mụ đồ tể mặc váy jersey

Trác Thúy Miêu

Mọi tín đồ đều biết đến DKNY, nhưng cái tên Donna Ivy Faske vùng Forest Hills của New York lại là một sự xa lạ phía sau Donna Karan – một nhân vật không có số phận, không có cả những nét phác scandal lòe loẹt cho một tên tuổi chiếu trên làng thời trang thế giới.

Trên hành lang danh vọng của thời trang thế giới, bà là nhà cách mạng của thời trang dân chủ với danh xưng Nữ Hoàng Bán Lẻ.

Nhưng khi thời trang qua đi bởi chính vòng xoay đào thải của cuộc thăng trầm suy – thịnh, Donna Karan chỉ còn lại trong hồ sơ tội ác nhân loại một ả đồ tể mặc jersey và một chiến lược sự nghiệp tưởng như không tì vết.

Cảm hứng sáng tạo: Con người thật, cuộc sống thật

Ngay từ những ngày đầu, Donna Karan đã khẳng định nền tảng tư duy thực dụng, được xem như động cơ và cảm hứng thiết kế cho sự nghiệp của mình. Bản thân là type diva sự nghiệp với đầy đủ tố chất thực tế, logic của lối sống này, Donna Karan chính là đại diện mẫu mực nhất cho thị phần đối tượng của mình. Bà dùng chính mình để kiểm nghiệm các thiết kế, và những ý tưởng sáng tạo cũng xuất phát từ chính tủ quần áo riêng của bà. Đối với nhãn hàng DKNY, với các thiết kế trẻ trung vui mắt dành cho thị trường phổ thông, Donna đã lấy chính phong cách và gout thẩm mỹ của con gái Gabrielle (sinh 1975) làm đối tượng và ý tưởng. Những người quen biết với gia đình bà cũng dễ dàng suy luận ra “chàng thơ” của dòng thời trang nam không ai khác chính là chồng và chiến hữu của Donna – Stephan Weiss.

Cuộc đời Donna Karan cũng phẳng lặng, trơn tru và đầy tính an toàn như chính chiến lược sự nghiệp của bà. Bà kết hôn với Mark Karan năm 1974 và có cùng nhau một con gái. Cuộc hôn nhân chỉ kéo dài một năm, để lại cho cả hai một mối quan hệ hữu hảo dài lâu. Một năm trước khi kết hôn với Mark, Donna có một cuộc hẹn hò blind-date với Stephan Weiss. Họ lại tìm đến nhau và kết hôn 10 năm sau đó, chắc chắn lần này không là một cuộc hôn nhân blind-marriage. Weiss đích thân thiết kế cho ngôi nhà và sân vườn của họ tại bãi biển Long Island, trong khi Donna đảm nhiệm phần trang trí nội thất. Bản thân Weiss là một nhà điêu khắc nên ông đã thiết kế nên vỏ chai cho dòng nước hoa đầu tiên của Donna mang tên bà. Mùi hương bên trong vỏ chai cũng chính là cảm xúc gợi nhớ đến mùi hương trên gáy của chồng. Họ cũng có cho riêng mình những xung đột, đặc biệt khi Donna muốn trở thành nhà thiết kế Hoa Kỳ đầu tiên khơi gợi trào lưu váy sarong cho nam, Weiss đã kiên quyết cự tuyệt việc phải mặc thiết kế này của vợ.

Nữ hoàng bán lẻ và phiên bản couture thân thiện

Tiếp tục công cuộc xô đẩy thời trang cao cấp xuống đường và tràn vào tận từng siêu thị thân thiện, năm 1993, Karan phát triển dòng thời trang Anne Klein Đệ Nhị, dòng thời trang đầu tiên dung hòa giữa thẩm mỹ couture và tag giá dân chủ cho tín đồ trung lưu trở xuống. Anne Klein II lập tức trở thành một siêu hiện tượng của thị trường bán lẻ, kiến tạo nên cả một “chiều không gian” mới của thế giới mua sắm dành cho những quí bà quí cô ưa điệu đàng nhưng cũng khá chặt chẽ chắc lép với hầu bao.

Chiến công giàu tư duy thương mại này đã khiến đối tác Frank Mori tự tin hào phóng tưới tắm 10 triệu Mỹ kim cho Donna thiết lập đế chế riêng Donna Karan New York. Donna đã không phụ lòng chiến hữu khi tức thì chào sân bằng quả bom hàng chợ gây chấn động thị trường, với những thiết kế bó sát cơ thể theo thị hiếu bình dân, nhưng với hơi hướm sang cả của thời trang cao cấp, mà vẫn bảo đảm sự thoải mái về cơ thể lẫn hầu bao của các shopper bằng việc sử dụng chất liệu jersey/len. Cú dội bom nhắm trúng thị phần những “diva sự nghiệp” với thu nhập trung lưu và trên trung lưu. Để khắc phục tính bình dân của chất liệu, Donna chọn màu đen để áp dụng cho phần lớn các thiết kế, bảo đảm tính phù hợp cho cuộc sống, công việc, ngay cả việc sửa soạn quần áo vào buổi sáng cũng trở nên nhanh chóng tiện lợi hơn, mà vẫn khá phù hợp nếu phải bất ngờ tham dự một sự kiện long trọng hoặc lãng mạn vào buổi tối. Mọi việc trở nên đơn giản và dễ dãi hơn cho các tín đồ, với chỉ một thiết kế để năng động vào ban ngày và còn là bộ cánh đắc lực cho những cuộc phiêu lưu chóng vánh sau một ngày làm việc và lao động căng thẳng (!)

Nhưng mãi cho đến 1989, khi Donna tung ra chiêu thức tuyệt đỉnh là dòng thời trang giá rẻ DKNY, với những mẫu bodysuits giá 90USD và áo khoác blazer giá 300USD, Donna Karan chính thức trở thành nữ hoàng hàng hiệu chợ với số lượng tín đồ tăng theo cấp số nhân. Bà hô hào ủy lạo tiêu chí “ai cũng có thể mặc hàng hiệu”, thân thiện với từng tín đồ mỏng thẻ, trong khi cùng lúc vẫn o bế các diva thượng lưu bằng dòng Donna Karan chính thống với mức giá kiêu kỳ. Các tín đồ bình dân tung hô vạn tuế, hào phóng chà quẹt lên những chiếc thẻ tín dụng vốn đã mỏng dính, và cùng lúc đóng góp củng cố vững chắc cho dòng couture thật sự đang dùng để phục dịch những thân chủ thượng lưu của bà Nữ Hoàng Bán Lẻ. Chiêu bài “chỉ thiết kế nên những gì chính tôi mặc được” đã khiến mọi fashionista tiết kiệm đều có thể yên tâm rằng mình đang sở hữu một món cũng cùng lúc nằm trong tủ quần áo của Karan, và dễ dàng bỏ qua thực tế là họ khó lòng chia sẻ được một thiết kế nào với những thân chủ cục cưng thực sự của bà.

Profile thương mại của Diva Văn hóa Phổ thông

Các mối quan hệ giao thiệp của Donna kéo từ Hollywood đến tận Washington cũng đã là một yếu tố cực kì quan trọng trong việc khuếch trương uy tín cá nhân. Với những tín đồ và thân chủ trung thành hàng đầu cỡ Barbra Streisand, ngôi sao truyền hình Candace Bergen, danh ca Michael Bolton và các quí ông cine Larry Hagman, Richard Gere và Warren Beatty, Donna Karan có được cho mình một danh sách thân chủ an toàn, thượng thừa, và đầy tính chắt lọc để bảo đảm tiêu chí sang trọng, công phu nhưng cũng thừa tính thực dụng của thiết kế. Các thân chủ cục cưng này cùng lúc vô tình trở thành những khuôn mặt đại diện sáng giá cho nhãn hàng, nhằm đúng hồng tâm thương mại bởi fan của những hình tượng này, không ai khác, cũng là đối tượng được Donna nhắm tới. Họ có thể là những fashionisto trí thức và fashionista hiện đại, với tư duy Mỹ thuần chủng, dù dân Mỹ lẫn Barbra Streisand chưa bao giờ được xem là “tộc người” có gout ăn mặc hào hoa nhất địa cầu. Họ là những quí cô wannabe với một mức thu nhập vừa đủ cho nhu cầu tự chiều chuộng, nhưng không có tham vọng ghi dấu thảm đỏ. Họ đọc Danielle Steel, nghe Kenny G, nghiên cứu kỹ về mỗi kì bầu cử tổng thống, và xem Pretty Woman là siêu phẩm điện ảnh bất hủ của loài người. Một profile an toàn, hoàn hảo, và chiếm đại đa số đối tượng công dân Hoa Kỳ tiêu biểu. Điều này tiếp tục dẫn dắt đến cho Donna một lượng thị phần châu Á đáng kể, với thế hệ trẻ đang được Âu-hóa mạnh mẽ, được trang bị một hệ tư duy hướng về “giấc mơ Mỹ”.

Khi bà cựu đệ nhất phu nhân Hillary Rodham Clinton xỏ tay vào bộ suits, và đặc biệt là chiếc váy kiểu “cold shoulder” màu đen của Donna Karan, còn chồng bà – ngài Clinton, thực hiện cuộc vận động bầu cử trong diện mạo kiểu cách nhưng thân thiện dân chủ với những bộ suits bằng crepe xanh lính thủy, thì con số các tín đồ của thương hiệu DKNY cũng theo đó mà tăng lên vùn vụt, có phần nhỉnh hơn đáng kể số phiếu bầu cho vị tổng thống chịu chơi. Bản thân hình ảnh bà đệ nhất phu nhân trở nên bất biến với những mẫu tutrle-neck bằng jersey đen bình dân của Donna Karan.

Thoát khỏi những chiếc váy thun bó sát thời kỳ đầu, Donna Karan đã “lên đời” cho các tín đồ của mình với những bộ váy chiffon dài, suits kiểu Edwardian, những kiểu váy thắt dưới ngực để xí xóa vòng eo công sở, áo ống mặc với quần thụng có dây vai, và mớ phụ trang xích nhợ vui mắt. Mỗi bộ sưu tập là một bữa tiệc buffet cho mọi gout chọn lựa hay phong cách cá nhân.

Với sự tỉnh táo hoàn toàn này, Donna Karan tự  cấp cho mình một chỗ ngồi ngon lành trên chiếu trên làng thời trang thế giới bởi sự hùng mạnh và đầu óc chiến lược, hơn là về tinh hoa hay quái tính trong sáng tạo.

Từ bàn đạp thời trang, bà dấn thân tiếp vào lãnh vực sản phẩm nội thất và mỹ phẩm. Cuối thập niên 1990, Karan hoàn thiện cả một tiểu đế chế, gồm cả thời trang trẻ em, nước hoa, mỹ phẩm dưỡng da, mỹ phẩm trang điểm, tất, mắt kính và túi xách cùng các dòng hàng phụ trang, như những thế chân kiềng siêu vững mạnh cho thế lực thời trang của nhãn hàng.

Mất chưa đến 10 năm để Donna Karan gầy dựng đế chế chỉ dựa trên một nền tảng giản dị: nếu chính Donna cần những món căn bản trong menu thời trang của một diva thực dụng – một cái bodysuit, váy quấn, áo khoác nhẹ bằng chiffon và một chiếc jacket – thì mọi phụ nữ cũng đều đang cần những món ấy, và rất nhiều trong số họ vẫn luôn thiếu, dù chúng căn bản, thân thiện và tối thiết đến mực nào.

Lối tư duy này đã dễ dàng đẩy Donna lên bệ quyền lực của những tên tuổi tiếng tăm nhất làng thời trang Hoa Kỳ, và cả thế giới.

Chiến lược dân chủ đã dễ dàng khiến Donna Karan nhanh chóng chinh phạt thế giới với 300 chi nhánh quốc gia, với 27 cửa tiệm độc lập, và hệ thống phân phối trải miệt mài từ Âu châu đến Viễn Đông và Nhật Bản.

Giải thưởng Best Woman Designer in the World và Best American Designer to Emerge in 20 Years đã kết thúc cho Donna Karan một hồ sơ cá nhân hoàn hảo và đầy uy lực cho những cuộc chinh phạt tiếp nối, bởi quãng đường phía trước của DKNY và Donna Karan còn quá dài.

Chiến lược phổ cập Couture đằng sau chiêu bài dân chủ

Đầu thập niên 1990, dòng DKNY mang về 365 triệu Mỹ kim chỉ bằng chiến lược bám sát vận động trào lưu của thời trang đường phố, kết hợp với mốt grunge của nhóm tín đồ choai choai, hơi xuề xòa chuệch choạc và chắp vá, và thuần dưỡng để trở thành trào lưu chính thống dành cho thị phần chững chạc hơn, mà vẫn bảo đảm sự táo bạo hợp thời.

Năm 1992 đã ghi dấu bàn ghi điểm mặn mòi nhất của Donna Karan: dòng thời trang cơ bản mang cái tên chân chất Essentials – collection theo công thức trọn bộ gồm áo khoác nhẹ, quần, váy quấn, và bodysuits, đã ngay lập tức mang về ngon ơ 15 triệu Mỹ kim chỉ trong một năm đầu. Donna được đà làm tới với Essentials for Men.

Cùng lúc với chiến dịch thời trang bình dân, các dòng couture xa xỉ của bà cũng được âm thầm nâng cao tính xa xỉ với những chiếc váy giá 2,000USD và những bộ suits giá 2,500USD. Trong khi đó, mặc nhiên với tính thực dụng, mức giá của Essentials vẫn khá cao đối với thị trường dân chủ. Tuy vậy, vào giữa thập niên 1990, chiếc mũi thính của Donna đánh hơi được xu hướng độc quyền hướng đến cá nhân tính và những phiên bản hạn chế, dù với mức giá siêu hạng. Nhanh chóng rũ bỏ lá cờ cách mạng hàng hiệu toàn dân, Donna gấp rút hình thành dòng Donna Karan Collection với tiêu chí nhận diện thương mại là tính công phu, cầu kì, với những chất liệu thủ công, bán thủ công, hoặc quí hiếm với mức giá bán lẻ không dưới 6,000USD/sản phẩm. Cũng từ thời điểm này, bà bán linh hồn cho những hợp đồng khai thác lông thú với các nông trại tận bên Tàu.

Nói một cách khác, hợp đồng ma quỷ giữa Donna Karan với tệ nạn khai thác lông thú đã là lời tuyên chiến của cá nhân bà với phe khủng bố cực đoan PETA.

PETA đại chiến

Cũng như chính trị với các thế lực, và cả các nhóm khủng bố, đôi khi quá khích, nhưng thường là với động cơ nhân đạo, đối với giới thời trang, cái tên gây rùng mình nhất loạt vẫn là thế lực quá khích PETA – hiệp hội nhân đạo bảo vệ động vật. Đứng đầu trong danh sách đen của PETA là những quyền lực thượng hạng của làng thời trang từng có tiền án sử dụng chất liệu lông thú trong các thiết kế, gồm cả gã thiết diện quản gia Karl Lagerfeld, nữ hoàng băng giá Anna Wintour, hiệp sĩ râu kẽm John Galliano, và tay phong lưu Ý Giorgio Armani v.v… Trong đó, một hồ sơ đáng kể với la liệt những thành tích bất hảo thuộc về cái tên Donna Karan. Từ 2008, vụ áp-phe giữa nữ đao phủ New York với các nông trại cung cấp lông thú, hầu hết ở Trung Quốc, với phương pháp khai thác dã man đã khiến bà nghiễm nhiên trở thành mục tiêu tấn công số một của tổ chức PETA.

Ngày 17 tháng Năm, 2008, các nhà hoạt động đã phong tỏa khách sạn Sheraton Boston, nơi Donna diễn thuyết tại hội nghị Yoga Journal Boston Conference. Họ đồng loạt cuộn mình vào tư thế yoga có tên gọi ‘rabit pose’, người nhuộm đầy máu, đương nhiên là giả, tái hiện cả một khung cảnh máu me thê lương của các xưởng lột da thỏ, ám chỉ đến sự ứng dụng bừa bãi chất liệu này trong các thiết kế của bà.

Bốn tháng sau đó, các nhà hoạt động lại tiếp tục phong tỏa buổi diễn tại Boston với những biểu ngữ đòi hỏi Donna ngưng ngay việc sử dụng da và lông thú trong thiết kế thời trang. Tháng 12 cùng năm, các nhà hoạt động lì lợm và cũng đa chiêu bày trò hóa trang thành đồ tể, mình khoác những tấm lông thú sũng máu biểu tình trước cửa tiệm của bà tại Boston, khiến các fashion diva ra vào chốn này không khỏi kinh hồn tởn đảm và ít nhiều rợn tay khi chạm vào những thiết kế bằng lông thú xa xỉ đang bày bán tưng bừng mùa Giáng sinh.

Mụ hàng thịt thỏ và lời nói dối mùa Giáng sinh

Lập tức Donna phải ứng phó bằng cách nhượng bộ. Hai ngày trước đêm Giáng sinh 2008, như một gương phục thiện mẫu mực, Donna công khai tuyên bố các dòng hàng mùa thu cho 2009 sẽ tuyệt đối không dính một cọng lông thú nào, và cũng cho biết bà hoàn toàn không hề có kế hoạch lâu dài nào dành cho chất liệu này. Lời hứa khôn ngoan nhưng rõ ràng là mập mờ có chủ đích ấy đã không khiến các nhà hoạt động PETA mảy may nghi ngờ, và coi đó là món quà cao thượng giành cho muông thú trong mùa Giáng sinh 2008.

Cuộc sống muôn loài diễn ra an lành cho đến mùa thu 2010, có vẻ như Donna đã kịp lên một kế hoạch ngắn hạn khác cho chất liệu lông thú, Donna nuốt vào chiếc lưỡi thảo mai và tung ra bộ sưu tập áo khoác với lông thú các loại ngập đến tận cằm.

Phái PETA giận dữ đáp trả bằng cả một sự kiện đình đám vào tháng Mười, ngay sát bên một sự kiện xã hội do Donna cùng đệ nhất phu nhân Mỹ Michelle Obama tổ chức. Các nhà hoạt động nhất loạt giơ cao hỗn danh mới dành tặng cho quý bà đồ tể: “Bunny Butcher” (Mụ Hàng Thịt Thỏ). Hầu như ngay lập tức, với sự hỗ trợ vô tình của giới truyền thông, hỗn danh này lan rộng và trở nên phổ biến một cách hiệu quả không kém gì những sản phẩm thời trang nhà DKNY. Mỗi cú click với từ khóa Bunny Butcher sẽ cho ra hàng loạt các hình ảnh tả thật ghê rợn về công đoạn lột da thú và con số gây rùng mình: 50 triệu con vật vô tội bị lột da sống mỗi năm để phục vụ nhu cầu trưởng giả của các fashionista vô tâm và các nhà sản xuất vô lương.

Tháng 11, 2010, tường Facebook nhà Donna bị phủ ngập lụt các comment lên án, thậm chí thóa mạ. Các Facebooker gửi comment cũng có trên ảnh đại diện mình một chữ cái, và tuần tự hiện lên màn hình là dòng chữ BUNNY BUTCHER. Một chiêu khủng bố nhỏ nhoi nhưng hiệu quả nhờ sự bền bỉ và cơn cuồng nộ của thành viên hội PETA. Donna Karan, lần thứ 2 trong đời, khoác vào mình một cái tên mới.

Những tiếng rít thê lương bên ngoài lớp kính cách âm

Tờ The Observer cho biết qua thông tin nội gián, phái PETA đã được tòa thị chính một số thành phố cho phép bao vây các văn phòng sở hội của Karan và khủng bố bằng những tràng tiếng kêu rít của thỏ. Họ hi vọng tiếng kêu thét kinh hoàng nọ sẽ nhắc bà nghĩ đến những cuộc hành hình và những cơn đau đớn đang hàng ngày diễn ra để cung ứng cho các “ý tưởng” của bà. Các thành viên mang theo các biểu ngữ “Donna Karan: Đạo đức giả kiểu mới” và đương nhiên là cả những biểu ngữ mang hỗn danh Bunny Butcher!

Theo kế hoạch, cường độ tiếng ồn sẽ không vượt quá 75 decibel cho khoảng cách 10 feet, khoảng tương đương giữa tiếng ồn của máy giặt và máy cắt cỏ. Cuộc biểu tình đồng loạt đã không thể chạm đến trái tim trơ lì cay nghiệt của tay nữ đồ tể da nâu, nhưng đủ khiến các con nghiện thời trang một phen hoảng loạn khi các chi sở của tông đồ hàng đầu tràn ngập tiếng ồn lò mổ.

Những tiếng thét thống thiết và ám ảnh này còn có thể vang lên bất cứ lúc nào trên đường dây điện thoại của hội sở chính của Donna Karan, dồn dập và kinh hoảng hơn bất cứ lúc nào vào những ngày trước tuần lễ thời trang. Tệ hại hơn nữa, đây là vụ khủng bố hiếm hoi được bảo vệ bởi sở cảnh sát NYPD.

Các nhân viên của nhà DKNY chuyển trạng thái từ cáu kỉnh đến căng thẳng và hoảng loạn, mỗi chiếc điện thoại như một quả bom sẵn sàng phát nổ bất cứ lúc nào, với tiếng kêu rú thảm thiết của những con vật tội nghiệp. Nhưng bản thân Donna Karan vẫn lạnh lùng xuất hiện mỗi ngày, với các vệ sĩ luôn túc trực sát sườn. Bên trong tòa nhà sở hội, mọi công đoạn chuẩn bị vẫn được lạnh lùng tiến hành, tuân thủ tuyệt đối từng chi tiết trên các phác thảo bồng bềnh lông thỏ, trong khi tiếng thét của chúng vẫn vang lên bên ngoài những lớp kính cách âm.

Những ngày tiếp sau đó, không ngả lòng trước sự cứng rắn của ả nữ đồ tể da nâu, các nhà hoạt động tiếp tục nhắm vào đối tượng thị phần của những sản phẩm thời trang xa xỉ của Donna Karan. Những đoạn clip được quay tại các nông trại lông thú ở Trung Quốc, lần ngược theo nguồn điều tra về xuất xứ chất liệu lông thú được Donna Karan sử dụng cho các thiết kế của bà, được tung ra, kèm các tag mang tên Donna Karan, khiến mỗi cú click của cư dân mạng đều lập tức được dẫn đến những cảnh tượng gây kinh hoàng diễn ra phía sau những thiết kế xa xỉ. Đoạn clip mô tả chi tiết từng công đoạn, từ cảnh những con vật vô tội bị lôi xềnh xệch ra khỏi cũi và kêu thét khi bị chích điện cho đến chết. Một số con khác bị cứa cổ và cắt bỏ bàn chân trước khi thực hiện việc lột da. Bên dưới những cảnh tượng thê lương ấy vẫn là thông điệp thống thiết của hiệp hội PETA kêu gọi nhân tính và lòng trắc ẩn trong mỗi fashionista để kiên quyết tẩy chay sản phẩm làm từ lông thú, và yêu cầu Donna Karan hãy cùng với các tên tuổi lừng danh trong làng thời trang như Calvin Klein, Stella McCartney, Ralph Lauren, và Tommy Hilfiger tham gia chiến dịch bãi bỏ 100% việc sử dụng lông thú tự nhiên.

Chiến dịch chống Donna Karan lên đến đỉnh điểm vào đúng tuần lễ thời trang New York. Các “cảnh sát nhân đạo” của hội PETA xuất hiện khắp nơi, ồn ào hay thầm lặng, trà trộn vào giới thượng lưu cùng đám săn tin, và mọi đòn thù đều tìm nhắm vào cái tên đứng đầu danh sách đen: Donna Karan.

Bà lọt vào đến hậu đài buổi diễn từ trước, được bao bọc bởi các vệ sĩ. Bộ sưu tập thừa sức làm điên tiết bất cứ thành viên PETA nào bởi không chỉ ngập ngụa lông thú, mà còn công nhiên ngập ngụa lông thú sau lời hứa vờ vịt cách đó không lâu.

Cuộc thập tự chinh trường kì, dai dẳng và quyết liệt của các thành viên hội PETA tuy đã không thành công trong việc áp lực lên tay đồ tể mặc váy, nhưng đã đạt hiệu quả tuyên truyền đối với giới fashionista. Donna Karan lập tức bị liệt vào đối tượng tẩy chay của một thị phần khác lớn gồm các shopper văn minh và cả các shopper ranh mãnh, khi mà sự ủy lạo của các hiệp hội nhân đạo đã giúp đẩy mạnh mãi lực của các chất liệu lông nhân tạo. Các diva chuẩn mực nhất vẫn được mặc tình tự dung túng mình trong sự ve vuốt êm ái của những lớp lông dày mịn mà không hề băn khoăn về một con thú nào đã phải chịu hành hình để cúng tế cho cuộc phù hoa dư dật của loài động vật tự nhận mình là văn minh nhất.

Nhật ký đồ tể

Một ngày làm việc của tôi thật sự bắt đầu từ khoảnh khắc tôi mặc quần áo vào. Tôi coi đó là công việc. Tôi là một người mẹ, với tất cả những bận rộn của một phụ nữ bình thường, và tôi cần đơn giản hóa mọi thứ để chỉ tập trung vào những gì tối thiết. Điều này đòi hỏi một sự linh hoạt trong phong cách ăn mặc để bất cứ lúc nào, tôi cũng có thể sẵn sàng lên máy bay và biến mất một lèo nhiều ngày liền. Từ chính một lối sống như vậy mà tôi làm nên bộ mix-and-match “seven easy pieces”, dù ông chồng cũ của tôi là Stephan thường giễu cợt ý tưởng đó, nhưng chúng trở nên rất phổ biến.

Khi tất cả mọi thứ bắt đầu, lúc đó là ở căn hộ nhỏ của tôi ở đường 70, khi tôi ngồi ngó trân vào hộp đựng giày, trên đó in dòng chữ “Maud Frizon/Paris, London”. Và tôi nghĩ “Ô kìa, Donna Karan/New York! Hoàn hảo biết chừng nào!” Và thế là mọi chuyện bắt đầu. Chuyện này thú vị đây, bởi tôi ở cung Thiên bình, và tôi không thể tự quyết điều gì cho đời mình cả. Nhưng điều đó không thành vấn đề, khi tự chêm vào chữ New York, có nghĩa là tôi đã gắn kết Donna Karan vào một điều gì đó vĩ đại hơn cả chính Donna Karan.

New York là nơi tôi sống và làm việc. Sau chuyến du lịch đầu tiên đến Phi châu, tôi đột nhiên cảm thấy thật khó tái hòa nhập vào đời sống thị thành ở đây. Như thể tôi quên mất đường về. Tôi yêu thiên nhiên và cần sống trong không gian của tự nhiên. Tôi yêu biển, và tuyết, trừ hồi gãy giò vì trượt tuyết. Lúc ấy tôi không ý thức được tốc độ của mình, phải có một cái gì đó ngăn tôi hay khiến tôi trượt chậm lại. Giờ tôi điềm tĩnh và có kiểm soát hơn rất nhiều, phần lớn nhờ vào yoga. Hi vọng tôi sẽ thiền định hiệu quả để có thể sớm chơi trượt tuyết trở lại.

Quay trở lại chuyện New York, đương nhiên tôi là dân New Yorker chánh hiệu, nhưng đừng ngạc nhiên khi tôi nói rằng tôi hoàn toàn không phải là dân đô thị phố lớn. Tôi mê mải với những nền văn hóa khác biệt, mê mệt những tấm váy đỏ ở Bhutan, những hoa văn Phi châu, không chỉ vì sự khác biệt và quyến rũ, vì theo tôi, chúng là những bộ đồng phục của toàn thể con dân xứ đó. Ai cũng biết là tôi mê những thứ đồng phục. Nó khiến người ta trông đẹp đẽ đĩnh đạc hơn, những bộ váy thùng thình của các thầy tu là một kiểu đồng phục như vậy. Cảm hứng sáng tạo tôi sẽ được sản sinh ra từ nơi tôi ở, nơi tôi đã từng đi qua, chúng hiển hiện trong các thiết kế của tôi, ngay cả khi tôi hoàn toàn không nhận thức điều này.

Tôi ý thức được sự may mắn của bản thân. Tôi ở trong một căn hộ hoành tráng nhìn xuống Central Park, một ngôi nhà mát trên bãi biển ở Hamptons, và bây giờ là nhà ở Parrot Cay, Turks & Caicos. Trước khi mất, Stephan và tôi đã làm lễ hấp hôn ở đó, chúng tôi đã dự tính bao điều, rằng sẽ cùng nhau xây dựng nên một chỗ để quần tụ gia đình.

Sau khi Stephan qua đời, tôi chuyển sang mặc màu trắng, gần như là thường xuyên. Trước đó, tôi hay mặc màu đen vào mùa Hè, và thói quen đó cũng thay đổi, như thể tôi đã không thể mặc lại màu đen lên người. Trong tang lễ của anh ấy, tôi đã yêu cầu tất cả mọi người mặc màu trắng. Stephan đã là cả thế giới đối với tôi, là người tình, là cảm hứng, là người dẫn đường, là sức mạnh, sự sáng tạo, và là chiến hữu mật thiết của tôi, tất cả của tôi. Tất cả những điều chúng tôi đã cùng nhau tạo dựng, từ gia đình cho đến sự nghiệp, đều xuất phát từ một tình yêu lớn. Giờ tôi đã là bà với 7 đứa cháu, cả bé Stefania 3 tuổi, mà tôi khẳng định là một phiên bản nhỏ xíu của chính tôi. Con bé mê quần áo, ham chui vào phòng thiết kế để chơi trong ấy. Không chừng 20 năm nữa, nó sẽ thuê tôi về làm.

Như cháu tôi bây giờ, thời trang có từ trong máu chảy trong cơ thể tôi. Bà thân tôi làm việc ở Đại lộ 7 – hồi đó là khu trung tâm của công nghệ may mặc Mỹ. Bà là người mẫu, bố tôi là thợ may ở đường 41 và Broadway. Bố dượng tôi sau này cũng là một thợ may ở Đại lộ 7. Tôi thì khi ấy muốn trở thành ca sĩ, hay vũ công, nhưng giấc mơ đó không bền lâu, chính xác là từ khi tôi phát hiện ra mình mê làm những bộ leotard bó sát và những đôi tất dài hơn là việc đích thân múa may trong đó!

Con gái tôi, Gabby, ra đời khi tôi đang thực hiện bộ sưu tập cho Anne Klein. Khi đến nhà thương, người ở hãng gọi điện và hỏi khi nào tôi quay về làm việc được, tôi chỉ trả lời “Nhân tiện, tôi vừa sinh con gái!” Tôi những tưởng mình sẽ là một bà mẹ ở nhà và làm việc nội trợ, thế rồi Anne Klein qua đời chỉ vài ngày sau đó, vào đúng ngày trình diễn bộ sưu tập đó.

Tôi bị ám ảnh thật sự bởi những thiết kế vừa khít thân người. Chẳng phải chính cơ thể là điều quan trọng nhất đó sao? Nó đi lại, nói năng, tất cả đều xảy ra khi một thiết kế được đặt phủ lên thân thể. Đó phải là một bộ da thứ hai, vừa vặn tuyệt đối, và thoải mái tuyệt đối.

Sau đó là đến mùi hương, quan trọng như con ngươi của mắt vậy. Mùi hương là thứ có khả năng gợi nhớ và kích hoạt tiềm tức. Hồi mới phát triển dòng nước hoa đầu tay, tôi muốn nắm bắt được mùi hương của da dê thuộc, và thứ mùi trên gáy Stephan, cùng với hoa lily Casablanca, tất cả trong cùng một lọ. Rồi tôi đặt tên cho nó là Gold. Tôi luôn bị quyến rũ bởi sắc vàng kim, bởi sự nồng nàn và quyền năng đầy uy lực của sắc màu đó, vậy là lily Casablanca để nhấn nhá, hổ phách cho sự gợi tình và hơi ấm, tôi có Gold. Vàng kim và đen luôn là hai sắc màu ưa thích của tôi.

Như đã nói, tôi là một Thiên Bình chính hiệu, luôn vận động để duy trì thăng bằng, và luôn cực đoan trong việc chạm đến tận cùng của mọi thái cực. Hồi tôi vừa làm mẹ, vừa làm việc, tôi khiến mọi người quanh tôi kinh hoảng về áp lực mà tôi phải trải qua. Nhưng tôi vẫn luôn mở lòng với những điều rộng lớn hơn, ý nghĩa hơn. Thế rồi thương hiệu cũng đã hơn 20 năm tồn tại, có một điều gì đó trong tôi mãi không thay đổi. Chúng ta sống nhanh trong thời cuộc hiện đại và mọi thứ cần được đơn giản hóa, trong đó có cả việc ăn mặc của một phụ nữ. Điều cuối cùng một nữ nhân hiện đại cần là những trò rườm rà phù phiếm.

 Đối thoại nhanh

Về ý muốn đi ngược lại chu trình mùa thời trang chung:

Khi mới thành lập nhãn hàng, các show diễn của chúng tôi rơi vào tầm tháng Tư và Năm, còn bây giờ là tháng Hai. Vấn đề tôi muốn đặt ra với cả ngành công nghệ thời trang, và với chính mình là: tại sao tôi lại PHẢI trưng bày các thiết kế của mình ra vào tháng Hai? Tôi không hề muốn các khách hàng của mình tại tuần lễ thời trang New York nhìn thấy trước những gì sẽ được bày bán vào mùa Thu. Trong ngành công nghệ giải trí thì khác, công chúng chỉ thật sự biết về một bộ phim khi nó chính thức được công chiếu. Vậy hà cớ gì chúng ta phải cung cấp quá nhiều thông tin hoàn chỉnh về những sản phẩm của sáu, thậm chí bảy tháng sau? Điều này phi lý và vô nghĩa đối với tôi.

Về việc bà muốn các show diễn chỉ dành cho nội giới thời trang

Người ta cần những show diễn thời trang, nhưng đấy là nội giới công nghệ, chứ không phải một trò tiêu khiển cho đại đồng công chúng ngoài kia. Tất cả những vụ “giao lưu” kiểu này cần chấm dứt. Tôi không muốn các show diễn của mình lên sóng truyền hình, bị bàn tán trên Internet và những thông tin hình ảnh không bị phát tán đến tận những tay phó may hạng bét để nhanh chóng ăn cắp mẫu mã, và thậm chí tung ra thị trường trước hàng chính hãng. Hãy thôi nhầm lẫn giữa công nghệ thời trang và công nghệ giải trí. Thời trang cần có kỷ luật và sự cô lập chuyên nghiệp.

Về thời kì lập nghiệp

Tôi vẫn nhớ đã những lời khuyên can kiểu “Ôi, cô sẽ chẳng bao giờ là nhà thiết kế thời trang đâu”. Trước khi làm thiết kế, tôi đã từng muốn vẽ minh họa thơi trang. Tôi đến xin việc ở tờ Women’s Wear Daily và được trả lời rằng “Có lẽ cô không nên tiếp tục vẽ nữa”. Vậy đó, thuở lập nghiệp của tôi như vậy, không biết phải làm gì, và luôn luôn không được chào đón. Tôi thậm chí chưa tốt nghiệp trung học.

Về tư duy sáng tạo của bản thân

Khi thiết kế, tôi hy vọng rằng mình đang sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ, hay chí ít là những sản phẩm có sức sống dài hơi. Vai áo sẽ có thể to hơn hay nhỏ hơn một chút, gấu váy có thể hết nâng cao lại hạ thấp, nhưng quan trọng là nét kinh điển cơ bản. Tôi noi theo sức sống trong thời trang nam giới nói chung, nhưng với sự gợi cảm của quyền năng nữ tính.

Về tương lai của thời trang

Ngày xưa, thời trang có nghĩa là thiết kế nên một bộ váy, trưng diễn nó trên runway, vậy đó. Ngày nay mọi thứ trở nên phức tạp hơn rất nhiều… Tôi cho rằng thời trang đang ở kì đoạn phát triển đỉnh cao, và điều đó phụ thuộc vào ý thức tiêu dùng. Ngoài kia, người ta luôn nghe thấy những câu đại loại “Đây là mẫu hot nhất mùa này.”, nhảm nhí hết sức. Tự thân hành vi tiêu thụ phải chứa đựng trong nó sự nhận thức, chứ không bị lệ thuộc một cách thụ động vào trào lưu, và đôi khi những thứ họ muốn mặc chỉ đơn giản là những thứ khiến họ thấy thoải mái, từ trong cảm xúc tinh thần cho đến tác phong ngoại hình, mà điều đó thì không liên quan lắm đến vòng quay miệt mài, và đôi khi ngớ ngẩn của thời trang.

Về môi trường

Thế này nhé, thời trang không thể thiếu màu đen, và với sự phát triển công nghệ hiện đại, không có thứ nguyên liệu màu nhuộm nào cho màu đen mà hoàn toàn thân thiện với môi trường cả.

Nếu có thể chọn bất cứ ai, đã mất hay còn sống, để ngồi hàng đầu danh dự trong show diễn của mình, bà sẽ chọn ai?

Tôi muốn thấy bạn bè mình, và chồng tôi nữa, dù ông ấy đã không còn. Đối với tôi, khoảnh khắc tự thân tiến ra runway là một điều gì đó rất riêng tư. Dù bao nhiêu năm đã qua đi, trải qua bao nhiêu show diễn và bộ sưu tập, tôi vẫn cần, dù một khoảnh khắc ngắn ngủi kết nối với chút gì của cái Tôi thuần túy.

Thứ khùng điên nhất trong túi xách của bà?

Hàng ngày, tôi dùng túi đeo quanh hông. Tôi mê loại túi này lắm dù biết điều này rất phi thời trang. Thứ khùng điên nhất trong túi chính là bản thân chiếc túi. Đối với tôi nó là món phụ trang bất ly thân. Chưa kể là nó giúp che đậy khá nhiều thứ mà một người đàn bà muốn che đậy.

Món thời trang quan trọng nhất?

Tôi luôn mê áo khoác da thật cool. Và nữ trang nữa chứ! Luôn luôn phải là một món gì đó trông thật “nghệ” và trưng trổ gout cá nhân, ví dụ như một món trang sức Haiti, nó mang theo mình cả một linh hồn riêng, và khi trở thành vật sở hữu của bạn, nó trở thành chính một phần của con người bạn.

Từ khóa cuối cùng bà vừa search trên Google?

Tôi chỉ định theo dõi hoạt động trên website của mình, và tìm xem có những phim gì để coi tối nay.

Đó phải chăng là cách thư giãn sau tuần lễ thời trang?

Không, vì ngay bây giờ tôi đã phải tăng tốc làm việc rồi

Vậy bà thư giãn vào lúc nào?

Tôi đã không nghỉ ngơi gì ít nhất cũng đã từ vài tháng nay. Đôi khi tôi ước mình có thể chậm lại, và thư giãn, và tôi xoa dịu cơn thèm bằng cách đi xem phim và nhá bắp rang.

The URI to TrackBack this entry is: https://hoaianhv.wordpress.com/2011/10/30/donna-karan/trackback/

RSS feed for comments on this post.

2 phản hồiĐể lại bình luận

  1. Bài viết đặc trưng cho dân fashionable.

  2. Bài viết đặc trưng cho dân fashionable.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: