vọng Sài-gòn

Tôi nhớ hoài một đêm thứ Bảy đang bát phố lòng vòng Sài gòn Chợ lớn, anh bạn tôi bỗng thốt lên “Giá mà giờ rủ nhau chui vô rạp coi cải lương thì mới đã đời!”

Câu nói vu vơ khiến tôi cũng thốt chùng lòng: đêm thứ Bảy giữa trung tâm Sài gòn, muốn tìm nghe một câu vọng cổ, coi một lớp tuồng mà rọi đuốc kiếm không ra!

Sài Gòn ở hai phía rèm nhung

Có lẽ từ thời những ban hát miền Lục tỉnh dạt về đây, nương theo bất cứ nơi nào lưu dấu chân khai khẩn mà dựng rạp sắm tuồng, nơi những bản tài tử, những bài vọng cổ được kết chuỗi thành lớp lang với đủ đầy kịch tính mà thành những kịch bản trọn vẹn, từ hương xa, đường rừng, cho tới tuồng tâm lí xã hội với đào kép ăn bận phấn sáp kiểu tân thời, dáng điệu lịch duyệt đời thường chứ không còn lối ra bộ cường điệu của tuồng tích cổ trang, hát bội.

rạp cải lương 3

Cải lương từ đó, là món nhắm tinh thần khoái khẩu của thị dân Sài Gòn, thú thưởng ngoạn cho mọi giới từ mặc khách tới bình dân. Đầy đủ chuyện giựt gân, diễm tình, những gã cướp rừng xanh đậm máu giang hồ tứ chiếng, tới câu chuyện đời mấy cô gái bán bar, chuyện nghĩa hiệp đường rừng, tới Lữ Bố mang khẩu khí giang hồ Cầu Muối và thứ tiếng lóng vỉa hè đặc trưng.

Dân Sài Gòn dễ bị chọc cười mà cũng dễ bị chọc cho khóc. Cải lương có hết, với miếng hài miếng bi đan lẫn như hai bức mặt nạ khóc cười đã từ lâu thành “logo” nhận biết của thế giới rèm nhung.

Dân Sài Gòn ham thói hiếu kỳ trước những điều mới, thì cải lương có tân cổ giao duyên, có kích động nhạc xập xòe, có đờn Hạ Uy Di, kèn tây và những bản tuồng hương xa mang âm hưởng ngoại quốc dù Cao Miên hay tiểu thuyết kinh điển Pháp. Từ tuồng dã sử nước nhà cho tới những pha đấu kiếm như chưởng Hương Cảng, đủ pha lộn mèo, tọt gươm vô nách chết dãy lâm sàng mà vẫn nấc ặc ặc trọn sáu câu, xuống xề mới chịu lăn ra chết (tới đoạn này giấy tiền được kẹp vô quạt chọi lên sân khấu rần rần, “tử sĩ” lóp ngóp dậy gom tiền gom quạt, cúi đầu chào tạ rồi vô cánh gà mới chia nhau).

đào kép 4

Cho tới tận mấy năm đầu thập niên 80, vẫn còn lác đác vài nhà hát cải lương hoạt động, áp-phích vẽ tay trưng lộng lẫy lừng. Người ta bu quanh mấy sạp thuốc trước rạp mua xá-xị bỏ bịch và quạt bóng kiếng, còn khăn tay thì thời này chưa xài khăn giấy, mỗi bà mỗi cô đều thủ chiếc mouchoir điệu đà để chậm nước mắt.

Người ta vô rạp, mê mẩn coi đào kép sắm vai, hả hê cười khóc những khóc cười mà bi hài của cuộc mưu sinh thường nhật trở nên quá trần tục, tầm thường. Thị dân cần những vở tuồng, những làn hơi cải lương mùi mẫn như những cuốn tiểu thuyết diễm tình vẽ bìa sặc sỡ để thêm thắt vào bữa tiệc đời chút món nhắm đưa cay. Điều này tới giờ vẫn nhìn thấy được qua lượt coi những phim truyền hình kiểu soap opera nội hóa dành cho các bà nội trợ và mấy chị tiểu thương.

đào kép 3

Về sau, tức là vào thời tôi lớn lên, những năm 80, khi trường phái bi lụy diễm tình bị lên án, dân Sài Gòn có món nhắm thoại kịch tươi vui, đời thường hơn với Trong Nhà Ngoài Phố mỗi tối thứ Năm, cải lương đen trắng vào tối thứ Bảy có cô Thanh Nga diễn Bên Cầu Dệt Lụa, cô Bạch Tuyết đi Âu châu diễn Đời Cô Lựu làm người hải ngoại khóc rần rần…Kì đó, cải lương Sài Gòn lại “thất thoát” thêm một Thành Được…

Rồi người ta vô rạp thưa dần.

thanh nga 2

Những hấp hối vô danh

Những rạp hát cuối cùng của Sài Gòn đã hấp hối và diễn những xuất hát cuối cùng ra sao, ngay cả người Sài Gòn cũng không biết, mà cũng không được các sử gia bận rộn lưu tâm ghi nhận.

Có lẽ rạp cuối cùng hoạt động đã là trụ sở của đoàn ca múa nhạc Bông Sen ở đường Nguyễn Thái Bình, đoạn Lê Công Kiều ngó qua, ngay gần tiệm cơm Âu Thiên Nam. Hồi Tết đâu như năm 2011 hay 2012, tôi có thử hỏi mua vé xuất diễn nào gần nhất, người bán vé uể oải thở dài yêu cầu tôi để lại số liên lạc đặng khi nào đủ vé coi mới dựng tuồng sắm vở.

Họ không bao giờ gọi lại cho tôi nữa, vài tháng sau nghe đâu đóng cửa luôn.

Kênh truyền hình giờ nhiều lắm, phát hình thâu đêm thấu sáng. Chẳng còn những bà mẹ nô nức dọn cơm rồi hò tụi con nít tắm rửa thơm tho từ sớm để cùng chờ coi cải lương truyền hình.

Từ “cải lương” thành thứ tính từ giễu nhại, dùng để chỉ những gì lòe loẹt hay hủ lậu quê mùa. Vậy mà cách chưa đầy thế kỷ, Trung Trực đã viết trên tờ Lục Tỉnh Tân Văn rằng “…nên làm những việc chi hễ bịa vào tiếng nói cải lương được, thì trong trí vẫn trộm tưởng rằng việc ấy đã thập phần hoàn mỹ…”

Vậy mới thấy mặt trở trớ trêu giữa những giai kỳ.

Chỉ đôi chục năm về trước, có mấy ai ngờ có ngày người Việt kém chữ Việt đớn đau tới nỗi vĩnh viễn đánh mất nghĩa hiếu tri và canh tân tốt đẹp của hai âm tiết “cải lương”.

đào kép 1

Như tôi và anh bạn nọ, tội tình thay giữa đêm thứ Bảy Sài Gòn, lòng thèm nghe câu vọng cổ mà rọi đuốc kiếm không ra, nao nao ngỡ mình đang đi lạc.

Chỉ đôi dịp đi du hí miền Tây, buồn não ruột mở đài Trà Vinh lên coi chơi, nghe bản tân cổ đời đầu của làn hơi Lệ Thủy, thiếu điều muốn nấc lên vì nhớ.

lệ thủy

Tiếng nấc Trụ Vương giữa đêm bão thị thành

Tôi sửa soạn quần áo chỉnh tề, dùng cơm sớm rồi khoác tay chồng đi coi hát – than ôi, đó đã từng là một điển lễ không quá xa hoa của nếp sống thị dân Sài gòn không lâu về trước! Không rạp không rèm, cũng không trống kèn cờ quạt, phòng trà Tiếng Xưa trên đường Trần Hưng Đạo hiu hắt đêm thứ Năm, chỉ vài bước cách rạp Nguyễn Văn Hảo thuở nào, với đêm diễn kinh hoàng của đoàn Kim Thoa, vở Lấp Sông Gianh. Một mảnh lựu đạn xuất hát đẫm máu vẫn còn ghim trong cơ thể đào Thiên Kim tới tận bây giờ…

CREATOR: gd-jpeg v1.0 (using IJG JPEG v62), quality = 70

Bây giờ thì rạp Nguyễn Văn Hảo xưa tổ chức diễn hài, có loa phóng thanh và các cô PG đứng giữa đường phát tờ bướm. Còn nơi đây, chỉ cách vài bước, một mầm phục hưng yếu ớt của cải lương đang thoi thóp quẫy cựa trong khung cảnh một phòng trà.

Là phòng trà “ruột” của dân chuộng bolero, cũng là điểm tái ngộ của những ca sĩ hàng thượng thặng Sài Gòn xưa giờ đã ra hải ngoại, từ hồi còn “cát cứ” ở quận 10, Tiếng Xưa trở thành một góc lui tới đặc biệt của Sài Gòn, với lối trang trí sân khấu tuy thô sơ nhưng mang hơi hướm Sài Gòn 60’s, ban nhạc với những bản phối cũ và những đêm tái ngộ tưởng như có thể làm sống lại hàng chục năm đã từng bôi xóa.

Chỉ mới dời về khu trung tâm gần đây, án ngữ cửa ngõ ráp ranh Sài Gòn – Chợ Lớn, dù với khán phòng lịch sự hơn, cùng những ngôi sao hải ngoại không ngừng xuất hiện, nhưng có vẻ việc gián đoạn, di dời đã khiến những khách cũ không còn tìm tới xôm tụ như ngày nào.

Những đêm thứ Năm đặc thù phong vị giải trí kiểu Sài Gòn xưa với những ngôi sao cải lương cũ mới kiểu này là một đêm trong cả tuần hoạt động, cặp chủ nhân phòng trà chọn thực hiện như một lối “trả nghĩa” lại cho các nghệ sĩ vang bóng một thời. Nói là trả nghĩa bởi khi tôi tới, chỉ có lác đác vài bàn có khách.

Cặp nghệ sĩ trẻ diễn một trích đoạn tuồng Lữ Bố. Từng đường phấn sáp vẫn mang hơi hướm lối vẽ mặt tuồng, cặp “râu tôm” nghễu nghện quết tới trần nhà, rạch ròi từng ngón ra bộ, từng ý tứ lẳng lơ cụp lạc đầy ước lệ của lớp tuồng trứ danh.

Chồng tôi là người Bắc, có lẽ đây là lần đầu tiên được coi tuồng, dù chỉ một trích đoạn nhỏ trên bục diễn phòng trà, cũng đủ choáng ngợp bởi ánh mắt quắc lên của tay dõng tướng đa tình, hay những lẳng lơ bắt nhả của nàng Điêu Thuyền hàng hậu duệ. Trong một khoảnh khắc, người ta không thở nữa, mải mê ngắm nghía ngón nghề điêu luyện, lòng rộn theo tiếng nhạc khí phát ra từ dàn máy mà tưởng như sống lại cả một ban đờn.

Tôi đến để được tái ngộ và nghe giọng ca Đệ nhất Đào thương – sầu nữ Út Bạch Lan, nhưng bất ngờ hơn nữa, khi lớp trích đoạn rút vào hậu đài, một người đàn bà lớn tuổi chập chững bước ra sân khấu. Khuôn mặt bị biến dạng bởi tháng năm đã không nhắc nhớ được gì, cho tới khi khúc vọng cổ cất lên bi tráng:

…Trời ơi đám tôi trung đã phản Trụ đầu Châu kéo binh về vấn tội. Trong khi hoàng hậu Tô Nương lại bỏ ta sớm vội…bôn…đào…Lần đầu tiên, trẫm để cho suối lệ tuôn trào…

Đệ nhất Đào võ Diệu Hiền!

Có lẽ chưa người đàn bà nào cất tiếng nấc Trụ Vương tài tình hơn như vậy, đòn tay ra bộ điệu nghệ xuất thần, còn ánh mắt chợt thoắt tinh anh nộ khí vị hôn quân thất trận.

Đã có lần tôi may mắn được tài tử cine Trần Quang diễn lại cho coi một trích đoạn vai Trụ Vương trong vở diễn tốt nghiệp của ông tại trường Kịch nghệ. Nhưng nếu cái gian hùng ngạo nghễ trong Trụ Vương – thoại kịch của ảnh đế cine Sài gòn năm ấy đầy tính hàn lâm trong từng nếp nhăn khóe mắt, với ánh nhìn lạc thần của cơn cuồng khấu hung tàn và đài từ như tiếng chuông đồng ngạo nghễ, thì Trụ Vương qua làn hơi vọng cổ đàn bà lại khiến người ta run rẩy trước một thần lực tôn nghiêm, trong Cái Đẹp của tận cùng Cái Ác.

Người ta quên cả người đào hát đã về già trước mặt, khi nét uy nghiêm hằn dấu sát khí hung tàn mà vẫn bi lụy cất tiếng ca nghe buốt can tràng kẻ kiêu binh thất trận.

Tôi ngồi bật dậy khỏi chiếc ghế dựa, như không tin được ngần ấy uy lực tinh anh vẫn phát tiết ngời ngời từ cuống họng, lồng ngực cô đào từng một thời làm điên đảo khán trường cải lương của Sài Gòn hoa lệ.

diệu hiền

Mong manh nhành lan trắng giữa đêm mộng phục hưng

Hết Trụ Vương Thiêu Mình, người ta lại chao đảo sau nhịp ngựa hối hả với tiếng kêu thống thiết giữa pháp trường “hãy để anh can phần đừng giết oan một trang hào kiệt, nghe lời anh đình thủ bớ La…Thành…”, rồi dẫu có nghe lại một vạn lần bản Tần Quỳnh Khóc Bạn, người nghe vẫn rưng rưng theo từng ngón tay cô đào dừng lại, lẩy bẩy giữa không trung và làn hơi tắc nghẹn “Thôi rồi một lưỡi gươm đưa đã dứt mạng anh hùng…”

Hai bản ca trứ danh của bậc thầy Viễn Châu vừa dứt, đào Diệu Hiền lại trở về trong hình mạo người đàn bà bé nhỏ, chập choạng cúi chào khán phòng vắng ngắt, chập choạng tựa vào cánh tay dìu bước rời sân khấu trong tiếng tung hô tuy mỏng nhưng da diết không muốn ngừng.

Không chỉ là một đêm phủ phê thịnh soạn với đào võ Diệu Hiền, mà người ta còn được khoản đãi giọng tình mùi mẫn của Sầu Nữ Út Bạch Lan với những bài bản bất hủ, khuôn diện đăm chiêu nhưng thanh thoát, xứng tầm tàn dư nhan sắc một Đệ nhất Đào thương.

út lan 1

Nhưng vượt trên tất cả còn là lòng xót xa của chính từng người thưởng lãm những ánh hào quang muộn mằn sau cuối của hai bà hoàng sân khấu ấy, đó là những suy tàn của thời gian đã hiển hiện lồ lộ, lòng áy náy không tránh khỏi khi phải bất lực ngồi đó, nhìn những tượng đài cao niên vẫn phải dìu nhau đến từng đêm hát hiếm hoi bởi cuộc mưu sinh thường nhật, hay dẫu bởi ơn gọi mỏi mòn của nghề ca xướng. Họ vẫn dìu nhau đến, hóa thân bà chúa ông hoàng, nơi một ánh đèn leo lét nhất, một khán phòng thưa thớt cũng làm nên cả một di tích thành đường quý báu cho những hồi ức vãn thời.

út lan 3.jpg

Chúng tôi tiếc rẻ ra về, đi một đoạn sau hai cô đào một thời vang bóng, nay chỉ là hai cái bóng cập rập liêu xiêu dựa vào nhau, dắt díu từng bước ra khỏi vùng tối phòng trà.

Khán giả ngày nay cũng đánh mất thói quen tụ tập trước cổng rạp chờ chiêm ngưỡng đào kép ra về. Chắc trong đời hát xướng của hai người đàn bà tài hoa đó, đây là một trong những buổi vãn hát đìu hiu nhất.

Họ chỉ có nhau.

Chồng tôi có hỏi “Vì sao cải lương Sài Gòn biến mất?” Tôi không có được câu trả lời. Chỉ biết rằng ngày nay, người ta không trốn nhà mải miết theo ghe bầu gánh hát để ăn xin cơm tổ nên không được học đức khiêm nhu từ các tiền bối, không được dạy dỗ bởi các thầy đờn. Họ thi thố học hành trong những học viện chính quy, ra sức canh tân hai nghĩa “cải lương” và “vọng cổ” bằng phục trang dã sử Tàu lai trên những bản tuồng nghèo ca từ mà giàu tính tư tưởng. Thời của hoa và lệ, của những soạn giả hàng Hà Triều Hoa Phượng đã qua đi không hậu duệ, bởi những bài bản Viễn Châu hoa mỹ đã không còn dễ hiểu dễ nghe so với ca từ hoặc mang tính khẩu hiệu, hoặc nặng mùi sáo ngữ. Mà có lẽ cũng bởi ngày nay, ở những trường lớp dạy nghề ca diễn, người ta hình như cũng không dạy ra các thầy tuồng.

Trong một cuộc phỏng vấn, Cô Út đã từng thật thà nói “Mộng lớn của tôi bây giờ là dựng lại được một nhà hát thiệt đàng hoàng. Có nghệ sĩ vẽ cảnh trí, có máy vi âm thả dòng từ nóc rạp như hồi xưa, chứ ca ra bộ mà tay cầm mic phòng trà thật khổ cho mấy cháu, mấy em…”

Đêm đó, cơn bão hiếm hoi tạt ngang thành thị, gió giật và mưa tầm tã. Giữa cơn mưa xối vần vũ trên những nóc gia đã say ngủ, tôi vẫn còn nghe văng vẳng bên tai làn hơi sầu nữ không chút tì vết thời cuộc, nhưng đã nhuốm hơi hướm tủi thân nghiệp mệnh xướng ca:

“Đêm nay mưa gió ngập trời,

Hỏi ai còn nhớ một người tên Lan…”

út lan 4.jpg

(bài viết đã sử dụng bởi tạp chí Người Đô-thị)

ngược dòng khuếch tán

Có lẽ mùi hương chính là thứ phục dựng tiềm thức và thiên đàng hữu hiệu nhất, bởi nó có tất cả: trọng lượng, nhiệt độ, vị, cảm giác, và màu sắc, quang độ,… Khứu giác có thể cùng lúc lay động mọi giác quan còn lại, và như vậy, cả một địa đàng có thể được dựng nên và tiêu hủy chỉ trong tốc độ khuếch tán của một giọt bụi hương.

“Chúng ta là những đứa con gái lớn lên trong nước hoa Tabu, quần jeans Hara và những hộp phấn Én thần thánh”, tôi nói như vậy với cô bạn gái vào một buổi chiều cách đây vài hôm.

Câu nói hết sức buồn thảm này đúng với mọi độc giả cùng thế hệ tôi, đã lớn lên, mê đắm trước những Poison và Anais, những Charlie và Fragile huyền thoại của thị trường xa xỉ phẩm đơn điệu của Sài Gòn cuối thập niên 80.

Rồi tất cả trở thành kí ức già cỗi với những cơn sốt Obssession và Giò, đại dịch unisex và những vụ nổ tung hoa cứu rỗi tính nữ của ngài Jacobs… Mỗi perfumista Sài Gòn (ít ra là ở Sài Gòn) đều lưu giữ trong tiềm thức những dòng hương thời cuộc đó.

Sài Gòn – với thuộc tính rất riêng và thứ thẩm mỹ khứu giác bồng bột của hết thế hệ đến thế hệ khác những perfumista cầu kì hay nhẹ dạ, mang riêng của nó một lịch sử mùi hương.
angela-lansbury-for-blackglama

Từ huyền thoại đơn hương Chà-và đến những dòng hương tuyệt mệnh của Kỷ Hoàng Kim

Khó có thể truy tìm chính xác ai là perfumista người Việt Nam đầu tiên, hay lọ nước hoa đầu tiên được du nhập đến Việt Nam. Nhưng hoàn toàn không khó để kẻ chơi cổ ngoạn tìm thấy những lọ chai nước hoa Shalimar nhà Guerlain được lăng-xê vào thập niên 20 hiện diện trong vô thiên lủng những món cổ vật tế nhuyễn được rao bán từ kho tàng cá nhân một gia đình tư sản xưa nào đó.

Du nhập tới xứ An Nam cùng lối sống cầu kì của cư dân nền văn minh Ánh Sáng, nước hoa như một món trang sức vô hình, không phục vụ mắt nhìn, nhưng vi tế mầu nhiệm hơn tất thảy những món “bắc kế” (từ thời này dùng chỉ trang sức, phụ trang) sang trọng nhất – một thứ đặc quyền của giới kỹ nữ và hàng thị dân phong lưu.

Đồng hành cùng tuyệt phẩm mùi hương của văn minh phong hóa đến từ Tây phương này còn có những dòng đơn hương chưng cất bởi các thương buôn người Chà (Java) sinh sống tại Sài gòn.

Theo câu chuyện kể lại của một nhà bào chế hiện sinh sống tại Đà lạt, khi ấy ông còn là một cậu thanh niên tỉnh lẻ hàng tuần theo chuyến hàng lên Sài gòn, từng ngẩn ngơ chiêm bái hình ảnh những bà trung lưu, những cô nữ sinh áo trắng dập dìu ra vô những hiệu buôn của người Chà bên ngoài Chợ Cũ (giờ là đường Hàm Nghi), nơi những hương liệu mỹ phẩm được chưng cất, đựng trong những vò thủy tinh lớn và chiết ra chai nhỏ theo định lượng để bán. Loại dầu thơm bình dân này hoàn toàn là những đơn hương thuần túy mang mùi thơm của những loài hoa, vị cỏ có trong thiên nhiên được chưng cất, không cấu trúc và không biến cố, nhưng thỏa đáp được nhu cầu làm đỏm cơ bản nhất của nữ giới nói chung.

Cho đến giờ, cậu nhỏ đó vẫn đang thầm lặng thực hiện tham vọng phục dựng những dòng đơn hương giản dị đó cho mầm mống một thị trường nước hoa nội hóa.

Vào thập niên 50, những dòng xa xỉ phẩm nhập khẩu và nếp tôn sùng các nhãn nước hoa mang âm hưởng Francophile thống trị tuyệt đối thị trường thượng lưu, một phần bởi uy danh kinh đô hoa lệ, một phần khác bởi chính bối cảnh thị trường thế giới vẫn chịu sự thao túng của thẩm mỹ lục địa già. Cho đến tận đầu thập niên 60, nước hoa mới trở nên phổ cập hơn cùng sự sầm uất của những thương xá tân kỳ bày bán đồ xa xỉ. Cũng từ đây, các quý bà quý cô Sài Gòn bắt đầu làm quen với những loại nước hoa nhập từ Hoa Kỳ, dao động vô chừng từ những thương hiệu gốc Pháp như YSL và Dior, cho đến những dòng hương “drugstore” với giá cả khá dân chủ xuề xòa, thừa sức cung ứng nhu cầu làm dáng của giới trẻ.

Nhưng kể từ 1975, Sài Gòn cô lập hoàn toàn khỏi thị trường xa xỉ phẩm thế giới, người ta lay lắt dựa dẫm chính vào nguồn mỹ phẩm chợ đen từ các thùng hàng gửi về từ hải ngoại.

Đó là những năm đầu thập niên 1980 tại Sài Gòn, khắp nơi ở khu trung tâm, nơi những tiệm ăn, nhà hàng sang trọng còn sót lại, và những dạ vũ tổ chức “chui” tại nhà, những nếp quen và mùi hương cũ vẫn được duy trì một cách tài tình. Người ta cự tuyệt những dòng hương mới lạ thượng trào trên thị trường thế giới, như một cố gắng tuyệt vọng trong việc bảo tồn vẹn nguyên bầu không khí hoa lệ của Sài Gòn vào những năm 60 phóng túng. Opium của Yves Saint Laurent cho giới nghệ sĩ và cavalliere cũ, Chanel No.5 và Shalimar được coi là tín chỉ thượng lưu. Mấy cô trẻ trung thích Charlie, Joy và Tabu bởi mức giá thân thiện hơn, trong khi Mon Péché nhà Lanvin, Magie Noir nhà Lancome và Poison nhà Dior chinh phục hết thảy mọi thị phần bởi chút vẻ lẳng lơ táo bạo.

Còn với nam giới, Paco Rabanne giữ nguyên vị trí thượng lưu trong khi eau de cologne của Old Spice chỉ còn là tàn tích tại những tiệm barber kiểu cũ, và Brut lui về thị phần trung niên trí thức. Về sau, những lọ cologne hiệu Old Spice tuyệt tích hoàn toàn tại thị trường Sài Gòn, trong khi Brut vẫn tồn tại một cách khá khiêm tốn sau nhiều đợt thay đổi thành phần và thiết kế mề đay trứ danh cũng bị loại bỏ. Chỉ mới gần đây, hai tên tuổi này chính thức tái xuất dưới hình thức các phiên bản sản phẩm vệ sinh cá nhân, Brut và nhãn Old Spice “con tàu đỏ” hầu như bị xóa tên khỏi danh mục những dòng nước hoa giành cho quý ông. Cần phải nói thêm rằng đây là một điều đáng tiếc, bởi sự đặc sắc trong ứng dụng note cẩm chướng ở Old Spice, và thi vị Fougère kinh điển của Brut vẫn là những huyền thoại đáng nể của lịch sử bào chế mùi hương trên thế giới còn gây tranh cãi tới tận bây giờ.

l-gda23j5lkmoyeq

Thảm họa Kỷ Disco: Quá nhiều hormone cho một thành phố nhỏ

Dựa trên tập quán “tàn dư” của các perfumista mới nhập môn bản xứ, những dòng hương lừng lẫy nhất của Kỷ Ngây Thơ – khoảng thập niên 20, 30, tình cờ hội tụ hài hòa với những dòng cực thịnh của cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 và chiều chuộng mỹ mãn gu khứu giác bạo liệt của đàn bà con gái Sài Gòn xứ ngọc Viễn Đông vào đúng thời kỳ “trở mình” hồi phục của Sài Gòn những năm 1980. Tất thảy là những tầng hương mang cấu trúc cầu kỳ, với nốt powdery, xạ hương, gia vị và hương hoa tổng hợp sực nức một vẻ duyên phấn sáp đầy kịch tính, đồng điệu ngẫu nhiên với nét bốc đồng khả ái của Sài Gòn, sự pha tạp Đông-Tây cổ-kim kì thú giữa văn hóa “phố lớn” Sài Gòn với dáng vẻ cổ thị nhưng tinh thần phồn thực sầm uất của khu Chợ Lớn. Phóng khoáng tới mức dễ dãi, duyên dáng theo một cách ồn ào, huyền mặc Đông phương trộn nhuyễn cùng tạp chất văn minh Âu hóa, khoái lạc thụ hưởng được tôn vinh, và nỗi sầu muộn “sentimental” lại lên ngôi thời thượng theo những cuốn băng cassette chuyền tay cùng tên gọi tắt phiên âm “sến”. Tất thảy đều trùng hạp tài tình với tinh thần những mùi hương được ưa chuộng nhất thời kỳ này, với ảnh hưởng tác dụng á phiện lên nỗi ám ảnh Yves Saint Laurent, hay những gia vị Trung Á đậm nét “tuồng hương xa” của nhà Guerlain lúc bấy giờ.

Nhưng đó cũng chính là nguyên nhân tàn lụi của những dòng hương xạ (musky) và hương Đông phương (Oriental) tại thị trường Sài gòn những năm dài sau dư chấn cơn sốt nặc nồng hương nhân tạo đó. Xạ động vật và lượng lớn trầm hương, hổ phách chiếm nồng độ cao trong các dòng nước hoa này bắt buộc sử dụng tinh dầu tổng hợp và những gam hợp hương thay thế để tạo cảm giác tương tự, đặc tả thuộc tính phương Đông. Bỏ qua lòng trân quý những cấu trúc bào chế bậc thầy và những chiến dịch quảng cáo triệu đô, hai trường phái này khiến người ta liên tưởng tới thứ thẩm mỹ rườm rà cũ kỹ, quá nhiều aldehydes, quá nồng nàn với một thông điệp dục tính sỗ sàng, bông tai nhựa to quá khổ và keo xịt tóc nặng mùi. Những mùi hương được ưa chuộng đồng nghĩa với sự xuất hiện nồng nực ở khắp nơi. Cả một xã hội đàn bà đỏm dáng và cá biệt, bất kể thời tiết trong ngày, đều cùng lúc tỏa hương một cách phồn thực tới sỗ sàng.

Trong kí ức của rất nhiều người, thập niên 70 và 80 đã lưu dấu bằng những cái nhăn mặt khổ sở và những tai nạn xây xẩm vì mùi mỹ phẩm nực nồng trong thang máy, tiệm ăn và các rạp cine. Những tên tuổi quý phái thượng tôn trở thành khái niệm bình dân xa cạ, khi mà một quý bà lịch duyệt cũng tỏa hương y hệt một cô nhân viên cửa hàng mậu dịch.

Thảm kịch tương tự đã xảy ra với dòng nước hoa mang số 5 huyền thoại của nhà Chanel trên thế giới – với note hồng và hương phấn kinh điển, đậm đặc và phổ cập đến nỗi ấn tượng “mùi hương bà ngoại” (dù đã là một bà ngoại cực kì am hiểu sành sỏi) cũng đủ khiến các cô gái trẻ phủ lên các dòng powdery định kiến “mùi người già”. Cùng lúc, việc các quý bà Á châu ồ ạt chạy đua theo “đẳng cấp Coco” cũng cùng lúc khiến dòng hương powdery này chịu thêm một định kiến về phong cách trưởng giả nouveau riche.

Không thể không nhắc đến một tác nhân góp phần trong cuộc truất ngôi ngoạn mục của trường phái Oriental và musky là sự xuất hiện của hàng nhái sau thời mở cửa, cùng với thói quen buôn bán nước hoa trong quầy kiếng những khu nhà lồng nóng bức khiến tất cả những gì người ta cảm nhận được là một sức khuếch tán mạnh mẽ và kinh hoàng không kém gì những chiếc khăn lạnh ở quán bia hơi hạng bét.

o.769

Sự thoái trào của mặt phẳng những mùi hương đồng hóa

Sài Gòn đã phải mất tới hai thập niên để rũ bỏ hoàn toàn nỗi ám ảnh cơn sốt “musky Oriental”. Giới bình dân lũ lượt trốn vào sự xoa dịu của Anais Anais, trong khi các bà sang trọng “cai nghiện” Chanel bằng Dune, Giò và nồng độ Đông phương dịu dàng hơn qua hương nhài của J’adore, các cô thanh nữ ưa nổi loạn, hâm mộ Kim Wilde và mô tô Rebel quay lưng lại với Poison tối ám để tung hô những chai Jean Paul Gaultier với thiết kế chai lọ muôn phần kích thích.

Cũng cùng thời điểm này, không ít dòng nước hoa kể trên cũng tuyệt tích trên thị trường thế giới, hoặc phải trải qua những cuộc biến dạng, cách tân (reformulation) với sự thay đổi không hề ít trong công thức. Poison liên tục tung ra các phiên bản thỏa hiệp đa sắc, với thành phần và nồng độ được điều chỉnh mềm mại hơn nên vẫn được ưa chuộng. Cùng lúc, cơn sốt “quả táo độc” được hóa giải bởi các dòng hương trái cây trẻ trung hơn, với thiết kế vỏ chai không kém phần hấp dẫn do nhà Lolita Lempicka liên tục tung ra rù quến thị trường nhiệt đới. Các tên tuổi Á châu với làn hương trong veo và mỏng tang của Kenzo và Issey Miyake như hai giải pháp thỏa đáng cho khí hậu đặc thù nhiệt đới cũng bắt đầu được mến mộ.

Đó đã là một cuộc ru ngủ dịu dàng kéo dài từ giữa thập niên 90 đến nay, với Tommy Hilfiger đồng hóa lằn ranh giới tính của thị phần trẻ chuộng mốt unisex, trong khi trên thượng tầng mua sắm, các dòng hương được săn lùng và ưu ái bởi sự bảo chứng đẳng cấp của chai lọ và thương hiệu. Phần còn lại hứng trận mưa “cổ tích Lái Thiêu” với những lê táo mận nhà Lempicka và Marc Jacobs cùng Kenzo không ngừng nghỉ tung hoa lên thị phần nữ tính. Hơn một thập kỷ thơm tho kéo dài, những thi vị mùi hương được tóm gọn bằng những cái tên thương hiệu, các bàn thắng thị trường được quyết định bởi thiết kế lọ chai – vốn là những thứ không thể trưng trổ để uy hiếp thị giác. Cùng lúc, thảm họa những dòng hương tội đồ được mệnh danh là “nước hoa Singapore” được hau háu tiêu thụ thật sự báo động cho vai trò của thẩm mỹ khứu giác trong sự thành công của một dòng hương. Người ta từ chối chi trả những số tiền khổng lồ phi lý cho cùng một thứ chai lọ được bán trên các sạp chợ đêm hoặc mạng internet với giá chỉ bằng 1/10.

Không chỉ lằn ranh giới tính và đẳng cấp bị xóa mờ, nhộn nhạo đánh lẫn, mà trào lưu những dòng hương nhẹ thơ lơ cũng đã báo động thoái trào khi mà những số tiền cực xa xỉ được trả cho những làn hương mỏng mảnh đến nỗi người ta phải áp mũi lên da mới cảm nhận được, và được quảng cáo là đỉnh cao của sự tinh tế mùi hương…da thịt vừa được tắm sạch trong bồn jacuzzi thả hoa tươi. Tất cả tan biến chỉ trong vòng 15 phút đầu, với những khứu giác hụt hẫng trước cuộc thăng hoa xí hụt.

Đó là khi người ta nhớ da diết cái thời mà đàn ông và đàn bà tỏa mùi khác nhau, như những cá thể rừng già tỏa hương hormone đặc thù quyến rũ, khi mà đóa huệ duyên dáng của nghệ nhân nhà L’Artisan Parfumeur phải vượt trội về độ cầu kỳ so với note ylang ylang điền dã của những dòng hương giá mềm dân chủ. Những tầng, những lớp hương phức hợp trong một cấu trúc cầu kỳ đã trở thành điển lễ cũ kỹ, đậm đặc và dày vò đủ khiến người ta muốn quay trở lại để thưởng thức từ đầu. Những cú xịt đầu vòi với mỗi hạt bụi dung dịch màu hổ phách là một thiên diễm tình có lớp lang, biến cố được khứu giác kiên trì lần dở từng trang, từng cảnh cho đến khi mùi mẫn ngấm hẳn vào thịt da. Những mẫu vật cũ được săn lùng khắp nơi trên thế giới, các phiên bản trường phái chypre và fourège kinh điển được phục dựng trong những diện mạo và tên gọi mới.

006-M

Những “lỗ mũi” nổi khùng và những dấu chỉ phục hưng

Khi Le Parfum nhà Elie Saab bất thần thắng lớn tại mọi trung tâm mua sắm Sài Gòn, như một dấu chỉ cho một trào lưu tuy chậm chạp cẩn trọng nhưng hoàn toàn chắc chắn của những gu thưởng thức cầu kỳ nhưng không còn cũ kỹ. Le Parfum bắt đầu khôn khéo với việc dẫn dụ thói quen khứu giác bằng hương trái cây, hoa cam, khá thông dụng và hợp thời. Nhưng ngay lập tức là một cuộc chơi vi diệu của đặc tính đàn bà rõ nét với hương hoa hồng và nhài. Sự có mặt của các note tổng hợp mang tên aldehydes chính là yếu tố nhắc nhớ đến cái duyên phấn sáp quá tay của những dòng hương huyền thoại. Việc Le Parfum được ưu ái mạnh mẽ chính là dấu hiệu đáng ăn mừng cho các tín đồ perfumista phe bảo thủ về một cuộc đại chấn hưng.

L’artisan Parfumeur cũng táo bạo xuất hiện tại các thương xá Sài Gòn với hợp hương khá dị biệt do được tạo ra bởi quái kiệt Duchaufour, người đã tiễu trừ vị kem sữa (creamy) đặc thù của hương huệ và tạo ra một cấu trúc kì cục nhất xưa giờ với lối dẫn dụ đặc tả từ…gốc đến ngọn, như thể người ta chào hỏi một quý bà bắt đầu bằng việc hôn vào chân vậy.

Những cú chấn động liên tiếp của các “lãnh chúa” haute couture trong thế giới thời trang từ 2008 theo chuỗi domino đã tác động bạo liệt lên thị trường nước hoa, mỹ phẩm và phụ trang – những rường cột chống đỡ tài lực cho các thành trì xa xỉ cuối cùng, khiến cả kỹ nghệ bào chế phải đi qua sự thỏa hiệp với mãi lực bằng những cấu trúc mùi hương thân thiện bên trong những lọ chai bắt mắt. Đó chính là thời điểm quật khởi bạo liệt của những “tân minh chủ” bất ngờ và bất trị nhất: những phù thủy ẩn danh phía sau những huyền thoại mùi hương, các nhà bào chế thượng hạng, và những chiếc mũi phù thủy nổi loạn.

Những nhãn hiệu độc lập được ra đời, mang danh tánh cá nhân của các nhà bào chế, báo hiệu một sự chấn hưng rầm rộ của những hợp hương cầu kỳ bất hủ, những cảm hứng dị biệt nhất nằm ngoài mọi khuôn mẫu của nguyên tắc hòa hương. Thị trường đang quay sang tôn sùng những dòng nước hoa thượng thặng thoát khỏi hệ nô dịch thương hiệu, mang những tên tuổi cá nhân xa lạ nghiễm nhiên trị vì ngôi vị đắt đỏ nhất trên thị trường. Bond No.9 bỏ cả Nữu Ước vào lọ, quái kiệt Francis Kurkdjian thao túng tín đồ sành sỏi bằng bộ sưu tập trầm hương hừng hực sâu thẳm như những cơn sốt nhục cảm, đế vương đến tận từng con số trên tag giá. Tất thảy, mùi mồ hôi, đồng thau han rỉ trong ngôi cabin gỗ hoang phế, những drap đệm tình nhân, cả những chiếc váy slip dress bằng tơ chưa giặt, và có lẽ cả Nữu Ước lẫn Sài Gòn đều có thể được thần thánh hóa dưới dạng dung dịch, và đựng đầy vào những cái chai.

Cùng lúc, giới chuộng mùi hương tại Việt Nam, dù chưa phải là một cộng đồng to lớn, một khi thói quen và điều kiện mua sắm tại nước ngoài đã trở lại như thời hoàng kim gần nửa thế kỷ trước, lập tức hình thành nhu cầu tìm đến những mùi hương cá biệt và thoát khỏi ảnh hưởng nô dịch thương hiệu hay sự quyến rũ thị giác của thiết kế vỏ chai. Tính cá nhân lại được tôn thờ mãnh liệt hơn bao giờ hết sau gần hai thập kỷ của những dòng hương chung chạ. Sự xuất hiện dù chỉ mới duy nhất một cửa tiệm có dịch vụ tạo hương bespoke tại Sài Gòn để làm ra những lọ nước hoa độc bản cho thân chủ cũng đủ để người sành hương nhìn nhận dấu chỉ đáng mừng cho một nền văn minh pefumista hậu nô dịch.

Bởi tất cả, trên cả hương thơm, đó là thế giới tuyệt xảo của những bản ngã được tôn thờ, của mùi hormone nhân tạo được thần thánh hóa, những tuyệt phẩm nghệ thuật mong manh nhất, tan biến bằng tốc độ tản hương nhưng có khả năng gây nghiện đến ám ảnh lâu dài, món trang sức lịch duyệt nhất của nếp sống phong lưu, kiêu ngạo vượt xa khỏi mọi trưng trổ ồn ào của tầng thị trường nhãn mác.

6a00d83451ccbc69e2017615997dd6970c-400wi

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí L’Officiel)

MÙI THỊ DÂN

Tình cờ trong một bài nghiên cứu về những dòng nước hoa phong vị Đông Phương đã ngưng sản xuất, tôi bắt buộc phải săn lùng những mẫu vật đã hoàn toàn tuyệt tích khỏi thị trường. Duyên kỳ ngộ đến với tôi từ tay một phụ nữ trung niên, gửi gắm món kỷ vật trong ve nước hoa bằng thứ thủy tinh đã trở nên đục mờ, bên trong chỉ còn chứa không quá 10ml đáy cặn. Sắc hổ phách huyền thoại của thứ dung dịch xa xỉ đã chuyển sang thứ nước màu thắng quá lửa với mùi hương khét ngằn ngặt như những bông hồng chết trên giàn hỏa thiêu. 40 năm về trước, chị là cô con gái gia đình “tiếp quản” một ngôi nhà mà gia chủ đã ra hải ngoại. Trong tất thảy những cuốn album gia đình cùng tư trang để lại, cô gái nhỏ đã lén giữ lại chiếc lọ cầu kỳ như một kỷ vật của một thứ tàn dư diễm lệ mà cô hụt tay sờ chạm. 40 năm, chưa một lần chị dám phí phạm dù chỉ một làn bụi hương sót lại nơi đáy chai. Tôi hứa với chị sẽ hoàn trả mẫu vật sau khi trích lục để phân tích một phần hương bên trong.

Cái cảm giác ấn chạm vào đầu chiếc ve nhỏ, phóng thích một tia bụi nước đó trở nên thiêng liêng kỳ lạ, vượt xa chuyện sửa soạn xức thoa thường tình. Như thứ thanh âm cũ mòn thốt bật từ lòng đĩa vinyl cổ đại còn đính chiếc tem giá, những thước phim nhị sắc run rẩy trên phông bạc sau hàng thập niên trong phòng lưu trữ, tôi nhận ra mình vừa phóng thích khỏi chiếc lọ cũ kỹ cả một nền văn minh thời cuộc, hiển hiện ngay trên cườm tay, với đầy đủ biến cố cầu kì của một tuyệt tác mỹ phẩm, biến dạng nặng nề bởi ngần ấy thập niên đợi chờ được phóng thích.

Vị thần tai ác chui ra khỏi chiếc ve được thiết kế cầu kỳ, và trước khi tôi kịp chọn cho mình một điều ước, tôi bị quăng không thương tiếc lên chuyến tàu ngược thời gian và nhắm mắt lại để thấy mình, không phải ở thị trấn Provence với bạt ngàn đồng hoa lanvande tím, hay kinh thành Ba Lê thánh địa của kỹ nghệ bào chế nước hoa, mà giữa vẹn nguyên thập thành đô thị Sài Gòn gần ba mươi năm về trước: mùi Sài Gòn!

Hương phấn sáp khỏa lấp kỷ điêu tàn

Tại sao những dòng mỹ phẩm đặc trưng được sản xuất vào những năm 20 của Kỷ Ngây Thơ (Age of Innocence) và thập niên 70 diêm dúa luôn khơi dậy trong tôi chỉ cùng một tiềm thức?

Sài Gòn có mùi gì?

Tôi không tin người ta có thể ngay lập tức trả lời câu hỏi này. Bởi Sài Gòn là một đô thị…nặng mùi. Một tạp âm hổ lốn, đa tầng được cảm nhận bởi khứu giác đã mỏi mòn từ quá lâu đủ để chậm chạp bóc tách từng lớp, từng nốt trầm tích mùi hương ấy ra mà phân tích một thứ “hương Sài Gòn” chuẩn xác.

40 năm sống trong lòng Sài Gòn, tôi dõi theo kí ức của chính mình, nhắm mắt lại, hít thở và để mặc những note mùi hương làm công việc của nhà điêu khắc, tạc vóc chân dung Sài Gòn. 40 năm của một hành trình thoái hương đầy biến cố, cho đến khi bất cứ dòng nước hoa xưa cũ nào với trường phái đặc thù của mỹ cảm 1920 và 1970 cũng có thể lập tức phục dựng sinh động một kỳ đoạn nối dài từ giữa những năm 1970 đến cuối thập niên 80 của Sài Gòn, trở mình giữa lệ và hoa.

Đó chính là khoảng thời gian chuyển tiêp giữa nếp sùng bái thẩm mỹ Francophile còn lại của lớp thị dân elite, cùng những tinh hoa Bắc và Trung kỳ hội tụ về đây giữa những năm 50, pha trộn với trào lưu tân kỳ của những dòng hương “drugstore” Hoa Kỳ đầy tinh thần thực dụng và tag giá dân chủ hơn rất nhiều. Thập niên 20 và 70 tiền-disco gặp nhau trong vẻ hào nhoáng cảnh vẻ: những cô đào trang điểm quá tay, những tiến bộ vị lai của khoa học và những nỗi sầu chính trị hợp thời. Chypre và aldehydes, xạ hương đầy nhục cảm và thứ mùi phấn sáp trang kim của trường phái powdery.

Một chuyên viên tâm lý có thể dễ dàng lý giải điều này bởi sự can thiệp của vốn liếng tiềm thức hạn hẹp bó tròn trong đời sống thị dân, bởi những khái niệm đầu đời về thế giới mùi hương đã gắn liền với mọi kí ức của Sài Gòn giữa thập niên 80, bởi những chuyến du hành thần thánh từ những quầy lộng kiếng nhà lồng Bến Thành, đâm xuyên lối chợ trời Tạ Thu Thâu nực nồng xa xỉ phẩm, bước ra lối vào thương xá Tam Đa cũ chỉ còn là những ngách nhỏ sáng lòa giữa ban ngày bởi vải vóc, trang sức và “đồ Mỹ” được bán tống tháo lại từ những gia đình tư sản trước cuộc lưu vong quáng quíu, hay từ những chuyến hàng hải ngoại cứu rỗi nếp tàn dư còn cầm cự lại của thị dân đất ngọc Viễn Đông.

Sài Gòn đã bắt đầu trong tiềm thức khứu giác của tôi như vậy, như những vệt mùi đài các sa cơ, trưng trổ những nếp vàng son phồn thịnh giả cách, xoa dịu và khỏa lấp những phân hủy điêu tàn.

mùi thị dân

Xá-xị, hồng tiêu, hắc quế và nhang trầm Chợ Lớn

Sài Gòn, những năm giữa thập niên 80, người ta ồ ạt săn đuổi những dòng hương có những cái tên phù phiếm độc địa như Poison (độc dược), Mon Pèche (tội đồ) hay Tabu (điều cấm kỵ). Cùng lúc, trào lưu Oriental do Shalimar nhà Guerlain khởi xướng từ đầu thập niên 30 cũng phả làn hơi “hương xa” nồng nàn lên các dòng hương được ưa chuộng bởi sự gần gũi về tiềm thức văn hóa. Các dòng cologne thân thiện Bien Etre trở nên lỗi thời vì âm hưởng Francophile, không ít những chai lọ của thời này còn tìm thấy trong các hiệu bán đồ cổ ngoạn, bên cạnh những xấp dĩa vinyl và những mề đay mỹ kí hoen rỉ của một gia đình tư sản cũ nào đó, ghi dấu gu thẩm mỹ thời cuộc tuốt từ những năm 50 đầu 60.

Oriental, hay còn gọi là trường phái hương Đông-Phương với mùi xạ hương cùng những thứ gia vị nóng như quế, hồi đầy nhục cảm, đã làm nên cả một không khí của giáo đồ thụ hưởng Sài Gòn ngay giữa lằn ranh những tháng năm đầy biến động, nơi hoa và lệ cộng sinh san sát.

Cơn sốt đầy note hương bạo động với huệ, xạ cầy hương, nhục đậu khấu và hổ phách được bào chế vung tay này đã kéo dài đại dịch Tabu và Poison đến tận thập niên 90, và chỉ thật sự giảm nhẹ chút đỉnh trước cơn lụt xa xỉ phẩm tân kỳ thời mở cửa. Những buổi dạ vũ ball famille, những vũ trường chỉ vừa mới được mở cửa lại, những rạp cine mini ở khu trung tâm lại bật lên hơi lạnh lưu cữu của những máy điều hòa đã bất động suốt một thập niên.

Từ khu nhà lồng chợ Bến Thành, băng qua chợ trời xa xỉ Tạ Thu Thâu, kéo dài tới thương xá Tam Đa cũ, về sau là tòa nhà Intershop (đã không còn), xứng đáng được coi là thú bát bộ mới, thay thế cho passage thương xá Eden cũ dù kém hẳn phần lịch duyệt dành cho các bà các cô điệu nghệ. Những lọ nước hoa được bày bán ngay dưới ánh sáng trực tiếp của nắng, hay trong những tủ lộng kiếng chưng đèn nóng hổi – điều hoàn toàn bậy bạ trong nguyên tắc bảo quản mỹ phẩm, với những mức hét giá trên trời, nhưng thời đó còn chưa có vấn nạn hàng nhái, do phần lớn được thân nhân mua từ chính quốc, hoặc do các thủy thủ tàu viễn dương mang về.

Chính thời điểm này đã làm nên dấu mốc thú vị trong gu khứu giác của đàn bà Sài Gòn, hổ lốn và vô nguyên tắc như mọi thứ đặc sản của thị thành tạp chủng này, như bánh mì kẹp chả lụa Bắc Kỳ với pepperoni Ý Đại Lợi xịt xì dầu Chợ Lớn, chiêu trôi cùng ly café B’lao chánh hiệu.

Cũng là một đô thị phương Đông, nhưng người ta đổ xô vào những dòng nước hoa Oriental, khởi phát vào thập niên 20, và tái phát dữ dội trong văn hóa Âu Mỹ vào những năm 60, lây lan tới trào lưu hiện sinh của những năm 70. Đối với dân Sài Gòn, phong vị này vẫn toàn vẹn sự kì thú huyền bí của yếu tố “hương xa”, với hoa hồi và nhục đậu khấu, trầm hương và hồng tiêu, nhưng vẫn đủ gần gụi để nhắc nhớ từ trong tiềm thức những bánh savon trầm thượng hảo hạng được coi là món quà lịch sự dành cho nữ giới, những hiệu thuốc bắc đường Hải Thượng Lãn Ông, như một thứ mùi hương cửa ngõ mở vào lãnh địa phồn thịnh sầm uất Chợ Lớn.

Trong tất thảy những cam bergamot và hồng tiêu, húng quế ấy, cái khứu giác của đứa con nít Sài Gòn háo hức căng phồng đón nhận về hơi hướm phảng phất mùi tinh dầu lá xá-xị đã làm nên huyền thoại thương  mại cho hãng giải khát Con Cọp lúc bấy giờ, thứ mùi nhang khói mỏng mảnh đã đượm lẫn trong không khí từ bao đời, một khi mỗi căn phố đều có cửa tiệm và một bàn thờ ông Địa, mỗi nếp gia cũng leo lét khói nhang đêm, cho đến đình chùa miếu mạo xen kẽ trong khu dân cư. Tôi tin rằng Chợ Lớn sẽ khác lắm, nếu giả như một ngày người Hoa và tập tục cúng kiến không còn nữa, nếu giả như một ngày, đồng loạt những que nhang tắt ngấm. Đó mới thật sự là ngày Chợ Lớn không còn.

2046

Hương bá tánh trên bức chân dung người đẹp Viễn Đông

Nếu gia vị có xuất xứ Đông phương và những ngành quý mộc đã làm nên phong vị ẩm thực gourmand cho Sài Gòn, thì những hương hoa phù phiếm, hương vanilla, hương huệ đậm đà vị phấn sáp kem sữa chính là bức chân dung trọn vẹn nhất của vẻ đẹp đàn bà miệt Ngọc Viễn Đông. Thứ hợp hương tổng hợp gay gắt của những siêu phẩm được bào chế bởi nền kỹ nghệ tân kỳ những năm 70 này khiến những cái mũi thanh lịch đương thời sẽ phải nhăn nhúm khổ sở bởi trò tán tỉnh sấn sổ ồn ào không khoan nhượng, trong khi hương phấn sáp powdery khiến người ta lập tức liên tưởng đến những giá trị lỗi thời gắn liền với nữ hoàng phấn sáp Coco No.5 từng một thời được ưu ái ồ ạt bởi các bà các cô giới thượng lưu.

Tất thảy đều giả tạo và phồn thực, hào phóng như những bờ ngực phồng vun cao phía sau tà áo dài siết eo đúng điệu Sài Gòn. Những người đẹp “cao su” hồn nhiên và hào phóng ban phát cảm giác mềm mại cứu rỗi của nhục thể lồ lộ dưới hai vạt áo hoa. Hương vanilla đặc thù của tiệm Givral với những ổ bông lan ngập ngụa phẩm màu, dày mịn mỡ màng những lớp kem đỏm dáng phủ ngập những chiếc gateaux còi cọc thiếu sữa của thời bao cấp, như những đắp bù xoa dịu thị giác và khẩu vị con nít háu ăn. Những đầu móng tỉa tót cầu kỳ sơn bôi đỏ thắm, những gót hoa nghễu nghện chênh vênh khỏi mặt đường, và thứ mùi da thịt bị tẩm ướp đến biến dạng bởi hương mỹ phẩm, mùi thuốc uốn tóc và ít nhiều những vệt khói ám muội lẫn trong mái tóc, xống áo, tới hơi thở đàn bà, khỏa lấp cả những giọt mồ hôi nhễ nhại của tiệm nước đầu ngõ cuốc xe cuối ngày nhặt nhạnh lối mưu sinh bên vỉa hè phố thị.

Chỉ có sống ở Sài Gòn mới hiểu thứ hợp hương quái đản này, khi mà người ta đi nhảy đầm và ăn tiệm bất kể công việc lao động phổ thông cóp nhặt hàng ngày. Không hề hiếm những huyền thoại vỉa hè về những người ăn xin cuối ngày ngoắc xích lô đi ăn tiệm. Lằn ranh phân biệt được đặt ra rõ ràng giữa những địa vị và lợi tức khác nhau, nhưng quyền hưởng thụ được chia đều cho tất cả. Một nữ hoàng sàn nhảy hoàn toàn có thể kết thúc một ngày của nàng trong chiếc chòi ốp tôn chênh vênh trên mép dòng kênh nước đen, phó mặc ngày hôm sau cho một canh bạc hoàn toàn mới.

Kết hợp hương hoa với xạ hương, trộn với những mùi gia vị hương xa nồng gắt, người ta có được một hợp thể dễ gây say, gây nghiện của mồ hôi dân nhiệt đới nhễ nhại, thứ nhựa sống thật thà tiết rỉ quanh năm, hong khô dưới nắng và phát tán trong gió, hay đượm quện với những cơn mưa đồng bóng bất thần, trộn hòa chuếnh choáng trong ngăn thang máy, rạp cine, những hộp đêm kín gió đông người, nơi xống áo và người ta ma sát vào nhau, tóc trộn tóc, tay đan tay, và tất cả ướp đượm với đồ ăn và thức uống, champagne và bia hơi, đàn ông và đàn bà. Thứ hương “bá tánh” đó đã là một mùi đặc trưng của Sài Gòn, như những ám ảnh kinh hoàng kéo dài dằng dặc lên tận giường ngủ và lụi tàn giữa chăn nệm vào sáng hôm sau. Có lẽ bởi vậy, ở Sài Gòn, người ta bén mùi nhau, ghiền mùi nhau rất dễ. Mỗi cá thể ném mình vào đời sống cộng sinh nơi đây trở thành một phân tử mùi hương cực nhỏ làm nên cả một hợp chất nồng nực, khó chịu, sực nức, giả tạo nhưng gây nghiện và ám ảnh khôn cùng.

Như người đàn bà đồng bóng nhất, hào nhoáng và phù phiếm nhất đã một lần qua trong đời, Sài Gòn không bao giờ cho phép mình bị lãng quên, ngay cả khi người ta nhắm mắt.

02230939a

Mùi Hương Hoa Lệ

Như mọi cấu trúc cơ bản nhất của một dòng nước hoa, mọi kịch tính của mùi hương đều lắng dịu, thẩm thấu vào cơ thể và dâng lên những nốt cuối cùng, như một đoạn kết đẹp, tròn trĩnh, hoặc như những dấu chấm lửng vẫn mãi kéo dài tận trong tiềm thức.

Sài Gòn nông cạn, ô tạp, xô bồ và sống sượng trong cái thói rù quến bằng kẹo ngọt và những phần thưởng “ăn liền”, thói chiêu đãi hậu hĩ tới mức dại khờ và phóng đãng của ả gái hư không chuyên. Nếu ví Sài Gòn như một hợp hương mỹ phẩm, thì có lẽ những note dư hương day dứt cuối cùng ấy, chỉ có kẻ xa Sài Gòn mới thật sự được hưởng trong những mặc niệm hoài hương, hoặc những ai thương tưởng si mê Sài Gòn ngay khi sống giữa lòng đô thị, đủ để nhìn ngắm nhâm nhi những trầm mặc đằng sau phấn sáp trang kim, đủ để kiên nhẫn chờ đợi khoảnh khắc thật thà sau cuối của ả đàn bà đa chiêu.

Khi những mẫu nước hoa cũ khô dần vào da thịt, sự tài tình của nhà bào chế lại một lần nữa vén lộ những phong vị Đông Phương từ lớp hương đầu, đã được lọc qua những biến cố ồn ào nhất của thời cuộc, để lắng mình, vẹn nguyên mảnh khói nhang trầm mặc trong hơi thở về khuya của phố thị.

Một thời gian tôi mướn trọ trên căn gác xép giữa một hẻm bình dân đúng nghĩa điện câu đèn vàng. Cứ khoảng gần nửa đêm, tiếng lóc bóc của thằng nhỏ bán mì gõ lại vang lên, len lỏi vào mê trận không lối ra của những đường ngoặt bất thần chi chít. Thằng nhỏ quê tận đàng ngoài, trôi dạt vô đây phụ việc xe hủ tíu mì như một vạn kiếp di dân mỗi ngày tấp về đây. Nó sẽ chẳng bao giờ nhớ nổi đường ra giữa những lối ngoặt ngoằn ngoèo ác địa của những hẻm bàn cờ đặc trưng phố thị phương Nam này. Ông chú người Tiều sẽ cắm vài cọng nhang vô góc đường gần đó, thằng nhỏ Bắc Kỳ cứ theo mùi nhang, như cọng khói cứu sinh len lỏi hẻm đêm mà lần đường về. Thi thoảng, tiếng lốc cốc leng keng của nó vọng ra cũng đủ khiến ông chú Ba Tàu biết thằng nhỏ liệu đã rong ruổi lỡ bộ quá xa. Họ làm nên một cặp đôi kì lạ giữa cái thành phố này, bắt kết vào nhau trong cuộc sinh nhai đôi khi chỉ bằng làn khói hương mỏng mảnh mà không gian ô tạp của ban ngày sẽ nuốt chửng, quậy loãng và làm đứt bể tan tành chỉ bằng một cú đạp máy xe.

Tôi cũng từng có những đêm như thằng nhỏ Bắc Kỳ đó, ngơ ngác lêu bêu một góc hẻm lạ quơ chỉ bởi một chậu nhài, một nhánh ngọc lan, hay một bụi dành dành nhà ai lén nở đêm. Những trận du miên kì quái đó đôi khi dẫn tôi dừng lại trước một cổng ngôi gia, lập lòe ánh đèn trái nhót trên bàn thờ, nơi chân nhang đã nguội, và một bình huệ trắng đang phập phồng hơi thở vô hình rất sâu. Cũng như bao dân tứ chiếng đất này, tôi từng hôn Sài Gòn thật sâu để hít thở căng lồng ngực ủ ê làn hương bắp rang bơ quá lửa từ lớp váng ly café tréo ngoe trên ghế bố vỉa hè lúc quá nửa đêm chờ sáng, mà thấy thơm phưng phức những bình minh đục ngầu ảo ảnh, văng vẳng tiếng chuông lễ sớm.

Hoắc hương và đàn hương, hổ phách, hồng tiêu và vạn triệu những thành phần xa xỉ trong một dòng hương Đông Phương cũ kỹ cũng có thể gợi nhớ mùi triều dâng ngoài bến Bạch Đằng. Tôi cùng tụi bạn sống tuốt bên Thủ Thiêm, 3 giờ sáng í ới ngoắc con đò gắn máy phành phạc rẽ làn nước đục ngầu về bên kia mảnh lập thể còn lại của Sài Gòn, khi những lương dân tử tế mệt nhoài đã ngủ rất sâu, và những đôi chân có móng sơn kim tuyến vừa kịp rón rén nhịp gõ gót cao qua những hành lang cư xá. Những phấn sáp được tẩy trôi hay vội vàng xóa bôi nhoe nhoét bởi môi hôn vồ vập, những món trang sức mỹ kí cuối cùng được gỡ bỏ, những vệt nước hoa đã lồ lộ mùi hormone thật thà mệt mỏi. Người ta nghỉ ngơi, trong những căn hộ tân kỳ, thành lớp trong những căn phòng giành cho dân lao động nhập cư, buông tuồng thân ái trong những dãy nhà trọ tồi tàn lòe loẹt, nơi mà khoảng cách bán-mua cuối cùng cũng đã bay hơi.

Nếu Sài Gòn là một loại nước hoa, ở tầng hương cuối, điều khiến người ta luyến lưu dày vò dai dẳng nhất, đó là bởi thứ mùi hương mệt nhoài, giữa những ẩn ức và trưng phô thường nhật: người ta ngửi thấy Chính Mình, trước khi thiêm thiếp bằng an sau thêm một canh ngả nghiêng nữa của Lệ và của Hoa.

017-L

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí Người Đô Thị tháng 06/2015)

bên dưới sớ vải Windowpane

suits4

Nhớ thời áo may guốc thửa…

Tôi vẫn còn nhớ khoái lạc thiêng liêng nho nhỏ rất Sài gòn của tụi học trò, như việc cắc củm xin tiền bỏ heo để trịnh trọng thỉnh về cây bút máy Hero và chơi sang mang cái vật thể vi diệu đó ra cho ông thợ trước cổng trường để khắc lên đó tên mình và một cái hình gì đó nhỏ xíu, thật sến để tâm đắc tận hưởng cảm giác sở hữu hoàn toàn khi tên họ đã được đường hoàng khắc lên thân cây viết máy, tô bằng một lớp nạm nhũ kim óng ánh.
Đó là cái khắc khoải của cảm nhận sự vô tận đến sốt ruột của thời gian khi khấp khởi cầm xấp vải ra tiệm may đặt thửa bộ đồ Tết hay tấm áo dài đi học. Đó là cái hoang mang của những lần chạy ra tiệm để ướm những mảnh vải lên người, cố lờ mờ hình dung ra tấm áo hoàn thiện sẽ ra sao và cái khấp khởi huy hoàng của ngày hẹn cuối cùng khi chiếc áo ấy, nghiêm chuẩn đến từng li, được ốp vừa khít trên đường lượn sống lưng con gái, đôi vai raglan nuột tròn không tì vết.
Tất cả mọi thức khi ấy đều được đặt, thửa ngoài tiệm và phải trải qua những đợi chờ hành hạ như vậy cho đến ngưỡng cuối cùng của khoái cảm sở hữu. Chúng tôi đã chọn những cặp guốc vẽ bông ngoài chợ, chọn riêng cặp quai rồi khấp khởi ngồi ướm chân chờ đo, chờ đóng từng chiếc đinh đồng ngập vào thân gỗ, cho đến khi chiếc gót cao su được gọt mài tinh xảo êm chân, nâng niu tới độ phải e dè bước chân sáo trẻ nít được quà. Chúng tôi, những đứa nhỏ lớn lên từ đống bầy nhí nhố hồi hộp bu quanh chiếc xe ông bán tò he, đứa có tiền mặc lòng vòi vĩnh mọi thức tham lam trong trí tưởng tượng trẻ con, từ con heo hồng cài bông xanh, con gà trống có 7 màu sặc sỡ hay ông Tề Thiên tay cầm thiết bảng thiệt oai. Tất thảy đều có thể được đáp ứng chỉ sau vài phút, dưới ngón tay nhoay nhoáy ngắt bột, nặn hình của người đàn ông mà khi ấy, với chúng tôi như một vị anh hùng.
Những chiếc giỏ xách lục bình, những chiếc nón vải mềm, hay thậm chí cả cặp bông hay chiếc lắc vàng “làm của” đầu đời của con gái mới lớn cũng được thửa đặt ngoài tiệm kim hoàn. Tôi xin cho mình một chiếc lắc, và ông thợ bạc hạ cặp mục kỉnh nghe tôi kể lể về những món tòn teng diêm dúa tôi muốn đính treo vào đó. Đúng ngày hẹn, tôi đến cửa tiệm, ông thợ bạc long trọng lau sạch đôi bàn tay chai sần rồi kéo ngăn tủ gỗ, nhón ra cho tôi một tia nắng vàng quý báu, lóng lánh những chiếc chuông, trái tim, những con mèo con vịt bằng vàng nhỏ xíu tòn teng được đính trên cọng xích đã được đo vừa cườm tay con gái, cùng chiếc thẻ bài khắc hoa mỹ tên tôi.
Và khi mùa Giáng sinh sắp tới, trước những chuyến nghỉ mát lên Đà lạt là những chiếc áo len được đặt đan từ vài tháng trước, tăng bội vạn các thi vị khấp khởi đợi chờ.

Bên dưới sớ vải Windowpane
Trong khi má con tôi sắm sửa quanh năm như vậy thì ba tôi mỗi năm cùng lắm ông chỉ có một hai bận ra tiệm may đồ mới. Những cửa tiệm của những ông thợ già đeo suspenders ngang vai, tay chemise nhàu nhĩ xắn cao quá khuỷu và sợi thước dây màu xác pháo vướt choàng qua cổ. Tôi đứng bần thần trước chiếc kệ lộng kiếng đã ố bụi, xếp san sát nghiêm mặc những súc vải dài từ đen, chàm, beige, và cả màu trắng creme, xanh bleu cho phụ nữ. Tôi hiếu kì chú mục vô bộ khuy manchette và kẹp cravatte mạ vàng đã ố, vài ba chiếc nơ đen bằng satin hồ cứng đã sờn toe hai mép như những hiện vật về thế giới bí mật của đồ tế nhuyễn đàn ông.
Ông bác chủ tiệm ngoắt tay gọi mua cho tôi cái bánh cam làm quà trước sự cự tuyệt của ba, rồi mới yên tâm quay qua đo đo đạc đạc. Tôi leo lên chiếc ghế phó may, đặt chiếc bánh gói trong giấy dầu lên đùi, ngắm nghía cái nghi thức long trọng ấy, hồi hộp tưởng tượng ba trong bộ lễ phục bảnh bao, như kép cine, với bông cẩm chướng đỏ cài trên ve áo.
Tôi đã đếm ngược từng ngày để được cùng ba đi “thỉnh” bộ đồ vía. Ông bác chủ tiệm dường như vẫn chưa hề thay chiếc chemise nhàu nhĩ với cặp suspenders vắt hai vai, hãnh diện hai tay rước bộ comple nặng trịch ra khỏi tủ đứng, nhanh tay gạt mớ nhật trình khỏi bàn cắt rồi long trọng trải tác phẩm màu chàm sẫm trước mắt tôi.
Như một nhà ảo thuật ranh mãnh, ông luồn tay vô ve áo rồi lật ra cho tôi ngắm lớp lót bằng thứ lụa mà theo ông là thượng hảo hạng chằn lót bên dưới lớp vải tweed loại Windowpane mà sau này tôi biết ra đời từ cuối thế kỷ 19 và đã từng tái thịnh vào thập niên 70, trước khi tôi sinh ra.
Tôi thất vọng: nó không hề bóng bẩy như bộ áo đuôi tôm của kép Gable hay mấy vị nhạc trưởng. Ông chủ tiệm cười xuề xòa bảo rằng hàng cổ sam bọc satin đó chỉ hợp với nghệ sĩ hay đại lễ, chớ thương nhân, trí thức bận bóng bẩy coi kì. Ba tôi gật gù tấm tắc khen lớp lụa lót trong thiệt khéo, không lệch nhăn luộm thuộm, không bắt điện với lớp áo chemise kêu rẹt rẹt như mấy hàng vải tổng hợp rẻ tiền.
Đó là lần đầu tiên tôi học bài học của mình về kỹ nghệ dệt may, khi ngỡ ngàng nhận ra cái căn nguyên cốt cách của một món may đo hàng thượng phẩm, ấy chính là cái chiều chuộng khéo léo tỉ mỉ với chính cái thân thể con người bên trong lớp áo, chứ không phải chỉ phụng sự ánh mắt người ngoài ở mặt vải trên cùng, và rằng cái đẹp của một bộ comple đo thửa đó chính là cái bộ khung cốt bởi những coup cắt được tính toán như thể một công trình kiến trúc, làm nên phong thái tôn nghiêm cao quý cho người mặc, phong lưu nhưng khiêm nhường nhã nhặn.
Ở đó, trong căn tiệm của thứ hào hoa ố vàng xộc xệch ấy, tôi tưởng tượng ra những ông hoàng…
Tôi lớn lên như vậy, từ những bữa cơm nhà, những bộ cánh áo đo guốc đóng, những cửa tiệm tàn dư bespoke và giữa những ông hoàng.

savile row

Bản ngã Bespoke và sự khiêm nhượng của tao nhân
Nói tới Bespoke, người ta nghĩ ngay đến con lộ của nếp phong nhã Savile Row, nơi những quí ông Âu châu, những chính khách, thương gia, học giả tìm đến để tôn thờ nghiêm cẩn cái nguyên tắc cốt lõi đặc thù của những bộ Âu phục chuẩn mực, với ni tấc được đo đạc riêng cho từng thân chủ, của những cuộc hẹn tới lui ướm thử những mảnh pattern được ghim đính cho đến khi vừa khít cơ thể, đính lược bởi những chiếc đanh ghim phó thợ, và điển lễ long trọng của ngày hẹn cuối cùng, bộ vía thành phẩm đã được hoàn tất trọn vẹn, chi li tới từng mũi khâu, những panel ngực, lưng, vai ốp mĩ miều hoàn hảo trên cơ thể như một bộ da thứ hai hào nhoáng, thứ mà không một cá thể thứ hai nào trên toàn địa cầu có thể xỏ tay ướm mình hoàn toàn vừa vặn như thế. Trên cả một bộ vía hoàn hảo, đó là dấu ấn cá nhân của cả phong cách, gout thẩm mỹ cá nhân của thân chủ, và dấu ấn tài hoa như chữ ký nét thủ tự của tay thợ đã nắn nót từ đường khâu tay cẩn trọng, nét thửa vải tuyệt tài.
Chính từ cung lộ ấy, phong cách hình thức nam nhân Tây phương được định hình nghiêm ngặt, những yếu nhân hàng đầu cho đến vị giáo sư, những thầy ký thượng lưu được phủ đắp lên một lớp giáp trụ không chỉ che khuất những yếu nhược trong thần thái phong mạo, mà còn thị uy tư chất tôn nghiêm của trang quân tử chuẩn mực Âu châu, những bờ vai rộng, dáng ngực vươn kiêu hãnh và những khống chế tế nhị khiến kẻ khoác bộ vía không thể mặc lòng khoa tay múa chân hay buông thõng tư thế trong giao thiệp.
Cũng từ những ngôi tiệm trên lối lộ lừng danh của những tay kéo già cự phách, những thế hệ làm nên huyền thoại đã gia nhập nền công nghệ thời trang đa sắc toàn cầu với một tinh thần haute couture tôn thờ cá nhân tính, những tuyệt phẩm độc bản cầu kì và lòng hãnh tiến cốt cách quân chủ.
Những đợt đại khủng hoảng toàn cầu khiến những đế chế couture liên tiếp rùng rùng sụp đổ, vụ phế truất ô nhục của Galliano, Lacroix bị bức tử, Saint Laurent đã ra người thiên cổ nơi vườn Majorelle, Versace mất Gianni, đành cam hạ cố đặt mình vào thị trường bình dân xa cạ bằng những phiên bản công nghiệp mang tag giá sặc sụa tinh thần dân chủ… Phe quân chủ của thế giới thời trang đã ngậm ngùi đón nhận cuộc thoái trào bi thảm của những giá trị được tôn thờ và những đại lễ haute couture trở thành những bữa tiệc carnival buồn bã của bữa chợ chiều, khi mà thuộc tính thương mại đã khuất phục nét hoa mỹ của những tuyệt tác may mặc và biến chúng thành những mẹt hàng cháy chợ khi được hạ cố sản xuất rập khuôn dưới hình hài thân thiện hơn, cho một địa cầu của những bộ da được tạo hình hàng loạt.

Đây có phải là bờ vực sau cuối của tôn giáo cá nhân?

Người ta không còn bị thống trị bởi những trường phái coup của những tay kéo thuần chủng Ý Đại Lợi hay Ăng lê nữa, đại dịch globalization xóa nhòa lằn ranh trường phái của những nét dị biệt của những dấu vân tay tài hoa và đặc chủng. Người ta mua những bộ suits được may hàng loạt, những mũi kim dây chuyền số hóa không tì vết, không cả dấu vân tay, và nhân loại được chia thành các nhóm size đánh số hoặc từ S đến XXL,…
Những thương hiệu lên ngôi, người ta đồng loạt khoác lên mình những mẫu tự và tên gọi hàng loạt, những phong cách được định đoạt bởi tính nhất thời của trào lưu và đó là sự kết liễu của những trường phái đã thành bất hủ, và những cặp manchette trắng chỉ còn là nét tàn dư giành cho những buổi hòa nhạc, và để thỏa mãn nhu cầu cá nhân hóa ở mức tối thiểu của thị trường, người ta có những lon nước ngọt in tên riêng và quyền tùy chọn trang trí màn hình điện thoại thông minh.
Và, như một kẻ lạc thời còn lại, giữa lòng Sài gòn, giữa những cuộc đổ bộ mời chào những trào lưu hình thức của màn hình điện thoại được cá nhân hóa, những bao ốp lưng tablet và những nhóm người được phân loại theo size ngoại hình, tôi chợt nhận ra sự giàu có vô biên của những kẻ vẫn có thể chọn thửa một vuông vải ngoài chợ mang ra tiệm, đủ cầu kì đến từng phân li thước thợ và thừa xông xênh dư dả để khấp khởi đợi chờ một lớp vỏ ngoài vừa vặn cho riêng mình, chọn cho mình một cốt lõi yêu chiều ve vuốt trên từng lớp da thân thể hơn cả việc khoa trương cho sự trọng vọng ngoại thân qua sắc hoa nhãn hiệu bên ngoài, chọn tôn thờ châu thân Bản Ngã bằng thứ hàng tơ lụa xa xỉ nhất, những form coup cho một Tư Phong tự tôn kiêu hãnh, và chọn lớp vỏ bọc ngoài cùng bằng những sớ vải thô của thứ hàng tweed kinh điển, phong lưu, nhưng nhã nhặn khiêm nhường.
Bản ngã cuối cùng của bespoke đã nằm lại đó, bên dưới lớp vải lót trong cùng, tự do khỏi ánh nhìn và mọi lời đánh giá, để phụng sự suy tôn điều duy nhất giữ người ta đứng thẳng thớm bên ngoài guồng quay trào lưu đồng hóa, nơi mỗi cá thể được tôn trọng và phụng sự như những ông hoàng đích thực.

suits

huyền sử tài nữ Paris

Trác Thúy Miêu

reutlinger-studio-postcard-depicting-the-dancer-cleo-de-merode-1875-1966

Nàng là gái Paris chánh hiệu, dù có một số tư liệu cho rằng nàng tên thật là Hortense Gervais sinh trưởng tại vùng Bordeaux hay Biarritz. Sinh ra dưới cung Thiên Bình, Cleopatra Diane de Merode còn là ‘con gái Vệ-nữ thần’ dựa trên tín ngưỡng chiêm tinh phương Tây, khiến nàng được bảo đảm đủ mọi ưu chất tài hoa, phong tư kiều mị, nhưng trên hết là tư duy sùng bái Cái Đẹp cùng lòng kiêu hãnh của một trang anh thư dòng dõi trâm anh thứ thiệt, con gái họa sĩ phong cảnh và một cựu diễn viên người Áo. Cha cô, Karl von Merode tự nhận mình là nam tước Freiherr von Merode đến từ một dòng dõi cổ kính tại Bỉ.

Và đây chỉ mới là lần đầu tiên số mệnh lắm khuất tất của nàng liên quan đến vương quốc này.

images (5)

Scandal đầu tiên: Màn thoát y bất đắc dĩ 

Bé Lulu, theo cách gọi âu yếm của song thân dành cho nàng, sớm hé lộ thiên hướng nghệ thuật, được gửi đến học viện Paris Opera Ballet từ lúc 7 tuổi. Và khi mới 11 tuổi, cô bé có mớ tóc mây xoăn tít đã có buổi ra mắt đầu đời trên sàn diễn danh giá của kinh đô hoa lệ.

Tất cả đã hứa hẹn một nghiệp lộ lẫy lừng cho một tượng đài nghệ thuật chuyên chính – nếu như nhan sắc ma mị của nàng đã không mê hoặc cả châu Âu, làm mụ mị mọi họa sĩ, nhiếp ảnh gia, lẫn giới truyền thông lúc bấy giờ, vượt xa tài hoa của đôi chân vũ nữ.

Người ta định danh nàng chính là hình mẫu đầu tiên của khái niệm celebrity trên thế giới – nơi mà phong mạo trội bật, thị hiếu thẩm mỹ cầu kỳ và những cuộc tình lâm ly có thể mang thứ hào quang lấn át cả tinh hoa tài khí.

13 tuổi, tiểu thần nữ Cleo đã là nàng thơ phía sau những họa phẩm bậc thầy của Jean-louis Forain và Edgar Degas. Ba năm sau, nàng đã vang danh khắp kinh đô Paris với mái tóc sơn nữ rối bồng bềnh, chẻ chuẩn chu giữa vầng trán Đồng Trinh, viền bằng những vành xuyến đính đá óng ánh, xổ tràn xuống tận vòng eo không tưởng, dệt thành một chiếc khăn shawl đầy đặn lăn tăn sóng tóc. Người ta ghi dấu dung nhan nàng trên mọi tấm bưu thiếp, cỗ bài và các bích chương quảng cáo. Mái tóc sơn nữ và đôi mắt yêu tinh trong như ngọc của Cleo trở thành một mẫu mực về nhan sắc đàn bà đầu thế kỷ 20, dẫn lối cho những nếp tóc xoăn, mắt mơ viền chì và những đôi môi bé xíu như đinh ghim của Kỷ Ngây Thơ 20’s, với các dải băng trang kim trên tóc, điệu vũ chanson phóng đãng và những chuỗi cườm tung tẩy trên váy flapper.

14cd606ffe2997d6bb58b37f0a020bb6

Nàng được cưng chiều, săn đón, ái mộ khắp nơi, và nghiễm nhiên trở thành giai nhân được chụp và họa hình nhiều nhất trên toàn nước Pháp, mà người ta còn cho là trên cả châu Âu.  Cleo trở thành nàng thơ hiển hiện qua rất nhiều tuyệt phẩm của các danh họa bậc thầy cùng thời cho đến nay vẫn được lưu truyền, làm nên một định hình bất hủ của “thẩm mỹ tiền showbiz” đầu thế kỷ trước.

1d3a0b449b4bcad1e4f7021e22f261d6Alfredo Muller, 1869-1939, cleo de m etching c.903Boldini cleobab59a8a7d7bc63c49eca18d3d2fcdb4

Portrait of Cléo de Mérode Georges Jules Victor Clairin (Fr843-919)

Danh họa người Áo Gustav Klimt cũng từng là một nạn nhân chung của cơn sốt Cleo. Nàng xuất hiện rất nhiều trong các tuyệt phẩm ma mị của ông, và về sau, bộ phim mang tên Klimt năm 2006 còn hiển hiện ít nhiều câu chuyện của danh họa và nàng vũ nữ Pháp qua nhân vật “Lea de Castro”.

Năm 1895, Toulouse-Lautrec vẽ chân dung Cleo. Năm tiếp theo, đến lượt nhà điêu khắc Alexandre Falguière rơi vào cơn sốt Cleo, làm nên cả một cuộc náo loạn nhỏ tại Paris Salon khi ông vén tấm trướng che trên tác phẩm mới của mình, phô bày bức tượng Cleo khỏa thân đầy mê đắm. Bản thân nàng thơ yêu kiều cũng bị chấn động trước phiên bản trần truồng mỹ diệu của mình. Trong bức thơ gửi chủ biên tờ Le Gaulois, nàng tha thiết phủ nhận mọi tin đồn rằng Falguiere đã sáng tác dựa trên mẫu thật: “Rất mong ông vui lòng đính chánh lại cùng độc giả của quý báo rằng tôi không hề là người mẫu nguyên bản cho bức tượng của ông M.Falguiere, sự khác biệt có thể được minh chứng nếu lưu ý quan sát đầu của bức tượng”.

họa phẩm Cleo in the Salon của Carlos Vasquez y Obeda minh thuật lại scandal đầu tiên của nàng với bức tượng khỏa thân

Nhưng hẳn nhiên, không ai quan tâm đến cái đầu của bức tượng Cleo khỏa thân cả!

Sau biến cố đình đám này, nàng rút lui khỏi vùng hào quang danh vọng lẫn ánh đèn sân khấu, với lời giải thích là do nỗi lúng túng khổ sở khi chịu đựng những ánh nhìn lia khắp châu thân nàng và liên tưởng đến “bức tượng trần trụi kì khôi nọ”.

Bức tượng định mệnh The Dancer của Alexander Falguiere hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Musée d’Orsay.

garv_07b

Người đẹp bịt tai và lịch sử mốt tóc chignon

Sau vụ “bảo vệ môi trường” bất đắc dĩ, thị dân Paris háu tin vẫn có cách xoay sở để sản sinh thêm những tin đồn khi nàng vắng mặt, và ‘tác phẩm’ tin đồn mới nhất của họ khi này là nhưng lời xì xầm độc mồm rằng người đẹp de Merode trên thực tế không có… tai! Sự thể bắt đầu từ mốt tóc chignon của Cleo, với mái tóc dày che phủ hai bên khuôn mặt búi lại phía sau.

images (1)

Quả là một mánh khóe thần sầu, vì ngay sau đó nàng Cleo tội nghiệp buộc lòng phải tái xuất trở lại hòng minh chứng sự tồn tại đầy đủ của các cơ quan nghe nhìn trên cơ thể mình. Cuống quýt đối đầu với tin đồn quái gở, nàng xuất hiện ở khắp mọi nơi, tại nhà hát, đi dạo miệt mài trên các phố lớn trung tâm, ngược xuống Bois, tóc xõa được vén cao, lộ rõ một đôi tai đăng đối bình thường như hàng vạn đôi tai thị dân háu chuyện khác. Và từ đó, mọi quý bà quý cô Paris hoa lệ đều nhất loạt bới đầu theo kiểu tóc chignon. Mốt này về sau kéo dài đến cực thịnh vào những năm 1920.

images (8)

Tình lang phiền toái và kỳ tích ballet bị lãng quên

Tuyệt nhiên, những biến cố ngoạn mục này không hề làm phương hại đến danh tiếng Cleo, mà trái lại, như hệ quả tất yếu của mọi cơn sóng của sắc màu dư luận, Cleo càng sở hữu một hấp lực khó cưỡng đối với sự hiếu kỳ của công chúng. Nói ngắn gọn lại là nàng nổi như cồn.

Vào cuối năm 1895, một sự kiện lẫy lừng đã xảy ra, kết thúc đầy cao trào cho một năm đầy ngoạn mục và ám ảnh phần số Cleo mãi về sau. Vua nước Bỉ, hoàng đế Leopold Đệ Nhị, vốn là một tay hào hoa khét tiếng, tuyên bố mượn dịp công du thương lượng về quyền lợi thuộc địa để đến kinh đô hoa lệ và thân chinh khám phá sự thật về tiếng tăm tài sắc giai nhân trứ danh Cleo de Merode trong một buổi diễn của nàng. Nhiều tư liệu lẫn tin đồn thị dân thời bấy giờ cho rằng vũ đoàn nhà hát nhạc vũ kịch Paris chính là đại bản doanh thanh lâu hạng sang trên đỉnh thượng lưu của một Paris phóng đãng. Giới săn tin mau mắn đúc kết một mối tương quan giữa thói hào hoa của vị quân vương ngoại quốc và nhan sắc của nàng vũ công đang gây sốt toàn thành.

images (9)

Khắp kinh thành Paris, trong mọi phòng trà lẫn phòng the, người ta hau háu truyền tụng những tình tiết lâm li lẫn dung tục về mối dan díu giữa nàng kỹ nữ vang danh 22 tuổi và vị khách làng chơi vương giả hơn nàng ngót nghét 40 niên. Người ta nói rằng Cleo chính thức trở thành gái bao hạng sang, món đồ chơi ưa thích mới của vị quân vương phong tình, người ta trầm trồ truyền tụng về những món quà sang trọng nàng được dâng tặng, về toa riêng đặc biệt được thiết kế riêng cho Cleo và lắp thêm vào đoàn hỏa xa hoàng gia Bỉ để nàng tháp tùng nhà vua trên đường kinh lý. Họ, rất rất lâu trước khi Brat Pitt và Jolie trở thành Bragelina, được gọi chung bằng một cái tên sặc mùi showbiz: Cleopold!

Kin Leopold and Cleo De Merode taken from the Taschen book Art Nouveau

Trên thực tế, cho đến tận thời điểm này, Cleo vẫn chịu sự giám sát khắc nghiệt của thân mẫu. Bà cựu minh tinh cùng con gái kiên quyết phủ lập mọi tin đồn liên quan đến vị vua hoang đàng, khẳng định rằng thứ duy nhất nàng từng nhận của vị khán giả trứ danh này là những bó hoa hồng chúc mừng vào sau các buổi diễn. Các tòa báo vẫn nhiệt tình loan tiếp thông tin tỉ mỉ đến từng chi tiết về chuỗi ngọc trai trắng muốt được vị quân vương gửi tặng Cleo, và về căn hộ huy hoàng ngài dùng để cất giữ nhân tình. Trong khi đó, Cleo vẫn ngày ngày lên xuống 5 tầng lầu để đi về căn hộ nơi cô vẫn sống cùng mẹ như một con chiên Công giáo ngoan đạo. Tuy vậy, những lời quy buộc vẫn hấp dẫn đám đông hơn. Trò tiêu khiển lỗ nhĩ của đám thị dân háu chuyện đã đến hồi tai quái, Cleo đào tẩu khỏi Paris để đến St.Petersburg, nơi nàng rơi tiếp vào những tin đồn truyền khẩu về lòng ái mộ bất thường của các bậc vương tôn dưới thời Sa Đế. Những lời xì xầm truyền tụng, những tình tiết li kỳ và phóng túng đã trở nên ồn ào lấn lướt cả kỳ tích của lịch sử nghệ thuật múa ballet: nàng đã trở thành nữ vũ công ballet đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật múa diễn cùng bạn diễn nam là Rupert Doone tại nước Nga.

Cleo de Merode-10

Cleo lại trở về Paris để chứng kiến tiếng tăm của nàng đã lẫy lừng hơn gấp bội, tỉ lệ thuận với mức thù lao cho mỗi lần xuất hiện trên sân khấu. Khôn ngoan và chai sạn hơn rất nhiều sau những biến cố vừa trải, Cleo quyết xem đó là một cơ hội vàng. Nàng nhận một khoản thù lao khổng lồ để xuất hiện tại nhà hát hí kịch Folies Bergere – điều mà chưa vũ công ballet nào từng làm trước đây. Cleo ngạo nghễ xuất hiện và yêu kiều bước qua mọi đàm tiếu bằng đôi chân vũ nữ, điều này mang lại cho nàng một lượng khán giả ái mộ khổng lồ chưa từng có. Vài tháng sau, tờ The Éclair phát động cuộc bầu chọn ra người đàn bà đẹp nhất Paris. 130 tấm ảnh được trưng bày trong một gian phòng của bản doanh tờ báo cho mọi thị dân đến thưởng lãm và bình bầu. Cleo đoạt danh hiệu tuyệt sắc giai nhân với số phiếu bầu gần một nửa trên 7000 phiếu bầu.

cleo11_2

Cho đến tận bây giờ, mối dan díu với hoàng đế Leopold vẫn là scandal được nhiều người truyền tụng nhất, làm nên vầng hào quang về tiếng tăm bậc nhan sắc đã ra người thiên cổ. Thám tử đặc vụ Xavier Paoli đã gặp gỡ với Cleo sau khi tin về mối tình vụng trộm đã kịp lan truyền khắp nơi. Ông ghi chép lại trong hồi ký mình, chứng thực lời tạ lỗi của đích thân nhà vua Bỉ: “Cho phép tôi thể hiện lòng thành tâm ân hận, bởi những quy buộc nhân gian dành cho tôi đã làm thương tổn danh phẩm quý cô. Than ôi, chúng ta đã không còn được sống trong thời cuộc nơi mà lòng ái mộ của một vị quân vương không hề là một tai họa! Cuối cùng, tôi chỉ là một ông vua quèn” (nguyên văn: I am only a little king)

Kỹ nghệ lancée của thần nữ Nam Vang trên giọng đờn Gia Định

2 năm sau biến cố bức tượng khỏa thân và tin đồn… không tai, cùng mẹ và người quản lí tiệm hí kịch Folies Bergere, khi này cũng là người đại diện của nàng, cùng 9 rương tư trang và một chú chó cưng, Cleo đến Tân Thế Giới lưu diễn trong suốt một tháng tại Nữu Ước.

Mặc dù trước đó, cả một chiến dịch lót đường cho người đẹp Pháp đã được tiến hành, với những bưu thiếp mang hình ảnh của nàng được bày bán khắp mọi quầy báo, nhưng chuyến lưu diễn đã không thành công như kì vọng. Giới truyền thông ghẻ lạnh trong những bài bình luận hờ hững đầy mai mỉa, ca tụng nhan sắc người đẹp Paris nhưng miệt thị vũ đạo cũng như diễn xuất của nàng. Vào ngày Cleo ngán ngẩm rời Hoa Kỳ, tờ Boston Globe bồi thêm một cú tiễn biệt bằng việc gọi nàng với hỗn danh “The Frost” theo lối chơi chữ quái ác, vừa có nghĩa là “đóng băng”, vừa mang nghĩa lóng lối Mỹ là “thất trận”. Mặc nhiên, Cleo tái xuất Paris, rủng rỉnh 9,000 Mỹ kim thù lao từ chuyến lưu diễn, tức là gấp 40 lần thu nhập hàng tháng của chính nàng tại Paris.

Năm 1899, thân mẫu Cleo qua đời, cũng là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành hoàn toàn cho bản lãnh Cleo. Nàng trở thành một nữ thương gia thực thụ biết khai thác hình ảnh và tiếng tăm bản thân ở mức tuyệt nghệ. Nàng tỏ ra nhã nhặn và lịch lãm trong mọi cuộc phỏng vấn, và khéo léo điều khiển báo giới lẫn dư luận và tình cảm công chúng theo hướng có lợi nhất. Các phóng viên được vời tới có mặt tại các cuộc họp giữa nàng và ban giám đốc nhà hát, cho phép họ tiến sâu vào quan sát hậu đài kì thú của công nghệ giải trí Paris,  nơi nàng thi triển mọi tinh hoa tài khí ở cả tư cách diễn viên lẫn trong mưu lược cổ xúy danh tiếng cá nhân. Những lúc nhàn rỗi, Cleo chơi dương cầm (nàng được biết là một cầm thủ hàng cự phách dù không bao giờ chơi đàn trước công chúng) hoặc đạp xe rong ruổi những ngõ đường vắng vẻ ở ngoại ô Paris.

be0d5f7d3ea49aca71cae05a3025f96a

Trong những năm tiếp theo, Cleo thật sự trở nên một danh tiếng minh tinh ca vũ tầm quốc tế, nàng lưu diễn xuyên lục địa và nhiều lần danh giá tái xuất Hoa Kỳ. Vua Xiêm Chulalenghorn khi đến Paris đã được nàng ưu ái dàn dựng riêng một chương trình nghênh đón, bản thân Cleo xuất hiện trong bộ phục trang diễm lệ theo lối hương xa, mình dát vàng, kim miện có chóp nhọn như các thần nữ trong tín ngưỡng Đông phương. Nàng uyển chuyển múa theo lối truyền thống của vương quốc Xiêm nhưng được thêm thắt cải tân bằng phong cách Parisian chánh hiệu.

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Buổi diễn được hoan nghênh rầm rộ, công chúng Âu châu nức lòng trước vẻ đẹp hương xa khi được thể hiện trên trang tuyệt sắc Paris, sự pha trộn kì diệu giữa đôi mắt như cặp ngọc lưu ly đặc thù của người phương Tây, mớ tóc digan dầy dặn xõa dài trong phục trang Đông phương lạ mắt. Từ đó, Cleo liên tiếp ra mắt công chúng trong những màn múa mang âm hưởng Á đông, trong các bộ trang phục từ Cao miên đến Chà và và luôn được nức lòng ái mộ như một sứ thần thân thiện sau cách sách lược chánh trị hảo hữu của chánh quyền Phú Lang Sa.

60cf680627cf61368e153e7a4c60f3c0

Năm 1900, người ta cho vời ban đờn An nam đến Paris phô diễn nét văn hóa của quốc gia thuộc địa. Để thu hút công chúng và sự quan tâm của truyền thông, nữ hoàng nhảy múa de Merode được mời xuất hiện biểu diễn trên nền nhạc tài tử An Nam. Nàng xuất hiện trong những món trang sức theo lối cung đình Nam Vang và diễn tấu một vũ kịch truyền thuyết được cho là của người Chà Và, khi này được người chánh quốc lờ mờ coi là một nền văn minh Đông Dương nhất thống. Màn diễn tấu được đặt tên là Vũ Khúc Đông Dương dù sai trệch với tinh thần văn hóa An Nam nhưng lại tình cờ phối hợp mượt mà hơi hướm Cao Miên trên giọng đờn của ban tài tử Gia Định, và sự xuất hiện của Cleo đã khiến buổi diễn nổi tiếng đến mức nhà nước Phú Lang Sa chọn in hình trên con tem lưu hành khi ấy. Đây cũng là cơ duyên cho các nhà nghiên cứu về sau tìm lại bản ký âm thất truyền của bài đờn huyền thoại.

play-it-again

1 franc cho thanh danh thần nữ chốn hoàng tuyền

Tháng Sáu 1902, trên đỉnh vinh quang của các tiết mục múa mang màu sắc phương Đông, Cleo đến Anh quốc lần đầu, với trình mục gồm toàn bộ các bài diễn đa chủng đình đám của mình trong đợt lưu diễn kéo dài 2 tuần liền tại nhà hát Alhambra Luân-đôn gồm các điệu vũ âm hưởng Boheme, Hi lạp, Y pha nho và Cao miên. Năm 1904, khi lưu diễn tại Thụy điển, Nam tư, Đan mạch, và đặc biệt ghi điểm lẫy lừng tại Stockholm với những đám đông ái mộ nô nức tụ tập trước rạp diễn phong tỏa mọi con đường chỉ để nhìn tận mặt giai nhân. Hồi hương sau chuyến lưu diễn ngây ngất, Cleo tung cho chủ biên tờ Figaro tất thảy 3000 bức thơ tình thu thập được từ chuyến đi. Rất nhiều trong số đó được chọn đăng tải dài kì trên nhật báo.

images (13)

Nhưng về sau, Cleo giảm dần mật độ lịch trình diễn. Mặc cho lợi nhuận và lòng ái mộ vẫn ngày lên cao, Cleo dần tỏ ra đặc biệt thích thú với điêu khắc – chính bộ môn nghệ thuật đã oái oăm ghi dấu ba đào vào số phận và sự nghiệp của nàng năm 1895. Nàng thư thái và tĩnh tại khi say sưa với những bức tượng nhỏ hình các vũ công, đàn chiên, con giống ngộ nghĩnh… Những món thủ công này đều được rao bán với giá khá đắt và mang lại cho Cleo một khoản thu nhập đáng kể.

Cleo vẫn thi thoảng tái xuất sàn diễn cho đến tận sau tuổi 50. Bà chuyển về sống trong một biệt thự ven biển vùng Biarritz mà nhiều tư liệu cho là cố hương của bà. Nơi đây, bà dạy múa cho trẻ em để khuây khỏa nỗi nhớ nghề cho đến tận tuổi 80.

Cleo 4

Ngay cả sau khi lui về ẩn dật, nghiệp mệnh nữ chúa tin đồn vẫn không buông bỏ Cleo. Năm 1950, nữ văn sĩ Simone de Beauvois, phu nhân nhà biên kịch và phê bình Jean-Paul Sartre tung ra cuốn Le Deuxieme Sexe viết về gái bao hạng sang, trong đó, bà Beauvois có nhắc lại những sủng ái đặc biệt của vua Leopold giành cho ‘ả điếm hoàng gia’ Cleo de Merode. Cuốn sách cũng nhắc lại giả thuyết xuất thân thôn dã của Cleo và gợi ý rằng rất có thể Cleo đã tự nhận theo dòng dõi thế phiệt de Merode để cổ xúy danh giá bản thân. Tức nước vỡ bờ, Cleo khởi kiện, đòi bà văn sĩ phải bồi thường 5 triệu franc mới nghe. Nàng vẻ vang thắng kiện, nhưng cũng chính trong quá trình nghị án, người ta nhận ra rằng nàng cũng chính là bàn tay đạo diễn phía sau rất nhiều tin đồn về bản thân mình trước đây. Do đó, tuy thắng kiện, nhưng Cleo chỉ được hưởng một franc cho các tổn thất tinh thần và quy định dỡ bỏ mọi thông tin thiếu cơ sở có thể gây phương hại đến nàng trong mọi ấn bản về sau của cuốn sách đình đám nọ.

Như những ngày đầu sự nghiệp đầy tăm tiếng, cuối cùng, Cleo de Merode trong cuộc ẩn dật cuối cùng vẫn là người đàn bà chạy đuổi theo những cuộc phân bua vô tận, nàng vẫn là cô vũ nữ viết lá thơ thanh minh với tòa báo, hoặc mỏi mòn trong những cuộc bát phố xuôi ngược phố lớn Paris để xõa tóc trưng bày một đôi tai trọn vẹn. Sau biến cố với vụ kiện bà Beauvois, năm 1955, Cleo phát hành tự truyện Le Ballet de mavie (tạm dịch Vũ Điệu Đời Tôi), như một lần cuối cùng giành quyền lên tiếng cho chính bản thân mình, để nói những gì nàng cho phép thế giới lắng nghe.

069fc4e06792e02ebddec797ae471d05

Cleo qua đời ngày 17 tháng 10 năm 1966, yên nghỉ tại nghĩa trang Père Lachaise. Phía trên mộ phần Cleo là bức tượng chính nàng đang khóc than thân mẫu.

Lúc còn sống, de Merode đã kết hôn nhưng không có con. Theo tin tức trên các báo chí trong suốt cuộc đời sự nghiệp của nàng, thì de Merode còn đính hôn trước đó vài lần, trong đó có một bá tước Nga, một triệu phú Hoa kỳ, công tước vùng Manchester (vì sau bị ngăn chận bởi bà ngoại của ông này), một điền chủ Pháp, M.Reldoyen, một quý tộc Ba lan, Sigismund Malensky, và bản thân hoàng đế Leopold đệ nhị, sau khi hoàng hậu Marie Henriette qua đời. Hẳn nhiên, các nguồn tin của báo chí thời đó vẫn hoàn toàn không có cơ sở chính xác, dựa trên các tiểu tiết mờ nhạt làm căn cứ. Từ phía bản thân, lúc sinh thời, Cleo chỉ thừa nhận 2 cuộc tình lâu bền nhưng thê lương, một người mắc bệnh thương hàn qua đời, và người thứ hai là một học giả và điêu khắc gia Y Pha Nho đã bỏ rơi nàng theo một người đàn bà khác. Nhưng danh tánh và chi tiết về 2 mối tình này cho đến nay vẫn là những bí mật nàng mang theo xuống tuyền đài.

Cleo_de_Merode_by_SUDOR

Tổ nghiệp Celebrity và sự im lặng cuối cùng

Năm 2012, 46 năm sau khi Cleo cuối cùng cũng về tới chốn ẩn dật sau cuối chốn hoàng tuyền, khi thế giới nàng bỏ lại sau lưng đã hoàn toàn bị chi phối bởi quyền lực truyền thông và thảm đỏ, Michael Garval trở thành nhà “showbiz học” khi xuất bản công trình chuyên khảo đầu tiên bằng Anh ngữ về hiện tượng ghi dấu sự trở mình của thị phi toàn nhân loại vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 qua hiện thân nữ thủy thần kiều mị, cuốn sách mang tên Cleo de Merode and the Rise of Modern Celebrity Culture (tạm dịch Cleo de Merode và Sự Trỗi Dậy Của Văn Hóa Người Nổi Tiếng). Garval đã ghi chép lại công trình nghiên cứu, phân tích của ông đến từng ngóc ngách xảo thuật lancée phía sau ánh hào quang của nhan sắc và phần số tài hoa, đánh dấu sự bắt đầu cho một nền kỹ nghệ thực thụ về sau của thế giới, nơi các nghệ sĩ chân chính trở thành các minh tinh.

Sẽ không ngoa nếu lịch sử nghệ thuật trình diễn và công nghệ lancée được chia ra thành giai kỳ tiền và hậu Cleo, một khi tiếng tăm của nàng làm nên một cú chuyển dòng toàn phần về khái niệm nổi tiếng, giá trị của hiệu ứng hình ảnh, yếu huyệt của truyền thông và quyền lực của những tin đồn. Công trình nghiên cứu của Gavral đi sâu vào phân tích những cuộc canh tân mang tính xã hội và công nghệ đã khiến thế giới đi đến hình thành một xã hội hiện đại được dẫn dắt bởi các vị lãnh tụ đỏng đảnh đầy thói tật của chính trường thảm đỏ. Trong đó, Merode chính là một trong các tượng đài tiên phong đầu tiên, giữa tâm bão ái mộ và trải thảm đỏ huy hoàng dưới những trận mưa đá được ném ra từ công luận trong suốt cuộc đời nàng.

74c8a6b3140b1ea2322f2760b4557310

Mặc dù trước Merode, nhân loại vẫn luôn có những trang nhan sắc khuynh thành, những cuộc dan díu vụng trộm éo le đi vào huyền thoại, nhưng bước ngoặt lịch sử khi loài người phát minh ra kỹ thuật in ấn và nhiếp ảnh đã tạo nên hình thái thô sơ nhưng đầy quyền lực của truyền thông và báo chí.

Chính những tấm bưu thiếp ghi lại nhan sắc Cleo trong các bộ phục trang hương xa hoang đường của các vở múa Đông phương đã ghi dấu ấn và lưu giữ minh chứng cho vẻ đẹp bá mị vượt thời gian của một Cleo de Merode danh bất hư truyền. Nhưng với kỹ nghệ in ấn và truyền thông, vẻ đẹp vô ngôn trên các tấm bưu thiếp đã trở nên sống động với những chi tiết riêng tư đầy khuất tất, những thói tật phóng đãng li kỳ đã cho công luận một câu chuyện giật gân đằng sau nhan sắc thiên tinh. Chân dung truyền thông hình thành, cô ả đẹp đến vô thực với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ vừa được nhiếp ảnh đặt lên bệ thờ nhan sắc, vừa được hả hê lôi tuột xuống tận đáy của án đa dâm hạ tiện và những cuộc trác táng phong lưu. Công chúng có cả một màn bi hài sống động li kỳ hơn bất cứ vở diễn nào trên sân khấu đại hí trường, bởi Merode tồn tại, hiển hiện, chiều chiều bát phố khắp kinh đô với mái tóc vén cao, tuyệt vọng phô trình đôi tai nguyên vẹn.

Sự phối hợp của hai nền kỹ nghệ này tôn vinh người đẹp, nhưng không cho phép nàng hóa thánh, hả hê độc địa phơi lộ chuyện riêng tư của nàng, nhưng lại cùng lúc đặt lên vầng trán nàng ánh hào quang nóng bỏng của mọi sự chú ý hiếu kỳ. Ngôi nữ hoàng thị dân tự lập đã được hình thành nên như vậy, công chúng hoặc yêu nàng, hoặc nghiện ngập trong những câu chuyện đầy ác ý về nàng. Truyền thông trao cho họ một quyền lực mới, nơi họ xộc thẳng vào phòng ngủ của người đàn bà đẹp, khoái trá tốc từng lớp xiêm y hào nhoáng của tiết hạnh và nhan sắc để lần mò vào từng chi tiết sống động nhất, để hả hê tiếp cận thịt da có thật của hình hài diễm ảo in trên bưu thiếp: “Nàng cũng như ta, tham dục, đa mưu và đầy khiếm khuyết”

cleo merode006_2

Với thói háu tin theo từng tờ nhật trình, lần đầu tiên thị dân nếm mùi quyền lực và thưởng thức màn bi hài kịch lâm li nhất do chính họ đạo diễn và tham gia, kéo dài đến hàng chục năm, ngay cả sau khi Cleo đã già nua, mệt mỏi và trốn lánh vào tuổi già cô tịch.

Màn kịch vẫn quá chừng hấp dẫn ngay cả khi cô đào chánh đã toan về già và nhan sắc thanh xuân cùng các phiêu lưu tình ái chỉ là những tro cốt cũ kỹ được tái hồi khai quật mua vui cho hậu thế. Như thể một kịch sĩ tài ba đã đi khuất vào cánh gà, thì những tiếng vỗ tay reo hò phấn khích vẫn hồi hồi điệp điệp vang lên, róng riết đòi hỏi thêm một đôi lượt tái xuất của bóng vía tài tình, níu dài âm hưởng giật gân kì thú.

Nhiều thập niên qua đi sau nhiếp ảnh và truyền thông, chính bước ngoặt kỳ vĩ của nhân loại bước vào nền văn minh internet đã khai quật lại đại dịch Belle Epoque trong một diện mạo hoàn toàn mới: những đoạn ghi hình phòng the gây cấn của các minh tinh tài tử, những phát ngôn thường nhật ngô nghê hay xốc nổi, những chi tiết li kỳ đầy mùi thịt da sống sượng… Trong đó, huyền thoại Cleo được lưu truyền với tốc độ mãnh liệt hơn như những di tích của những ánh hào quang celebrity đầu tiên của nhân loại. Những tin đồn cũ được nhặt nhạnh và tổng hợp lại, những tấm bưu thiếp của hơn một thế kỷ về trước được tái bản và số hóa – Cleo de Merode trở thành một thứ di sản chung chạ của những tín đồ Mỹ giáo và những con nghiện tôn thờ bái vật celebrity xuyên thế kỷ.

il_570xN.550085435_qp97

Chính qua Merode, Michael Garval đã tài tình tái hiện thời cuộc văn minh Belle Epoque trong bức biếm họa của ngôn từ, với những cơn sốt của văn hóa thị dân đã bồng bế tô vẽ cho de Merode và đẩy nàng lên đài hiến tế như một con cừu làm cống lễ thần linh. Vì sao nàng trở thành Kẻ Được Chọn? Cơn sốt thẩm mỹ thuộc địa hương xa trong thời cuộc chánh trị của các mẫu quốc thực dân, kết hợp cùng các phát kiến khoa học, sự phát triển của công nghệ nhiếp ảnh, in ấn và truyền thông đã hợp nhất tại khúc quanh định mệnh có Nàng, để cùng làm nên một trong những quả bom truyền thông giải trí đầu tiên trên thế giới. Và từ đó, người ta có Monroe chết cô độc trong cuộc tình với đệ nhất chính khách, James Dean không toàn thây giữa xác xe vặn vẹo, một linh hồn Presley mãi không siêu thoát, Lennon gục ngã trước họng súng tín đồ bái vật celebrity và Diana không toàn thây trong chuyến xe tử thần đào thoát bão flash paparazzi.

Giới yếu nhân thảm đỏ trở thành bàn cờ người với các quân cờ là những hình nhân tuyệt mĩ bị lột trần sống sượng như soi chiếu dưới ống kính truyền thông, thỏa mãn giấc mơ hoang đường của đời sống thị dân đang nhàm mòn dần đi dưới tốc độ kỷ nguyên công nghiệp: giấc mơ của khả năng nhìn xuyên qua những bức tường tư dinh tráng lệ và mọi lớp xống áo hào hoa, và truyền thông như vị thánh cứu rỗi, xoa dịu nỗi khốn cùng bằng lời an ủi “Tất cả họ, những kẻ đội hào quang, phía sau cánh cửa khép kín, đều trần tục như tất thảy chúng ta”.

Các ngôi sao giải trí mua vui cho công chúng của mình ngay cả bên ngoài màn bạc, trên các bãi biển cá nhân, và ngay cả sau khi chết.

Và Nàng, cho đến ngày nay, xuyên thế kỷ và màn hình máy tính, với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ, vẫn là hiện thân của cơn sốt khởi thủy niềm si mê bái vật với những huyền thoại ồn ào.

Ở miền ẩn dật sau cùng, nơi những tiếng ồn thị phi không còn nghe thấy được, lần đầu tiên và duy nhất, Cleo được trả về, thanh thản và bằng an với những sự thật của riêng nàng, nằm sâu dưới nấm đất Père Lachaise và một bức tượng câm.

402dcd1e30024381f227313a83cf2f88

BOX:

Ngày 27 tháng 09, 2013, nhân dịp kỷ niệm 138 năm ngày sinh Cleo de Merode, buổi ra mắt cuốn sách khảo cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và Cải lương của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp tại Việt Nam đã là lần đầu tiên bản múa huyền thoại của Cleo được tái dựng, qua trích đoạn Vũ Khúc Đông Dương trên nền nhạc bản kí âm cổ xưa nhất tìm thấy được trong lịch. Cơ sở dữ liệu đầu tiên của hai nhà nghiên cứu chính là con tem của nhà nước Pháp lúc bấy giờ in hình Cleo de Merode trong trang phục cung đình Nam Vang cùng ban đờn của nghệ nhân Nguyễn Tống Triều tại buổi trình diễn đờn ca tại tử ở Nhà Hát Đông Dương năm 1900.

Tình cờ, tác giả đã chính là người mà nhạc sư Nguyễn Lê Tuyên nhờ thực hiện phần phục dựng bài múa, tái hiện hình ảnh Cleo de Merode vào ngày ra mắt cuốn khảo cứu, cũng chính là vào sinh nhật lần thứ 138 của bà. Trong một sự tình cờ, hậu duệ của bài múa này, tức tác giả, là người sinh sau bà đúng 100 lẻ một đêm. 

DSC_5609

Không đầy 3 tháng sau đó, vào 15 giờ ngày 5 tháng 12 2013, đờn ca tài tử chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đoạn phim tư liệu của nhà làm phim Huy Moeller ghi lại quá trình tái dựng vũ khúc đầu tiên của nhân loại trên nền nhạc đờn ca tài tử sẽ được công chiếu tại Việt Nam vào tháng Giêng 2014 tại trường Điện ảnh Quốc tế Sài gòn và Viện Trao đổi Văn hóa Pháp IDECAF.

Dự án phim Việt Nam đầu tiên về Cleo de Merode và đờn ca tài tử cũng đã được nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh hoàn tất khâu kịch bản và trong quá trình kêu gọi đầu tư. Đây cũng là dự án điện ảnh đầu tiên của Việt Nam về di sản đờn ca tài tử, và cũng là phim điện ảnh đầu tiên trên tái hiện lại hình ảnh bà chúa tin đồn đầu tiên trong lịch sử nền công nghệ giải trí thế giới. 

cleo_de_merode_60

phong-linh hương

Trác Thúy Miêu

Giữa cuộc thoái trào hỗn mang của kinh tế và thời trang lãng mạn và cuộc lên ngôi của tính thương mại, khi mà các nhà thiết kế thời trang cố công xoa dịu thời cuộc bằng những tag giá bình dân, thì Issey Miyake, kẻ đến từ vũng lầy thảm kịch Hiroshima, vốn trứ danh bởi tư duy duy lí, sự tinh xảo trên quan điểm thực tế tối giản của thủ thuật thiết kế, lại chọn một thái độ lạc quan và an tĩnh đến điềm nhiên.

Chỉ 3 tháng trước ngày nhân loại bị người Maya tiên báo là chạm đáy vực suy vong tận thế, Issey Miyake tung ra ngay giữa lòng kinh đô thời trang thế giới những “quả bom” nhỏ lóng lánh hồng, lanh canh một tràng cười Thiền Đạo như những giọt phong linh(*), hoan hỉ và an nhiên.

IM10.Pyr 045

Khi lần đầu được tung ra giới thiệu tại Paris hồi tháng Chín, 2012, chỉ trong một đêm, Pleats Please đã nghịch ngợm xếp nếp toàn cung điện Louvre trong sắc lụa Á đông, những nếp gấp đàn hồi như những khoang đàn accordeon sặc sỡ. Issey Miyake tung ra những quả bom mùi hương nho nhỏ màu kẹo anh đào, óng ánh như kính vạn hoa màu hồng bị vò nhàu, và ướp mọi quý cô Paris vào những thùng nước ép quả, cắc cớ tạo nên cảm giác khô khốc trong cuống họng mọi quý ông

Những nếp gấp ướp nước ép trái cây

Trên cả thời trang, Issey Miyake là một nghệ nhân biết làm ra những tác phẩm mặc được, và một nhà thiết kế thời trang với những bộ sưu tập xứng đáng được coi là tuyệt phẩm. Nhưng sự linh diệu của thời trang và nghệ thuật của ông lên đến đỉnh cao khi tinh thần nhất thống ấy được chuyển hóa thành một công thức giản đơn để trở thành thứ tạo vật mong manh có vòng đời ngắn ngủi nhưng huy hoàng và đầy ma lực quyến rũ nhất – mùi hương.

Bộ sưu tập Pleats Please đã là một tạo phẩm như vậy, một chút hơi hướm của trò origami đơn giản nhất, thủ thuật xếp nếp để tạo độ đàn hồi và hiệu ứng bề mặt, cấu trúc thiết kế hoàn toàn hiện đại theo trường phái lập thể của hội họa, để bất ngờ song tác với từng cử động của người mặc để tạo nên sự mềm mại uyển chuyển kì ảo. Tinh thần và triết lý phương Đông luôn tồn tại trong từng thiết kế của Issey Miyake là vậy, đăng đối hoàn chỉnh giữa âm và dương, giữa trường phái lập thể và sự mềm mại bất định, giữa khối và sọc,… và với dòng hương Pleats Please, hai thái cực âm dương ấy thể hiện qua sự ồn ã tươi tắn trong những note đầu, với cái hoang hoải trầm lắng ở note cuối dùng, giữa những note va chạm lanh canh của chùm phong linh hương hoa quả, đến note lặng của tiếng khánh đồng ngân nga trên da thịt như một nét khiêm cung mà rù quến thuần chất Á đông.

pleat_narrowweb__300x495,0

Ngoài cấu trúc phối hương theo chiều dọc, mô phỏng những đường xếp nếp chạy xuôi theo cơ thể của bộ sư tập thời trang, Pleats Please còn được tác tạo theo những tiêu chí cảm xúc của ánh sáng (light), chuyển động (dynamism), và sự thoải mái (comfort), được thấy cả ở thiết kế thời trang lẫn dòng hương cùng tên.

Nói một cách khác, Issey Miyake đã mất gần 10 năm để hoàn chỉnh một câu chuyện về giai nhân Đông phương e ấp trong mỗi nếp gấp mang tên gọi vòi vĩnh trẻ con Pleats Please, từ những nếp xếp trên thân váy của nàng, cho đến dư hương như mùi vệt nước ép lê còn ẩm trên sớ vải lấp loáng sớ lụa của chiếc đàn accordeon – một tinh thần đăng đối hoàn chỉnh giữa Đông và Tây.

pleats-please-ss14-look-book_1

Cô gái có giọng cười phong linh

An nhiên và lạc quan như tinh thần một nữ đạo sĩ có hơi thở mùi anh đào, Pleats Please tươi tắn, vui nhộn, óng ánh với những note hương hoa quả tươi tắn, đầy sinh khí hoạt kê, thấp thoáng note gỗ thâm trầm đằm thắm.

Cùng với bộ sưu tập Pleats Please là những chiếc túi Bio Bag (Bao Bao) óng ánh như được khảm bởi những mảnh pha lê vỡ đã được tái hiện qua thiết kế vỏ chai, như một phiên bản bằng thủy tinh của Bio Bag, gấp khúc thứ chất lỏng màu kẹo ngọt lóng lánh bên trong, trông như những mặt kính vạn hoa long lanh những mảnh vỡ màu hồng kẹo anh đào, với hai mẫu tự E tạo cảm giác bị gấp đôi theo chiều dọc, như thể khuất vào cạnh chìm của một nếp gấp bén ngọt.

Pleats-Please-by-Issey-Miyake

Trong hình hài một trái lựu đạn màu hồng lóng lánh, cuộc tán hương vui nhộn của Pleats Please được kìm giữ bằng chiếc nút chai trông tựa như một búp hàm tiếu vô danh, mô phỏng những sóng lụa xô lệch và những chuỗi xếp nếp nhuyễn li ti chạy suôn sớ vải đã từng được nhìn thấy trong bộ sưu tập cùng tên năm 1993

PL_2013nov08re

Ngay từ lần kích hương đầu tiên khi mở nắp chai và giải phóng lớp bụi hương màu hồng đầu tiên, Pleats Please như cái duyên mào đầu câu chuyện với những cô gái phương Đông. Họ không hề trầm mặc khách sáo mà trái lại, tươi rói như thể vừa nghịch nước dưới tán hoa lê trong mưa, và phá lên tràng cười mang hương quả mọng. Cú khui nắp Pleats Please như màn mở nút champagne, thoát trào một chuỗi note trong trẻo biết kêu lanh canh, một thứ nước ngọt có gaz hương quả Nashi – một loài quả pha trộn giữa lê và táo. Pleats Please ồn ã, vui vẻ chào đón bạn bằng những note tươi tắn, giòn tan và mọng nước và trong như tiếng reo của cô thiếu nữ hiếu kì có giọng cười của chiếc phong linh bằng mùi hương.

Những note lê Nashi chua chua ngọt ngọt ấy cũng đã từng tạo ra những tiếng kính coong vui tai cho dòng Omnia Crystalline của Alberto Morillas, nhưng giờ đây là điểm son trong sự nghiệp tác tạo các hợp hương của Aurelien Guichard – bậc thầy đã từng làm nên huyền thoại nghỗ ngược Le Male Terrible của Jean Paul Gaultier, dòng suối Thiên thai Angel Aqua Chic của Thierry Mugler và thiên tình sử Love in Paris của Nina Ricci.

Hãy lại thật gần chiêm bái tiếng khánh đồng sau mưa

Tuân theo lẽ vạn vật, cây ra hoa rồi mới đến mùa kết trái. Nhưng trong cái luật luân hồi ngỗ nghịch của mình, Miyake đợi đến khi những note hương lê hương táo ấy lắng xuống và bắt đầu chín nẫu nồng nàn và hình thành một màn li điệu tài tình chuyển hóa mùi hoa quả tươi thành một cuộc bung nở bất ngờ của một hợp hương hoa điệu đà nữ tính tươi tắn như da thịt thiếu nữ sau mưa, phồn thực nhưng mong manh đầy khích lệ. Hương hoa tại tầng giữa của Pleats Please không có cái nồng nàn thường gặp với những note hồng hay nhài sambac, mà thanh cảnh với hương hoa đậu thơm, nhưng đầy ẩn ý lả lơi với hương mẫu đơn đan lẫn.

PL_20th_3rdvisual_02

Quả ngọt và hoa thơm, như các note hương và mọi cô gái trẻ có tiếng cười chuông gió, rồi cũng tuân theo quy luật mà bước vào kỳ đằm thắm. Các note hoa ảo diệu của khu vườn Eden Đông phương dần lắng xuống và thưa đi. Trong một khoảnh khắc, tưởng như Pleats Please đã hoàn toàn biết mất một cách đầy hụt hẫng, như câu chuyện liêu trai không hồi kết, như một dòng hương không note cuối cùng. Bên dưới tầng tâm điểm đã li hương, ngỡ như đã ngửi thấy mùi da thịt thật thà phơi lộ dưới vệt hương đã nguội. Phải chăng người đẹp phương Đông với tiếng cười phong linh đã quá hấp tấp quăng mình vào cuộc vui chóng vánh và suồng sã và mãi mãi không lưu lại được một note dư hương cuối cho những ám ảnh về sau?

Cảm giác hụt hẫng ấy kéo dài không quá 10 giây. Pleats Please đã trở thành đàn bà, nàng khiêm cung khép lại giọng cười lanh canh chuông gió, xếp lại những cánh mẫu đơn hớ hênh mời gọi, và thu dọn cho những note hương tuyệt đỉnh cuối cùng thành một thứ lời thì thầm bên gối, ẩn vào tóc, vào thịt da.

Nó đòi hỏi người ta phải được phép tiến lại rất, rất gần người đàn bà để được là kẻ cận kề mà thưởng thức. Cô gái hồn nhiên buổi sơ giao đã biết khiêm cung dành điều ảo diệu nhất của những note cuối cùng cho kẻ xứng đáng nhất. Tầng cuối của Pleats Please mang tất cả tính huyền diệu và sự khép kín của tinh thần phương Đông và cái duyên đàn bà. Note hoắc hương và tuyết tùng, như một hợp âm trầm giọng khánh đồng, đã ngân những echo của nó như vậy, hòa quyện với một nửa si lẳng tình tứ của vanilla nguyên chất nồng nàn và xạ hương trắng đầy vẻ ái dục, tạo thành những note mùi như da thịt ướp trầm hương, vừa rù quến vừa thiêng liêng thần thánh, khiến người ta giằng xé giữa vồ vập và tôn thờ, giữa hít hà nắm bắt, hay lặng thinh chiêm ngưỡng.

3398407341_bfd5625fc3

Cú trúc trắc trong tầng hương cuối này cũng là màn song tác tuyệt hảo của Pleats Please với chuyển động của người phụ nữ. Cũng như vẻ đẹp vi ảo của những nếp xếp pleat trên thiết kế Pleat Please chỉ bung nở khi người mặc chuyển động, tầng cuối của hợp hương Pleat Please ẩn quyện vào mùi da thịt tự nhiên của mỗi người, tạo nên những phiên bản riêng biệt không trùng lặp.

Đã quá lâu kể từ cú dội bomb lịch sử mang tên L’eau D’issey, chẵn chịa một thập niên, giới sành hương lại nô nức đón chờ dòng hương mới mang một cái tên khá nhộn tai, nghe như một điệu van vỉ nỉ non khả ái: Pleats Please – với câu thiệu hào hùng tạm dịch là “Dòng hương lay động tâm can”. Đây còn là một cú dội bom kép khi được tung ra như một dấu chấm lửng long lanh kéo sau dư chấn của bộ sưu tập thời trang xếp pleat, với những sóng lụa bén nhuyễn lượn lờ vần vũ theo từng chuyển động cơ thể của người mặc lần đầu được lăng-xê hồi 1993. Gần 10 năm sau, perfumer Aurelien Guichard kể lại câu chuyện đằng sau cảm hứng sáng tạo của những nếp xếp vinh hiển ấy, một sự tác thành giữa pop culture và truyền thống Nhựt Bổn luôn pha lẫn trong tư tưởng bậc thầy của gã người Phương Đông giữa lòng Paris Issey Miyake.

pleats_please_red_wine

(*) phong linh, hay chuông gió, theo tín ngưỡng Á Đông, chính là vật tạo sinh khí, niềm vui, sự thư giãn, xua đuổi những suy nghĩ tiêu cực và nộ khí.

Published in: on Tháng Mười Một 24, 2013 at 9:13 Sáng  Comments (1)  
Tags:

kẻ đốt diêm sinh tìm bộ lạc

Trác Thúy Miêu

Căn xưởng nhỏ cũng là nơi sinh sống của gã là một nơi cư trú hầu như không có dấu hiệu của những sinh vật sống ngoài chính bản thân gia chủ.

Nhưng khi đặt chân vào, người ta luôn có cảm giác cái thế giới vỏn vẹn vài mét vuông ấy đầy những ánh mắt, những linh hồn, những tiếng súng câm, những ngọn lửa bất động, và những tiếng kêu cứu vô thanh. 

Những đốm lửa gọi bầy và giấc mộng Noah

Khi đặt chân vào căn nhà nhỏ và cũng là xưởng vẽ của Trung Nghĩa, người ta dễ ngại ngần dợm chân bước bởi cảm giác bị nhìn xoáy vào từ những đôi mắt thú. Ngay sát lối vào là bức họa mới hoàn tất – một con báo. Đó là một con báo đốm thật sự, chỉ khác là không phải một tư thế uyển chuyển hay hung hãn như thường thấy trong các bức họa vẽ loài động vật mệnh danh sát thủ này. Con báo đốm màu vàng đang chìa cái đầu to ở tư thế gần như buông thõng ra khỏi bức tranh, phần còn lại của cơ thể con vật ngoằn ngoèo ẩn hiện trong một lớp khói mờ như ảo ảnh sa mạc. Nó nhìn thẳng vào người đối diện bằng một đôi mắt buồn bã, cao hơn cả lời van xin tha mạng hay một sự căm hận bạo liệt  – đó là cái buồn bã của kẻ bề trên, thở dài nhìn nhân loại.

1378806_10151726407287686_1932924195_n

Tôi đã không tự quyết định được điều gì cả, với con báo này”. Người họa sĩ gần như phân bua, “Nó tên là Lucy, một cô báo cái tôi vừa gặp tại khu bảo tồn rừng Nam Cát Tiên. Nó là con báo duy nhất, mà người ta vẫn chưa tìm ra một cá thể báo đực để đưa về đó cho chúng có bạn và sinh sôi. Với tôi, Lucy như một con mèo to, nhưng khi nó thành hình trên mặt giấy, tôi sẽ không bao giờ có thể giải thích được rằng vì sao thân thể của nó lại mấp mé giữa ranh giới định hình và vô hình như vậy. Ngọn lửa và khói màu đã tự làm nên tất cả.  Mọi thứ diễn ra trong 5 giây, công việc của tôi là khai hỏa (thật sự theo nghĩa đen) và dừng lại đúng vào khoảnh khắc thành hình duy nhất

Từ cuộc triển lãm gần một năm trước đây mang tên Giấc Mơ Cao Nguyên, Trung Nghĩa đã bắt đầu cuộc hành trình của mình với các chất liệu kì lạ này của hội họa: diêm sinh, thuốc súng, lửa, và khói màu. Và anh chỉ dùng chúng để vẽ nên các loài vật, phần lớn là loài sống trong thiên nhiên hoang dã. “Tôi đã định sẽ vẽ những bức tranh về buôn làng, về nếp sống người dân tộc, v.v… Nhưng tôi mau chóng nhận ra những con vật mới thật sự là nỗi ám ảnh của tôi”. Nổi bật nhất trong cuộc triển lãm là bức tranh con vọoc với đôi mắt màu hổ phách hoảng loạn nhìn ra từ đám khói cháy rừng, con sao la đang tháo chạy khỏi đám khói súng cuộn lên nuốt gọn nửa thân mình tuyệt mỹ của con vật, và bức họa con tê giác một sừng cuối cùng của Việt Nam vẽ từ trí tưởng tượng. Cũng chính từ bức họa này mà nhạc sĩ guitar người Úc gốc Việt Nguyễn Lê Tuyên đã “chấp bút” vẽ nên câu chuyện bằng âm nhạc về con tê giác cuối cùng, hàng năm trời lang thang đi tìm đồng loại cho đến khi bị bắn chết, đặt dấu chấm hết đau buồn cho loài tê giác tại Việt Nam.

64948_10151211048637686_1077051384_n

Và lần này, gần một năm sau, Trung Nghĩa lại tiếp tục với câu chuyện về cô báo Lucy khi còn chưa quá muộn…

Khói màu tạo nên khối hình thù con vật, những đốm hoa lửa nổ chi chít trên mình nó, không hẳn là những đốm da beo tuyệt mĩ của Tạo Hóa, đó là những vết bỏng thật sự. Loại thuốc súng nguyên sơ nhất được chế tạo từ phân dơi khô được Trung Nghĩa trộn màu và xử lí, tất cả được khai hỏa cho nổ tung lên mặt giấy, và bức tranh hiện hình. Con báo bình thản bước ra từ vụ nổ nhỏ của cơn nhập thần hội họa, cơ thể gần như tan biến vào không gian mờ khói súng, thân mình chi chít những vết bỏng, có nơi xuyên thủng cả lớp giấy. Đạn và đất đá bị hất tung mù mịt xung quanh nó, và nó nhìn vào người xem, không phải cái hoảng loạn man dại của loài thú cùng đường, mà bằng ánh mắt phiền muộn như tiếng thở dài của Thượng Đế.

Vén bức họa cô báo Lucy lên, phía sau là bức vẽ còn dang dở một con nai đực. Chiếc cổ to và cặp sừng ngạo nghễ – một sản phẩm hoàn toàn của trí tưởng tượng. Họa sĩ đã gặp mẹ con nhà nai trên đường, và anh trở về, bị thúc hối bởi cảm giác muốn tạo hình một chú nai đực – sinh vật duy nhất còn thiếu trong bức tranh thực tế mà anh đã nhìn thấy, như thể chúng cần một cá thể giống đực như vậy để quây quần và để bảo vệ.

Như thể tay họa sĩ lập dị đang cố xây cho mình, sau giấc mơ Khải Huyền, một con thuyền Noah, nơi gã có thể mang muôn loài lên đó, qua từng bức họa, mỗi loài trống mái một đôi, để tồn tại, và để sinh sôi.

“Người ta vẫn luôn gọi tôi là ‘thằng người rừng’, là Tarzan, còn tôi thì luôn cự tuyệt hình ảnh đó. Tôi muốn tháo chạy khỏi cái hình ảnh dở tỉnh dở quê, nổi loạn nửa mùa và showbiz không tới. Tôi muốn được thừa nhận, được thuộc về đám đông và hi vọng được yên ổn trong đó. Nhưng đến khi tôi bắt đầu từ bỏ ý định cố phủ nhận bản thân, cũng là lúc bắt đầu tìm tòi chất liệu để thực hiện những bức vẽ đầu tiên cho đợt triển lãm năm ngoái, tôi thật sự được tự do khi trở thành kẻ lập dị trong đám đông ngoài kia. Tập làm người thành thị đã lâu, thì đây chính là khi tôi cất lên tiếng hú bản ngã nhất của mình sau bao năm câm nín. Thật kì lạ, đó cũng chính là khoảnh khắc tôi nghe những ‘tiếng hú’ đáp trả. Tôi không chỉ có một mình. Cuộc hạnh ngộ với nhạc sĩ Lê Tuyên, giáo sư Salil Sachdev và tổ chức WWF đã cho Giấc Mơ Cao Nguyên thành hiện thực. Đó mới là  lúc tôi mới bắt đầu được thừa nhận, lúc tôi thật sự tìm được ‘đám đông’ của mình”

Người ta có thể nhận ra nhau như thế, trong nỗi cô độc của những sinh linh mỏi mòn tìm dấu một cá thể cùng loài, cùng kể câu chuyện của con tê giác sau cuối.

563287_10151306165267686_954426994_n

Và năm nay, họ lại đang cùng nhau tiếp tục cuộc hành trình thứ hai mang tên Tiếng Gọi Núi Rừng, họ sẽ lại cùng nhau kể về câu chuyện của con nai đực vắng mặt tại Nam Cát Tiên, hay nỗi đơn độc của cá thể báo Lucy, trước khi chúng chỉ còn tồn tại trong hội họa.

1072479_10151533197347686_189432588_o

Một – Giây – Trước – Diệt – Chủng

Mối duyên tại Nam Cát Tiên đã quá đủ để đặt Trung Nghĩa vào tâm thế “con đầu đàn” mạnh mẽ thật sự trên đỉnh văn minh, sự mạnh mẽ để yêu thương chứ không hủy diệt. 

Sau đợt triển lãm đầu tiên Giấc Mơ Cao Nguyên vào năm ngoái, nội giới chào đón những họa phẩm đầy cảm xúc của Trung Nghĩa với những lời chúc mừng đến cùng sự ái ngại. Anh xuất hiện trong chính sự kiện của mình ở tâm thế một “kẻ tôi đòi”, hân hoan phụng sự chính những đứa con đẻ của mình.

Từ một nhạc sĩ trẻ háo danh của dòng nhạc thị trường, một tay showbiz nửa mùa với “máu nghệ” được pha loãng để chiều chuộng vị giác và khứu giác đám đông, với bằng cấp ngành thiết kế nội thất và chút năng khiếu hội họa, Trung Nghĩa xuất hiện tại cuộc triển lãm tranh đầu tiên của mình, hốc hác, hân hoan, và hoàn toàn tự do sau cuộc lột xác.

Người ta nói anh vẽ như nhập đồng, như kẻ được chọn, như bị dựa, hay được một Đấng Bề Trên mượn tay.

Và người ta tự hỏi anh sẽ đi đâu tiếp, sau khi thức dậy khỏi Giấc Mơ Cao Nguyên?

Suốt nửa năm ròng, không một dấu hiệu sáng tác, thậm chí không có cả một tin đồn mơ hồ nhất về bất cứ dự án sáng tạo nào. Nghĩa tìm thuê nhà, một nơi đủ tách biệt để khói súng và thuốc nổ không bị phàn nàn. Anh quyết định nuôi tóc để mỗi ngày sự ngứa ngáy khó chịu sẽ nhắc anh về những bức họa đang đòi được hiện hình.

Vẫn không có gì cả.

Chúng ta, những sinh vật ngạo nghễ ở đầu chuỗi thức ăn, vẫn khó lòng thừa nhận sự bất lực của mình như vậy. Mọi thứ được dấu kín, trong các file lưu trữ, giữa bốn bức tường, trong các dự án chỉ được vẽ bằng trí tưởng tượng. Thành phố là một sở thú lớn, nhốt những con thú lớn với những cơn bất lực to lớn. Tôi cũng vậy, với nửa năm ròng rung đùi ngồi chờ cảm xúc. Tôi vẽ một con chim cắt, vâng, với những năm học kiến trúc, với kí ức của cậu nhóc cao nguyên, tôi hoàn toàn có thể vẽ nắn nót một con chim cắt. Nó ở đó, trên cái bố cục kì cục nhất, chính giữa mặt giấy, và rồi tôi không thể vẽ thêm bất cứ gì khác. Con chim trơ khấc giữa khung giấy vẫn đậu ở đó nhiều ngày liền, và tôi gầm gào trong xưởng vẽ, lượn ra lượn vào với con dao trên tay, chờ đợi sự bất lực lên đến đỉnh điểm để trở thành cơn thịnh nộ đủ cho phép tôi xả một nhát lên mặt giấy để hủy hoại tất cả và làm lại một cái gì đó khác.”

Gã đánh cược một lần cuối cùng với bức họa chỉ mới bắt đầu của mình bằng thử nghiệm với khói màu. Sau đúng 5 giây đồng hồ, trên bức vẽ hiện hình  cả một trảng rừng rực lửa quanh con chim đang bốc cháy. Bản thân tác giả sẽ không bao giờ có thể tự giải thích được vì sao trình tự của bố cục lại diễn ra hoàn hảo đến vậy. Khối đất đá bắn tung tóe bên dưới và những lưỡi lửa vần vũ tạo nên hình khối của cả một trảng rừng phát hỏa. Đúng nó, những trảng rừng đã từng cháy ngùn ngụt sau lưng gã trên đường đi học về. Đúng 5 giây, và gã thì chỉ việc sững sờ chiêm ngưỡng Tạo Hóa hoàn thiện phần còn lại của bức tranh.

“Một con chim, đẹp và hoàn hảo, nếu được mang về nuôi, đặt trang trọng vào ngữ cảnh của chiếc lồng, nó vẫn là một sinh vật tuyệt mĩ. Nhưng bức tranh đó sẽ vĩnh viễn không thể hoàn thiện cho đến khi cho đến khi người ta được nhìn thấy chính con chim đó trong ngữ cảnh của nó ngoài tự nhiên”.

Những con chim đẹp nhất, và hót hay nhất, khi ở trong môi trường của chúng, dù là một khu rừng đang cháy.

Và các họa sĩ cũng vậy.

1472954_10151776515227686_969297029_n

Có lẽ duyên nợ với những loài chim rừng, kí ức về từng mảng trời cao nguyên bị che phủ bởi di chuyển của hàng ngàn con Ch’rao bay kín trời (loài chim mà giờ đây người ta chỉ nghe nhắc đến vào những cuộc thi ca hát với ca khúc trứ danh của Trần Tiến!) đã khiến chúng xuất hiện trong một chuỗi tranh Trung Nghĩa. Và cả những con bói cá cũng chỉ còn được nghe thấy trong một bài ca phổ biến. Chúng như những nhà hiền triết đủ màu, trầm ngâm bất động giữa vụ nổ bộc phá quanh thân, làn nước màu lam độc địa lênh láng dưới thân, chiếc cổ nhỏ xù lên rối bời, một túm lông vũ trên chỏm bắt đầu bén lửa. Đúng cái khoảnh khắc đó, khoảnh khắc Chỉ-Còn-Một-Giây-Đến-Hủy-Diệt đó, được chép lại.

1 giây quá muộn, những đốm lửa sẽ tiêu hủy cả bức họa. 1 giây quá muộn, loài bói cá cũng sẽ biến mất, và cả loài người nữa.

Người họa sĩ đưa bàn tay trần cháy xém dập tắt vụ hỏa hoạn do chính mình tạo ra, và tất cả dừng lại ở một bức tranh hoàn thiện.

Còn loài người, họ sẽ làm gì với vụ nổ bộc phá do chính mình tạo nên, vào đúng cái thời khắc định đoạt sinh tồn ấy, thời khắc Một-Giây-Trước-Hủy-Diệt?

 208146_10150151011262686_5295600_n

Kết cục buồn của Tarzan phố thị

“Bởi một ai đó đã đưa tay ra khi chính tôi chỉ còn một giây trước khi tự hoại. Một ai đó, hoặc chính tôi!”

Gã họa sĩ ngồi giữa bãi tha ma những con thú buồn, những sinh linh dãy chết, như nhà khảo cổ ngồi giữa những khối hóa thạch đã-từng-sống, kể những câu chuyện đan xen giữa thủ pháp hội họa và kí ức vùng Đất Cha* (chú giải: Buôn-Ma-Thuột phiên âm từ thổ ngữ Ê đê là Buôn Của Cha Thuột, về sau người Pháp nói trại thành Bản Mê hay Ban Mê Thuột)

“Cha tôi là một người hùng lí tưởng chánh hiệu, và một con chiên ngoan đạo. Ông hồ hởi mang gia đình đi kinh tế mới, xông xáo đưa mẹ tôi, khi này tôi còn trong bụng mẹ, từ B’lao theo về Daklak để giữ rừng vàng. Ngay cả khi cán bộ kiểm lâm được chia đất rừng để sống và canh tác, ông chọn ngay miếng đất cằn cỗi khó canh tác nhất nằm lọt trong hẻm sâu, với lí do ‘mình có phải người nông dân, biết canh tác gì đâu, ở đây là giữa lòng rừng, là an ổn nhất rồi’. Tôi lớn lên, biết nói chút ít tiếng dân tộc, chơi nhiều hơn với con nít người thượng. Lớp học tôi, heo bản chạy ra chạy vô, chúng tôi và cô giáo cứ phải gián đoạn để lùa chúng ra.”

Miếng đất xấu trong thung đã cho phép Trung Nghĩa lớn lên trong lòng rừng như vậy, có suối sau nhà, có khế rừng, và có những buổi chiều Ch’rao che kín bầu trời.

“Người lớn dạy chúng tôi trò bắt tổ chim. Tôi đã phá không biết bao nhiêu cái tổ như vậy, bắt không biết bao nhiêu loại chim non về nuôi chơi. Một số chết vì không có mẹ mớm mồi, số khác bị mèo vồ, sự xuất hiện của cá nhân tôi giữa góc rừng đơn độc ấy đã đủ để xáo trộn, can thiệp, và bẻ gãy vòng sống tự nhiên của rừng. Tôi vừa mê coi Ch’rao đậu kín tàng cây, đẹp đến độ sau này coi National Geography chưa thấy cảnh nào tương tự, tảng đá cứ lật lên là lại có vài con cua đá. Giống cua mà khi phát hiện tại Malaysia người ta đã loan báo trọng thể toàn cầu chính là thứ cua đá mà bọn tôi chơi hồi nhỏ. Nhưng tôi cũng mê trò phá tổ chim ngang với việc ngắm chúng. Cứ thế, chúng tôi phá không biết bao nhiêu tổ chim trải qua suốt tuổi thơ, cho đến khi tôi lờ mờ nhận ra: không còn cái gì để phá nữa. Chiếc tổ chim cuối cùng mà tôi bắt, con chim mẹ tao tác bay cuồng xung quanh, những lông cánh xơ xác của nó rơi ra, một cọng còn điểm li ti máu hồng. Đó là lần đầu tiên tôi đặt trả lại chiếc tổ chim và mấy con chim non trả về cho nó. Nhưng không hiểu sao con chim mẹ chỉ đứng từ xa xao xác kêu khản cổ, nhưng nó không bao giờ bay lại chiếc tổ cũ để mớm cho con. Vài ngày sau tôi sững sờ nhìn thấy xác chim non bị bỏ mặc trong chiếc tổ vấy mùi người.”

“Mùi người” đó cũng nồng đặc hơn trong không gian núi rừng Daklak, người Kinh xuất hiện mỗi năm mỗi nhiều, với những mánh khóe sinh tồn thời bao cấp mang về từ thị thành của họ. Vị cán bộ kiểm lâm từng một mình cầm súng chặn cả đoàn xe cán bộ khai thác gỗ trái phép đành bất lực trước những tờ công văn triện đỏ cho lệnh phá rừng hợp thức. Những con vooc bị lột da, hươu nai được thui sống ngay giữa chợ. Con suối sau nhà bị đặt bộc phá để vơ vét đến từng con cá nhỏ.

Ngày gốc cây cổ thụ ngay sau nhà, thân rộng đến gần chục người ôm, bị đốn ngã gây một tiếng động như một vụ nổ hủy diệt sau chót, cũng là lúc người hùng kiểm lâm biết ông đã hoàn toàn bất lực, cuộc đại xâm thực đã tiến đến tận thánh địa cuối cùng.

Ông bỏ nghề kiểm lâm, Trung Nghĩa theo cha mẹ đi làm rẫy và nuôi trong lòng mộng thị thành.

“Những cây gỗ lớn bị đốn hết rồi, người dân ùa ra thiêu trụi từng mảng rừng cây nhỏ để làm than mang ra chợ bán. Kí ức đường đi học của tôi là từng mảng rừng cháy đỏ chạy lan rừng rực sau lưng. Lửa, lửa ở khắp mọi nơi, lửa mang lại sự sống và văn minh cho loài người và đang kết thúc chính nền văn minh đó, con người và muông thú chỉ là một cái gạch nối ngắn ngủi giữa hai vụ cháy. Bản Mê trở thành thị trấn hoang đàng, người ta đi từng đoàn du lịch hay công cán, thực đơn giải trí là thịt rừng, rượu bản, gái dân tộc, rồi đến gái Kinh. Ngày tôi trở về thăm Bản Mê lần cuối vào năm 2 đại học, tìm ra con suối cũ và suýt dẫm phải kim tiêm vứt đầy lòng suối, tôi biết đó là lần trở về cuối cùng.”

21999_10151238045187686_1988281702_n

Hình ảnh những chiếc tổ chim mất dần trong kí ức thị thành, serie những bức vẽ tổ chim được đánh số thứ tự là một loạt thể nghiệm cuối cùng của Trung Nghĩa với khói màu. Không có không gian, không có câu chuyện, một vài nét phác của kỹ thuật thủ pháp được phô trương thi triển, chỉ là thấp thoáng bóng con chim non ngửa cặp mỏ tuyệt vọng vào khoảng không giấy trắng, hay ở một bức khác, chỉ một nhánh lông vũ lâm thâm những đốm máu đã ngả bầm.

Trung Nghĩa chần chừ “Tôi xin phép giữ lại câu chuyện của bức tranh này cho riêng người nào sẽ sở hữu nó”.

Gã ngại ngần trước thứ “mùi”riêng được chia sẻ đến tận cùng, và yêu cầu được tôn trọng, như tôn trọng chạc cây cuối cùng của gã người rừng cô độc.

Trung Nghĩa trở về Sài gòn, chính thức bắt tay vào quá trình vĩnh viễn tẩy xóa cái “gốc rừng” lạc thời man mọi: “Tôi làm tất cả để thị dân hóa bản thân. Tôi – thằng nhóc người Kinh giữa đám trẻ con dân tộc, và thằng Tarzan giữa đám bạn học người thành phố, tôi muốn được thuộc về đám đông của những kẻ mạnh. Tôi cố gắng dấu nhẹm luôn cả đam mê vẽ vời và âm nhạc của mình, biến chúng thành những món tài vặt lấy lòng mọi người xung quanh, tôi e dè với mọi dấu hiệu có thể tố cáo bản sắc của chính mình. Tôi cũng sắm cho mình một đôi giày Adidas hợp mốt thị dân, tôi vẽ mấy bức chân dung bằng chì tặng bạn bè để được yêu quý, tôi gọi điện cho quản lý của các ca sĩ nổi tiếng mà tôi may mắn quen biết được, để rình đón xem họ thích hát gì, và tôi viết những ca khúc hợp thời trang và ngồi chờ được thừa nhận.”

Tuy không học hành bài bản, nhưng do lớn lên trong môi trường ca đoàn nhà thờ Tin Lành, được nuôi lớn bởi người mẹ dẫu tảo tần nhưng luôn cẩn trọng giữ lớp son đỏ trên môi, bởi người cha dẫu khắc khổ nhưng vẫn chăm ướp các đứa con trong âm nhạc thánh ca, Trung Nghĩa được làm quen với âm nhạc và nhạc cụ từ nhỏ, đủ để anh “giải mã” các ca khúc nhạc Hoa thời thượng lúc bấy giờ và “điều chế” thành những ca khúc thời trang Việt Nam theo cùng công thức.

Đương nhiên là gã người rừng trở nên đắt khách với món hàng mỹ nghệ âm nhạc của mình.

“Bản năng sinh tồn của đứa trẻ lớn lên giữa rừng đã giúp tôi ngụy trang và tồn tại giữa rừng rậm bê-tông của cuộc đời thành thị, kể từ năm trăm ngàn đồng công viết ca từ cho một bản nhạc Hoa lời Việt đầu tiên. Việc viết nhạc thời trang nuôi tôi sống tạm ổn để chờ ngày trở thành vĩ nhân vặt.”

Con trai người kiểm lâm, kẻ đã bị nền văn minh “kinh tế” của đồng loại xua chạy khỏi mảnh đất của mình, đã trở thành thị dân. Gã nhập cuộc với phe mạnh, mong được họ dung nạp, gã cho rằng sự cấp tiến hợp thời của gã sẽ hoàn thiện lí tưởng anh hùng chủ nghĩa bại trận của chính cha mình.

Giấc mơ mòn dần, mòn dần, cho đến ngày Trung Nghĩa thỏa hiệp: “Có thể là một cô vợ ngoan, mở một quán nước, tụ tập vài bạn bè nghệ sĩ lại đàn hát và tụng ca nhau. Dẫu sao cũng không là một người hùng bị phế truất khỏi trảng rừng cuối cùng của mình, tôi sẽ cắm chiếc dùi nhỏ lên một rẻo đất phần đô thị, và có lẽ như thế, cuộc sống sẽ được duy trì, và trôi qua”.

Và có lẽ đã là như thế, như bao nhiêu lần những bản ngã đầy góc cạnh đã mòn vẹt trên mặt ghế cóc café phố thị, nếu không có những cú tát tận mạng, đủ để văng bật ra tiếng hú của gã người Kinh lưu vong xa thị tộc.

175047_10151477583607686_210211348_o

Cuộc triển lãm của những tiếng thét vô thanh

Có thể đã có những cú tát nảy lửa, những lần sa cơ đến tận đáy như vậy, đủ để đánh thức gã người rừng bị ngụy trang quá lâu, hoặc một nội lực nào đó sẽ chỉ chờ đến ngày gã chạm đến tận đáy đời mòn để bật thốt một tiếng kêu mang thổ âm đặc biệt của đàn ông miền núi.

“Có người còn đã từng khuyên tôi tập nói giọng Sài Gòn, xóa mờ âm sắc miền Trung để ‘dễ làm ăn hơn’. Tôi nói thuần thục âm sắc cả 3 miền, tôi có thể vẽ chớp nhoáng với 2 cây bút chì cùng lúc trong 2 tay, tôi viết một ít nhạc thời trang, tôi vẽ một vài bức họa chì tán gái, tôi làm tất cả để vui lòng người khác.”  Nhưng ngày gặp nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên, một giảng viên và nhà nghiên cứu âm nhạc tại Úc, cũng là người am hiểu hội họa, Trung Nghĩa mang tất cả những gì mình có, tất thảy những món từng được dùng làm mánh khóe “hội nhập” của gã tại Sài gòn, vị nhạc sĩ thản nhiên xem qua và thản nhiên phủ nhận tất cả “Nếu đây là những gì cậu có, thì cậu chẳng có gì cho tôi xem cả!”

71777_10151306587502686_434027792_n

Đó chính là cú tát cuối cùng đủ sức hất văng cái lốt thị dân giải trí của gã thanh niên nhập cư. Gã tìm đến những chất đất bazan được lọc kết cầu kì nhất, căn hộ luôn nồng nặc mùi diêm sinh, đôi bàn tay gã lâm thâm vết phỏng.

“Lần đầu khi ngọn lửa bắn lên tay tôi, vết phỏng không lớn nhưng khiến tôi nhớ đến những con nai bị thui sống ở chợ, tôi nhớ đến thân mình giãy giật của chúng, và đôi mắt, những đôi mắt chẳng phải vô cớ mà văn nhân thị thành vẫn ca tụng trong thi ca. Chúng nhìn, to tròn, hoảng loạn, đau đớn. Chúng ám ảnh tôi, những đôi mắt. Đôi mắt của con vọoc tội nghiệp bị lột da, những con mèo con bị vứt bỏ, những con chó nhìn đau đáu qua song lồng trên những chiếc xe chở ra quán thịt cầy,…Còn tôi, khi đó tôi làm gì? Giãy nảy vì một vết phỏng nhỏ hơn đầu đũa trên da thịt mình”.

Gã cũng từng nuôi một con mèo, nhưng người ta đã đập chết nó, con chó của gã cũng bị người ta thuốc chết. Gã không bao giờ nuôi thú cưng nữa.

“Khi người ta bận rộn với việc tìm cách lớn lên, làm những chuyện lớn lao và có những bạn bè to lớn, người ta có thể quên đi rất nhiều thứ. Tôi cũng vậy, tôi đã từng quên đi ánh mắt của những con vật, bị xua đuổi, bị cướp con, bị chết cháy, bỏ rơi, hay lột da,  đầu độc. Tôi đã từng quên cách hiểu ngôn ngữ của chúng, cho đến khi chính tôi học cách thừa nhận bản ngã mình, và chịu ám ảnh đến tận cùng bởi những gì tôi nhìn thấy trong đôi mắt một con vật bất khả tự vệ. Chúng nhìn tôi, những con nai bị thiêu sống hay những con chó chờ giết thịt: “Tạo Hóa ban cho Người vị trí đầu tiên của chuỗi thức ăn, ban cho người quyền năng của Văn Minh, tại sao Người ăn thịt con, đốt cháy nhà của con,  hành hạ con, mặc những bộ da của con? Tại sao Người bỏ rơi chúng con?”

265169_10151229628282686_778509560_n

Phải chăng ta đã cùng nhau chứng tỏ với Thượng Đế rằng người đã sai lầm? Ta không minh chứng được quyền lực tối thượng bằng sự dẫn dắt của sinh vật đầu đàn, mà ta tàn phá như những kẻ xâm lăng man rợ.

“Những ánh mắt ấy chưa bao giờ rời khỏi tôi, chúng chưa bao giờ rời mắt khỏi loài người để cất lên câu hỏi vô thanh ấy. Ta chọn không nghe, ta chọn không thấy, ta chọn quay lưng và bước đi đó thôi. Ngay từ những loài vật có lẽ được thuần dưỡng đầu tiên và gần gũi nhất với con người cũng đang lên tiếng kêu cứu”.

Nhạc sĩ Lê Tuyên, chính người đã cho Trung Nghĩa gáo nước lạnh cứu rỗi cuối cùng, cũng tìm lại sự tương tác cảm hứng để từ bức họa cái đầu một sừng của con tê giác cô độc mà sáng tác nên bản nhạc kể lại câu chuyện lang thang tìm đồng loại của con tê giác Java cuối cùng tại Việt Nam, với cao trào của những tiếng nổ chát chúa bắn giật từ dây đàn căng cứng. Trong cuộc triển lãm và hòa nhạc Tiếng Gọi Núi Rừng vào tháng Giêng 2014 sắp tới, như một sự tình cờ ắt nhiên, khi Trung Nghĩa quyết định đưa vào triển lãm hình hài những con vật bị đe dọa ngay tại đô thị mà theo anh mô tả “rất có thể chỉ là một đôi mắt, đôi mắt của con nai bị thui sống tôi nhìn thấy trong chợ, hay những con mèo bị bỏ vào túi nylon cột chặt thả trôi sông, những con chó nhìn đau đáu vào tôi từ phía sau những chiếc rọ nhốt chung trên đường ra lò mổ”, thì người bạn lớn của anh, nhạc sĩ Lê Tuyên cũng sẽ trình bày tác phẩm ngắn kể lại kí ức của ông về câu chuyện của một chú chó con có thật, chú chó mà ông từng phải cho đi trong một cái hộp giấy, nó ngước mắt nhìn nhạc sĩ, và khoảnh khắc đó, ông tin rằng nó đã khóc.

“Tiếng gọi của núi rừng có thể là một thanh âm xa lạ với những đôi tai thị dân, nhưng tiếng kêu cứu thống thiết của thiên nhiên đang cất lên ngay giữa lòng phố thị đó vẫn hiện diện hàng ngày và rất ít, quá ít người đáp trả”

Trong cuộc triển lãm lần này, Trung Nghĩa sẽ tiếp tục đáp trả theo cách của mình.

“Có tài năng, sử dụng được tài năng và sống được với tài năng là 3 chuyện hoàn toàn khác nhau. Tôi được sinh ra là một anh chàng có khiếu, nhưng cái khiếu ấy, với cả âm nhạc lẫn hội họa, chỉ dừng lại ở mức độ tài lẻ.

Tôi sáng tác được nhạc, dựa theo công thức sẵn có của một ca khúc thị trường, tôi hoàn toàn có thể bẻ vài note nhạc để biến nó thành một ca khúc mới hoàn toàn. Tôi vẽ vung vít trong trường với hai cây viết chì cầm ở hai tay, bạn bè lác mắt, và những cô nàng nhận những bức chân dung tôi tặng chỉ phì cười.

Với khả năng âm nhạc của mình, tôi chọn làm theo sự đặt hàng để vừa lòng các ca sĩ. Tôi chưa bao giờ thành tâm yêu nó, thú thật là vậy. Tội lỗi của tôi là đã xem âm nhạc như một mối quan hệ có thể lên giường mà không cần tình yêu.

Tạo Hóa cho tôi một thanh kiếm, tùy nghi, và tôi đã chọn múa may như một đứa con nít với thanh kiếm nhựa!

Cho đến khi tôi tàn tật hoàn toàn!

1233991_10151644847032686_338184717_n

Đến tận bây giờ, với hội họa, tôi mới đang học cách sử dụng tài năng. Quá muộn ư? Tất cả những kiệt tác đều đã được sáng tác. Khói ư? Lửa ư? Kể cả máu ư? Kỹ thuật vẽ bằng bút lửa ở các nước láng giềng đã được phát triển khủng khiếp, đến độ một bức tranh kỳ vĩ chỉ được coi là hàng sản phẩm mỹ nghệ chứ chưa được xem là hội họa chính thống. Vậy tôi sẽ làm gì với đống phân dơi phơi khô và những miếng đất cao nguyên của mình?

Tôi không quyết định gì về ý nghĩa của những chất liệu của hủy diệt mà chúng đến với tôi, thuần túy dựa vào kí ức của đứa trẻ người Kinh sống trong rừng. Tuổi thơ tôi chỉ là thế, đất đỏ, và tất cả những gì của nền văn minh hủy diệt mà người ta mang đến để phá rừng và khẳng định quyền bá chủ”.

Phân dơi sẽ chỉ là phân dơi trong tay một gã nghệ sĩ nửa mùa, chất nổ sẽ trở thành công cụ hủy diệt trong tay một thợ săn trộm, và cây bút lửa sẽ chỉ là một dụng cụ mỹ nghệ trong tay một nghệ nhân thủ công. Đứng trước đống chất liệu ngổn ngang trong khi những kiệt tác đều đã được sáng tác, gã người rừng chọn tâm thế của riêng mình, những kí ức mà không nghệ nhân Trung Hoa nào sẻ chia được, nỗi đau mà không gã nhạc sĩ showbiz nửa mùa nào có thể sao chép được. Kí ức núi rừng đã cho Trung Nghĩa biết vết khói màu lem trên túm lông bói cá ấy có giá trị của cả một thông điệp, chứ không chỉ là một lỗi hỏa biến.

Nói một cách khác, Trung Nghĩa chọn cởi tấm áo thị thành, và bước vào khung tranh, trần trụi như chính nhân thân đầu tiên Tạo Hóa ban cho gã: con trai người kiểm lâm.

882663_10151328288527686_1222075964_o

nhân vật và tác giả, tháng 09 2013

nhân vật và tác giả, tháng 09 2013

ả Khàn hàng bún

Trác Thúy Miêu

Profile:

Đeo đuổi giấc mộng hò hẹn chân dài, anh hãy chọn ra một diva sáng giá của những sàn diễn gắt gao nhất, cô nàng làm dậy sóng khán đài và khiến một buổi trình diễn thời trang cũng rần rần tiếng reo hò quá khích của sân vận động Lạch Tray mỗi khi nàng xuất hiện.

Không quá khó để chọn ra nàng giữa thế giới của các ả hồng hạc yểu điệu trên sàn runway Sài-gòn, bởi không có nhiều hiện tượng như Trang “Khàn” giữa tên tuổi những cô nàng cục cưng của ngành thời trang Việt.

Đôi năm trước, ngay khi sự nghiệp đang khởi sắc lẫy lừng, nàng đột ngột biệt tích. Người ta đã mất công đồ đoán khá nhiều về tay đại gia cự phách nào đó đứng sau vụ mất tích chiếm hữu kiều nữ không phanh này.

Nhưng không có gã đại gia nào cả, và cũng không có nhẫn kim cương. Trang Khàn đột ngột tái xuất, và bắt tay vào…bán bún.

Sau đó là liên tiếp những hình ảnh cô nàng lăn xả vào xào nấu tung hoành trong các bếp ăn từ thiện, và hầu như không còn một thông tin ngoài lề nào về đời tư hay những phát ngôn lấc cấc của nàng.

Sau đó là nàng tuyên bố…đi tu.

Và mới đây, nàng đi đóng phim…ma.

Một cô ả bất thường.

Mặc nhiên, đó là một cô nàng sáng giá.

1146878_486768524746058_1753090479_o

Lời nguyền cấm khẩu

Đương nhiên, ông bạn sành sỏi sẽ tìm một quán ăn hợp ý người đẹp, thận trọng không quá săn đón trong việc đón đưa bởi nàng thích độc lập. Một quán chay vào bữa trưa được coi là phù hợp hoàn toàn cả với đời sống tâm linh thuần khiết lẫn thời gian biểu bận rộn của một con dân làng giải trí.

Ông bạn chờ đợi gì? Một cô gái có trái tim bác ái và tư cách đồng trinh? Hay một sự xuất hiện xứng tầm đáng để ông bạn mát mặt về bữa hẹn hò với một người mẫu danh tiếng lẫy lừng, một con ngựa bất kham tung vó trên sàn nhan sắc?

Người mẫu Trang Trần, đúng là nàng, rầm rộ đá chống xe, quạt cẳng chân dài loằng ngoằng khỏi yên xe máy, hùng hồn tháo giật mọi món phụ tùng từ khẩu trang đến cái nón lưỡi trai như của mấy tay chuyên chụp bóng chày. Bộ quần áo hẹn hò của nàng là một thứ thời trang không thể gọi tên, theo trường phái thẩm mỹ của mấy bà chị chiều chiều hốt hụi tiểu thương. Chắc hẳn chúng được lôi ra khỏi tủ quần áo một cách hoàn toàn ngẫu hứng. Thoăn thoắt búi ngược mái tóc lên đỉnh đầu và sải đôi trường túc xỏ dép lê, ả Khàn khét tiếng đùng đùng tiến vào quán.

913774_606304059399599_1405566154_o

Hãy suy nghĩ thật nhanh, anh bạn dại dột, một khi anh còn đường thoái thác thối lui. Cô gái này hoàn toàn không phải cuộc chơi nhàn hạ của thú tri kỷ tiêu dao ngàn đời giữa các người đẹp và đại gia.

Nhưng có lẽ ả cũng đủ sâu sắc để hiểu rằng nếu anh bạn tìm kiếm một tấm nhan sắc đã được thuần dưỡng, anh bạn sẽ chẳng tìm đến một ả Khàn hàng bún.

“Tôi lớn lên như một đứa con gái lanh lợi và dư dả chiều cao so với bạn bè xung quanh, được coi là đẹp, là sang, là “trông như người mẫu”. Nhưng khi bước vào môi trường nghệ thuật diễn xuất, và sau đó là thời trang, tôi lại là cô gái… kém sắc nhất. Các cô gái đẹp thi vào trường diễn viên để vào vai những nàng Bạch Tuyết da trắng môi son. Nhưng Bạch Tuyết chỉ có một, mà người ta có tới bảy chú lùn, và không có truyện cổ tích nếu không có các bà phù thủy. Từ khi đó, tôi đã độc chiếm cho mình những vai diễn trực tính, hoặc phản diện. Khuôn mặt xương xẩu và chất giọng khàn đặc chỉ cho tôi được như thế”.

Trước khi ra trường, ả đã khẩn khoản được thủ diễn một vai chính diện, đương nhiên là một cô công nhân xinh đẹp và bình dị. Trang Trần đã làm việc cật lực để thuyết phục người xem rằng ả hoàn toàn “trông như một cô gái đẹp”. Mọi việc mỹ mãn cho đến khi ả cất giọng thoại và hiện nguyên hình là một tinh thần Siu Black bên trong ngoại hình bé Xuân Mai: “Từ khi còn đi học, tôi đã nghe chán chê những tiếng kêu gào của thầy cô ‘Trang ơi, không chạy nữa! Không được cẩm chổi đánh bạn!…’ Tất cả những gì tôi có để đáp trả, là một vai diễn cô công nhân thuần phác, mong manh, cho đến khi tôi bắt buộc phải cất tiếng bằng cái cổ họng phản chủ. Nhưng tôi đã thử!”

Ả bỏ vào Nam với lời nguyền sẽ tỏa sáng ở một nơi nào đó người ta có thể diễn xuất mà không cần…mở miệng. Dĩ nhiên là ả không tìm đến với kịch câm, một khi mà thế giới thời trang sẵn lòng trải thảm đỏ dưới mọi đôi chân dài và showbiz cũng hoan nghênh một khẩu khí đầy thái độ – thứ mà ả có đến dư thừa.

964636_10200131832723955_1673590713_o

Từ đặc ân Gái Xấu…

Lại một lần nữa, ngay sau một khoảng thời gian trầy trụa tạo chỗ đứng, Trang Trần xuất sắc trong vai trò ‘gái đẹp’. Ả nổi nhanh như cồn, phát ngôn bạt mạng, và càn quét mọi đường runway sáng giá. Ả không cho phép bản thân bị lãng quên hay nhạt trò.

Người ta tin là ả đẹp đến nỗi cuối cùng thì vai diễn phim nhựa đầu tiên cũng đến tay.

Và đây là lúc, thay vì khẳng định vị trí “gái đẹp đóng phim”, Trang Trần lồm cồm chào sân điện ảnh trong bộ cánh một…con ma:

“Số phận không dành cho tôi đặc ân của mộ cô gái đẹp, còn tôi thì quyết giữ cho mình những đặc ân chỉ dành cho những cô nàng không-đẹp. Tôi không san sẻ với bất cứ ai, tôi giành việc của cascadeur và đòi tự đóng những cảnh khó, bị treo lộn ngược nhúng đầu vào nước, bơi giữa các xác thú chết hay tự tay cầm đuôi một con vật mà tôi sợ xưa giờ là con chuột. Tôi coi đó là những đặc ân của một cô gái biết diễn, chịu diễn, chúng giúp đẩy cảm xúc nhân vật đến tột cùng căm phẫn, lí giải cho sự thoái hóa về tâm lý vào cuối phim. Tôi chấp nhận hầu như tất cả, dẫu chỉ để không là một chân dài đóng phim bất kì nào khác. Tôi là một diễn viên được đào tạo bài bản, và yêu nghề.

Trước khi nhận vai diễn trong Biết Chết Liền, tôi đã cùng lúc phải cân nhắc với một vai ‘đẹp” khác. Tôi sẽ là một cô gái đẹp, mặc những bộ váy đẹp, nhưng số phận của một cô gái đích thị bị hủy hoại đến thành ma thì đất diễn lại phong phú hơn”.

Gái xấu thì cam chịu thiệt thòi. Thậm chí ả không hề có mặt trên shot ảnh chụp poster quảng cáo hào nhoáng treo trước cửa rạp cine.

Đương nhiên là Trang Trần nhảy dựng lên vì tự ái, cho đến khi sự khéo léo dàn xếp tuyệt hảo của nhà sản xuất đã thuyết phục ả với lí do “sự xuất hiện trong dung mạo cổ quái của Trang Trần là quân chủ bài chỉ tung ra vào phút cuối để tạo hiệu ứng bất ngờ với khán giả”.

Đó là một tay cực kì thông minh, anh bạn có thể học từ tay này rất nhiều.

Bạn đừng nên ca tụng nhan sắc một Trang Trần.

Thay vào đó, hãy cho cô nàng biết rằng bạn ghi nhận tuyệt đối năng lực của nàng, dù là trong vai diễn một con ma xấu điêu xấu đứng.

“Đặc quyền của gái không-đẹp chính là những cuộc tra tấn trước ống kính, những trầy trụa sứt sỉa sau mỗi đợt quay. Không, nhiều hơn thế, không mấy cô gái đẹp được trải nghiệm lòng căm hận, những hiểm nguy cận tử, và sự biến dạng của cả tâm hồn lẫn ngoại hình và có được khoái cảm chinh phục được vai diễn ngoài tầm trải nghiệm một kiếp thường”.

551537_10151464635534387_246826787_n

…đến Gái Đẹp được miễn giảm thông minh

Và nàng là như thế, không phấn son, không có những chiếc váy hợp mốt và lớp trang điểm cầu kỳ lúc giữa trưa, không ngốc, nói chung là không có bất kì dấu hiệu nhận biết thông thường nào của cái gọi là “label gái đẹp”.

Khi bạn chia sẻ với cô nàng cọc tính nhận định có vẻ nịnh đầm khéo léo này, ả lập tức xù lông nhảy dựng lên, phát ngôn đầy khẩu khí ở tư cách người đại diện của thế giới những thanh trường túc: “Ai bảo cứ đẹp là ngốc? Đơn giản là họ không cần phải vận dụng đến trí thông minh. Tại sao lại phi lý với chính mình thế, khi mà phần số và xã hội đã dọn sẵn những ưu đãi hậu hĩ cho bạn, và tất cả những gì bạn phải làm là đừng để họ phải thất vọng nếu một ngày bạn chểnh mảng về hình thức ngoại hình của mình. Chúng tôi cũng như quý anh, quý ông thôi. Hễ cứ bộ phận nào không sử dụng lâu ngày thì nó yên ngủ hoặc hao mòn. Vậy, nếu anh không cam lòng bắt một cô gái đẹp phát minh ra hợp kim thông minh để may quần áo và chế tạo tàu du lịch vũ trụ, hay không nỡ bắt một nữ diễn viên xinh đẹp vào vai xấu xí, thì cũng xin đừng đánh giá thấp hay chế giễu họ bộ não be bé xinh xinh không tì vết của họ. Nếu tôi đẹp như họ, tôi cũng sẽ có những vai diễn êm mượt giành cho mình, tôi cũng sẽ dễ dàng có được vị trí catwalk ưu đãi hơn mà không cần quá khắc nghiệt với chính mình từ những lúc diễn tập”.

Điều này hoàn toàn không có nghĩa là các cô gái không-xinh thì đều bản lĩnh, giàu cá tính, giỏi tán hay bán bún đậu đắt hàng, bạn sẽ kiên định với chủ trương nịnh đầm triệt để nhằm vào con ngựa bất kham đang nổi khùng trước mặt. Và nàng cũng không hẳn là chối từ thiện chí đó: “Hẳn nhiên, một chút mặc cảm về ngoại hình có thể đánh gục một người đàn bà. Nó đeo đuổi cô gái từ khi còn trẻ. Họ có thể không xấu xí, nhưng chỉ là một nhan sắc không-có-gì-đặc-biệt, và điều này có thể dìm họ vĩnh viễn vào vai những diễn viên quần chúng trên phông cảnh kịch bản số phần. Cuối cùng thì mọi kịch bản cuộc đời đều cần đến họ ở số lượng lớn. Tôi thì không, tôi không yêu sân khấu theo cái cách cam chịu làm diễn viên chạy cờ ăn lương tháng!”

Và từ đó, trên sân khấu cuộc đời, vẫn có những cô đào phụ, những nàng Bạch Tuyết môi đỏ má hồng, và có cả một Trang Khàn không giống ai trong hai số đó.

941220_444051205684457_1483834613_n

Cái váy của người đàn ông thành đạt

Cuộc chuyện trò bữa trưa đã xế nắng, và cô người mẫu trước mặt bạn đã sẵn lòng cho phép mình mềm mại hơn.

“Tôi xoay sở cho mình ổn thỏa trong thế giới của gái đẹp, tôi hoàn toàn thoải mái và tự hào về bản thân và ngoại hình của mình… cho đến khi đàn ông vào cuộc. Cuộc tình cuối cùng của tôi nhắc cho tôi nhớ mình vẫn chưa hoàn toàn bất khả xâm phạm. Anh ấy đã không đến với tôi như đến với một cô gái đẹp, nhưng trước xã hội, anh ấy mặc nhiên vào vai tay đàn ông có người yêu là người mẫu chân dài. Đó là một điều đáng hãnh diện đối với bất cứ người đàn ông nào, cho đến khi cô người yêu xuất hiện, giọng lào khào như đàn ông, ưa quần short dép lê, và mặc dù ở bên cạnh anh, tôi yêu thương đến mức phục tòng, tôi rời bỏ Sài-gòn và sự nghiệp, nhưng anh lại bị đánh gục, rất có thể chỉ bởi nguyện vọng giản dị rằng tôi sẽ mặc những chiếc váy bó gợi cảm, rồi nép vào bên cạnh anh, ít nhất là trước mặt bạn bè”.

Bao nhiêu năm mưu sinh và phát triển bản thân, những dèm pha soi mói đã không còn chạm đến Trang Trần được nữa. Nàng có được cho mình bộ giáp trụ sáng choang hoàn hảo. Cô nàng đắc thắng tội nghiệp, nàng đã không ngờ rằng ngay khi ướm thử quyết định gắn kết cuộc đời với một vũ trụ khác, nàng đánh đổi không chỉ catwalk Sài Gòn, mà cả bộ giáp trụ của mình. Showbiz đào luyện cho nàng trước mọi dèm pha, nhưng người đàn ông của nàng thì không.

Những cô ả bất kham, họ mạnh mẽ và tự tại hơn khi cô độc, và nếu người bạch mã hoàng tử không đủ bản lãnh, chính anh ấy sẽ thay mặt xã hội mà tấn công nàng.

‘Tôi đã có thể rời bỏ sự nghiệp vì người đàn ông, nhưng không thể vì anh mà mặc váy, khi tôi chưa muốn!”

Bạn sẽ thầm hiểu điều này còn có nghĩa là: “Và nếu bản lĩnh đàn ông của anh có thể bị tổn thương vì chuyện cái váy, thì anh đi mà mặc váy, điều đó hợp với anh hơn!”

922262_434897859933125_1044531017_o

Phải chăng đó là nguyên nhân một kiều nữ với mọi sóng gió lẫn ưu đãi của số phần, vẫn sinh ra để bổ khuyết cho đời sống ái tình của một người đàn ông thành đạt?

“Dĩ nhiên, tôi khẳng định chỉ có người đàn ông thành đạt mới đủ bản lĩnh để tán tỉnh hay chinh phục tôi. Thương trường hay sự nghiệp sẽ trau luyện cho kỹ năng sống của anh ấy, và chỉ có một thu nhập cao mới khiến cho anh ấy thoải mái khi yêu một cô gái cũng tự lập hoàn toàn về tài chánh và giỏi xoay sở. Ít nhất, sự thành đạt sẽ bảo vệ anh ấy khỏi nguy cơ tự ti về bản lãnh sống trong xã hội và thu nhập khi là người yêu, hay chồng của tôi”.

Chỉ có điều nan giải, đó là phần lớn họ, những người đàn ông thành đạt, họ ngộ nhận khá nhiều về cái quyền chọn lựa, nâng lên và đặt xuống, trong ái tình, và phần lớn những gã đàn ông thành đạt không có nhu cầu vào cuối ngày phải về nhà xăn tay áo chơi trò gồng tay với cô nhân tình đầu bò đầu bướu.

966360_10200150539791620_480810255_o

Gian nan đường đến nồi cơm điện

Một số đàn ông thành đạt khác sẽ nghiêng mình trước một cá tính Trang Trần, những tay ở tầm mã thượng hơn, sẽ bao dung trước lối phát ngôn của cô nàng trực tính.

Nhưng rồi họ lại cần những nhân tình có tính chính thức, an toàn và thường trực để biến thành vợ…

“Ngớ ngẩn là họ thường muốn uốn người tình thành vợ, rồi lại trốn vợ đi đến với người tình, một cô nàng cá tính nào đó mà họ không bao giờ còn phải mất công uốn nắn, mài nhẵn và đặt vào cái khung kính gia đình.

Không hẳn là tôi lên án thói trăng hoa, tôi thừa ‘nam tính’ để chấp nhận rằng thói trăng hoa nằm trong bản năng của giống đực. Chỉ tiếc, thưa các anh, rằng các anh là những tay nói dối kém cỏi. Tôi đủ thông minh để không coi lén điện thoại nên rất xem trọng anh nào có lỡ nhẹ dạ cũng xác định lúc tàn cuộc chơi: đủ tỉnh để không nghĩ món quà vặt ăn vụng ấy là ái tình. Bi kịch là ở chỗ các anh chẳng bao giờ đủ khôn để phân biệt được. Và phần lớn phụ nữ cũng chẳng bao giờ đủ khôn để không lục điện thoại chồng.

Tôi đã học phần khôn của mình, và bây giờ chỉ còn việc đợi gặp người đàn ông nào đã hoàn tất phần học khôn của chính anh ấy, rồi cùng nhau thẳng tiến đến cái…nồi cơm điện’.

Từ khi bỏ gia đình vào Nam lập thân, ả thừa ngang ngạnh và lì lợm để chưa bao giờ phải hồi gia trong tâm thế bại trận thất thểu.

Nhưng sau khi đào tẩu khỏi vùng sáng showbiz để chạy theo ái tình, và thất bại, người ta lại thấy Trang Trần tái xuất. Nàng nhợt nhạt hơn, ít xuất hiện tại các sự kiện, một tay gầy dựng phong trào bún đậu mắm tôm Sài Gòn, các sự kiện thảm đỏ được thay bằng những chuyến đi chùa làm việc phước.

Trang Trần bắt đầu được gọi là Cô Khàn nhiều hơn, như một thương hiệu quà vặt địa phương, như một điều kém long lanh, nhưng gần gũi.

Người ta không còn nghe Cô Khàn nhắc đến đàn ông.

“Tôi không muốn gọi đó là một vết thương tình cảm, nhưng nó có khiến tôi cẩn trọng hơn. Đứa con gái tự lập sẽ luôn tự hình thành nên bên trong mình một nửa đàn ông để tự bảo bọc chở che cho chính mình. Khi tôi gặp người đàn ông xứng đáng để là ‘một nửa của mình’, tôi trở về với mọi thuộc tính đàn bà, và sống thong thả hơn. Nhưng nay thì ‘một nửa đàn ông’ trong tôi khắc nghiệt hơn trước nhiều, gia trưởng và đa nghi hơn trước rất nhiều. Nếu có ai muốn đến với tôi lúc này, anh ta sẽ phải đấu tay đôi với ‘thằng’ Khàn trước khi chinh phục được ‘cô’ Trang.

Nếu ngày trước, chỉ một lời mời ăn tối có thể khiến tôi diện một chiếc váy gợi cảm, trang điểm lâm li và làm mọi trò dễ thương để chinh phục được ý trung nhân theo cung cách của mọi cô gái. Nhưng bây giờ, nhận một lời mời ăn tối, tôi sẽ rủ anh chàng ra quán nhậu, nơi tôi ngồi chồm hổm với cả một lũ bạn bè cười giỡn thả ga và nói bậy lem lẻm”.

Có vẻ cô nàng người mẫu ‘ngông không phanh’ không hẳn đã tuyệt vọng với ái tình, nàng chỉ tỏ ra cực kì cẩn trọng với những kì vọng. Nàng tỉ mỉ chọn lựa, và kiên quyết đẩy bật ngửa ngay từ đầu những đấng nam nhi kém vía, những kẻ không nắm trong tay tấm vé tham gia trò giải cứu người đẹp khỏi ‘một nửa đàn ông’ đang tung hoành và phong tỏa cuộc đời của chính cô nàng.

Vừa khắc nghiệt, vừa yếu ớt đến xiêu lòng, nàng thở hắt ra, và rành mạch từng âm tiết một, bằng cái giọng khàn đục trứ danh của mình: “Tôi không còn sức để yêu và để bỏ thêm một lần nữa!”

1265807_10200788385688862_998129010_o

(bài đã được sử dụng trên tạp chí Men&Life)

tay tài-tử Đông-dương

Trác Thúy Miêu

“Hoa Kỳ, hay châu Úc, là những quân thể xã hội đa chủng. Nền văn minh đa chủng dựa trên sự tôn trọng giành cho những nét văn hóa du nhập vào quần thể văn hóa bản xứ. Trước khi kịp phẳng hóa bề mặt thế giới và hô hào hội nhập, tốt hơn hết hãy giữ cho Phở được là Phở, Áo Dài vẫn cứ là Áo Dài, và spagetti không hề là món “nui xào kiểu Ý !”

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Vị giáo sư mấp mé bên đường biên giải trí

Người ta biết đến ông qua hai đêm diễn song tấu với nhạc sĩ – giáo sư âm nhạc Salil Sachdev tại thành phố Hồ Chí Minh trong buổi triển lãm phối hợp hội họa-âm nhạc về động vật hoang dã mang tên Giấc Mơ Tây Nguyên. Chỉ sau cuộc hành trình với cồng chiêng Tây Nguyên của năm 2012, mới đây, giảng viên trường Đại học Quốc gia Australia Nguyễn Lê Tuyên lại trở về với một cuộc chơi hoàn toàn mới mẻ cùng bản kí âm cổ xưa nhất lịch sử âm nhạc tài tử Việt Nam do nhà dân tộc học Julien Tiersot ghi chép vào năm 1900.

Dường như người đàn ông ấy vẫn còn miên man vong thân liên tiếp vào những cuộc chơi đình đám của âm thanh và nhạc cụ, tuần tự trình bày lên bàn tiệc văn hóa của lớp thính giả cầu kỳ những món công phu nằm ngoài vòng hào quang của mảng âm nhạc giải trí đã đến hồi nhạt miệng.

“Đối với tôi, không có thứ âm nhạc không có tính giải trí. Giới trẻ nghe đến vọng cổ hay đờn ca tài tử, chèo, quan họ, là họ rùng mình nhăn mặt trước khi dám đủ liều, đủ phóng khoáng để tự chiêm nghiệm lấy. Tôi thấy tôi, với sở học về âm nhạc cổ điển Tây phương, hóa ra lại ‘trẻ’ hơn những thanh niên hiện đại”

Giáo sư Lê Tuyên theo học và giảng dạy về âm nhạc cổ điển phương Tây, nhưng chính sự trọng thị âm nhạc cho ông một điều kiện cơ bản để đòi hỏi tìm đến những sự thú vị và xa lạ. Ngay trong quá trình nghiên cứu, ông lại bắt gặp câu chuyện về một vũ điệu Đông phương của cô đào tuyệt sắc người Pháp – yếu tố giải trí hiếm hoi đã thu hút sự chú ý của công luận thời bấy giờ, là điều kiện duy nhất khiến ngày nay vẫn tìm thấy những tư liệu ghi chép lại buổi công diễn huyền thoại ấy. “Người Pháp đã mời cô Cleo de Merode múa trên giọng đờn Nam Bộ không nằm ngoài mục đích gắn liền tính giải trí hấp dẫn với một mảng nghệ thuật hương xa khi ấy còn quá xa lạ với công chúng phương Tây. Cô đào Merode đã hoàn thiện sứ mệnh cầu nối giữa giải trí và nghệ thuật ấy, và chúng ta ngày nay có được những tư liệu vô giá về bản kí âm cổ xưa, đặc biệt có ý nghĩa khi hồ sơ về đờn ca tài tử đang chờ được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể không phải chỉ của Việt Nam mà của toàn nhân loại.

Chúng ta nói rất nhiều về thế giới phẳng. Trên thực tế, ta không làm nên điều đó, bản chất của thế giới trong ngôn ngữ của âm nhạc, đã phẳng từ rất lâu”.

Chính sự xuất hiện của nữ vũ công tài sắc nước Pháp hơn 100 năm về trước đã vô tình gợi ý cho vị giáo sư đạo mạo một dự án liều lĩnh để đưa đờn ca tài tử vào lãnh địa giải trí mà chính ông chưa từng sờ chạm tới: điện ảnh. Ông muốn truyền tải câu chuyện của đờn ca tài tử xứ An Nam giữa bối cảnh nước Pháp và chuyện tình xuyên lục địa. Một hơi hám L’amant nội địa.

Một dự án điện ảnh được hình thành, một nhà biên kịch và một đạo diễn được lắp vào như những mảnh ghép phù hợp, và trang web indochinatheatre.com được thành hình chỉ trong vài ngày với tất cả sự phấn khích đầy máu liều nghệ sĩ lẫn cái đầu nhiệt thành của một gã đàn ông ham vui.

“Bên trong tôi vẫn luôn là đứa trẻ nít, và có lẽ trong mọi đàn ông đều vậy. Các nhà nghiên cứu, các học giả, những vị nghệ sĩ,…tất cả chỉ cần được bắt đầu với sự tò mò, kích thích, hay thậm chí là một lời khích nhằm vào yếu huyệt sĩ diện tự tôn là đã đủ để vận hành cỗ máy năng lượng vô tận bên trong mỗi người đàn ông. Một khi khai thác theo cách cực đoan nhất, ngần ấy năng lượng đủ để xoay vần thời cuộc và làm nên những cuộc chơi đẹp mắt, giàu ý nghĩa, cho cuộc đời một người đàn ông”.

 DSC_5544

Kimono, mojito, và vị học giả bị chọc tức

Tất cả đã bắt đầu như thế, trong lộ trình của giáo sư họ Nguyễn với đờn ca tài tử, đã bắt đầu từ một vụ khích tướng vô tình.

Mồi lửa đầu tiên khởi động cả một cỗ máy cầu kỳ đã được khai hỏa bởi lòng tự tôn ăn sâu trong tiềm thức ông thầy đờn Tây học khi nghe luận cứ có ít nhiều bài bác của một học giả người Hương Cảng, khi chuyển ngữ cụm từ “đờn ca tài tử” là “amateur music”.

“Khi nghe điều này, dù người đồng nghiệp nọ chỉ chuyển ngữ mà không hề mang ý kỳ thị, nhưng đó là một thái độ nghiên cứu nông cạn và sự thiếu tôn trọng khi chuyển ngữ tên gọi các nét văn hóa quốc gia trước khi đưa ra thế giới. Cả thế giới mặc kimono làm áo khoác tắm, gọi món pizza qua điện thoại và uống mojito mà không cần chuyển ngữ.

Hoa Kỳ, hay châu Úc, là những quân thể xã hội đa chủng. Nền văn minh đa chủng dựa trên sự tôn trọng giành cho những nét văn hóa du nhập vào quần thể văn hóa bản xứ. Trước khi kịp phẳng hóa bề mặt thế giới và hô hào hội nhập, tốt hơn hết hãy giữ cho Phở được là Phở, Áo Dài vẫn cứ là Áo Dài, và spagetti không hề là món “nui xào kiểu Ý”.

Cả một lộ trình nghiên cứu miệt mài lôi cuốn theo nhiều bằng hữu từ các lãnh vực khác để tạo nên một bệ đỡ hoàn hảo để đặt âm nhạc tài tử trở về đúng vị trí của nó trong kho tàng di sản của nhân loại,… tất cả được bắt đầu từ một thứ ai cũng có: lòng tự ái.

Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng với hàng loạt các phiên bản truyền khẩu của thời khẩn hoang lập thành Gia Định, đờn ca tài tử đã từ xuất xứ cung đình mà trở thành một sinh hoạt văn hóa làng xã chung của khắp miền sông nước Nam Bộ. Đó là nền văn hóa nghệ nhân dân gian, hơn là một nghệ thuật đầy tính hàn lâm học thuật.

“Các nghệ nhân cung đình, các sử gia và nhà nghiên cứu âm nhạc trở thành những tay chơi nửa mùa ‘amateur’ chỉ vì cách hiểu từ ‘tài tử’ theo kiểu biến dạng khẩu ngữ. Điều đáng coi là đau lòng là khi đa phần người Việt cũng không biết rằng nhạc tài tử có nguồn gốc từ nhạc cung đình Huế, du nhập vào miền Nam cùng các đợt lưu dân hồi đầu thế kỷ 19, các phiên bản ứng tác truyền khẩu được phát thịnh qua lễ hội và đời sống dân gian làng xã vùng Gia Định.

Theo quyển tự điển “Đai nam quốc âm tự vị” (1895) của Huỳnh Tịnh Paulus Của thì chữ tài tử có ghi chép lại nghĩa của từ này nguyên văn là ‘bọn chuyên nghề cổ nhạc’.

Đến bản tự điển của nhà sách Vĩnh Bảo năm 1951 mới ghi nhận chữ tài tử đã có thêm một nghĩa mới như là ‘amateur’: “Chỉ người chuyện về một nghệ thuật nào, chỉ vì thích nghệ thuật đó, chứ không phải dùng tài để mưu sinh.

Nếu nói như vậy, thử hỏi ở khắp Âu châu, người ta vẫn bắt gặp những nghệ sĩ đường phố chơi nhạc Bach, Mozart hay Schubert, nhưng như thế đâu có nghĩa là âm nhạc của Bach, Mozart và Schubert là âm nhạc đường phố?”

 bush

Nàng thơ 138 tuổi và cơn say tình xuyên thế kỷ

Lòng hãnh tiến đã khai hỏa cuộc chơi, nhưng chính tình yêu đã nuôi và duy trì cho một cuộc đeo đuổi dài hơi đầy tính chuyên nghiệp.

Cũng chính trong những cuộc viễn chinh ngược thời gian, lần theo dấu vết những đoàn nhạc công tài tử đầu thế kỷ 20 sang Pháp để trình tấu trong hội đấu xảo Marseille, vị giáo sư An Nam gặp trận “say nắng học thuật” với nàng thơ Cleo de Merode – giai nhân Phú Lang Sa cách ông gần 2 thế kỷ.

“Việc nhà tổ chức người Pháp muốn cô Cleo de Merode xuất hiện tại buổi biểu diễn hoàn toàn không khác gì sự có mặt của một minh tinh showbiz trong một cuộc triển lãm hội họa vậy – nhằm mục đích lôi kéo sự chú ý của công chúng và tăng tính giải trí cho sự kiện, mà họ e ngại rằng dù lạ lẫm thú vị, nhưng còn xa lạ với công chúng Pháp. Cleo de Merode là một vũ công nổi tiếng thời bấy giờ, nhan sắc hơn người, cô đẹp và kiêu hãnh đến độ đã khẳng khái chối từ lời cầu hôn của một bậc quân vương là vua nước Bỉ lúc bấy giờ, để vĩnh viễn sống tự do với nghệ thuật mà cô yêu thích. Khi được yêu cầu múa tại buổi diễn đờn ca tài tử, cô Cleo đã sử dụng một vũ kịch ngắn mang cốt truyện của người Chà Và, nhưng phục trang và động tác múa lại mang hơi hướm văn hóa Nam Vang. Nhiều nhà nghiên cứu về sau cho rằng điều này xuất phát từ việc mù mờ của người Pháp thời bấy giờ đối với các bản sắc văn hóa Đông Dương, nhưng riêng với tôi, Cleo đã tình cờ minh chứng cho sự hài hòa văn hóa không tì vết giữa các quốc gia, vượt qua lằn ranh biên giới địa lý. Bản chất thông điệp cảm xúc vô ngôn của âm nhạc đã là một tài sản chung giữa các sắc tộc, và ngôn ngữ hình thể của múa cũng vậy, không thuộc về ai, không dành cho riêng ai. Nó thừa sức thuyết phục mạnh mẽ hơn cả ngôn ngữ và ca từ. Điều này, với tôi, giải thích lí do vì sao trong đoàn lưu diễn đầu thế kỷ 20 ấy có cả những cô đào có giọng ca vào hàng thượng thừa ở Nam Bộ khi đó đi cùng, nhưng không có tài liệu nào ghi nhận sự xuất hiện của họ tại hội đấu xảo Marseille”.

Mang mối tương tư nàng vũ công đầu tiên từng múa trên làn điệu tài tử, bên cạnh các cuộc tiếp xúc và các buổi trình tấu tại Việt Nam, vị giáo sư say nắng còn ôm giấc mơ tìm kiếm hậu duệ của nàng Cleo để tái dựng Vũ Khúc Đông Dương tại Việt Nam “Tại Việt Nam, những làn điệu quen thuộc được dùng trong nghệ thuật múa hầu như chỉ tìm thấy trong giai điệu dân gian Bắc Bộ, hay các vũ điệu của người dân tộc. Khái niệm múa trên giai điệu đờn ca tài tử là điều khá mới mẻ ngay cả đối với các vũ công chuyên nghiệp. Nhưng đó lại chính là cuộc giao hoan thần thánh giữa ngôn ngữ cơ thể trong tương tác hồn nhiên với cảm xúc âm nhạc. Đó là khi người ta không chỉ thụ động thụ hưởng cảm xúc, mà tương tác, phản hồi với âm nhạc bằng cơ thể, và truyền đạt câu chuyện tương tác đó bằng ngôn ngữ hình thể. Tôi tin rằng nếu hơn một thế kỷ trước, Cleo de Merode đã làm điều không người Việt nào làm với âm nhạc của chính họ, thì chỉ cần một vũ công đủ tự do trong cảm nhận, sẽ tương tác nhuần nhuyễn được với âm nhạc tài tử, dù với hệ ngôn ngữ nào của nghệ thuật múa đi chăng nữa, cảm xúc sẽ là điều duy nhất. Tôi tin tôi sẽ tìm được hiện thân của Cleo de Merode ngay tại Việt Nam”.

 DSC_5250

Thứ tài sản không-là-của-ai-cả và sứ mệnh của Kẻ Đưa Tin

Nhiều người cho rằng việc đặt ý tưởng từ trong phôi thai lên thế giới phẳng của truyền thông quá sớm là sự bồng bột cả tin đầy nghệ sĩ tính và tỏ mối e ngại những rủi ro về tác quyền và sự đối trọng giữa các tình tiết hư cấu và tính xác thực dựa trên tài liệu nghiên cứu khi ý tưởng bị chia sẻ tự do. Giáo sư đáp trả bằng một niềm ung dung tự tại của một tay chơi sành sỏi:

“Làm sao người ta có thể ăn cắp được một tài sản không-là-của-ai-cả? Thậm chí nếu gọi nôm na đờn ca tài tử là di sản của Việt Nam, phải được lưu truyền tồn giữ bởi con cháu người Việt cũng là một quan điểm sai. Những mẫu trống đồng Đông Sơn nguyên vẹn được lưu trữ và trưng bày tốt nhất không phải tại Việt Nam, những họa phẩm bậc thầy hay những hiện vật quý đến từ lãnh thổ Việt Nam đang được đặt vào sự bảo vệ chuyên nghiệp của những bảo tàng viện lừng danh tại châu Âu. Trên hết, ngôn ngữ của âm nhạc, thứ ngôn ngữ phải được cảm thụ và trân trọng vượt rào cản chữ viết hay khẩu ngôn, một khi được thừa nhận là di sản phi vật thể, nó đã mang trong mình một sức thuyết phục rộng lớn, được coi là di sản của tinh hoa nhân loại nói chung, và được đặt dưới sự bảo trợ, nghiên cứu và phát triển không chỉ của người Việt, mà của các học giả, các nhà nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Di sản văn hóa không thể là một thứ của cải cục bộ, như nguồn cội văn hóa quốc gia, tộc người, có thể tự cô lập khỏi sự ảnh hưởng tương tác giữa các vùng văn hóa và toàn nhân loại nói chung. Nếu không gõ cửa, sẽ không nghe thấy tiếng trả lời. Chúng tôi là những nhạc sĩ, nhà nghiên cứu, đạo diễn, nhà biên kịch, chúng tôi cần một nhà sản xuất. Trên con đường tìm kiếm những mảnh ghép còn thiếu, có cả những xác suất rủi ro mà tôi buộc lòng chấp nhận đánh cược. Mọi động thái pháp lý đã được thực hiện để bảo đảm bộ phim sẽ được kiểm soát tối ưu về tính xác thực lẫn mỹ cảm điện ảnh mà không ai khác, ngoại trừ chính tôi, có thể bảo đảm với những tư liệu tìm được trong quá trình nghiên cứu. Ngay cả với trường hợp xấu nhất của trò may rủi, tôi sẽ không gọi đó là ‘ăn cắp’ mà chỉ coi đó như thêm một cánh tay đưa ra với di sản đờn ca tài tử, và lấy làm mừng khi hấp lực của một mảng nghệ thuật âm nhạc gần như bị lãng quên đã có được hấp lực cần thiết đối với một nhà sản xuất nào đó. Thiết nghĩ người ta sẽ thanh thản và dễ tập trung hơn rất nhiều một khi không bị chi phối bởi phép tính lợi nhuận hoặc tiếng tăm cá nhân. Và tôi cũng không làm tất cả những điều này để dẫm chân lên tấm thảm đỏ đông đúc của giới giải trí”.

Có lẽ đó là lằn ranh rõ rệt nhất giữa một nghệ sĩ và một ngôi sao – lằn ranh của sự lựa chọn giữa tâm điểm ánh sáng và bóng tối hậu đài. Nguyễn Lê Tuyên vẫn giữ cho mình cái ngô nghê hồn nhiên kẻ sĩ khi phải đích thân ủy lạo cho dự án Nhà Hát Đông Dương. Sự ngô nghê ấy nằm trong thái độ lúng túng của vị giáo sư khi bị tấn công bởi các câu hỏi cơ bản mang tính cá nhân về tiểu sử và học hàm học vị của bản thân: “Tôi không lí giải nổi vì sao tôi mang về Việt Nam một thông tin kì thú đến vậy về chuyến hải hành của thứ di sản bản địa cách đây hơn 100 năm, và người ta lại quan tâm đến việc tôi đến Úc được bao lâu và sở thích cá nhân của tôi là gì? Tôi coi mình là kẻ đưa tin, đó là sứ mệnh và tôi cố làm tốt nhất công việc của mình. Thông thường, khi nhận bưu phẩm, bạn sẽ háo hức mở gói bưu phẩm, hay tò mò hỏi han gia thế của người đưa thư?”

Vong thân là thuộc tính của đam mê thực thụ. Đó là khi thứ đam mê đó trở nên to tát hơn chính bản thân chủ thể, kẻ đam mê thỏa mãn trong vai trò phụng sự đam mê của chính mình. Nhưng công luận còn cần một cái tên và một học hàm để vẽ chân dung kẻ chịu trách nhiệm cho thứ di sản được tìm thấy. “Điều đó có thể hiểu được. Nhưng những thứ tôi tìm thấy hay hơn cái học vị của tôi rất nhiều, hãy để tôi trình bày và thuyết phục, tôi giỏi việc này hơn! Giá trị nằm ở thông tin chứ không ở kẻ đưa tin”

 DSC_5300

Nhà Hát Đông Dương của những Kẻ Chịu Chơi

Với sự ám ảnh của câu chuyện về “con sáo không sang sông” Cleo de Merode, người nữ vũ công đầu tiên và duy nhất múa trên nền nhạc tài tử, vị giáo sư người An Nam đã quyết học theo sự thông minh của người Pháp để bắc chiếc cầu giải trí, đưa một món ăn tinh thần lạ miệng đến với quảng đại quần chúng. Lời khước từ cuộc hôn nhân vương giả với vị vua nước Bỉ được lí giải bởi sự dan díu của Cleo với tay đờn kìm tài hoa Nguyễn Tống Triều trong đoàn tài nhân sang Pháp lúc ấy, người đàn ông phía sau bản đàn hương xa mà nàng kiều nữ Paris đã hiểu và yêu theo một bản năng nghệ sĩ. Câu chuyện không thành của họ được tiếp nối vào hiện tại, với giọt máu lai của kỳ nữ Cleo tái hiện vũ khúc Đông Dương tại cố hương của đờn ca tài tử hơn một thế kỷ sau.

Đó là một lối tư duy không phải hoàn toàn quá mới mẻ đến từ giới nghiên cứu học thuật. Nhưng tại Việt Nam, khi những buổi trình tấu hòa nhạc, nghệ thuật múa cổ điển hay dân gian còn phân định rạch ròi tầng lớp khán thính giả với những sân khấu, rạp cine sầm uất sáng đèn hàng đêm, khi mà sự ghẻ lạnh của khán giả nội địa đối với các tác phẩm điện ảnh thể loại “gà chọi dự thi” với thực chất sinh hoạt màn bạc và truyền hình trong nước còn là hai hành tinh biệt lập, thì các hoạt động giải trí hóa nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật hàn lâm vẫn giữ nguyên giá trị tiên phong và thuộc tính liều mạng của nó.

Cũng với suy nghĩ đó, Lê Tuyên mang theo về Việt Nam lần này một tham vọng lớn cho đờn ca tài tử: một kịch bản điện ảnh xây dựng xung quanh bản kí âm cổ xưa, lần đầu đưa đờn ca tài tử đến với công chúng Việt Nam qua chiếc cầu màn bạc. Ông “phải lòng” đạo diễn Huy Moeller hầu như ngay lập tức, mối duyên giữa âm nhạc và điện ảnh đã giúp ông tìm thấy đúng vị đạo diễn từng có các nghiên cứu âm nhạc và mối quan tâm tương tự đối với âm nhạc dân gian.

Website chính thức của dự án điện ảnh indochinatheatre.com, lấy tên Nhà Hát Đông Dương cũng đã được công khai đăng tải ngay sau cuộc gặp gỡ đầu tiên với đạo diễn Huy Moeller và nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh.

Vị giáo sư dư adrenaline đã tự đặt bản thân trước hai mối nguy cơ nhỡn tiền: hoặc ông đang có trong tay một dự án phi thực tế mang giá trị hài hước, hoặc ông đang phát ngôn đầy khinh suất về dự án hãy còn trong trứng nước trước công luận, không khác lắm so với việc tự tay vẽ ra một con cọp vằn vện dữ dằn và tự ép mình leo lên lưng nó mà cưỡi.

“(cười) Tôi hoàn toàn tự tin vào trực giác của mình khi phôi thai ý tưởng này từ trong quá trình nghiên cứu. Việc gặp gỡ các đối tác để hình thành ê-kíp dự án cũng hoàn toàn là một lực hấp dẫn tự nhiên giữa những người tâm huyết. Tôi tin vào duyên số và hấp lực tự nhiên sẽ gắn kết những ‘tay chơi’ thực thụ lại với nhau. Phần việc còn lại là lên tiếng để tăng hấp lực thu hút ấy, chúng tôi cần một công ty truyền thông và những người muốn cùng lao vào cuộc để thật sự khai hỏa cho cuộc chơi lớn, với máu ‘chịu chơi’ của dân nghệ sĩ, và cái đầu tỉnh táo của những kẻ chưa bao giờ biết thua”.

 DSC_5332

BOX: Vu khuc dong duong

Chỉ vài giờ sau cuộc nói chuyện với tôi, GS.Nguyễn Lê Tuyên đã được thỏa sức làm điều mà ông cho rằng mình có thể làm tốt nhất: thuyết phục và bảo vệ cho giá trị của đờn ca tài tử trước hàng trăm học giả tại Hội nghị Quốc tế Về Âm nhạc Truyền thống tại Thượng Hải, đi cùng là những nhạc công của ban đờn tài tử, như một cuộc viễn chinh lần thứ hai của tiếng đàn Gia Định hơn 100 năm sau ban đờn của thầy Nguyễn Tống Triều, dùng thứ ngôn ngữ thuyết phục nhất để bảo vệ và tôn vinh cho một niềm kiêu hãnh lâu đời từ những miệt sông nước thuở khẩn hoang.

Chính xác đờn ca tài tử ở góc độ văn hóa và lịch sử, vượt trên tầm nghệ thuật cổ nhạc, đó là một lối sống! Hơn mọi tư liệu dẫn chứng, tự thân âm nhạc đã mang sự thuyết phục của lối hòa đàn ngẫu hứng, tính tự sự và những phiên bản đa diện khi được lưu truyền theo hình thức dân gian. Trong tất cả những phiên bản lưu truyền đó, thì bản đàn Vũ khúc Đông Dương là một mảnh ghép trội bật mang nhiều ý niệm có giá trị về tính học thuật lẫn tinh thần văn hóa giao thoa của Đông Dương thời thuộc địa. Sắp tới, tôi còn tham vọng kêu gọi sự hỗ trợ từ chính phủ Pháp trong việc lần tìm danh tánh từng vị nhạc công trong ban đờn đã thực hiện chuyến lưu diễn xuyên lục địa cách đây gần 2 thế kỷ”.

Vào cùng thời điểm, trang web chính thức của dự án phim Nhà Hát Đông Dương tại indochinatheatre.com cũng bắt đầu đi vào hoạt động, khai hỏa cho một cuộc chơi liều lĩnh khác của vị giáo sư đầy lắm mộng.

Sau cuộc viễn chinh đến Thượng Hải, cuốn sách nghiên cứu của ông về đờn ca tài tử cũng được nhà xuất bản Phương Nam cho ra mắt vào tháng Chín 2013, với tham vọng tái hiện lại một phần Vũ Khúc Đông Dương huyền thoại tại Marseille hơn 100 năm về trước ngay trong buổi ra mắt sách.

Có vẻ cuộc viễn chinh của vị giáo sư họ Nguyễn ngược thời gian theo dấu giọt đàn tài tử vẫn chưa tới hồi ngơi nghỉ.

“Cuộc đời nên là cuộc chơi không biết tới hồi tàn cuộc, chính những tư liệu, những con người và những cơ hội tình cờ tìm thấy trong quá trình rong ruổi ngược đời với đờn ca tài tử sẽ dẫn lối tôi đến những dự án khác, những mê lộ mới. Chỉ cần giữ được sự tò mò và liên tục đặt ra những câu hỏi đòi được trả lời, bánh xe năng lượng sẽ tiếp tục vận động. Tất cả chúng ta rồi sẽ nghỉ ngơi, nhưng chưa phải là ngày hôm nay!”lê tuyên thúy miêu

báo lửa latin

jennifer_lopez_body_hands_hair_stomack_5127_540x960

Trác Thúy Miêu

Hẳn nhiên, nàng không sở hữu một làn hơi phồn thực như vòng ba của mình, nhưng ắt hẳn rằng nàng biết hát, như một nghệ sĩ giải trí chánh hiệu. Nàng ý thức được mọi món quà mà Tạo Hóa đã ưu ái trao tặng cho nàng, và sử dụng chúng vừa điệu nghệ, vừa tận lực đến cạn cùng. Nàng đứng đó trên sân khấu, nhảy múa như bản chất, hùng hổ như một nữ tướng, nàng tóc rối mặt trần trên màn bạc, khai thác triệt để nét nheo đuôi mắt quen thuộc,  cặp môi gợi tình, nàng ở đó, hung hăng và lộng lẫy trên ghế nóng quyền lực của show truyền hình danh giá, và như những lọ nước hoa nàng say sưa tung vào thị trường mỹ phẩm, tất cả chưa bao giờ là có một khoảng lặng đủ lâu cho sự quên lãng. Nàng là Báo Lửa mang dòng máu Latin.

j-lo_2376806b

Nàng đảo lộn khái niệm về hình ảnh kinh điển của một “cục cưng của Mỹ” bằng làn da rám, đôi lưỡng quyền bén ngót, cặp mắt Đông phương, vòng hông phồn thực và mái tóc mây màu lửa. Nàng len lỏi hiển hiện bằng âm nhạc của mình, trên màn ảnh nhỏ, và vào tận tủ trang phục của mỗi căn hộ thị dân kiểu mẫu không chỉ của nước Mỹ. Mỗi lần vào phòng thu của nàng là một lần đe dọa cát cứ lẫy lừng các bảng vàng Billboard, nàng “phóng hỏa” màn bạc cine Hollywood bằng chất lửa Latin ngay trên đấu trường tỏa sáng hầu như chỉ dành cho những giai nhân da trắng. Trong cuốn Icons of American Popular Culture (2009), Robert D. Cotrell đã ví von Lopez là một Oprah Winfrey của người Latin, một nhân vật đương thời cho những huyền thoại “vượt lên chính mình” kiểu Mỹ: “Nàng là một nghệ sĩ giải trí hoàn hảo và trở thành một thế lực tài chính thực thụ (…) Lopez chứng minh rằng một Latina hoàn toàn có thể hiện diện ở thượng tầng yếu nhân Hồ-ly-vọng, nghệ sĩ thu âm hàng đầu, chơi ngon lành trong đấu trường kinh thương, chỉ với vài lọ nước hoa tay ngang mà bỏ túi ngon ơ 500 triệu Mỹ kim niên lợi.

Lopez đã ngang nhiên bước vào hàng “thế lực băng đĩa” với xuất thân “lờ nhờ” về một cô gái đẹp nhảy nhót vui mắt, và đặc biệt, phong cách Latin sặc sụa gắn liền nàng với dòng nhạc luôn mang số phận ngoài luồng, dòng nhạc nhảy dành cho cộng đồng Latin và “sang không nổi”. 

Nàng quá đẹp để hát như một nữ thần âm nhạc, nhưng đủ đẹp để kết hợp vũ đạo vào thứ âm nhạc được coi bằng mắt.

Không có nhiều cô gái đẹp minh chứng thành công điều ngược lại. Nàng không chỉ khôn ngoan và tỉnh táo, mà còn sở hữu một khả năng lao động cật lực đáng nể. Mỗi một phát ngắm đều mang hứa hẹn xuyên hồng tâm thị trường ở hiệu quả thuyết phục nhất, dù đó là một dự án âm nhạc, hay một biến cố cuộc đời. Nàng được coi là những thân hình Vệ Nữ đầy lửa trên sàn diễn, nhưng đứng thăng bằng một cách hoàn hảo không một lần quá tay sa chân từ gợi tình đến gợi dục – điều mà ngay cả các nhà mỹ học cũng khó lòng phân định.

Trong suốt chiều dài sự nghiệp, Lopez thoăn thoắt thay đổi phong cách cá nhân, và liên tục ghi điểm tối ưu với mọi kiểu tóc. Mỗi kiểu trang phục của nàng làm nên trào lưu, và mỗi lần xuất hiện là một lần làm nên huyền thoại, như sự việc chiếc váy màu lông công trên thảm đỏ Grammy đến nay vẫn là một điểm son huy hoàng của nhà Versace. Chiếc váy có thể làm nên một lần khuấy động thảm đỏ cho nhan sắc Lopez, nhưng thần diệu hơn, chính danh tiếng Lopez cũng điểm trang cho niềm hãnh diện của quyền lực thời trang Versace.

Người ta gọi nàng là “ngư nữ”, là “búp bế phố Bronx”, nhưng nàng tuyên bố “Nếu vậy, tôi là một búp bê thiện chiến. Đấm đá tôi liên tiếp đi, tôi vẫn thừa mạnh để nghiến răng  tung ra nguyên vẹn trận mưa đòn đáp trả, cho đến khi thắng. Tuổi thơ tôi đâu chỉ là một cô ballerina bằng sứ mặc váy xòe. Tôi tập quyền anh để dư sức chịu đòn 15 hiệp.”

f97f1443ee2e75f95152e2bd2e13739b

Định mệnh từ nàng Đạm Tiên Selena

Từ một cô nàng vũ công gốc Ecuador chuyên múa phụ họa cho New Kids on the Block hồi 1991, nàng cặp kè với cô nàng Cruz cùng làm chuyến đổi đời tới Los Angeles và sắm một vai trò khiêm tốn cho một show truyền hình cho đến tận 1993. Nhưng như đã thấm vào máu, không một bước ngoặt nào của Lopez mà không được thực hiện bằng những bước nhảy. Nói một cách khác, nàng nhảy múa dọc đường dài vinh hiển. Ngay từ khi mới đến L.A. và hẵng còn là một vũ công minh họa cho New Kids on the Block, Lopez lại tiếp tục làm vũ công dự bị cho các show của Janet Jackson, và được chọn rong ruổi theo “gánh” Janet World Tour hồi cuối 1993, nhưng nàng chối từ, như một động thái chủ động cự tuyệt vai trò một vũ công minh họa đến mãn kiếp. Nàng chọn chật vật với đài CBS để xuất hiện trong bộ phim Second Chances. Cuộc động đất Northridge năm 1994 phá hủy toàn bộ phim trường và bộ phim phải ngưng lại hoàn toàn khi chỉ mới phát sóng 6 tập. Lopez lại lắt lay với bộ phim truyền hình khác, Hotel Malibu, và cũng chỉ được phát sóng vài tập trước khi phá sản hoàn toàn, lần này bởi một lí do giản dị hơn: bộ phim quá dở!

tumblr_m3u2ynCtMp1rvksyro1_400

Dấu son thật sự chỉ được ấn định ngay vào khi nàng nếm trải đòn dư luận. Khi thủ diễn vai Selena trong bộ phim cùng tên, ngay từ những ngày mới bắt đầu bấm máy đã chịu sự đả kích dữ dội từ cộng đồng Mỹ-gốc-Mễ. Họ nổi trận lôi đình và cho rằng phải một cô đào gốc Mễ mới bảo đảm tinh thần chủng tộc của Selena. Nhưng ngược lại, các nhà phê bình và báo giới tỏ ra hào hứng với cuộc hóa thân hoàn hảo của cô nàng gốc Ecuador với những trang viết bạt ngàn hào phóng tụng ca. Bộ phim Selena đã được làm ra để tôn vinh chính cô nàng gốc Ecuador, có phần lừng lẫy hơn cả cuộc tôn vinh dành cho nguyên bản thần tượng Mễ Tây Cơ. Nàng Lopez ẵm ngon ơ giải Quả Cầu Vàng Best Actress in a Motion Picture Musical or Comedy.

Cũng chính hồn vía của Selena, bộ phim ghi dấu cuộc lấn sân chớp nhoáng thứ hai của Báo Lửa sang lãnh vực âm nhạc. Đáp trả sự hậm hực của dân Mễ về nguồn gốc của nàng, sau thành công vang dội của Selena, Lopez phơi phới tuyên bố nàng “chưa bao giờ ý thức mãnh liệt hơn về dòng máu Latin của mình”. Say sưa với thành công của bộ phim, Lopez gửi ca khúc tiếng Tây Ban Nha Vivir Sin Ti do nàng thực hiện trong phim đến hãng đĩa Sony và được nồng nhiệt chào đón. Lopez được khuyên rằng ca khúc sẽ bán chạy hơn nếu nàng Mỹ hóa cái niềm kiêu hãnh Latin đó một chút bằng phiên bản tiếng Anh, và album đầu tay của Jennifer Lopez ra đời như vậy, mang cái tên sang cả On the 6.

Như một ngôi sao lắm bạo mộng và cũng giàu tự ái, Lopez ý thức được sự đón tiếp nồng hậu của hãng Sony dựa chủ yếu vào ngoại hình và tiếng tăm màn bạc sẵn có của nàng. Nhưng con báo lửa đã nhập cuộc, giờ thì như mọi cuộc chuyển đổi ngành nghề của bất cứ người mẫu và diễn viên nào trên cõi nhân gian, cô nàng muốn minh chứng rằng chính giọng ca của mình sáng giá hơn tất cả, và rằng nàng đã được sinh ra cho nghệ thuật âm nhạc chuyên chính. Công luận hoài nghi tham vọng đồng bóng của nàng, tất cả cùng đợi chờ kết thúc lạc tông nữa của nhan sắc lạc loài trong thế giới của những diva âm nhạc. Lopez không chỉ đặt cược một cú thua chí mạng trên thị trường đĩa nhạc, mà còn là sự hủy hoại toàn phần với danh vọng màn bạc vừa chớm xây dựng được với không ít kì công.

Trót một cửa bạc, nàng xấp ngửa tranh thủ thuở tiếng tăm còn đang được ưu đãi, liền tay tung ra dòng thời trang, nước hoa và phụ kiện đóng mác J.Lo by Jennifer Lopez ngay trúng vào mùa săn nóng bỏng nhất, với sự hậu thuẫn của cá mập Andy Hilfiger và Larry Stemmerman. Cùng lúc mạnh tay củng cố chiến địa đang hồi thượng phong, Lopez tiếp tục kí hợp đồng với phim Out of Sight diễn cùng nam thần Hồ Ly Vọng George Clooney, và sau khi công chiếu, Lopez nghiễm nhiên trở thành cô đào Latin đầu tiên kiếm ngon ơ hơn triệu Mỹ kim cho một bộ phim. Trong tất cả mũi tấn công tứ phía về mọi lãnh vực giải trí ấy, Lopez đón lỏng luôn thị phần thiếu nhi với giọng cô kiến Azteca trong bộ phim hoạt hình Antz.

2011-08-23-09-21-52-8-jennifer-lopez-voiced-the-character-azteca-in-the

Súng lục, thảm đỏ và váy xanh…

Rồi mùa thu hoạch cũng đến, quả bom ca nhạc On the 6 chính thức công phá thị trường băng đĩa Hoa Kỳ vào mùa hè 1999, lọt thỏm vào top 10 Billboard200. Học được bài học từ điện ảnh, Lopez khôn ngoan chọn song ca cùng divo Latin Marc Anthony bản No Me Ames và lại thắng đậm. Nền công nghệ giải trí nghiêng mình đầy thận trọng trước người đàn bà có làn da màu lửa với những “tài lẻ” đủ để bao sân hoành tráng thị trường giải trí đa diện của thế giới. Chỉ trong 12 tháng, từ một minh tinh, nàng trở thành ngôi sao nhạc pop.

Nàng cặp kè với Sean ‘Diddy’ Combs. Trong một vụ xô xát tại hộp đêm ở Manhattan, Lopez và Combs chạy khỏi hiện trường nhưng bị cảnh sát chặn lại và tìm thấy khẩu súng ở băng ghế trước. Combs hầu tòa, Báo Lửa không chờ quá lâu để quyết định chia tay với cuộc tình phiền phức.

haden-guest12-10-2

Một khi đã án ngữ vinh hiển các chiến địa nóng bỏng nhất của thị trường giải trí Mỹ, nàng cần một cuộc chơi mới, đẹp mắt hơn, để tái củng cố hình ảnh, thay vì chấp nhận kết cuộc thường thấy của các nữ minh tinh sau mỗi cuộc tình bê bối. tại lễ trao giải Grammy lần thứ 42, Báo Lửa khôn ngoan và diễm lệ xuất hiện trọng chiếc váy Versace xanh nhức nhối màu đuôi công nhiệt đới, mỏng ngốt người, và phong phanh đến sốt ruột. Bộ váy và những gì nó không che đậy hút flash một cách hiệu nghiệm. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, có tới 642,917 lượt download hình ảnh nàng trong bộ váy huyền thoại nọ từ website chính thức của Grammy, trong khi Lopez tỏ ra thản nhiên và vô can trước sự ưu ái ồ ạt ấy dành cho… chiếc váy.

jennifer2000

Khi mà hào quang màu đuôi công thắm thiết ấy còn đang gây rần rật toàn cầu trên mạng internet, J.Lo đã kịp lao vào phim kinh dị dòng biến thái The Cell.

Mùa thu đầy ác mộng năm 2001, trong khi cả nước Mỹ còn quằn quại sau vụ tấn công tòa tháp đôi, thì tại ngôi gia huy hoàng ở ngoại ô L.A., nàng cưới một đồng nghiệp cũ – nam vũ công Cris Judd. Ngay sau đó, bà Judd cùng 60 nghệ sĩ Latin khác cùng ghi âm bản El Ultimo Adios để tưởng nhớ ngày 11 tháng Chín tang thương.

attachment

Một năm sau, mặc dù diễn xuất hoàn hảo trong pha đánh chồng trong phim Enough, bộ phim không mấy thành công, Lopez rầu rĩ thừa nhận với báo giới rằng nàng đã trải qua giai đoạn trầm cảm khi thực hiện phim này. Chẳng rõ nội vụ thế nào, chỉ biết rằng nàng đệ đơn xin bỏ chồng hầu như ngay sau đó. Và cũng hầu như ngay sau đó, công khai du dương với kép đẹp Ben Affleck. Công chúng ham mộ của Lo thở phào phỉ chí – cuối cùng thì nàng cũng cặp kè với một trang nam tử nên thân nên hồn. Chàng và nàng đẹp và vừa vặn như một cặp búp bê bánh cưới vậy. Không phụ lòng bà con, vài tháng sau chàng cầu hôn nàng và báo giới ghép cái tên chung Bennifer cho cặp tượng đài ái tình toàn mỹ của văn hóa pop Mỹ. Cái tên chung này của cặp đôi về sau trở thành một trào lưu ghép tên trong các cặp đôi ngành giải trí, khi mà cuộc đời chưa có tên Brangelina!

ben-affleck

Từ Ben đến Marc…

Người đàn bà đang yêu hào hứng tung luôn ra dòng nước hoa long lanh hạnh phúc Glow by Jlo. Giới perfumist ái ngại cho cuộc lấn sân dại dột của nữ hoàng giải trí, nhưng Glow – như mọi sản phẩm ghi dấu ấn JLo, nghiễm nhiên lọt vào danh sách những dòng nước hoa cháy chợ nhất nước Mỹ. Nước hoa của nàng, như các tín đồ mùi hương ca tụng, mang trở về thuở hoàng hoa của những dòng hương mang chữ kí ngôi sao và mở lối cho hàng loạt những dòng mùi hương lấp lánh tên tuổi các cô đào, ca sĩ về sau điên cuồng tấn công thị trường mỹ phẩm.

1bfhperyx1xduoq45pain181020095635

Với hoa hồng tình ái ôm trong tim, người đàn bà lan tỏa hạnh phước trong mọi điều nàng sờ chạm tới. Album This Is Me…Then được tung ra vào tháng 11, như lời tự sự về chuyện tình riêng với nhân tình tài tử, đặc biệt là huyết tâm thư nồng thắm nàng gửi gắm vào bản Dear Ben. Nàng ghi đòn hoa mỹ vào lòng chàng thơ và những singles từ album này cũng theo đó mà ghi điểm lẫy lừng ngoài thị trường, tuy I’m Glad và Baby I Love U! không được phần vẻ vang bằng Jenny from the Block. 2.6 triệu bản bán ra liền tay khắp nước Mỹ, dán nhãn bạch kim đúp (double platinum) vinh hiển. Nàng tiện tay đóng cặp luôn với Ralph Fiennces trong mối tình lãng mạn của vị chính khách và nàng hầu phòng da ngăm trong Maid in Manhattan, một kịch bản như thể được dựng nên chỉ để minh họa cho ca khúc Jenny from the Block.

Sau bao nhiêu đợi chờ khắc khoải của cặp Bennifer và những tín đồ, mãi thì tới tận tháng Giêng 2003, vụ ly dị của Lopez và Judd mới hoàn tất. Cặp đôi ăn mừng bằng việc sánh đôi đóng cặp trong phim Gigli, với Lopez thủ vai một cô nàng…đồng tính. Phim không nổi lắm, với món lợi nhuận hom hem 7 triệu bạc Mỹ trên toàn thế giới và được coi là bộ phim tệ nhất nhì trong lịch sử điện ảnh loài người. Viện cớ vì giới truyền thông quá chú mục thóc mách đám cưới đã định cử hành vào ngày 14 tháng Chín năm đó, cặp Bennifer hoãn hôn. Thoi đưa 4 tháng sau thì họ chia tay, cũng với cùng lí dó xem chừng rất tiện lợi – sự hiếu kỳ của truyền thông gây thương tổn cho sự riêng tư của cuộc tình mà cách đó mấy tháng nàng vừa ca hát véo von đến từng chi tiết trong album cháy chợ.

Nhưng Lopez không bao giờ để công chúng chờ đợi qúa lâu trước khi cống hiến cho họ một màn trữ tình đúng điệu hơn. Đặc biệt lần này, trái tim của người đẹp đã chứng tỏ sự thông thái của nó không kém sự tính toán chiến lược của bộ óc, khi lượng fan dòng nhạc Latin của nàng tăng rầm rộ bởi cuộc tình mới với divo Latin Marc Anthony. Không như hai cú trượt tầm ngắm điện ảnh với Ben, bản song ca trước đây của cặp đôi Lopez – Anthony đã minh chứng chàng không chỉ là một bạn tình hào hoa sáng giá, mà còn thật sự là một đồng sự xứng tầm. Lần này thì họ cưới liền tay, ngay khi chàng kịp ly dị người vợ cũ, và trước khi lời nguyền của công nghệ giải trí kịp tấn công sự long lanh và mong manh của các cặp đôi danh giá.

jenwed

Lại một lần nữa trong cuộc đời mình, Báo Lửa may mắn lại được đỏ tay bạc cả ở ván nghiệp lẫn ván tình. Sau đám cưới, Lopez ghi dấu sự nghiệp điện ảnh của mình với tuyệt phẩm lãng mạn “Shall We Dance?” bên cạnh kép lão khi này vẫn còn phong độ mùi mẫn Richard Gere. Dù bốc lửa hừng hực với những bước vũ trên sân khấu ca nhạc, nhưng lần đầu khán giả của Lopez nhận ra rằng người ta không thể vừa đa nghệ, vừa tinh thông đến hoàn hảo mọi mặt của công nghệ giải trí. Dù là một vũ công hừng hực trên sân khấu ca nhạc, Lopez không tránh khỏi sự ngô nghê khập khiễng khi thủ diễn vai cô vũ sư dòng ballroom chuẩn mực. Nhưng mặc nhiên, scene Argentine Tango đã đi vào huyền thoại của vũ đạo điện ảnh, và bộ phim mang về ngon ơ 170 triệu Mỹ kim. Đà thượng phong này đưa nàng thẳng tiến đến hợp đồng với Pepsi cùng Beyonce và nam thần đá banh David Beckham trong đại chiến dịch quảng cáo “Samurai”

004SWD_Jennifer_Lopez_067

Cơn thịnh nộ của người đàn bà biết hát

Nhưng cho đến khi này, cô nàng “búp bê phố Bronx” vẫn chưa được giới phê bình thừa nhận giọng ca cho tư cách diva chính thống, mặc nhiên với những cú tung đòn tuyệt hảo của nàng vào thị trường băng đĩa. Chính mật độ xuất hiện trên màn bạc của nàng khiến giới truyền thông ngờ vực một khả năng toàn tài.

Tháng 3 2007, album Como Ama una Mujer được tung ra, được công bố là album minh chứng cho tư cách âm nhạc chính thống của giọng ca Lopez. Với những ca khúc trúc trắc không dành cho những làn hơi nửa mùa, album tiếng Tây Ban Nha này lập tức dẫn đầu chỉ số cháy chợ toàn nước Mỹ chỉ trong một tuần, cát cứ Billboard Top Latin Albums trong suốt 7 tuần lễ huy hoàng.

Kể từ đó, nàng nghiễm nhiên tiễu trừ mọi nghi vấn về tư cách diva ca nhạc thượng tầng thế giới. Các album bách chiến bách phát, tour diễn song hành cùng phu quân Anthony lời lãi lẫy lừng tới 10 triệu Mỹ kim, và cả những hoạt động xã hội hữu hiệu gây nức lòng nước Mỹ. Trong đêm cuối cùng của tour diễn, đôi uyên ương công bố tin mừng: báo lửa đã đậu thai! Cùng lúc, tin vui này tiễu trừ luôn lời mỉa mai bóng gió của báo giới về “bí mật quốc gia hàng đầu” về chất lượng tình ái của cuộc hôn nhân vàng son nọ.

2djyqfr

Chưa hết, y giới xác nhận niềm hoan hỉ được nhân đôi: Báo Lửa mang song thai! Để ăn mừng sự kiện này, nàng tiện tay tung ra thêm dòng nước hoa Deseo đùng đùng khuynh đảo thị trường mỹ phẩm, trước khi yên tâm lâm bồn. Cuối cùng, còn hơn cả tin mừng về cặp song sinh, nàng khai nhụy một cặp vừa đủ gái trai: Maximilian David và Emme Maribel. Tờ People đấu giá thành công quyền đăng tải hình ảnh lứa “báo con” đầu lòng của thiếu phụ lừng danh với con số kỷ lục là 6 triệu Mỹ kim.

people2008-jennifer-lopez-and-marc-anthony-22229700-1000-1360

Thiên chức làm mẹ thúc đẩy nàng thành lập quỹ phi lợi nhuận mang tên con gái The Maribel Foundation với mục tiêu chăm sóc sức khỏe và đời sống phụ nữ trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh, ngay sau đó là dòng nước hoa rừng rực mùi nắng Latin: Sunkissed Glow, và My Glow, tưng bừng nồng sực hương hoa nắng bừng nở trên làn da nâu của nhan sắc Latin. Thiết kế vỏ chai dựng theo những bánh savon trong phòng trẻ tại nhà nàng, và nắp chai đúc hình tiểu thiên sứ hai mặt là biểu tượng của cặp song sinh. Cùng ngày nhãn nước hoa My Glow ra mắt, thì bản Fresh Out the Oven (Nóng Hổi Mới Ra Lò) cũng được tung lên mạng internet. Tả xung hữu đột, nàng như càng dồi dào sinh lực sau khi làm mẹ, và xuất hiện, bất bại trên mọi chiến địa nóng bỏng kinh doanh, truyền hình, điện ảnh và ca nhạc.

my-glow-jennifer-lopez

Định mệnh đổi chiều sau 7 năm hương lửa, Lopez và Anthony tuyên bố ly thân. Cô nàng Báo Lửa, giờ đây đã là một thiếu phụ độc thân đã qua một lửa, tái xuất mùa thứ 11 American Idol, kiếm chác sơ sơ 20 triệu, tuy thống kê cho thấy đây là mùa lên sóng kém cỏi nhất về lượt xem. Nhưng nàng đã thủ thân một cuộc chơi mới trên sóng truyền hình với show Q’Viva!, song hành cùng cựu phu quân Anthony bên cạnh nhà biên đạo Jamie King, cùng lúc vẫn đều đều phủ sóng màn bạc với What to Expect When You’re Expecting, thu âm bản Goin’ In cho phim Step Up Revolution, ngao du thế giới với tour Dance Again World. Tour diễn vừa kết thúc, nàng lại lao vào lồng tiếng cho phim hoạt hình Ice Age. Với tour Dance Again, show Q’Viva!, Lopez quay về khai thác thế mạnh vũ đạo ban đầu của mình, và cũng lập tức tìm cho mình một bạn diễn đủ sáng giá để giúp nàng duy trì hào quang. Tour diễn đồng hành cùng Enrique Iglesias như một sự tiếp nối của Dance Again đã là một động thái cần thiết để một lần nữa thu phục khán giả hâm mộ những bước vũ quyện lửa Latin của kẻ đã ở lại trên đỉnh vinh quang đủ nhiều và đủ lâu.

Ngay sau vụ ly thân với salsa divo Marc Anthony, Báo Lửa chín mùi hầm hập 41 thu vàng ấy lập tức tham gia đại vận hội môn chăn dắt phi công trẻ. Người ta nhìn thấy nàng công khai dung dăng với chàng vũ công Casper Smart chỉ mới 25 ngon nghẻ, xuất hiện tại tuần lễ thời trang Paris. Cặp đôi cùng đồng lòng quyết không khai một lời cùng báo giới, nhưng lại không dấu được những lời âu yếm như đôi chim câu trên Twitter. Nàng cám ơn chàng ngày kỷ niệm một năm hẹn hò vào ngày 25 tháng 10 vừa qua, chàng gọi nàng là “con gấu nhỏ bé ngọt ngào xinh xẻo tốt bụng nhất trên đời”, v.v… và v.v… Nhưng tuyệt nhiên, với những bước điêu luyện của Báo Lửa trên đường dài sự nghiệp, và chiến thuật lẫy lừng muôn thuở về những cuộc tình cùng những chiến hữu sáng giá, không quá nhiều người bỏ phiếu cho cuộc cá cược về một vụ đính hôn hay thậm chí kết hôn của họ.

article-0-127C11EC000005DC-741_634x357

Nàng giã từ  ghế nóng quyền lực của show Idol với lời từ biệt đầy khẩu khí như các đây chưa lâu, khi cô vũ công minh họa từ chối tour diễn của đại tẩu Janet Jackson: “Đã tới lúc quay về làm việc của mình!”

Việc của nàng, đó làm tất cả! Câu trả lời của Báo Lửa với Vanity Fair về cuộc ly thân với Marc Anthony cũng đủ để lý giải bản năng sinh tồn sự nghiệp của một nữ chiến binh thực thụ “Tôi tự yêu bản thân mình đủ để ra đi.” Nàng còn nói thêm: “Tôi lạc quan và toàn tâm để bước tiếp, nuôi dạy hai con, làm mọi điều tốt nhất ở tư cách một người mẹ, một nghệ sĩ giải trí, và một con người.”

jennifer-lopez-pregnant

Tám điều đàn ông thích nhất về Hà Hồ và Jennifer Lopez

Phụ nữ có thể ghét họ cay đắng và hể hả rằng Hồ Ngọc Hà quá vạm vỡ ở tư cách cựu người mẫu, còn J.Lo thì to béo thuần túy. Nhưng đàn ông, bất kể ông nào có tim còn đập và máu đỏ chảy trong vein, đều ngấm ngầm tán thưởng vòng ba đầy rù quến của hai bà mẹ một lửa này. Một cách thật thà bên trong những bộ cách đài các xa cách, họ hiện nguyên hình là những con gái của Nữ Oa với thân dáng của những chiếc bình với phần đáy to, chắc, và chứa đầy sức sống.

Jennifer+Lopez+Pitbull+2011+American+Music+K8PXk52nxNjlho-ngoc-ha-khong-co-chuyen-hat-nhep-tai-han-quoc-4

Chắc lẳn như hai nữ lực điền tuyệt đẹp, họ bạo dạn phô phang những múi cơ bụng rõ nét đáng thèm thuồng nhưng với sự mềm mại của những con báo cái mĩ miều trong mọi bước nhảy nhanh, mạnh, dứt khoát và cực kì kích động trên sàn diễn. Cặp đùi họ không thanh mảnh kiểu đũa ngà, nhưng đủ dài để quấn vòng quanh một chiếc cột, và đủ rắn chắc để giết chết một con trăn.

article-2125859-127CDB7C000005DC-719_634x643ho-ngoc-ha-daniel

Bước ra khỏi ánh sáng sàn diễn và những vũ đạo bạo liệt, Hà Hồ và J.Lo đều thuyết phục công luận và mọi phóng viên từng tiếp xúc bằng một sự nhã nhặn tỏa sáng. Họ chưa bao giờ và không bao giờ hạ mình tới mức nhũn nhặn, nhưng từ hành vi, phong thái, cho đến thái độ chiều chuộng ống kính, hào phóng ban phát nụ cười nữ hoàng, cả hai đều biết cách thể hiện sự trang nhã tối ưu của tính nữ. Có thể nói, bên cạnh mọi tài năng mà ngành công nghệ giải trí đòi hỏi, phong thái một nữ hoàng showbiz này không phải là điều mà bất cứ cô đào nào cũng tập luyện thành công được.

1331917506_jennifer-lopez-hrhnha5

Đặc điểm nhận dạng của họ vẫn là làn hơi sặc khói, khàn khàn mơn trớn, thứ giọng người ta chỉ có thể nghe khi nói rất sát bên tai, và trên chăn gối.

Ngoài những bộ váy thiết kế xa xỉ, họ cùng sở hữu những lọn tóc mây mỡ màng như một thứ chất liệu hoàn hảo cho mọi nhà tạo mẫu tóc, từ lối bới cao kiêu kỳ khoe cổ thiên nga, đuôi ngựa cho những ngày của smart casual, xoắn từng tép hoang dại, hay thả những lọn to bồng bềnh bao quanh hai đôi lưỡng quyền trứ danh. Khó lòng có người đàn ông nào không ao ước được luồn ngón tay vào mớ vật chất đầy rù quến đó, dù chỉ để vuốt ve.

como-ama-una-mujer-photoshoot-jennifer-lopez-20137166-600-705121130musikHH014cbb85jpg1354260029

Dù là một chiếc sơ-mi trắng giản dị với cặp jeans bó ngặt nghèo, hay chiếc áo bodysuit dát kim sa óng ánh trên sân khấu, hoặc lộng lẫy với váy maxi dạ tiệc, Hà Hồ và J.Lo luôn ở đỉnh cao của sự gợi cảm với ưu thế của thân hình tây ban cầm. Nhưng sexy, khi đó là Hà Hồ hay J.Lo ở đỉnh cao phong cách, chưa bao giờ đồng nghĩa với gợi dục.

JENNIFER-LOPEZ-CASPER-SMART-AMASho-ngoc-ha-sexy-tot-dinh-voi-mau-nude-0

Dù tự nhiên hay xã giao, khiên cưỡng, họ thuần thục đến điệu nghệ món vũ khí tối thượng của đàn bà: nụ cười. Họ cười bằng mắt, bằng cả hàm răng với quang lực nhiều megawatt, và khuôn miệng rộng, rạng rỡ, luôn mang lại những nụ cười tỏa sáng và dễ lây.

Cuối cùng thì dù đang rã mồ hôi trên sàn tập, hay tuyệt mĩ chỉnh chu trên thảm đỏ, dù ngổ ngáo như những nữ chiến binh gợi tình nhất hay lộng lẫy quyền uy trên ghế nóng truyền hình, thứ mà những người đẹp khác không thể tập luyện hoặc mua sắm mà có được, thứ quật ngã hay khơi gợi mọi lòng tôn ngưỡng của đàn ông, thứ biến những thân hình đàn bà thành sự khêu gợi thách thức của những chiếc cúp cầu kì cao giá, đó chính là hào quang của sự tự tin, và sinh lực của những con báo lì đòn, khôn ngoan, và tạo lập nên tất cả không chỉ từ nhan sắc – họ đã thật sự lao động cật lực cho hào quang có thật của mình!

ho-ngoc-hacomo-ama-una-mujer-photoshoot-jennifer-lopez-20137070-500-618 

mật mã Christian Dior

 

Trác Thúy Miêu

Không dưới 300,000 bông hoa tươi tại buổi diễn haute couture trong mùa Thu Đông 2012 mới đây tại Paris, nhắc nhớ đến những đóa hoa lộn ngược đã từng đảo lộn cả cục diện thời trang thế giới vào mùa Xuân năm 1947, cũng tại buổi diễn nhà Dior.

Vượt qua cơn chao đảo sau sự ra đi ô nhục của Galliano, chưa bao giờ những sáng tạo của tổ nghiệp Christian Dior lại được nhắc tới nhiều đến thế. Nhưng không mấy ai biết, không chỉ khai sinh ra trường phái New Look, cải mệnh cho cả nền thời trang haute couture hãnh tiến của Pháp, bên dưới những chiếc chân váy xòe phù phiếm của thiết kế New Look, Christian Dior đã cài cắm cả một đại đồ công nghệ ready-to-wear cho thị trường thời trang dân chủ, tiên phong cho chiến lược license và chiêu bài phụ trang – mà ngày nay vẫn đóng vai trò vũ khí tối thượng trong bài toán tồn vong của mọi thế lực thời trang trên thế giới.

Raf Simons đã phục chế và cải biên mỗi 20 yard vải xa xỉ của New Look, nhưng liệu gã có là người thật sự nắm giữ chìa khóa mật mã Dior?

Tay quân nhân đa cảm

Ngược chiều lịch sử thời trang couture Pháp, người ta không thể không nhắc đến thanh danh một thời lừng lẫy Lucien Lelong – người hầu như không bao giờ trực tiếp thiết kế, mà chỉ khai triển các ý tưởng sáng tạo qua các thiết kế riêng của mình. Đó cũng là lí do vì sao ông còn được biết đến như một lò tôi luyện mát tay cho nhiều tên tuổi couturier Pháp về sau

Năm 1942, một lần nữa, Lelong lại minh chứng cho sự sáng suốt trong thuật dụng nhân khi tiếp nhận tay quân nhân phục viên trẻ tuổi Christian Dior vào vị trí thiết kế chính bên cạnh Pierre Balmain. Kinh nghiệm duy nhất của cậu Christian lúc này là những bức vẽ thời trang được bán trên vỉa hè với giá 10 xu, một gallery hội họa bị sập tiệm, và một quãng thời gian học việc tại tiệm Robert Piguet trước khi nhập ngũ.

Vào thời kỳ này, Paris đang trải qua kỳ nô dịch của các tông đồ, trong cuộc vị kỷ đặc trưng của tính phù phiếm thời trang, khi không chỉ Christian Dior, mà các tên tuổi sáng giá như Jean Patou, Jeanne Lanvin và Nina Ricci, cũng phải thân chinh nghênh đón sự ưu ái đến từ kẻ thắng trận – họ trở thành những nhà thiết kế và bạn thâm giao của các phu nhân của sĩ quan Quốc xã cao cấp đồn trú tại Paris. Trong khi đó, người em gái của Dior là Catherine lại gia nhập quân kháng chiến Pháp. Cô bị Gestapo bắt và đưa và trại tập trung Ravensbruck, nhưng may mắn thoát chết và được trả tự do vào 1945. Về sau, với lòng tự hổ thẹn của bản thân, và sự tự hào về người em gái, ông đã dành tặng dòng nước hoa đầu tiên Miss Dior để vinh danh Catherine.

Khía cạnh xúc cảm đầy cá nhân tính này của Dior cũng thể hiện thuộc tính mẫn cảm và lãng mạn của các couturier Pháp. Mỗi bộ sưu tập của ông luôn đi kèm với mẫu áo khoác được đặt tên theo thị trấn sinh trưởng của Dior – ‘Granville’, và ít nhất luôn có một người mẫu trình diễn với loại hoa mà ông yêu thích: lilly of the valley.

Corolle – vòng hoa lập quốc

Năm 1946, chững chạc bước khỏi chiếc nôi tiệm Lucien Lelong, Dior chính thức đặt viên gạch đầu tiên cho đế chế haute couture lẫy lừng mang tên mình, với thủ phủ đặt tại trái tim của Paris – nhà số 30 đại lộ Montaigne, cùng sự hậu thuẫn của tài phiệt Pháp Marcel Boussac. Họ đã cùng nhau thiết lập cả một tiểu vương quốc với 6 triệu franc và 80 nhân công tinh nhuệ được chắt lọc khắt khe nhất.

Tiệm Christian Dior tại nhà só 30 Avenue Montaigne là một đế chế hơn là một tiệm thời trang thượng lưu, bởi ngay từ cuộc trình diễn ra mắt đầu tiên, Dior đã đơn phương tung ra cả một cuộc cách mạng không tiền khoáng hậu, vĩnh viễn trở thành dấu ấn trứ danh của không chỉ đế chế Dior, mà còn là tiền đề cho bộ mặt lịch sử thời trang nhân loại về sau: huyền thoại New Look.

Thoạt tiên, bộ sưu tập độc lập đầu tay của Dior được đặt tên là Corolle (Vòng Hoa), chính Carmel Snow – tổng biên Harper’s Bazaar khi ấy, đã mệnh danh New Look cho bộ sưu tập, khi thốt lên “Đây quả là một cái nhìn mới (new look) của thời trang!” Còn với Dior, khi nhận xét về form dáng chủ đạo của cú tung đòn chào sân này, ông chỉ sung sướng thốt lên “Tôi đã thiết kế nên những nữ thần hoa!”. Nhưng đó không hề là những bộ giả trang biết người mặc thành những bông hoa lộn ngược, mà cho họ một vẻ yêu kiều phù phiếm nhưng tinh tế với vòng eo mong manh và vòng hông phồn thực.

Bộ sưu tập được tung ra ngày 12 tháng Hai, 1947, như đòn chiến lược phủ đầu của tân đế chế dưới hình hài bộ sưu tập Xuân hè 1947. Về sau, các mô tả còn nhắc lại hình ảnh 90 người mẫu được tuyển chọn cầu kì, khoan thai diễu hành tại đại bản doanh 30 đại lộ Montaigne với hai dòng thiết kế được đặt tên ngộ nghĩnh “Mèo và Chó” và “Huit”.

Nhắc về ảnh hưởng New Look trong tư duy thiết kế của mình, Dior giải trình trong hồi ký: “Tôi muốn những thiết kế của mình được xây dựng đúc khuôn trên chính sự tuyệt mỹ trong cấu trúc thân thể quý bà – những người điệu đàng trong cả lúc quét nhà”.

Ông tin rằng các nữ thân chủ đáng thương của mình đã quá ngột ngạt sau thời chiến tranh kiêng khem tằn tiện, và ngấy đến tận cổ những bộ váy tuềnh toàng kiệm vải như những bộ đồng phục khắc khổ. Cũng như những quý ngài quân nhân, những người đàn bà của họ cũng cần được xoa dịu, hồi sức, và đặt về đúng vị trí được cưng chiều của mình sau cơn bĩ cực của Âu châu trong chiến cuộc. Ông quyết định chào mời họ một hình thái mới của sự yêu kiều đỏm dáng đến cùng cực, được nhiệt tình lăng-xê bởi những minh tinh diễm kiều nhất.

Giới thượng lưu Âu châu thở phào hân hoan chào mừng sự trở lại của những bộ cánh xa xỉ hào huê, các nhà thiết kế cùng thời cũng không khỏi bị ảnh hưởng bởi sức thuyết phục hoàn chỉnh của New Look. Hiệu ứng cải mệnh được minh chứng hoàn hảo, Dior chính thức khoác bộ cánh mới cho toàn thảy giới thượng lưu châu Âu và Hoa Kỳ trong cơn sốt rần rật lan truyền từ mọi tủ quần áo của các nữ lưu hàng đầu xã hội.

Những bà hàng xén cục tính và các quý bà mau quên

Nhưng New Look đã không dễ dàng thuyết phục toàn xã hội Âu châu, khi này còn phân tầng giai cấp rõ rệt. Người ta gay gắt lên án thú chơi ngông của Dior khi thẳng tay cổ súy cho việc dùng 20 yard vải thượng hạng cho mỗi chiếc váy, khi mà các nữ thị dân trung lưu đáng kính vẫn còn o ép thói làm đỏm thuần chủng Paris của mình trong những chiếc váy cộc kiệm vải như một tàn dư khắc khổ của kinh tế thời hậu chiến. Trong hình hài một cuộc cách tân táo bạo, New Look lại dư dả yếu tố hoài cổ để thắng lớn khi nhắm vào ký ức vàng son của thời trang tiền chiến, thậm chí lui về các trào lưu hoàng kim đầu thế kỷ, với vòng eo siết chặt sắc màu trưởng giả, những chiếc bustier lồng gọng xương, táo tợn phô phang bờ ngực đẫy đà ngổ ngáo. Tất cả là một hình hài mới của những madame Bovary, các cô gái nhà Gibson của một thời văn chương lẳng lơ khuê các.

Trong một buổi chụp ảnh lăng-xê New Look, các người mẫu nhà Dior đã bị tấn công bởi đám đông các bà nội trợ phát cáu trước những chiếc váy trưởng giả ngoài tầm ngân quỹ đám đông. Các couturier phái thủ cựu khinh miệt những cặp găng tay, kiểu giày và nón lích kích lang cang của New Look, và coi Dior như một gã hàng xén kiếm lời từ những món quà vặt bán kèm hơn là tôn vinh giá trị tối cao và duy nhất của thiết kế couture.

Nhưng cuộc phản kích không kéo dài quá lâu, cùng dòng hồi hương ồ ạt của giới thượng lưu, New Look trở thành một liệu pháp xoa dịu tinh thần và khiến người ta mau chóng quên lãng dư chấn kinh hoàng của cuộc đại chiến. Paris vụt trở về hình hài huy hoàng, ít ra là về hình thức của một kinh đô hoa lệ, tâm điểm hành hương của những quý bà vẫn ôm lòng nuối tiếc những cửa tiệm thời trang cầu kỳ và phù phiếm trong cơn lốc New Look.

Sau khi minh tinh Rita Hayworth và Margot Fonteyn xỏ thân hoa vào những yard vải yêu kiều của New Look, thì Dior chính thức chinh phục cả các bậc nữ lưu quyền quý của hoàng gia Anh quốc. Ông được vời đến biệt điện để thực hiện catwalk show vương giả đặc biệt dành riêng cho hoàng tộc, khiến vua George V âu lo cấm tiệt hai vị công chúa trẻ là Elizabeth và Margeret mặc bất cứ mẫu New Look nào, để nêu gương giản dị cho con dân Anh-quốc, khi này vẫn lao đao thắt lưng buộc bụng trên đống hoang tàn hậu chiến, dù chính New Look cũng ủy lạo form dáng “thắt lưng buộc bụng”, thậm chí có phần cực đoan triệt để (!)

Mặc tình, các công nương hoàng gia lại tiếp tục gia nhập câu lạc bộ thượng khách nhà Dior, kéo theo toàn thể các nữ yếu nhân Anh quốc. Cùng lúc, với ảnh hưởng của cô đào vương giả Grace Kelly, New Look chính thức chinh phục cả hai phe tân cựu, và báo hiệu hoành hành Hollywood trước tiên, như để khai pháo cuộc tấn công bạo liệt nhất vào thị trường thời trang Tân Thế Giới.

New Look: Chiến lược thiên tài ẩn trong tầng váy couture

Dior chào mời cho Paris một khái niệm nữ tính mới, với những đường cong cơ thể được tạo khối mạnh mẽ với thân trên bó sát, gia cố khung gọng, các miếng đệm ở hông càng đường bệ tôn vinh thân dáng như những chiếc đồng hồ cát của các nàng vệ nữ Paris. Cũng như trong trường hợp của chiếc váy mini huyền thoại Chanel, form dáng của New Look được ghi nhận đã xuất hiện từ trước thế chiến, và nhanh chóng bị thui chột do đột biến kinh tế khi cuộc đại chiến nổ ra. Cũng vào thời điểm ra đời của New Look nhà Dior, Christóbal Balenciaga, Jacques Fath và Charles James cũng tung ra form váy tương tự cho dạ phục. Nhưng chỉ có Ngài Dior mới can đảm đẩy New Look vào cả dòng thời trang mặc cho ban ngày – nơi nội lực tồn tại của nó được phổ cập mạnh mẽ nhất.

Cũng từ bước bành trướng sang tủ quần áo mặc ban ngày của quý bà quý cô mà New Look vững vàng trên vị trí khống chế mọi kiểu dáng trào lưu của thời trang thế giới cho đến tận thập niên 1960 và vĩnh viễn ghi dấu ấn không chỉ như một trào lưu, mà trở thành một trường phái mang tên Dior. Chỉ tính trong năm 1949, chỉ riêng dòng hàng mang âm hưởng New Look đã mang lại cho nhà Dior một khoản lợi nhuận 12.7 triệu franc.

Mỗi nửa năm một lần, Dior tung ra một tuyên ngôn mới, diễn dịch bằng cấu trúc, form dáng, và trực tiếp quyết định tốc độ vòng xoay của trào lưu thời trang thế giới, cùng áp lực lên các kỹ nghệ tân kì của kỹ thuật may thêu thủ công của làng nghệ nhân couture Pháp, thành hình các bước ngoặt tiền đề cho sự phát triển của haute couture Paris ngày nay.

Những sáng tạo đều đặn ấy của “kỷ Dior” còn mang ý nghĩa thương mại khi thúc ép các tín đồ vào cơn sốt đổi thay diện mạo tủ trang phục với một mật độ đều đặn theo mùa, vĩnh viễn xóa bỏ thói quen của hững chiếc váy “gia truyền” hằn nếp xếp và thơm mùi long não được tận dụng qua hàng thập niên, thậm chí hàng đời nữ chủ.

Ông cũng là nhà thiết kế đầu tiên đặt trọng sự phối hợp của tổng thể diện mạo, với trang phục chỉ là một trong các yếu tố cấu thành. Các thiết kế dòng New Look cho mãi đến về sau, đều đòi hỏi một sự phối hợp hoàn chỉnh của giày, găng và mũ, để có thể thành hình một tác phong chuẩn mực và toàn mỹ. Cũng chính từ tư tưởng này, Dior cùng đồng sự là Jacques Rouet tiếp tục tung ra dòng phụ trang xa xỉ, lúc này bị lên án kịch liệt bởi French Chamber of Couture. Phái bảo thủ cho rằng việc giá trị của couture bị quyết định bởi những món “quà vặt” ấy là một điều xúc phạm ghê gớm, và là một chiêu thuật mang màu sắc con buôn. Chỉ vài thập niên sau đó, chính chiêu thuật con buôn cùng những dòng sản phẩm phụ trợ như nước hoa, mỹ phẩm, túi xách và mắt kính đã trở thành những vị cứu tinh thần kì và bền bỉ của ngành công nghệ thời trang toàn thế giới nói chung, và haute couture nói riêng.

Được biết đến như ông hoàng couture của nước Pháp, nhưng chính Chrisian Dior cũng được phái ready-to-wear âm thầm thờ phượng như một vị tổ nghiệp, khi đã là nhà thiết kế đầu tiên thiết lập trường phái ready-to-wear với các cửa tiệm sang trọng ở đại lộ số 5 và 57, New York, vào tháng Mười Một, 1948.

Cũng trong năm ấy, như một nhà chiến lược khôn ngoan và sự hậu thuẫn sáng suốt của Boussac, Dior tiếp tục khai trương dòng nước hoa Dior Parfums và quả bomb thương mại chào sân mang tên Miss Dior, như một sự tưởng nhớ ưu ái đến người em gái Christina, và một năm sau là nước hoa Diorama, khiến cái tên Dior chính thức trở thành đại diện cho một phong cách thời trang hoàn chỉnh cho quý bà, từ lụa là xống váy đến mùi hương.

Năm 1949, một lần nữa, giới kinh doanh thời trang ngả nón tôn vinh nhà Dior là bậc thầy chiêu thức khi tiên phong trong việc phát hành license phụ trang, như một chiến lược đi cùng tư duy thiết kế của New Look, đòi hỏi sự đồng nhất của các món phụ trang giày, găng, nón,… đi kèm, để thật sự có được một lệ bộ New Look hoàn chỉnh và sành điệu. Từ New Look, các phụ trang thật sự được coi là những thành tố cấu thành của một mẫu thiết kế, và sự am hiểu hoàn mỹ của tư cách một tín đồ thượng lưu chân chính. Cùng với cộng sự khi này là Jacques Rouet, Dior phát hành các license, củng cố đế chế bởi một lực lượng đồng minh khét tiếng của các dòng phụ trang, từ vớ dài, khăn lụa, đến mỹ phẩm. Quyền lực các hội sở lan rộng toàn cầu, Dior trở thành thế lực bất bại và thành chiến lược mẫu mực cho các nhãn hàng thời trang cao cấp về sau.

Ẩn chứa phía sau những tán hoa cầu kỳ của New Look là một công thức thẩm mỹ và văn hóa hoàn chỉnh của bộ óc thiên tài Dior. Nhưng vì tính xa xỉ trong những tầng vải hào phóng, cùng sự bất tiện của vẻ cầu kỳ trong cấu trúc đã khiến New Look lu mờ ngay sau cái chết của cha đẻ Dior. Ông đã không kịp viết nốt những chương khai triển cho mệnh đề tuyệt hảo của mình.

Xương cá, ván bài định mệnh, hay ái tình cho cái chết của Vua?

Dior tiếp tục khuynh đảo thị trường thế giới vào những năm 1950, nhưng chưa lần nào lặp lại sự hiển hách của cú chào sân lẫy lừng New Look. Vào lễ kỷ niệm 10 năm thành lập, năm 1957, nhà Dior đã bán ra 100,000 bộ trang phục, còn bản thân nhà thiết kế thì nghiễm nhiên xuất hiện trên trang bìa tạp chí Time tháng Ba cùng năm.

Cậu Yves Saint Laurent trẻ tuổi – khi này mới 19, được Dior nhận vào vị trí trợ lí thân cận của nhà thiết kế. Hai năm sau đó, Christian Dior gặp bà Lucienne Mathieu Saint Laurent – thân mẫu của Yves, và thổ lộ quyết định chọn con trai bà làm kẻ kế vị về sau. Khi này, Dior mới 52 tuổi và đang kỳ sung mãn. Vào ngày 23 tháng Mười năm 1957 đáng nhớ đó, sau đúng 1 thập niên lập quốc lẫy lừng, Christian Dior – bậc thầy couture và chiến lược ready-to-wear của thời trang thế giới vĩnh viễn trút hơi thở cuối cùng tại Montecatini, Ý.

Cho đến nay, những lời đồn đại xoay quanh cái chết của ông vẫn phủ điểm thêm cho hào quang tên tuổi thiên tài một tấm màn bí ẩn sành điệu. Trong số những lời xì xầm của nội giới có cả một cuộc ái ân quá bạo liệt dẫn đến suy tim, một tai nạn hóc xương cá, và một ván bài gay cấn khiến trái tim đang suy yếu của thiên tài của thời trang thế giới ngừng đập.

Một số tờ báo lúc bấy giờ cho rằng nguyên nhân cái chết là do suy tim khi bị hóc xương cá trong bữa ăn. Tờ Thời Báo, vừa đăng ảnh Dior lên trang bìa 7 tháng trước đó, thông cáo về nguyên nhân cái chết là do suy tim bởi hưng phấn trong một van bài gay cấn. Nhưng chỉ riêng nhà quý tộc và thâm giao tri kỷ của Dior là Alexis von Rosenberg, Baron de Rédé, trong cuốn hồi ký của mình, là nhắc đến một tin đồn hành lang khác của giới nhạy tin, cho rằng trái tim thiên tài đã ngưng đập sau một trân mây mưa lừng lẫy – như một cái chết huy hoàng và đáng mơ tưởng nhất xứng đáng với một vị vua.

Cho đến nay, người ta vẫn tranh cãi dữ dội về các nguyên nhân này. Sự thật hiển nhiên duy nhất về Dior đó là cục diện thời trang thế giới đã vĩnh viễn ghi dấu ấn chóng vánh nhưng sâu sắc của ông.

Đế chế bị thôn tính và những kẻ kế vị

Ngai vàng bỏ trống của Dior khiến vương triều của ông trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Dường như không một ai trước và sau Dior có thể xứng tầm để lấp vào hố đen không đáy mà thiên tài quá cố đã để lại sau lưng. Rouet bộc lộ ý định khai tử đế chế Dior, nhưng gặp phải sự phản đối dữ dội từ các đối tác nhượng quyền license của nhà Dior, và toàn thảy nội giới của thời trang Pháp. Quyền lực, vai trò và cuộc tồn vong đại mệnh của House of Dior khi này đã trở nên quá quan trọng cho cả nền kinh tế của nước Pháp lúc ấy. Rouet buộc lòng phải chỉ định kẻ kế vị, và cánh tay phải của Dior lúc sinh thời – vị á thần ẻo lả Yves Saint-Laurent lên ngôi nhiếp chính khi chỉ mới 21 tuổi. Cuộc đăng quang thuận tình tất thảy tín đồ thời trang Pháp và thế giới, những đoàn hoa tươi một lần nữa được tấp nập gửi đến nhà số 30 đại lộ Montaigne, nhưng lần này là để chúc tụng vị tân vương.

Sau 4 mùa phụng sự, Yves từ bỏ lốt á thần nhà Dior để khai lập đế chế riêng. Vị trí của ông được thay thế bởi Marc Bohan, với một cuộc cách mạng nho nhỏ mang tên Slim Look, nhưng chưa bao giờ trở thành cơn lốc huyền thoại như dấu ấn New Look của vị tiền nhiệm lẫy lừng. Nhưng Slim Look, cùng những sáng tạo làm nên lịch sử của Yves Saint Laurent về sau với váy Mondrian và tuxedo nữ, hay đại tiệc hoa tươi gần đây nhất của tay người Bỉ Raf Simons vẫn cho thấy kể từ khi con tim Dior ngừng đập, các triều đại kế vị vẫn là những hậu bối của một sức ảnh hưởng trường tồn của dấu ấn Pháp mang tên Christian Dior.

Cuộc khai tử đáng lẽ đã diễn ra sau cái chết của Dior cuối cùng lại xảy đến năm 1978, với tuyên bố phá sản của tập đoàn Boussac. Nhưng điều này đã không còn xâm hại được đến sự tồn vong của đế chế Dior, với uy quyền và vị thế đã được rỡ ràng khẳng định – nhà Dior chính thức thuộc về tập đoàn Willot. Năm 1994, Bernard Arnault không hổ danh trùm cá mập thời trang, đã khôn ngoan dang vòng tay hào phóng mua lại tập đoàn Willot, mà ở đây, món hàng sáng giá nhất chính là nhà Dior, như viên ngọc sáng giá nhất trên đỉnh chiếc vương miện thời trang Pháp hào hoa.

Phiên bản Ăng-lê ấm đầu và vòng hoa tang 300,000 đóa

Và đó là khi nhà Dior bắt đầu một triều đại vàng son và ồn ào với vị tân vương Ăng-lê do Arnault chỉ định – John Galliano.

Giới bảo thủ Pháp gầm lên phẫn nộ trước gã Ăng-lê nhỏ thó và xấc xược, Arnault được dịp minh chứng cho tư duy tân kỳ cởi mở của bản thân với lời tuyên bố “Bản thân tôi đã hi vọng tìm được một giám đốc sáng tạo người bản xứ, nhưng tài năng không có quốc tịch, và tôi tìm được John. Y có thể nói tiếng Anh, nhưng thiết kế nên thời trang Pháp. Ngôn ngữ sáng tạo của John chính là thứ mà Monsieur Dior từng dùng để viết nên bản tuyên ngôn thời trang của mình: một sự pha trộn giữa trường phái lãng mạn, thói đỏm dáng lẳng lơ nồng nặc đàn bà tính, sự lịch lãm cổ điển bất hủ, và tính thời thượng táo tợn nhưng vô cùng chặt chẽ.”

Quả nhiên, Galliano khai mở cho kì đại thịnh của đế chế Dior, gã không là Christian Dior khi khôn ngoan không chọn lặp lại hào quang của vị tông đồ người Pháp. Galliano bành trướng Paris với chiêu trò “porn chic” đầy nhục cảm, dẫn đầu một trận sốt sặc mùi tính dục ảnh hưởng lên cả thiết kế của các nhãn hàng khác. Nhưng bằng một cách nào đó, Galliano nhắc người ta nhớ trận “sốt” kinh hoàng của hiện tượng New Look. Thay vì cần mẫn cách tân các thiết kế của Christian Dior, người ta nhận ra sự tương đồng giữa 2 nhà thiết kế cách nhau vài thế hệ qua tư duy thẩm mỹ ẩn sau các chiến dịch quảng cáo ngông cuồng và bạo ngược chỉ thuộc về những thiên tài mang mệnh đế vương.

Không là kẻ trực tiếp chăm sóc dung nhan cho các phu nhân Quốc xã như nghiệp tổ Dior, nhưng hậu bối Galliano đã chạm đến ngưỡng cuối cùng của sự ngạo mạn khi dây vào vụ vạ miệng mạt sát người Do Thái. Như một cái cớ hoàn hảo, nhà Dior thải hồi vị tông đồ lẫy lừng nhất của huyền sử triều đại couture này.

Một lần nữa, mệnh tồn vong nhà Dior chao đảo với ngai vàng bỏ trống sau lưng tên ngạo vương lưu vong. Lặp lại phương kế của Rouet năm xưa, sau cái chết của Dior, Arnault buộc lòng chỉ định cánh tay phải của Galliano là Bill Gayten vào vai nhiếp chính, trong khi ngai sáng tạo chính thức được rao tìm người kế vị.

Đó lại đã là một giai đoạn chông chênh đáng nhớ của cục diện thời trang toàn thế giới.

Cho đến khi gã người Bỉ Raf Simons – vốn là một designer theo trường phái tối giản, bất ngờ đăng quang vào chiếc ghế tối cao của quyền lực haute couture toàn thế giới.

Điều đầu tiên gã đã có thể làm, là nhắc nhớ thế giới đến một Christian Dior phía sau những năm dài đầy hào quang điên rồ của gã hiệp sĩ râu kẽm Galliano. Khôn ngoan tránh né ảnh hưởng của Kỷ Hoàng Kim mang dấu ấn tay người Anh, Raf bỏ ra 4 tháng trong kho lưu trữ nhà Dior và 300,000 bông hoa tươi phủ ngập gian khánh tiết vào tuần lễ thời trang haute couture Pháp mới đây, như một sự nhắc nhớ đến quyền năng trường tồn bất bại của New Look, vừa như một tang lễ buồn thảm cho một huyền thoại bất khả tái hồi.

 

người đàn ông kể chuyện cổ tích vào khóe tai quý bà

Trác Thúy Miêu

 Maurice Roucel liều lĩnh sử dụng những note mùi bạo tay để rung gợi mọi dây thần kinh khứu giác của tiềm thức và kỷ niệm: mùi bánh quy, hương vanilla trên lớp kem sữa của những ổ bánh cưới, mùi hạnh nhân bỏ lò, nỗi ám ảnh của hương kem chống nắng sặc sụa vùng biển quê ông, và những ly lemonade của các tiểu thần nữ từ thôn trang đến tỉnh lỵ… Một “giấc mơ tuổi hồng” sến sũng đặc sệt hương xưa, được xây dựng từ hoa sứ rẻ tiền và mùi thơm của những món quà vặt, được tài tình sắp đặt vào các tầng hương mà tạo thành một trạng thái hưng cảm đồng bóng của một câu chuyện cổ tích không-dành-cho-trẻ-con sặc sụa ái tình và sắc dục.

Mùi hương, ở một hình thái tự hiên nhất, là hợp hương của thảo nguyên, rừng thẳm, hoa quả, nước và quý mộc. Nhưng rồi cũng đến đầu thế kỷ 21, khi tất cả được bỏ lọ, đóng nút trong dây chuyền công nghệ hẳn hoi – như những giọt cảm xúc và hồi ức được lên công thức, và sản xuất hàng loạt.

Nhưng kể từ huyền thoại Chanel No.5 ra đời những năm 1920, lịch sử nước hoa sang trang và sản sinh ra những mùi hương lẫn thành phần tổng hợp không hề có trong tự nhiên. Không hữu hình và hữu hạn như những trường phái hội họa, nhưng nó lay động những dây thần kinh tiềm thức và nhắc người ta nhớ đến những khoảnh khắc, cảm xúc, không gian, kỷ niệm có thật. Mẹ Thiên Nhiên cho người ta những khuôn mẫu của mùi hương, và chính con người cũng góp phần vào kho tàng tiềm thức mùi ấy, với thức ăn, mùi da thịt, vải vóc, mùi trộn lẫn của các thứ mỹ phẩm lẫn trong mồ hôi, hay một lọ nước hoa đã cũ, v.v… Điều này khiến kho tàng những thành phần mùi hương trở nên vô tận, sáng tạo chồng chất lên sáng tạo.

Hoa San Hô – câu chuyện cổ tích mùa hè của Lolita Lempicka đã ra đời theo dòng kể tiếp diễn từ “chương I” mang tên L de Lolita Lempicka ra đời trước đó không lâu.

Cú nhắm đã tài tình xuyên thấu hồng tâm tiêu thụ, khi lão Maurice Roucel khoái trá rung giật mọi nút thần kinh khứu giác lẫn yếu huyệt tiềm thức của bất kì perfumista ở trường phái hay gout khứu vị nào.

Vết tình trên cổ quý bà và chân dung tình dược Hoa San Hô

Mùa hè năm 2008, sau một loạt các hợp hương thần thoại màu mè với những quả táo óng ánh và cỏ ba lá thếp vàng, tiểu thần nữ Lolita Lempicka lại tiếp tục với câu chuyện cổ tích dành cho mùa hè, của loài ngư nữ biết thoa kem chống nắng, nhai bánh bích-quy thơm phức mùi vani, và biết giờ trò lẳng lơ với bông hoa sứ cài đầu.

Fleur de Corail (Hoa San Hô) chính là cái tên lí tưởng nhất để định danh cho sự lộng lẫy hoang dại của hợp hương ngỗ nghịch và lãng mạn này, kết hợp giữa nước ép trái cây Địa Trung Hải, kem chống nắng và bánh cưới – một câu chuyện cổ tích lắm dữ kiện của gã rậm râu Maurice, được kể bằng một giọng đặc sệt âm sắc Francophone.

Lão ngang ngược lôi tuột các perfumista đến một hoang đảo trong cuộc đào tẩu màu mè, hoang đàng và đầy nắng gió bằng thứ nước biển tổng hợp đựng trong những lọ thủy tinh diêm dúa giá 47USD/1.0 oz. màu xanh đỏm dáng, với hình thù gần như bất định của một giọt nước nhang nhác hình tim, với góc cạnh nhẵn thín như những viên sỏi biển. Một hạt ngọc trai nhỏ xíu đính vào tấm lưới đánh cá bằng sợi vàng tinh xảo quấn quanh cổ chai, lủng lẳng một mề đay khắc hình nhánh hoa đá, một Chi Đại Hoa trắng muốt và mẫu tự L nửa bay bướm nửa ngô nghê – tất cả được sắp đặt ngẫu hứng như đang dập dềnh trên mặt bể màu xanh lơ pha sữa đục.

Nhưng chính những giọt tinh chất chứa đựng bên trong, ở tận cùng lớp khám phá, mới là cao trào của câu chuyện cổ tích mùa hè.

Các nhà phê bình nhận xét rằng lần này, lão Maurice lại tung ra câu chuyện của những cuộc ái ân chớp nhoáng kiểu Địa Trung Hải, ngụy tạo những vệt mùi đầy ẩn ý trên cổ, sau dái tai và giữa khe ngực các quý bà quý cô.

Ly mocktail vô hại, bánh quy vùng Provence, và chuyện nàng ngư nữ háu tình

Lão đã kể câu chuyện cổ tích long lanh không dành cho trẻ con của nhà Lolita Lempicka như thế, bắt đầu với một ly mocktail vui nhộn và có vẻ như vô hại.

Lớp đầu tiên là những note nho, bưởi và cam bergamot lanh canh như một ly mocktail cho các cô chưa đủ tuổi uống rượu.

Nhưng ngay từ khoảnh khắc tiếp theo, hợp hương biến chuyển thành một vụ bùng nổ nho nhỏ mùi bánh quy. Chính xác là món biscuit Navette marseillaise truyền thống của những quầy đồ ngọt miền Provence, một sự trộn lẫn giữa hương thơm vani và nước cam.

Nhưng món khai vị với dư hương cam lẫn vani béo ngậy được nhanh chóng chuyển tiếp vào một note hương gần như hạnh nhân, và sự tươi tắn của cam chuyển thành một hợp hương hoa nhài, hoa sứ hoặc mộc lan, non nớt nhưng nồng nàn và… nóng nực.

Đó là một sự dọn đường lí tưởng cho cao trào hương hoa của tầng hương giữa. Một sự bung nở của khám phá dậy thì, với các note hoa trắng xuyên suốt. Như thể một cô gái đã đến tuổi, ngậy và đầy dụ dỗ vô tâm như một mẻ bánh quy hạnh nhân đã chín tới. Những note hương ấm nóng chỉ được làm dịu nhất thời bằng hương hoa trắng, nhưng bùng nổ, nồng sực và dai dẳng như làn da đượm mùi kem chống nắng được hít ngửi rất, rất gần.

Như một tiểu thần nữ miền nhiệt đới được đặt vào ngai chủ đạo, hoa sứ được đặt lên đoạn cao trào của tầng hương giữa. Hoa sứ, trong ngành công nghệ bào chế mùi hương, là nguyên liệu chính của tinh dầu “Monoi”, các sản phẩm chống nắng và cả bánh cưới. Một mối liên kết hình dung hoàn hảo cho ý tưởng cổ tích mùa hè của Lolita!

Bữa tiệc bơ sữa và cô dâu Địa Trung Hải này kéo dài một cách tài tình tới 6 đến 7 tiếng đồng hồ, trước khi bước vào những note dư hương của tầng cuối.

Tại phần kết của câu chuyện có hậu, các note hương được lắng xuống từ của tâm điểm hương hạnh nhân và hoa trắng, thành một thứ mùi kem vani và mộc lan đã được khéo léo ẩn vào note trầm từ tầng đầu. Sự ngọt ngào bồng bột của ly mocktail khai vị và bữa tiệc bánh quy đã biến mất không dư vị. Tất cả còn đọng lại trong khả năng lưu hương đến 2 tiếng của tầng cuối là dư chấn váng vất của một cơn say nắng bất thần còn rung lên hầm hập mùi nắng, cát, và vị kem sữa của da thịt dậy thì.

Cả thế giới chìm đắm vào câu chuyện của lão rậm râu người Pháp, tiếp nối câu chuyện cổ tích nhiều chương về quả táo long lanh tình dược vốn đã quá thành công của nhà Lolita.

Từ khoai tây chiên vùng Cherbourg đến thế giới cũng những “con ma” nhà Chanel

Như một bản bolero hoa mỹ, gợi tình, và sến một cách khả ái, kiệt tác Fleur de Corail ra đời và được truyền tụng khắp thế giới trong những lọ nhỏ màu xanh như thế, bất chấp những dấu hiệu đen tối của trường phái lãng mạn đang khuynh tàn của thị trường thời trang, đi cùng đại dịch những dòng nước hoa lưỡng tính (unisex) và thứ bản sắc bị đồng hóa chung chạ.

Đứng trước cơn bão chung, kẻ truyền nhân kiêu hãnh của Henri Robert nhà Chanel thản nhiên miệt thị cuộc cách mạng thẩm mỹ đại đồng: “Toàn cầu hóa? Có thể ở góc độ tiếp thị và kinh doanh. Tôi là một perfumer – loại người chẳng bao giờ quan tâm đến các vấn đề kiểu đó. Một loại nước hoa nào đó cho nhân dân toàn thế giới? Không bao giờ! Một thứ tội ác đối với tính sáng tạo. Đã là một nhà sáng tạo, bạn hẳn nhiên là phần tử phản động đối với cách mạng toàn cầu hóa, chuẩn hóa, và đồng hóa. Đúng ra, tôi nghĩ mỗi người nếu đã là một vũ trụ khác biệt, cần có một dòng nước hoa được thiết kế và bào chế riêng cho mình, như một bộ cánh may đo vậy.”

Maurice Roucel sinh ra ở miền biển vùng Cherbourg, Pháp, nơi ông mang theo một tuổi thơ có mùi trộn lẫn giữa kem chống nắng L’Oreal, mùi khoai tây chiên từ các kiosk hàng quà, và lọ nước hoa Soir de Paris của Yves Roches trên cườm tay bà ngoại “Bây giờ nhà Roches đã thay đổi điều gì đó trong công thức và cho xuất xưởng một phiên bản còi cọc của Soir de Paris. Hay chỉ vì cảm xúc của tôi đã khác nhiều so với những mùa hè hồi còn nhỏ ở Cherbourg?”

Cậu Maurice đã từng mơ ước trở thành một nhà thám hiểm khoa học, nhưng ông tự nhận mình đã là một cậu bé “quá ngỗ ngược để làm một Einstein”. Ngoài những trò rắn mắt ở trường, cậu tập tọe bước vào thập niên 60 với mái tóc dài và chiếc áo thun in cờ Anh quốc như một tín đồ cuồng nhiệt của Beatles.

Vốn theo đuổi ngành học là hóa hữu cơ và là một tay cứng cựa trong phân ngành ghi sắc (chromatography). Maurice gửi hồ sơ của mình đi khắp nơi để tìm việc một cách hú họa, và một trong những hồ sơ ấy được gửi đến tay Henri Robert – đại phù thủy mùi hương của nhà Chanel, khi ông này đã ở độ tuổi trên 70. Chàng Maurice khi này mới 23, đã trở thành truyền nhân của tay tổ nhà Chanel như vậy. “Thoạt tiên, tôi không phấn khích lắm với trò bào chế nước hoa. Tôi thấy tức cười mỗi khi nhìn những tay perfumer đánh hơi sụt sịt mấy cái que giấy thử mùi. Người ta gọi họ là “những con ma” cũng đúng thôi. Cả thế giới lẫn đào Monroe xức nước hoa hiệu Chanel No.5 ra đường cho đến khi lên giường, nhưng vinh quang thuộc về Coco, còn ông già Ernest Beaux tội nghiệp (người tiền nhiệm của Henri Robert) thì chẳng ai biết tới.”

5 năm và 15 phút

Mọi perfumista sành sỏi đều có thể nhận biết một siêu phẩm của Maurice Roucel qua thủ thuật sử dụng sự xuất hiện lẩn khuất tài tình của note mộc lan hương.

Cùng với note hương trứ danh này, ông đã lưu danh mình với Shalini – thuộc 10 loại nước hoa đắt nhất thế giới năm 2011, cùng một danh sách choáng ngợp của các tuyệt tác mùi hương mang tên Envy (Gucci), 24 Faubourg (Hermes), Oro (Roberto Cavalli), serie Be Delicious (DKNY), Orange (Marc Jacobs), v.v…

Nói về những sáng tạo của mình và những tag giá từ siêu xa xỉ đến thân thiện được treo vào đó, Maurice giữ thái độ hồn nhiên hầu như phi thương mại hoàn toàn: “Trên thực tế, giá thành đôi khi hoàn toàn không hề được quyết định bởi thành phần thứ dung dịch chứa đựng trong chai. Thành phần cơ bản đầu tiên của mỗi hợp hương là tâm hồn và tài hoa của perfumer. Như môn gấp giấy của người Nhật vậy, tất cả bắt đầu từ một miếng giấy. Thế rồi “voilà!”, thành cả một môn nghệ thuật. Đương nhiên, nếu có thể bỏ thêm vào đó cả những nguyên liệu thiên nhiên đắt tiền nữa thì hoàn hảo, như Shalini vậy, nó hoàn toàn cân xứng với 900USD cho mỗi lọ bé xíu. Tôi làm ra nó và thấu hiểu đứa con đẻ của mình. Còn Rochas Rocade và L by Lolita Lempicka không phải vì thế mà kém cạnh, chúng chỉ là những đứa con may mắn hơn vì không phải dựa vào tính cầu kì của hương liệu. Nhưng những ca dễ đẻ không hề đồng nghĩa với những đứa trẻ kém ưu chất. Về sự cầu kì của chúng cũng vậy, Hermes 24 Faubourg tôi đã mất 5 năm để tạo ra Hermes 24 Faubourg trong khi Shalini chỉ mất 15 phút”.

Với la liệt các danh hương lẫy lừng thị trường mỹ phẩm thế giới này, Maurice nghiễm nhiên trở thành chủ sở hữu các giải thưởng danh giá Prix Francois Coty 2002, FiFi Pháp, FiFi Hoa Kỳ, và giải “Oscar des Parfums” Awards của Pháp.

Nhưng cho đến sự ra đời liên tiếp của cặp đôi song nữ Lolita là L de Lolita Lempicka, và sau đó là “cô em” Fleur de Corail ra đời, ngọt ngào và diêm dúa đến táo tợn – một dấu ấn của trường phái sến bất khuất như điểm son tối thượng trong chuỗi dài những câu chuyện cổ tích bằng mùi hương nỉ non chốn phòng khuê “tiểu nữ thần” Lolita Lempicka.

Đàn bà Hungary, người tình của Helmut Lang, và Chúa!

Nước hoa luôn song hành với thời trang, được xem như một món phụ trang tinh tế và khó chọn nhất. Ngược lại, liệu vòng xoay trào lưu của thời trang có ảnh hưởng đến tính trào lưu của thời trang?

Không nhất thiết, và không thường xuyên. Các mùi hương, các dòng nước hoa được gán ghép cho các mẫu thiết kế thời trang để đạt mức tổng hòa mỹ mãn nhất. Hãy nghĩ đến các thương hiệu như Chanel, Houbigant hay Yardley, với những loại nước hoa đưa tên tuổi họ lên hàng danh gia không kém công hiệu so với các thiết kế thời trang của họ. Chính tập quán vận động của trào lưu thời trang khiến vòng đời của các dòng nước hoa cũng theo đó mà ngắn đi. Giờ thì người ta có cả những “bộ sưu tập” mùi hương theo mùa, dẫu chỉ xê dịch ít nhiều về nồng độ. Tôi chọn tìm cảm hứng và ý tưởng theo mùa, nhưng là khái niệm mùa của thời tiết hơn là mùa thời trang.

Nước hoa cần thể hiện tinh thần cảm xúc và văn hóa thời cuộc hơn là trang hoàng cho chiếc váy. Một perfumer phải biết mở lòng đón nhận mọi sự ảnh hưởng của vạn vật ở mức độ chắt lọc nhất, để rồi tái hiện lại bằng thứ ngôn ngữ của thính giác. Chẳng hạn thiết kế xe hơi đang nghiêng về vẻ góc cạnh, nam tính, thì đó là khi nước hoa thể hiện vẻ bóng bẩy cơ khí đó bằng những note hương của mình. Dòng Alliage đã là một điển hình cho thời trào lưu công nghệ xanh, mốt ăn chay và thuyết hiện sinh gần gũi thiên nhiên có từ hồi 1968, chẳng hạn. Trong khi nước hoa Charlie chính là hiện thân dịu dàng của đàn bà tính. Vào thời mà bản lĩnh tài chánh, lối sống tân thượng lưu và mơ ước dối già được coi là 3 giá trị tối thượng của số đông, thì các dòng nước hoa thập niên cuối 70 đầu 80 cũng đậm đặc một sự xa hoa và hào nhoáng của các hương liệu tổng hợp. Thế rồi đến nay, vừa vượt qua thời thượng trào của những mùi hương vị lai xa lạ, người ta lại tìm về tính nguyên bản của vạn vật, thế là các loại hoa và xạ hương mang màu sắc Đông phương lại trở về mùa thịnh vượng.

Perfumer được ban cho các giác quan cảm nhận tinh nhạy và cầu kì trong hưởng thụ, chiều chuộng các giác quan ấy. Điều gì có thể thỏa mãn giác quan của ông nhất?

Tất cả những gì có khả năng chiều chuộng phủ phê mọi giác quan của tôi. Tôi yêu nhạc, mê thú ẩm thực, có thể uống như hũ chìm, mê những hàng vải hảo hạng, và đương nhiên, tôi mê mùi hương trên hết thảy. Nếu phải từ bỏ một giác quan nào đó, chắc tôi sẽ chọn thị giác. À không, đợi đã, trời ơi, tôi mê cảnh đẹp, những con người đẹp đẽ, và đặc biệt là đàn bà đẹp!

Thế nào là một người đàn bà gợi cảm?

Đẹp mắt, cao thượng, và biết cách chuyển động thật duyên dáng. Tóc nàng có thể là bất cứ màu gì, da cũng vậy, chủng tộc hay tín ngưỡng cũng có thể là vô chừng… nhưng nàng đàn bà thuần túy, theo kiểu diêm dúa và đài các thuần Pháp. Và đôi mắt, và thứ gì nàng có đằng sau đôi mắt… Cá nhân tôi thì ưa các cô nàng Hungary.

Nếu có một mùi hương bất kì cho người đàn ông muốn chinh phục mẫu đàn bà ấy?

Chắc chắn là Musc Ravageur!

Hương liệu tự nhiên nào gợi tình nhất? Và tại sao?

Trầm hương. Thậm chí ở phương Đông, người ta sử dụng nó như một chất kích dục mà chỉ riêng cách sử dụng cũng đã đầy kích thích. Họ đốt trầm trên lò than đặt bên dưới người đàn bà để xông hương cho phần thân thể thiêng liêng nhất của nàng trước mỗi cuộc mây mưa.

Helmut Lang Cologne đã là một quả bomb thương mại. Gợi ý cho cảm hứng đến từ đâu?

Helmut bảo tôi ngửi những tấm trải giường của nhân tình của ông ấy, đương nhiên khi chúng đã được giặt sạch, và tôi có Helmut Lang Cologne.

Lọ nước hoa đầu tiên của ông?

Eau Sauvage. Đối với tôi khi ấy đã là cả một cuộc khai minh. Cái món ấy khiến tôi đào hoa hẳn ra.

Perfumer mà ông ngưỡng mộ nhất?

Chúa.

đàn bà như hương…

by f.

Sự khác biệt giữa một dòng hương siêu phẩm và phiên bản tội lỗi của hàng nhái, dẫu trí trá tinh xảo đến mấy, vẫn  nằm ở cuộc đan xen ngoạn mục của những note hương trong một bản tổng phổ hòa hương vi diệu.

Với một dòng nước hoa siêu phẩm, mỗi tia bụi nước là cả một bản giao hưởng tài tình, một câu chuyện được “lắng nghe” bằng khứu giác và tiềm thức. Nó là âm nhạc, là hình ảnh, nó có những biến cố, những nút thắt oái oăm dẫn đến những cao trào đậm đặc huy hoàng.

Mỗi một loại nước hoa là một câu chuyện khác nhau, mà giá trị chắt lọc lại trong những note dư hương cuối cùng với ma lực ám ảnh dằng dai.

Khi dàn giao hưởng đã tấu hết note cuối cùng, sợi vĩ vẫn còn rung lên dư chấn khoái cảm, như chính sự run rẩy cuối cùng của từng tế bào khứu giác, ngân nga thứ âm nhạc vô ngôn của da thịt.


Người ta nói đến những thiên tài âm nhạc và văn chương, những kẻ đã tác tạo nên cho nhân loại những phần đời hoang tưởng để sống giàu hơn một số phần hữu hạn, để đi nhiều hơn đôi chân có thể, trải rộng hơn không gian đời người, phá mọi quy luật logic để thả mình vào một thế giới hoang đường trong vài trống canh thụ hưởng.

Nhưng không mấy ai biết đến những thiên tài về mùi hương – các perfumer, những sinh vật thượng tầng với khứu giác siêu phàm và gout hưởng thụ duy mỹ. Họ là những tay phù thủy biết tiêu khiển với tiềm thức, tái hiện những cảm xúc xa xỉ nhất của tinh thần lãng mạn và ký ức. Họ xâu chuỗi và sắp đặt các note hương vào những bản tổng phổ kỳ vĩ trong kết cấu 3 chương, được tấu lên vào khoảnh khắc chạm đến làn da, rồi thăng trầm những biến cố, li điệu suốt hàng giờ sau đó, để rồi lắng đọng, nhường chỗ cho những note cao quý sau cùng.


Một dòng hương thứ phẩm sẽ chỉ còn hăng hắc lớp hương bề mặt của loại nước tẩy mùi, chông chênh lấp liếm bụm che những dấu vết tố cáo thứ mùi bài tiết thật thà sống sượng. Cả hai sẽ trộn lại, trấn áp và tố cáo lẫn nhau trên cùng một bản thể.

Chỉ với một hợp thể kiêu hãnh của văn minh thời trang, người ta mới thụ hưởng được những note hương thượng hạng cho khứu giác – những điều đọng lại cuối cùng, tôn nghiêm và đầy ám ảnh.

Đối với một mùi hương, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài tối đa 8 tiếng.

Đối với một tuyệt phẩm đàn bà, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài hơn cả 80 năm.

Có lẽ khi gã Maurice rậm râu, cha đẻ của dòng hương sến cách tân nhà Lolita Lempicka đã nghĩ về nàng thơ của danh họa Salvador Dalí khi thốt lên lòng ngưỡng mộ dành cho những người “đàn bà Hungary với sự kiểu cách của người Pháp”.

Bởi Nàng là một thứ xa xỉ phẩm của lịch sử catwalk thời trang, một tạo vật hiếm hoi mà Chúa trời ắt đã thiết kế nên trong tình trạng lâng lâng phê thuốc.

Với những cấu thành tinh túy nhất của xuất thân, nàng mang dáng dấp nữ hoàng của một vũ công Hungary và nét hoang dã bạo tàn của một tay hoang đàng người Ý.

Nhưng những thành phần tuyệt hảo đó đã không ủ nồng dậy men, nếu không có những thăng hoa và thống khổ đến tận đỉnh lẫn đấy, nếu không có những chê bai bỉ báng, những bận khánh kiệt khốn cùng để thấy tài sản duy nhất còn lại để làm nên một danh dự đàn bà – khả năng Yêu.

Và lịch sử thời trang đã cho nhân loại một người đàn bà như vậy – người mẫu 80 tuổi Carmen Dell’Orefice.

Mỗi người đàn bà là một mùi hương riêng biệt.

Mọi tầng hương đầu đều khoa trương, kiều mỵ hay diêm dúa.

Nhưng thời gian qua đi, vài giờ, hoặc vài thập niên,…

điều còn lại cho những note nhan sắc cuối cùng là danh dự, sự kiêu kỳ của tư chất tự tại, thanh tao và vô nhiễm.

 

Người ta sẽ thảng thốt nghiêng mình khi lặng người nhận ra note hương cuối mà Maurice nghiêm cẩn tác thành nên Fleur de Corail diêm dúa lại là những note trầm hương, với những ưu chất mà ông gán cho khái niệm đàn bà thượng đẳng: tôn nghiêm, xa cách, và gợi dục đến cầu kì.

 

Đàn bà như hương, sự suồng sã cuối đời sẽ bóp méo hình mạo đến nhăn nhúm mà rỉ ra thứ hương bài tiết.

Còn những quý bà chân chính – họ trải qua tuổi trẻ để tạc nên những khắc vạch tuổi già lên những phiến trầm hương.

dân Anglais thứ thiệt

Trác Thúy Miêu

Alice Temperley coi trọng những điển lễ, những dịp hội hè, và nhất là các đám cưới. Đó chính là người phụ nữ mà các nữ nhân hoàng tộc Anh quốc tìm đến để tham vấn chuyện sắc phục hội hè, và cả các fashionista trung lưu. Dù đó là đám cưới thôn trang vùng Glastonbury ảm đạm, hay các tân nương da nâu đến từ trảng nắng sóng sánh mật ong ở miền địa đàng Tuscany, nữ tông đồ người Anh sẽ vẫn phủ lên họ một lớp kem màu ngà như truyện cổ tích, biến họ thành những nàng Lolita vừa chín tới trong bộ cổ trang thời thượng, phóng khoáng và hoang đàng, hòa quyện oái oăm với duyên trầm mặc của một Jane Eyre thanh đạm nhưng kiêu kỳ dòng máu Anglais.


Chiếc váy màu cẩm thạch cho em gái công nương

Cách đây không lâu, ngày mà Sarah Burton đăng quang bằng bộ váy cưới hoàn hảo cho công nương Kate Middleton, nhưng cô em gái Pippa lại xuất hiện với chiếc váy màu xanh ít nhiều làm lu mờ cả cô chị trên đỉnh hôn nhân vương giả, thì cả nước Anh và châu Âu đã hướng sự ưu ái đặc biệt đến Alice Temperley – người đàn bà làm nên bộ váy màu cẩm thạch trứ danh nọ. Nàng lập tức được cả hoàng tộc vồ vập, bắt đầu với chính tân công nương Kate Middleton cho đến bà mẹ kế nhà chồng Camilla.

“Điều thú vị nhất với tôi là hình ảnh Pippa rời bữa dạ tiệc trong chiếc váy xanh, nó đã lan xa tới tận những đâu đâu.” Ngay buổi sáng sau ngày Sarah Burton lẫn Kate Middleton đăng quang với chiếc váy cưới hoàn hảo, trong khi cô em đăng quang thần tượng thời trang trong lòng mọi con dân tín đồ Anh quốc, thì tại Notting Hill, Alice Temperley bị tấn công bởi những yêu cầu mua các phiên bản của chiếc váy màu ngọc trứ danh ấy. Nhưng nàng từ chối “Pippa xứng đáng được sở hữu riêng chiếc váy ấy cho mình. Và tôi cũng không định làm rùm beng lên chỉ vì một chiếc váy, chỉ là một chiếc váy.”

Với giải Designer of the Year tại sự kiện 2011 Hollywood Syle Awards, cuối cùng thì bà trùm áo cưới Ăng-lê Alice Temperley nghiễm nhiên trở thành cục cưng của cộng đồng sao Mỹ, nhưng không ít nữ yếu nhân danh tiếng xứ cờ hoa, những cô đào Mỹ thượng hạng tìm đến tiệm Temperley và được khéo léo chối từ, thường là với lí do “chỉ còn hàng bày mẫu”. Các ngôi sao bước ra khỏi cửa tiệm nhà Temperley kiêu ngạo, nhún vai ngán ngẩm trước sự bảo thủ lì lợm của người đàn bà Anglais cuồng tín.

Alice cùng nhãn hàng vốn xưa nay khiêm tốn Temperley London bắt đầu thật sự được đặc biệt ưu ái bởi những nữ thân chủ hạng yếu nhân hoàng tộc, hoặc xoàng xĩnh ra cũng tầm minh tinh màn bạc, từ đào mụ đến đào tơ, và đặc biệt là những cô dâu tinh tế thừa đủ may mắn để đặt chiếc váy cưới Temperley London vào tầm ngắm. Lọt thỏm giữa cuộc tung hô quy mô rầm rộ ấy, bản thân Alice Temperley vẫn thu nhỏ, lặng lẽ, với một sự ngạo mạn của bản chất thuần chủng phớt tỉnh Ăng-lê.

Sự kiện đích thân Pippa – giờ đã vượt mặt cô chị trong vai trò thần tượng phong cách của giới fashionista Anh, xuất hiện thân mật ngay hàng ghế đầu trong show diễn tại New York của Temperley London, đủ khiến dân tình khiếp vía, báo chí râm ran những hàng tít lẫy lừng. Người ta sốt sắng muốn biết bằng cách nào Alice đã kéo được về phía mình một vị thân chủ thân thiết vương giả cỡ vậy, nàng chỉ ngơ ngác “Cô ấy lại mua đồ suốt, nhất là từ hồi đám cưới cô Kate. Rồi tôi rủ: ‘nè, Chủ Nhật tôi diễn show đó, cô thích coi không tôi để vé?’ và cô ấy đồng ý. Tôi không hề biết rằng nó sẽ được coi là một vụ tầm cỡ rộn ràng đến thế này, và tôi cũng không hiểu vì sao nó nên thế. Có lẽ rằng nếu cả tôi cũng nhảy cẫng lên vì cô Pippa, thì đó chẳng giống tôi chút nào, chẳng nằm trong sợi gene nào trong cấu tạo bản chất của tôi cả.

Pippa khả ái, tôi mến người khách hàng ấy và mời cô ấy đến show diễn của mình. Khái niệm này thì hiểu được, chứ còn bắt tôi cố nghĩ ra một điều gì phức tạp hơn thế thì không thể. Những điều đó với tôi xa lạ lắm.”

Người đàn bà thủ cựu và an nhiên ấy của lục địa già cuối cùng cũng nhẹ tâng đặt dấu ấn như đóng mộc hoàng gia Anh quốc lên thảm đỏ danh dự của những danh nhân dữ dằn nhất của làng thời trang thế giới, khi mà tầm cỡ quy mô của Tempeley London – cái tên cục bộ và kiêu hãnh, chưa thể gọi là một đế chế dàn trải đại đồng và hùng mạnh.

Tiểu quỷ vùng Somerset

Lớn lên ở điền trang Somerset, là trưởng nữ trong gia đình có 4 chị em, Alice luôn được cha khuyến khích nên trở thành một nhà nghiên cứu, hay một bác sĩ thú y, hoặc bất cứ thứ gì đại loại thế. Nhưng thừa hưởng từ chính cha mẹ mình niềm hứng khởi trong việc kiến tạo, cô gái dại dột lại thích cắt phăng những cái chụp đèn thời 1920 của bà thân sinh để làm nữ trang, nơ và xắc tay cầm chơi. “Mẹ tôi hay túm được tôi trong phòng ngủ của bà, bay thủ cái kéo to, lăm le quanh tủ quần áo của bà để cắt xén mọi thứ thành từng rẻo vải thảm hại, những chiếc khăn shawl, những chiếc váy, lồng chụp đèn, tất tật, một cách tàn nhẫn.”

Quả tình, cô trưởng nữ nhà Temperley có cho mình một vẻ hung hăng từ nhỏ “Tôi hung hăng cắt xén tóc mình tơi bời, rồi nhuộm lòe loẹt. Gần nhà tôi có bà hippie, hay tự nhuộm tóc bằng lá ngón cho đến khi nó đỏ rực rỡ lên. Tôi ấn tượng ghê gớm và học làm theo, nhưng tóc tôi lại ra màu cam chóe. Ở trường thì tôi bị coi là phần tử phiến loạn bởi những món tôi treo máng lên mình, tôi xé cụt vớ dài, cắt cao váy ngắn, đại loại thế, và cắt xén tả tơi cả những nội quy nhà trường. Tôi tuyệt vọng, tuyệt vọng, tuyệt vọng chực chờ cái ngày rời xa nơi ấy.”

“Tôi mê London. Có thể đi bộ ở mọi nơi, lang thang xuống mấy khu chợ cũ, vòng quanh Brick Lane, Covent Garden, lại ngược lối Soho sầm uất. Khi đó, tôi học chăm hẳn, bởi cho đến khi này, tôi thật sự được học cách kiến tạo thay cho cắt xé, xây thay vì phá. Trước đó tôi thích làm ra những thứ cầu kì chỉ để trưng bày là đẹp, và rồi tôi đã học được cách làm nên những thứ để trưng bày những gì lẽ ra nó che đậy, đó là cơ thể, rồi hơn nữa, đó là lối sống và tâm hồn.”

Với một tư tưởng duy mỹ hơn là một đầu óc chiến lược, Alice trở thành một quái tính được thời trang chính thống thuần dưỡng trong ngôi trường kì cựu của nước Anh. Cô bé Alice từ nhỏ đã biết đường loay hoay bán đi những đôi hoa tai thủ công trong trang trại trồng táo của gia đình, đã từng làm những món đồ thêu thủ công, những chiếc váy dạ tiệc đơn giản, bán cho các cửa hiệu dọc King’s Road và Covent Garden để tự trang trải tiền ăn học. “Điều này giúp tôi cân chỉnh kỹ năng sống và cả thái độ sáng tạo rất nhiều. Khi vào trường Royal College of Art, tôi đã biết làm mẫu và kinh doanh. Tôi nhận ra điều mình phải làm để bắt giấc mơ đi làm nuôi mình, và mình được trả tiền để sống trong mơ.”

Người đàn bà làm nghề may váy cưới

Nhưng chính sự thận trọng đó đã khiến một Alice Temperley không là một McQueen hay Gaultier phá chùa, bán trời không văn tự. Nàng kiến tạo nên những món xinh xắn, quý báu, và bất hủ tới mức an toàn. Khi mà các ngôi sao lẫn tín đồ đua nhau noi gương bạo ngược của Emilia Fox và Liberty Ross, và ít nhiều e dè với dòng góc cạnh của Kate Moss. Alice không chọn đạp đổ các thanh barrier, nàng chọn lòng tôn ngưỡng và tính công phu kỳ xảo, nâng tầm từng thiết kế lên hàng nghệ phẩm. “Tôi đang không cố chứng tỏ điều gì hay trở thành một hiện tượng mới nổi liều mồm. Tôi thuần túy thích tạo ra một cái gì đó mặc được, và mặc vào là đẹp. Không làm cách mạng, tôi làm đàn bà làm nghề may váy cưới, những bộ váy hoàn hảo.”

Temperley London đã ra đời như thế, ngay khi Alice tốt nghiệp vào năm 2000, với sự trợ lực hoàn hảo của tri kỷ Lars von Bennigsen.

Chỉ sáu năm sau đó, tờ Vogue Mỹ tung hô Alice là “nhà thiết kế gây sốt giữa đại cục thời trang Anh”, với những thiết kế mỏng manh màu ngà và trắng, những tảng đăng-ten thêu tinh xảo và dấu ấn những nghệ nhân thủ công siêu hạng của truyền thống may mặc đượm màu quân chủ.

Alice đã mang mình đi trên một đoạn đường xa là vậy, từ vùng thôn trang Somerset đến ngôi hội sở yêu kiều ở giữa khu Notting Hill thời thượng, với 5 nhãn hiệu độc lập, chiều chuộng những tín đồ vintage thượng hạng trên khắp 37 quốc gia, với từng thiết kế xứng đáng đượi coi là siêu phẩm tuyệt đỉnh của lối sống hoài cổ, lại hiển hiện một thái độ sống của mọi tiểu thư Ăng-lê đương đại.

Cho đến nay, chẵn một thập niên sau hôn lễ với Lars, những thiết kế váy cưới của Alice vẫn là một phiên bản hiển hiện buổi lễ thành hôn cầu kỳ nhưng tham đạm của họ, với chủ đề thẩm mỹ 1920, nơi nàng Alice Temperley chọn khoác cho mình bộ váy bằng chiffon nhàu, những mảnh ren tinh xảo nhất mà nàng cất công sưu tầm, được đính với những vảy cườm li ti chỉ 2mm rải rác, và tấm lưng trần đính chuỗi ngọc trân châu thanh nhã nhưng đầy khí chất công tằng tôn nữ kiêu sa.

Hầu như ngay lập tức, Alice, với tất cả đàn bà tính được thấm nhuần từ nền giáo dục cổ điển từ thời điền trang Somerset, đã ao ước thu gọn cuộc sống và mọi hoài bão vào một khuôn bếp gia đình. Khi này, chính Lars, với vai trò cái đầu tỉnh táo của Temperley London, và ngọn đại phong nâng đỡ cho sự nghiệp sáng tạo của vợ, đã không hề muốn có con. Mãi 6 năm sau, Alice mới được thỏa nguyện với đứa con đầu lòng.

Cũng cùng trong năm khai hoa, Alice chứng tỏ với vị quân phu CEO của mình một sự thăng bằng đáng nể mà nàng có thể dành cho hạnh phúc lẫn cơ đồ. Tháng Chín năm 2008, Alice tung ra sàn diễn bộ sưu tập xuân hè đình đám, và 5 ngày sau đó, nàng “tung” ra đời bé trai Fox London Temperley von Bennigsen Mackiewicz.

Giờ đây, gia đình họ lại tìm về sống ở Somerset 3 ngày mỗi tuần. Cô con gái vị trang chủ đã đi rất xa, chỉ để thong thả trở về, nhưng vẹn tròn và viên mãn. Chỉ với danh phận, các giải thưởng, những thân chủ có tên là Kate Middleton, Halle Berry, Scarlett Johansson và Sarah Jessica Parker, cùng tước hiệp sĩ hoàng gia MBE được phong tặng năm 2011 vì những cống hiến cho ngành thời trang Anh quốc, người ta mới hiểu được người mẹ trẻ chốn điền dã ấy đã đi bao xa.

Người đàn bà ngồi trong quả bóng thủy tinh

Đằng sau những thiết kế trầm mặc cổ điển, Alice Temperley đã từng được biết đến như một nữ hoàng tiệc tùng và tửu lượng đáng gờm. Đến giờ, người ta vẫn còn nhắc đến hồi sinh nhật tròn 30 vui nổ trời của nàng, cả một buổi dạ vũ Ả-rập với 400 vị khách mời ăn vận hào nhoáng khùng điên, với champagne chảy tràn như suối. Nhưng rồi nàng cùng chồng mua ngôi nhà ở Somerset, nơi Alice như một nữ sĩ miền quê, rút vào cái âu thủy tinh cách ly của mình, quẩn quanh với chồng con và những bản vẽ. “Tuyệt đối không một tiếng ồn, không tạp âm, dị vật nào được chào đón ở đây. Tôi khoanh vùng cuộc sống ở Somerset chỉ vừa đủ để sống vừa với chồng con – những người yêu thương nhất của tôi. Không điện thoại, internet, không gì cả, 3 ngày mỗi tuần. Chỉ có tôi, tình yêu, và những ý tưởng được hình thành trong bầu không khí vô nhiễm ấy. Chỉ ở một bầu không khí như vậy, tôi mới có thể toàn tâm nghĩ đến những chiếc váy cô dâu tinh khiết, một dòng nước hoa được chắt lọc tinh chất từ trong tư tưởng thanh tịnh toàn phần.”

Cùng lúc, ở nửa đầu cán cân đa nhân cách ấy, Alice ngả theo xu hướng internet hóa các hoạt động PR của nhãn hàng. Temperley London đang dần loại bỏ những buổi diễn để trưng bày hình ảnh trên internet, và Alice còn đang tìm nhiều phương tiện khác để thay thế một buổi diễn theo kiểu catwalk truyền thống. Chính tinh thần này giúp nàng vượt qua giai kỳ khủng hoảng kinh tế một cách tự tại và khôn ngoan nhất.

“Tôi có thể sống được trong một cái bong bóng, hay một cái âu bằng kính. Tôi cần một người đồng sự đủ tâm tri kỷ để bảo bọc mình khỏi mọi cọ xát với khía cạnh tài chính hay hành chính gì đó của công việc, và cả đời sống nữa. Tất cả mọi thứ diễn ra quá nhanh, và tự nhiên, như cách một quả bóng tuyết lăn lăn và to phình ra vậy. Khi cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra, tôi bần thần ngồi trong cái âu bằng thủy tinh của mình ngó ra, không ý thức được gì ngoài việc một đại gia bán lẻ nào đó đang nợ ngập đầu sa lầy phá sản. Tôi không tìm thấy trong cấu tạo gene của mình một mảnh nào cho phép tôi hiểu biết chút gì về cuộc đại chấn thê thảm này. Những cửa hàng nhỏ bắt đầu mất khả năng thanh toán, một số đóng cửa. Tôi chỉ còn cách từ chối bán hàng cho bất cứ ai không trả tiền ngay lập tức. Nhưng chính Lars mới là người đã đi qua hỏa ngục ấy thay tôi.”

Và ngay giữa cuộc suy thoái, như một động thái sáng suốt cho Temperley kết nối với thị trường trung tầm rộng lớn hơn, nàng tung ra dòng nhãn Alice by Temperley “Luôn là một cảm giác tích cực khi bắt tay làm một cái mới, trong khi mọi thứ xung quanh đang sụp đổ. Sẽ còn là một năm bão tố, và con thuyền mới này, dưới bàn tay hoa tiêu của Lars, sẽ đưa chúng tôi an toàn vượt khỏi vùng tâm bão.”

Câu chuyện cổ tích màu ivory

Mỗi thứ Bảy, Alice tiếp đến khoảng 15 cuộc hẹn với các nữ thân chủ đang mấp mé ngưỡng hôn nhân. Các cô dâu tương lai tìm đến với Temperley luôn tìm kiếm một cái gì đó “không như kiểu váy cưới thông dụng hoặc truyền thống, nhưng vẫn mang nét thiêng liêng, hơi bất thường, nhưng không giống một cái bánh kem nhân cô dâu.”

Và đó cũng chính là công thức ma thuật của những bộ váy cưới Temperley. Mặc nhiên với dàn thân chủ hoàng thân quốc thích, sự ưu ái của giới thảm đỏ showbiz, hay những ngợi ca của báo chí, Alice Temperley vẫn không lớn lắm khỏi cô bé tay cầm kéo to cắt xoẹt vào chụp đèn thập niên 20 và nhuộm tóc như trái bí đao – cô nhỏ bất toàn. “Tôi không cho rằng có nhiều người ngoài kia nhìn nhận tôi như một nhà thiết kế. Tôi hành xử khác lắm. Cứ nhìn vào những chiếc váy cưới như phục chế từ đầu thế kỷ trước, người ta cho rằng tôi lãng mạn vô cùng. Thật ra, so với tất cả những gì bềnh bồng lô xô và lóng lánh của giới thời trang áo cưới, thì tôi chỉ là một bà giáo khắc khổ dạy môn lịch sử, với đôi chân đặt vững dưới đất chớ không bay bổng giữa mây đăng-ten.”

Bước vào thế giới thời trang, như chính phong cách Thanh giáo khổ hạnh nhị sắc trắng đen của mình, Alice thật ra vẫn là cô nhóc 11 tuổi ở vườn táo Somerset, nghiện phim đen trắng, nhảy waltz trong bếp, giả đò mình là Marlene Dietrich hay Ginger Rogers. “Tôi ngán tận họng việc người ta dán mác cho thiết kế của tôi là trường phái bohemien, chỉ vì những nét váy flapper và tinh thần 1920 trong những chiếc váy cưới. Được thôi, thế là tôi dấn thân sâu hơn nữa, với hình hài Victoria, hay dòng hippie 1970 cho mùa hè 2011. Rồi xem, tôi sẽ minh chứng, những vẻ đẹp đó đã bất hủ đến nay, và rồi chúng sẽ không bao giờ lỗi thời. Những con số thập niên đi cùng chỉ có tác dụng gợi nhắc một thời kỳ, nhưng trường phái thẩm mỹ ấy là bất biến và vô hạn. Đó, theo tôi là điều quan trọng nhất cho một chiếc váy cưới. Chúng không nên cổ lỗ, nhưng sẽ không là những món vật quá hợp thời chỉ để vài năm sau đó, người ta phải ngượng ngùng vì vẻ quê mùa lạc mốt khi xem lại những tấm ảnh cưới.”

Thế là cô thôn nữ nước Anh chơi cuộc chơi của mình, từ Lolita đến Cleopatra, từ Grace Kelly sang Marie Antoinette, hay Jane Eyre đến ả mèo giống Gaulois bé bỏng Vanessa Paradis.

Giữa cuộc du hành vượt thời gian nhoay nhoáy như vậy, váy cưới nhà Temperley còn lại cho mình một dấu ấn gì đặc biệt? “Tôi thích làm ra những chiếc váy xinh, tinh xảo, màu trắng hoặc ivory kinh điển. Chúng trông yêu kiều nhưng thiêng liêng như một món hồi môn xưa cũ, nhưng không bệ vệ, trịnh trọng và dọa nạt bất cứ ai về gia thế hay độ kệch cỡm của nữ chủ nhân. Quan trọng hơn hết, nó giống như một bức tranh minh họa cho một câu chuyện cổ tích trang nhã với kết thúc có hậu, dù cô dâu có là nàng thủ thư khắc khổ, hay một nữ tài phiệt lang sói dữ dằn đến cỡ nào. Hôn lễ chính là ngày họ hoàn thiện tròn đâỳ câu chuyện cổ tích của riêng họ. Vậy, hãy hồn nhiên chọn mặc vào một chiếc váy trắng.

Alice lạc vào xứ sở khùng điên

Với tất cả những nỗi ám ảnh đầy màu sắc văn chương và sử học ấy, khó có thể hình dung tinh thần Temperley giữa một tuần lễ thời trang, và Alice tuyệt vọng vào vai của mình giữa khung cảnh nháo nhào mộng mị của một Wonderland. “Quả là nền công nghệ thời trang thế giới đã cho ra đời một đám đông hoảng loạn. Tôi có lạc lối thật, giữa cuộc đại hội phù hoa ấy. Như cô Alice lạc vào xứ sở khùng điên, tôi gặp không ít ả phù du ngạo mạn, những tay lập dị tham ái và loạn ngôn. Trời ơi, làm ơn thức tỉnh, chúng ta thiết kế ra thời trang, và đó không phải là một bộ môn khoa học. Chúng ta không bào chế thuốc cứu người, và càng không đang bảo vệ trái đất.”

Temperley không là một thế lực thương mại khét tiếng, nhưng bằng một tinh thần rất riêng, nàng hồn nhiên như một nhà truyền giáo tuẫn tiết, thiết lập cả một đế chế âm thầm. Tròn 1 thập niên sau sự ra đời của Temperley London, người ta nhận thấy làn sóng các nhà thiết kế trẻ và độc lập của nước Anh, lẳng lặng phục chế lại một tinh thần đế vương thuần chủng, ngạo mạn trên cả lối sống nô dịch thương hiệu, tác tạo ngay trên những chiếc máy may cổ lỗ trong mọi gian bếp, phòng ngủ, hay studio tự tạo dưới gầm garage. “Ngày nay, các celebrity trở thành các tông đồ khai sáng, và các nhãn mác thời trang là một thứ tôn giáo mê cuồng. Rập khuôn theo các tên tuổi lẫy lừng nhất, thật khó cho một nhà thiết kế trẻ để độc lập khởi sự mà không thúc thủ đầu quân cho một thánh đường lừng danh nào đó.”

Trào lưu nô dịch hàng hiệu có thể được nhìn thấy ở bất kì đâu, đặc biệt tại những thị phần chú trọng vào giới trẻ – những kẻ nông nổi, nhạy cảm với mọi trò khích tướng của các đấng cường quyền thời trang, từ tạp chí đến nhãn hàng. “Các phu nhân Anh quốc ở tầm tuổi tôi lại may mắn coi mix-and-match là một lối chơi tao nhã. Trong khi các tín đồ mới nhập môn say sưa rập khuôn theo hình mẫu celebrity, và đồng loạt nhuộm highlight, mặc jegging, dẫm bừa lên slimheel và hô hào thông điệp toàn dân cùng cá tính. Đâu đâu cũng thấy môi và ngực, thật thiểu não làm sao.”

Một người Anh chuyên chính và chủ thuyết của Temperley

Ngay từ khi mới thành lập, giữa những catwalk lẫy lừng của thời trang Anh, Alice điềm nhiên tung ra bộ sưu tập ngô nghê tự tại như một bài đồng dao cổ, với những chiếc váy thôn nữ thời thượng, tươi tắn lẫn uẩn mặc hương xưa.

So với bây giờ, có lẽ các tín đồ nhà Temperley đã có phần trưởng giả trang đài hơn hình hài đầu tiên ấy. Một phần do cuộc tấn công dồn dập của các tiểu thư nhà Middleton, và cũng bởi những tháng ngày Alice trải qua các cuộc chọn lọc đến hơn 300,000 hình ảnh đậm chất hoài cổ cho cuốn sách True British: Alice Temperley: “Sau một thập niên, người ta sẽ nghĩ nhiều hơn đến tủ quần áo của khách hàng, hơn là những ám ảnh vị kỷ sắc màu thẩm mỹ cá nhân. Thực hiện cuốn sách cũng là dịp để tôi đường hoàng nhìn lại 10 năm, những nơi đã đi qua, những trạng thái cảm xúc, cái cách mà tất cả hiển hiện như một biểu đồ khúc chiết, từ đó mà biết mình sẽ còn làm những gì về sau.” Và hẳn nhiên, ở đoạn cuối bảng biểu đồ thời cuộc ấy, người ta thấy hiển hiện tinh thần vương giả cầu kì trong tình hữu hảo của nhà thiết kế quân phiệt và hai tiểu thư nhà Middleton.

Cuốn Alice Temperley: Người Anh Chính Thống, đã có cho mình một tựa để chuẩn xác chân phương, đầy cao ngạo cục bộ như chính tên gọi Temperley London: tôi, và tinh thần nơi tôi sống, tất cả đã quá đủ cho một thái độ thời trang. Alice Temperley công nhiên tỏ lòng tôn ngưỡng các thẩm mỹ và lối sống truyền thống. Và như bản năng của đàn bà tính, nàng ưa nhìn về quá khứ để bói toán tương lai: “Làm một dân Ăng-lê đòi hỏi một sự can trường thực thụ, và tôi là một người ái quốc chuyên chính.”

Nhưng giữa một đại cục thời trang Anh quốc đương đại, với trào lưu chiết trung và cuộc tiêu khiển với họa tiết của những người Anh-mới, Alice vẫn không lạc lõng mà khôn ngoan ngồi vào chiếc ngai vintage chí tôn, quây quanh mình là những tín đồ thượng lưu hoài cổ. “Công nương và tiểu thư thứ nữ nhà Middleton, cả hai đều duyên dáng và khả ái – một dòng dõi Ăng-lê ưu tú hẳn hòi. Họ cho tôi một làn hơi trong mát giữa cuộc khuynh đảo làng thời trang của những diva showbiz từ nước Mỹ. Đây là các cô gái Anh chính tông, những vị đại diện tuyệt hảo cho thời trang và đẳng cấp nước Anh.”

Cuốn True British thoạt tiên đã là một dự án cá nhân, khi mà Alice và Lars cùng muốn nhìn lại một quãng đường dài tròn 1 thập niên của Temperley London, họ lôi ra những tư liệu, các phác thảo, và những hình ảnh cũ. Quá trình sắp xếp tích nhặt đã xâu chuỗi thành một cuốn sách hoàn chỉnh, một chủ thuyết hoàn hảo cho mệnh đề quân chủ của người đàn bà mang họ Temperley.

Vậy chủ thuyết đó là gì? Alice trả lời: “Đàn bà tính thuần túy, những giá trị thẩm mỹ bất hủ, trường phái chiết trung, không phải ngượng ngùng chùn tay trước mọi tiểu tiết cầu kì, hoa văn thêu, nền văn minh của nghệ thuật trang trí, và những gì mềm mại nhất. Với dòng hàng chủ lực, đó là những thiết kế cho dạ tiệc của quý bà, dòng thường nhật điệu đàng cho các tiểu thư son rỗi, và dòng cưới cho các tân nương kiểu cách sành điệu, tất cả được quy đồng thống nhất về một chủ thuyết đó, qua mọi mùa và mọi trào lưu.”

“Tôi chưa bao giờ cố để hợp thời hay gây sốt trào lưu. Không hẳn bởi bất cần, mà vì kết cục duy nhất của hợp thời là lỗi thời.”

Đó cũng là một thứ di sản mà cô Temperley ở Notting Hill muốn gửi lại cho thế hệ designer hậu duệ của nước Anh “Cứ thật thà với bản chất, đam mê hay thông điệp sẽ tự khắc hiển hiện trong tinh thần của thiết kế, hay bất cứ tạo vật gì bạn làm ra. Đây là một quá trình đòi hỏi cô lập, độc lập để được thuần khiết hoàn toàn. Đừng lắng nghe bất cứ ai.”

Quả vậy, với Alice, và với F, nếu thời trang là tôn giáo, thì thiết kế là lời xưng tội thật thà nhất. Người ta không thể đọc thuộc lòng lời xưng tội do kẻ khác viết nên.

Cũng chính với chủ thuyết này, Temperley London trở thành thánh đường của mọi tín đồ thấu đáo tinh thần vintage.

Bản tân cổ giao duyên của smartphone và Filofax

Đầu năm nay, Alice lại đường hoàng bắt tay với hãng văn phòng phẩm Filofax tung ra một bộ sưu tập không thể “Temperley” hơn, tôn vinh một lối sống tưởng như lạc thời giữa thế giới như một tổ ong lầm than rào rào tiếng bàn phím, nhoay nhoáy smartphone và tablet. Bộ sưu tập “Your Life in Your Hands” nhắc nhớ người ta đến một thế hệ của chị em nhà Bronte, những trang viết tay, các món văn phòng phẩm tinh tế – một dấu ấn đặc thù của Alice Temperley.

“Tôi ưng hợp tác với các hiệu truyền thống Anh quốc, như nhà Filofax, và cả nhà làm khăn lụa nổi tiếng Twinings nữa. Tôi bị mê hoặc bởi lối sống của những bữa tiệc trà thanh nhã, huyền thoại Earl Grey từ Trung Hoa vượt biển đến Âu châu. Vậy là tôi chọn các họa tiết in trên khăn lụa là những thành phần của món trà Earl Grey: cam bergamot, tinh dầu, những cái lọ sứ đời Minh, v.v… Thế là tôi có món trà thượng hảo hạng Twinings Tea!”

Như một nhãn hàng tri kỷ, những cuốn sổ tay của Filofax kết hợp với thiết kế của Temperley trở thành một món cocktail hoàn hảo giữa tính chức năng, lối sống công danh xưa cũ đầy thi vị, và thẩm mỹ cầu kỳ nhưng tuyệt nhiên tinh tế của một vật phẩm xa xỉ hương xưa. Chúng được kết đính trang trí với ren, những đồng xu cổ và loại da bọc thượng hạng. Thiết kế The Guinea (đồng ghi-nê cổ) là một món vật hữu dụng và tinh xảo đủ để mang từ văn phòng đến dạ tiệc. Trong khi đó, thiết kế The Affair (cuộc tình) là tuyệt phẩm dành riêng cho các quý cô làm công việc sáng tạo, lấy từ kinh nghiệm sử dụng của chính Alice – cũng là một thân chủ trung thành của Filofax, để lấy cảm hứng từ tư duy thiết kế nội thất, một tiểu thư phòng tuyệt mỹ chứa đựng các bản giấy khổ A5, lí tưởng cho việc ghi chép lẫn kí họa phác thảo. Các phiên bản hạn chế của những cuốn sổ tay này, ngoài các món văn phòng phẩm được đính kèm bên trong, còn có những công thức nấu ăn của vua bếp Ăng-lê Mark Hix, một mảnh thư nhỏ kiểu rỉ tai mách lẻo về những hội chợ, các quán café, tiệm sách, điểm đến ưa thích, và thậm chí cả bài tập yoga của chính Alice Temperley!

Và như thế, mỗi nữ chủ nhân đủ duy mỹ để sở hữu một phiên bản Temperley for Filofax sẽ nghiễm nhiên được chào đón vào một phong cách sống tao nhã, như một tri kỷ của Alice Temperley.

Ai nói người Anh chuyên chính không dân chủ và thân thiện, đương nhiên, ở mức giá 400 bảng Anh?

Lời cuối cùng từ nhà sáng tạo “Sự nghiệp, đó cũng là một khía cạnh của cảm xúc, nếu không là nơi mà cảm xúc được dung dưỡng mãnh liệt nhất. Nó cần những sản phẩm có cảm tính và mang dấu ấn cá nhân hơn. Những dòng thủ bút, những nét phác thảo tay, cảm giác của làn giấy thượng hạng trượt bên dưới ngòi viết, đó là tầng tối cao của thú xa xỉ thượng lưu.

Smartphone có thể có chức năng notebook, thế thì một cuốn sổ tay sẽ có ngăn đựng smartphone. Dung hòa hoàn hảo, phải không nào?”

TIPS BOX

Chiếc váy cưới hoàn hảo:

Chồng tôi muốn lấy tôi làm vợ từ hồi chưa nhìn thấy cái váy cưới. Tôi tin chắc các vị hôn phu khác đều vậy. Đương nhiên nên là chiếc váy biết ca tụng tối đa mọi lợi điểm hình thể của tân nương. Một chiếc váy cưới hoàn hảo nên cho cảm giác rằng cô dâu đang thư giãn và hưởng thụ hạnh phúc.

Chiếc váy cưới đáng nhớ nhất:

Là váy cưới của chính tôi! Tôi đã thử tự vẽ 3 phác thảo khác nhau, rồi chọn ra chiếc mình ưng ý nhất. Chúng đều điểm những tảng ren thêu kiểu thời Victoria, những mảnh cườm mang hơi hướm flapper thập niên 1920s, và đính những hạt trân châu tôi túc tắc gom nhặt giữ gìn như báu vật từ hồi còn nhỏ.

Chiếc váy cưới của bà thân mẫu:

Mẹ tôi lấy cha tôi, mặc chiếc váy hoa, làm lễ trong khu vườn miền nông trang.

Lời khuyên cho những đôi uyên ương trẻ?

Cười, thật thoải mái. Bảo bọc cho nhau. Và luôn thành thật.

Bài hát lí tưởng nhất cho một đám cưới:

Bản “Smile” của Shirley Bassey.

 

chân dung đại hiệp Prorsum

Trác Thúy Miêu

Bailey biến Burberry từ một đặc quyền của giới thượng lưu trở thành một món thời trang “nóng” ở đỉnh cao thị trường mua sắm, một thứ tuy kiêu kỳ nhưng đầy kích thích chứ không lạnh lùng cao ngạo với những tấm thẻ mòn vẹt của tín đồ trung lưu. Cũng như vậy, với mạng internet được khai thác hoàn hảo, từ một biểu tượng mang nặng thuộc tính Ăng-lê, Burberry trở thành một dấu hiệu nhận biết của giới sành điệu trên toàn thế giới.

Tân vương của thời trang quân chủ

Nếu cái chết bi thảm của McQueen và cuộc lưu vong ô nhục của Big John được xem như những sự kiện đánh dấu ngày lụi tàn của thế hệ các tông đồ haute couture vong thân và bốc đồng văng mạng, thì nền thời trang Ăng-lê lại có phía bên đầu kia cán cân một Christopher Bailey, an vị vô can và kiên cường trong căn phòng làm việc chỉ cách vài phút đi bộ với nơi mà cách đây không lâu, người ta tìm thấy thiên tài quá cố McQueen co quắp trong ngăn tủ.

Không hề ngoa ngôn khi đặt hai tên tuổi này lên hai đầu cán cân của hai thái cực đối lập đến cực đoan. Nếu Lee McQueen và hiệp sĩ râu kẽm Galliano là những đại diện của tinh thần Gothic tân thế hệ, sự cầu kì của tư duy vị nghệ thuật vong thân mâu thuẫn với những tag giá phi thân thiện và sự đìu hiu của mãi lực thị phần xa xỉ, thì nhà Burberry với dấu ấn của Bailey, cũng như tên tuổi Vivienne Westwood lại được biết đến bởi sự sang cả, bảo thủ một cách âm thầm, pha trộn với tính thực tế tỉnh táo đến khắc nghiệt của một đầu óc tài phiệt, kiên định qua những cơn rùng mình kiệt quệ của bức tranh chung buồn rầu của thời trang xa xỉ, được góp phần hủy hoại hoang tàn bởi những nhát cắt, nét vẽ ngông ngạo bạo tay của các vị đạo hữu đồng bóng kể trên. Cả hai vế đều cùng tạo nên một dòng chảy chính thống của thời trang Anh Quốc, chung tay khuynh đảo tổng diện thời trang thế giới.

Bailey ngồi vào ghế sáng tạo tối cao nhà Burberry khi chỉ mới 27 tuổi, và lập tức vung tay biến một tên tuổi đang mấp mé bờ vực trở thành “di sản thời trang” trở về giữa tâm bão thời trang thương mại toàn cầu, với một ảnh hưởng được khôi phục lại trạng thái hoàn toàn sung sức, nghiễm nhiên bước vào giai kỳ thịnh vượng hoàng kim hoàn toàn trái quy luật với những suy thoái thống khổ của tổng diện thời trang xa xỉ toàn cầu.

Tài hoa và mưu trí, không chỉ xuất hiện như một tổng lãnh sáng tạo với những ngón thiết kế hoa mỹ hớp hồn, Bailey sớm minh chứng bản thân là một tay mưu lược xuất thần, khi các nước cờ chiến lược được liên tiếp tung ra hợp lý, kịp thời và chuẩn mực. Từ dòng Burberry Lifestyle Collection được phục dựng thành công, cho đến Burberry Brit – phiên bản dân chủ thân thiện hơn rất nhiều so với Burberry London hay những trò ngông mỗi tuần lễ thời trang của Burberry Prorsum. Cùng lúc, các cửa hiệu độc lập được liên tiếp khai trương tại mọi thánh địa thời trang thế giới, từ tòa building thứ 6 ở Mã Nhật Tân, cho đến dấu triện Anh Quốc ngạo nghễ giữa lòng Đông Kinh – Nhật Bản, và mới đây là vụ nổ “nho nhỏ” lấp lánh hào quang quyền lực Ăng-lê ở trung tâm thánh địa Đài Bắc, cũng chỉ là vài dấu son “khiêm tốn” của đế chế đã phủ sóng hoàn toàn 185 quốc gia trên toàn thế giới.

Cả mạng lưới quyền lực ấy được điều khiển bởi hội sở tối cao đặt tại Westminster, được đích thân Bailey thiết kế từng chi tiết từ kiến trúc đến nội thất, kể cả những tấm rèm cửa cho đến từng kiểu chân ghế. Mọi thứ hoàn hảo, chuẩn mực, sặc sụa một thứ mùi mẽ thanh lịch pha trộn lí tưởng giữa truyền thống Burberry và bản thể một Christopher Bailey. Chính tại nơi đây, từng mẫu thiết kế được làm nên từ khâu phác thảo cho đến mẫu thành phẩm hoàn chỉnh đầu tiên, do chính Bailey soi xét tỉ mỉ đến từng mối chỉ. Một studio riêng để chụp từ mẫu thử cho đến những shot ảnh campaign tối mật. Các đại diện mãi vụ cũng được mời đến tại hội sở Westminster để xem xét từng mẫu thiết kế mới ra lò, lăm le chờ đợi các cuộc dội bomb thị trường. Các cuộc ra mắt sản phẩm được thực hiện trong một khu vực tái hiện một tiểu lộ mua sắm, với các mẫu thiết kế được trưng trổ trong khung kính các cửa tiệm giả tưởng, quyết định hình hài cho trận đồ thương mại tại mọi cửa hiệu Burberry trên toàn thế giới chỉ vài tuần sau đó.

Khi tín đồ là “friends”

Hãy tưởng tượng thập niên trị vì của ngài tổng lãnh trẻ tuổi Christopher Bailey trong suốt chiều dài lịch sử xuyên thế kỷ của nhà Burberry được trình bày như những chuỗi ảnh trong một trang Flickr, bạn sẽ thấy mình bắt đầu với những chiếc áo khoác gabardine từ 1856 – như một dòng trang phục thực dụng thuần túy cho những dịp dắt chó đi dạo trong thời tiết Luân Đôn ẩm ướt, hay trong những cuộc thám hiểm Antarctica của Shackleton. Click lên gần một thế kỷ rưỡi về sau, bạn sẽ thấy mình đang lướt ngón tay lên thiết kế trenchcoat Burberry phiên bản Bailey, khi “anh chàng người Anh gầy nhẳng” (như ông tự mô tả) một lần nữa phủi bụi trên lớp trenchcoat truyền thống, rồi tung ra hàng loạt phong cách canh tân theo lối quân đội, rồi sau đó là những phiên bản cầu kì hơn của kỹ thuật trang trí, họa tiết thêu, cùng bảng màu kẹo ngọt dành cho quý bà quý cô đỏm dáng.

Tờ New York Times khi này đã sớm nhận ra sự ảnh hưởng của thời Bailey còn làm việc dưới trướng Tom Ford tại Gucci, một tinh thần “hư hỏng một cách lịch lãm”, báo hiệu một thiên tài phá luật.

Qua mỗi show diễn, khi mà thương hiệu Burberry bận rộn với mùa bội thu qua các thương vụ hậu hĩ, thì bản thân Bailey cũng được phen hưởng trận mưa ca tụng của giới phê bình, đến cùng các giải thưởng và mưa móc hoạn lộ, dồi dào đến độ chỉ đến 2009, ông đường hoàng ngồi vào ngai sáng tạo tối cao. Đây cũng là thời kỳ Bailey rấp ranh chuẩn bị cho cuộc tái xuất lẫy lừng của vó ngựa tiên phong Burberry Prorsum show tại Milan, cùng lúc, hạ tầm ngắm vào công nghệ thông tin và mạng xã hội như những món vũ khí tối thượng mới của cuộc chinh phạt nhà Burberry, điều có thể mau chóng đặt tên tuổi nhà này, từ một hiện vật tôn nghiêm đầy bụi, trở về đúng vị trí tiên phong của giới thời trang.

Chỉ mới năm ngoái, show Prorsum được truyền hình trực tiếp HD 3-D đến mọi kinh đô thời trang New York, Paris, Dubai, Tokyo và Los Angeles. Ngay lập tức, lợi nhuận vọt lên 60%. Cũng như hồi 2009, Bailey ăn mừng ghế tổng lãnh với chiến dịch dân chủ Art of the Trench, lôi kéo mọi tín đồ Burberry tham gia với hình ảnh Burberry được mặc ở khắp mọi nơi, trong mọi thời kỳ và bởi bất kì ai, và biến Burberry thành một tính từ đầy kiêu hãnh của một phong cách sống, và một tên gọi mới của uy tín và quyền năng.

Đây là thời kì mà ngay cả các nhãn hàng cũng có “friends”, và Buberry trở thành nhãn hàng quảng giao nhất, kết bạn với cả triệu tín đồ chỉ trong năm đầu gia nhập cơn đại dịch Facebook, tăng gấp đôi chỉ sau đó 6 tháng, rồi đạt ngưỡng “giao du” với 3 triệu “bạn bè” một tháng sau đó. Sự thân thiện ấy được tưởng thưởng tức thì với mọi cơn sốt thương mại không đợi mùa mua sắm. Tất cả sự nhộn nhịp hân hoan này trong phạm vi nhà Burberry diễn ra khi mà ngoài kia, khung cảnh chung của kinh tế thế giới và thời trang cao cấp, về cơ bản, là tuyền một màu ảm đạm hoang mang.

Á quân lên ngôi người hùng Anh Quốc

Bailey nhìn trước và tiên định cho mọi thứ, trên từng tiểu tiết trong hơn 50 bộ sưu tập mỗi năm, từ những chiếc túi xách nổi tiếng cho đến từng chiếc áo khoác trẻ em. Mọi shot ảnh cũng được đích thân vị tổng lãnh siêu phàm soi xét cẩn trọng. Trong chiến dịch Art of the Trench mới đây, các tín đồ khắp thế giới được mời gọi gửi về tổng hội nhà Burberry những tấm ảnh cá nhân hay của người thân khoác trenchcoat, nhưng không một tấm nào được đăng tải trên trang mạng nhà Burberry mà không qua sự kiểm duyệt của đích thân vị tổng lãnh khắt nghiệt.

Lòng kiêu hãnh nghiệt ngã của dòng máu Ăng-lê và áp lực của uy danh tối thượng của gia huy thời trang mà mình phụng sự đã cho Bailey quyền năng vô hạn ấy, để kiểm soát và thống trị: “Tôi làm từng việc nhỏ nhít ấy với 100% năng lực lẫn quyết tâm. Chính điều đó cho phép tôi hoàn toàn thanh thản phủi tay khi một vấn đề đã được xử lí đến hoàn thiện để nhảy phắt vào vấn đề kế tiếp, sung sức như mới bước khỏi phòng tắm vào buổi sáng. Tôi không tin mình có năng lực siêu phàm, chính công việc này dạy cho tôi quyền năng đó. Để có thể nói một cách hết sức thật thà, tôi chưa bao giờ muốn một công việc như thế này cả. Hẳn nhiên, việc tưởng tượng mình có khả năng phân thân không nằm trong ngay cả những ước mơ khùng điên nhất. Tôi đã từng là kẻ luôn biết khôn ngoan an vị ở bục á quân.”

Vị á quân khôn ngoan đã được Donna Karan “thỉnh” về từ trường Royal College of Art từ năm 1993. Ba năm sau đó, Bailey lại đầu quân về dưới trướng Tom Ford tại nhà Gucci. Cậu sinh viên mới ra lò hoàn toàn thỏa mãn với vị trí của mình khi ấy, ở bục á quân phía sau những quyền năng tối thượng của các đế chế thời trang. “Tôi không ham muốn vầng hào quang cũng như áp lực của họ, thật đấy! Nhưng nếu có một bức xúc nào của kẻ luôn dưới trướng người mạnh nhất, đặc biệt khi bạn là kẻ luôn kiên định vào những ý tưởng của riêng mình, tôi là một kẻ như thế đó, thì khó khăn duy nhất của tôi, đó là học cách tôn trọng một thực tế rằng mình không hề là người có quyền quyết định cuối cùng.” Còn bây giờ, ngồi trên ngai sáng tạo tối ca của quyền lực thời trang Anh quốc, nắm trong tay quyền phủ quyết tối thượng và duy nhất, Bailey tận hưởng quyền năng ấy đến từng tiểu tiết trong công việc.

Đầu máy video và trench coat chợ trời

“Vào thời của tôi, gia đình tôi sở hữu đầu máy video trước nhất trong cả phố. Hồi đó, riêng việc nghĩ rằng người ta có thể thuê về nhà một bộ phim đã là một ý tưởng siêu phàm về tiêu khiển trong nhà rồi. Thế là con chó và chiếc đầu máy trở thành hai thứ có ý nghĩa nhất để hoàn thiện một tổ ấm gia đình.” Món vật mang màu sắc “công nghệ truyền thông” mà ông sở hữu riêng cho mình khi ấy là bộ điện đàm được nối lòng thòng với nhau bằng một cọng dây, bởi loại không dây khi ấy vượt quá tầm chi tiêu cho một món đồ chơi của gia đình người thợ mộc. Mãi đến năm 11 tuổi, sau khi thắng một giải đấu Nhu Đạo, Bailey mới được ba mẹ thưởng cho một chiếc đồng hồ điện tử.

Đối với Bailey, khi ấy và bây giờ, công nghệ là phương tiện của kết nối, hơn là sự đào thoát khỏi đời sống xã hội. Bọn trẻ khác đắm mình vào videogame, và bây giờ là mạng xã hội và các trò chơi thế giới ảo. Còn cậu trai thứ ông thợ mộc Bailey, với món điện đàm ngày nhỏ mà cậu chơi chung với người mà thân nhất cho đến tận bây giờ, hay với trang Facebook của Burberry với những triệu “friends” của nó, là những công cụ của kết nối và tương tác, hơn là đào thoát và cô lập.

“Đến lúc lên trung học, cả trường có duy nhất một chiếc máy vi tính, được coi là linh vật thiêng liêng của cả trường, không ai được động vào, nên tôi không biết gì vi tính hay internet vào thời đó cả, nhưng như một duyên số, tôi biết kha khá về trenchcoat. Bọn con nít mặc đồng phục đi học, tôi cũng vậy, nhưng tự may lấy và thêm thắt linh tinh một chút. Bọn con nít chúng tôi thích lang thang ở mấy khu chợ trời giá rẻ, lần nào tôi cũng tha về vài chiếc trench coat và giày platform.”

“Trenchcoat chẳng hạn, là một ví dụ. Đó là một thứ trang phục về bản chất là dân chủ. Mọi người mặc trenchcoat, từ các thầy ký tỉnh lẻ với bộ suit kẻ sọc, đôi vớ màu đậu đỏ và chiếc cà-vạt to bản của ông thân để lại, cho đến quý cô tân thời rảo gót trên hè phố London, hay quý bà vùng ven đều đặn mỗi tháng một lần cưỡi Range Rover lên phố lớn. Với trenchcoat, bạn có tất cả, giới thượng lưu, các ngôi sao nhạc trẻ, các trùm mafia ở Cecile, nam phụ lão ấu, v.v… Nhưng điều làm nên Burberry trenchcoat, đó là thái độ – thứ thái độ phản ảnh hay làm nên những bản thể đang khoác nó lên người.”

Thời trang xa xỉ không phải là đặc quyền

Hẳn nhiên, tinh thần dân chủ của trenchcoat nhà Burberry không đến cùng những tag giá dân chủ tí nào. “Tùy thôi. Mỗi người ngoài kia có một chi khoản khác nhau, làm gì có một thứ duy nhất nào đó dành cho tất cả. Và không nên có thứ gì như vậy cả. Tư tưởng đại đồng là thứ ngớ ngẩn… Tôi cũng không cho rằng Burberry là một thứ đặc quyền, tôi thích coi đó là một động lực tạo lòng ham muốn. Người ta có thể cùng yêu thích và ngưỡng mộ nó, nếu họ chưa thể chi cho một món như vậy, tốt thôi, họ sẽ cố, và khi này, thời trang, hơn hẳn một “đặc quyền”, nó trở thành sự tưởng thưởng xứng đáng. Không có thứ xa xỉ nào có được bằng sự dễ dãi cả. Đặc quyền, đó là một thứ cay nghiệt, nó nói với kẻ khác rằng: ‘này, anh chị không xứng đáng thụ hưởng tôi, mãn kiếp!’, mà Burberry thì khác, nó là một sự xa xỉ xứng đáng được giành lấy.”

Tinh thần xa xỉ với sự ngạo mạn không màu mè ấy đã một lần nữa được tái chấn hưng rạng rỡ dưới tay Christopher Bailey, như thể chỉ một tài hoa nước Anh mới có thể làm được, từ lòng kiêu hãnh Ăng-lê thuần chủng – điều mà cả thế giới đều biết là không hề mang tí chút gì tinh thần dân chủ đại đồng. “Thuộc tính Ăng-lê, không như dân du lịch vẫn nghĩ, không chỉ là những quầy điện thoại công cộng đỏ loét, hay mấy chú cảnh sát trong bộ quân phục cầu kì đứng dưới cái tháp đồng hồ to to. Đối với tôi, đó là cả một thái độ. Đối với tôi, đó là một chuỗi va đập liên tiếp giữa truyền thống và hành vi đập phá, và những cuộc canh tân.”

Bản chất của nước Anh, cũng như thời trang, hay sáng tạo,  được làm nên bởi hai mặt đối lập này. Họ có những kẻ tham vọng, kiểu nghệ sĩ giả tưởng, các nhà thiết kế, các Lee và John. Rồi nước Anh cũng có những tay bảo thủ trứ danh, và các tài phiệt chính trị trong mọi lãnh vực, những nhà công nghệ hoàn toàn tỉnh táo. Cả hai thứ đó hòa nhập, làm nên nước Anh, làm nên Burberry – niềm kiêu hãnh Ăng-lê, và cũng là phản ảnh của bản thể một Bailey Ăng-lê thuần chủng.

Cũng như vậy, sự mẫn cảm nội tâm của Bailey được kiểm soát một cách hoàn hảo khi ông đón nhận thanh quyền trượng sáng tạo của Burberry, làm kẻ phục hưng, bảo vệ, và lèo lái đại cuộc đế chế thời trang này, với một tinh thần tự tôn cao ngạo sặc mùi thượng lưu Anh quốc. “Đó là sự tôn trọng đối với thương hiệu. Có 6000 con người làm việc tại đây, vấn đề không chỉ là sản phẩm, các thiết kế hay các mùa mua sắm. Đây là một nền văn hóa, một di sản. Đối với hơn 6000 con người ở đây, đó là cuộc sinh tồn và vận mệnh gia đình. Đế chế này tồn tại hơn 155 năm, xuyên qua mọi cuộc đại chiến, mọi thảm họa kinh tế, mọi thời đại hoàng kim,… Một đại chiến thuyền lướt qua mọi trận sóng giữ của hai thế kỷ mà tôi đang đứng vào vị trí hoa tiêu. Điều này xứng đáng để tôn trọng, bảo vệ và kiêu hãnh, và đương nhiên là hoàn toàn xứng đáng để tôi xuất hiện hoàn hảo, và làm việc cho đến khi hoàn hảo. Đây là hàng thời trang Anh hẳn hòi, và chúng ta đang đi qua giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng. Thay vì gào lên chửi thời cuộc, tôi chỉ có một lựa chọn duy nhất là tỉnh táo ở mức có thể và tìm, hoặc tạo ra lối thoát sinh tồn.”

Phù thủy internet bước ra từ thời đại vinyl

Sinh trưởng ở Halifax, Yorkshire, nơi mà trong hồi tưởng của mình, Bailey mô tả lại như một “thị trấn hiền hòa bình lặng. Những con người ở đó không ôm mộng tha hương viễn xứ để lập thân. Người ta sinh ra, an bằng với thị trấn nơi mọi người đều biết nhau”. Không như nỗi ám ảnh ấu thơ thường gặp với các thiên tài thời trang như McQueen hay Gaultier,  cậu trai thứ nhà Bailey không mê trò may váy cho búp-bê, và thậm chí không biết đến sự tồn tại của thời trang: “Khi ấy, đối với tôi, thời trang không nằm trong từ điển cá nhân. Một thứ nghe hoàn toàn xa lạ và thậm chí hơi ngớ ngẩn”. Nhưng với người cha sống bằng việc chuyên trách việc bài trí các khung kính bày hàng cho tiệm Marks and Spencer, Christopher mê mải với khoái cảm sáng tạo, dẫu đó là thiết kế đồ gỗ, kiến trúc, hay những tấm vải: “Thứ tôi yêu thích là việc thiết kế, tôi bị mê hoặc bởi định lượng tỉ lệ, cấu trúc, bố cục, v.v… Và thời trang là một phương tiện trong muôn vàn cách để làm điều tôi yêu thích.”

Chỉ đến khi được giáo viên môn mỹ thuật khuyến khích, Bailey theo học tại Batley School of Art & Design, ông mới thật sự tiếp cận với khái niệm thời trang, bên ngoài những chiếc trench coat cũ. Bailey ăn mặc theo lối goth vì mê Cure, Siouxsie và Banshees, ông nghe Bob Dylan trên băng cassette và thần tượng Joan Armatrading. “Tiến vào thời kỳ của đĩa CD, tôi là kẻ duy nhất không luyến tiếc gì sự ra đi của thời đại vinyl, những cuốn cassette và những bộ phim video đã làm nên không gian thẩm mỹ của suốt thời thơ ấu.”

Với học bổng trường Royal College of Art, Bailey giã từ những bộ đồng phục tự may và bước vào thời kỳ của sơ-mi chấm bi mặc với quần đen. Không hẳn với bộ dạng ấy, mà với những phác thảo bài tập tại trường, Bailey đã lọt mắt xanh Donna Karan trong một dịp bà ghé thăm trường.

Thế là Bailey chuyển đến New York. Việc đầu tiên ông làm là lặc lè lôi bằng được một bộ máy tính cá nhân theo trên chuyến bay và leo vài tầng lầu lên căn hộ New York đầu tiên của mình, cùng với một bộ máy fax lỉnh kỉnh, và bắt tay vào thiết lập tài khoản thư điện tử đầu đời với địa chỉ chrisbailey@aol.com. Còn chiếc điện thoại di động đầu đời phải chờ đến khi Bailey hạ cánh an toàn vào nhà Gucci năm 1997 – một chiếc Nokia thiết kế theo kiểu dáng một chiếc xe đua Ý màu đen “Nó là một cục gạch không hơn không kém, nhưng tôi ưng ý lắm, thấy mình thật ngầu”.

Từ Cloet đến Simon Woods

Vừa khi về với nhà Burberry như một cuộc hồi hương quay đầu về với nền thời trang quân chủ chính thống, Bailey chia sẻ cuộc sống giữa London và Milan, như giữa Burberry và người tình Geert Cloet – khi này là giám đốc nhãn hàng của Miu Miu.

Bailey có cuộc sống của mình như vậy, hoàn hảo giữa sự nghiệp và tình ái, và ông tưởng như đã nắm được quyền kiểm soát sự cân bằng lí tưởng ấy cho đến khi Số Phận bắt đầu can thiệp vào năm 2004, khi Cloet được phát hiện bị ung thư não. Cả hai mua một ngôi nhà ở Yorkshire để Cloet luôn ở gần hơn với gia đình nhà Bailey những khi ông phải về London. Sự thu xếp của Bailey chỉ kéo dài thêm được một năm sự sống cho Cloet. Bailey vĩnh viễn vùi mình vào công việc, ngay cả những dịp cuối tuần vốn vẫn dành cho gia đình và Cloet.

Không như người ta chờ đợi, Bailey không để lọt dù chỉ một nét tự sự màu tang chế vào công việc và các thiết kế của mình. Các thông điệp, ý nghĩa hay giá trị nhân văn được cài cắm vào các show diễn được thừa nhận là một động thái thuần túy chuyên nghiệp, như một nghiệp vụ cung ứng nhu cầu lãng mạn của báo giới. Căn hộ độc thân được mua ngay gần văn phòng, chất đầy những món đồ điện tử. “Tôi không có sở thích kể lể chuyện mình leo trèo khỏi vực thẳm đau buồn của chuyện cá nhân ra sao. Tôi làm việc điên cuồng, điều này hẳn nhiên là không nên rồi. Tôi thích tự trang bị cho cuộc sống và công việc của mình những phương tiện tân kỳ nhất. Trên đường từ sở về nhà, tôi vén màn cửa căn hộ của mình, bật sẵn đĩa nhạc Dylan,… chỉ bằng một thao tác trên iPhone. Tôi ôm iPhone đi ngủ. Phần đau thương cô độc và những dày vò gì đó, mời bạn tùy nghi hình dung.”

Mới đây, anh chàng diễn viên Simon Woods điển trai, sau khi chia tay người tình 2 năm là cô đào Rosamund Pike, đã công khai giới tính và chính thức cặp kè nghiêm chỉnh với Christopher Bailey. Có thể nói đây là cặp đôi đồng tính gây đau lòng phụ nữ nhiều nhất! Họ gặp nhau tại hôn lễ ái nữ ngài cựu tổng thống Hoa Kỳ là cô Chelsea Clinton. Woods được cô dâu chú rể giới thiệu với người đã thân chinh thiết kế bộ lễ phục tân lang và tập đoàn phù rể.

Cả hai vừa mua và sửa sang lại căn nhà ở Chelsea để thành một chốn đi về, mà theo họ mô tả, là “lôi thôi một cách có chủ đích, thư giãn, và thuần túy Ăng-lê”. Bailey thanh thản nhẹ tênh bước vào một cuộc sống nhẹ nhõm hơn, với mọi yếu tố cá nhân được tối giản: “Mọi thứ như trên chiếc thuyền ông già Noah vậy, được giữ lại mỗi thứ một cặp – một trạng thái lí tưởng nhất của cuộc sống.”

Trong ngôi nhà mới, Bailey không còn trang bị đến tận răng với những thiết bị tân kỳ nữa, hầu hết là sách, có các trang bằng giấy, như thời tiền-ebook, vài cặp loa nhỏ để cắm vào Ipod.

Ông có thể là kẻ đã chấn hưng một niềm kiêu hãnh thời trang quân chủ, cùng lúc Facebook-hóa cả một show diễn phù hoa, kẻ vừa giở trò hô mưa hoán vũ tại thánh địa Đông phương Đài Bắc,… và làm tất cả những việc ấy với chỉ những ngón tay lướt trên bề mặt Ipad trơn tru hoàn hảo và vô cảm, nhưng chỉ với vài cặp loa nhỏ trong ngôi tổ ấm mới ở Chelsea, Christopher Bailey đã có thể hài lòng thở ra tĩnh tại “Và thế này, tôi cân bằng tuyệt đối và lại một lần nữa giành quyền kiểm soát tối ưu!”

Burberry không biên giới và cuộc oanh tạc Đài Bắc

Thay vì mòn mỏi với những ngôi sao giải trí tạo dáng mỗi người 5 phút trước backdrop và nhấm nháp champagne như thường lệ, sự kiện ra mắt flagship của nhà Burberry tại Đài Bắc đã được đựng cả vào một không gian hình trụ, với màn trình diễn âm nhạc của ngôi sao Ăng-lê Tom Odell trong một thứ “thời tiết kỹ thuật số” của tay đại phù thủy Christopher Bailey.

Thật ra, đây không phải là lần đầu Bailey thực hiện trò “hô mưa gọi gió” từ hồi tuyết rơi trên catwalk mùa thu 2011 và sau đó là trận mưa nhân tạo trên đường băng fall 2012. Nhưng lần này, ông phù thủy có thêm cả gió lẫn lá vàng bay.

Với ý tưởng hòa trộn thế giới tự nhiên trong ngôn ngữ kỹ thuật số, cũng là tiêu chí canh tân của Burberry, với một mức đầu tư công phu và khổng lồ vào tính liên kết xã hội qua công nghệ truyền thông đại chúng. Video sự kiện Đài Bắc được lập tức đăng tải trên website và trang Facebook nhà Burberry với sự hưởng ứng hồ hởi của 12 triệu tín đồ, chỉ tính riêng trên Facebook.

Dẫu sao thì việc “hóng nguội” những hình ảnh của vụ bỏ bomb Đài Bắc này cũng chỉ đủ để tín đồ tại các thánh địa khác mất kiên nhẫn hơn khi chờ đại phù thủy Bailey tiếp tục màn lưu diễn phong ba xuyên lục địa được hứa hẹn sẽ liên tiếp diễn ra trong năm nay. Và hơn ai hết, các tín đồ tại tâm bão New York càng thấy tủi thân hơn khi chỉ mới có London, Hongkong và Chicago được nhà Burberry xách nhận là các mục tiêu dội bomb sắp tới.

Từ mùa SS2011, nếu không chỉ xét đến yếu tố thời trang của các thiết kế được chưng diễn trên catwalk nhà Burberry, thì đó đã là màn khai pháo cho món vũ khí tối thượng của Christopher Bailey – kỹ thuật số trong công nghệ truyền thông đại chúng và mạng xã hội. Hiệu quả hiển hiện rõ rệt qua các cú click mãi vụ tăng vọt ngay sau show diễn. Tiếp nối lập tức là con sốt co giật hàng triệu cú click chuột của mọi tín đồ săn hàng “nóng” ngay trên mạng. Trong khi đó, những chiếc áo khoác trenchcoat tưởng như đã thành di tích của lịch sử trang phục nhân loại, ngay sau khi được đích thân tiểu minh tinh Emma Watson chưng diện, lại đường hoàng trở thành món thời trang tối thiết của văn minh ăn mặc toàn cầu, khi mà các công dân trẻ của thế giới phi biên giới di chuyển liên tục giữa mọi môi trường có sử dụng thiết bị điều hòa nhiệt độ, từ sân bay đến khách sạn. Tĩnh tại một cách khôn ngoan, Bailey giữ sự bình thản trước các thương vụ hậu hĩ tăng vọt “Truyền thông mạng, điều quan trọng là hẵng khoan xem đấy như một công cụ thương mại, nếu không muốn dừng lại ở mức một cửa hiệu ảo buôn bán lặt vặt. Đây là một phương tiện tiếp cận và duy trì liên lạc hoàn hảo. Đối tượng không còn là các khách hàng, mà mở rộng hơn, họ là công chúng, gồm cả những người chưa hề mang ý nghĩ sẽ sở hữu một món hàng Burberry. Chừng nào chúng tôi còn mang một giá trị giải trí giàu thời trang tính, chừng nào tên tuổi vượt qua tầm một nhãn hàng để trở thành một phong cách sống, ngày đó, có thể tính cả những tín đồ “chưa mua” là những người “rất có thể sẽ mua”. Đó là cả một chặng đường dài, mà phần thưởng nằm ở đâu đó khuất tầm mắt.”

Phong cách quý ngài Christopher Bailey

Không cầu kì hay quái đản như vẫn thường thấy ở các nhà thiết kế cùng thế hệ, Christopher Bailey luôn xuất hiện như một đại diện hình ảnh mới của Burberry: không quá chải chuốt, nhẹ nhõm và thân thiện – một ngôn ngữ tác phong hoàn hảo cho thế hệ quý ngài trẻ của nước Anh đã mỏi mòn ngán ngẩm cực hình đóng khung bỏ hộp.

Không chỉ các quý ông mà ngay cả các nữ độc giả của F cũng hoàn toàn có thể rút ra cho mìh một chìa khóa giá trị từ các nguyên tắc phong cách của Christopher Bailey.

1. Nếu một món phụ trang, trang sức, hay chiếc kẹp cà-vạt mà bạn đang đeo là món đầu tiên được người đối diện khen tặng, thì rõ ràng là bạn đang treo máng có nhiều, đặc biệt đối với một quý ông. Chiếc đồng hồ chẳng hạn, dẫu có đắt giá đến mấy cũng không nên được trưng trổ ồn ào. Không có thứ đẳng cấp nào được khẳng định bằng một tiếng quát to thô lỗ cả!

2. Mặc một món gì đó “hợp mốt” trên người quả là điều hay. Nhưng không phải tất cả mọi món trên người.

3. Người ta nên cảm nhận được con người đằng sau bộ trang phục. Khi con người ấy hoàn toàn nhạt nhẽo, mờ mịt hoặc trống rỗng, thì bộ đồ vía đắt tiền của bạn cũng thõng thẹo bùng nhùng như bị đang treo trên một cái đinh mà thôi.

4. Bạn có thể không hề là một tín đồ thời trang, nhưng hãy mặc vì môi trường xung quanh bạn, nếu không vì thú chiều chuộng tô điểm bản thân.

5. Tôi thật sự ngưỡng mộ những quý ông đeo cà-vạt. Tôi thích cái tinh thần ấy, nhưng thế hệ tôi đã bắt đầu thấy tù túng trong những bộ suit. Cứ mỗi lần phải khoác đủ lệ bộ, tôi thấy mình như tay ngốc đang cố làm ra vẻ khệnh khạng. Nhưng thứ làm tôi phát bệnh là mặc suit với T-shirt và giày thể thao. Giày, giày luôn là chìa khóa phong cách. Tôi ghét thậm tệ kiểu người ta vận một cặp quần may đo chỉnh chu hẳn hoi với một đôi giày thể thao mới kính coong, một tổng thể đồng đẳng hóa mọi chi ngành của thời trang, và tính cá nhân hoàn toàn bị triệt tiêu đằng sau thứ tác phong nửa sạp nửa quầy ấy.

6. Một bộ suit luôn cần có một chiếc sơ-mi cổ điển, trơn tru chuẩn mực. Vải in hoa, kẻ sọc, hay màu mè chỉ hợp với jeans mà thôi.

7. May thay vào thời đại này, đàn ông không còn quá bị đe dọa bởi việc làm đẹp, nhưng điều này chỉ áp dụng với mẫu đàn ông như David Beckham mà thôi – mẫu đàn ông thẳng thớm và thừa thãi bản lĩnh để diện một cái chân váy hay tỉa tót hàng lông mày. Và ai mà chẳng biết anh ta là cầu thủ bóng đá nổi tiếng hùng hục ra sao, cưới cô vợ đẹp dữ dội thế nào. Đó nên là một mẫu anh hùng mới cho nam giới noi theo.

8. Vài giọt nước hoa trên ngực bao giờ cũng công hiệu hơn cả chục cú xịt nước hoa vào cổ. Và trừ khi bạn đẹp trai quằn quại, đừng nhuộm highlight.

9. Nếu bạn có cảm giác “dường như” mình đang chưng diện “hơi” quá tay, thì rất có thể bạn đang chưng diện quá tay thật.

10. Không phải mẫu đàn ông nào cũng hợp với áo khoác da. Nếu có được một chiếc áo khoác da may đo thì tốt nhất, bởi một áo khoác da lùng nhùng rộng sẽ khiến bạn trông như một cụ cao niên.

11. Bàn về chuyện chưng diện, tôi cho rằng nam giới đang quả tình tỏ ra lười biếng. Máu phiêu lưu liều lĩnh, lòng quả cảm đàn ông tính rất nên được áp dụng vào việc ăn mặc. Hãy tin vào cảm giác của mình. Trong trường hợp cảm giác của bạn sai bét và trông bạn như đồ ngớ ngẩn, thì bạn vẫn có thể soi gương để nhận biết và cứu vãn cơ mà.

Calvin Klein – người hùng thời trang Mỹ & chiếc quần lót phi giới tính

Trác Thúy Miêu

Từ khi lên 5, Calvin đã biết chắc điều mình muốn làm với sự nghiệp về sau. Cậu sẽ trở thành một nhà thiết kế thời trang và sẽ không ai ngăn cậu được. Như thể định mệnh cho đứa trẻ lì lợm cắm đầu vào hào quang của một trong những nhà thiết kế hùng mạnh nhất công nghệ thời trang thế giới, với tài sản hàng tỉ Mỹ kim và một cái tên bành trướng mọi thị trường thời trang, mỹ phẩm thân thiện, từ quần áo, nước hoa, kính mát cho đến tận những mảnh đồ lót. Mỗi bước tiến quân hoành bá của song tự CK đều mang về một ngân khoản và uy danh lẫy lừng cài lên ngực kẻ mang danh “Calvin the Conqueror” (Kẻ Chinh Phục) trong suốt 40 năm bất bại.

Mộng bá chủ từ quầy tạp hóa phố Bronx

Sự nghiệp lẫy lừng ấy đã bắt rễ từ rất sớm, những tháng năm lớn lên của cậu Richard Klein khu Bronx, New York. Sinh ra vào cuối năm 1942 với hai dòng máu Áo-Hung, tuổi thơ cậu Klein không có chút hào quang của tầng xã hội phong lưu le lói được đến tiệm tạp hóa của cha cậu, nơi cậu lớn lên để tập phụ việc, như một phần số khiêm nhường được ấn định lầm lũi giữa những kệ di sản chạp phô cha truyền con nối.

Giữa những quầy kệ của cuộc sống phố Bronx, Klein khép mình khỏi những trò chơi của bọn nít nhỏ cùng xóm, cậu ở nhà, lúi húi tập vẽ và mê mẩn trò vá khâu. Những khoảnh khắc huy hoàng trong tuổi ấu thơ ấy của cậu nhỏ lập dị nhà Klein là những chuyến được theo mẹ đi mua sắm trên phố lớn. Trên thực tế, những chuyến tháp tùng hào hoa ấy của cậu là cùng người mẹ – người đàn bà đa đoan tằn tiện, săn lùng những đợt hàng thời trang giảm giá, hay các tiệm hàng giá rẻ. Nhưng chính những cuộc săn loanh quanh phố lớn ấy đã kết thúc bước chân ấu thời của cậu tại trường trung học Mỹ Thuật Công Nghệ, với mục tiêu trực chỉ Viện Công Nghệ Thời Trang Nữu-Ước. Klein tốt nghiệp ngoạn mục khi 20 tuổi, và vài năm sau thành thân với cô Jayne Centre, cùng lúc chính thức đặt chân vào giới thời trang New York ở tư cách một thực tập sinh vô danh. Sau đó, Klein chuyển sang phụ việc cho Dan Millstein với tiền công 75 dollar mỗi tuần bằng việc vẽ lại các thiết kế áo khoác kiểu Âu châu cho nhà này. Thời ấy, hầu như Hoa Kỳ chưa có lấy cho mình một phong cách thời trang rõ nét riêng biệt, mà phần lớn chịu ảnh hưởng từ các trào lưu thời thượng của Lục Địa Già. Chính công việc này đã cho Klein thâm nhập sâu sắc nhất vào tinh thần Âu châu trong từng cấu trúc thiết kế khi này khuynh đảo sàn thời trang Hợp Chủng Quốc.

Từ những bản vẽ “nguội” này, Klein ấp ủ mầm mống sự nghiệp cho một hãng thời trang riêng, như một sự trỗi dậy của lòng tự trọng Hoa Kỳ, kèm theo tag giá đại đồng thân thiện đủ để hất cẳng những thế lực xa xỉ Âu châu khi này vẫn đang chiếm thế độc tôn.

Năm 26 tuổi, với 2,000 dollar tiền tiết kiệm và 10,000 mượn từ Barry Schwartz, một người bạn thời ấu thơ, anh chàng đã thành công gieo hạt mầm đầu tiên cho thế lực thời trang Hoa Kỳ non trẻ, mang tên Calvin Klein Ltd., với Schwartz trở thành cổ đông đầu tiên và duy nhất.

Từ tai nạn tình cờ của tay buyer ngớ ngẩn…

Tiếp tục tập trung vào dòng thời trang áo khoác, mọi ý tưởng từ thời còn ngồi vẽ lại những chiếc áo khoác châu Âu được dịp tuôn trào vào nhữn sản phẩm Mỹ thật sự. Nhưng thành công và may mắn lại gõ cửa hãng Calvin Klein nhờ một tai nạn hi hữu một năm sau ngày thành lập, khi một doanh nhân bước ra khỏi thang máy vào nhầm tầng lầu và bước nhầm vào văn phòng hãng thời trang Calvin Klein vô danh. Tình cờ sao, doanh nhân này là một chuyên viên thương vụ của hãng department store Bonwit Teller danh tiếng. Ông ta vào nhầm chỗ, nhưng khi bước ra, đã đặt xuống chi khoản 50,000USD cho một thương vụ không thể đúng đắn hơn, và lời nhắn nhủ mang tính sấm truyền “Ngài Klein, ngài sẽ được thế giới thời trang phát hiện ra.”

Chỉ trong một năm đầu hợp tác, nhà Bonwit Teller đã thực hiện 1 triệu USD thương vụ với Calvin Klein.

Sự hào phóng của bạn hàng đầu gấu đã giúp Klein tự tin xâm lấn sang dòng thời trang sportswear thân thiện vào năm 1973. Các thiết kế đầu tay của ông, với dấu ấn đơn giản, lịch thiệp và đầy chất thực tế đặc thù đã nhanh chóng được dân Mỹ mệnh danh đầy tự hào là “The Calvin Klein Look” cho cả một trường phái thẩm mỹ thời trang thực dụng. Cùng năm, tô điểm thêm cho vầng hoàng quang mới của thời trang Mỹ, Calvin Klein ẵm luôn giải thưởng danh giá Coty Award.

Nhưng phía sau những bước tiến liên tiếp ấy của sự nghiệp là những rạn vỡ đầu tiên trong cuộc sống riêng của Klein. Năm 1974, khi đương trên đài danh vọng, ông ly dị vợ, rơi thẳng vào những cuộc tiệc tùng triền miên và mọi thứ chất kích thích mà lối sống hippy thượng lưu có thể mang lại cho những ai đủ tiền để nghiện ngập. Năm 1978, con gái Marci 11 tuổi của Klein bị bắt cóc, như một đòn cảnh tỉnh ông bố trẻ, lôi tuột Klein khỏi những cuộc đắm mình thâu đêm ở hang ổ khét tiếng Studio 54.

Marci an toàn hồi gia, và Calvin Klein cũng vậy.

…đến quyền lực Mỹ tái sinh từ vũng lầy đồng tính

Đầu 1980, Calvin Klein – giờ đã thành tên gọi một thế lực thời trang mới, lại đặt chân đến một khúc quanh định mệnh, khi tung ra chiến dịch quảng cáo cho mẫu quần jeans bó sát, với cô đào non Brook Shields pose một dáng giật gân với lời tuyên bố như thách mọi nam nhi trai tráng Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ “Không có gì lách vào nổi giữa tôi và Calvin”, đương nhiên là ám chỉ nhiều hơn đến sự khắng khít ngặt nghèo giữa làn da đùi của nàng với chiếc quần bó đến ngứa mắt.

200,000 chiếc bán hết vèo trong tuần đầu tiên, các nhà hoạt động nữ quyền lại được dịp om sòm la lối, nhưng đó chỉ là một dấu son cho mỗi chiến dịch quảng cáo thật sự thành công. Calvin trở thành điển hình tiên phong cho phong trào chiến dịch quảng cáo kèm tai tiếng, mà kẻ tiếp nối nhanh nhảu nhất cũng chính là ông.

Hai năm sau đó, Klein tung bomb quảng cáo quần lót nam để khai hỏa cho dòng sản phẩm nóng sốt nơi đáy quần nam nhân toàn thế giới cho đến tận nay. Hẳn nhiên, với shot ảnh các nam thần làng mẫu mình chỉ mặc độc những chiếc quần thun bó đến cháy da, Calvin Klein thắng lớn. Nhưng vị ngọt thành công chỉ mới ngây ngất được một năm thì cơn hoảng loạn toàn cầu về bệnh AIDS khiến các đáng nam nhi co vòi lập tức trước hình tượng tình dục phi giới tính của mẫu quảng cáo nhà CK, và bất cứ kiểu quần lót bó sát vào nơi rất không nên xây xát ấy, đúng ngay vào lúc vừa bỏ 65.8 triệu USD ra mua lại licensee của Puritan Jeans, Calvin Klein ngập đầu trong món nợ trời giáng.

Ngay trong vũng lầy sự nghiệp, Klein lại tái hôn, nhưng đây không hề là một đoạn đường quang đãng. Ông tái nghiện và được đưa đi điều trị tại Hazelden Clinic ở Minnesota. Sau khi cai nghiện, như gã khổng lồ thức giấc, Klein công khai giới tính, và bắt tay với tài phiệt truyền thông David Geffen để gỡ công ty khỏi món nợ khổng lồ. Tự học từ thương vụ suýt xóa sổ Calvin Klein, ông bắt đầu phát hành license của chính mình. Cái tên Calvin Klein quả là món hời được giá, ngay lập tức lây lan khắp thị trường thời trang, phụ kiện và mỹ phẩm như một trận đại dịch lây lan nhanh chóng mặt. Từ mắt kính, đồng hồ, ví bóp, v.v… Điểm nhấn của cuộc càn quét là quả bomb mùi hương sặc mùi tuyên ngôn của phong cách Calvin Klein – nước hoa unisex cKone, đánh dấu sự tở lại huy hoàng của quyền lực Calvin Klein bách thắng.

Cao điểm xảy ra vào năm 2002, khi Klein bán lại công ty cho tập đoàn Phillips Van Heusen Corp với giá trị 400 triệu Mỹ kim, với 30 triệu giá trị cổ phiếu. Nhưng cái tên Calvin Klein vĩnh viễn ghi dấu quyền lực trong lịch sử ngành công nghệ thời trang Hoa Kỳ và thế giới.

Chất bôi trơn mang tên Tình Dục

Nhìn vào một shot ảnh hay clip quảng cáo của nhà Calvin Klein, người ta không tài nào biết được món gì đang được rao bán. Liệu đó là kính mát, nước hoa, hay quần bò?

Chỉ riêng Calvin Klein biết chắc thứ ông ta bán, và nó cũng chẳng phải kính mát, nước hoa hay quần bò.

Đó là SEX!

Nhưng tôi đang không định nói rằng nhà Calvin Klein thành công nhờ công nghệ mãi dâm. Không! Chữ SEX viết hoa là một cuộc chơi vi diệu hơn rất nhiều.

Từ TVC, các trang tạp chí cho đến những tấm biển quảng cáo khổng lồ, tất cả đều được phủ ngập những thân mình thiếu vải, loang loáng thịt da hoàn mỹ, và chỉ một vài mảnh của sản phẩm chủ đạo được đeo đính vào đó một cách tài tình.

Mọi dân nội giới rành chuyện của công nghệ thời trang Mỹ đều biết ông tổ của các chiến dịch quảng cáo thời trang gợi tình trên mảnh đất Tân Thế Giới không ai khác, chính là quyền lực thời trang mang tên người đàn ông Mỹ Calvin Klein.

Dù ủng hộ hay phản đối, hiển nhiên, sự phổ biến của cái tên Calvin Klein cũng đủ khẳng định đó là một thế lực hùng mạnh, và tất cả được xây dựng trên ý tưởng về sự gợi tình. Vậy đó, một anh chàng cô nàng mới ra ràng nào cũng hiểu, nếu bạn muốn một phong cách trẻ trung gợi cảm, bạn đi mua đồ hiệu Calvin Klein, và hầu như tag giá thân thiện đến nỗi, “bạn” ở đây có thể là các cô cậu sinh viên còn sống nhờ vào quỹ bỏ túi của một gia đình trung lưu, cho đến những tín đồ thênh thang sự nghiệp.

Klein tuyên bố “Mọi thứ tôi sờ chạm đến, trong các chiến dịch quảng cáo, đều gây tranh cãi. Chính những tiếng la ó đi cùng mãi lực này hình thành một phản xạ có điều kiện trong tư duy sáng tạo. Nếu nó giật gân, gợi cảm và nhạy cảm, và có một mối dây mong manh liên quan đến sản phẩm chủ đạo, thì tôi lập tức sẵn lòng liều mình với ý tưởng quảng cáo đó, bất chấp! Một trò tiêu khiển cực kì thú vị.”

Từ đó, không chỉ được vị nể trong giới thời trang, Calvin Klein còn là một cái tên khét tiếng đối với giới quảng cáo. Ông là một thiên tài lì đòn, sẵn sàng đạp đổ mọi biên giới, thay đổi mọi tiêu chuẩn, và tự định đoạt rằng điều gì là chấp nhận được trong quảng cáo thời trang. Ông khuấy động quanh mỗi shot ảnh, clip TVC của mình những luồng phản ứng đa chiều. Tung hô hay la ó, mặc tình, ông có quanh mình một đám đông ồn ào với mọi sự chú mục hướng về từng chi tiết trên hình ảnh quảng cáo.

Kiện tướng mặc quần đùi và cuộc hành hung 25 chiếc xe bus

Nhưng không phải là một tay con buôn bất chấp thủ đoạn, cuộc chơi của gã người Mỹ khôn ngoan chỉ dừng lại ở những hình ảnh khơi gợi đến hàng tỉ thứ cấm kị hay ho, rồi hình thành nên một màu sắc thuộc tính gắn liền với nhãn hàng: trẻ trung, gợi tình, biết thụ hưởng và không ngán dư luận.

Điển hình là bức ảnh cô người mẫu Pati Hansen năm 1979, lồm cồm chổng mông vào tuế nguyệt trong cặp quần jean CK bó sát. Bức ảnh này, dưới dạng một biển quảng cáo khổng lồ, được chưng liên tù tì 4 năm tại quảng trường Times, trở thành một tượng đài biểu trưng cho tinh thần thời trang dân chủ gắn liền với tên tuổi Calvin Klein.

Năm 1982, cùng với sự bành trướng của Klein vào lãnh vực nội y, tất cả những kinh nghiệm lão luyện từ các chiến dịch quảng cáo trước được tập trung đầu tư cho dòng thời trang không thể phù hợp hơn này. Klein đặt bước chân đầu tiên vào mảnh đất sặc mùi SEX với lời tuyên bố hào hùng “Tôi không làm nên những bộ đồ lót có thiết kế gợi cảm, mà chỉ thiết kế ra những thứ làm chính người mặc trông gợi cảm hơn. Và đó chính là điều mà tôi sẽ đặt vào trọng tâm của hình ảnh quảng cáo, chứ không phải các bộ áo quần. Hình thể hoàn hảo và sự gợi tình sẽ được khai thác và cảm thụ tối đa, nam hay nữ, bất kể, tôi sẽ thực hiện điều này với những người mẫu có thân hình tuyệt hảo”.

Thế là ông tìm đến kiện tướng Olympic môn nhảy sào người đầy cơ bắp, mặc cho anh này thiết kế quần lót mới nhất của ông, chụp lại, thuê đăng trên thân 25 tuyến xe bus ngược xuôi Nữu Ước.

Chỉ sau một đêm, toàn bộ cửa kính của 25 chiếc xe bị đập vỡ tan tành và những tấm poster bị cướp sạch, chỉ trừ tấm biển khổng lồ ở Times Square là may mắn thoát khỏi những bàn tay táy máy của quý bà, và cả các quý ông.


Không cần phải bàn đến mãi lực của chính sản phẩm nữa, đó hiển nhiên đã là một quả bomb quảng cáo vang dội lịch sử thời trang.

Nhưng đó chỉ là cú dội bomb dọn đường, đáng để người ta nín thở chờ dòng underwear nữ thật sự khai hỏa.

Tuân thủ đúng tinh thần unisex của nhãn hàng, những thiết kế quần lót đầu tiên của Klein dành cho nữ hoàn toàn lấy cảm hứng từ những kiểu quần shorts, quần đùi boxers của nam. Các cô nàng vô ưu hồn nhiên như đang mặc quần của bạn trai, gợi tình róng riết đến mức dẫu đẩy năng suất tối đa, hãng của Klein không còn có thể đáp ứng nhu cầu thị trường 2 năm sau đó. Klein thản nhiên buông bỏ, bán lại dòng hàng nóng rẫy tay này lại cho cá mập Kayser Roth Corp và ngon ơ bỏ túi 11.2 triệu Mỹ kim.

Cũng với chất bôi trơn của thẩm mỹ gợi tình, Klen liên tục thắng lớn ở thị trường nước hoa với hình ảnh các nam thần thời đại vờn đùa một quý cô hoàn toàn khỏa thân để quảng cáo cho nước hoa Obsession. Một cuộc thăm dò cho thấy đây đã trở thành hình ảnh quảng cáo đáng nhớ nhất đối với người tiêu dùng ở Mỹ trong suốt 4 năm liền, còn Obsession trở thành nhãn nước hoa bán chạy thứ nhì trên toàn thế giới.

Không có gì có thể ngăn Klein lại nữa, ngay cả bản thân ông. Calvin Klein trở thành một tính từ của vẻ đẹp đầy dục tính và một lối sống hưởng thụ cởi mở và những lằn ranh giới tính bị đạp đổ phũ phàng. Mỗi hình ảnh ký tên CK đều có khả năng vươn ra khỏi tầm quảng cáo thời trang thương mại, mà chính thức trở thành một tuyên ngôn lối sống. Chúng khiến không chỉ các tín đồ thời trang cũng phải ngoái đầu nhìn lại, và người ta không còn ngỡ ngàng trước sự tồn tại và hùng bá hiển nhiên của tên tuổi Calvin Klein.

 

BOX BUÔN CHUYỆN

Như một mối lương duyên với những chiếc quần lót và những thân thể nam thần làng mẫu, gần đây người ta không còn ngỡ ngàng trước cảnh Calvin Klein, ở tuổi ngót 70, cặp kè với chàng người mẫu nhỏ hơn mình 46 tuổi Nick Gruber.

Phải mất công lùng kiếm lắm mới có thể lần ra anh chàng, qua nick Nick Oo trên Facebook, và hồ sơ người mẫu được đăng trên ModelMayhem.com với cái tên Nick London. Hồ sơ này gần đây mới bị xóa mất tăm.

Sự việc không có gì là lạ từ khi Calvin Klein công khai về xu hướng tình dục của mình, và sự quan tâm đặc biệt đến các cậu người mẫu măng tơ theo đúng kiểu Nick Oo, Nick London, hay Nick Gruber, tùy theo cách gọi.

Năm ngoái, Calvin đã hào phóng tổ chức cả một buổi tiệc sinh nhật hoành tráng mừng tình nhân 21 tuổi. Trên tấm thiệp mời, ông cho in dòng chữ “Trong tinh thần lễ hội đón chào năm mới, và kỷ niệm sinh nhật Nick Gruber, hân hạnh thân mời quý vị đến tiệc tối cùng Calvin Klein tại Indochine ngày 21 tháng Giêng, lúc 21 giờ. Đây sẽ là chiếc vé nóng nhất cho toàn giới đồng tính và tinh hoa thời trang New York.”

Mới đây lại có tin đồn họ chia tay.

Một số người quen của Klein cho biết họ chỉ “tạm thời chia tay”, vốn là tình trạng khá thường xuyên của cặp đôi bền bỉ một cách thất thường ấy, trong khi Daniel Nardicio – một nam vũ công nightclub, bạn thân của Nick, khẳng định rằng Nick đã có lần buông lời tâm sự “muốn sống bên anh trọn đời” khi được hỏi về mối tình với CK, còn Klein, phừng phừng hạnh phúc ở tuổi ngót 70, xuất hiện trên sóng truyền hình quốc gia, tuyên bố ông đã “tìm được một tình yêu hoàn hảo với một chàng trai tuyệt vời”.

Oái oăm thay, người ta bắt đầu gọi Klein là “lão già dại trai” khi Nick bắt đầu post lên Facebook của mình những tấm ảnh mặc quần lót của thương hiệu đối thủ của CK là Jockey, trong một tư thế đáng gọi là một phiên bản vụng về của trường phái quảng cáo mang tên người tình huyền thoại.


Tuẫn-tiết, Văn-minh, và Đầy Thái-độ

Trác Thúy Miêu

Đứa trẻ không chọn sinh ra vào một ngày lành

Đúng 2 năm về trước, F số đầu tiên tung ra tuyên ngôn “thời trang không phải là nghệ thuật, nhưng cần cả một nền văn minh để kiến tạo và thụ hưởng nó”.

Chặng đường một năm đầu khởi tạo đã được thực hiện đúng với lời tuyên ngôn đầu tiên ấy, khi lần dở ra trên từng trang báo, những câu chuyện, cuộc đời, những thăng trầm của tài hoa thống khổ, và những thái độ thời cuộc đằng sau những đế chế thời trang hùng mạnh và những cái tên đã hóa thánh.

Ngày khai sinh của ấn phẩm F-Thời Trang, ngoài kia, thế giới đang rùng rùng sự sụp đổ của những tượng đài quyền lực trong bi kịch của khánh tận và kiệt quệ, của Christian Lacroix và Alexander McQueen,… Haute couture rùng mình trong cơn tự hủy, những tín đồ hoang mang với câu hỏi “Rồi đây chúng ta sẽ có gì để trông đợi, trước mỗi mùa Thu Đông?”

Nhưng, như đứa trẻ không chọn sinh ra vào ngày lành, F chọn cả tin, điên rồ và lãng mạn, F chọn hướng về thời trang, không chỉ như một trận đồ thương mại, mà còn như một lối sống, một tín ngưỡng, một Tình Yêu.

Đó là một năm của những hồ sơ tên tuổi khét tiếng nhất được lần dở, nghiêm cẩn, trung thực và bạo liệt như chính bản chất của thời trang chuyên chính. Đứa trẻ hư Marc Jacobs, hooligan phá đền Jean Paul Gaultier cho đến cái chết bi thảm của thiên tài yểu mệnh Lee McQueen. Đó đã là năm hình thành nên những loạt bài tư vấn trận đồ mua sắm thế giới, cho đến nay vẫn là kim chỉ nam thân thiết của các shopper Việt, sẵn sàng công phá những bãi săn và trực chỉ hành hương về những thánh địa thời trang nóng bỏng nhất hành tinh. Và miên man bên lề là những cuộc hẹn hò, từ “the boy next door” xóm Manor Johnny Trí Nguyễn cho đến gã đàn ông đồ đá đồ đồng Ngô Quang Hải… F bày ra trước độc giả của mình, những người được gọi là F.readers, một bữa buffet cuộc đời, từ nền văn minh đằng sau những thứ không chỉ là quần áo, cho đến thời trang trong phong cách sống, và trong cả lạc thú đặc ân của một F.diva – những cuộc hẹn hò và những người đàn ông.

12 số F đầu tiên đã ghi dấu cho 12 đại tiệc thụ hưởng thời trang chuyên chính, nơi tất cả đều là Thời Trang, và sự xa xỉ tột cùng của những người đàn bà biết bao phủ bản thân bởi những gì tinh tế và cầu kỳ nhất, với mọi tag giá.

Những vị vua và những bà hoàng đi về đâu?

Đúng một năm sau đó, trong khi F chào đón kỷ niệm tròn 1 năm phát hành thì ngoài kia, như phần số oái oăm của đứa trẻ không chào đời vào ngày lành, giới thời trang cuồng nộ với sự thái quá cuối cùng của gã hiệp sĩ râu kẽm John Galliano. Các tín đồ ở Anh quốc và cả Paris lang thang giữa đại lộ thời trang, tay giơ cao biểu ngữ nguệch ngoạc “The King Is Gone!”, trong khi tay Don Quijote của huyền thoại haute couture nhà Dior bị truất ngôi trong chuyến lưu vong ô nhục. Đứa trẻ hư cuối cùng đã bị đánh đòn và ngai vàng đến nay vẫn còn để trống.

Yếu ớt, vô tâm và vị kỷ, những cơn sài giật đồng bóng của thế hệ thiên tài thời trang đã khiến cac tập đoàn cá mập ngán tận cổ. Họ trở nền phiền toái và tạo bất an không kém sự lộng lẫy kì tài của những thiết kế họ tung ra mỗi mùa.

Những thành trì haute couture còn lại cần những cánh tay tài hoa mới, và những bờ vai khỏe mạnh, vững bền để gánh vác, chờ cuộc chấn hưng.

Trải dọc tuổi đời thứ 2 của F, thế giới lại quằn mình vĩnh biệt một vị vua khác, người giờ đây ắt đang lướt bước moon-walk trứ danh nơi thiên đàng, vĩnh viễn một Neverland cho những thiên tài không bao giờ lớn.

Kế tiếp sau Vua Pop về tuyền đài không lâu là một giai nhân tri kỷ khác của ông, một huyền thoại nhan sắc của nhân loại – người đàn bà mắt tím Liz Taylor. Nàng ra đi, trong khối thân thể tàn tạ và chiếc váy cưới thứ 8 chưa kịp hoàn thành.

Và trong những sinh ly tử biệt ấy, F vẫn lãng mạn và dư dả đức tin để hân hoan thốt lên vào số kỷ niệm 1 năm phát hành: “Cuộc vui chỉ mới bắt đầu!”, bởi với tinh thần lạc quan không khoan nhượng, F hiểu rằng chính khi những cuộc hoán chuyển dữ dội nhất diễn ra, khi những điều đã cũ lần lượt ra đi, đó đồng nghĩa với những khởi đầu mới, và F đang ở mức vạch đầu tiên, sung mãn và đầy kiêu hãnh, bởi: “đứng ở vạch xuất phát luôn là những gã khổng lồ, những người hùng và những quán quân, và cả những kẻ lãng mạn nữa. Bởi khi người ta bắt đầu, tất cả những sự tính toán tỉnh táo nhất, những hoạch định khôn ngoan nhất, tất cả chỉ chịu sự khống chế duy nhất: giới hạn của trí tưởng tượng.”

Đã là 12 tháng, 12 số ấn phẩm của xen kẽ với những cuộc phế truất, những cuộc tử biệt nặng nề, còn là những tên tuổi đang tuần tự thay máu đại cục thời trang thế giới. Từ nữ truyền nhân tóc vàng của Lee McQueen quá cố đã rạng rỡ chinh phục làng thời trang trong chiếc váy hoàn hảo dành cho tân nương hoàng gia Anh Quốc, cho đến người đàn bà nắm trong tay quyền trượng nhiếp chính đế chế Versace và gia huy nữ thần tóc rắn, trong khi ngoài kia, thế trận siêu nhân sự thiết kế thời trang đang được dàn sắp lại bởi những “quân cờ” trẻ trung, sung mãn, và đầy tham vọng. Thế cục vẫn luân hồi chuyển xoay quanh những ngai vàng bỏ trống, những cây thập giá vinh hoa và khổ nạn của haute couture đã sẵn sàng chờ những vị tông đồ trẻ. Cùng lúc, lực lượng những con người đằng sau mỗi ấn phẩm F cũng đón nhận những tay viết mới như một cuộc tiếp máu đúng thời điểm. Và một cuộc hoán chuyển đổi thay lớn đã diễn ra.

Ngạo nghễ trên đống hoang tàn

Chuyên mục Shopping City khép lại, nhường chỗ cho những cuộc du ngoạn hưởng thụ cho một diva sành sỏi, thay cho những câu chuyện về các tên tuổi làng trường túc trong chuyên mục Model được thay thế bằng Style Icon, với những câu chuyện cuộc đời những vĩ nhân đương đại của thảm đỏ thế giới. Họ không chỉ là những nhân vật thượng lưu sành trò ăn vận, mà đưa định nghĩa Style về mọi khía cạnh và giá trị của nó. Đó là vua Pop, Đồng nữ Madonna, Liz Mắt tím, lệnh bà nhà Vogue Anna Wintour, hay tay đàng điếm cao niên Mr.Playboy. Những cuộc đời không hề mẫu mực, nhưng duy mỹ đến tuẫn tiết vong thân ngay giữa phần số phù hoa tráng lệ.

Cũng chính từ Style Icon, F đã tung ra chùm chuyên đề về sự man rợ của thời trang xa xỉ, về những sinh linh vô tội bị tra tấn và thảm sát để đánh đổi cho các nạn nhân của cơn nghiện xác. Họ khoác lên mình những xác chết và tự gọi bản thân là những nữ nhân đại diện cho tầng thượng lưu ưu tú. Trải dài trên liên tiếp nhiều trang báo là chân dung máu lạnh của lệnh bà Vogue Mỹ Anna Wintour với quyền lực tối cao và trái tim của một nữ đồ tể, phía đối diện là cuộc chiến bền bỉ quyết liệt của nữ chính ủy PETA – Ingrid Newkirk, cùng các chiến binh của mình, trong đó là một lực lượng những minh tinh nổi tiếng nhất thế giới tình nguyện khỏa thân và tạo một sức công phá khôn lường lên thị trường thời trang lông thú. Hơn cả lệnh bà tối cao của truyền thông thời trang Anna Wintour, chính họ mới là những mẫu mực duy mỹ chân chính của văn minh thời trang mà F muốn cùng độc giả của mình hướng tới.

Năm thứ 2 của F còn ghi dấu sự ra mắt của Top Brand – một cẩm nang kì thú về huyền sử các tên tuổi thế lực thời trang thế giới, một cuộc chơi thuần túy vị kỷ và tự do của những tay viết không bị chi phối bởi áp lực quảng cáo của một tạp chí. F dàn trải trước các độc giả của mình một giá trị cộng thêm vô song cho mỗi tuyệt phẩm thời trang được mua sắm, vượt trên tầng khoái cảm của việc sở hữu một món “hàng hiệu” đắt tiền, và cũng là một tác động gián tiếp đến nền văn minh hàng chính hãng, đặt một lằn ranh đẳng cấp rõ rệt giữa một tín đồ văn minh với một nạn nhân của các tay buôn sỉ người Tàu và những món vật thứ cấp, nỗi rùng mình kinh hoảng của văn hóa shopping. Thay cho Shopping City, Top Brand tiếp tục đóng vai trò cẩm nang tri thức thời trang cho mọi shopper duy mỹ, khôn ngoan và tự trọng.

Lại thêm 12 tháng nữa, F dẫn dắt các diva tuần tự đến với những hẹn hò, từ tiếng đàn rơi vỡ trong một chiều lặng gió của người đàn ông Hà Nội Phú Quang, rồi ngược về phương Nam đón lấy tia nắng heo hắt cuối ngày với thần tượng tân nhạc Nguyễn Ánh 9,… Tuổi đời thứ 2 của Date Of The Month còn là dấu son ưu ái của những vị vua, từ ông hoàng Nhục Tình Ca Phạm Duy cho đến gã ngạo vương trên bể lệ đàn bà Đàm Vĩnh Hưng.

Ở chặng đường từ vạch xuất phát của mình, F, ngạo nghễ trên đống hoang tàn, chọn sự lãng mạn không khoan nhượng, chọn một tầng văn minh thời trang hướng thượng cực đoan nhất, và chọn chạm vào những vị vua.

Người ta sẽ đi đâu, sau khi chạm vào những ngôi sao?

…và bạn vẫn chưa đọc F năm thứ 3!

Cũng chính từ bom chuyên đề cuộc chiến chống thời trang xác thú, F đã khai mở cho chính mình chặng chinh phục tiếp nối – chủ kiến thời trang. Khi thời trang thoát khỏi tầm mức hạn chế của thuần túy bộ cánh trưng trổ nông khơi, bản chất phù phiếm của nó chính là nghệ thuật thụ hưởng trong xa xỉ cực đoan. Đó có thể là món thời trang non mùa vừa chạm kệ boutique, đó có thể là một tư duy yêu và niêm luật sống mà mỗi độc giả, nhân vật của F xác lập và trung thành tuyệt đối.

Từ số đầu tiên cách đây 2 năm, F đã hình thành mạnh mẽ và rõ ràng một sắc thái ngôn luận, từ văn phong ngôn từ, cho đến thông điệp và thai độ.

Bạn cho rằng các ngôn luận của F đã quá sặc sụa thái độ?

Bạn cho rằng F đầy áp đặt ngông ngạo trong những chủ kiến dễ gây dư luận đa chiều?

Đó là chỉ là vì chúng tôi chưa thực hiện F năm thứ 3!

Stefano Pilati – kẻ đang nắm số cá cược cao về khả năng ngồi vào thế chỗ chiếc ngai bỏ phế trên đỉnh thời trang Pháp đã nói: “Từ những ngày đầu của prêt à porter, đã là những ngày khai mở cho yếu tố thương mại của thời trang. Và ngày nay nó đã thành cái chợ. Trào lưu được định nghĩa là thứ kiểu dáng nào được nhiều người chọn mua nhất trong mùa. Trong thời trang dân chủ, tín đồ quyết định cho xu hướng của tín ngưỡng, đông thắng ít, mạnh thắng yếu. Thành ra cái chợ!”

Không thể hân hoan hơn cho những tín đồ đẳng cấp, khi mà ứng viên sáng giá của thế lực Dior lại là một cái đầu tỉnh táo với một chủ kiến đầy thái độ và quyết liệt đến vậy. Vì F, cũng nhưng những độc giả của mình, tin rằng thời trang, dẫu là prêt à porter dân chủ, cũng cần những kẻ mạnh, những phần tử quá khích, và những chủ kiến dẫu có đầy áp đặt, để chấn hưng, tạc dựng nên một thái độ thời trang rõ rệt, phân định tầng đẳng rạch ròi. Thời trang cần là một bức tranh lập thể đa sắc, nhưng mạnh màu và nặng nghiệp – như tất cả những gì đại diện cho tố chất của thời trang và những tín đồ tuẫn tiết của tinh hoa nghiệp đạo Thời Trang.

Bước vào năm thứ 3, F đã chuẩn bị cho thách thức mới ấy bằng 2 số khai pháo của Smart Money – câu chuyện thật thà đằng sau mỗi món săn vi diệu của fashionista. Smart Money là kim chỉ nam để phân biệt giữa một tín đồ với một nạn nhân. F không chỉ là những câu chuyện nội giới của các nhà thiết kế, các tượng đài phong cách, các nhà thời trang đầy quyền lực, và các cơn sốt theo mùa, Smart Money chính là câu chuyện của độc giả F – những fashionista tân thế hệ: văn minh, ranh mãnh và duy mỹ cực đoan. Đó chính là lý do mà F ưu ái đặt Smart Money ở vị trí đầu trong ấn phẩm, một sự sờ chạm thiết thực đến các độc giả của mình.

Như tuyên ngôn đầu đời của F, thời trang không chỉ là nghệ thuật thuần túy trong ý nghĩa vong thân, đó còn là một thái độ sống, đó còn là một tín ngưỡng để xoa dịu và dẫn dắt, chứ không hề là thói phù phiếm trong những tiếng quẹt thẻ mòn mỏi u mê của những tín đồ thống khổ.

…Và đó vẫn chưa là tất cả mà F có thể vén màn quá sớm khi mà cho đến tận cuốn ấn phẩm F số 24, mọi thứ vẫn chỉ mới đang bắt đầu.

Bạn có thể tin rằng bạn đang cầm trong tay một sản phẩm đích thực của thế hệ văn minh thời trang mới.

Sự thật là, chúng tôi, mỗi người trong cái ê-kíp những con người điên rồ, tuẫn tiết và lãng mạn kì cục đằng sau từng trang viết, từng shot ảnh, ưng gọi đây là một Tác Phẩm hơn.

Và trong thế giới của Thời Trang, trong quan niệm của F, sự khiêm tốn là một giá trị xa xỉ.

Stefano Pilati – ngai vàng & thập giá

Trác Thúy  Miêu

Vác chiếc thập giá vĩ đại của Yves Saint Laurent trên vai, điều vĩ đại nho nhỏ mà Stefano Pilati có thể làm, đó là nhìn nhận thẩm mỹ thời cuộc qua đôi mắt của bậc thầy quá cố, và từ đó, bằng mọi tinh hoa tài khí bản thân, dàn trải lên runway thượng tầng thời trang Pháp những hiện thân trung thực nhất của một tinh thần Yves Saint Laurent bất hủ – như một cuộc chiêu hồn lộng lẫy giữa thế cuộc đương đại.

Nhưng điều đó có khiến Stefano Pilati trở thành một tông đồ tuẫn tiết và một nghệ nhân phục chế cổ trang thuần túy?

 

Quân cờ cuối cùng trên thế trận siêu nhân sự

Các sàn diễn mùa thời trang Xuân-Hè cho đến Thu-Đông mới nhất, các trang bình luận chính thống và các tin đồn hành lang đột nhiên trở nên nhộn nhịp rối rắm một cách bất thường, dù lại thêm một mùa nữa vắng bóng Big John và khả năng gây náo loạn của gã.

Nhưng đây có thể được xem là dư chấn từ vụ vạ miệng năm ngoái của John Galliano và chiếc ngai giám đốc sáng tạo đến nay còn bỏ trống.

Thoạt tiên là tin Raf Simons rời Jil Sander và nghe đồn đang nhắm nhe vào chỗ trống tối cao nhà Dior, sau khi Marc Jacobs bị nhà này từ chối việc mang theo cả bộ sậu ê-kíp từ Louis Vuitton nhằm thanh lọc dòng máu Galliano đã nhiễm thấm khắp hệ thống Dior. Tờ Women’s Wear Daily nhạy tin đã nhanh nhảu cho biết rằng Simons và Dior đã đi đến phần thỏa thuận, trong khi Simons tiến đến những ngày cuối của mình tại Jil Sanders.

Khi bộ sưu tập chia tay của Simons xuất hiện trên sàn diễn nhà Jil cho buổi diễn cuối cùng mùa FW2012, với tinh thần minimalist chuẩn mực hoàn mỹ và bảng màu pastel, cùng lúc với tin Stefano Pilati rời YSL, người ta lại thấy có vẻ như đường tiến thân của Simons có đến 2 bến đỗ.

Trong khi đó, những tiếng xì xầm lan truyền từ front row buổi diễn nhà Miu Miu (nơi Marc Jacobs ngồi vừa gõ chân xem diễn) cho rằng sau vài lần kì kèo dằng dưa giữa Jacobs và nhà Dior, thì hình như cuối cùng, gã điển trai mặc váy đã ăn chắc ngồi vào chiếc ghế bỏ trống của Big John…

…cho đến khi tin Stefano Pilati rời Yves Saint Laurent, thế trận các siêu nhân sự thời trang thế giới trở thành một bàn cờ người bí ẩn hoàn toàn.

Hầu như bất cứ nước đi của bất kì quân cờ nào cũng có thể thay đổi hoàn toàn cục diện.

Stefano Pilati là ai, để bước vào cuộc chạy đua về phía chiếc ngai quyền lực mà một Marc Jacobs khét tiếng đã dường như tiến quá gần?

 

Làm luật và phá luật kiểu Milan

Xăm trổ quằn quện đầy mình, từng là dân “bay” heroin hạng nặng, tay hooligan Milan hoàn lương thú nhận “Thời trang, đối với người khác là nghệ thuật của xa xỉ hay đại phẫu thẩm mỹ lên đời, nhưng với tôi, đó đơn thuần là phép màu cứu rỗi”.

Stefano Pilati sinh năm 1965 tại Milan, con trai duy nhất của một gia đình công chức. Sau khi cha mẹ ly thân, ông sống với thân mẫu và 2 chị em gái. Từ khi 8 tuổi, đó đã là một cậu bé bị thời trang xâm chiếm toàn phần: “Một ngày tôi phải thay tới 5 bộ đồ, tôi thay giày loafers khi đi học, có đôi guốc gỗ để đi chơi, và giày xỏ dây hẳn hòi cho những dịp lễ nhà thờ. Đó là bài học đầu tiên của tôi về việc ăn mặc phù hợp, đương nhiên là cho đến khi có đủ bản lĩnh để liều lĩnh hơn mức “phù hợp”. Hồi đó tôi mê mặc đồ nhà Fiorucci lắm. Tôi bắt đầu thử nghiệm mọi cách để phá luật, cho đến khi tôi học cách làm luật. Đó là khi 16 tuổi, và tôi quyết định biến nó thành sự nghiệp của mình.”

Nghĩ là làm, năm 1982, cậu bỏ học, xin phụ việc cho Gianni Aglietta tại nhà Nino Cerruti, sau đó là công việc trợ lý dòng menswear cho nhà Giorgio Armani vào 1993. Hai năm sau, Pilati thẳng tiến đến quyền lực Ý – Prada, với đúng lãnh vực sở trường: vải sợi. “Tôi đã học những điều vô giá về Saint Laurent chính từ Miuccia: những sự đột biến ngẫu hứng và tự do, đến mức lệch lạc, chông chênh và lập dị, tất cả những điều đó đều được xây dựng trên những luật lệ vững chắc về cấu trúc và chất liệu, pha trộn với gout thẩm mỹ siêu hạng và nhiều, thật nhiều cá tính. Vậy đó, đúng như tôi nghĩ, những người làm luật trong thế giới thời trang, họ phải là những kẻ phá luật, và để làm được điều đó, họ phải nắm vững và tôn trọng những luật lệ cơ bản nhất.”

Quãng đường dài gắn bó với nhà Prada đã chuẩn bị cho Pilati những gì cần thiết nhất để thẳng tiến vào cánh cổng tiếp nhận kiêu kỳ nhà Yves Saint Laurent, triều đại Tom Ford. “Tom là một thuyết khách siêu tài. Khi chúng tôi gặp, tôi bị ông ta bỏ bùa ngay tắp lự. Vậy nên khi cuối cùng chuyển đến Paris để chính thức nhận việc tại YSL, tôi đã phát hoảng lên. Prada đã một thời gian dài như tổ ấm, một tổ ấm mẫu hệ, còn bên nhà YSL, đây là một hệ thống quyền lực nam quyền sặc sụa – lạnh lùng, chuẩn xác, đầy thách thức, và chính vì vậy, mà kích thích vô cùng.”

Chỉ 2 năm sau, giữa môi trường đầy thách thức ấy, Pilati xuất sắc được đề bạt vào ghế giám đốc thiết kế cho các dòng hàng Rive Gauche nhà YSL, và thêm 2 năm nữa để chính thức thế chỗ cho đức ngài tối thượng nhà YSL – Tom Ford. Điều này cũng cùng lúc chấm dứt những bước thăng tiến êm ái tiếp nối của sự nghiệp thời trang Stefano Pilati – ông nếm trái đắng đầu tiên.

Mùa Xuân-Hè 2005, giới phê bình thất vọng nhận ra Pilati còn quá non nớt, hãi sợ, và quá giống Yves Saint Laurent.

Thời trang Pháp thở dài sườn sượt trước tay người Ý nhạt màu yếm thế.


Những cây thập giá và màn pháo hoa hụt

Hẳn nhiên không hề là trò ngoa dụ khi dám nói rằng Yves Saint Laurent chính là cái tên vĩ đại nhất trong mọi cái tên của lịch sử thời trang thế giới. Stefano Pilati đã làm công việc mà Saint Laurent để lại trong suốt gần một thập niên qua, dẫu chỉ như một sự tiếp nối trơn tru, bởi có lẽ điều mà Pilati hiểu, khi đảm nhận thanh quyền trượng sáng tạo nhà YSL, và cũng là điều bất cứ ai khác cũng phải thừa nhận, rằng người ta vĩnh viễn sẽ không bao giờ có thể làm những gì Yves Saint Laurent đã làm, giống như vậy mà có thể tốt hơn như thế.

Hẳn nhiên, với một cây thập giá huy hoàng to bự trị giá hàng triệu Mỹ kim ấy, cùng với triện son vẻ vang cho profile bất cứ ai từng mang vác nó, “gánh nặng” nhà Yves Saint Laurent là một mục tiêu tối thượng của rất nhiều thế lực tên tuổi khác, và việc Stefano Pilati cõng gọn quyền lực thời trang ấy trên đôi vai tài ba của ông cũng nhân tiện làm ngứa mắt không ít người trong giới. Cùng lúc, các tín đồ thời trang Pháp thủ cựu thì hoài nghi khả năng của tay người Ý ngoại bang sau những gì gã cowboy Tom Ford đã làm với vương triều nhà Yves. Stefano cõng luôn lên vai gánh nặng của haute couture của cả Pháp lẫn thế giới mấp mé bờ vực khánh tận. Một nhà phân tích thông minh sẽ không dự đoán một cuộc phá phách bạt mạng theo kiểu hooligan của Jean Paul Gaultier hay khùng điên Don Quijote kiểu tay râu kẽm Galliano. Thời cuộc và những tai nạn của nó đã minh chứng rằng vận mệnh haute couture đang hồi nhạy cảm rất không nên bị hành xử một cách khinh suất bởi những cái đầu thiên tài và những trái tim đồng bóng.

Trong khi đó, sự trung thành chuẩn mực đến mức tưởng như bạc nhược của Pilati đã gồng gánh thành công quyền lực YSL suốt hơn bảy năm ròng. Vị tổ nghiệp làng haute couture đã tạo lập nên một nền thời trang Pháp huy hoàng diễm lệ, và ai có thể giữ nó khỏi bờ vực tận suy, nếu không phải là kẻ hậu duệ nghiêm cẩn và trung thành Pilati?

“Điều không may cho tôi khi ấy, đó là tinh thần đã được định hình, và thậm chí là chuẩn mực phong cách thời trang Pháp của nhà Yves Saint Laurent. Tất cả được thiết lập bởi một thiên tài bậc thầy, và duy trì tiếp nối bởi một tên tuổi siêu hạng khác. Tinh thần YSL ấy trở thành di sản cộng đồng, bất cứ ai ai cũng có riêng cho mình một quan điểm, khái niệm nào đó về nó. Điều đó có nghĩa là bất cứ lúc nào tôi cũng đang ở thế làm thất vọng một ai đó ngoài kia. Làm chân váy tầng viền ren thì người ta bảo tinh thần YSL đáng ra phải là áo choàng poncho cơ, rồi đến khi cho họ poncho, họ đòi tuxedo, thậm chí khi tung ra tuxedo, họ lại cho rằng nó chưa mang đúng dáng dấp thập niên 70’s. May thay, tôi xác định ngay từ đầu là không thèm quan tâm đến việc họ nghĩ rằng Yves Saint Laurent đáng ra sẽ cho họ những gì, tuy để lờ béng đi, đâu phải là điều dễ làm. Tôi biết mình đang ở vị trí phải hiểu rõ hơn ai hết Yves Saint Laurent sẽ tác tạo nên điều gì vào mùa tới và tại sao.”

Kim Jong-il từng nói (nếu các fashionista có quan tâm đến ông ta là ai, bên cạnh các ngôi sao truyền hình): “Kẻ yếm thế húy kỵ những thách thức sẽ chẳng thể nào làm một cuộc cách mạng”. Stefano, qua những gì đã làm dưới cờ tam tự YSL, đã hiển nhiên khẳng định một giai kỳ đầy tính cách mạng của tinh thần haute couture trường tồn, ắt đã không vì húy kỵ mà thể hiện tài hoa bản thân dưới một gout thẩm mỹ thuần túy Saint Laurent. Sự khác biệt ở chỗ – ông chọn ngồi vững chãi trên ghế sáng tạo và chiếu rọi thời trang qua lăng kính Saint Laurent trong khi ngoài kia, các designer mỏi mòn tìm kiếm sự khác biệt, và các fashion bloggers tiếp tục than khóc cho thời suy kiệt của thương hiệu huyền thoại Pháp Yves Saint Laurent.

“Yves bắt đầu tất cả từ con số 0. Tôi không may mắn bằng ông. Khi nhậm chức vào năm 2004, các báo cáo tài chính tổng kết rằng nhà YSL đang ở mức lỗ lã trung bình lên tới 75 triệu Euro/năm. Tôi bắt đầu từ -75 triệu. Người ta chờ đợi ở tôi một màn pháo hoa dằn mặt giới thời trang, các nhà đầu tư chờ đợi ở tôi những quả bom thương mại, Saint Laurent quá cố kì vọng ở tôi một sự trung thành tuẫn tiết tuyệt đối với tinh thần bất hủ của ông, chức vị trên tấm danh thiếp của tôi lại ấn định rằng tôi phải vong thân sáng tạo hết mức. Trong những “cây thập giá” ấy, tôi đã phải tuần tự chọn vác từng chiếc một. Nôm na, tôi chọn cuộc chiến cân bằng tài chính làm tiên quyết, và hơi hướm chính thống của Yves Saint Laurent trong từng thiết kế quyết định cho điều đó. Kết quả đã may mắn cho tôi thấy mình đã lựa chọn đúng những chiếc thập giá cần mang nặng trước tiên. Dẫu sao cũng rất lấy làm tiếc về màn pháo hoa không thành!”

Từ lời xưng tội của kẻ vác thập giá…

Khi mà thời trang đương đại được định vị bởi những nàng thơ Hồ Ly Vọng ở LA, với lớp trang điểm cầu kì vào giữa trưa, soiree dạ hội lúc 4 giờ chiều và những mái tóc kiểu 1930’s, dường như sự thanh lịch thật sự đã rời bỏ thế giới cùng với Grace Kelly. Điều này cũng là một rủi ro mang tính thời cuộc, khiến tư tưởng Yves Saint Laurent dễ dàng trở thành một biểu tượng của sự hoàng kim cũ kỹ và không còn hợp thời. Điều này được xác tín bởi tông đồ trung thành Stefano Pilati: “Ngày nay, thời trang không còn là thời trang nữa, và tất cả mọi thứ đều có thể trở thành cái gọi là Thời-Trang. Thời trang trở thành lối sống và thái độ, ai cũng có thể trở thành người ‘hợp thời trang’ cả, và bất cứ thứ gì cũng có thể trở thành Thời Trang. Cách đây không lâu, mọi thứ cần một sự tinh tế nhất định, khi mà còn tồn tại tầng lớp thượng lưu đúng nghĩa, tôi không muốn nói đến giới nhà giàu thuần túy, và những nhân vật ưu tú ấy dẫn dắt xu hướng thẩm mỹ của cả xã hội một cách tinh tế, nghiêm cẩn nhất. Nói ra thì nghe rất nặng nề, nhưng một nhà thiết kế như tôi, sẽ có cơ hội dẫn dắt một phần nào đó của xã hội và tạo ra vận động của trào lưu. Nhưng ngày nay thì người ta có thể dẫn dắt được điều gì, khi thời thế đã sẵn có quá nhiều kẻ muốn làm anh hùng? Tôi tung ra flannel, ông chủ tiệm ngay kế bên thì tung ra hàng chiffon trong suốt, tín đồ hoang mang trong một tín ngưỡng hỗn độn với các quầy niềm tin tự chọn. Quá nhiều luật là điều không tốt. Giờ đây, các nhà phân tích phải lập ra cả một bảng dài lê thê để xác định trào lưu mỗi mùa, mà mùa nào cũng có ngần ấy thứ, tất cả mọi người luân phiên tung ra vào những thời điểm bất kì. Từ những ngày đầu của prêt à porter, đã là những ngày khai mở cho yếu tố thương mại của thời trang. Và ngày nay nó đã thành cái chợ. Trào lưu được định nghĩa là thứ kiểu dáng nào được nhiều người chọn mua nhất trong mùa. Trong thời trang dân chủ, tín đồ quyết định cho xu hướng của tín ngưỡng, đông thắng ít, mạnh thắng yếu. Thành ra cái chợ!”

Quan điểm trên của Pilati có thể được coi là một sự phản kháng ngầm với những gì mà Yves Saint Laurent đã tạo ra – lãnh vực prêt à porter, và đưa thời trang đường phố lên sàn diễn thượng tầng. Và sau ông, cho đến nay, vẫn không ai làm được điều tương tự, ngay cả Pilati.

“Vấn đề là với thời trang đường phố ngày nay, bạn muốn tôi đưa cái gì lên runway chính thống? Miniskirts, leggings, jackets da, tất cả điều này đã được đưa vào mainstream từ rất lâu rồi. Yves Saint Laurent là nhà thiết kế đầu tiên đặt chân đến sân sau vintage và chọn lấy những chất liệu tốt nhất để tái hiện lên sàn chính thống của thời trang cao cấp. Nếu nghiên cứu tiểu sử ông, người ta sẽ nhận ra những chuyến sục sạo của Yves tại những khu chợ trời London, săn tìm những món đồ cũ từ thập niên 30’s, và từ đó, ông làm ra cuộc cách mạng nữ quyền mặc quần tuxedo. Ông đã mua một áo smoking của một quý ông thời xưa cũ nào đó, choàng lên cho nàng thơ đương thời của mình, và một cuộc cách mạng thực thụ được bắt đầu như thế. Ngày nay, tôi có thể bơi cả ngày trong những cuộc hành hương vào sân chơi vintage như vậy, nhưng để tạo nên điều gì nữa đây, khi những món hay ho nhất tìm được hầu hết là các tác phẩm thời trang của chính Yves Saint Laurent? Tôi không còn làm các cuộc hành hương nữa, Saint Laurent đã làm điều ấy rồi. Tôi không muốn phí thời gian mỏi mòn vạch ra một lối mòn ngu xuẩn khác chỉ vì một lòng tự tôn phi lý.”

…đến phát ngôn của thần tượng thời trang tân thế hệ

Điều cuối cùng nằm trong sự quan ngại của nội giới về kẻ kế vị ngai tổng lãnh Dior – liệu sự đồng bóng vốn đã là thuộc tính của các nhà thiết kế có một lần nữa đưa triều đại Dior vào vị thế mất vua, và đẩy nền thời trang Pháp xuống triền đồi của diệt vong?

Liệu Stefano Pilati, dù đã gia nhập làng thời trang Pháp gần một thập niên qua, nhưng với tiểu sử bất hảo đã khét tiếng trong làng chơi Italy, có thể bảo đảm cho quyền lực Pháp một kẻ kế vị ít rủi ro hơn?

Trong thời kỳ những năm 1970s, chính Saint Laurent đã trải nghiệm triền vực băng hoại và vui thú của cuộc sống: nghiện ngập, tình dục tự do, v.v… Và lối sống ấy được chia sẻ bởi không ít thiên tài thời trang khác. Họ là những nghệ sĩ, và tự cho phép mình lối sống đó. Gã giang hồ hoàn lương người Ý tỏ ra kẻ cả khi chỉ trích sự lỗi thời trong cả Yves lẫn John – một là bậc thầy tiền nhiệm cũ, người còn lại đang rất có khả năng là người tiền nhiệm kế tiếp.

“Khi xu hướng thời trang không còn là cuộc chơi vị kỷ nhân danh nghệ thuật thuần túy, thì các nhà thiết kế bắt buộc chấm dứt trò tự coi mình là những tay chơi giàu chất nghệ mà trở thành các giám đốc sáng tạo – như một viên chức cấp cao, chỉ khác một điều là công việc văn phòng ấy không chỉ khoanh tròn trong 8 giờ vàng ngọc. Với tôi, đó là 24 giờ trong ngày. Cứ mỗi 2 tháng, công suất được tính bằng một bộ sưu tập khổng lồ. Lúc nào bạn cũng phải bảo đảm về tình trạng thăng bằng về cơ thể và tâm lý của bản thân, sung sức hơn một vận động viên và một ngôi sao nhạc rock cộng lại.

Điều đáng buồn ở đây, đó là thời trang có thể biến nó thành một bức tường vô hình bao bọc xung quanh bạn, cô lập bạn khỏi phần còn lại của thế giới. Tôi bước ra ngoài, làm một cuộc đi chơi và giao đãi, để gặp phải một thực tế là 99% nhân loại ngoài kia không làm nhà thiết kế thời trang. Tôi trở về không gian riêng của mình và an ổn hơn trong đó.

Hoặc tôi có thể biến đi đâu đó chục ngày, ăn chơi bét nhè quên mất nhân thân, rồi mất chục ngày nữa để hoàn hồn hồi sức, hi vọng không ai nhận ra những dấu vết tệ hại của cuộc chơi để lại, trong khi bộ sưu tập sắp tới chỉ còn cách bạn vài tuần. Tin tôi đi, vì nếu bạn biết tiểu sử của tôi, bạn sẽ biết rằng một gã Milano như tôi hoàn toàn không xa lạ gì với nếp sống đó cả. Hồi ở Prada, tôi sống như vậy. Một tay ở văn phòng biết tôi nghiện, y nói “Nè, David Bowie toàn thực hiện những bản thu tuyệt nhất khi đang phê đấy!” – đó là sự thể hiện đồng tình cuối cùng mà tôi có được cho lối sống “nghệ sĩ tính” của mình, và John Galliano là một mẫu mực cuối cùng của lối sống đó. Hệ quả thì ai cũng biết rồi đấy. Chúng ta không còn cả Yves lẫn John.”

Nhắc đến Big John, Pilati cho rằng vụ vạ miệng đã là: “Thảm cảnh, cho cả John lẫn nhà Dior. Nên nhớ rằng chúng ta đâu hề là những sinh linh trong trẻo và được phần số cưng chiều tuyệt đối. Chúng ta vác những cây thập giá lặc lè, chúng ta làm thuê cho những tập đoàn có hàng trăm đồng nghiệp về nhà lúc 2 giờ sáng bằng tàu điện ngầm, chứ không phải một cú phone gọi tài xế riêng. Ta học cách sống theo luật và những giá trị cần được tôn trọng, những điều cấm kỵ cần kiêng húy. Được thôi, nếu bạn là một tay nghệ sĩ độc lập, cứ ăn chơi hút chích cho bay đời đi, cho đến khi bò trên bốn chân về ổ đi, nhưng đừng mơ đến việc trở thành một vĩ nhân đương thời thì bạn sẽ ổn, vì những kẻ còn lại cũng sẽ chẳng nhận ra sự vắng mặt vào một ngày nào đó của bạn đâu.

Giá như John hiểu rằng có hàng tỉ người ngoài kia trông đợi mùa sau của nhà Dior để dẫn dắt và định hình bộ da cho họ, giá như ông ta ý thức được quyền năng của tài hoa sáng tạo mà ông ta sở hữu, hơn là một trò tự dung túng quá độ của một đứa trẻ hư đùa dai. Người ta muốn thấy John khùng điên và quá quắt trong sáng tạo, nhưng họ còn mong đợi ông ấy đứng thẳng thớm được quá 10 phút và phát ngôn trong trạng thái tỉnh táo. Cây thập giá quả nặng nề, nhưng Big John không vác được, thì Big John chỉ là một John bất kì.”


Cập nhật thế trận cờ người

Với tất cả sự nhạy bén về thời sự nội giới thời trang, người ta kết nối được một sự tương quan giữa việc ra đi của Stefano Pilati và Raf Simons cùng lúc rời nhà Jil Sanders, trong khi ngai tổng lãnh sáng tạo nhà Dior vừa kịp nguội hơi ấm vị cựu vương phải vạ. Song song với những tin hành lang về việc Marc Jacobs có thể vẫn trở lại trường đua đã tạo nên một cuộc hoán đổi vị trí, dọn dẹp những chỗ trống hiếm hoi cho các tên tuổi thiết kế mới nổi đang hừng hực nhuệ khí vực lại thị trường thời trang cao cấp.

Nhà YSL vẫn giữ kín thông tin về người kế nhiệm Pilati cho đến sau tuần lễ thời trang Paris, nhưng những lời đồn đều bỏ phiếu cho Hedi Slimane, vốn là designer dòng Dior Homme, hiện đang lênh đênh với sự nghiệp nhiếp ảnh độc lập từ hơn 4 năm nay. Slimane đã từng làm cho nhà YSL dòng menswear và hiện đang không tỏ ra thỏa mãn cho lắm với cuộc dạo chơi nhạt nhòa cùng nhiếp ảnh, tất cả cho thấy ý muốn quay đầu là bờ của một tài năng thiết kế đã từng làm nên chuyện cho cả YSL và Dior.

Nửa thập niên qua, tuy vắng bóng khỏi đại cuộc thời trang Pháp, người ta vẫn không quên dấu ấn Slimane trên các thiết kế mảnh dẻ và lưỡng tính, và có vẻ hơn bất cứ ứng viên nào, đây chính là mảnh ghép vừa vặn nhất để lấp đầy chỗ trống Pilati bỏ lại sau lưng, hoặc chiếc ngai tổng lãnh nhà Dior. Chưa kể đến một dấu hiệu đầy thuyết phục khác là dòng Twitter úp mở của một nội gián nhà Kenzo, với giọng nghiêm trọng huyền bí như sấm truyền, báo rằng “một nhà thiết kế nào đó sẽ được thay thế bởi một kẻ ngỡ đã rời cuộc chơi vài năm nay, nhưng vẫn luẩn quẩn trong thế giới thời trang”

Để lại sau lưng một ngôi vị danh giá và hai ứng viên rạng rỡ như vậy, người ta chỉ có thể thấy chính Pilati, như một divo mới của hàng thượng tầng thời trang xa xỉ, thẳng tiến đến chiếc ghế kiêu kỳ vẫn còn in dấu bàn tọa Galliano.

 

Dành cho độc giả

LUẬT CỦA PILATI

Cựu tổng lãnh nhà YSL tin rằng bạn nên khoe bắp chân thuôn dài, nghe R&B, và làm ơn luôn nói “Không!” với xe hơi thể thao màu vàng. Trong những dự báo về việc tay hoàn lương người Ý sẽ lại hạ cánh an toàn lên chiếc ngai quyền lực danh giá thứ 2 của thời trang Pháp, một fashionista, và cả các fashionisto sẽ muốn tham khảo bộ luật căn bản của nhà làm luật mới.

1. Sai lầm tệ hại nhất khi chọn lựa trang phục cho mình, ấy là khi bạn tự hình dung bản thân là một ai đó khác. Bạn luôn nghĩ đến khuôn mặt và tính cách của người ấy, mà chẳng mấy khi lưu tâm đến tỉ lệ thân hình, vốn là điều cơ bản nhất. Vậy cố gắng tránh nghĩ đến một cô gái trẻ nếu bạn là một phụ nữ trung niên, và đừng nghĩ đến một cô tóc vàng mũm mĩm khi bạn là tín đồ châu Á mặc petit size. Trang phục, trước hết, phải là bộ da thứ hai của cơ thể, gia cố tôn vinh nó, chứ đừng mong bóp méo đảo ngược thân hình bằng một bộ hóa trang. Đó chính là lí do vì sao nhiều phụ nữ trông vẫn rất đẹp, rất gợi tình trong bộ trang phục đàn ông, và đó là nguyên tắc vàng của chiếc tuxedo nữ huyền thoại của Yves Saint Laurent – nó được cắt để ôm lấy một thân thể đàn bà, sự vừa vặn làm nên điều khác biệt diệu kỳ.

 

2. Đáng tiếc rằng bắp chân là phần cơ thể luôn bị bỏ qua hay coi nhẹ, trong khi chúng là phần tuyệt đẹp trên cơ thể. Nó thể hiện rõ ràng sự mềm mại hay rắn chắc của thân hình, và chuyển động thật gợi tình theo từng bước đi, dáng ngồi. Phụ nữ may mắn hơn vì họ luôn có thể khoe phần cơ thể này ra, tôi không hiểu vì sao đàn ông lại cứ phải mặc những ống quần dài. Tại sao? Tại sao?

3. Đàn ông luôn đặt tính thiết thực và tiện lợi lên đầu, rồi tìm cách để nó phù hợp với phong cách thẩm mỹ của họ. Đàn ông không giỏi chịu đau, chịu cực nên đừng hòng họ dồi một lớp phấn sáp lên mặt dưới trời nắng nóng, hay đòi họ chơi trò thăng bằng phi nghĩa trên những đôi gót lênh khênh loẻo khoẻo. Đàn ông, đau và vướng một chút là lột phăng.

4. Thời thập niên 90’s với thẩm mỹ bóng bẩy đã là thời đại chuẩn mực của thời trang nam. Những bộ ghế bọc da đen thẫm, những thiết kế kiểu cách và đa dạng, các dòng nước hoa, v.v… Giờ đây, khi hầu như những thứ tốt nhất đều đã được nghĩ đến và làm ra, để lại một áp lực lớn cho thị trường thời trang nam giới. Dẫu sao thì người ta vẫn đang tiếp tục cố gắng và vận động – đó là một lãnh vực hà khắc so với thời trang quý bà.

5. Bạn có bao giờ để ý rằng đôi bàn tay là phần cơ thể được đưa ra với người khác nhiều nhất, được nhìn thấy, và đụng chạm thường xuyên nhất so với tất tật các phần kkha1c trên cơ thể? Đừng quên chúng đóng vai trò tối trọng trong toàn thảy những gì tạo nên ấn tượng ban đầu. Làm ơn, trau dũa các móng tay, và xài ít nhất một thứ sản phẩm gì đó – và làm điều ấy một cách nghiêm cẩn.

6. Tôi không bao giờ thật sự cho rằng có một người đàn ông nào đó trên đời này có thể trông hợp với một mái tóc dài.

7. Xe hơi, chúng giống như cơ bắp vậy. Giờ thì tôi ở độ 40, tôi sẵn lòng sắm về một chú Ferrari vintage. Đó là một cái xe tốt, dáng thể thao, nhưng phong cách thượng đẳng không chê vào đâu được. Đây không chỉ thuần túy là trò làm đỏm của đàn ông, bởi nếu tôi tậu một con Lamborghini vàng khè thì mọi chuyện trở nên khác hoàn toàn – nó như một anh chàng cổ to như cổ bò, chuột to như chồn, cơ bắp lổn nhổn. Chỉ có một cục thịt to bự như thế mới muốn cưỡi một con xe như thế kia. Chúng tôi là những thằng cha Batman biết chọn tay Robin phù hợp với mình.

 

người tô son lên gót đàn bà

Trác Thúy Miêu

“Một đôi giày hoàn hảo, một chiếc váy khéo cắt và một tình quân si mê – đó là tất cả những gì cần có để làm nên một người đàn bà đẹp.” Đó là một câu nói chỉ có thể được nói ra từ một vĩ nhân đã chết: Coco Chanel, Yves Saint Laurent hay Christian Lacroix hay ngài Dior.

Nhưng đó là một tông đồ… còn sống, nắm trong tay một đế chế phú vượng chỉ trong 21 năm. Mới đây, người ta lại vừa mới khai trương một boutique chánh hãng tại Việt Nam, để những cú nện gót điệu nghệ đóng dấu son mang chữ ký Louboutin có thể cùng lúc ghi dấu giữa lòng phố lớn Manhattan trải dài đến tận hòn ngọc Viễn Đông, hòa trong cơn sùng bái mê muội chung trên toàn thế giới.

Từ Những Đôi Giày Bị Cấm Đến Cô Gái Điếm Ở Paris

Cậu bé Christian sinh ra trong một gia đình với cha là thợ mộc, các chị em gái thích đi những đôi giày đế gỗ lóc cóc, và người mẹ hiền lành không hề là tín đồ của giày cao gót.

Những đôi giày với chức năng không chỉ để bảo vệ bàn chân chỉ bắt đầu đến với Christian Louboutin khi cậu 13 tuổi, cùng đám con trai cùng tuổi kéo nhau đến tiệm nhảy Le Palace. Trong khi những cậu trai hiếu kì ngắm thân hình các vũ nữ trên sân khấu, Christian ngơ ngẩn đắm đuối ngắm những đôi chân của họ: “Cho đến tận bây giờ, những đôi giày của tôi vẫn thấp thoáng dáng vẻ của Le Palace ngày ấy, cái thời của disco, với kim tuyến, và những mảnh kim loại”

“Việc lớn lên trong một gia đình mẫu hệ với mẹ và 4 chị em gái, tôi học về phụ nữ từ rất sớm: cách họ tự nhìn nhận bản thân, cách họ đưa tay chỉnh chiếc gương soi, v.v… Và tôi thấy bầu không khí, mọi thứ xung quanh họ – những người đàn bà, thật thân thuộc với tôi. Chẳng lạ gì, bởi họ sinh ra tôi và tạo dựng thẩm mỹ tiềm thức của tôi.

Như sáng nay chẳng hạn, chúng tôi kiểm định thiết kế một đôi biker’s boots. Tôi băn khoăn tự hỏi: Cái thể loại đàn bà nào lại muốn quấn quanh cổ chân mình hai miếng quai da dày cui như vậy chứ? Thế này nhé, nếu bạn có đôi chân mảnh dẻ, bạn sẽ muốn khoe nó ra. Còn nếu bạn có đôi cổ chân to như cổ lực sĩ, bạn lại càng không muốn nhân đôi thảm họa đó. Cả ê-kíp của tôi trầm trồ tiếc rẻ: ‘Nhưng đây quả là một thiết kế đẹp quá chừng!’ Rõ rồi, thiết kế đôi boots ấy quả là có đẹp, nhưng người đàn bà mới là thứ cần đẹp hơn đôi giày của cô ấy. Tôi là vậy đó, cái đẹp quyết định cho thời trang. Đôi giày không thể được coi là hoàn thiện chừng nào nó còn chưa được xỏ vào chân. Nếu khi đó, trông nó không còn đẹp đẽ như trên thiết kế, thì đó là một đôi giày tồi và một thiết kế thất bại.

Nhưng một trong những đôi giày hằn sâu vào ký ức Christian Louboutin lại được nhìn thấy ở một bảo tàng viện, nhưng không phải dưới dạng một mẫu vật được trưng bày, mà ở bảng nội quy treo ở cửa ra vào: “Cấm đi giày cao gót”. Cạnh đó người ta cẩn thận vẽ một đôi giày minh họa.

Bản vẽ và dòng chữ ám ảnh Louboutin, và ông bắt đầu vẽ những đôi giày. Ông vẽ đi vẽ lại đôi giày nhìn thấy trên bảng cấm nọ, rồi một ngày ông giật mình nhìn thấy chính đôi giày đó, hiện hữu hẳn hòi, dưới chân một người đàn bà đi dạo trong công viên ở Paris: “Tôi lẵng nhẵng bám theo chỉ để chăm chú nhìn vào đôi giày. Thật kì diệu: chúng đang ‘sống’, có thật, và chuyển động! Tôi như bị thôi miên và đi miết theo đôi giày (có người phụ nữ trên đó) cho đến khi bị người ta tống cổ ra khỏi công viên. Lúc đó tôi mới hay người đàn bà nọ là một cô gái điếm.”

Cuộc gặp gỡ ngoạn mục với đôi giày ấy đã ấn định rằng thời trang thế giới chuẩn bị đón chờ sự xuất hiện của một Christian Louboutin.

Không được trải qua việc đào luyện bài bản về mỹ thuật và thiết kế, thay vì như mọi nhà thiết kế cùng thời là chọn phụ việc cho một tiệm thời trang đương thịnh nào đó, Christian Louboutin, khi này 17 tuổi, xin được chân phụ việc trong phòng phục trang của tiệm nhảy Folies Bergère, giữa những nàng vũ công với những kiểu mũ cầu kì, những chiếc váy nóng bỏng, những lớp trang điểm công phu và những chuyển động yểu điệu được kiến tạo và nâng đỡ trên những đôi giày.

Christian Louboutin tiếp tục xin việc trợ lý với Charles Jourdan, Chanel và Yves Saint Laurent, và nhanh chóng nghỉ việc: “Tôi là một trợ lí tồi. Làm trợ lí là phải trợ lí, còn tôi chỉ muốn làm việc của mình theo cách riêng.” Và cửa hiệu nhỏ đầu tiên được mở ra ở một ngõ phố cổ của Paris, đến nay vẫn là sở hội chánh của nhà Louboutin, với niềm kiêu hãnh non nớt nhưng hùng mạnh “since 1991”.

Mật mã Louboutin: Pantone 18 Chinese Red

“Những bức vẽ đầu tay của tôi hồi đó luôn đầy màu sắc sặc sỡ, nhưng khi đưa đi thực hiện mẫu vật đầu tiên, tôi nhận chúng về, bên dưới là phần đế đen xì dày cộm. Ơn Trời, cô trợ lí của tôi lúc đó đang ngồi sơn móng tay. Tôi vơ lấy chai sơn, cô ta hét lên tru tréo: ‘cẩn thận, cái đó mắc lắm đó!’ Tôi phải hứa sẽ mua đền lọ khác, rồi sơn bừa màu đỏ thắm ấy lên đôi đế giày. Như một cú shock điện vậy, đôi giày như được hô hấp nhân tạo, chúng hồi sinh! Tôi đã nghĩ tiếp ra trò đổi màu đế theo từng mùa, nhưng cuối cùng, đỏ không chỉ là một màu. Nó là một thái độ!”

Theo nhiều cách diễn giải khác, màu đỏ là biểu tượng của máu, tình yêu, năng lượng cảm xúc. Nhưng với Louboutin, Đỏ là một thứ đèn xanh tâm lí, một sự mời gọi đầy cảnh báo. Nhưng sắc độ 18 trên bảng mã Pantone được mệnh danh là Đỏ Trung Hoa (Chinese Red), dưới tay Louboutin cũng là dấu hiệu của những bước chân đến và đi, hoàn toàn chủ động một cách quyến rũ. Như lời giã từ ngạo nghễ của các cuộc chia tay màu nữ quyền, trên nền ca khúc của Jennifer Lopez “Throwing on my Louboutins, watch these red bottoms, and the back of my jeans. Watch me go, bye baby” (Xỏ chân vô đôi Louboutin, dòm cặp đế đỏ nè, nhìn vào phía sau chiếc quần jeans. Coi em đi nè, chào cưng!)

Với ma lực và mãi lực của những cặp đế đỏ kì diệu, hẳn nhiên nhà Louboutin nhảy đùng đùng vác chiếu đâm đơn đòi kiện cho ra nhẽ nhà Yves Saint Laurent, vốn bấy lâu là hảo hữu, vì việc táy máy đưa cặp đế đỏ trứ danh nọ vào bộ sựu tập mới tung ra gần đây. Nhà Yves Saint Laurent cứng cựa vác bài bản ra cãi lại rằng đế đỏ có phải đâu riêng nhà nào, rằng thì là ai dùng chẳng thế, bởi thật sự ra chúng đã xuất hiện từ thời Christian Louboutin còn ở nơi xa lắm, cụ thể thời Louis XIV đâu đó những năm 1600, với chứng cớ rành rành là…bộ phục trang của nhân vật Dorothy trong phim The Wizard of Oz (sản xuất năm 1939).

Cả giới thời trang cự nự la ó trước viễn cảnh Christian Louboutin sẽ độc chiếm mã 18 bảng Pantone và thả sức phạt vạ bất cứ nhà nào sờ phải sắc đỏ này. Ít ra thì Picasso đã chẳng bao giờ đâm đơn kiện Monet tội xài màu chàm trứ danh “của” ông cho mấy bức tranh vẽ hoa súng, và thế giới vẫn được chiêm ngưỡng cả hai bức tuyệt phẩm hội họa.

Vụ kiện tụng đến nay chưa ngã ngũ, nhưng theo một cách nào đó, nhà Yves Saint Laurent cũng không tránh mối quan ngại rằng các sản phẩm của họ sẽ bị nhầm tưởng là mang nhãn nhà Louboutin. Trong giới thời trang đã có một sắc đỏ Valentino, phần số của “màu đỏ Trung Hoa” mã số 18 cũng mặc nhiên đã được định đoạt.

Phán xét cuối cùng không thuộc về tòa.

Điệu Tap Dance Ngộ Nghĩnh Của “Vua Đế Đỏ”

Christian Louboutin biến chuyện thường tình guốc dép thành tín ngưỡng bái vật, thành những siêu vật thể vượt chót vót trên tầm tính chức năng, rồi ông ghi luôn tên tuổi Lady Gaga cho đến Oprah Winfrey vào danh sách con nhang đệ tử, bản thân Christian Louboutin lại là một ông lão thủ cựu trong lối sống của riêng mình. Đồng nữ Madonna hay đả nữ Angelina Jolie có khiến cả thế giới trầm trồ khi họ trưng khoe những đôi Louboutin trước rừng flash cũng không khiến ông rung động bằng một phần khi biết rằng vợ của ca sĩ Johnny Halliday cũng ưng chọn hãng giày Louboutin. Ông tấm tắc khoe mãi “Bạn biết không, ở Pháp, Halliday nổi tiếng lắm đó!”

Ông dửng dưng cả với việc thứ tự và tần số xuất hiện của giày Louboutin so với Blahnik và Jimmy Choo trong siêu phẩm truyền hình Sex And The City. Khi được hỏi, ông chỉ lơ mơ trả lời “Tôi đồng ý tham gia vì người ta bảo điều này tốt cho việc kinh thương lắm. Tôi đâu có biết, bởi có khi nào tôi xem TV đâu!”

Điều này giải thích được sự dửng dưng của Christian cả với talkshow khét tiếng của Oprah Winfrey. Vốn là một tín đồ hạng nặng của Louboutin, Oprah xem đây là dịp để thể hiện lòng ngưỡng mộ đến bậc thầy đã làm nên phần rất quan trọng trong hình ảnh trang phục của Madame O’. Đối với mọi công dân Hoa Kỳ, việc làm khách mời của Oprah’s Show có giá trị tương đương với việc được phong tước hiệp sĩ nhân dân vậy, thế mà ông già hủ lậu người Pháp lại chối từ quầy quậy chỉ sau một lần quay vì “họ tới tận Paris bắt tôi ra quay ngoài trời. Lạnh quá, thế là tôi bị bệnh. Nên tới khi họ nghĩ tiếp ra trò tôi đến Chicago, tôi phát cáu: Bộ mấy người khùng hả? Tôi bệnh rồi đây này! Đừng hòng!”

Cách đây vài năm, khi được một nhà tên tuổi trong làng thời trang (ông từ chối tiết lộ danh tánh) mời về trong vai trò tổng lãnh sáng tạo dòng thời trang cao cấp, Louboutin gọi đó là một sự xúc phạm: “Bạn biết không, giày, chúng có nhạc, chúng có nhịp phách, thái độ, âm thanh, chuyển động,… như khiêu vũ vậy. Quần áo thì là chuyện khác. Nếu không làm giày, thì tôi còn bao nhiêu đam mê khác, làm vườn nè, tập nhảy, làm đạo diễn,… Còn thiết kế quần áo ấy hả?…” Ông làm một vẻ mặt đủ để trả lời câu hỏi tu từ đầy thái độ.

Sự khó chịu rất Parisian của Louboutin thật sự trở nên quá quắt khi chấp thuận việc cho ra đời búp bê Louboutin Barbie, với một điều kiện: nhà sản xuất phải bóp nhỏ lại đôi cổ chân thô kệch to tướng của Barbie.

Người ta rùng mình về sự táo tợn này đối với cô búp bê được coi là ốm nhom, dài ngoằng và hợp thời trang nhất trong lịch sử đồ chơi. “Làm ơn bình tĩnh đi, cứ như là cô ấy sẽ bị đau không bằng!”

Nhưng sự khả ái đầy tính dân chủ của Christian Louboutin lại được thể hiện một cách bất ngờ nhất. Trong khi nâng niu những cặp gót sen Vệ nữ, tình yêu của Louboutin dành cho Sarah Jessica Parker cũng trân trọng ngang ngửa với sự chiều chuộng chu đáo ông dành cho bất cứ người đàn bà nào khác.

Trong một lần xuất hiện tại đại lộ Saks Fifth ở New York, ông sẵn lòng hủy cả chuyến bay về Paris để bỏ hai tiếng đồng hồ hào phóng ký tặng lên những đôi giày cho khách hàng. Trong số những tín đồ chờ xin thủ bút của designer huyền thoại, có một người đàn bà thẹn thùa xưng với ông rằng bà “chỉ là một người bình thường làm nghề nội trợ”. Christian Louboutin đã trân trọng ghi tặng lên giày cho cô này dòng chữ “Tặng bà nội trợ quyến rũ thân mến của tôi”. Một cô dâu trẻ tìm đến xin chữ ký, Louboutin lém lỉnh và chu đáo chụp lấy cây viết màu xanh và ký tặng “Cái này là cho một món màu xanh” (theo tục lệ, mỗi cô dâu về nhà chồng phải có trong mình một món đồ cũ, một món đồ mới, một món đồ mượn và một món màu xanh)

Christian Louboutin, với niềm đam mê hạng nhì của mình là du lịch và làm vườn, chỉ cảm thấy an toàn và thoải mái nhất giữa cây kiểng các kiểu, mấy môn thể thao nhè nhẹ và một chút khiêu vũ, đặc biệt là thiết hài, đương nhiên, là với đôi giày nhảy hiệu Louboutin. Khi ông xuất hiện trong clip khiêu vũ của Fashionair với đôi giày nhảy dát đá óng ánh và lấp lóa cặp đế đỏ sau mỗi bước tap dance, khuôn mặt rũ bỏ vẻ lãnh đạm kiêu kỳ rất “dân thời trang Paris”, chỉ còn lại một người đàn ông trung niên hạnh phúc như đứa trẻ, nhẹ tênh và đáng yêu đến mủi lòng. Khó lòng mà tưởng tượng được rằng gã đàn ông với điệu nhảy cổ lỗ sĩ ấy lại chính là bộ óc kì tài của trùm thiết kế vũ khí dụ tình. “Tôi chưa bao giờ ôm mộng trở thành một phần của thế giới thời trang cả, tôi chỉ muốn thiết kế giày. Thậm chí đến khi lớn lên tôi mới biết Vogue là tên một tờ tạp chí”

Đế Bằng, Guốc Gỗ Và Những Cơn Khó Ở Của Christian

Trong nghệ thuật rù quến, giày là một khí cụ tối thượng không thể bỏ qua, Christian Louboutin, hơn ai hết, hiểu rõ điều này. Và đó là nguyên nhân vì sao phụ nữ rên lên trước những đôi giày đế đỏ của ông – bản năng chiến binh khiến họ có thể đánh giá được ngay lập tức món vũ khí đắc dụng. Và để sử dụng giày như những món vũ khí một cách điệu nghệ, người ta phải học. Một cơn rùng mình khủng khiếp sẽ giáng vào nhà Louboutin nếu một quý cô tìm đến với ông và than vãn sao giày quá cao, sao đường viền quá mảnh mai chênh vênh. Với Christian Louboutin, không đôi giày nào là quá cao.

Để giải thích một nỗi ám ảnh trứ danh về những cặp gót cao và lòng miệt thị với đế bằng, Louboutin cho rằng “Bản thân hình dáng và độ cao khác biệt của chiếc gót giày đã đại diện rất nhiều cho nữ chủ nhân của nó. Chỉ với sự nâng cao của gót chân, một động tác đơn giản đến vạy, đã là cả một cuộc tổng quy hoạch han thể, như một cuộc đại phẫu thẩm mỹ vậy. Những lòng bàn chân duỗi thẳng đến uốn cong, những múi cơ đùi bị giật căng, vòng mông vươn cao và gom chặt, cứ thế, những phần cơ thể được tuần tự đặt vào trạng thái của một con mèo vươn vai, dài muốt đến từng ngón tay, và tuyệt đẹp. Những cặp gót, chúng cũng có âm nhạc, những âm thanh rất riêng nói lên rất nhiều về thái độ của nữ chủ nhân, gợi ý về tất cả những chuyển động thân hình ly kì phía trên nó. Hãy nhắm mắt và lắng nghe những tiếng gót giày, chúng biết nói, rất nhịp nhàng và trung thực. Tôi có thể chỉ lắng nghe mà biết đó là pump, boots, gót cao hay gót kitten, gót cuban đặc hay slimheel mảnh dẻ. Tôi “nghe” được cả cái cách mà phần mũi giày ôm lấy các ngón chân ra sao… Cũng như âm nhạc, cũng có những thứ chói tai. Tôi đặc biệt ghét những đôi guốc. Tôi mà làm vua là tôi ban hành lệnh cấm ngay lập tức. Một thứ tạp âm lóc cóc, và roèn roẹt kéo lê khô khốc, lỏng lẻo buông bỏ khỏi những lòng bàn chân. Không dễ thương chút nào, như thể người đàn bà sắp bị tuột khỏi những cặp thiết bị đi bộ bằng gỗ ấy.”

Sexy và đế bệt? Không thành vấn đề. Bởi chiều cao của gót không định đoạt độ “hot” của quý bà! Nhưng đừng mong tìm được điều đó ở những đôi sneaker thân thiện. “Jane Birkin đã từng làm điều đó trở thành hiện thực hồi thập niên 1970, nhưng huyền sử không lặp lại với những đôi sneakers super-techno hiện đại. Những thứ đó nói lên rất nhiều thứ về cá tính, thái độ, tuổi trẻ, sự sung mãn, tính năng vận động,… nhưng tuyệt nhiên không có bất cứ nét nào sexy ở những thiết kế như vậy cả.”

Một trong những điều hành hạ Christian Louboutin còn là trường phái Total Look, với những diva vận nguyên con cùng thương hiệu “Cả hình hài họ như đang đồng loạt biểu tình, dương cao biểu ngữ hàng hiệu và thét lớn tên nhãn hàng. Khủng khiếp. Kinh tởm. Không có gì phản nhân văn hơn thế, đi ngược lại văn minh cá thể như thế! Một tội ác của sự ấu trĩ!”

“Đàn bà Pháp, đúng hơn là đàn bà Paris, là những quý bà kiểu cách và tao nhã. Điều này một phần nhờ vào lịch sử cả trăm năm trải dài những tiệm may, những nhà thời trang, những tên tuổi couturiers lẫy lừng điệu nghệ. Quý bà quý cô ở đây luôn có sự lựa chọn, họ không bao giờ cam chịu làm nạn nhân trung thành của một tiệm duy nhất giữa hàng vạn chào mời của những cung lộ mua sắm hào hoa nhất hành tinh. Nếu giữa Paris mà tôi va phải một bà vận nguyên cây Chanel thì đừng mong thuyết phục tôi rằng bà ta là một diva Paris ái quốc, bởi đó chắc chắn phải là một khách du lịch đến từ phương xa. Rất xa.”

Vậy liệu đối với Louboutin, có đôi giày nào là quá cao?

“Chắc là phải có chứ! Nhưng tôi không đi giày cao gót, tại sao lại phải quan tâm? Tôi ngắm, và kiến tạo nên thứ nhiều người thích ngắm, lựa chọn là của phụ nữ, còn ý kiến của bạn là gì?”

Cơn Cực Khoái Của Lòng Bàn Chân

Đã từng một thời, nước hoa và mỹ phẩm là vũ khí tài lực tối ưu của thế giới thời trang, giữ kiên cố thịnh vượng cho bao đế chế haute couture và các thiết kế phi-thân thiện. Rồi sau đó là thời của jeans và thời trang dân chủ để duy trì sức sống của thượng tầng thời trang. Còn bây giờ là thời của giày và túi xách – những quả bom tấn có thể định đoạt mãi lực sống còn cho mọi quyền lực thời trang xa xỉ. Christian Louboutin, song hành cùng Manolo Blahnik và Tamara Mellon của Jimmy Choo trở thành bộ tam đa hùng mạnh trấn giữ thị trường giày siêu thượng hạng, nơi những đôi giày có giá trị và ý nghĩa ngang tầm viên ngọc to nhất trên chiếc vương miện thẩm mỹ và đẳng cấp phải được đội kiêu hãnh trên đỉnh những cái đầu vương giả. Đứng giữa thái cực vừa cầu kì đến cực đoan, vừa đơn giản đến thô sơ của Blahnik, và vẻ diêm dúa đỏm dáng hoàng kim của Jimmy Choo, những đôi giày của Louboutin chỉ có một thông điệp duy nhất, thật thà và nặng ký: Sex!

Từ phong cách disco, những đường lượn thót tim nơi ức hỏm của lòng bàn chân nhạy cảm, cho đến sắc đỏ dập dồn ẩn hiện như một thứ mạch máu căng phồng lập lòe đâu đó sau mỗi bước sải diva, khiến người ta vẫn phải chiêm ngưỡng nàng từ phía sau với những uốn lượn vòng vèo muôn phần sinh động phía trên. Tất cả những thứ đó, không cần là một triết gia để thấy một chữ SEX đỏ chót được viết hoa.

Người ta có thể dễ dàng nhận ra một quý bà trong đôi giày Louboutin: nàng có dáng bộ yêu kiều chuẩn mực, và nàng hầu như không di chuyển quá nhiều.

Trên một đôi Louboutin, dù là dát cườm, quấn nơ hay đơn sơ một lượt da hảo hạng, người ta không có nhiều lựa chọn nào khác ngoài việc duỗi chân thẳng căng, ép sát các ngón chân đến ngặt nghèo với những bước chân được thực hiện theo điệu bộ một con linh dương bị thấp khớp và tuyệt đẹp. Một hiệu ứng phụ nữa là rất có thể, xác suất bị chuốc say và gạ tình rất rất cao.

Thứ gợi cảm nhất ở một đôi giày cao gót tuyệt nhiên không phải là chức năng tăng chiều cao. Do đó mà một diva hiểu biết phải biết rùng mình khó ở trước những đôi giày đế xuồng (một thứ giày bệt có đế thật dày). Như phần gáy, hay khoảng da thịt sau tai của người đàn bà, phần nhạy cảm và gợi tình nhất của giày cao gót nằm ở phần lõm của lòng bàn chân: “Nếu để ý, bạn sẽ thấy đây cũng là phần nhạy cảm trên cơ thể, và nó cũng co duỗi khi người đàn bà “lên đỉnh”. Một đôi giày cao gót đơn giản là một thứ khuôn đúc, khiến khi xỏ vào, đôi bàn chân phụ nữ lập tức bị uốn vào tư thế tự nhiên của nó trong cơn cực khoái.”

Thậm chí có rất nhiều người tin rằng lời giải thích trên của Christian Louboutin là một chứng cứ khoa học.

Bằng chứng chính là những vụ cầu hôn diễn ra liên tiếp tại cửa tiệm của ông, sánh ngang với tiệm nữ trang Tiffany hay nhà Cartier.

Những Cơn Đau Thời Trung Cổ

Giày đối với đàn ông chỉ mang hai ý nghĩa: phong cách lịch thiệp và mức độ giàu có. Còn đối với đàn bà, chúng là đại diện cho mọi khía cạnh đa diện, mâu thuẫn, kì cục và vi diệu bên trong tâm hồn họ. Tôi tin rằng họ sẵn lòng vui vẻ nhảy chân sáo dù đớn đau tím tái vì đôi giày dưới chân”

Và đó là những gì ông có thể say sưa diễn giải từ ngày này sang ngày khác, về cấu trúc cơ bản của một chiếc giày, về các hướng của lực trọng tâm, và coi khinh tất tật những tiếng rên rỉ của fashionista tuẫn tiết quằn quại âm thầm trên những đôi giày kiêu kỳ kén chủ. “Ừ thì phụ nữ chỉ có thể đẹp khi họ thoải mái và không đau. Nhưng thật lòng mà nói, tôi không cũng không thấy thoải mái chút nào khi người ta đến cửa tiệm của tôi và trầm trồ kiểu ‘Ôi, mấy đôi giày này trông tiện lợi quá!’”

Dẫu muốn phủ nhận thực tế của sự dã man mang sắc màu trung cổ này, thì người ta cũng khó lòng phủ nhận hơn 600,000 đôi dụng cụ tra tấn tự nguyện được bán ra trong chỉ 20 năm tồn tại của thương hiệu Christian Louboutin.

Cánh mày râu hoang mang tự hỏi rằng tìm đâu ra trong thế kỷ đàn bà trí thức không còn ưa thú trầm mình trong khổ hạnh, khi mà tục bó chân Trung Hoa và những chiếc đai tiết hạnh đã thành mẫu vật bảo tàng. Phụ nữ đi bar và từ chối các cơn đau tim si tình thống khổ. Và danh sách các khách hàng thân thuộc của nhà Louboutin tạo nên một thực tế đáng ngờ về quan niệm phụ nữ tân thời năng động, độc lập tự do.

Tuẫn tiết nhất là nữ văn sĩ “viện trưởng viện sến Hoa Kỳ” Danielle Steel. Bà ca tụng ái tình lãng mạn và đã tự hành quyết đôi chân mình trong thú đau thương với 6,000 đôi giày Louboutin, lập kỷ lục vô song trong danh sách thượng khách đặc biệt nhà Louboutin. Còn Blake Lively – cô đào nổi tiếng qua series phim truyền hình Hoa kỳ tân nữ Gossip Girl, sẵn sàng tậu một lèo 40 đôi Louboutin chỉ trong một chuyến săn.

Bà Vic nhà Beckham đang mang bầu cũng vong thân vận vào chân đôi Louboutins đến dự đám cưới hoàng gia vào tháng tư năm ngoái, và dài dài trong suốt thời kỳ mang bầu bé Harper, ngay cả với những dấu hiệu cảnh báo của chứng lệch đĩa đệm.

Và đó chỉ là một vài cái tên điển hình trong danh sách hơn 5,000 khách hàng thân thiết của nhà Louboutin, trong đó mỗi người sở hữu ít nhất 500 đôi giày đế đỏ.

Vậy đấy, như Germaine Greer từng viết “trong khi các nhà hoạt động nữ quyền vẫn vật lộn để giải phóng phụ nữ, thì giày cao gót đã kịp chinh phục nhân loại từ bao giờ.”

Louboutin hỏi lại “Con người tài ba đó là ai vậy?”

Một nữ học giả với những đầu sách vĩ đại thập niên 1970

“Vậy đó, thì ra bà ấy là một nhà cách mạng nữ quyền thập niên 70’s. Tôi thấy Madonna cũng là một phụ nữ khá độc lập đó chớ. Cổ là khách hàng ruột của tiệm tôi đó.”

 

Sự Trở Về Của Thời Trang Thập Niên 20 – Return To The Age Of Innocence

Thật ra, trong khi các fashionista Việt Nam còn chìm khá sâu vào giấc mơ hoa của phong trào vintage và rục rịch trù hoạch cho mùa tái thịnh của những chiếc váy mùa hè chít eo của thập niên 50, thì bên ngoài kia, vòng quay tráo trở của trào lưu sẽ dễ dàng chơi khăm các tín đồ vỡ lòng một vố thật đau. Hãy tỉnh táo chỉnh lại tầm ngắm, điều bạn muốn cho 2012 rất có thể được lấy cảm hứng từ một thời kỳ xa hơn từ đầu thế kỷ trước, chỉ riêng điều này cũng đủ giảm đáng kể nguy cơ bị “tủ đè” ê chệ với collection những món săn lệch mùa.

Hồ sơ hội chứng Flapper 20’s và báo động tái nhiễm

Với tất cả những dấu hiệu không chỉ từ mùa thời trang mới nhất, dự cảm của một shopper lão luyện sẽ nghe được từ mọi dấu hiệu của thời cuộc một trận tái thịnh huy hoàng của trào lưu flapper thời 1920, cái thời của cuốn tiểu thuyết Age Of Innocence (Thời Thơ Ngây) trứ danh, và những quý bà tập tành hút thuốc. Trong đó có cả lác đác sự trở về của vòng eo nhỏ xíu với chân váy lửng to phồng thập niên 1950, và một dòng khác với các chất liệu tổng hợp vui nhộn màu sắc disco điện tử 1980.

Nhưng qua mùa Spring-Summer vừa qua, hãy chọn đặt tầm ngắm báo bão vào lựa chọn tưởng như mong manh nhất: Flapper 1920!

Điều này đồng nghĩa với những cơn sốt muôn hình vạn trạng dựa trên tinh thần của thời kỳ đầu thế kỷ 20 này: những tà váy dài lững lờ trên cổ chân cho mùa hè-thu, đặc biệt tại các thánh địa nhiệt đới, các chất liệu xuyên thấu, thủ pháp layer, đường eo phôi pha rơi xuống quá xương hông để thành drop waist, những đường cong xôi thịt bị đánh mờ, những đường xương vai xanh xao và những cặp cổ chân mảnh khảnh sẽ lên ngôi nhan sắc. Dòng vintage tung hô vẻ đẹp gypsy, trong khi ready-to-wear cũng sẽ vận dụng cả kho tàng trang trí haute couture truyền thống với đăng-ten, chiffon, panther print, họa tiết dân dã, và thậm chí các tua rua kết thành mảng.

Người ta có thể dự báo cả một trận đại hồng thủy vào 2012, mặc nhiên, thời trang sẽ là tín ngưỡng chữa lành nỗi hoang mang tận thế với điệu nhảy Charleston quá vãng, trong xập xình nếp váy flapper.

Chỉ có điều, sẽ không phải là những món cổ trang được phục chế, tinh thần flapper hoàn toàn có thể được diễn giải qua ngôn ngữ thẩm mỹ thời trang đương đại và những chất liệu tân kỳ, nhưng đi cùng nó là những cơn sốt trở thành bất hủ,  những thứ không thể bị tuyệt diệt. Như pleat và safari.

Dự cảm của Patricia Field và lời sấm xếp pleat của Halston Herritage

Cuộc tái chấn hưng đã được dự báo từ gần 2 năm trước, trong lời sấm truyền kinh điển của nữ đại tông đồ Patricia Field – tổng lãnh phục trang cho siêu phẩm giải trí Sex And The City The Movie – cẩm nang thiêng liêng của mọi fashionista trên thế giới.

Vào đúng thời điểm tung ra bộ phim, Patricia – như mọi vĩ nhân khác của cõi loài người, bị đồng loại ném đá tả tơi bởi một selection phục trang lệch mùa với mọi sắc thái đồng bóng, cổ quái và bị làm quá không nương tay.

Người ta còn cho rằng có một vụ ăn cánh với Halston Herritage khi các thiết kế của nhà này đồng loạt xuất hiện rực rỡ trong hàng loạt những scene đắt nhất của bộ phim. Từ chiếc váy tơ đa sắc của Samantha, phong cách flapper không nhầm lẫn của Miranda với bộ váy antique emerald trong cảnh ăn trưa trên sa mạc. Nhưng dấu son của lời sấm SATC2 là bộ váy 2 tầng dài lê thê thõng thượt, xóa nhòa vòng eo mỏng dính của Sarah Jessica Parker trong sóng sánh một dòng thác xếp pleat đổ dài từ cằm đến đất, rừng rực một sắc cam tía của sa mạc hoàng hôn.

Các tín đồ ngô nghê thảng thốt hoang mang với sắc màu gypsy chói chang của thập niên 70’s, trong khi các chuyên gia thắt cả tim trước một dự báo hiển nhiên “Flapper sẽ quay về! Thời hồn nhiên của nhân loại ngô nghê 1920 sẽ tái thịnh, và hãy chuẩn bị ngai vàng cho PLEAT!”

Hoàn toàn không hề là một điều xa lạ, những nếp xếp (pleat) đã là một thủ pháp xử lí chất liệu có mặt từ rất lâu trong lịch sử thời trang thế giới. Từ mẫu vật cuối cùng được tìm thấy trong cổ mộ người Viking ở Birka trước Công Nguyên, cho đến thiết kế huyền thoại “Delphos” của Mariano Fortuny năm 1920.

Không thể không xét đến căn nguyên sơ khởi của pleat, một trò khéo tay của các phó may khi muốn tăng thêm cho sớ vải độ đàn hồi đủ để nhấn nhá ý nhị những đường nét chuyển động của cơ thể. Đặc biệt vào thời hoàng kim 1920, với cơn sốt của điệu nhảy swing và váy flapper đã tôn vinh những nếp xếp tung bay quanh những cặp đùi vũ nữ trứ danh.

Vài thập niên sau, Marilyn Monroe tung ra shot ảnh lịch sử với tà váy trắng bay không chút thẹn thùng, uốn lượn kì diệu nhờ những nếp pleat như bông hoa lan lộn ngược sỗ sàng bung nở, phô phang cặp đùi mỹ nữ tóc vàng.

Thập niên 60 với những chiếc miniskirt đầu tiên và phong cách váy tomboy ngô nghê lại tôn vinh những nếp xếp vuông vức chân phương trên những cặp chân thanh nữ khẳng khiu đương thì trổ mã.

Những năm 1970 của lối sống hippy và thuyết hiện sinh, các tín đồ trường phái bohemien xếp xuôi nếp váy dài dân dã những đường pleat nhàu nhĩ, thổi hơi sống vào tà váy carmen bay ma mị trong mùi marijuana và của các diva hippy chân đất đầu trần.

Cuộc đại cách mạng công nghệ tân kỳ hai thập niên tiếp sau đã xếp lại những nếp gấp nền nã ngô nghê trên đồng phục nữ sinh khắc khổ, và trên mình các nhân vật của Disney, để biến mất hầu như hoàn toàn khỏi runway và tủ quần áo những diva thời thượng.

Xếp nếp cả thế giới!

Từ lần cuối cùng xuất hiện vào cuối những năm 1980, người ta đã tưởng như pleat chỉ còn là kỷ niệm lỗi thời cho đến tận những tiếng sấm đầu mùa của thời trang Xuân Hè 2012, người ta lại thấy tung bay thấp thoáng trên runway đương đại những form váy thả suôn hững hờ mắc vào những khung xương vai loài hồng hạc, sổ dài những nếp pleat sống động nên thơ, như một dấu hiệu đầy đe dọa của cuộc tái chiếm rầm rộ vinh danh trường phái lãng mạn tốn vải trong hình thái hồi dương thanh tân của những năm 1920 hào hoa và vui nhộn.

“Quỷ cái” Prada nhanh nhảu ôm giữ tàn dư color-block, trộn nhuyễn lên trong bảng màu pastel tươi tắn, xếp pleat lên tất cả và đe dọa tống tiền cả thế giới.

Chloe nền nã với những đường nẹp trung tính tung xòe theo nếp pleat trường phái ngây thơ, Christian Dior và Gucci cũng không nằm ngoài cơn sốt chung, nhưng với những nếp pleat bén ngót, sắc cạnh trên những chân váy Thanh Giáo gợi tình, trong khi Barbara Casasola thắng lớn đầu năm với toàn tập pleat trung tính dài chấm đất, và Angelina Jolie cũng kịp thời xuất hiện trên thảm đỏ đêm Cartier như tượng nữ thần Hy Lạp trong bộ váy Elie Saab màu “tro của hoa hồng” xếp pleat sương khói đến chạnh lòng.

Đến cả những xì thẩu hàng Tàu chợ cũng đã kịp tung lên mạng giao dịch những mẫu váy mùa hè chiffon xếp pleat giá không quá 10USD bán lẻ.

Vậy là những nếp xếp pleat chỉ còn đợi một đợt gió nhẹ để cùng lúc tung xòa khắp những boutique lớn nhỏ của một cung lộ mua sắm Á châu, tìm ngược dòng về cái nôi của trường phái “ngây thơ phương Đông” những năm 1920 dĩ vãng. Những tín đồ quen nếp nền nã của Việt Nam sẽ không thể quá ngỡ ngàng với những nếp pleat thả xuống tận quá gối, thậm chí đến cổ chân.

Dấu hiệu và những triệu chứng của cơn thú tính lây lan

Quay trở về với Patricia Field và “lời nguyền” SATC2, cùng với hoa văn phương Đông, tua rua, những tảng ren cầu kỳ và họa tiết da báo là một sức nóng hừng hực của không khí sa mạc và vẻ đẹp rực rỡ của hoa xương rồng. Nói một cách khác, mùa Spring-Summer 2012 đang đưa cả thập niên 1920 vào một ảo ảnh sa mạc với tất cả những gì chói chang nhất, như vực dậy cả một sự hân hoan hồn nhiên trước mọi lời sấm xám xì về một cuộc tận thế hoang tàn.

Đây hiển nhiên là cơn sốt kéo dài dai dẳng từ mùa Fall-Winter năm ngoái, khi mà tại nhà Louis Vuitton, Marc Jacobs thẳng thừng đặt hai ông Ba Mươi to như thật, ngồi phệt trên catwalk, hầm hố báo hiệu cuộc tái thịnh hùng mạnh của các thế lực rừng xanh. Người ta hẵng chưa quên những những con khỉ và những quả chuối của Miuccia Prada đã tăng nhiệt cơn sốt ra sao. Thậm chí cả thế giới loài vật được tận dụng không thương tiếc, tôm hùm được vẽ tay tỉ mỉ lên chân váy Jasper Conran, nhà Alexander McQueen có cả những con bươm bướm 3D to tướng điệu đà. Tại một số show diễn, chúng còn xuất hiện trong hình hài sống động nhất – những con thú thật. Ngựa nghẽo làm loạn show nhà Hermes, một cặp French bulldog mặt mũi cau có nghễu nghện dạo chơi trên runway nhà Mulberry và tất cả biến thành một cuốn phim vui nhộn của Thế giới Động Vật.

Xa hơn, ngấp nghé từ mùa xuân năm ngoái, người ta đã nghe tiếng gầm gừ rình vồ của sự tái thịnh quá sớm của cơn sốt nhiệt đới lốm đốm da beo và ngoằn ngoèo họa tiết hoang dã (rural pattern) đủ để run căng những móng vuốt shopper nhạy mùa. Nhưng cú tung mình của cư dân rừng nhiệt đới mãi đến mùa Xuân Hè năm nay mới thật sự tấn công hoang tàn những đường catwalk thế giới.

Cho đến mùa Spring Summer vừa qua, ca sốt phừng phừng nặng nghiệp nhất xảy ra trên catwalk Michael Kors với những mảng phối như thể bạo liệt nhưng lại được tưới dịu bởi sự tiết chế đầy lý trí của dáng suôn mềm, những mảng chiffon trong veo và những nếp xếp điệu đà ý nhị.

Đây quả là một yếu tố văn minh cho cuộc tái thịnh của tinh thần 1920, bên cạnh bảng màu kẹo ngọt của Prada và Elie Saab. Những thân hình đồng hồ cát bó thít trong bộ váy da beo đã trở thành màn cải lương dĩ vãng của thời Pamela Anderson. Họa tiết da thú mùa này mới thật sự là những con thú hoang được thả lỏng trong silhouete suông nhẹ thảnh thơi, chúng không vồ chụp bặm trợn, mà bay bổng như những thước phim quay chậm của Discovery Chanel với nhạc nền của Louis Armstrong.

Safari và panther print cuối cùng cũng tìm được cho mình một hình hài hoàn chỉnh cho lần xuất hiện trở lại, với sự song hành hoàn hảo của tinh thần flapper thập niên 20.

Tại châu Á, cơn sốt da beo 2007 còn chưa kịp hoàn hồn, thì cuộc đổ bộ của bảng màu trung tính ấm nóng truyền thống của trường phái Safari, và hình ảnh mèo ngái ngủ của panther print thế hệ mới lại đang một lần nữa sẵn sàng biến mọi thánh đường mua sắm thành những khu rừng nhiệt đới sầm uất, cùng với sự ưa chuộng mới dành cho những sọc đen trắng zebra, đốm da hươu và cọp vằn cũng đang trở thành thú cưng mới của các diva sành điệu, dù là sự cầu kỳ của flapper 20’s, gợi tình một cách quý phái của 50’s, hoặc phóng khoáng trễ nãi phiên bản flapper thế kỷ 21


Dự đoán: sốt dai ở vùng nhiệt đới

Chưa thể nói đến khi nào cơn sốt này mới hạ nhiệt, khi mà dường như những nếp pleat bay bổng là một sự thách thức với tố chất của thời trang Thu Đông, trong khi animal print của trường phái Safari vẫn hoàn toàn hứa hẹn kéo dài thời thịnh trị đến tận mùa của cardigan, khăn choàng và những đôi boots. Đó là khi các thiết kế ứng dụng pleat sẽ nhìn sang thị trường vùng nhiệt đới, với nắng gió dư dật quanh năm, và trong trường hợp này, cuộc săn mới với tầm ngắm hướng về những chiếc váy suôn dài xếp nếp sẽ vẫn là một đầu tư khôn ngoan cho các shopper Sài-gòn.

Vậy, nếu bạn không muốn volume của thủ pháp xếp pleat tăng vài inch cho vòng 3 công sở, thì drop waist (đường eo thấp) và silhouhete buông thả vừa vặn sẽ lập tức chiều chuộng bất cứ thân vóc petite nào của tín đồ Sài gòn mặc tình cho đường cong được lượt là được ve vuốt bởi những nếp pleat nhuyễn.

Đây cũng là dịp cho các con nhang đệ tử nhà Cavalli hả hê với truyền thống họa tiết rừng rú lâu năm của ‘hãng nhà’,

Nhưng cũng không nên bỏ qua các triệu chứng sốt sẽ chắc chắn lây nhiễm qua các thiết kế của các thương hiệu hùng mạnh khác. Prada đang nhiễm khá nặng và chưa có dấu hiệu dứt cơn, Chanel đến nay có vẻ như thiên hẳn về những đường pleat kinh điển, nhưng người ta rất nên thận trọng với “thú tính” bùng phát bất ngờ của chú K. vào mùa sau.Và đúng như vậy, dưới đây là cuộc chấn hưng tinh thần flapper 20’s của thiết diện quản gia nhà Chanel cho mùa Fall-Winter:

Trong khi đó, Gucci đã dường như toàn phần đắm đuối trong cú ghi điểm lẫy lừng với silhouete buông thả của flapper, các dây tua rua và họa tiết lập thể đính cườm.

Trong tất cả những đế chế lẫy lừng ấy, một cái tên khá xa lạ với shopper Việt, nhưng cũng vừa ghi điểm hoành tráng mùa qua với những nếp pleat hào phóng và tinh thần 1920 toàn tập là nhà Etro cũng là một tham khảo đáng được nhìn tới.

Và với những tín hiệu không cần bàn cãi ấy, chắc chắn, bạn sẽ không hề muốn mình là một diva miễn nhiễm lệch mùa!

 

 The Age Of Innocence lãng mạn hào hoa…