt nàng trên đỉnh cao ái mộ của công chúng trên toàn thế giới. Người ta nhắc đến nàng ở mọi nơi, từ các chiến hào đến các quân y viện. Như hình ảnh một nữ thần chính nghĩa mồm ngậm tẩu, mình bận chemise đàn ông, gõ những bước cabaret vui nhộn trên sân khấu dã chiến, Marlene vượt qua ánh sáng của một Blue Angel để lẫy lừng như một tượng đài lịch sử. Và một cách vô tình, như một sự tưởng thưởng xứng đáng, Marlene Dietrich trở thành vũ công cabaret cao giá nhất thị trường giải trí, kịch nghệ thế giới lúc bấy giờ.

Nàng thường xuất hiện trong show diễn của mình, thoạt tiên trong những bộ váy lộng lẫy thuần chất đàn bà, bó sát lấy thân hình Vệ Nữ. Nửa phần sau của chương trình là khi một nửa còn lại trong nàng tái xuất, trong chiếc mũ chỏm điệu nghệ và bộ tuxedo kinh điển, giữa những tiếng huýt sáo tung hô hay trầm trồ kinh ngạc. Phong cách này cùng giọng ca khàn trầm hiếm có khiến Marlene dễ dàng tiếp cận các ca khúc vốn chỉ giành cho các divo, mà trong đó, One For My Baby và I’ve Grown Accustomed to Her Face là hai nhạc phẩm vĩnh viễn ghi dấu ấn người đàn bà giọng khói, dù nàng không hề là ca sĩ đầu tiên và duy nhất từng thể hiện các version này.

Dấu ấn dị biệt của Marlene lên các ca khúc bất hủ luôn là một thứ ám ảnh ma mị khiến ngay cả những tình khúc lãng mạn nhất cũng trở nên cũ kỹ, rù quến bởi một chất âm thanh nửa ẩm ướt đàn bà, nữa chát chúa rệu rã như whisky, như cigar, như tiếng trầm trong cổ họng đàn ông. Dù đó là điệu bông lông phù phiếm I Can’t Give You Anything But Love, hay ủy mị kinh điển như La Vie en Rose dưới cái tên Đức Das Lied Ist Aus. Nàng nheo mắt qua vành mũ kéo sụp, và hé miệng phà hơi, thế là đóa hoa ái tình Pháp vĩnh viễn mang mùi muội khói nồng nàn như tiếng rên chăn gối của người đàn bà Đức. Với Dietrich, Where Have All The Flowers Gone không còn chỉ là một bài ca phản chiến, mà trở thành một lời tố cáo đay nghiến tất cả, và một chút rung cảm đàn bà, trong bản điếu ca những cánh xuân thì theo nhau về huyệt mộ “Những chàng trai đi về đâu? Ra chiến trường, từng người một…Những cánh hoa bay về đâu? Ra nghĩa trang, từng cánh một…”

Sau chiến tranh, tour lưu diễn tại Đức năm 1960 của Dietrich đã tạo nên những xung động dư luận cực đoan trái chiều. Nhiều người Đức phản ứng dữ dội và gọi nàng là người đàn bà phản quốc, trong khi phái dân chủ tiên tiến tôn vinh nàng không chỉ như một siêu sao giải trí, mà như một vị anh hùng đương thời. Những tiếng la ó lẫn tung hô ấy đã chỉ đem về cho Marlene một điều duy nhất: tour diễn là một quả bom dư luận thật sự và thành công ngoài sức tưởng tượng.

Sự đón nhận cũng vẻ vang tương tự khi nàng đến Israel và làm điều liều lĩnh nhất có thể vào thời kì này: hát các ca khúc phản chiến bằng tiếng Đức giữa vùng đất những người Do Thái.

Nhưng số phận, cũng chính số phận đã từng tạo ra chấn thương nơi cổ tay khiến nàng vĩnh viễn từ giã nghiệp vĩ cầm năm 12 tuổi, đã gieo xuống Thiên Sứ Xanh chứng ung thư vòm họng vào năm 1965. Marlene tài tình vượt qua cơn bạo bệnh, nhưng lại phát hiện các chấn thương mạch máu ở chân. Nàng hầu như sống hoàn toàn dựa vào các liều thuốc phiện và rượu để chống chọi với những cơn đau.

Cú ngã trên sân khấu Shady Grove Music Fair tại Washington DC năm 1973 đã khiến Marlene bị chấn thương nặng phía đùi trái, và đến năm 1974, nàng lại tiếp tục bị gãy chân phải. Trước đó một năm, trả lời phỏng vấn với Clive Hirschorn, Thiên Sứ Xanh cay đắng thốt lên “Bạn có cho rằng tất cả những điều này thật lộng lẫy mê hoặc? Bạn có thấy rằng đây là một cuộc đời tuyệt diệu khi tôi nhảy múa, diễn ca? Sai bét. Có thể đã từng đúng, vào một thời nào đó, nhưng không phải bây giờ. Bây giờ, tôi tiếp tục diễn để kiếm tiền.”

Cuộc hồi hương cuối cùng của Thiên Sứ Xanh

Nàng – không nằm ngoài quy luật buồn của đàn bà, già đi, khi mà ngoài kia, sau cuộc chiến, thế giới đã nhiều hơn những nữ hiệp mặc quần. Những bước cabaret trở nên quá nhanh và mạo hiểm. Cú ngã cuối cùng khi đang biểu diễn ngày 29 tháng Chín,, 1975 đã khiến Nữ Thần Nhảy Múa nằm liệt giường, hiện nguyên hình một người đàn bà mong manh và kiệt quệ.

Kiêu hãnh, và bị thương tổn bởi thời gian, trong suốt thập niên cuối đời, Dietrich chối từ mọi sự xuất hiện trước công chúng hòng vĩnh viễn giữ lại những hình ảnh hoàng kim cuối cùng. Bà dời đến sống trong một căn hộ nhỏ ở Paris, nơi chỉ có người trợ lí thân tín được lui tới tiếp xúc với bà, mọi sự liên lạc với thế giới bên ngoài đều được thực hiện qua điện thoại. Những gì Marlene còn lại để thế giới chạm vào, chỉ còn là một huyền thoại được bao bọc bởi sương khói nghi hoặc, va một chất giọng cũng sặc khàn hơi khói. Cho đến khi tình trạng của bà trở nên trầm trọng, những người thân duy nhất còn lại quyết định phải đưa bà về một nơi nào đó để gọi là “nhà”.

Nhưng thủ tục đưa Marlene về nước Đức đã quá chậm trễ.

Ngay vào khi những hồ sơ cuối cùng được hoàn tất, Thiên Sứ Xanh vĩnh viễn về trời, khép lại một quãng đời mờ hoặc, chỉ còn vọng lại đến nay những rộn rã tiếng gót giày cabaret.

Tang lễ diễn ra tại nhà thờ thánh mẫu La Madeleine, Paris với hơn 3,500 người đưa tiễn. Những giọt nước mắt thầm lặng của đám đông đứng nghẹt hai bên đường vĩnh biệt Thiên Sứ Xanh trong hình hài người đàn bà mệt mỏi, đắp trên mình lá cờ hoa của Hợp Chủng Quốc – nơi bà đã tỏa sáng và phụng sự như một công dân kiêu hãnh. Linh cữu sau đó mới được đưa về Berlin, nơi Marlene Dietrich được đặt nằm tại nghĩa rang Friedenau, gần mộ thân mẫu, và không xa ngôi nhà nơi bà đã sinh ra.

Trên bia mộ của Dietrich tại Berlin khắc dòng chữ “Hier steh ich an den Marken meiner Tage” (Tạm dịch: “Nơi đây ta đứng lại, bên cột mốc cuối cùng”), trích từ sonnet Abschied vom Leben của thi hào Theodor Korner.

Đứa con gái ngỗ nghịch của nước Đức, Marlene Dietrich, cuối cùng cũng hoàn tất một đoạn đường hồi hương trọn vẹn.

Nhiều người cho rằng Marlene là một mẫu hình lưỡng tính, hơn là một nữ đồng tính ái. Nhưng những cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn dằng dai, cùng cuốn tự truyện trần tình của con gái bà, một phần nhúng tay vào cuộc hiếu kì đào bới những câu chuyện trên chiếc giường của người đã ra thiên cổ. Đám đông hiếu kỳ ấy mãi mãi không bao giờ được chiều chuộng. Họ bị ngăn lại bởi một bức màn duy nhất ngăn giữa một cô đào và vạn muôn công chúng: tấm màn bạc, loang loáng nét hào hoa của “quí bà lịch thiệp” người Đức trong siêu phẩm bất hủ Thiên Sứ Xanh. Người ta chỉ được phép biết chắc những điều Marlene cho phép: nàng là người đàn bà Đức có trái tim quả cảm, một lòng kiêu hãnh đến ngạo ngược, kẻ đã phà một làn hơi khàn đặc vào các bản tình ca bất hủ và những ca khúc phản chiến trứ danh – người đàn bà mặc quần, nhảy múa, và đá tung những định lề và cả những nỗi sợ.

Đồng tính ái hay dị tính ái, Marlene Dietrich vẫn luôn là một huyền thoại lộng lẫy nhất của những tâm hồn Kiêu Hãnh và Tự Do.

Những cuộc phiêu lưu luyến ái hay xu hướng tình dục của Marlene vĩnh viễn chỉ là huyền thoại, và, nhân danh lòng ngưỡng vọng của thế giới dành cho người đàn bà tài hoa ấy, chúng luôn nên được giữ nguyên như vậy.

The URI to TrackBack this entry is: https://hoaianhv.wordpress.com/2011/10/21/marlene-dietrich/trackback/

RSS feed for comments on this post.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: