kẻ đốt diêm sinh tìm bộ lạc

Trác Thúy Miêu

Căn xưởng nhỏ cũng là nơi sinh sống của gã là một nơi cư trú hầu như không có dấu hiệu của những sinh vật sống ngoài chính bản thân gia chủ.

Nhưng khi đặt chân vào, người ta luôn có cảm giác cái thế giới vỏn vẹn vài mét vuông ấy đầy những ánh mắt, những linh hồn, những tiếng súng câm, những ngọn lửa bất động, và những tiếng kêu cứu vô thanh. 

Những đốm lửa gọi bầy và giấc mộng Noah

Khi đặt chân vào căn nhà nhỏ và cũng là xưởng vẽ của Trung Nghĩa, người ta dễ ngại ngần dợm chân bước bởi cảm giác bị nhìn xoáy vào từ những đôi mắt thú. Ngay sát lối vào là bức họa mới hoàn tất – một con báo. Đó là một con báo đốm thật sự, chỉ khác là không phải một tư thế uyển chuyển hay hung hãn như thường thấy trong các bức họa vẽ loài động vật mệnh danh sát thủ này. Con báo đốm màu vàng đang chìa cái đầu to ở tư thế gần như buông thõng ra khỏi bức tranh, phần còn lại của cơ thể con vật ngoằn ngoèo ẩn hiện trong một lớp khói mờ như ảo ảnh sa mạc. Nó nhìn thẳng vào người đối diện bằng một đôi mắt buồn bã, cao hơn cả lời van xin tha mạng hay một sự căm hận bạo liệt  – đó là cái buồn bã của kẻ bề trên, thở dài nhìn nhân loại.

1378806_10151726407287686_1932924195_n

Tôi đã không tự quyết định được điều gì cả, với con báo này”. Người họa sĩ gần như phân bua, “Nó tên là Lucy, một cô báo cái tôi vừa gặp tại khu bảo tồn rừng Nam Cát Tiên. Nó là con báo duy nhất, mà người ta vẫn chưa tìm ra một cá thể báo đực để đưa về đó cho chúng có bạn và sinh sôi. Với tôi, Lucy như một con mèo to, nhưng khi nó thành hình trên mặt giấy, tôi sẽ không bao giờ có thể giải thích được rằng vì sao thân thể của nó lại mấp mé giữa ranh giới định hình và vô hình như vậy. Ngọn lửa và khói màu đã tự làm nên tất cả.  Mọi thứ diễn ra trong 5 giây, công việc của tôi là khai hỏa (thật sự theo nghĩa đen) và dừng lại đúng vào khoảnh khắc thành hình duy nhất

Từ cuộc triển lãm gần một năm trước đây mang tên Giấc Mơ Cao Nguyên, Trung Nghĩa đã bắt đầu cuộc hành trình của mình với các chất liệu kì lạ này của hội họa: diêm sinh, thuốc súng, lửa, và khói màu. Và anh chỉ dùng chúng để vẽ nên các loài vật, phần lớn là loài sống trong thiên nhiên hoang dã. “Tôi đã định sẽ vẽ những bức tranh về buôn làng, về nếp sống người dân tộc, v.v… Nhưng tôi mau chóng nhận ra những con vật mới thật sự là nỗi ám ảnh của tôi”. Nổi bật nhất trong cuộc triển lãm là bức tranh con vọoc với đôi mắt màu hổ phách hoảng loạn nhìn ra từ đám khói cháy rừng, con sao la đang tháo chạy khỏi đám khói súng cuộn lên nuốt gọn nửa thân mình tuyệt mỹ của con vật, và bức họa con tê giác một sừng cuối cùng của Việt Nam vẽ từ trí tưởng tượng. Cũng chính từ bức họa này mà nhạc sĩ guitar người Úc gốc Việt Nguyễn Lê Tuyên đã “chấp bút” vẽ nên câu chuyện bằng âm nhạc về con tê giác cuối cùng, hàng năm trời lang thang đi tìm đồng loại cho đến khi bị bắn chết, đặt dấu chấm hết đau buồn cho loài tê giác tại Việt Nam.

64948_10151211048637686_1077051384_n

Và lần này, gần một năm sau, Trung Nghĩa lại tiếp tục với câu chuyện về cô báo Lucy khi còn chưa quá muộn…

Khói màu tạo nên khối hình thù con vật, những đốm hoa lửa nổ chi chít trên mình nó, không hẳn là những đốm da beo tuyệt mĩ của Tạo Hóa, đó là những vết bỏng thật sự. Loại thuốc súng nguyên sơ nhất được chế tạo từ phân dơi khô được Trung Nghĩa trộn màu và xử lí, tất cả được khai hỏa cho nổ tung lên mặt giấy, và bức tranh hiện hình. Con báo bình thản bước ra từ vụ nổ nhỏ của cơn nhập thần hội họa, cơ thể gần như tan biến vào không gian mờ khói súng, thân mình chi chít những vết bỏng, có nơi xuyên thủng cả lớp giấy. Đạn và đất đá bị hất tung mù mịt xung quanh nó, và nó nhìn vào người xem, không phải cái hoảng loạn man dại của loài thú cùng đường, mà bằng ánh mắt phiền muộn như tiếng thở dài của Thượng Đế.

Vén bức họa cô báo Lucy lên, phía sau là bức vẽ còn dang dở một con nai đực. Chiếc cổ to và cặp sừng ngạo nghễ – một sản phẩm hoàn toàn của trí tưởng tượng. Họa sĩ đã gặp mẹ con nhà nai trên đường, và anh trở về, bị thúc hối bởi cảm giác muốn tạo hình một chú nai đực – sinh vật duy nhất còn thiếu trong bức tranh thực tế mà anh đã nhìn thấy, như thể chúng cần một cá thể giống đực như vậy để quây quần và để bảo vệ.

Như thể tay họa sĩ lập dị đang cố xây cho mình, sau giấc mơ Khải Huyền, một con thuyền Noah, nơi gã có thể mang muôn loài lên đó, qua từng bức họa, mỗi loài trống mái một đôi, để tồn tại, và để sinh sôi.

“Người ta vẫn luôn gọi tôi là ‘thằng người rừng’, là Tarzan, còn tôi thì luôn cự tuyệt hình ảnh đó. Tôi muốn tháo chạy khỏi cái hình ảnh dở tỉnh dở quê, nổi loạn nửa mùa và showbiz không tới. Tôi muốn được thừa nhận, được thuộc về đám đông và hi vọng được yên ổn trong đó. Nhưng đến khi tôi bắt đầu từ bỏ ý định cố phủ nhận bản thân, cũng là lúc bắt đầu tìm tòi chất liệu để thực hiện những bức vẽ đầu tiên cho đợt triển lãm năm ngoái, tôi thật sự được tự do khi trở thành kẻ lập dị trong đám đông ngoài kia. Tập làm người thành thị đã lâu, thì đây chính là khi tôi cất lên tiếng hú bản ngã nhất của mình sau bao năm câm nín. Thật kì lạ, đó cũng chính là khoảnh khắc tôi nghe những ‘tiếng hú’ đáp trả. Tôi không chỉ có một mình. Cuộc hạnh ngộ với nhạc sĩ Lê Tuyên, giáo sư Salil Sachdev và tổ chức WWF đã cho Giấc Mơ Cao Nguyên thành hiện thực. Đó mới là  lúc tôi mới bắt đầu được thừa nhận, lúc tôi thật sự tìm được ‘đám đông’ của mình”

Người ta có thể nhận ra nhau như thế, trong nỗi cô độc của những sinh linh mỏi mòn tìm dấu một cá thể cùng loài, cùng kể câu chuyện của con tê giác sau cuối.

563287_10151306165267686_954426994_n

Và năm nay, họ lại đang cùng nhau tiếp tục cuộc hành trình thứ hai mang tên Tiếng Gọi Núi Rừng, họ sẽ lại cùng nhau kể về câu chuyện của con nai đực vắng mặt tại Nam Cát Tiên, hay nỗi đơn độc của cá thể báo Lucy, trước khi chúng chỉ còn tồn tại trong hội họa.

1072479_10151533197347686_189432588_o

Một – Giây – Trước – Diệt – Chủng

Mối duyên tại Nam Cát Tiên đã quá đủ để đặt Trung Nghĩa vào tâm thế “con đầu đàn” mạnh mẽ thật sự trên đỉnh văn minh, sự mạnh mẽ để yêu thương chứ không hủy diệt. 

Sau đợt triển lãm đầu tiên Giấc Mơ Cao Nguyên vào năm ngoái, nội giới chào đón những họa phẩm đầy cảm xúc của Trung Nghĩa với những lời chúc mừng đến cùng sự ái ngại. Anh xuất hiện trong chính sự kiện của mình ở tâm thế một “kẻ tôi đòi”, hân hoan phụng sự chính những đứa con đẻ của mình.

Từ một nhạc sĩ trẻ háo danh của dòng nhạc thị trường, một tay showbiz nửa mùa với “máu nghệ” được pha loãng để chiều chuộng vị giác và khứu giác đám đông, với bằng cấp ngành thiết kế nội thất và chút năng khiếu hội họa, Trung Nghĩa xuất hiện tại cuộc triển lãm tranh đầu tiên của mình, hốc hác, hân hoan, và hoàn toàn tự do sau cuộc lột xác.

Người ta nói anh vẽ như nhập đồng, như kẻ được chọn, như bị dựa, hay được một Đấng Bề Trên mượn tay.

Và người ta tự hỏi anh sẽ đi đâu tiếp, sau khi thức dậy khỏi Giấc Mơ Cao Nguyên?

Suốt nửa năm ròng, không một dấu hiệu sáng tác, thậm chí không có cả một tin đồn mơ hồ nhất về bất cứ dự án sáng tạo nào. Nghĩa tìm thuê nhà, một nơi đủ tách biệt để khói súng và thuốc nổ không bị phàn nàn. Anh quyết định nuôi tóc để mỗi ngày sự ngứa ngáy khó chịu sẽ nhắc anh về những bức họa đang đòi được hiện hình.

Vẫn không có gì cả.

Chúng ta, những sinh vật ngạo nghễ ở đầu chuỗi thức ăn, vẫn khó lòng thừa nhận sự bất lực của mình như vậy. Mọi thứ được dấu kín, trong các file lưu trữ, giữa bốn bức tường, trong các dự án chỉ được vẽ bằng trí tưởng tượng. Thành phố là một sở thú lớn, nhốt những con thú lớn với những cơn bất lực to lớn. Tôi cũng vậy, với nửa năm ròng rung đùi ngồi chờ cảm xúc. Tôi vẽ một con chim cắt, vâng, với những năm học kiến trúc, với kí ức của cậu nhóc cao nguyên, tôi hoàn toàn có thể vẽ nắn nót một con chim cắt. Nó ở đó, trên cái bố cục kì cục nhất, chính giữa mặt giấy, và rồi tôi không thể vẽ thêm bất cứ gì khác. Con chim trơ khấc giữa khung giấy vẫn đậu ở đó nhiều ngày liền, và tôi gầm gào trong xưởng vẽ, lượn ra lượn vào với con dao trên tay, chờ đợi sự bất lực lên đến đỉnh điểm để trở thành cơn thịnh nộ đủ cho phép tôi xả một nhát lên mặt giấy để hủy hoại tất cả và làm lại một cái gì đó khác.”

Gã đánh cược một lần cuối cùng với bức họa chỉ mới bắt đầu của mình bằng thử nghiệm với khói màu. Sau đúng 5 giây đồng hồ, trên bức vẽ hiện hình  cả một trảng rừng rực lửa quanh con chim đang bốc cháy. Bản thân tác giả sẽ không bao giờ có thể tự giải thích được vì sao trình tự của bố cục lại diễn ra hoàn hảo đến vậy. Khối đất đá bắn tung tóe bên dưới và những lưỡi lửa vần vũ tạo nên hình khối của cả một trảng rừng phát hỏa. Đúng nó, những trảng rừng đã từng cháy ngùn ngụt sau lưng gã trên đường đi học về. Đúng 5 giây, và gã thì chỉ việc sững sờ chiêm ngưỡng Tạo Hóa hoàn thiện phần còn lại của bức tranh.

“Một con chim, đẹp và hoàn hảo, nếu được mang về nuôi, đặt trang trọng vào ngữ cảnh của chiếc lồng, nó vẫn là một sinh vật tuyệt mĩ. Nhưng bức tranh đó sẽ vĩnh viễn không thể hoàn thiện cho đến khi cho đến khi người ta được nhìn thấy chính con chim đó trong ngữ cảnh của nó ngoài tự nhiên”.

Những con chim đẹp nhất, và hót hay nhất, khi ở trong môi trường của chúng, dù là một khu rừng đang cháy.

Và các họa sĩ cũng vậy.

1472954_10151776515227686_969297029_n

Có lẽ duyên nợ với những loài chim rừng, kí ức về từng mảng trời cao nguyên bị che phủ bởi di chuyển của hàng ngàn con Ch’rao bay kín trời (loài chim mà giờ đây người ta chỉ nghe nhắc đến vào những cuộc thi ca hát với ca khúc trứ danh của Trần Tiến!) đã khiến chúng xuất hiện trong một chuỗi tranh Trung Nghĩa. Và cả những con bói cá cũng chỉ còn được nghe thấy trong một bài ca phổ biến. Chúng như những nhà hiền triết đủ màu, trầm ngâm bất động giữa vụ nổ bộc phá quanh thân, làn nước màu lam độc địa lênh láng dưới thân, chiếc cổ nhỏ xù lên rối bời, một túm lông vũ trên chỏm bắt đầu bén lửa. Đúng cái khoảnh khắc đó, khoảnh khắc Chỉ-Còn-Một-Giây-Đến-Hủy-Diệt đó, được chép lại.

1 giây quá muộn, những đốm lửa sẽ tiêu hủy cả bức họa. 1 giây quá muộn, loài bói cá cũng sẽ biến mất, và cả loài người nữa.

Người họa sĩ đưa bàn tay trần cháy xém dập tắt vụ hỏa hoạn do chính mình tạo ra, và tất cả dừng lại ở một bức tranh hoàn thiện.

Còn loài người, họ sẽ làm gì với vụ nổ bộc phá do chính mình tạo nên, vào đúng cái thời khắc định đoạt sinh tồn ấy, thời khắc Một-Giây-Trước-Hủy-Diệt?

 208146_10150151011262686_5295600_n

Kết cục buồn của Tarzan phố thị

“Bởi một ai đó đã đưa tay ra khi chính tôi chỉ còn một giây trước khi tự hoại. Một ai đó, hoặc chính tôi!”

Gã họa sĩ ngồi giữa bãi tha ma những con thú buồn, những sinh linh dãy chết, như nhà khảo cổ ngồi giữa những khối hóa thạch đã-từng-sống, kể những câu chuyện đan xen giữa thủ pháp hội họa và kí ức vùng Đất Cha* (chú giải: Buôn-Ma-Thuột phiên âm từ thổ ngữ Ê đê là Buôn Của Cha Thuột, về sau người Pháp nói trại thành Bản Mê hay Ban Mê Thuột)

“Cha tôi là một người hùng lí tưởng chánh hiệu, và một con chiên ngoan đạo. Ông hồ hởi mang gia đình đi kinh tế mới, xông xáo đưa mẹ tôi, khi này tôi còn trong bụng mẹ, từ B’lao theo về Daklak để giữ rừng vàng. Ngay cả khi cán bộ kiểm lâm được chia đất rừng để sống và canh tác, ông chọn ngay miếng đất cằn cỗi khó canh tác nhất nằm lọt trong hẻm sâu, với lí do ‘mình có phải người nông dân, biết canh tác gì đâu, ở đây là giữa lòng rừng, là an ổn nhất rồi’. Tôi lớn lên, biết nói chút ít tiếng dân tộc, chơi nhiều hơn với con nít người thượng. Lớp học tôi, heo bản chạy ra chạy vô, chúng tôi và cô giáo cứ phải gián đoạn để lùa chúng ra.”

Miếng đất xấu trong thung đã cho phép Trung Nghĩa lớn lên trong lòng rừng như vậy, có suối sau nhà, có khế rừng, và có những buổi chiều Ch’rao che kín bầu trời.

“Người lớn dạy chúng tôi trò bắt tổ chim. Tôi đã phá không biết bao nhiêu cái tổ như vậy, bắt không biết bao nhiêu loại chim non về nuôi chơi. Một số chết vì không có mẹ mớm mồi, số khác bị mèo vồ, sự xuất hiện của cá nhân tôi giữa góc rừng đơn độc ấy đã đủ để xáo trộn, can thiệp, và bẻ gãy vòng sống tự nhiên của rừng. Tôi vừa mê coi Ch’rao đậu kín tàng cây, đẹp đến độ sau này coi National Geography chưa thấy cảnh nào tương tự, tảng đá cứ lật lên là lại có vài con cua đá. Giống cua mà khi phát hiện tại Malaysia người ta đã loan báo trọng thể toàn cầu chính là thứ cua đá mà bọn tôi chơi hồi nhỏ. Nhưng tôi cũng mê trò phá tổ chim ngang với việc ngắm chúng. Cứ thế, chúng tôi phá không biết bao nhiêu tổ chim trải qua suốt tuổi thơ, cho đến khi tôi lờ mờ nhận ra: không còn cái gì để phá nữa. Chiếc tổ chim cuối cùng mà tôi bắt, con chim mẹ tao tác bay cuồng xung quanh, những lông cánh xơ xác của nó rơi ra, một cọng còn điểm li ti máu hồng. Đó là lần đầu tiên tôi đặt trả lại chiếc tổ chim và mấy con chim non trả về cho nó. Nhưng không hiểu sao con chim mẹ chỉ đứng từ xa xao xác kêu khản cổ, nhưng nó không bao giờ bay lại chiếc tổ cũ để mớm cho con. Vài ngày sau tôi sững sờ nhìn thấy xác chim non bị bỏ mặc trong chiếc tổ vấy mùi người.”

“Mùi người” đó cũng nồng đặc hơn trong không gian núi rừng Daklak, người Kinh xuất hiện mỗi năm mỗi nhiều, với những mánh khóe sinh tồn thời bao cấp mang về từ thị thành của họ. Vị cán bộ kiểm lâm từng một mình cầm súng chặn cả đoàn xe cán bộ khai thác gỗ trái phép đành bất lực trước những tờ công văn triện đỏ cho lệnh phá rừng hợp thức. Những con vooc bị lột da, hươu nai được thui sống ngay giữa chợ. Con suối sau nhà bị đặt bộc phá để vơ vét đến từng con cá nhỏ.

Ngày gốc cây cổ thụ ngay sau nhà, thân rộng đến gần chục người ôm, bị đốn ngã gây một tiếng động như một vụ nổ hủy diệt sau chót, cũng là lúc người hùng kiểm lâm biết ông đã hoàn toàn bất lực, cuộc đại xâm thực đã tiến đến tận thánh địa cuối cùng.

Ông bỏ nghề kiểm lâm, Trung Nghĩa theo cha mẹ đi làm rẫy và nuôi trong lòng mộng thị thành.

“Những cây gỗ lớn bị đốn hết rồi, người dân ùa ra thiêu trụi từng mảng rừng cây nhỏ để làm than mang ra chợ bán. Kí ức đường đi học của tôi là từng mảng rừng cháy đỏ chạy lan rừng rực sau lưng. Lửa, lửa ở khắp mọi nơi, lửa mang lại sự sống và văn minh cho loài người và đang kết thúc chính nền văn minh đó, con người và muông thú chỉ là một cái gạch nối ngắn ngủi giữa hai vụ cháy. Bản Mê trở thành thị trấn hoang đàng, người ta đi từng đoàn du lịch hay công cán, thực đơn giải trí là thịt rừng, rượu bản, gái dân tộc, rồi đến gái Kinh. Ngày tôi trở về thăm Bản Mê lần cuối vào năm 2 đại học, tìm ra con suối cũ và suýt dẫm phải kim tiêm vứt đầy lòng suối, tôi biết đó là lần trở về cuối cùng.”

21999_10151238045187686_1988281702_n

Hình ảnh những chiếc tổ chim mất dần trong kí ức thị thành, serie những bức vẽ tổ chim được đánh số thứ tự là một loạt thể nghiệm cuối cùng của Trung Nghĩa với khói màu. Không có không gian, không có câu chuyện, một vài nét phác của kỹ thuật thủ pháp được phô trương thi triển, chỉ là thấp thoáng bóng con chim non ngửa cặp mỏ tuyệt vọng vào khoảng không giấy trắng, hay ở một bức khác, chỉ một nhánh lông vũ lâm thâm những đốm máu đã ngả bầm.

Trung Nghĩa chần chừ “Tôi xin phép giữ lại câu chuyện của bức tranh này cho riêng người nào sẽ sở hữu nó”.

Gã ngại ngần trước thứ “mùi”riêng được chia sẻ đến tận cùng, và yêu cầu được tôn trọng, như tôn trọng chạc cây cuối cùng của gã người rừng cô độc.

Trung Nghĩa trở về Sài gòn, chính thức bắt tay vào quá trình vĩnh viễn tẩy xóa cái “gốc rừng” lạc thời man mọi: “Tôi làm tất cả để thị dân hóa bản thân. Tôi – thằng nhóc người Kinh giữa đám trẻ con dân tộc, và thằng Tarzan giữa đám bạn học người thành phố, tôi muốn được thuộc về đám đông của những kẻ mạnh. Tôi cố gắng dấu nhẹm luôn cả đam mê vẽ vời và âm nhạc của mình, biến chúng thành những món tài vặt lấy lòng mọi người xung quanh, tôi e dè với mọi dấu hiệu có thể tố cáo bản sắc của chính mình. Tôi cũng sắm cho mình một đôi giày Adidas hợp mốt thị dân, tôi vẽ mấy bức chân dung bằng chì tặng bạn bè để được yêu quý, tôi gọi điện cho quản lý của các ca sĩ nổi tiếng mà tôi may mắn quen biết được, để rình đón xem họ thích hát gì, và tôi viết những ca khúc hợp thời trang và ngồi chờ được thừa nhận.”

Tuy không học hành bài bản, nhưng do lớn lên trong môi trường ca đoàn nhà thờ Tin Lành, được nuôi lớn bởi người mẹ dẫu tảo tần nhưng luôn cẩn trọng giữ lớp son đỏ trên môi, bởi người cha dẫu khắc khổ nhưng vẫn chăm ướp các đứa con trong âm nhạc thánh ca, Trung Nghĩa được làm quen với âm nhạc và nhạc cụ từ nhỏ, đủ để anh “giải mã” các ca khúc nhạc Hoa thời thượng lúc bấy giờ và “điều chế” thành những ca khúc thời trang Việt Nam theo cùng công thức.

Đương nhiên là gã người rừng trở nên đắt khách với món hàng mỹ nghệ âm nhạc của mình.

“Bản năng sinh tồn của đứa trẻ lớn lên giữa rừng đã giúp tôi ngụy trang và tồn tại giữa rừng rậm bê-tông của cuộc đời thành thị, kể từ năm trăm ngàn đồng công viết ca từ cho một bản nhạc Hoa lời Việt đầu tiên. Việc viết nhạc thời trang nuôi tôi sống tạm ổn để chờ ngày trở thành vĩ nhân vặt.”

Con trai người kiểm lâm, kẻ đã bị nền văn minh “kinh tế” của đồng loại xua chạy khỏi mảnh đất của mình, đã trở thành thị dân. Gã nhập cuộc với phe mạnh, mong được họ dung nạp, gã cho rằng sự cấp tiến hợp thời của gã sẽ hoàn thiện lí tưởng anh hùng chủ nghĩa bại trận của chính cha mình.

Giấc mơ mòn dần, mòn dần, cho đến ngày Trung Nghĩa thỏa hiệp: “Có thể là một cô vợ ngoan, mở một quán nước, tụ tập vài bạn bè nghệ sĩ lại đàn hát và tụng ca nhau. Dẫu sao cũng không là một người hùng bị phế truất khỏi trảng rừng cuối cùng của mình, tôi sẽ cắm chiếc dùi nhỏ lên một rẻo đất phần đô thị, và có lẽ như thế, cuộc sống sẽ được duy trì, và trôi qua”.

Và có lẽ đã là như thế, như bao nhiêu lần những bản ngã đầy góc cạnh đã mòn vẹt trên mặt ghế cóc café phố thị, nếu không có những cú tát tận mạng, đủ để văng bật ra tiếng hú của gã người Kinh lưu vong xa thị tộc.

175047_10151477583607686_210211348_o

Cuộc triển lãm của những tiếng thét vô thanh

Có thể đã có những cú tát nảy lửa, những lần sa cơ đến tận đáy như vậy, đủ để đánh thức gã người rừng bị ngụy trang quá lâu, hoặc một nội lực nào đó sẽ chỉ chờ đến ngày gã chạm đến tận đáy đời mòn để bật thốt một tiếng kêu mang thổ âm đặc biệt của đàn ông miền núi.

“Có người còn đã từng khuyên tôi tập nói giọng Sài Gòn, xóa mờ âm sắc miền Trung để ‘dễ làm ăn hơn’. Tôi nói thuần thục âm sắc cả 3 miền, tôi có thể vẽ chớp nhoáng với 2 cây bút chì cùng lúc trong 2 tay, tôi viết một ít nhạc thời trang, tôi vẽ một vài bức họa chì tán gái, tôi làm tất cả để vui lòng người khác.”  Nhưng ngày gặp nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên, một giảng viên và nhà nghiên cứu âm nhạc tại Úc, cũng là người am hiểu hội họa, Trung Nghĩa mang tất cả những gì mình có, tất thảy những món từng được dùng làm mánh khóe “hội nhập” của gã tại Sài gòn, vị nhạc sĩ thản nhiên xem qua và thản nhiên phủ nhận tất cả “Nếu đây là những gì cậu có, thì cậu chẳng có gì cho tôi xem cả!”

71777_10151306587502686_434027792_n

Đó chính là cú tát cuối cùng đủ sức hất văng cái lốt thị dân giải trí của gã thanh niên nhập cư. Gã tìm đến những chất đất bazan được lọc kết cầu kì nhất, căn hộ luôn nồng nặc mùi diêm sinh, đôi bàn tay gã lâm thâm vết phỏng.

“Lần đầu khi ngọn lửa bắn lên tay tôi, vết phỏng không lớn nhưng khiến tôi nhớ đến những con nai bị thui sống ở chợ, tôi nhớ đến thân mình giãy giật của chúng, và đôi mắt, những đôi mắt chẳng phải vô cớ mà văn nhân thị thành vẫn ca tụng trong thi ca. Chúng nhìn, to tròn, hoảng loạn, đau đớn. Chúng ám ảnh tôi, những đôi mắt. Đôi mắt của con vọoc tội nghiệp bị lột da, những con mèo con bị vứt bỏ, những con chó nhìn đau đáu qua song lồng trên những chiếc xe chở ra quán thịt cầy,…Còn tôi, khi đó tôi làm gì? Giãy nảy vì một vết phỏng nhỏ hơn đầu đũa trên da thịt mình”.

Gã cũng từng nuôi một con mèo, nhưng người ta đã đập chết nó, con chó của gã cũng bị người ta thuốc chết. Gã không bao giờ nuôi thú cưng nữa.

“Khi người ta bận rộn với việc tìm cách lớn lên, làm những chuyện lớn lao và có những bạn bè to lớn, người ta có thể quên đi rất nhiều thứ. Tôi cũng vậy, tôi đã từng quên đi ánh mắt của những con vật, bị xua đuổi, bị cướp con, bị chết cháy, bỏ rơi, hay lột da,  đầu độc. Tôi đã từng quên cách hiểu ngôn ngữ của chúng, cho đến khi chính tôi học cách thừa nhận bản ngã mình, và chịu ám ảnh đến tận cùng bởi những gì tôi nhìn thấy trong đôi mắt một con vật bất khả tự vệ. Chúng nhìn tôi, những con nai bị thiêu sống hay những con chó chờ giết thịt: “Tạo Hóa ban cho Người vị trí đầu tiên của chuỗi thức ăn, ban cho người quyền năng của Văn Minh, tại sao Người ăn thịt con, đốt cháy nhà của con,  hành hạ con, mặc những bộ da của con? Tại sao Người bỏ rơi chúng con?”

265169_10151229628282686_778509560_n

Phải chăng ta đã cùng nhau chứng tỏ với Thượng Đế rằng người đã sai lầm? Ta không minh chứng được quyền lực tối thượng bằng sự dẫn dắt của sinh vật đầu đàn, mà ta tàn phá như những kẻ xâm lăng man rợ.

“Những ánh mắt ấy chưa bao giờ rời khỏi tôi, chúng chưa bao giờ rời mắt khỏi loài người để cất lên câu hỏi vô thanh ấy. Ta chọn không nghe, ta chọn không thấy, ta chọn quay lưng và bước đi đó thôi. Ngay từ những loài vật có lẽ được thuần dưỡng đầu tiên và gần gũi nhất với con người cũng đang lên tiếng kêu cứu”.

Nhạc sĩ Lê Tuyên, chính người đã cho Trung Nghĩa gáo nước lạnh cứu rỗi cuối cùng, cũng tìm lại sự tương tác cảm hứng để từ bức họa cái đầu một sừng của con tê giác cô độc mà sáng tác nên bản nhạc kể lại câu chuyện lang thang tìm đồng loại của con tê giác Java cuối cùng tại Việt Nam, với cao trào của những tiếng nổ chát chúa bắn giật từ dây đàn căng cứng. Trong cuộc triển lãm và hòa nhạc Tiếng Gọi Núi Rừng vào tháng Giêng 2014 sắp tới, như một sự tình cờ ắt nhiên, khi Trung Nghĩa quyết định đưa vào triển lãm hình hài những con vật bị đe dọa ngay tại đô thị mà theo anh mô tả “rất có thể chỉ là một đôi mắt, đôi mắt của con nai bị thui sống tôi nhìn thấy trong chợ, hay những con mèo bị bỏ vào túi nylon cột chặt thả trôi sông, những con chó nhìn đau đáu vào tôi từ phía sau những chiếc rọ nhốt chung trên đường ra lò mổ”, thì người bạn lớn của anh, nhạc sĩ Lê Tuyên cũng sẽ trình bày tác phẩm ngắn kể lại kí ức của ông về câu chuyện của một chú chó con có thật, chú chó mà ông từng phải cho đi trong một cái hộp giấy, nó ngước mắt nhìn nhạc sĩ, và khoảnh khắc đó, ông tin rằng nó đã khóc.

“Tiếng gọi của núi rừng có thể là một thanh âm xa lạ với những đôi tai thị dân, nhưng tiếng kêu cứu thống thiết của thiên nhiên đang cất lên ngay giữa lòng phố thị đó vẫn hiện diện hàng ngày và rất ít, quá ít người đáp trả”

Trong cuộc triển lãm lần này, Trung Nghĩa sẽ tiếp tục đáp trả theo cách của mình.

“Có tài năng, sử dụng được tài năng và sống được với tài năng là 3 chuyện hoàn toàn khác nhau. Tôi được sinh ra là một anh chàng có khiếu, nhưng cái khiếu ấy, với cả âm nhạc lẫn hội họa, chỉ dừng lại ở mức độ tài lẻ.

Tôi sáng tác được nhạc, dựa theo công thức sẵn có của một ca khúc thị trường, tôi hoàn toàn có thể bẻ vài note nhạc để biến nó thành một ca khúc mới hoàn toàn. Tôi vẽ vung vít trong trường với hai cây viết chì cầm ở hai tay, bạn bè lác mắt, và những cô nàng nhận những bức chân dung tôi tặng chỉ phì cười.

Với khả năng âm nhạc của mình, tôi chọn làm theo sự đặt hàng để vừa lòng các ca sĩ. Tôi chưa bao giờ thành tâm yêu nó, thú thật là vậy. Tội lỗi của tôi là đã xem âm nhạc như một mối quan hệ có thể lên giường mà không cần tình yêu.

Tạo Hóa cho tôi một thanh kiếm, tùy nghi, và tôi đã chọn múa may như một đứa con nít với thanh kiếm nhựa!

Cho đến khi tôi tàn tật hoàn toàn!

1233991_10151644847032686_338184717_n

Đến tận bây giờ, với hội họa, tôi mới đang học cách sử dụng tài năng. Quá muộn ư? Tất cả những kiệt tác đều đã được sáng tác. Khói ư? Lửa ư? Kể cả máu ư? Kỹ thuật vẽ bằng bút lửa ở các nước láng giềng đã được phát triển khủng khiếp, đến độ một bức tranh kỳ vĩ chỉ được coi là hàng sản phẩm mỹ nghệ chứ chưa được xem là hội họa chính thống. Vậy tôi sẽ làm gì với đống phân dơi phơi khô và những miếng đất cao nguyên của mình?

Tôi không quyết định gì về ý nghĩa của những chất liệu của hủy diệt mà chúng đến với tôi, thuần túy dựa vào kí ức của đứa trẻ người Kinh sống trong rừng. Tuổi thơ tôi chỉ là thế, đất đỏ, và tất cả những gì của nền văn minh hủy diệt mà người ta mang đến để phá rừng và khẳng định quyền bá chủ”.

Phân dơi sẽ chỉ là phân dơi trong tay một gã nghệ sĩ nửa mùa, chất nổ sẽ trở thành công cụ hủy diệt trong tay một thợ săn trộm, và cây bút lửa sẽ chỉ là một dụng cụ mỹ nghệ trong tay một nghệ nhân thủ công. Đứng trước đống chất liệu ngổn ngang trong khi những kiệt tác đều đã được sáng tác, gã người rừng chọn tâm thế của riêng mình, những kí ức mà không nghệ nhân Trung Hoa nào sẻ chia được, nỗi đau mà không gã nhạc sĩ showbiz nửa mùa nào có thể sao chép được. Kí ức núi rừng đã cho Trung Nghĩa biết vết khói màu lem trên túm lông bói cá ấy có giá trị của cả một thông điệp, chứ không chỉ là một lỗi hỏa biến.

Nói một cách khác, Trung Nghĩa chọn cởi tấm áo thị thành, và bước vào khung tranh, trần trụi như chính nhân thân đầu tiên Tạo Hóa ban cho gã: con trai người kiểm lâm.

882663_10151328288527686_1222075964_o

nhân vật và tác giả, tháng 09 2013

nhân vật và tác giả, tháng 09 2013

The URI to TrackBack this entry is: https://hoaianhv.wordpress.com/2013/11/20/hoa-si-trung-nghia/trackback/

RSS feed for comments on this post.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: