vọng Sài-gòn

Tôi nhớ hoài một đêm thứ Bảy đang bát phố lòng vòng Sài gòn Chợ lớn, anh bạn tôi bỗng thốt lên “Giá mà giờ rủ nhau chui vô rạp coi cải lương thì mới đã đời!”

Câu nói vu vơ khiến tôi cũng thốt chùng lòng: đêm thứ Bảy giữa trung tâm Sài gòn, muốn tìm nghe một câu vọng cổ, coi một lớp tuồng mà rọi đuốc kiếm không ra!

Sài Gòn ở hai phía rèm nhung

Có lẽ từ thời những ban hát miền Lục tỉnh dạt về đây, nương theo bất cứ nơi nào lưu dấu chân khai khẩn mà dựng rạp sắm tuồng, nơi những bản tài tử, những bài vọng cổ được kết chuỗi thành lớp lang với đủ đầy kịch tính mà thành những kịch bản trọn vẹn, từ hương xa, đường rừng, cho tới tuồng tâm lí xã hội với đào kép ăn bận phấn sáp kiểu tân thời, dáng điệu lịch duyệt đời thường chứ không còn lối ra bộ cường điệu của tuồng tích cổ trang, hát bội.

rạp cải lương 3

Cải lương từ đó, là món nhắm tinh thần khoái khẩu của thị dân Sài Gòn, thú thưởng ngoạn cho mọi giới từ mặc khách tới bình dân. Đầy đủ chuyện giựt gân, diễm tình, những gã cướp rừng xanh đậm máu giang hồ tứ chiếng, tới câu chuyện đời mấy cô gái bán bar, chuyện nghĩa hiệp đường rừng, tới Lữ Bố mang khẩu khí giang hồ Cầu Muối và thứ tiếng lóng vỉa hè đặc trưng.

Dân Sài Gòn dễ bị chọc cười mà cũng dễ bị chọc cho khóc. Cải lương có hết, với miếng hài miếng bi đan lẫn như hai bức mặt nạ khóc cười đã từ lâu thành “logo” nhận biết của thế giới rèm nhung.

Dân Sài Gòn ham thói hiếu kỳ trước những điều mới, thì cải lương có tân cổ giao duyên, có kích động nhạc xập xòe, có đờn Hạ Uy Di, kèn tây và những bản tuồng hương xa mang âm hưởng ngoại quốc dù Cao Miên hay tiểu thuyết kinh điển Pháp. Từ tuồng dã sử nước nhà cho tới những pha đấu kiếm như chưởng Hương Cảng, đủ pha lộn mèo, tọt gươm vô nách chết dãy lâm sàng mà vẫn nấc ặc ặc trọn sáu câu, xuống xề mới chịu lăn ra chết (tới đoạn này giấy tiền được kẹp vô quạt chọi lên sân khấu rần rần, “tử sĩ” lóp ngóp dậy gom tiền gom quạt, cúi đầu chào tạ rồi vô cánh gà mới chia nhau).

đào kép 4

Cho tới tận mấy năm đầu thập niên 80, vẫn còn lác đác vài nhà hát cải lương hoạt động, áp-phích vẽ tay trưng lộng lẫy lừng. Người ta bu quanh mấy sạp thuốc trước rạp mua xá-xị bỏ bịch và quạt bóng kiếng, còn khăn tay thì thời này chưa xài khăn giấy, mỗi bà mỗi cô đều thủ chiếc mouchoir điệu đà để chậm nước mắt.

Người ta vô rạp, mê mẩn coi đào kép sắm vai, hả hê cười khóc những khóc cười mà bi hài của cuộc mưu sinh thường nhật trở nên quá trần tục, tầm thường. Thị dân cần những vở tuồng, những làn hơi cải lương mùi mẫn như những cuốn tiểu thuyết diễm tình vẽ bìa sặc sỡ để thêm thắt vào bữa tiệc đời chút món nhắm đưa cay. Điều này tới giờ vẫn nhìn thấy được qua lượt coi những phim truyền hình kiểu soap opera nội hóa dành cho các bà nội trợ và mấy chị tiểu thương.

đào kép 3

Về sau, tức là vào thời tôi lớn lên, những năm 80, khi trường phái bi lụy diễm tình bị lên án, dân Sài Gòn có món nhắm thoại kịch tươi vui, đời thường hơn với Trong Nhà Ngoài Phố mỗi tối thứ Năm, cải lương đen trắng vào tối thứ Bảy có cô Thanh Nga diễn Bên Cầu Dệt Lụa, cô Bạch Tuyết đi Âu châu diễn Đời Cô Lựu làm người hải ngoại khóc rần rần…Kì đó, cải lương Sài Gòn lại “thất thoát” thêm một Thành Được…

Rồi người ta vô rạp thưa dần.

thanh nga 2

Những hấp hối vô danh

Những rạp hát cuối cùng của Sài Gòn đã hấp hối và diễn những xuất hát cuối cùng ra sao, ngay cả người Sài Gòn cũng không biết, mà cũng không được các sử gia bận rộn lưu tâm ghi nhận.

Có lẽ rạp cuối cùng hoạt động đã là trụ sở của đoàn ca múa nhạc Bông Sen ở đường Nguyễn Thái Bình, đoạn Lê Công Kiều ngó qua, ngay gần tiệm cơm Âu Thiên Nam. Hồi Tết đâu như năm 2011 hay 2012, tôi có thử hỏi mua vé xuất diễn nào gần nhất, người bán vé uể oải thở dài yêu cầu tôi để lại số liên lạc đặng khi nào đủ vé coi mới dựng tuồng sắm vở.

Họ không bao giờ gọi lại cho tôi nữa, vài tháng sau nghe đâu đóng cửa luôn.

Kênh truyền hình giờ nhiều lắm, phát hình thâu đêm thấu sáng. Chẳng còn những bà mẹ nô nức dọn cơm rồi hò tụi con nít tắm rửa thơm tho từ sớm để cùng chờ coi cải lương truyền hình.

Từ “cải lương” thành thứ tính từ giễu nhại, dùng để chỉ những gì lòe loẹt hay hủ lậu quê mùa. Vậy mà cách chưa đầy thế kỷ, Trung Trực đã viết trên tờ Lục Tỉnh Tân Văn rằng “…nên làm những việc chi hễ bịa vào tiếng nói cải lương được, thì trong trí vẫn trộm tưởng rằng việc ấy đã thập phần hoàn mỹ…”

Vậy mới thấy mặt trở trớ trêu giữa những giai kỳ.

Chỉ đôi chục năm về trước, có mấy ai ngờ có ngày người Việt kém chữ Việt đớn đau tới nỗi vĩnh viễn đánh mất nghĩa hiếu tri và canh tân tốt đẹp của hai âm tiết “cải lương”.

đào kép 1

Như tôi và anh bạn nọ, tội tình thay giữa đêm thứ Bảy Sài Gòn, lòng thèm nghe câu vọng cổ mà rọi đuốc kiếm không ra, nao nao ngỡ mình đang đi lạc.

Chỉ đôi dịp đi du hí miền Tây, buồn não ruột mở đài Trà Vinh lên coi chơi, nghe bản tân cổ đời đầu của làn hơi Lệ Thủy, thiếu điều muốn nấc lên vì nhớ.

lệ thủy

Tiếng nấc Trụ Vương giữa đêm bão thị thành

Tôi sửa soạn quần áo chỉnh tề, dùng cơm sớm rồi khoác tay chồng đi coi hát – than ôi, đó đã từng là một điển lễ không quá xa hoa của nếp sống thị dân Sài gòn không lâu về trước! Không rạp không rèm, cũng không trống kèn cờ quạt, phòng trà Tiếng Xưa trên đường Trần Hưng Đạo hiu hắt đêm thứ Năm, chỉ vài bước cách rạp Nguyễn Văn Hảo thuở nào, với đêm diễn kinh hoàng của đoàn Kim Thoa, vở Lấp Sông Gianh. Một mảnh lựu đạn xuất hát đẫm máu vẫn còn ghim trong cơ thể đào Thiên Kim tới tận bây giờ…

CREATOR: gd-jpeg v1.0 (using IJG JPEG v62), quality = 70

Bây giờ thì rạp Nguyễn Văn Hảo xưa tổ chức diễn hài, có loa phóng thanh và các cô PG đứng giữa đường phát tờ bướm. Còn nơi đây, chỉ cách vài bước, một mầm phục hưng yếu ớt của cải lương đang thoi thóp quẫy cựa trong khung cảnh một phòng trà.

Là phòng trà “ruột” của dân chuộng bolero, cũng là điểm tái ngộ của những ca sĩ hàng thượng thặng Sài Gòn xưa giờ đã ra hải ngoại, từ hồi còn “cát cứ” ở quận 10, Tiếng Xưa trở thành một góc lui tới đặc biệt của Sài Gòn, với lối trang trí sân khấu tuy thô sơ nhưng mang hơi hướm Sài Gòn 60’s, ban nhạc với những bản phối cũ và những đêm tái ngộ tưởng như có thể làm sống lại hàng chục năm đã từng bôi xóa.

Chỉ mới dời về khu trung tâm gần đây, án ngữ cửa ngõ ráp ranh Sài Gòn – Chợ Lớn, dù với khán phòng lịch sự hơn, cùng những ngôi sao hải ngoại không ngừng xuất hiện, nhưng có vẻ việc gián đoạn, di dời đã khiến những khách cũ không còn tìm tới xôm tụ như ngày nào.

Những đêm thứ Năm đặc thù phong vị giải trí kiểu Sài Gòn xưa với những ngôi sao cải lương cũ mới kiểu này là một đêm trong cả tuần hoạt động, cặp chủ nhân phòng trà chọn thực hiện như một lối “trả nghĩa” lại cho các nghệ sĩ vang bóng một thời. Nói là trả nghĩa bởi khi tôi tới, chỉ có lác đác vài bàn có khách.

Cặp nghệ sĩ trẻ diễn một trích đoạn tuồng Lữ Bố. Từng đường phấn sáp vẫn mang hơi hướm lối vẽ mặt tuồng, cặp “râu tôm” nghễu nghện quết tới trần nhà, rạch ròi từng ngón ra bộ, từng ý tứ lẳng lơ cụp lạc đầy ước lệ của lớp tuồng trứ danh.

Chồng tôi là người Bắc, có lẽ đây là lần đầu tiên được coi tuồng, dù chỉ một trích đoạn nhỏ trên bục diễn phòng trà, cũng đủ choáng ngợp bởi ánh mắt quắc lên của tay dõng tướng đa tình, hay những lẳng lơ bắt nhả của nàng Điêu Thuyền hàng hậu duệ. Trong một khoảnh khắc, người ta không thở nữa, mải mê ngắm nghía ngón nghề điêu luyện, lòng rộn theo tiếng nhạc khí phát ra từ dàn máy mà tưởng như sống lại cả một ban đờn.

Tôi đến để được tái ngộ và nghe giọng ca Đệ nhất Đào thương – sầu nữ Út Bạch Lan, nhưng bất ngờ hơn nữa, khi lớp trích đoạn rút vào hậu đài, một người đàn bà lớn tuổi chập chững bước ra sân khấu. Khuôn mặt bị biến dạng bởi tháng năm đã không nhắc nhớ được gì, cho tới khi khúc vọng cổ cất lên bi tráng:

…Trời ơi đám tôi trung đã phản Trụ đầu Châu kéo binh về vấn tội. Trong khi hoàng hậu Tô Nương lại bỏ ta sớm vội…bôn…đào…Lần đầu tiên, trẫm để cho suối lệ tuôn trào…

Đệ nhất Đào võ Diệu Hiền!

Có lẽ chưa người đàn bà nào cất tiếng nấc Trụ Vương tài tình hơn như vậy, đòn tay ra bộ điệu nghệ xuất thần, còn ánh mắt chợt thoắt tinh anh nộ khí vị hôn quân thất trận.

Đã có lần tôi may mắn được tài tử cine Trần Quang diễn lại cho coi một trích đoạn vai Trụ Vương trong vở diễn tốt nghiệp của ông tại trường Kịch nghệ. Nhưng nếu cái gian hùng ngạo nghễ trong Trụ Vương – thoại kịch của ảnh đế cine Sài gòn năm ấy đầy tính hàn lâm trong từng nếp nhăn khóe mắt, với ánh nhìn lạc thần của cơn cuồng khấu hung tàn và đài từ như tiếng chuông đồng ngạo nghễ, thì Trụ Vương qua làn hơi vọng cổ đàn bà lại khiến người ta run rẩy trước một thần lực tôn nghiêm, trong Cái Đẹp của tận cùng Cái Ác.

Người ta quên cả người đào hát đã về già trước mặt, khi nét uy nghiêm hằn dấu sát khí hung tàn mà vẫn bi lụy cất tiếng ca nghe buốt can tràng kẻ kiêu binh thất trận.

Tôi ngồi bật dậy khỏi chiếc ghế dựa, như không tin được ngần ấy uy lực tinh anh vẫn phát tiết ngời ngời từ cuống họng, lồng ngực cô đào từng một thời làm điên đảo khán trường cải lương của Sài Gòn hoa lệ.

diệu hiền

Mong manh nhành lan trắng giữa đêm mộng phục hưng

Hết Trụ Vương Thiêu Mình, người ta lại chao đảo sau nhịp ngựa hối hả với tiếng kêu thống thiết giữa pháp trường “hãy để anh can phần đừng giết oan một trang hào kiệt, nghe lời anh đình thủ bớ La…Thành…”, rồi dẫu có nghe lại một vạn lần bản Tần Quỳnh Khóc Bạn, người nghe vẫn rưng rưng theo từng ngón tay cô đào dừng lại, lẩy bẩy giữa không trung và làn hơi tắc nghẹn “Thôi rồi một lưỡi gươm đưa đã dứt mạng anh hùng…”

Hai bản ca trứ danh của bậc thầy Viễn Châu vừa dứt, đào Diệu Hiền lại trở về trong hình mạo người đàn bà bé nhỏ, chập choạng cúi chào khán phòng vắng ngắt, chập choạng tựa vào cánh tay dìu bước rời sân khấu trong tiếng tung hô tuy mỏng nhưng da diết không muốn ngừng.

Không chỉ là một đêm phủ phê thịnh soạn với đào võ Diệu Hiền, mà người ta còn được khoản đãi giọng tình mùi mẫn của Sầu Nữ Út Bạch Lan với những bài bản bất hủ, khuôn diện đăm chiêu nhưng thanh thoát, xứng tầm tàn dư nhan sắc một Đệ nhất Đào thương.

út lan 1

Nhưng vượt trên tất cả còn là lòng xót xa của chính từng người thưởng lãm những ánh hào quang muộn mằn sau cuối của hai bà hoàng sân khấu ấy, đó là những suy tàn của thời gian đã hiển hiện lồ lộ, lòng áy náy không tránh khỏi khi phải bất lực ngồi đó, nhìn những tượng đài cao niên vẫn phải dìu nhau đến từng đêm hát hiếm hoi bởi cuộc mưu sinh thường nhật, hay dẫu bởi ơn gọi mỏi mòn của nghề ca xướng. Họ vẫn dìu nhau đến, hóa thân bà chúa ông hoàng, nơi một ánh đèn leo lét nhất, một khán phòng thưa thớt cũng làm nên cả một di tích thành đường quý báu cho những hồi ức vãn thời.

út lan 3.jpg

Chúng tôi tiếc rẻ ra về, đi một đoạn sau hai cô đào một thời vang bóng, nay chỉ là hai cái bóng cập rập liêu xiêu dựa vào nhau, dắt díu từng bước ra khỏi vùng tối phòng trà.

Khán giả ngày nay cũng đánh mất thói quen tụ tập trước cổng rạp chờ chiêm ngưỡng đào kép ra về. Chắc trong đời hát xướng của hai người đàn bà tài hoa đó, đây là một trong những buổi vãn hát đìu hiu nhất.

Họ chỉ có nhau.

Chồng tôi có hỏi “Vì sao cải lương Sài Gòn biến mất?” Tôi không có được câu trả lời. Chỉ biết rằng ngày nay, người ta không trốn nhà mải miết theo ghe bầu gánh hát để ăn xin cơm tổ nên không được học đức khiêm nhu từ các tiền bối, không được dạy dỗ bởi các thầy đờn. Họ thi thố học hành trong những học viện chính quy, ra sức canh tân hai nghĩa “cải lương” và “vọng cổ” bằng phục trang dã sử Tàu lai trên những bản tuồng nghèo ca từ mà giàu tính tư tưởng. Thời của hoa và lệ, của những soạn giả hàng Hà Triều Hoa Phượng đã qua đi không hậu duệ, bởi những bài bản Viễn Châu hoa mỹ đã không còn dễ hiểu dễ nghe so với ca từ hoặc mang tính khẩu hiệu, hoặc nặng mùi sáo ngữ. Mà có lẽ cũng bởi ngày nay, ở những trường lớp dạy nghề ca diễn, người ta hình như cũng không dạy ra các thầy tuồng.

Trong một cuộc phỏng vấn, Cô Út đã từng thật thà nói “Mộng lớn của tôi bây giờ là dựng lại được một nhà hát thiệt đàng hoàng. Có nghệ sĩ vẽ cảnh trí, có máy vi âm thả dòng từ nóc rạp như hồi xưa, chứ ca ra bộ mà tay cầm mic phòng trà thật khổ cho mấy cháu, mấy em…”

Đêm đó, cơn bão hiếm hoi tạt ngang thành thị, gió giật và mưa tầm tã. Giữa cơn mưa xối vần vũ trên những nóc gia đã say ngủ, tôi vẫn còn nghe văng vẳng bên tai làn hơi sầu nữ không chút tì vết thời cuộc, nhưng đã nhuốm hơi hướm tủi thân nghiệp mệnh xướng ca:

“Đêm nay mưa gió ngập trời,

Hỏi ai còn nhớ một người tên Lan…”

út lan 4.jpg

(bài viết đã sử dụng bởi tạp chí Người Đô-thị)

huyền sử tài nữ Paris

Trác Thúy Miêu

reutlinger-studio-postcard-depicting-the-dancer-cleo-de-merode-1875-1966

Nàng là gái Paris chánh hiệu, dù có một số tư liệu cho rằng nàng tên thật là Hortense Gervais sinh trưởng tại vùng Bordeaux hay Biarritz. Sinh ra dưới cung Thiên Bình, Cleopatra Diane de Merode còn là ‘con gái Vệ-nữ thần’ dựa trên tín ngưỡng chiêm tinh phương Tây, khiến nàng được bảo đảm đủ mọi ưu chất tài hoa, phong tư kiều mị, nhưng trên hết là tư duy sùng bái Cái Đẹp cùng lòng kiêu hãnh của một trang anh thư dòng dõi trâm anh thứ thiệt, con gái họa sĩ phong cảnh và một cựu diễn viên người Áo. Cha cô, Karl von Merode tự nhận mình là nam tước Freiherr von Merode đến từ một dòng dõi cổ kính tại Bỉ.

Và đây chỉ mới là lần đầu tiên số mệnh lắm khuất tất của nàng liên quan đến vương quốc này.

images (5)

Scandal đầu tiên: Màn thoát y bất đắc dĩ 

Bé Lulu, theo cách gọi âu yếm của song thân dành cho nàng, sớm hé lộ thiên hướng nghệ thuật, được gửi đến học viện Paris Opera Ballet từ lúc 7 tuổi. Và khi mới 11 tuổi, cô bé có mớ tóc mây xoăn tít đã có buổi ra mắt đầu đời trên sàn diễn danh giá của kinh đô hoa lệ.

Tất cả đã hứa hẹn một nghiệp lộ lẫy lừng cho một tượng đài nghệ thuật chuyên chính – nếu như nhan sắc ma mị của nàng đã không mê hoặc cả châu Âu, làm mụ mị mọi họa sĩ, nhiếp ảnh gia, lẫn giới truyền thông lúc bấy giờ, vượt xa tài hoa của đôi chân vũ nữ.

Người ta định danh nàng chính là hình mẫu đầu tiên của khái niệm celebrity trên thế giới – nơi mà phong mạo trội bật, thị hiếu thẩm mỹ cầu kỳ và những cuộc tình lâm ly có thể mang thứ hào quang lấn át cả tinh hoa tài khí.

13 tuổi, tiểu thần nữ Cleo đã là nàng thơ phía sau những họa phẩm bậc thầy của Jean-louis Forain và Edgar Degas. Ba năm sau, nàng đã vang danh khắp kinh đô Paris với mái tóc sơn nữ rối bồng bềnh, chẻ chuẩn chu giữa vầng trán Đồng Trinh, viền bằng những vành xuyến đính đá óng ánh, xổ tràn xuống tận vòng eo không tưởng, dệt thành một chiếc khăn shawl đầy đặn lăn tăn sóng tóc. Người ta ghi dấu dung nhan nàng trên mọi tấm bưu thiếp, cỗ bài và các bích chương quảng cáo. Mái tóc sơn nữ và đôi mắt yêu tinh trong như ngọc của Cleo trở thành một mẫu mực về nhan sắc đàn bà đầu thế kỷ 20, dẫn lối cho những nếp tóc xoăn, mắt mơ viền chì và những đôi môi bé xíu như đinh ghim của Kỷ Ngây Thơ 20’s, với các dải băng trang kim trên tóc, điệu vũ chanson phóng đãng và những chuỗi cườm tung tẩy trên váy flapper.

14cd606ffe2997d6bb58b37f0a020bb6

Nàng được cưng chiều, săn đón, ái mộ khắp nơi, và nghiễm nhiên trở thành giai nhân được chụp và họa hình nhiều nhất trên toàn nước Pháp, mà người ta còn cho là trên cả châu Âu.  Cleo trở thành nàng thơ hiển hiện qua rất nhiều tuyệt phẩm của các danh họa bậc thầy cùng thời cho đến nay vẫn được lưu truyền, làm nên một định hình bất hủ của “thẩm mỹ tiền showbiz” đầu thế kỷ trước.

1d3a0b449b4bcad1e4f7021e22f261d6Alfredo Muller, 1869-1939, cleo de m etching c.903Boldini cleobab59a8a7d7bc63c49eca18d3d2fcdb4

Portrait of Cléo de Mérode Georges Jules Victor Clairin (Fr843-919)

Danh họa người Áo Gustav Klimt cũng từng là một nạn nhân chung của cơn sốt Cleo. Nàng xuất hiện rất nhiều trong các tuyệt phẩm ma mị của ông, và về sau, bộ phim mang tên Klimt năm 2006 còn hiển hiện ít nhiều câu chuyện của danh họa và nàng vũ nữ Pháp qua nhân vật “Lea de Castro”.

Năm 1895, Toulouse-Lautrec vẽ chân dung Cleo. Năm tiếp theo, đến lượt nhà điêu khắc Alexandre Falguière rơi vào cơn sốt Cleo, làm nên cả một cuộc náo loạn nhỏ tại Paris Salon khi ông vén tấm trướng che trên tác phẩm mới của mình, phô bày bức tượng Cleo khỏa thân đầy mê đắm. Bản thân nàng thơ yêu kiều cũng bị chấn động trước phiên bản trần truồng mỹ diệu của mình. Trong bức thơ gửi chủ biên tờ Le Gaulois, nàng tha thiết phủ nhận mọi tin đồn rằng Falguiere đã sáng tác dựa trên mẫu thật: “Rất mong ông vui lòng đính chánh lại cùng độc giả của quý báo rằng tôi không hề là người mẫu nguyên bản cho bức tượng của ông M.Falguiere, sự khác biệt có thể được minh chứng nếu lưu ý quan sát đầu của bức tượng”.

họa phẩm Cleo in the Salon của Carlos Vasquez y Obeda minh thuật lại scandal đầu tiên của nàng với bức tượng khỏa thân

Nhưng hẳn nhiên, không ai quan tâm đến cái đầu của bức tượng Cleo khỏa thân cả!

Sau biến cố đình đám này, nàng rút lui khỏi vùng hào quang danh vọng lẫn ánh đèn sân khấu, với lời giải thích là do nỗi lúng túng khổ sở khi chịu đựng những ánh nhìn lia khắp châu thân nàng và liên tưởng đến “bức tượng trần trụi kì khôi nọ”.

Bức tượng định mệnh The Dancer của Alexander Falguiere hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Musée d’Orsay.

garv_07b

Người đẹp bịt tai và lịch sử mốt tóc chignon

Sau vụ “bảo vệ môi trường” bất đắc dĩ, thị dân Paris háu tin vẫn có cách xoay sở để sản sinh thêm những tin đồn khi nàng vắng mặt, và ‘tác phẩm’ tin đồn mới nhất của họ khi này là nhưng lời xì xầm độc mồm rằng người đẹp de Merode trên thực tế không có… tai! Sự thể bắt đầu từ mốt tóc chignon của Cleo, với mái tóc dày che phủ hai bên khuôn mặt búi lại phía sau.

images (1)

Quả là một mánh khóe thần sầu, vì ngay sau đó nàng Cleo tội nghiệp buộc lòng phải tái xuất trở lại hòng minh chứng sự tồn tại đầy đủ của các cơ quan nghe nhìn trên cơ thể mình. Cuống quýt đối đầu với tin đồn quái gở, nàng xuất hiện ở khắp mọi nơi, tại nhà hát, đi dạo miệt mài trên các phố lớn trung tâm, ngược xuống Bois, tóc xõa được vén cao, lộ rõ một đôi tai đăng đối bình thường như hàng vạn đôi tai thị dân háu chuyện khác. Và từ đó, mọi quý bà quý cô Paris hoa lệ đều nhất loạt bới đầu theo kiểu tóc chignon. Mốt này về sau kéo dài đến cực thịnh vào những năm 1920.

images (8)

Tình lang phiền toái và kỳ tích ballet bị lãng quên

Tuyệt nhiên, những biến cố ngoạn mục này không hề làm phương hại đến danh tiếng Cleo, mà trái lại, như hệ quả tất yếu của mọi cơn sóng của sắc màu dư luận, Cleo càng sở hữu một hấp lực khó cưỡng đối với sự hiếu kỳ của công chúng. Nói ngắn gọn lại là nàng nổi như cồn.

Vào cuối năm 1895, một sự kiện lẫy lừng đã xảy ra, kết thúc đầy cao trào cho một năm đầy ngoạn mục và ám ảnh phần số Cleo mãi về sau. Vua nước Bỉ, hoàng đế Leopold Đệ Nhị, vốn là một tay hào hoa khét tiếng, tuyên bố mượn dịp công du thương lượng về quyền lợi thuộc địa để đến kinh đô hoa lệ và thân chinh khám phá sự thật về tiếng tăm tài sắc giai nhân trứ danh Cleo de Merode trong một buổi diễn của nàng. Nhiều tư liệu lẫn tin đồn thị dân thời bấy giờ cho rằng vũ đoàn nhà hát nhạc vũ kịch Paris chính là đại bản doanh thanh lâu hạng sang trên đỉnh thượng lưu của một Paris phóng đãng. Giới săn tin mau mắn đúc kết một mối tương quan giữa thói hào hoa của vị quân vương ngoại quốc và nhan sắc của nàng vũ công đang gây sốt toàn thành.

images (9)

Khắp kinh thành Paris, trong mọi phòng trà lẫn phòng the, người ta hau háu truyền tụng những tình tiết lâm li lẫn dung tục về mối dan díu giữa nàng kỹ nữ vang danh 22 tuổi và vị khách làng chơi vương giả hơn nàng ngót nghét 40 niên. Người ta nói rằng Cleo chính thức trở thành gái bao hạng sang, món đồ chơi ưa thích mới của vị quân vương phong tình, người ta trầm trồ truyền tụng về những món quà sang trọng nàng được dâng tặng, về toa riêng đặc biệt được thiết kế riêng cho Cleo và lắp thêm vào đoàn hỏa xa hoàng gia Bỉ để nàng tháp tùng nhà vua trên đường kinh lý. Họ, rất rất lâu trước khi Brat Pitt và Jolie trở thành Bragelina, được gọi chung bằng một cái tên sặc mùi showbiz: Cleopold!

Kin Leopold and Cleo De Merode taken from the Taschen book Art Nouveau

Trên thực tế, cho đến tận thời điểm này, Cleo vẫn chịu sự giám sát khắc nghiệt của thân mẫu. Bà cựu minh tinh cùng con gái kiên quyết phủ lập mọi tin đồn liên quan đến vị vua hoang đàng, khẳng định rằng thứ duy nhất nàng từng nhận của vị khán giả trứ danh này là những bó hoa hồng chúc mừng vào sau các buổi diễn. Các tòa báo vẫn nhiệt tình loan tiếp thông tin tỉ mỉ đến từng chi tiết về chuỗi ngọc trai trắng muốt được vị quân vương gửi tặng Cleo, và về căn hộ huy hoàng ngài dùng để cất giữ nhân tình. Trong khi đó, Cleo vẫn ngày ngày lên xuống 5 tầng lầu để đi về căn hộ nơi cô vẫn sống cùng mẹ như một con chiên Công giáo ngoan đạo. Tuy vậy, những lời quy buộc vẫn hấp dẫn đám đông hơn. Trò tiêu khiển lỗ nhĩ của đám thị dân háu chuyện đã đến hồi tai quái, Cleo đào tẩu khỏi Paris để đến St.Petersburg, nơi nàng rơi tiếp vào những tin đồn truyền khẩu về lòng ái mộ bất thường của các bậc vương tôn dưới thời Sa Đế. Những lời xì xầm truyền tụng, những tình tiết li kỳ và phóng túng đã trở nên ồn ào lấn lướt cả kỳ tích của lịch sử nghệ thuật múa ballet: nàng đã trở thành nữ vũ công ballet đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật múa diễn cùng bạn diễn nam là Rupert Doone tại nước Nga.

Cleo de Merode-10

Cleo lại trở về Paris để chứng kiến tiếng tăm của nàng đã lẫy lừng hơn gấp bội, tỉ lệ thuận với mức thù lao cho mỗi lần xuất hiện trên sân khấu. Khôn ngoan và chai sạn hơn rất nhiều sau những biến cố vừa trải, Cleo quyết xem đó là một cơ hội vàng. Nàng nhận một khoản thù lao khổng lồ để xuất hiện tại nhà hát hí kịch Folies Bergere – điều mà chưa vũ công ballet nào từng làm trước đây. Cleo ngạo nghễ xuất hiện và yêu kiều bước qua mọi đàm tiếu bằng đôi chân vũ nữ, điều này mang lại cho nàng một lượng khán giả ái mộ khổng lồ chưa từng có. Vài tháng sau, tờ The Éclair phát động cuộc bầu chọn ra người đàn bà đẹp nhất Paris. 130 tấm ảnh được trưng bày trong một gian phòng của bản doanh tờ báo cho mọi thị dân đến thưởng lãm và bình bầu. Cleo đoạt danh hiệu tuyệt sắc giai nhân với số phiếu bầu gần một nửa trên 7000 phiếu bầu.

cleo11_2

Cho đến tận bây giờ, mối dan díu với hoàng đế Leopold vẫn là scandal được nhiều người truyền tụng nhất, làm nên vầng hào quang về tiếng tăm bậc nhan sắc đã ra người thiên cổ. Thám tử đặc vụ Xavier Paoli đã gặp gỡ với Cleo sau khi tin về mối tình vụng trộm đã kịp lan truyền khắp nơi. Ông ghi chép lại trong hồi ký mình, chứng thực lời tạ lỗi của đích thân nhà vua Bỉ: “Cho phép tôi thể hiện lòng thành tâm ân hận, bởi những quy buộc nhân gian dành cho tôi đã làm thương tổn danh phẩm quý cô. Than ôi, chúng ta đã không còn được sống trong thời cuộc nơi mà lòng ái mộ của một vị quân vương không hề là một tai họa! Cuối cùng, tôi chỉ là một ông vua quèn” (nguyên văn: I am only a little king)

Kỹ nghệ lancée của thần nữ Nam Vang trên giọng đờn Gia Định

2 năm sau biến cố bức tượng khỏa thân và tin đồn… không tai, cùng mẹ và người quản lí tiệm hí kịch Folies Bergere, khi này cũng là người đại diện của nàng, cùng 9 rương tư trang và một chú chó cưng, Cleo đến Tân Thế Giới lưu diễn trong suốt một tháng tại Nữu Ước.

Mặc dù trước đó, cả một chiến dịch lót đường cho người đẹp Pháp đã được tiến hành, với những bưu thiếp mang hình ảnh của nàng được bày bán khắp mọi quầy báo, nhưng chuyến lưu diễn đã không thành công như kì vọng. Giới truyền thông ghẻ lạnh trong những bài bình luận hờ hững đầy mai mỉa, ca tụng nhan sắc người đẹp Paris nhưng miệt thị vũ đạo cũng như diễn xuất của nàng. Vào ngày Cleo ngán ngẩm rời Hoa Kỳ, tờ Boston Globe bồi thêm một cú tiễn biệt bằng việc gọi nàng với hỗn danh “The Frost” theo lối chơi chữ quái ác, vừa có nghĩa là “đóng băng”, vừa mang nghĩa lóng lối Mỹ là “thất trận”. Mặc nhiên, Cleo tái xuất Paris, rủng rỉnh 9,000 Mỹ kim thù lao từ chuyến lưu diễn, tức là gấp 40 lần thu nhập hàng tháng của chính nàng tại Paris.

Năm 1899, thân mẫu Cleo qua đời, cũng là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành hoàn toàn cho bản lãnh Cleo. Nàng trở thành một nữ thương gia thực thụ biết khai thác hình ảnh và tiếng tăm bản thân ở mức tuyệt nghệ. Nàng tỏ ra nhã nhặn và lịch lãm trong mọi cuộc phỏng vấn, và khéo léo điều khiển báo giới lẫn dư luận và tình cảm công chúng theo hướng có lợi nhất. Các phóng viên được vời tới có mặt tại các cuộc họp giữa nàng và ban giám đốc nhà hát, cho phép họ tiến sâu vào quan sát hậu đài kì thú của công nghệ giải trí Paris,  nơi nàng thi triển mọi tinh hoa tài khí ở cả tư cách diễn viên lẫn trong mưu lược cổ xúy danh tiếng cá nhân. Những lúc nhàn rỗi, Cleo chơi dương cầm (nàng được biết là một cầm thủ hàng cự phách dù không bao giờ chơi đàn trước công chúng) hoặc đạp xe rong ruổi những ngõ đường vắng vẻ ở ngoại ô Paris.

be0d5f7d3ea49aca71cae05a3025f96a

Trong những năm tiếp theo, Cleo thật sự trở nên một danh tiếng minh tinh ca vũ tầm quốc tế, nàng lưu diễn xuyên lục địa và nhiều lần danh giá tái xuất Hoa Kỳ. Vua Xiêm Chulalenghorn khi đến Paris đã được nàng ưu ái dàn dựng riêng một chương trình nghênh đón, bản thân Cleo xuất hiện trong bộ phục trang diễm lệ theo lối hương xa, mình dát vàng, kim miện có chóp nhọn như các thần nữ trong tín ngưỡng Đông phương. Nàng uyển chuyển múa theo lối truyền thống của vương quốc Xiêm nhưng được thêm thắt cải tân bằng phong cách Parisian chánh hiệu.

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Buổi diễn được hoan nghênh rầm rộ, công chúng Âu châu nức lòng trước vẻ đẹp hương xa khi được thể hiện trên trang tuyệt sắc Paris, sự pha trộn kì diệu giữa đôi mắt như cặp ngọc lưu ly đặc thù của người phương Tây, mớ tóc digan dầy dặn xõa dài trong phục trang Đông phương lạ mắt. Từ đó, Cleo liên tiếp ra mắt công chúng trong những màn múa mang âm hưởng Á đông, trong các bộ trang phục từ Cao miên đến Chà và và luôn được nức lòng ái mộ như một sứ thần thân thiện sau cách sách lược chánh trị hảo hữu của chánh quyền Phú Lang Sa.

60cf680627cf61368e153e7a4c60f3c0

Năm 1900, người ta cho vời ban đờn An nam đến Paris phô diễn nét văn hóa của quốc gia thuộc địa. Để thu hút công chúng và sự quan tâm của truyền thông, nữ hoàng nhảy múa de Merode được mời xuất hiện biểu diễn trên nền nhạc tài tử An Nam. Nàng xuất hiện trong những món trang sức theo lối cung đình Nam Vang và diễn tấu một vũ kịch truyền thuyết được cho là của người Chà Và, khi này được người chánh quốc lờ mờ coi là một nền văn minh Đông Dương nhất thống. Màn diễn tấu được đặt tên là Vũ Khúc Đông Dương dù sai trệch với tinh thần văn hóa An Nam nhưng lại tình cờ phối hợp mượt mà hơi hướm Cao Miên trên giọng đờn của ban tài tử Gia Định, và sự xuất hiện của Cleo đã khiến buổi diễn nổi tiếng đến mức nhà nước Phú Lang Sa chọn in hình trên con tem lưu hành khi ấy. Đây cũng là cơ duyên cho các nhà nghiên cứu về sau tìm lại bản ký âm thất truyền của bài đờn huyền thoại.

play-it-again

1 franc cho thanh danh thần nữ chốn hoàng tuyền

Tháng Sáu 1902, trên đỉnh vinh quang của các tiết mục múa mang màu sắc phương Đông, Cleo đến Anh quốc lần đầu, với trình mục gồm toàn bộ các bài diễn đa chủng đình đám của mình trong đợt lưu diễn kéo dài 2 tuần liền tại nhà hát Alhambra Luân-đôn gồm các điệu vũ âm hưởng Boheme, Hi lạp, Y pha nho và Cao miên. Năm 1904, khi lưu diễn tại Thụy điển, Nam tư, Đan mạch, và đặc biệt ghi điểm lẫy lừng tại Stockholm với những đám đông ái mộ nô nức tụ tập trước rạp diễn phong tỏa mọi con đường chỉ để nhìn tận mặt giai nhân. Hồi hương sau chuyến lưu diễn ngây ngất, Cleo tung cho chủ biên tờ Figaro tất thảy 3000 bức thơ tình thu thập được từ chuyến đi. Rất nhiều trong số đó được chọn đăng tải dài kì trên nhật báo.

images (13)

Nhưng về sau, Cleo giảm dần mật độ lịch trình diễn. Mặc cho lợi nhuận và lòng ái mộ vẫn ngày lên cao, Cleo dần tỏ ra đặc biệt thích thú với điêu khắc – chính bộ môn nghệ thuật đã oái oăm ghi dấu ba đào vào số phận và sự nghiệp của nàng năm 1895. Nàng thư thái và tĩnh tại khi say sưa với những bức tượng nhỏ hình các vũ công, đàn chiên, con giống ngộ nghĩnh… Những món thủ công này đều được rao bán với giá khá đắt và mang lại cho Cleo một khoản thu nhập đáng kể.

Cleo vẫn thi thoảng tái xuất sàn diễn cho đến tận sau tuổi 50. Bà chuyển về sống trong một biệt thự ven biển vùng Biarritz mà nhiều tư liệu cho là cố hương của bà. Nơi đây, bà dạy múa cho trẻ em để khuây khỏa nỗi nhớ nghề cho đến tận tuổi 80.

Cleo 4

Ngay cả sau khi lui về ẩn dật, nghiệp mệnh nữ chúa tin đồn vẫn không buông bỏ Cleo. Năm 1950, nữ văn sĩ Simone de Beauvois, phu nhân nhà biên kịch và phê bình Jean-Paul Sartre tung ra cuốn Le Deuxieme Sexe viết về gái bao hạng sang, trong đó, bà Beauvois có nhắc lại những sủng ái đặc biệt của vua Leopold giành cho ‘ả điếm hoàng gia’ Cleo de Merode. Cuốn sách cũng nhắc lại giả thuyết xuất thân thôn dã của Cleo và gợi ý rằng rất có thể Cleo đã tự nhận theo dòng dõi thế phiệt de Merode để cổ xúy danh giá bản thân. Tức nước vỡ bờ, Cleo khởi kiện, đòi bà văn sĩ phải bồi thường 5 triệu franc mới nghe. Nàng vẻ vang thắng kiện, nhưng cũng chính trong quá trình nghị án, người ta nhận ra rằng nàng cũng chính là bàn tay đạo diễn phía sau rất nhiều tin đồn về bản thân mình trước đây. Do đó, tuy thắng kiện, nhưng Cleo chỉ được hưởng một franc cho các tổn thất tinh thần và quy định dỡ bỏ mọi thông tin thiếu cơ sở có thể gây phương hại đến nàng trong mọi ấn bản về sau của cuốn sách đình đám nọ.

Như những ngày đầu sự nghiệp đầy tăm tiếng, cuối cùng, Cleo de Merode trong cuộc ẩn dật cuối cùng vẫn là người đàn bà chạy đuổi theo những cuộc phân bua vô tận, nàng vẫn là cô vũ nữ viết lá thơ thanh minh với tòa báo, hoặc mỏi mòn trong những cuộc bát phố xuôi ngược phố lớn Paris để xõa tóc trưng bày một đôi tai trọn vẹn. Sau biến cố với vụ kiện bà Beauvois, năm 1955, Cleo phát hành tự truyện Le Ballet de mavie (tạm dịch Vũ Điệu Đời Tôi), như một lần cuối cùng giành quyền lên tiếng cho chính bản thân mình, để nói những gì nàng cho phép thế giới lắng nghe.

069fc4e06792e02ebddec797ae471d05

Cleo qua đời ngày 17 tháng 10 năm 1966, yên nghỉ tại nghĩa trang Père Lachaise. Phía trên mộ phần Cleo là bức tượng chính nàng đang khóc than thân mẫu.

Lúc còn sống, de Merode đã kết hôn nhưng không có con. Theo tin tức trên các báo chí trong suốt cuộc đời sự nghiệp của nàng, thì de Merode còn đính hôn trước đó vài lần, trong đó có một bá tước Nga, một triệu phú Hoa kỳ, công tước vùng Manchester (vì sau bị ngăn chận bởi bà ngoại của ông này), một điền chủ Pháp, M.Reldoyen, một quý tộc Ba lan, Sigismund Malensky, và bản thân hoàng đế Leopold đệ nhị, sau khi hoàng hậu Marie Henriette qua đời. Hẳn nhiên, các nguồn tin của báo chí thời đó vẫn hoàn toàn không có cơ sở chính xác, dựa trên các tiểu tiết mờ nhạt làm căn cứ. Từ phía bản thân, lúc sinh thời, Cleo chỉ thừa nhận 2 cuộc tình lâu bền nhưng thê lương, một người mắc bệnh thương hàn qua đời, và người thứ hai là một học giả và điêu khắc gia Y Pha Nho đã bỏ rơi nàng theo một người đàn bà khác. Nhưng danh tánh và chi tiết về 2 mối tình này cho đến nay vẫn là những bí mật nàng mang theo xuống tuyền đài.

Cleo_de_Merode_by_SUDOR

Tổ nghiệp Celebrity và sự im lặng cuối cùng

Năm 2012, 46 năm sau khi Cleo cuối cùng cũng về tới chốn ẩn dật sau cuối chốn hoàng tuyền, khi thế giới nàng bỏ lại sau lưng đã hoàn toàn bị chi phối bởi quyền lực truyền thông và thảm đỏ, Michael Garval trở thành nhà “showbiz học” khi xuất bản công trình chuyên khảo đầu tiên bằng Anh ngữ về hiện tượng ghi dấu sự trở mình của thị phi toàn nhân loại vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 qua hiện thân nữ thủy thần kiều mị, cuốn sách mang tên Cleo de Merode and the Rise of Modern Celebrity Culture (tạm dịch Cleo de Merode và Sự Trỗi Dậy Của Văn Hóa Người Nổi Tiếng). Garval đã ghi chép lại công trình nghiên cứu, phân tích của ông đến từng ngóc ngách xảo thuật lancée phía sau ánh hào quang của nhan sắc và phần số tài hoa, đánh dấu sự bắt đầu cho một nền kỹ nghệ thực thụ về sau của thế giới, nơi các nghệ sĩ chân chính trở thành các minh tinh.

Sẽ không ngoa nếu lịch sử nghệ thuật trình diễn và công nghệ lancée được chia ra thành giai kỳ tiền và hậu Cleo, một khi tiếng tăm của nàng làm nên một cú chuyển dòng toàn phần về khái niệm nổi tiếng, giá trị của hiệu ứng hình ảnh, yếu huyệt của truyền thông và quyền lực của những tin đồn. Công trình nghiên cứu của Gavral đi sâu vào phân tích những cuộc canh tân mang tính xã hội và công nghệ đã khiến thế giới đi đến hình thành một xã hội hiện đại được dẫn dắt bởi các vị lãnh tụ đỏng đảnh đầy thói tật của chính trường thảm đỏ. Trong đó, Merode chính là một trong các tượng đài tiên phong đầu tiên, giữa tâm bão ái mộ và trải thảm đỏ huy hoàng dưới những trận mưa đá được ném ra từ công luận trong suốt cuộc đời nàng.

74c8a6b3140b1ea2322f2760b4557310

Mặc dù trước Merode, nhân loại vẫn luôn có những trang nhan sắc khuynh thành, những cuộc dan díu vụng trộm éo le đi vào huyền thoại, nhưng bước ngoặt lịch sử khi loài người phát minh ra kỹ thuật in ấn và nhiếp ảnh đã tạo nên hình thái thô sơ nhưng đầy quyền lực của truyền thông và báo chí.

Chính những tấm bưu thiếp ghi lại nhan sắc Cleo trong các bộ phục trang hương xa hoang đường của các vở múa Đông phương đã ghi dấu ấn và lưu giữ minh chứng cho vẻ đẹp bá mị vượt thời gian của một Cleo de Merode danh bất hư truyền. Nhưng với kỹ nghệ in ấn và truyền thông, vẻ đẹp vô ngôn trên các tấm bưu thiếp đã trở nên sống động với những chi tiết riêng tư đầy khuất tất, những thói tật phóng đãng li kỳ đã cho công luận một câu chuyện giật gân đằng sau nhan sắc thiên tinh. Chân dung truyền thông hình thành, cô ả đẹp đến vô thực với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ vừa được nhiếp ảnh đặt lên bệ thờ nhan sắc, vừa được hả hê lôi tuột xuống tận đáy của án đa dâm hạ tiện và những cuộc trác táng phong lưu. Công chúng có cả một màn bi hài sống động li kỳ hơn bất cứ vở diễn nào trên sân khấu đại hí trường, bởi Merode tồn tại, hiển hiện, chiều chiều bát phố khắp kinh đô với mái tóc vén cao, tuyệt vọng phô trình đôi tai nguyên vẹn.

Sự phối hợp của hai nền kỹ nghệ này tôn vinh người đẹp, nhưng không cho phép nàng hóa thánh, hả hê độc địa phơi lộ chuyện riêng tư của nàng, nhưng lại cùng lúc đặt lên vầng trán nàng ánh hào quang nóng bỏng của mọi sự chú ý hiếu kỳ. Ngôi nữ hoàng thị dân tự lập đã được hình thành nên như vậy, công chúng hoặc yêu nàng, hoặc nghiện ngập trong những câu chuyện đầy ác ý về nàng. Truyền thông trao cho họ một quyền lực mới, nơi họ xộc thẳng vào phòng ngủ của người đàn bà đẹp, khoái trá tốc từng lớp xiêm y hào nhoáng của tiết hạnh và nhan sắc để lần mò vào từng chi tiết sống động nhất, để hả hê tiếp cận thịt da có thật của hình hài diễm ảo in trên bưu thiếp: “Nàng cũng như ta, tham dục, đa mưu và đầy khiếm khuyết”

cleo merode006_2

Với thói háu tin theo từng tờ nhật trình, lần đầu tiên thị dân nếm mùi quyền lực và thưởng thức màn bi hài kịch lâm li nhất do chính họ đạo diễn và tham gia, kéo dài đến hàng chục năm, ngay cả sau khi Cleo đã già nua, mệt mỏi và trốn lánh vào tuổi già cô tịch.

Màn kịch vẫn quá chừng hấp dẫn ngay cả khi cô đào chánh đã toan về già và nhan sắc thanh xuân cùng các phiêu lưu tình ái chỉ là những tro cốt cũ kỹ được tái hồi khai quật mua vui cho hậu thế. Như thể một kịch sĩ tài ba đã đi khuất vào cánh gà, thì những tiếng vỗ tay reo hò phấn khích vẫn hồi hồi điệp điệp vang lên, róng riết đòi hỏi thêm một đôi lượt tái xuất của bóng vía tài tình, níu dài âm hưởng giật gân kì thú.

Nhiều thập niên qua đi sau nhiếp ảnh và truyền thông, chính bước ngoặt kỳ vĩ của nhân loại bước vào nền văn minh internet đã khai quật lại đại dịch Belle Epoque trong một diện mạo hoàn toàn mới: những đoạn ghi hình phòng the gây cấn của các minh tinh tài tử, những phát ngôn thường nhật ngô nghê hay xốc nổi, những chi tiết li kỳ đầy mùi thịt da sống sượng… Trong đó, huyền thoại Cleo được lưu truyền với tốc độ mãnh liệt hơn như những di tích của những ánh hào quang celebrity đầu tiên của nhân loại. Những tin đồn cũ được nhặt nhạnh và tổng hợp lại, những tấm bưu thiếp của hơn một thế kỷ về trước được tái bản và số hóa – Cleo de Merode trở thành một thứ di sản chung chạ của những tín đồ Mỹ giáo và những con nghiện tôn thờ bái vật celebrity xuyên thế kỷ.

il_570xN.550085435_qp97

Chính qua Merode, Michael Garval đã tài tình tái hiện thời cuộc văn minh Belle Epoque trong bức biếm họa của ngôn từ, với những cơn sốt của văn hóa thị dân đã bồng bế tô vẽ cho de Merode và đẩy nàng lên đài hiến tế như một con cừu làm cống lễ thần linh. Vì sao nàng trở thành Kẻ Được Chọn? Cơn sốt thẩm mỹ thuộc địa hương xa trong thời cuộc chánh trị của các mẫu quốc thực dân, kết hợp cùng các phát kiến khoa học, sự phát triển của công nghệ nhiếp ảnh, in ấn và truyền thông đã hợp nhất tại khúc quanh định mệnh có Nàng, để cùng làm nên một trong những quả bom truyền thông giải trí đầu tiên trên thế giới. Và từ đó, người ta có Monroe chết cô độc trong cuộc tình với đệ nhất chính khách, James Dean không toàn thây giữa xác xe vặn vẹo, một linh hồn Presley mãi không siêu thoát, Lennon gục ngã trước họng súng tín đồ bái vật celebrity và Diana không toàn thây trong chuyến xe tử thần đào thoát bão flash paparazzi.

Giới yếu nhân thảm đỏ trở thành bàn cờ người với các quân cờ là những hình nhân tuyệt mĩ bị lột trần sống sượng như soi chiếu dưới ống kính truyền thông, thỏa mãn giấc mơ hoang đường của đời sống thị dân đang nhàm mòn dần đi dưới tốc độ kỷ nguyên công nghiệp: giấc mơ của khả năng nhìn xuyên qua những bức tường tư dinh tráng lệ và mọi lớp xống áo hào hoa, và truyền thông như vị thánh cứu rỗi, xoa dịu nỗi khốn cùng bằng lời an ủi “Tất cả họ, những kẻ đội hào quang, phía sau cánh cửa khép kín, đều trần tục như tất thảy chúng ta”.

Các ngôi sao giải trí mua vui cho công chúng của mình ngay cả bên ngoài màn bạc, trên các bãi biển cá nhân, và ngay cả sau khi chết.

Và Nàng, cho đến ngày nay, xuyên thế kỷ và màn hình máy tính, với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ, vẫn là hiện thân của cơn sốt khởi thủy niềm si mê bái vật với những huyền thoại ồn ào.

Ở miền ẩn dật sau cùng, nơi những tiếng ồn thị phi không còn nghe thấy được, lần đầu tiên và duy nhất, Cleo được trả về, thanh thản và bằng an với những sự thật của riêng nàng, nằm sâu dưới nấm đất Père Lachaise và một bức tượng câm.

402dcd1e30024381f227313a83cf2f88

BOX:

Ngày 27 tháng 09, 2013, nhân dịp kỷ niệm 138 năm ngày sinh Cleo de Merode, buổi ra mắt cuốn sách khảo cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và Cải lương của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp tại Việt Nam đã là lần đầu tiên bản múa huyền thoại của Cleo được tái dựng, qua trích đoạn Vũ Khúc Đông Dương trên nền nhạc bản kí âm cổ xưa nhất tìm thấy được trong lịch. Cơ sở dữ liệu đầu tiên của hai nhà nghiên cứu chính là con tem của nhà nước Pháp lúc bấy giờ in hình Cleo de Merode trong trang phục cung đình Nam Vang cùng ban đờn của nghệ nhân Nguyễn Tống Triều tại buổi trình diễn đờn ca tại tử ở Nhà Hát Đông Dương năm 1900.

Tình cờ, tác giả đã chính là người mà nhạc sư Nguyễn Lê Tuyên nhờ thực hiện phần phục dựng bài múa, tái hiện hình ảnh Cleo de Merode vào ngày ra mắt cuốn khảo cứu, cũng chính là vào sinh nhật lần thứ 138 của bà. Trong một sự tình cờ, hậu duệ của bài múa này, tức tác giả, là người sinh sau bà đúng 100 lẻ một đêm. 

DSC_5609

Không đầy 3 tháng sau đó, vào 15 giờ ngày 5 tháng 12 2013, đờn ca tài tử chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đoạn phim tư liệu của nhà làm phim Huy Moeller ghi lại quá trình tái dựng vũ khúc đầu tiên của nhân loại trên nền nhạc đờn ca tài tử sẽ được công chiếu tại Việt Nam vào tháng Giêng 2014 tại trường Điện ảnh Quốc tế Sài gòn và Viện Trao đổi Văn hóa Pháp IDECAF.

Dự án phim Việt Nam đầu tiên về Cleo de Merode và đờn ca tài tử cũng đã được nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh hoàn tất khâu kịch bản và trong quá trình kêu gọi đầu tư. Đây cũng là dự án điện ảnh đầu tiên của Việt Nam về di sản đờn ca tài tử, và cũng là phim điện ảnh đầu tiên trên tái hiện lại hình ảnh bà chúa tin đồn đầu tiên trong lịch sử nền công nghệ giải trí thế giới. 

cleo_de_merode_60

tay tài-tử Đông-dương

Trác Thúy Miêu

“Hoa Kỳ, hay châu Úc, là những quân thể xã hội đa chủng. Nền văn minh đa chủng dựa trên sự tôn trọng giành cho những nét văn hóa du nhập vào quần thể văn hóa bản xứ. Trước khi kịp phẳng hóa bề mặt thế giới và hô hào hội nhập, tốt hơn hết hãy giữ cho Phở được là Phở, Áo Dài vẫn cứ là Áo Dài, và spagetti không hề là món “nui xào kiểu Ý !”

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Vị giáo sư mấp mé bên đường biên giải trí

Người ta biết đến ông qua hai đêm diễn song tấu với nhạc sĩ – giáo sư âm nhạc Salil Sachdev tại thành phố Hồ Chí Minh trong buổi triển lãm phối hợp hội họa-âm nhạc về động vật hoang dã mang tên Giấc Mơ Tây Nguyên. Chỉ sau cuộc hành trình với cồng chiêng Tây Nguyên của năm 2012, mới đây, giảng viên trường Đại học Quốc gia Australia Nguyễn Lê Tuyên lại trở về với một cuộc chơi hoàn toàn mới mẻ cùng bản kí âm cổ xưa nhất lịch sử âm nhạc tài tử Việt Nam do nhà dân tộc học Julien Tiersot ghi chép vào năm 1900.

Dường như người đàn ông ấy vẫn còn miên man vong thân liên tiếp vào những cuộc chơi đình đám của âm thanh và nhạc cụ, tuần tự trình bày lên bàn tiệc văn hóa của lớp thính giả cầu kỳ những món công phu nằm ngoài vòng hào quang của mảng âm nhạc giải trí đã đến hồi nhạt miệng.

“Đối với tôi, không có thứ âm nhạc không có tính giải trí. Giới trẻ nghe đến vọng cổ hay đờn ca tài tử, chèo, quan họ, là họ rùng mình nhăn mặt trước khi dám đủ liều, đủ phóng khoáng để tự chiêm nghiệm lấy. Tôi thấy tôi, với sở học về âm nhạc cổ điển Tây phương, hóa ra lại ‘trẻ’ hơn những thanh niên hiện đại”

Giáo sư Lê Tuyên theo học và giảng dạy về âm nhạc cổ điển phương Tây, nhưng chính sự trọng thị âm nhạc cho ông một điều kiện cơ bản để đòi hỏi tìm đến những sự thú vị và xa lạ. Ngay trong quá trình nghiên cứu, ông lại bắt gặp câu chuyện về một vũ điệu Đông phương của cô đào tuyệt sắc người Pháp – yếu tố giải trí hiếm hoi đã thu hút sự chú ý của công luận thời bấy giờ, là điều kiện duy nhất khiến ngày nay vẫn tìm thấy những tư liệu ghi chép lại buổi công diễn huyền thoại ấy. “Người Pháp đã mời cô Cleo de Merode múa trên giọng đờn Nam Bộ không nằm ngoài mục đích gắn liền tính giải trí hấp dẫn với một mảng nghệ thuật hương xa khi ấy còn quá xa lạ với công chúng phương Tây. Cô đào Merode đã hoàn thiện sứ mệnh cầu nối giữa giải trí và nghệ thuật ấy, và chúng ta ngày nay có được những tư liệu vô giá về bản kí âm cổ xưa, đặc biệt có ý nghĩa khi hồ sơ về đờn ca tài tử đang chờ được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể không phải chỉ của Việt Nam mà của toàn nhân loại.

Chúng ta nói rất nhiều về thế giới phẳng. Trên thực tế, ta không làm nên điều đó, bản chất của thế giới trong ngôn ngữ của âm nhạc, đã phẳng từ rất lâu”.

Chính sự xuất hiện của nữ vũ công tài sắc nước Pháp hơn 100 năm về trước đã vô tình gợi ý cho vị giáo sư đạo mạo một dự án liều lĩnh để đưa đờn ca tài tử vào lãnh địa giải trí mà chính ông chưa từng sờ chạm tới: điện ảnh. Ông muốn truyền tải câu chuyện của đờn ca tài tử xứ An Nam giữa bối cảnh nước Pháp và chuyện tình xuyên lục địa. Một hơi hám L’amant nội địa.

Một dự án điện ảnh được hình thành, một nhà biên kịch và một đạo diễn được lắp vào như những mảnh ghép phù hợp, và trang web indochinatheatre.com được thành hình chỉ trong vài ngày với tất cả sự phấn khích đầy máu liều nghệ sĩ lẫn cái đầu nhiệt thành của một gã đàn ông ham vui.

“Bên trong tôi vẫn luôn là đứa trẻ nít, và có lẽ trong mọi đàn ông đều vậy. Các nhà nghiên cứu, các học giả, những vị nghệ sĩ,…tất cả chỉ cần được bắt đầu với sự tò mò, kích thích, hay thậm chí là một lời khích nhằm vào yếu huyệt sĩ diện tự tôn là đã đủ để vận hành cỗ máy năng lượng vô tận bên trong mỗi người đàn ông. Một khi khai thác theo cách cực đoan nhất, ngần ấy năng lượng đủ để xoay vần thời cuộc và làm nên những cuộc chơi đẹp mắt, giàu ý nghĩa, cho cuộc đời một người đàn ông”.

 DSC_5544

Kimono, mojito, và vị học giả bị chọc tức

Tất cả đã bắt đầu như thế, trong lộ trình của giáo sư họ Nguyễn với đờn ca tài tử, đã bắt đầu từ một vụ khích tướng vô tình.

Mồi lửa đầu tiên khởi động cả một cỗ máy cầu kỳ đã được khai hỏa bởi lòng tự tôn ăn sâu trong tiềm thức ông thầy đờn Tây học khi nghe luận cứ có ít nhiều bài bác của một học giả người Hương Cảng, khi chuyển ngữ cụm từ “đờn ca tài tử” là “amateur music”.

“Khi nghe điều này, dù người đồng nghiệp nọ chỉ chuyển ngữ mà không hề mang ý kỳ thị, nhưng đó là một thái độ nghiên cứu nông cạn và sự thiếu tôn trọng khi chuyển ngữ tên gọi các nét văn hóa quốc gia trước khi đưa ra thế giới. Cả thế giới mặc kimono làm áo khoác tắm, gọi món pizza qua điện thoại và uống mojito mà không cần chuyển ngữ.

Hoa Kỳ, hay châu Úc, là những quân thể xã hội đa chủng. Nền văn minh đa chủng dựa trên sự tôn trọng giành cho những nét văn hóa du nhập vào quần thể văn hóa bản xứ. Trước khi kịp phẳng hóa bề mặt thế giới và hô hào hội nhập, tốt hơn hết hãy giữ cho Phở được là Phở, Áo Dài vẫn cứ là Áo Dài, và spagetti không hề là món “nui xào kiểu Ý”.

Cả một lộ trình nghiên cứu miệt mài lôi cuốn theo nhiều bằng hữu từ các lãnh vực khác để tạo nên một bệ đỡ hoàn hảo để đặt âm nhạc tài tử trở về đúng vị trí của nó trong kho tàng di sản của nhân loại,… tất cả được bắt đầu từ một thứ ai cũng có: lòng tự ái.

Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng với hàng loạt các phiên bản truyền khẩu của thời khẩn hoang lập thành Gia Định, đờn ca tài tử đã từ xuất xứ cung đình mà trở thành một sinh hoạt văn hóa làng xã chung của khắp miền sông nước Nam Bộ. Đó là nền văn hóa nghệ nhân dân gian, hơn là một nghệ thuật đầy tính hàn lâm học thuật.

“Các nghệ nhân cung đình, các sử gia và nhà nghiên cứu âm nhạc trở thành những tay chơi nửa mùa ‘amateur’ chỉ vì cách hiểu từ ‘tài tử’ theo kiểu biến dạng khẩu ngữ. Điều đáng coi là đau lòng là khi đa phần người Việt cũng không biết rằng nhạc tài tử có nguồn gốc từ nhạc cung đình Huế, du nhập vào miền Nam cùng các đợt lưu dân hồi đầu thế kỷ 19, các phiên bản ứng tác truyền khẩu được phát thịnh qua lễ hội và đời sống dân gian làng xã vùng Gia Định.

Theo quyển tự điển “Đai nam quốc âm tự vị” (1895) của Huỳnh Tịnh Paulus Của thì chữ tài tử có ghi chép lại nghĩa của từ này nguyên văn là ‘bọn chuyên nghề cổ nhạc’.

Đến bản tự điển của nhà sách Vĩnh Bảo năm 1951 mới ghi nhận chữ tài tử đã có thêm một nghĩa mới như là ‘amateur’: “Chỉ người chuyện về một nghệ thuật nào, chỉ vì thích nghệ thuật đó, chứ không phải dùng tài để mưu sinh.

Nếu nói như vậy, thử hỏi ở khắp Âu châu, người ta vẫn bắt gặp những nghệ sĩ đường phố chơi nhạc Bach, Mozart hay Schubert, nhưng như thế đâu có nghĩa là âm nhạc của Bach, Mozart và Schubert là âm nhạc đường phố?”

 bush

Nàng thơ 138 tuổi và cơn say tình xuyên thế kỷ

Lòng hãnh tiến đã khai hỏa cuộc chơi, nhưng chính tình yêu đã nuôi và duy trì cho một cuộc đeo đuổi dài hơi đầy tính chuyên nghiệp.

Cũng chính trong những cuộc viễn chinh ngược thời gian, lần theo dấu vết những đoàn nhạc công tài tử đầu thế kỷ 20 sang Pháp để trình tấu trong hội đấu xảo Marseille, vị giáo sư An Nam gặp trận “say nắng học thuật” với nàng thơ Cleo de Merode – giai nhân Phú Lang Sa cách ông gần 2 thế kỷ.

“Việc nhà tổ chức người Pháp muốn cô Cleo de Merode xuất hiện tại buổi biểu diễn hoàn toàn không khác gì sự có mặt của một minh tinh showbiz trong một cuộc triển lãm hội họa vậy – nhằm mục đích lôi kéo sự chú ý của công chúng và tăng tính giải trí cho sự kiện, mà họ e ngại rằng dù lạ lẫm thú vị, nhưng còn xa lạ với công chúng Pháp. Cleo de Merode là một vũ công nổi tiếng thời bấy giờ, nhan sắc hơn người, cô đẹp và kiêu hãnh đến độ đã khẳng khái chối từ lời cầu hôn của một bậc quân vương là vua nước Bỉ lúc bấy giờ, để vĩnh viễn sống tự do với nghệ thuật mà cô yêu thích. Khi được yêu cầu múa tại buổi diễn đờn ca tài tử, cô Cleo đã sử dụng một vũ kịch ngắn mang cốt truyện của người Chà Và, nhưng phục trang và động tác múa lại mang hơi hướm văn hóa Nam Vang. Nhiều nhà nghiên cứu về sau cho rằng điều này xuất phát từ việc mù mờ của người Pháp thời bấy giờ đối với các bản sắc văn hóa Đông Dương, nhưng riêng với tôi, Cleo đã tình cờ minh chứng cho sự hài hòa văn hóa không tì vết giữa các quốc gia, vượt qua lằn ranh biên giới địa lý. Bản chất thông điệp cảm xúc vô ngôn của âm nhạc đã là một tài sản chung giữa các sắc tộc, và ngôn ngữ hình thể của múa cũng vậy, không thuộc về ai, không dành cho riêng ai. Nó thừa sức thuyết phục mạnh mẽ hơn cả ngôn ngữ và ca từ. Điều này, với tôi, giải thích lí do vì sao trong đoàn lưu diễn đầu thế kỷ 20 ấy có cả những cô đào có giọng ca vào hàng thượng thừa ở Nam Bộ khi đó đi cùng, nhưng không có tài liệu nào ghi nhận sự xuất hiện của họ tại hội đấu xảo Marseille”.

Mang mối tương tư nàng vũ công đầu tiên từng múa trên làn điệu tài tử, bên cạnh các cuộc tiếp xúc và các buổi trình tấu tại Việt Nam, vị giáo sư say nắng còn ôm giấc mơ tìm kiếm hậu duệ của nàng Cleo để tái dựng Vũ Khúc Đông Dương tại Việt Nam “Tại Việt Nam, những làn điệu quen thuộc được dùng trong nghệ thuật múa hầu như chỉ tìm thấy trong giai điệu dân gian Bắc Bộ, hay các vũ điệu của người dân tộc. Khái niệm múa trên giai điệu đờn ca tài tử là điều khá mới mẻ ngay cả đối với các vũ công chuyên nghiệp. Nhưng đó lại chính là cuộc giao hoan thần thánh giữa ngôn ngữ cơ thể trong tương tác hồn nhiên với cảm xúc âm nhạc. Đó là khi người ta không chỉ thụ động thụ hưởng cảm xúc, mà tương tác, phản hồi với âm nhạc bằng cơ thể, và truyền đạt câu chuyện tương tác đó bằng ngôn ngữ hình thể. Tôi tin rằng nếu hơn một thế kỷ trước, Cleo de Merode đã làm điều không người Việt nào làm với âm nhạc của chính họ, thì chỉ cần một vũ công đủ tự do trong cảm nhận, sẽ tương tác nhuần nhuyễn được với âm nhạc tài tử, dù với hệ ngôn ngữ nào của nghệ thuật múa đi chăng nữa, cảm xúc sẽ là điều duy nhất. Tôi tin tôi sẽ tìm được hiện thân của Cleo de Merode ngay tại Việt Nam”.

 DSC_5250

Thứ tài sản không-là-của-ai-cả và sứ mệnh của Kẻ Đưa Tin

Nhiều người cho rằng việc đặt ý tưởng từ trong phôi thai lên thế giới phẳng của truyền thông quá sớm là sự bồng bột cả tin đầy nghệ sĩ tính và tỏ mối e ngại những rủi ro về tác quyền và sự đối trọng giữa các tình tiết hư cấu và tính xác thực dựa trên tài liệu nghiên cứu khi ý tưởng bị chia sẻ tự do. Giáo sư đáp trả bằng một niềm ung dung tự tại của một tay chơi sành sỏi:

“Làm sao người ta có thể ăn cắp được một tài sản không-là-của-ai-cả? Thậm chí nếu gọi nôm na đờn ca tài tử là di sản của Việt Nam, phải được lưu truyền tồn giữ bởi con cháu người Việt cũng là một quan điểm sai. Những mẫu trống đồng Đông Sơn nguyên vẹn được lưu trữ và trưng bày tốt nhất không phải tại Việt Nam, những họa phẩm bậc thầy hay những hiện vật quý đến từ lãnh thổ Việt Nam đang được đặt vào sự bảo vệ chuyên nghiệp của những bảo tàng viện lừng danh tại châu Âu. Trên hết, ngôn ngữ của âm nhạc, thứ ngôn ngữ phải được cảm thụ và trân trọng vượt rào cản chữ viết hay khẩu ngôn, một khi được thừa nhận là di sản phi vật thể, nó đã mang trong mình một sức thuyết phục rộng lớn, được coi là di sản của tinh hoa nhân loại nói chung, và được đặt dưới sự bảo trợ, nghiên cứu và phát triển không chỉ của người Việt, mà của các học giả, các nhà nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Di sản văn hóa không thể là một thứ của cải cục bộ, như nguồn cội văn hóa quốc gia, tộc người, có thể tự cô lập khỏi sự ảnh hưởng tương tác giữa các vùng văn hóa và toàn nhân loại nói chung. Nếu không gõ cửa, sẽ không nghe thấy tiếng trả lời. Chúng tôi là những nhạc sĩ, nhà nghiên cứu, đạo diễn, nhà biên kịch, chúng tôi cần một nhà sản xuất. Trên con đường tìm kiếm những mảnh ghép còn thiếu, có cả những xác suất rủi ro mà tôi buộc lòng chấp nhận đánh cược. Mọi động thái pháp lý đã được thực hiện để bảo đảm bộ phim sẽ được kiểm soát tối ưu về tính xác thực lẫn mỹ cảm điện ảnh mà không ai khác, ngoại trừ chính tôi, có thể bảo đảm với những tư liệu tìm được trong quá trình nghiên cứu. Ngay cả với trường hợp xấu nhất của trò may rủi, tôi sẽ không gọi đó là ‘ăn cắp’ mà chỉ coi đó như thêm một cánh tay đưa ra với di sản đờn ca tài tử, và lấy làm mừng khi hấp lực của một mảng nghệ thuật âm nhạc gần như bị lãng quên đã có được hấp lực cần thiết đối với một nhà sản xuất nào đó. Thiết nghĩ người ta sẽ thanh thản và dễ tập trung hơn rất nhiều một khi không bị chi phối bởi phép tính lợi nhuận hoặc tiếng tăm cá nhân. Và tôi cũng không làm tất cả những điều này để dẫm chân lên tấm thảm đỏ đông đúc của giới giải trí”.

Có lẽ đó là lằn ranh rõ rệt nhất giữa một nghệ sĩ và một ngôi sao – lằn ranh của sự lựa chọn giữa tâm điểm ánh sáng và bóng tối hậu đài. Nguyễn Lê Tuyên vẫn giữ cho mình cái ngô nghê hồn nhiên kẻ sĩ khi phải đích thân ủy lạo cho dự án Nhà Hát Đông Dương. Sự ngô nghê ấy nằm trong thái độ lúng túng của vị giáo sư khi bị tấn công bởi các câu hỏi cơ bản mang tính cá nhân về tiểu sử và học hàm học vị của bản thân: “Tôi không lí giải nổi vì sao tôi mang về Việt Nam một thông tin kì thú đến vậy về chuyến hải hành của thứ di sản bản địa cách đây hơn 100 năm, và người ta lại quan tâm đến việc tôi đến Úc được bao lâu và sở thích cá nhân của tôi là gì? Tôi coi mình là kẻ đưa tin, đó là sứ mệnh và tôi cố làm tốt nhất công việc của mình. Thông thường, khi nhận bưu phẩm, bạn sẽ háo hức mở gói bưu phẩm, hay tò mò hỏi han gia thế của người đưa thư?”

Vong thân là thuộc tính của đam mê thực thụ. Đó là khi thứ đam mê đó trở nên to tát hơn chính bản thân chủ thể, kẻ đam mê thỏa mãn trong vai trò phụng sự đam mê của chính mình. Nhưng công luận còn cần một cái tên và một học hàm để vẽ chân dung kẻ chịu trách nhiệm cho thứ di sản được tìm thấy. “Điều đó có thể hiểu được. Nhưng những thứ tôi tìm thấy hay hơn cái học vị của tôi rất nhiều, hãy để tôi trình bày và thuyết phục, tôi giỏi việc này hơn! Giá trị nằm ở thông tin chứ không ở kẻ đưa tin”

 DSC_5300

Nhà Hát Đông Dương của những Kẻ Chịu Chơi

Với sự ám ảnh của câu chuyện về “con sáo không sang sông” Cleo de Merode, người nữ vũ công đầu tiên và duy nhất múa trên nền nhạc tài tử, vị giáo sư người An Nam đã quyết học theo sự thông minh của người Pháp để bắc chiếc cầu giải trí, đưa một món ăn tinh thần lạ miệng đến với quảng đại quần chúng. Lời khước từ cuộc hôn nhân vương giả với vị vua nước Bỉ được lí giải bởi sự dan díu của Cleo với tay đờn kìm tài hoa Nguyễn Tống Triều trong đoàn tài nhân sang Pháp lúc ấy, người đàn ông phía sau bản đàn hương xa mà nàng kiều nữ Paris đã hiểu và yêu theo một bản năng nghệ sĩ. Câu chuyện không thành của họ được tiếp nối vào hiện tại, với giọt máu lai của kỳ nữ Cleo tái hiện vũ khúc Đông Dương tại cố hương của đờn ca tài tử hơn một thế kỷ sau.

Đó là một lối tư duy không phải hoàn toàn quá mới mẻ đến từ giới nghiên cứu học thuật. Nhưng tại Việt Nam, khi những buổi trình tấu hòa nhạc, nghệ thuật múa cổ điển hay dân gian còn phân định rạch ròi tầng lớp khán thính giả với những sân khấu, rạp cine sầm uất sáng đèn hàng đêm, khi mà sự ghẻ lạnh của khán giả nội địa đối với các tác phẩm điện ảnh thể loại “gà chọi dự thi” với thực chất sinh hoạt màn bạc và truyền hình trong nước còn là hai hành tinh biệt lập, thì các hoạt động giải trí hóa nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật hàn lâm vẫn giữ nguyên giá trị tiên phong và thuộc tính liều mạng của nó.

Cũng với suy nghĩ đó, Lê Tuyên mang theo về Việt Nam lần này một tham vọng lớn cho đờn ca tài tử: một kịch bản điện ảnh xây dựng xung quanh bản kí âm cổ xưa, lần đầu đưa đờn ca tài tử đến với công chúng Việt Nam qua chiếc cầu màn bạc. Ông “phải lòng” đạo diễn Huy Moeller hầu như ngay lập tức, mối duyên giữa âm nhạc và điện ảnh đã giúp ông tìm thấy đúng vị đạo diễn từng có các nghiên cứu âm nhạc và mối quan tâm tương tự đối với âm nhạc dân gian.

Website chính thức của dự án điện ảnh indochinatheatre.com, lấy tên Nhà Hát Đông Dương cũng đã được công khai đăng tải ngay sau cuộc gặp gỡ đầu tiên với đạo diễn Huy Moeller và nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh.

Vị giáo sư dư adrenaline đã tự đặt bản thân trước hai mối nguy cơ nhỡn tiền: hoặc ông đang có trong tay một dự án phi thực tế mang giá trị hài hước, hoặc ông đang phát ngôn đầy khinh suất về dự án hãy còn trong trứng nước trước công luận, không khác lắm so với việc tự tay vẽ ra một con cọp vằn vện dữ dằn và tự ép mình leo lên lưng nó mà cưỡi.

“(cười) Tôi hoàn toàn tự tin vào trực giác của mình khi phôi thai ý tưởng này từ trong quá trình nghiên cứu. Việc gặp gỡ các đối tác để hình thành ê-kíp dự án cũng hoàn toàn là một lực hấp dẫn tự nhiên giữa những người tâm huyết. Tôi tin vào duyên số và hấp lực tự nhiên sẽ gắn kết những ‘tay chơi’ thực thụ lại với nhau. Phần việc còn lại là lên tiếng để tăng hấp lực thu hút ấy, chúng tôi cần một công ty truyền thông và những người muốn cùng lao vào cuộc để thật sự khai hỏa cho cuộc chơi lớn, với máu ‘chịu chơi’ của dân nghệ sĩ, và cái đầu tỉnh táo của những kẻ chưa bao giờ biết thua”.

 DSC_5332

BOX: Vu khuc dong duong

Chỉ vài giờ sau cuộc nói chuyện với tôi, GS.Nguyễn Lê Tuyên đã được thỏa sức làm điều mà ông cho rằng mình có thể làm tốt nhất: thuyết phục và bảo vệ cho giá trị của đờn ca tài tử trước hàng trăm học giả tại Hội nghị Quốc tế Về Âm nhạc Truyền thống tại Thượng Hải, đi cùng là những nhạc công của ban đờn tài tử, như một cuộc viễn chinh lần thứ hai của tiếng đàn Gia Định hơn 100 năm sau ban đờn của thầy Nguyễn Tống Triều, dùng thứ ngôn ngữ thuyết phục nhất để bảo vệ và tôn vinh cho một niềm kiêu hãnh lâu đời từ những miệt sông nước thuở khẩn hoang.

Chính xác đờn ca tài tử ở góc độ văn hóa và lịch sử, vượt trên tầm nghệ thuật cổ nhạc, đó là một lối sống! Hơn mọi tư liệu dẫn chứng, tự thân âm nhạc đã mang sự thuyết phục của lối hòa đàn ngẫu hứng, tính tự sự và những phiên bản đa diện khi được lưu truyền theo hình thức dân gian. Trong tất cả những phiên bản lưu truyền đó, thì bản đàn Vũ khúc Đông Dương là một mảnh ghép trội bật mang nhiều ý niệm có giá trị về tính học thuật lẫn tinh thần văn hóa giao thoa của Đông Dương thời thuộc địa. Sắp tới, tôi còn tham vọng kêu gọi sự hỗ trợ từ chính phủ Pháp trong việc lần tìm danh tánh từng vị nhạc công trong ban đờn đã thực hiện chuyến lưu diễn xuyên lục địa cách đây gần 2 thế kỷ”.

Vào cùng thời điểm, trang web chính thức của dự án phim Nhà Hát Đông Dương tại indochinatheatre.com cũng bắt đầu đi vào hoạt động, khai hỏa cho một cuộc chơi liều lĩnh khác của vị giáo sư đầy lắm mộng.

Sau cuộc viễn chinh đến Thượng Hải, cuốn sách nghiên cứu của ông về đờn ca tài tử cũng được nhà xuất bản Phương Nam cho ra mắt vào tháng Chín 2013, với tham vọng tái hiện lại một phần Vũ Khúc Đông Dương huyền thoại tại Marseille hơn 100 năm về trước ngay trong buổi ra mắt sách.

Có vẻ cuộc viễn chinh của vị giáo sư họ Nguyễn ngược thời gian theo dấu giọt đàn tài tử vẫn chưa tới hồi ngơi nghỉ.

“Cuộc đời nên là cuộc chơi không biết tới hồi tàn cuộc, chính những tư liệu, những con người và những cơ hội tình cờ tìm thấy trong quá trình rong ruổi ngược đời với đờn ca tài tử sẽ dẫn lối tôi đến những dự án khác, những mê lộ mới. Chỉ cần giữ được sự tò mò và liên tục đặt ra những câu hỏi đòi được trả lời, bánh xe năng lượng sẽ tiếp tục vận động. Tất cả chúng ta rồi sẽ nghỉ ngơi, nhưng chưa phải là ngày hôm nay!”lê tuyên thúy miêu

%d bloggers like this: