ngược dòng khuếch tán

Có lẽ mùi hương chính là thứ phục dựng tiềm thức và thiên đàng hữu hiệu nhất, bởi nó có tất cả: trọng lượng, nhiệt độ, vị, cảm giác, và màu sắc, quang độ,… Khứu giác có thể cùng lúc lay động mọi giác quan còn lại, và như vậy, cả một địa đàng có thể được dựng nên và tiêu hủy chỉ trong tốc độ khuếch tán của một giọt bụi hương.

“Chúng ta là những đứa con gái lớn lên trong nước hoa Tabu, quần jeans Hara và những hộp phấn Én thần thánh”, tôi nói như vậy với cô bạn gái vào một buổi chiều cách đây vài hôm.

Câu nói hết sức buồn thảm này đúng với mọi độc giả cùng thế hệ tôi, đã lớn lên, mê đắm trước những Poison và Anais, những Charlie và Fragile huyền thoại của thị trường xa xỉ phẩm đơn điệu của Sài Gòn cuối thập niên 80.

Rồi tất cả trở thành kí ức già cỗi với những cơn sốt Obssession và Giò, đại dịch unisex và những vụ nổ tung hoa cứu rỗi tính nữ của ngài Jacobs… Mỗi perfumista Sài Gòn (ít ra là ở Sài Gòn) đều lưu giữ trong tiềm thức những dòng hương thời cuộc đó.

Sài Gòn – với thuộc tính rất riêng và thứ thẩm mỹ khứu giác bồng bột của hết thế hệ đến thế hệ khác những perfumista cầu kì hay nhẹ dạ, mang riêng của nó một lịch sử mùi hương.
angela-lansbury-for-blackglama

Từ huyền thoại đơn hương Chà-và đến những dòng hương tuyệt mệnh của Kỷ Hoàng Kim

Khó có thể truy tìm chính xác ai là perfumista người Việt Nam đầu tiên, hay lọ nước hoa đầu tiên được du nhập đến Việt Nam. Nhưng hoàn toàn không khó để kẻ chơi cổ ngoạn tìm thấy những lọ chai nước hoa Shalimar nhà Guerlain được lăng-xê vào thập niên 20 hiện diện trong vô thiên lủng những món cổ vật tế nhuyễn được rao bán từ kho tàng cá nhân một gia đình tư sản xưa nào đó.

Du nhập tới xứ An Nam cùng lối sống cầu kì của cư dân nền văn minh Ánh Sáng, nước hoa như một món trang sức vô hình, không phục vụ mắt nhìn, nhưng vi tế mầu nhiệm hơn tất thảy những món “bắc kế” (từ thời này dùng chỉ trang sức, phụ trang) sang trọng nhất – một thứ đặc quyền của giới kỹ nữ và hàng thị dân phong lưu.

Đồng hành cùng tuyệt phẩm mùi hương của văn minh phong hóa đến từ Tây phương này còn có những dòng đơn hương chưng cất bởi các thương buôn người Chà (Java) sinh sống tại Sài gòn.

Theo câu chuyện kể lại của một nhà bào chế hiện sinh sống tại Đà lạt, khi ấy ông còn là một cậu thanh niên tỉnh lẻ hàng tuần theo chuyến hàng lên Sài gòn, từng ngẩn ngơ chiêm bái hình ảnh những bà trung lưu, những cô nữ sinh áo trắng dập dìu ra vô những hiệu buôn của người Chà bên ngoài Chợ Cũ (giờ là đường Hàm Nghi), nơi những hương liệu mỹ phẩm được chưng cất, đựng trong những vò thủy tinh lớn và chiết ra chai nhỏ theo định lượng để bán. Loại dầu thơm bình dân này hoàn toàn là những đơn hương thuần túy mang mùi thơm của những loài hoa, vị cỏ có trong thiên nhiên được chưng cất, không cấu trúc và không biến cố, nhưng thỏa đáp được nhu cầu làm đỏm cơ bản nhất của nữ giới nói chung.

Cho đến giờ, cậu nhỏ đó vẫn đang thầm lặng thực hiện tham vọng phục dựng những dòng đơn hương giản dị đó cho mầm mống một thị trường nước hoa nội hóa.

Vào thập niên 50, những dòng xa xỉ phẩm nhập khẩu và nếp tôn sùng các nhãn nước hoa mang âm hưởng Francophile thống trị tuyệt đối thị trường thượng lưu, một phần bởi uy danh kinh đô hoa lệ, một phần khác bởi chính bối cảnh thị trường thế giới vẫn chịu sự thao túng của thẩm mỹ lục địa già. Cho đến tận đầu thập niên 60, nước hoa mới trở nên phổ cập hơn cùng sự sầm uất của những thương xá tân kỳ bày bán đồ xa xỉ. Cũng từ đây, các quý bà quý cô Sài Gòn bắt đầu làm quen với những loại nước hoa nhập từ Hoa Kỳ, dao động vô chừng từ những thương hiệu gốc Pháp như YSL và Dior, cho đến những dòng hương “drugstore” với giá cả khá dân chủ xuề xòa, thừa sức cung ứng nhu cầu làm dáng của giới trẻ.

Nhưng kể từ 1975, Sài Gòn cô lập hoàn toàn khỏi thị trường xa xỉ phẩm thế giới, người ta lay lắt dựa dẫm chính vào nguồn mỹ phẩm chợ đen từ các thùng hàng gửi về từ hải ngoại.

Đó là những năm đầu thập niên 1980 tại Sài Gòn, khắp nơi ở khu trung tâm, nơi những tiệm ăn, nhà hàng sang trọng còn sót lại, và những dạ vũ tổ chức “chui” tại nhà, những nếp quen và mùi hương cũ vẫn được duy trì một cách tài tình. Người ta cự tuyệt những dòng hương mới lạ thượng trào trên thị trường thế giới, như một cố gắng tuyệt vọng trong việc bảo tồn vẹn nguyên bầu không khí hoa lệ của Sài Gòn vào những năm 60 phóng túng. Opium của Yves Saint Laurent cho giới nghệ sĩ và cavalliere cũ, Chanel No.5 và Shalimar được coi là tín chỉ thượng lưu. Mấy cô trẻ trung thích Charlie, Joy và Tabu bởi mức giá thân thiện hơn, trong khi Mon Péché nhà Lanvin, Magie Noir nhà Lancome và Poison nhà Dior chinh phục hết thảy mọi thị phần bởi chút vẻ lẳng lơ táo bạo.

Còn với nam giới, Paco Rabanne giữ nguyên vị trí thượng lưu trong khi eau de cologne của Old Spice chỉ còn là tàn tích tại những tiệm barber kiểu cũ, và Brut lui về thị phần trung niên trí thức. Về sau, những lọ cologne hiệu Old Spice tuyệt tích hoàn toàn tại thị trường Sài Gòn, trong khi Brut vẫn tồn tại một cách khá khiêm tốn sau nhiều đợt thay đổi thành phần và thiết kế mề đay trứ danh cũng bị loại bỏ. Chỉ mới gần đây, hai tên tuổi này chính thức tái xuất dưới hình thức các phiên bản sản phẩm vệ sinh cá nhân, Brut và nhãn Old Spice “con tàu đỏ” hầu như bị xóa tên khỏi danh mục những dòng nước hoa giành cho quý ông. Cần phải nói thêm rằng đây là một điều đáng tiếc, bởi sự đặc sắc trong ứng dụng note cẩm chướng ở Old Spice, và thi vị Fougère kinh điển của Brut vẫn là những huyền thoại đáng nể của lịch sử bào chế mùi hương trên thế giới còn gây tranh cãi tới tận bây giờ.

l-gda23j5lkmoyeq

Thảm họa Kỷ Disco: Quá nhiều hormone cho một thành phố nhỏ

Dựa trên tập quán “tàn dư” của các perfumista mới nhập môn bản xứ, những dòng hương lừng lẫy nhất của Kỷ Ngây Thơ – khoảng thập niên 20, 30, tình cờ hội tụ hài hòa với những dòng cực thịnh của cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 và chiều chuộng mỹ mãn gu khứu giác bạo liệt của đàn bà con gái Sài Gòn xứ ngọc Viễn Đông vào đúng thời kỳ “trở mình” hồi phục của Sài Gòn những năm 1980. Tất thảy là những tầng hương mang cấu trúc cầu kỳ, với nốt powdery, xạ hương, gia vị và hương hoa tổng hợp sực nức một vẻ duyên phấn sáp đầy kịch tính, đồng điệu ngẫu nhiên với nét bốc đồng khả ái của Sài Gòn, sự pha tạp Đông-Tây cổ-kim kì thú giữa văn hóa “phố lớn” Sài Gòn với dáng vẻ cổ thị nhưng tinh thần phồn thực sầm uất của khu Chợ Lớn. Phóng khoáng tới mức dễ dãi, duyên dáng theo một cách ồn ào, huyền mặc Đông phương trộn nhuyễn cùng tạp chất văn minh Âu hóa, khoái lạc thụ hưởng được tôn vinh, và nỗi sầu muộn “sentimental” lại lên ngôi thời thượng theo những cuốn băng cassette chuyền tay cùng tên gọi tắt phiên âm “sến”. Tất thảy đều trùng hạp tài tình với tinh thần những mùi hương được ưa chuộng nhất thời kỳ này, với ảnh hưởng tác dụng á phiện lên nỗi ám ảnh Yves Saint Laurent, hay những gia vị Trung Á đậm nét “tuồng hương xa” của nhà Guerlain lúc bấy giờ.

Nhưng đó cũng chính là nguyên nhân tàn lụi của những dòng hương xạ (musky) và hương Đông phương (Oriental) tại thị trường Sài gòn những năm dài sau dư chấn cơn sốt nặc nồng hương nhân tạo đó. Xạ động vật và lượng lớn trầm hương, hổ phách chiếm nồng độ cao trong các dòng nước hoa này bắt buộc sử dụng tinh dầu tổng hợp và những gam hợp hương thay thế để tạo cảm giác tương tự, đặc tả thuộc tính phương Đông. Bỏ qua lòng trân quý những cấu trúc bào chế bậc thầy và những chiến dịch quảng cáo triệu đô, hai trường phái này khiến người ta liên tưởng tới thứ thẩm mỹ rườm rà cũ kỹ, quá nhiều aldehydes, quá nồng nàn với một thông điệp dục tính sỗ sàng, bông tai nhựa to quá khổ và keo xịt tóc nặng mùi. Những mùi hương được ưa chuộng đồng nghĩa với sự xuất hiện nồng nực ở khắp nơi. Cả một xã hội đàn bà đỏm dáng và cá biệt, bất kể thời tiết trong ngày, đều cùng lúc tỏa hương một cách phồn thực tới sỗ sàng.

Trong kí ức của rất nhiều người, thập niên 70 và 80 đã lưu dấu bằng những cái nhăn mặt khổ sở và những tai nạn xây xẩm vì mùi mỹ phẩm nực nồng trong thang máy, tiệm ăn và các rạp cine. Những tên tuổi quý phái thượng tôn trở thành khái niệm bình dân xa cạ, khi mà một quý bà lịch duyệt cũng tỏa hương y hệt một cô nhân viên cửa hàng mậu dịch.

Thảm kịch tương tự đã xảy ra với dòng nước hoa mang số 5 huyền thoại của nhà Chanel trên thế giới – với note hồng và hương phấn kinh điển, đậm đặc và phổ cập đến nỗi ấn tượng “mùi hương bà ngoại” (dù đã là một bà ngoại cực kì am hiểu sành sỏi) cũng đủ khiến các cô gái trẻ phủ lên các dòng powdery định kiến “mùi người già”. Cùng lúc, việc các quý bà Á châu ồ ạt chạy đua theo “đẳng cấp Coco” cũng cùng lúc khiến dòng hương powdery này chịu thêm một định kiến về phong cách trưởng giả nouveau riche.

Không thể không nhắc đến một tác nhân góp phần trong cuộc truất ngôi ngoạn mục của trường phái Oriental và musky là sự xuất hiện của hàng nhái sau thời mở cửa, cùng với thói quen buôn bán nước hoa trong quầy kiếng những khu nhà lồng nóng bức khiến tất cả những gì người ta cảm nhận được là một sức khuếch tán mạnh mẽ và kinh hoàng không kém gì những chiếc khăn lạnh ở quán bia hơi hạng bét.

o.769

Sự thoái trào của mặt phẳng những mùi hương đồng hóa

Sài Gòn đã phải mất tới hai thập niên để rũ bỏ hoàn toàn nỗi ám ảnh cơn sốt “musky Oriental”. Giới bình dân lũ lượt trốn vào sự xoa dịu của Anais Anais, trong khi các bà sang trọng “cai nghiện” Chanel bằng Dune, Giò và nồng độ Đông phương dịu dàng hơn qua hương nhài của J’adore, các cô thanh nữ ưa nổi loạn, hâm mộ Kim Wilde và mô tô Rebel quay lưng lại với Poison tối ám để tung hô những chai Jean Paul Gaultier với thiết kế chai lọ muôn phần kích thích.

Cũng cùng thời điểm này, không ít dòng nước hoa kể trên cũng tuyệt tích trên thị trường thế giới, hoặc phải trải qua những cuộc biến dạng, cách tân (reformulation) với sự thay đổi không hề ít trong công thức. Poison liên tục tung ra các phiên bản thỏa hiệp đa sắc, với thành phần và nồng độ được điều chỉnh mềm mại hơn nên vẫn được ưa chuộng. Cùng lúc, cơn sốt “quả táo độc” được hóa giải bởi các dòng hương trái cây trẻ trung hơn, với thiết kế vỏ chai không kém phần hấp dẫn do nhà Lolita Lempicka liên tục tung ra rù quến thị trường nhiệt đới. Các tên tuổi Á châu với làn hương trong veo và mỏng tang của Kenzo và Issey Miyake như hai giải pháp thỏa đáng cho khí hậu đặc thù nhiệt đới cũng bắt đầu được mến mộ.

Đó đã là một cuộc ru ngủ dịu dàng kéo dài từ giữa thập niên 90 đến nay, với Tommy Hilfiger đồng hóa lằn ranh giới tính của thị phần trẻ chuộng mốt unisex, trong khi trên thượng tầng mua sắm, các dòng hương được săn lùng và ưu ái bởi sự bảo chứng đẳng cấp của chai lọ và thương hiệu. Phần còn lại hứng trận mưa “cổ tích Lái Thiêu” với những lê táo mận nhà Lempicka và Marc Jacobs cùng Kenzo không ngừng nghỉ tung hoa lên thị phần nữ tính. Hơn một thập kỷ thơm tho kéo dài, những thi vị mùi hương được tóm gọn bằng những cái tên thương hiệu, các bàn thắng thị trường được quyết định bởi thiết kế lọ chai – vốn là những thứ không thể trưng trổ để uy hiếp thị giác. Cùng lúc, thảm họa những dòng hương tội đồ được mệnh danh là “nước hoa Singapore” được hau háu tiêu thụ thật sự báo động cho vai trò của thẩm mỹ khứu giác trong sự thành công của một dòng hương. Người ta từ chối chi trả những số tiền khổng lồ phi lý cho cùng một thứ chai lọ được bán trên các sạp chợ đêm hoặc mạng internet với giá chỉ bằng 1/10.

Không chỉ lằn ranh giới tính và đẳng cấp bị xóa mờ, nhộn nhạo đánh lẫn, mà trào lưu những dòng hương nhẹ thơ lơ cũng đã báo động thoái trào khi mà những số tiền cực xa xỉ được trả cho những làn hương mỏng mảnh đến nỗi người ta phải áp mũi lên da mới cảm nhận được, và được quảng cáo là đỉnh cao của sự tinh tế mùi hương…da thịt vừa được tắm sạch trong bồn jacuzzi thả hoa tươi. Tất cả tan biến chỉ trong vòng 15 phút đầu, với những khứu giác hụt hẫng trước cuộc thăng hoa xí hụt.

Đó là khi người ta nhớ da diết cái thời mà đàn ông và đàn bà tỏa mùi khác nhau, như những cá thể rừng già tỏa hương hormone đặc thù quyến rũ, khi mà đóa huệ duyên dáng của nghệ nhân nhà L’Artisan Parfumeur phải vượt trội về độ cầu kỳ so với note ylang ylang điền dã của những dòng hương giá mềm dân chủ. Những tầng, những lớp hương phức hợp trong một cấu trúc cầu kỳ đã trở thành điển lễ cũ kỹ, đậm đặc và dày vò đủ khiến người ta muốn quay trở lại để thưởng thức từ đầu. Những cú xịt đầu vòi với mỗi hạt bụi dung dịch màu hổ phách là một thiên diễm tình có lớp lang, biến cố được khứu giác kiên trì lần dở từng trang, từng cảnh cho đến khi mùi mẫn ngấm hẳn vào thịt da. Những mẫu vật cũ được săn lùng khắp nơi trên thế giới, các phiên bản trường phái chypre và fourège kinh điển được phục dựng trong những diện mạo và tên gọi mới.

006-M

Những “lỗ mũi” nổi khùng và những dấu chỉ phục hưng

Khi Le Parfum nhà Elie Saab bất thần thắng lớn tại mọi trung tâm mua sắm Sài Gòn, như một dấu chỉ cho một trào lưu tuy chậm chạp cẩn trọng nhưng hoàn toàn chắc chắn của những gu thưởng thức cầu kỳ nhưng không còn cũ kỹ. Le Parfum bắt đầu khôn khéo với việc dẫn dụ thói quen khứu giác bằng hương trái cây, hoa cam, khá thông dụng và hợp thời. Nhưng ngay lập tức là một cuộc chơi vi diệu của đặc tính đàn bà rõ nét với hương hoa hồng và nhài. Sự có mặt của các note tổng hợp mang tên aldehydes chính là yếu tố nhắc nhớ đến cái duyên phấn sáp quá tay của những dòng hương huyền thoại. Việc Le Parfum được ưu ái mạnh mẽ chính là dấu hiệu đáng ăn mừng cho các tín đồ perfumista phe bảo thủ về một cuộc đại chấn hưng.

L’artisan Parfumeur cũng táo bạo xuất hiện tại các thương xá Sài Gòn với hợp hương khá dị biệt do được tạo ra bởi quái kiệt Duchaufour, người đã tiễu trừ vị kem sữa (creamy) đặc thù của hương huệ và tạo ra một cấu trúc kì cục nhất xưa giờ với lối dẫn dụ đặc tả từ…gốc đến ngọn, như thể người ta chào hỏi một quý bà bắt đầu bằng việc hôn vào chân vậy.

Những cú chấn động liên tiếp của các “lãnh chúa” haute couture trong thế giới thời trang từ 2008 theo chuỗi domino đã tác động bạo liệt lên thị trường nước hoa, mỹ phẩm và phụ trang – những rường cột chống đỡ tài lực cho các thành trì xa xỉ cuối cùng, khiến cả kỹ nghệ bào chế phải đi qua sự thỏa hiệp với mãi lực bằng những cấu trúc mùi hương thân thiện bên trong những lọ chai bắt mắt. Đó chính là thời điểm quật khởi bạo liệt của những “tân minh chủ” bất ngờ và bất trị nhất: những phù thủy ẩn danh phía sau những huyền thoại mùi hương, các nhà bào chế thượng hạng, và những chiếc mũi phù thủy nổi loạn.

Những nhãn hiệu độc lập được ra đời, mang danh tánh cá nhân của các nhà bào chế, báo hiệu một sự chấn hưng rầm rộ của những hợp hương cầu kỳ bất hủ, những cảm hứng dị biệt nhất nằm ngoài mọi khuôn mẫu của nguyên tắc hòa hương. Thị trường đang quay sang tôn sùng những dòng nước hoa thượng thặng thoát khỏi hệ nô dịch thương hiệu, mang những tên tuổi cá nhân xa lạ nghiễm nhiên trị vì ngôi vị đắt đỏ nhất trên thị trường. Bond No.9 bỏ cả Nữu Ước vào lọ, quái kiệt Francis Kurkdjian thao túng tín đồ sành sỏi bằng bộ sưu tập trầm hương hừng hực sâu thẳm như những cơn sốt nhục cảm, đế vương đến tận từng con số trên tag giá. Tất thảy, mùi mồ hôi, đồng thau han rỉ trong ngôi cabin gỗ hoang phế, những drap đệm tình nhân, cả những chiếc váy slip dress bằng tơ chưa giặt, và có lẽ cả Nữu Ước lẫn Sài Gòn đều có thể được thần thánh hóa dưới dạng dung dịch, và đựng đầy vào những cái chai.

Cùng lúc, giới chuộng mùi hương tại Việt Nam, dù chưa phải là một cộng đồng to lớn, một khi thói quen và điều kiện mua sắm tại nước ngoài đã trở lại như thời hoàng kim gần nửa thế kỷ trước, lập tức hình thành nhu cầu tìm đến những mùi hương cá biệt và thoát khỏi ảnh hưởng nô dịch thương hiệu hay sự quyến rũ thị giác của thiết kế vỏ chai. Tính cá nhân lại được tôn thờ mãnh liệt hơn bao giờ hết sau gần hai thập kỷ của những dòng hương chung chạ. Sự xuất hiện dù chỉ mới duy nhất một cửa tiệm có dịch vụ tạo hương bespoke tại Sài Gòn để làm ra những lọ nước hoa độc bản cho thân chủ cũng đủ để người sành hương nhìn nhận dấu chỉ đáng mừng cho một nền văn minh pefumista hậu nô dịch.

Bởi tất cả, trên cả hương thơm, đó là thế giới tuyệt xảo của những bản ngã được tôn thờ, của mùi hormone nhân tạo được thần thánh hóa, những tuyệt phẩm nghệ thuật mong manh nhất, tan biến bằng tốc độ tản hương nhưng có khả năng gây nghiện đến ám ảnh lâu dài, món trang sức lịch duyệt nhất của nếp sống phong lưu, kiêu ngạo vượt xa khỏi mọi trưng trổ ồn ào của tầng thị trường nhãn mác.

6a00d83451ccbc69e2017615997dd6970c-400wi

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí L’Officiel)

MÙI THỊ DÂN

Tình cờ trong một bài nghiên cứu về những dòng nước hoa phong vị Đông Phương đã ngưng sản xuất, tôi bắt buộc phải săn lùng những mẫu vật đã hoàn toàn tuyệt tích khỏi thị trường. Duyên kỳ ngộ đến với tôi từ tay một phụ nữ trung niên, gửi gắm món kỷ vật trong ve nước hoa bằng thứ thủy tinh đã trở nên đục mờ, bên trong chỉ còn chứa không quá 10ml đáy cặn. Sắc hổ phách huyền thoại của thứ dung dịch xa xỉ đã chuyển sang thứ nước màu thắng quá lửa với mùi hương khét ngằn ngặt như những bông hồng chết trên giàn hỏa thiêu. 40 năm về trước, chị là cô con gái gia đình “tiếp quản” một ngôi nhà mà gia chủ đã ra hải ngoại. Trong tất thảy những cuốn album gia đình cùng tư trang để lại, cô gái nhỏ đã lén giữ lại chiếc lọ cầu kỳ như một kỷ vật của một thứ tàn dư diễm lệ mà cô hụt tay sờ chạm. 40 năm, chưa một lần chị dám phí phạm dù chỉ một làn bụi hương sót lại nơi đáy chai. Tôi hứa với chị sẽ hoàn trả mẫu vật sau khi trích lục để phân tích một phần hương bên trong.

Cái cảm giác ấn chạm vào đầu chiếc ve nhỏ, phóng thích một tia bụi nước đó trở nên thiêng liêng kỳ lạ, vượt xa chuyện sửa soạn xức thoa thường tình. Như thứ thanh âm cũ mòn thốt bật từ lòng đĩa vinyl cổ đại còn đính chiếc tem giá, những thước phim nhị sắc run rẩy trên phông bạc sau hàng thập niên trong phòng lưu trữ, tôi nhận ra mình vừa phóng thích khỏi chiếc lọ cũ kỹ cả một nền văn minh thời cuộc, hiển hiện ngay trên cườm tay, với đầy đủ biến cố cầu kì của một tuyệt tác mỹ phẩm, biến dạng nặng nề bởi ngần ấy thập niên đợi chờ được phóng thích.

Vị thần tai ác chui ra khỏi chiếc ve được thiết kế cầu kỳ, và trước khi tôi kịp chọn cho mình một điều ước, tôi bị quăng không thương tiếc lên chuyến tàu ngược thời gian và nhắm mắt lại để thấy mình, không phải ở thị trấn Provence với bạt ngàn đồng hoa lanvande tím, hay kinh thành Ba Lê thánh địa của kỹ nghệ bào chế nước hoa, mà giữa vẹn nguyên thập thành đô thị Sài Gòn gần ba mươi năm về trước: mùi Sài Gòn!

Hương phấn sáp khỏa lấp kỷ điêu tàn

Tại sao những dòng mỹ phẩm đặc trưng được sản xuất vào những năm 20 của Kỷ Ngây Thơ (Age of Innocence) và thập niên 70 diêm dúa luôn khơi dậy trong tôi chỉ cùng một tiềm thức?

Sài Gòn có mùi gì?

Tôi không tin người ta có thể ngay lập tức trả lời câu hỏi này. Bởi Sài Gòn là một đô thị…nặng mùi. Một tạp âm hổ lốn, đa tầng được cảm nhận bởi khứu giác đã mỏi mòn từ quá lâu đủ để chậm chạp bóc tách từng lớp, từng nốt trầm tích mùi hương ấy ra mà phân tích một thứ “hương Sài Gòn” chuẩn xác.

40 năm sống trong lòng Sài Gòn, tôi dõi theo kí ức của chính mình, nhắm mắt lại, hít thở và để mặc những note mùi hương làm công việc của nhà điêu khắc, tạc vóc chân dung Sài Gòn. 40 năm của một hành trình thoái hương đầy biến cố, cho đến khi bất cứ dòng nước hoa xưa cũ nào với trường phái đặc thù của mỹ cảm 1920 và 1970 cũng có thể lập tức phục dựng sinh động một kỳ đoạn nối dài từ giữa những năm 1970 đến cuối thập niên 80 của Sài Gòn, trở mình giữa lệ và hoa.

Đó chính là khoảng thời gian chuyển tiêp giữa nếp sùng bái thẩm mỹ Francophile còn lại của lớp thị dân elite, cùng những tinh hoa Bắc và Trung kỳ hội tụ về đây giữa những năm 50, pha trộn với trào lưu tân kỳ của những dòng hương “drugstore” Hoa Kỳ đầy tinh thần thực dụng và tag giá dân chủ hơn rất nhiều. Thập niên 20 và 70 tiền-disco gặp nhau trong vẻ hào nhoáng cảnh vẻ: những cô đào trang điểm quá tay, những tiến bộ vị lai của khoa học và những nỗi sầu chính trị hợp thời. Chypre và aldehydes, xạ hương đầy nhục cảm và thứ mùi phấn sáp trang kim của trường phái powdery.

Một chuyên viên tâm lý có thể dễ dàng lý giải điều này bởi sự can thiệp của vốn liếng tiềm thức hạn hẹp bó tròn trong đời sống thị dân, bởi những khái niệm đầu đời về thế giới mùi hương đã gắn liền với mọi kí ức của Sài Gòn giữa thập niên 80, bởi những chuyến du hành thần thánh từ những quầy lộng kiếng nhà lồng Bến Thành, đâm xuyên lối chợ trời Tạ Thu Thâu nực nồng xa xỉ phẩm, bước ra lối vào thương xá Tam Đa cũ chỉ còn là những ngách nhỏ sáng lòa giữa ban ngày bởi vải vóc, trang sức và “đồ Mỹ” được bán tống tháo lại từ những gia đình tư sản trước cuộc lưu vong quáng quíu, hay từ những chuyến hàng hải ngoại cứu rỗi nếp tàn dư còn cầm cự lại của thị dân đất ngọc Viễn Đông.

Sài Gòn đã bắt đầu trong tiềm thức khứu giác của tôi như vậy, như những vệt mùi đài các sa cơ, trưng trổ những nếp vàng son phồn thịnh giả cách, xoa dịu và khỏa lấp những phân hủy điêu tàn.

mùi thị dân

Xá-xị, hồng tiêu, hắc quế và nhang trầm Chợ Lớn

Sài Gòn, những năm giữa thập niên 80, người ta ồ ạt săn đuổi những dòng hương có những cái tên phù phiếm độc địa như Poison (độc dược), Mon Pèche (tội đồ) hay Tabu (điều cấm kỵ). Cùng lúc, trào lưu Oriental do Shalimar nhà Guerlain khởi xướng từ đầu thập niên 30 cũng phả làn hơi “hương xa” nồng nàn lên các dòng hương được ưa chuộng bởi sự gần gũi về tiềm thức văn hóa. Các dòng cologne thân thiện Bien Etre trở nên lỗi thời vì âm hưởng Francophile, không ít những chai lọ của thời này còn tìm thấy trong các hiệu bán đồ cổ ngoạn, bên cạnh những xấp dĩa vinyl và những mề đay mỹ kí hoen rỉ của một gia đình tư sản cũ nào đó, ghi dấu gu thẩm mỹ thời cuộc tuốt từ những năm 50 đầu 60.

Oriental, hay còn gọi là trường phái hương Đông-Phương với mùi xạ hương cùng những thứ gia vị nóng như quế, hồi đầy nhục cảm, đã làm nên cả một không khí của giáo đồ thụ hưởng Sài Gòn ngay giữa lằn ranh những tháng năm đầy biến động, nơi hoa và lệ cộng sinh san sát.

Cơn sốt đầy note hương bạo động với huệ, xạ cầy hương, nhục đậu khấu và hổ phách được bào chế vung tay này đã kéo dài đại dịch Tabu và Poison đến tận thập niên 90, và chỉ thật sự giảm nhẹ chút đỉnh trước cơn lụt xa xỉ phẩm tân kỳ thời mở cửa. Những buổi dạ vũ ball famille, những vũ trường chỉ vừa mới được mở cửa lại, những rạp cine mini ở khu trung tâm lại bật lên hơi lạnh lưu cữu của những máy điều hòa đã bất động suốt một thập niên.

Từ khu nhà lồng chợ Bến Thành, băng qua chợ trời xa xỉ Tạ Thu Thâu, kéo dài tới thương xá Tam Đa cũ, về sau là tòa nhà Intershop (đã không còn), xứng đáng được coi là thú bát bộ mới, thay thế cho passage thương xá Eden cũ dù kém hẳn phần lịch duyệt dành cho các bà các cô điệu nghệ. Những lọ nước hoa được bày bán ngay dưới ánh sáng trực tiếp của nắng, hay trong những tủ lộng kiếng chưng đèn nóng hổi – điều hoàn toàn bậy bạ trong nguyên tắc bảo quản mỹ phẩm, với những mức hét giá trên trời, nhưng thời đó còn chưa có vấn nạn hàng nhái, do phần lớn được thân nhân mua từ chính quốc, hoặc do các thủy thủ tàu viễn dương mang về.

Chính thời điểm này đã làm nên dấu mốc thú vị trong gu khứu giác của đàn bà Sài Gòn, hổ lốn và vô nguyên tắc như mọi thứ đặc sản của thị thành tạp chủng này, như bánh mì kẹp chả lụa Bắc Kỳ với pepperoni Ý Đại Lợi xịt xì dầu Chợ Lớn, chiêu trôi cùng ly café B’lao chánh hiệu.

Cũng là một đô thị phương Đông, nhưng người ta đổ xô vào những dòng nước hoa Oriental, khởi phát vào thập niên 20, và tái phát dữ dội trong văn hóa Âu Mỹ vào những năm 60, lây lan tới trào lưu hiện sinh của những năm 70. Đối với dân Sài Gòn, phong vị này vẫn toàn vẹn sự kì thú huyền bí của yếu tố “hương xa”, với hoa hồi và nhục đậu khấu, trầm hương và hồng tiêu, nhưng vẫn đủ gần gụi để nhắc nhớ từ trong tiềm thức những bánh savon trầm thượng hảo hạng được coi là món quà lịch sự dành cho nữ giới, những hiệu thuốc bắc đường Hải Thượng Lãn Ông, như một thứ mùi hương cửa ngõ mở vào lãnh địa phồn thịnh sầm uất Chợ Lớn.

Trong tất thảy những cam bergamot và hồng tiêu, húng quế ấy, cái khứu giác của đứa con nít Sài Gòn háo hức căng phồng đón nhận về hơi hướm phảng phất mùi tinh dầu lá xá-xị đã làm nên huyền thoại thương  mại cho hãng giải khát Con Cọp lúc bấy giờ, thứ mùi nhang khói mỏng mảnh đã đượm lẫn trong không khí từ bao đời, một khi mỗi căn phố đều có cửa tiệm và một bàn thờ ông Địa, mỗi nếp gia cũng leo lét khói nhang đêm, cho đến đình chùa miếu mạo xen kẽ trong khu dân cư. Tôi tin rằng Chợ Lớn sẽ khác lắm, nếu giả như một ngày người Hoa và tập tục cúng kiến không còn nữa, nếu giả như một ngày, đồng loạt những que nhang tắt ngấm. Đó mới thật sự là ngày Chợ Lớn không còn.

2046

Hương bá tánh trên bức chân dung người đẹp Viễn Đông

Nếu gia vị có xuất xứ Đông phương và những ngành quý mộc đã làm nên phong vị ẩm thực gourmand cho Sài Gòn, thì những hương hoa phù phiếm, hương vanilla, hương huệ đậm đà vị phấn sáp kem sữa chính là bức chân dung trọn vẹn nhất của vẻ đẹp đàn bà miệt Ngọc Viễn Đông. Thứ hợp hương tổng hợp gay gắt của những siêu phẩm được bào chế bởi nền kỹ nghệ tân kỳ những năm 70 này khiến những cái mũi thanh lịch đương thời sẽ phải nhăn nhúm khổ sở bởi trò tán tỉnh sấn sổ ồn ào không khoan nhượng, trong khi hương phấn sáp powdery khiến người ta lập tức liên tưởng đến những giá trị lỗi thời gắn liền với nữ hoàng phấn sáp Coco No.5 từng một thời được ưu ái ồ ạt bởi các bà các cô giới thượng lưu.

Tất thảy đều giả tạo và phồn thực, hào phóng như những bờ ngực phồng vun cao phía sau tà áo dài siết eo đúng điệu Sài Gòn. Những người đẹp “cao su” hồn nhiên và hào phóng ban phát cảm giác mềm mại cứu rỗi của nhục thể lồ lộ dưới hai vạt áo hoa. Hương vanilla đặc thù của tiệm Givral với những ổ bông lan ngập ngụa phẩm màu, dày mịn mỡ màng những lớp kem đỏm dáng phủ ngập những chiếc gateaux còi cọc thiếu sữa của thời bao cấp, như những đắp bù xoa dịu thị giác và khẩu vị con nít háu ăn. Những đầu móng tỉa tót cầu kỳ sơn bôi đỏ thắm, những gót hoa nghễu nghện chênh vênh khỏi mặt đường, và thứ mùi da thịt bị tẩm ướp đến biến dạng bởi hương mỹ phẩm, mùi thuốc uốn tóc và ít nhiều những vệt khói ám muội lẫn trong mái tóc, xống áo, tới hơi thở đàn bà, khỏa lấp cả những giọt mồ hôi nhễ nhại của tiệm nước đầu ngõ cuốc xe cuối ngày nhặt nhạnh lối mưu sinh bên vỉa hè phố thị.

Chỉ có sống ở Sài Gòn mới hiểu thứ hợp hương quái đản này, khi mà người ta đi nhảy đầm và ăn tiệm bất kể công việc lao động phổ thông cóp nhặt hàng ngày. Không hề hiếm những huyền thoại vỉa hè về những người ăn xin cuối ngày ngoắc xích lô đi ăn tiệm. Lằn ranh phân biệt được đặt ra rõ ràng giữa những địa vị và lợi tức khác nhau, nhưng quyền hưởng thụ được chia đều cho tất cả. Một nữ hoàng sàn nhảy hoàn toàn có thể kết thúc một ngày của nàng trong chiếc chòi ốp tôn chênh vênh trên mép dòng kênh nước đen, phó mặc ngày hôm sau cho một canh bạc hoàn toàn mới.

Kết hợp hương hoa với xạ hương, trộn với những mùi gia vị hương xa nồng gắt, người ta có được một hợp thể dễ gây say, gây nghiện của mồ hôi dân nhiệt đới nhễ nhại, thứ nhựa sống thật thà tiết rỉ quanh năm, hong khô dưới nắng và phát tán trong gió, hay đượm quện với những cơn mưa đồng bóng bất thần, trộn hòa chuếnh choáng trong ngăn thang máy, rạp cine, những hộp đêm kín gió đông người, nơi xống áo và người ta ma sát vào nhau, tóc trộn tóc, tay đan tay, và tất cả ướp đượm với đồ ăn và thức uống, champagne và bia hơi, đàn ông và đàn bà. Thứ hương “bá tánh” đó đã là một mùi đặc trưng của Sài Gòn, như những ám ảnh kinh hoàng kéo dài dằng dặc lên tận giường ngủ và lụi tàn giữa chăn nệm vào sáng hôm sau. Có lẽ bởi vậy, ở Sài Gòn, người ta bén mùi nhau, ghiền mùi nhau rất dễ. Mỗi cá thể ném mình vào đời sống cộng sinh nơi đây trở thành một phân tử mùi hương cực nhỏ làm nên cả một hợp chất nồng nực, khó chịu, sực nức, giả tạo nhưng gây nghiện và ám ảnh khôn cùng.

Như người đàn bà đồng bóng nhất, hào nhoáng và phù phiếm nhất đã một lần qua trong đời, Sài Gòn không bao giờ cho phép mình bị lãng quên, ngay cả khi người ta nhắm mắt.

02230939a

Mùi Hương Hoa Lệ

Như mọi cấu trúc cơ bản nhất của một dòng nước hoa, mọi kịch tính của mùi hương đều lắng dịu, thẩm thấu vào cơ thể và dâng lên những nốt cuối cùng, như một đoạn kết đẹp, tròn trĩnh, hoặc như những dấu chấm lửng vẫn mãi kéo dài tận trong tiềm thức.

Sài Gòn nông cạn, ô tạp, xô bồ và sống sượng trong cái thói rù quến bằng kẹo ngọt và những phần thưởng “ăn liền”, thói chiêu đãi hậu hĩ tới mức dại khờ và phóng đãng của ả gái hư không chuyên. Nếu ví Sài Gòn như một hợp hương mỹ phẩm, thì có lẽ những note dư hương day dứt cuối cùng ấy, chỉ có kẻ xa Sài Gòn mới thật sự được hưởng trong những mặc niệm hoài hương, hoặc những ai thương tưởng si mê Sài Gòn ngay khi sống giữa lòng đô thị, đủ để nhìn ngắm nhâm nhi những trầm mặc đằng sau phấn sáp trang kim, đủ để kiên nhẫn chờ đợi khoảnh khắc thật thà sau cuối của ả đàn bà đa chiêu.

Khi những mẫu nước hoa cũ khô dần vào da thịt, sự tài tình của nhà bào chế lại một lần nữa vén lộ những phong vị Đông Phương từ lớp hương đầu, đã được lọc qua những biến cố ồn ào nhất của thời cuộc, để lắng mình, vẹn nguyên mảnh khói nhang trầm mặc trong hơi thở về khuya của phố thị.

Một thời gian tôi mướn trọ trên căn gác xép giữa một hẻm bình dân đúng nghĩa điện câu đèn vàng. Cứ khoảng gần nửa đêm, tiếng lóc bóc của thằng nhỏ bán mì gõ lại vang lên, len lỏi vào mê trận không lối ra của những đường ngoặt bất thần chi chít. Thằng nhỏ quê tận đàng ngoài, trôi dạt vô đây phụ việc xe hủ tíu mì như một vạn kiếp di dân mỗi ngày tấp về đây. Nó sẽ chẳng bao giờ nhớ nổi đường ra giữa những lối ngoặt ngoằn ngoèo ác địa của những hẻm bàn cờ đặc trưng phố thị phương Nam này. Ông chú người Tiều sẽ cắm vài cọng nhang vô góc đường gần đó, thằng nhỏ Bắc Kỳ cứ theo mùi nhang, như cọng khói cứu sinh len lỏi hẻm đêm mà lần đường về. Thi thoảng, tiếng lốc cốc leng keng của nó vọng ra cũng đủ khiến ông chú Ba Tàu biết thằng nhỏ liệu đã rong ruổi lỡ bộ quá xa. Họ làm nên một cặp đôi kì lạ giữa cái thành phố này, bắt kết vào nhau trong cuộc sinh nhai đôi khi chỉ bằng làn khói hương mỏng mảnh mà không gian ô tạp của ban ngày sẽ nuốt chửng, quậy loãng và làm đứt bể tan tành chỉ bằng một cú đạp máy xe.

Tôi cũng từng có những đêm như thằng nhỏ Bắc Kỳ đó, ngơ ngác lêu bêu một góc hẻm lạ quơ chỉ bởi một chậu nhài, một nhánh ngọc lan, hay một bụi dành dành nhà ai lén nở đêm. Những trận du miên kì quái đó đôi khi dẫn tôi dừng lại trước một cổng ngôi gia, lập lòe ánh đèn trái nhót trên bàn thờ, nơi chân nhang đã nguội, và một bình huệ trắng đang phập phồng hơi thở vô hình rất sâu. Cũng như bao dân tứ chiếng đất này, tôi từng hôn Sài Gòn thật sâu để hít thở căng lồng ngực ủ ê làn hương bắp rang bơ quá lửa từ lớp váng ly café tréo ngoe trên ghế bố vỉa hè lúc quá nửa đêm chờ sáng, mà thấy thơm phưng phức những bình minh đục ngầu ảo ảnh, văng vẳng tiếng chuông lễ sớm.

Hoắc hương và đàn hương, hổ phách, hồng tiêu và vạn triệu những thành phần xa xỉ trong một dòng hương Đông Phương cũ kỹ cũng có thể gợi nhớ mùi triều dâng ngoài bến Bạch Đằng. Tôi cùng tụi bạn sống tuốt bên Thủ Thiêm, 3 giờ sáng í ới ngoắc con đò gắn máy phành phạc rẽ làn nước đục ngầu về bên kia mảnh lập thể còn lại của Sài Gòn, khi những lương dân tử tế mệt nhoài đã ngủ rất sâu, và những đôi chân có móng sơn kim tuyến vừa kịp rón rén nhịp gõ gót cao qua những hành lang cư xá. Những phấn sáp được tẩy trôi hay vội vàng xóa bôi nhoe nhoét bởi môi hôn vồ vập, những món trang sức mỹ kí cuối cùng được gỡ bỏ, những vệt nước hoa đã lồ lộ mùi hormone thật thà mệt mỏi. Người ta nghỉ ngơi, trong những căn hộ tân kỳ, thành lớp trong những căn phòng giành cho dân lao động nhập cư, buông tuồng thân ái trong những dãy nhà trọ tồi tàn lòe loẹt, nơi mà khoảng cách bán-mua cuối cùng cũng đã bay hơi.

Nếu Sài Gòn là một loại nước hoa, ở tầng hương cuối, điều khiến người ta luyến lưu dày vò dai dẳng nhất, đó là bởi thứ mùi hương mệt nhoài, giữa những ẩn ức và trưng phô thường nhật: người ta ngửi thấy Chính Mình, trước khi thiêm thiếp bằng an sau thêm một canh ngả nghiêng nữa của Lệ và của Hoa.

017-L

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí Người Đô Thị tháng 06/2015)

bên dưới sớ vải Windowpane

suits4

Nhớ thời áo may guốc thửa…

Tôi vẫn còn nhớ khoái lạc thiêng liêng nho nhỏ rất Sài gòn của tụi học trò, như việc cắc củm xin tiền bỏ heo để trịnh trọng thỉnh về cây bút máy Hero và chơi sang mang cái vật thể vi diệu đó ra cho ông thợ trước cổng trường để khắc lên đó tên mình và một cái hình gì đó nhỏ xíu, thật sến để tâm đắc tận hưởng cảm giác sở hữu hoàn toàn khi tên họ đã được đường hoàng khắc lên thân cây viết máy, tô bằng một lớp nạm nhũ kim óng ánh.
Đó là cái khắc khoải của cảm nhận sự vô tận đến sốt ruột của thời gian khi khấp khởi cầm xấp vải ra tiệm may đặt thửa bộ đồ Tết hay tấm áo dài đi học. Đó là cái hoang mang của những lần chạy ra tiệm để ướm những mảnh vải lên người, cố lờ mờ hình dung ra tấm áo hoàn thiện sẽ ra sao và cái khấp khởi huy hoàng của ngày hẹn cuối cùng khi chiếc áo ấy, nghiêm chuẩn đến từng li, được ốp vừa khít trên đường lượn sống lưng con gái, đôi vai raglan nuột tròn không tì vết.
Tất cả mọi thức khi ấy đều được đặt, thửa ngoài tiệm và phải trải qua những đợi chờ hành hạ như vậy cho đến ngưỡng cuối cùng của khoái cảm sở hữu. Chúng tôi đã chọn những cặp guốc vẽ bông ngoài chợ, chọn riêng cặp quai rồi khấp khởi ngồi ướm chân chờ đo, chờ đóng từng chiếc đinh đồng ngập vào thân gỗ, cho đến khi chiếc gót cao su được gọt mài tinh xảo êm chân, nâng niu tới độ phải e dè bước chân sáo trẻ nít được quà. Chúng tôi, những đứa nhỏ lớn lên từ đống bầy nhí nhố hồi hộp bu quanh chiếc xe ông bán tò he, đứa có tiền mặc lòng vòi vĩnh mọi thức tham lam trong trí tưởng tượng trẻ con, từ con heo hồng cài bông xanh, con gà trống có 7 màu sặc sỡ hay ông Tề Thiên tay cầm thiết bảng thiệt oai. Tất thảy đều có thể được đáp ứng chỉ sau vài phút, dưới ngón tay nhoay nhoáy ngắt bột, nặn hình của người đàn ông mà khi ấy, với chúng tôi như một vị anh hùng.
Những chiếc giỏ xách lục bình, những chiếc nón vải mềm, hay thậm chí cả cặp bông hay chiếc lắc vàng “làm của” đầu đời của con gái mới lớn cũng được thửa đặt ngoài tiệm kim hoàn. Tôi xin cho mình một chiếc lắc, và ông thợ bạc hạ cặp mục kỉnh nghe tôi kể lể về những món tòn teng diêm dúa tôi muốn đính treo vào đó. Đúng ngày hẹn, tôi đến cửa tiệm, ông thợ bạc long trọng lau sạch đôi bàn tay chai sần rồi kéo ngăn tủ gỗ, nhón ra cho tôi một tia nắng vàng quý báu, lóng lánh những chiếc chuông, trái tim, những con mèo con vịt bằng vàng nhỏ xíu tòn teng được đính trên cọng xích đã được đo vừa cườm tay con gái, cùng chiếc thẻ bài khắc hoa mỹ tên tôi.
Và khi mùa Giáng sinh sắp tới, trước những chuyến nghỉ mát lên Đà lạt là những chiếc áo len được đặt đan từ vài tháng trước, tăng bội vạn các thi vị khấp khởi đợi chờ.

Bên dưới sớ vải Windowpane
Trong khi má con tôi sắm sửa quanh năm như vậy thì ba tôi mỗi năm cùng lắm ông chỉ có một hai bận ra tiệm may đồ mới. Những cửa tiệm của những ông thợ già đeo suspenders ngang vai, tay chemise nhàu nhĩ xắn cao quá khuỷu và sợi thước dây màu xác pháo vướt choàng qua cổ. Tôi đứng bần thần trước chiếc kệ lộng kiếng đã ố bụi, xếp san sát nghiêm mặc những súc vải dài từ đen, chàm, beige, và cả màu trắng creme, xanh bleu cho phụ nữ. Tôi hiếu kì chú mục vô bộ khuy manchette và kẹp cravatte mạ vàng đã ố, vài ba chiếc nơ đen bằng satin hồ cứng đã sờn toe hai mép như những hiện vật về thế giới bí mật của đồ tế nhuyễn đàn ông.
Ông bác chủ tiệm ngoắt tay gọi mua cho tôi cái bánh cam làm quà trước sự cự tuyệt của ba, rồi mới yên tâm quay qua đo đo đạc đạc. Tôi leo lên chiếc ghế phó may, đặt chiếc bánh gói trong giấy dầu lên đùi, ngắm nghía cái nghi thức long trọng ấy, hồi hộp tưởng tượng ba trong bộ lễ phục bảnh bao, như kép cine, với bông cẩm chướng đỏ cài trên ve áo.
Tôi đã đếm ngược từng ngày để được cùng ba đi “thỉnh” bộ đồ vía. Ông bác chủ tiệm dường như vẫn chưa hề thay chiếc chemise nhàu nhĩ với cặp suspenders vắt hai vai, hãnh diện hai tay rước bộ comple nặng trịch ra khỏi tủ đứng, nhanh tay gạt mớ nhật trình khỏi bàn cắt rồi long trọng trải tác phẩm màu chàm sẫm trước mắt tôi.
Như một nhà ảo thuật ranh mãnh, ông luồn tay vô ve áo rồi lật ra cho tôi ngắm lớp lót bằng thứ lụa mà theo ông là thượng hảo hạng chằn lót bên dưới lớp vải tweed loại Windowpane mà sau này tôi biết ra đời từ cuối thế kỷ 19 và đã từng tái thịnh vào thập niên 70, trước khi tôi sinh ra.
Tôi thất vọng: nó không hề bóng bẩy như bộ áo đuôi tôm của kép Gable hay mấy vị nhạc trưởng. Ông chủ tiệm cười xuề xòa bảo rằng hàng cổ sam bọc satin đó chỉ hợp với nghệ sĩ hay đại lễ, chớ thương nhân, trí thức bận bóng bẩy coi kì. Ba tôi gật gù tấm tắc khen lớp lụa lót trong thiệt khéo, không lệch nhăn luộm thuộm, không bắt điện với lớp áo chemise kêu rẹt rẹt như mấy hàng vải tổng hợp rẻ tiền.
Đó là lần đầu tiên tôi học bài học của mình về kỹ nghệ dệt may, khi ngỡ ngàng nhận ra cái căn nguyên cốt cách của một món may đo hàng thượng phẩm, ấy chính là cái chiều chuộng khéo léo tỉ mỉ với chính cái thân thể con người bên trong lớp áo, chứ không phải chỉ phụng sự ánh mắt người ngoài ở mặt vải trên cùng, và rằng cái đẹp của một bộ comple đo thửa đó chính là cái bộ khung cốt bởi những coup cắt được tính toán như thể một công trình kiến trúc, làm nên phong thái tôn nghiêm cao quý cho người mặc, phong lưu nhưng khiêm nhường nhã nhặn.
Ở đó, trong căn tiệm của thứ hào hoa ố vàng xộc xệch ấy, tôi tưởng tượng ra những ông hoàng…
Tôi lớn lên như vậy, từ những bữa cơm nhà, những bộ cánh áo đo guốc đóng, những cửa tiệm tàn dư bespoke và giữa những ông hoàng.

savile row

Bản ngã Bespoke và sự khiêm nhượng của tao nhân
Nói tới Bespoke, người ta nghĩ ngay đến con lộ của nếp phong nhã Savile Row, nơi những quí ông Âu châu, những chính khách, thương gia, học giả tìm đến để tôn thờ nghiêm cẩn cái nguyên tắc cốt lõi đặc thù của những bộ Âu phục chuẩn mực, với ni tấc được đo đạc riêng cho từng thân chủ, của những cuộc hẹn tới lui ướm thử những mảnh pattern được ghim đính cho đến khi vừa khít cơ thể, đính lược bởi những chiếc đanh ghim phó thợ, và điển lễ long trọng của ngày hẹn cuối cùng, bộ vía thành phẩm đã được hoàn tất trọn vẹn, chi li tới từng mũi khâu, những panel ngực, lưng, vai ốp mĩ miều hoàn hảo trên cơ thể như một bộ da thứ hai hào nhoáng, thứ mà không một cá thể thứ hai nào trên toàn địa cầu có thể xỏ tay ướm mình hoàn toàn vừa vặn như thế. Trên cả một bộ vía hoàn hảo, đó là dấu ấn cá nhân của cả phong cách, gout thẩm mỹ cá nhân của thân chủ, và dấu ấn tài hoa như chữ ký nét thủ tự của tay thợ đã nắn nót từ đường khâu tay cẩn trọng, nét thửa vải tuyệt tài.
Chính từ cung lộ ấy, phong cách hình thức nam nhân Tây phương được định hình nghiêm ngặt, những yếu nhân hàng đầu cho đến vị giáo sư, những thầy ký thượng lưu được phủ đắp lên một lớp giáp trụ không chỉ che khuất những yếu nhược trong thần thái phong mạo, mà còn thị uy tư chất tôn nghiêm của trang quân tử chuẩn mực Âu châu, những bờ vai rộng, dáng ngực vươn kiêu hãnh và những khống chế tế nhị khiến kẻ khoác bộ vía không thể mặc lòng khoa tay múa chân hay buông thõng tư thế trong giao thiệp.
Cũng từ những ngôi tiệm trên lối lộ lừng danh của những tay kéo già cự phách, những thế hệ làm nên huyền thoại đã gia nhập nền công nghệ thời trang đa sắc toàn cầu với một tinh thần haute couture tôn thờ cá nhân tính, những tuyệt phẩm độc bản cầu kì và lòng hãnh tiến cốt cách quân chủ.
Những đợt đại khủng hoảng toàn cầu khiến những đế chế couture liên tiếp rùng rùng sụp đổ, vụ phế truất ô nhục của Galliano, Lacroix bị bức tử, Saint Laurent đã ra người thiên cổ nơi vườn Majorelle, Versace mất Gianni, đành cam hạ cố đặt mình vào thị trường bình dân xa cạ bằng những phiên bản công nghiệp mang tag giá sặc sụa tinh thần dân chủ… Phe quân chủ của thế giới thời trang đã ngậm ngùi đón nhận cuộc thoái trào bi thảm của những giá trị được tôn thờ và những đại lễ haute couture trở thành những bữa tiệc carnival buồn bã của bữa chợ chiều, khi mà thuộc tính thương mại đã khuất phục nét hoa mỹ của những tuyệt tác may mặc và biến chúng thành những mẹt hàng cháy chợ khi được hạ cố sản xuất rập khuôn dưới hình hài thân thiện hơn, cho một địa cầu của những bộ da được tạo hình hàng loạt.

Đây có phải là bờ vực sau cuối của tôn giáo cá nhân?

Người ta không còn bị thống trị bởi những trường phái coup của những tay kéo thuần chủng Ý Đại Lợi hay Ăng lê nữa, đại dịch globalization xóa nhòa lằn ranh trường phái của những nét dị biệt của những dấu vân tay tài hoa và đặc chủng. Người ta mua những bộ suits được may hàng loạt, những mũi kim dây chuyền số hóa không tì vết, không cả dấu vân tay, và nhân loại được chia thành các nhóm size đánh số hoặc từ S đến XXL,…
Những thương hiệu lên ngôi, người ta đồng loạt khoác lên mình những mẫu tự và tên gọi hàng loạt, những phong cách được định đoạt bởi tính nhất thời của trào lưu và đó là sự kết liễu của những trường phái đã thành bất hủ, và những cặp manchette trắng chỉ còn là nét tàn dư giành cho những buổi hòa nhạc, và để thỏa mãn nhu cầu cá nhân hóa ở mức tối thiểu của thị trường, người ta có những lon nước ngọt in tên riêng và quyền tùy chọn trang trí màn hình điện thoại thông minh.
Và, như một kẻ lạc thời còn lại, giữa lòng Sài gòn, giữa những cuộc đổ bộ mời chào những trào lưu hình thức của màn hình điện thoại được cá nhân hóa, những bao ốp lưng tablet và những nhóm người được phân loại theo size ngoại hình, tôi chợt nhận ra sự giàu có vô biên của những kẻ vẫn có thể chọn thửa một vuông vải ngoài chợ mang ra tiệm, đủ cầu kì đến từng phân li thước thợ và thừa xông xênh dư dả để khấp khởi đợi chờ một lớp vỏ ngoài vừa vặn cho riêng mình, chọn cho mình một cốt lõi yêu chiều ve vuốt trên từng lớp da thân thể hơn cả việc khoa trương cho sự trọng vọng ngoại thân qua sắc hoa nhãn hiệu bên ngoài, chọn tôn thờ châu thân Bản Ngã bằng thứ hàng tơ lụa xa xỉ nhất, những form coup cho một Tư Phong tự tôn kiêu hãnh, và chọn lớp vỏ bọc ngoài cùng bằng những sớ vải thô của thứ hàng tweed kinh điển, phong lưu, nhưng nhã nhặn khiêm nhường.
Bản ngã cuối cùng của bespoke đã nằm lại đó, bên dưới lớp vải lót trong cùng, tự do khỏi ánh nhìn và mọi lời đánh giá, để phụng sự suy tôn điều duy nhất giữ người ta đứng thẳng thớm bên ngoài guồng quay trào lưu đồng hóa, nơi mỗi cá thể được tôn trọng và phụng sự như những ông hoàng đích thực.

suits

huyền sử tài nữ Paris

Trác Thúy Miêu

reutlinger-studio-postcard-depicting-the-dancer-cleo-de-merode-1875-1966

Nàng là gái Paris chánh hiệu, dù có một số tư liệu cho rằng nàng tên thật là Hortense Gervais sinh trưởng tại vùng Bordeaux hay Biarritz. Sinh ra dưới cung Thiên Bình, Cleopatra Diane de Merode còn là ‘con gái Vệ-nữ thần’ dựa trên tín ngưỡng chiêm tinh phương Tây, khiến nàng được bảo đảm đủ mọi ưu chất tài hoa, phong tư kiều mị, nhưng trên hết là tư duy sùng bái Cái Đẹp cùng lòng kiêu hãnh của một trang anh thư dòng dõi trâm anh thứ thiệt, con gái họa sĩ phong cảnh và một cựu diễn viên người Áo. Cha cô, Karl von Merode tự nhận mình là nam tước Freiherr von Merode đến từ một dòng dõi cổ kính tại Bỉ.

Và đây chỉ mới là lần đầu tiên số mệnh lắm khuất tất của nàng liên quan đến vương quốc này.

images (5)

Scandal đầu tiên: Màn thoát y bất đắc dĩ 

Bé Lulu, theo cách gọi âu yếm của song thân dành cho nàng, sớm hé lộ thiên hướng nghệ thuật, được gửi đến học viện Paris Opera Ballet từ lúc 7 tuổi. Và khi mới 11 tuổi, cô bé có mớ tóc mây xoăn tít đã có buổi ra mắt đầu đời trên sàn diễn danh giá của kinh đô hoa lệ.

Tất cả đã hứa hẹn một nghiệp lộ lẫy lừng cho một tượng đài nghệ thuật chuyên chính – nếu như nhan sắc ma mị của nàng đã không mê hoặc cả châu Âu, làm mụ mị mọi họa sĩ, nhiếp ảnh gia, lẫn giới truyền thông lúc bấy giờ, vượt xa tài hoa của đôi chân vũ nữ.

Người ta định danh nàng chính là hình mẫu đầu tiên của khái niệm celebrity trên thế giới – nơi mà phong mạo trội bật, thị hiếu thẩm mỹ cầu kỳ và những cuộc tình lâm ly có thể mang thứ hào quang lấn át cả tinh hoa tài khí.

13 tuổi, tiểu thần nữ Cleo đã là nàng thơ phía sau những họa phẩm bậc thầy của Jean-louis Forain và Edgar Degas. Ba năm sau, nàng đã vang danh khắp kinh đô Paris với mái tóc sơn nữ rối bồng bềnh, chẻ chuẩn chu giữa vầng trán Đồng Trinh, viền bằng những vành xuyến đính đá óng ánh, xổ tràn xuống tận vòng eo không tưởng, dệt thành một chiếc khăn shawl đầy đặn lăn tăn sóng tóc. Người ta ghi dấu dung nhan nàng trên mọi tấm bưu thiếp, cỗ bài và các bích chương quảng cáo. Mái tóc sơn nữ và đôi mắt yêu tinh trong như ngọc của Cleo trở thành một mẫu mực về nhan sắc đàn bà đầu thế kỷ 20, dẫn lối cho những nếp tóc xoăn, mắt mơ viền chì và những đôi môi bé xíu như đinh ghim của Kỷ Ngây Thơ 20’s, với các dải băng trang kim trên tóc, điệu vũ chanson phóng đãng và những chuỗi cườm tung tẩy trên váy flapper.

14cd606ffe2997d6bb58b37f0a020bb6

Nàng được cưng chiều, săn đón, ái mộ khắp nơi, và nghiễm nhiên trở thành giai nhân được chụp và họa hình nhiều nhất trên toàn nước Pháp, mà người ta còn cho là trên cả châu Âu.  Cleo trở thành nàng thơ hiển hiện qua rất nhiều tuyệt phẩm của các danh họa bậc thầy cùng thời cho đến nay vẫn được lưu truyền, làm nên một định hình bất hủ của “thẩm mỹ tiền showbiz” đầu thế kỷ trước.

1d3a0b449b4bcad1e4f7021e22f261d6Alfredo Muller, 1869-1939, cleo de m etching c.903Boldini cleobab59a8a7d7bc63c49eca18d3d2fcdb4

Portrait of Cléo de Mérode Georges Jules Victor Clairin (Fr843-919)

Danh họa người Áo Gustav Klimt cũng từng là một nạn nhân chung của cơn sốt Cleo. Nàng xuất hiện rất nhiều trong các tuyệt phẩm ma mị của ông, và về sau, bộ phim mang tên Klimt năm 2006 còn hiển hiện ít nhiều câu chuyện của danh họa và nàng vũ nữ Pháp qua nhân vật “Lea de Castro”.

Năm 1895, Toulouse-Lautrec vẽ chân dung Cleo. Năm tiếp theo, đến lượt nhà điêu khắc Alexandre Falguière rơi vào cơn sốt Cleo, làm nên cả một cuộc náo loạn nhỏ tại Paris Salon khi ông vén tấm trướng che trên tác phẩm mới của mình, phô bày bức tượng Cleo khỏa thân đầy mê đắm. Bản thân nàng thơ yêu kiều cũng bị chấn động trước phiên bản trần truồng mỹ diệu của mình. Trong bức thơ gửi chủ biên tờ Le Gaulois, nàng tha thiết phủ nhận mọi tin đồn rằng Falguiere đã sáng tác dựa trên mẫu thật: “Rất mong ông vui lòng đính chánh lại cùng độc giả của quý báo rằng tôi không hề là người mẫu nguyên bản cho bức tượng của ông M.Falguiere, sự khác biệt có thể được minh chứng nếu lưu ý quan sát đầu của bức tượng”.

họa phẩm Cleo in the Salon của Carlos Vasquez y Obeda minh thuật lại scandal đầu tiên của nàng với bức tượng khỏa thân

Nhưng hẳn nhiên, không ai quan tâm đến cái đầu của bức tượng Cleo khỏa thân cả!

Sau biến cố đình đám này, nàng rút lui khỏi vùng hào quang danh vọng lẫn ánh đèn sân khấu, với lời giải thích là do nỗi lúng túng khổ sở khi chịu đựng những ánh nhìn lia khắp châu thân nàng và liên tưởng đến “bức tượng trần trụi kì khôi nọ”.

Bức tượng định mệnh The Dancer của Alexander Falguiere hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Musée d’Orsay.

garv_07b

Người đẹp bịt tai và lịch sử mốt tóc chignon

Sau vụ “bảo vệ môi trường” bất đắc dĩ, thị dân Paris háu tin vẫn có cách xoay sở để sản sinh thêm những tin đồn khi nàng vắng mặt, và ‘tác phẩm’ tin đồn mới nhất của họ khi này là nhưng lời xì xầm độc mồm rằng người đẹp de Merode trên thực tế không có… tai! Sự thể bắt đầu từ mốt tóc chignon của Cleo, với mái tóc dày che phủ hai bên khuôn mặt búi lại phía sau.

images (1)

Quả là một mánh khóe thần sầu, vì ngay sau đó nàng Cleo tội nghiệp buộc lòng phải tái xuất trở lại hòng minh chứng sự tồn tại đầy đủ của các cơ quan nghe nhìn trên cơ thể mình. Cuống quýt đối đầu với tin đồn quái gở, nàng xuất hiện ở khắp mọi nơi, tại nhà hát, đi dạo miệt mài trên các phố lớn trung tâm, ngược xuống Bois, tóc xõa được vén cao, lộ rõ một đôi tai đăng đối bình thường như hàng vạn đôi tai thị dân háu chuyện khác. Và từ đó, mọi quý bà quý cô Paris hoa lệ đều nhất loạt bới đầu theo kiểu tóc chignon. Mốt này về sau kéo dài đến cực thịnh vào những năm 1920.

images (8)

Tình lang phiền toái và kỳ tích ballet bị lãng quên

Tuyệt nhiên, những biến cố ngoạn mục này không hề làm phương hại đến danh tiếng Cleo, mà trái lại, như hệ quả tất yếu của mọi cơn sóng của sắc màu dư luận, Cleo càng sở hữu một hấp lực khó cưỡng đối với sự hiếu kỳ của công chúng. Nói ngắn gọn lại là nàng nổi như cồn.

Vào cuối năm 1895, một sự kiện lẫy lừng đã xảy ra, kết thúc đầy cao trào cho một năm đầy ngoạn mục và ám ảnh phần số Cleo mãi về sau. Vua nước Bỉ, hoàng đế Leopold Đệ Nhị, vốn là một tay hào hoa khét tiếng, tuyên bố mượn dịp công du thương lượng về quyền lợi thuộc địa để đến kinh đô hoa lệ và thân chinh khám phá sự thật về tiếng tăm tài sắc giai nhân trứ danh Cleo de Merode trong một buổi diễn của nàng. Nhiều tư liệu lẫn tin đồn thị dân thời bấy giờ cho rằng vũ đoàn nhà hát nhạc vũ kịch Paris chính là đại bản doanh thanh lâu hạng sang trên đỉnh thượng lưu của một Paris phóng đãng. Giới săn tin mau mắn đúc kết một mối tương quan giữa thói hào hoa của vị quân vương ngoại quốc và nhan sắc của nàng vũ công đang gây sốt toàn thành.

images (9)

Khắp kinh thành Paris, trong mọi phòng trà lẫn phòng the, người ta hau háu truyền tụng những tình tiết lâm li lẫn dung tục về mối dan díu giữa nàng kỹ nữ vang danh 22 tuổi và vị khách làng chơi vương giả hơn nàng ngót nghét 40 niên. Người ta nói rằng Cleo chính thức trở thành gái bao hạng sang, món đồ chơi ưa thích mới của vị quân vương phong tình, người ta trầm trồ truyền tụng về những món quà sang trọng nàng được dâng tặng, về toa riêng đặc biệt được thiết kế riêng cho Cleo và lắp thêm vào đoàn hỏa xa hoàng gia Bỉ để nàng tháp tùng nhà vua trên đường kinh lý. Họ, rất rất lâu trước khi Brat Pitt và Jolie trở thành Bragelina, được gọi chung bằng một cái tên sặc mùi showbiz: Cleopold!

Kin Leopold and Cleo De Merode taken from the Taschen book Art Nouveau

Trên thực tế, cho đến tận thời điểm này, Cleo vẫn chịu sự giám sát khắc nghiệt của thân mẫu. Bà cựu minh tinh cùng con gái kiên quyết phủ lập mọi tin đồn liên quan đến vị vua hoang đàng, khẳng định rằng thứ duy nhất nàng từng nhận của vị khán giả trứ danh này là những bó hoa hồng chúc mừng vào sau các buổi diễn. Các tòa báo vẫn nhiệt tình loan tiếp thông tin tỉ mỉ đến từng chi tiết về chuỗi ngọc trai trắng muốt được vị quân vương gửi tặng Cleo, và về căn hộ huy hoàng ngài dùng để cất giữ nhân tình. Trong khi đó, Cleo vẫn ngày ngày lên xuống 5 tầng lầu để đi về căn hộ nơi cô vẫn sống cùng mẹ như một con chiên Công giáo ngoan đạo. Tuy vậy, những lời quy buộc vẫn hấp dẫn đám đông hơn. Trò tiêu khiển lỗ nhĩ của đám thị dân háu chuyện đã đến hồi tai quái, Cleo đào tẩu khỏi Paris để đến St.Petersburg, nơi nàng rơi tiếp vào những tin đồn truyền khẩu về lòng ái mộ bất thường của các bậc vương tôn dưới thời Sa Đế. Những lời xì xầm truyền tụng, những tình tiết li kỳ và phóng túng đã trở nên ồn ào lấn lướt cả kỳ tích của lịch sử nghệ thuật múa ballet: nàng đã trở thành nữ vũ công ballet đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật múa diễn cùng bạn diễn nam là Rupert Doone tại nước Nga.

Cleo de Merode-10

Cleo lại trở về Paris để chứng kiến tiếng tăm của nàng đã lẫy lừng hơn gấp bội, tỉ lệ thuận với mức thù lao cho mỗi lần xuất hiện trên sân khấu. Khôn ngoan và chai sạn hơn rất nhiều sau những biến cố vừa trải, Cleo quyết xem đó là một cơ hội vàng. Nàng nhận một khoản thù lao khổng lồ để xuất hiện tại nhà hát hí kịch Folies Bergere – điều mà chưa vũ công ballet nào từng làm trước đây. Cleo ngạo nghễ xuất hiện và yêu kiều bước qua mọi đàm tiếu bằng đôi chân vũ nữ, điều này mang lại cho nàng một lượng khán giả ái mộ khổng lồ chưa từng có. Vài tháng sau, tờ The Éclair phát động cuộc bầu chọn ra người đàn bà đẹp nhất Paris. 130 tấm ảnh được trưng bày trong một gian phòng của bản doanh tờ báo cho mọi thị dân đến thưởng lãm và bình bầu. Cleo đoạt danh hiệu tuyệt sắc giai nhân với số phiếu bầu gần một nửa trên 7000 phiếu bầu.

cleo11_2

Cho đến tận bây giờ, mối dan díu với hoàng đế Leopold vẫn là scandal được nhiều người truyền tụng nhất, làm nên vầng hào quang về tiếng tăm bậc nhan sắc đã ra người thiên cổ. Thám tử đặc vụ Xavier Paoli đã gặp gỡ với Cleo sau khi tin về mối tình vụng trộm đã kịp lan truyền khắp nơi. Ông ghi chép lại trong hồi ký mình, chứng thực lời tạ lỗi của đích thân nhà vua Bỉ: “Cho phép tôi thể hiện lòng thành tâm ân hận, bởi những quy buộc nhân gian dành cho tôi đã làm thương tổn danh phẩm quý cô. Than ôi, chúng ta đã không còn được sống trong thời cuộc nơi mà lòng ái mộ của một vị quân vương không hề là một tai họa! Cuối cùng, tôi chỉ là một ông vua quèn” (nguyên văn: I am only a little king)

Kỹ nghệ lancée của thần nữ Nam Vang trên giọng đờn Gia Định

2 năm sau biến cố bức tượng khỏa thân và tin đồn… không tai, cùng mẹ và người quản lí tiệm hí kịch Folies Bergere, khi này cũng là người đại diện của nàng, cùng 9 rương tư trang và một chú chó cưng, Cleo đến Tân Thế Giới lưu diễn trong suốt một tháng tại Nữu Ước.

Mặc dù trước đó, cả một chiến dịch lót đường cho người đẹp Pháp đã được tiến hành, với những bưu thiếp mang hình ảnh của nàng được bày bán khắp mọi quầy báo, nhưng chuyến lưu diễn đã không thành công như kì vọng. Giới truyền thông ghẻ lạnh trong những bài bình luận hờ hững đầy mai mỉa, ca tụng nhan sắc người đẹp Paris nhưng miệt thị vũ đạo cũng như diễn xuất của nàng. Vào ngày Cleo ngán ngẩm rời Hoa Kỳ, tờ Boston Globe bồi thêm một cú tiễn biệt bằng việc gọi nàng với hỗn danh “The Frost” theo lối chơi chữ quái ác, vừa có nghĩa là “đóng băng”, vừa mang nghĩa lóng lối Mỹ là “thất trận”. Mặc nhiên, Cleo tái xuất Paris, rủng rỉnh 9,000 Mỹ kim thù lao từ chuyến lưu diễn, tức là gấp 40 lần thu nhập hàng tháng của chính nàng tại Paris.

Năm 1899, thân mẫu Cleo qua đời, cũng là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành hoàn toàn cho bản lãnh Cleo. Nàng trở thành một nữ thương gia thực thụ biết khai thác hình ảnh và tiếng tăm bản thân ở mức tuyệt nghệ. Nàng tỏ ra nhã nhặn và lịch lãm trong mọi cuộc phỏng vấn, và khéo léo điều khiển báo giới lẫn dư luận và tình cảm công chúng theo hướng có lợi nhất. Các phóng viên được vời tới có mặt tại các cuộc họp giữa nàng và ban giám đốc nhà hát, cho phép họ tiến sâu vào quan sát hậu đài kì thú của công nghệ giải trí Paris,  nơi nàng thi triển mọi tinh hoa tài khí ở cả tư cách diễn viên lẫn trong mưu lược cổ xúy danh tiếng cá nhân. Những lúc nhàn rỗi, Cleo chơi dương cầm (nàng được biết là một cầm thủ hàng cự phách dù không bao giờ chơi đàn trước công chúng) hoặc đạp xe rong ruổi những ngõ đường vắng vẻ ở ngoại ô Paris.

be0d5f7d3ea49aca71cae05a3025f96a

Trong những năm tiếp theo, Cleo thật sự trở nên một danh tiếng minh tinh ca vũ tầm quốc tế, nàng lưu diễn xuyên lục địa và nhiều lần danh giá tái xuất Hoa Kỳ. Vua Xiêm Chulalenghorn khi đến Paris đã được nàng ưu ái dàn dựng riêng một chương trình nghênh đón, bản thân Cleo xuất hiện trong bộ phục trang diễm lệ theo lối hương xa, mình dát vàng, kim miện có chóp nhọn như các thần nữ trong tín ngưỡng Đông phương. Nàng uyển chuyển múa theo lối truyền thống của vương quốc Xiêm nhưng được thêm thắt cải tân bằng phong cách Parisian chánh hiệu.

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Buổi diễn được hoan nghênh rầm rộ, công chúng Âu châu nức lòng trước vẻ đẹp hương xa khi được thể hiện trên trang tuyệt sắc Paris, sự pha trộn kì diệu giữa đôi mắt như cặp ngọc lưu ly đặc thù của người phương Tây, mớ tóc digan dầy dặn xõa dài trong phục trang Đông phương lạ mắt. Từ đó, Cleo liên tiếp ra mắt công chúng trong những màn múa mang âm hưởng Á đông, trong các bộ trang phục từ Cao miên đến Chà và và luôn được nức lòng ái mộ như một sứ thần thân thiện sau cách sách lược chánh trị hảo hữu của chánh quyền Phú Lang Sa.

60cf680627cf61368e153e7a4c60f3c0

Năm 1900, người ta cho vời ban đờn An nam đến Paris phô diễn nét văn hóa của quốc gia thuộc địa. Để thu hút công chúng và sự quan tâm của truyền thông, nữ hoàng nhảy múa de Merode được mời xuất hiện biểu diễn trên nền nhạc tài tử An Nam. Nàng xuất hiện trong những món trang sức theo lối cung đình Nam Vang và diễn tấu một vũ kịch truyền thuyết được cho là của người Chà Và, khi này được người chánh quốc lờ mờ coi là một nền văn minh Đông Dương nhất thống. Màn diễn tấu được đặt tên là Vũ Khúc Đông Dương dù sai trệch với tinh thần văn hóa An Nam nhưng lại tình cờ phối hợp mượt mà hơi hướm Cao Miên trên giọng đờn của ban tài tử Gia Định, và sự xuất hiện của Cleo đã khiến buổi diễn nổi tiếng đến mức nhà nước Phú Lang Sa chọn in hình trên con tem lưu hành khi ấy. Đây cũng là cơ duyên cho các nhà nghiên cứu về sau tìm lại bản ký âm thất truyền của bài đờn huyền thoại.

play-it-again

1 franc cho thanh danh thần nữ chốn hoàng tuyền

Tháng Sáu 1902, trên đỉnh vinh quang của các tiết mục múa mang màu sắc phương Đông, Cleo đến Anh quốc lần đầu, với trình mục gồm toàn bộ các bài diễn đa chủng đình đám của mình trong đợt lưu diễn kéo dài 2 tuần liền tại nhà hát Alhambra Luân-đôn gồm các điệu vũ âm hưởng Boheme, Hi lạp, Y pha nho và Cao miên. Năm 1904, khi lưu diễn tại Thụy điển, Nam tư, Đan mạch, và đặc biệt ghi điểm lẫy lừng tại Stockholm với những đám đông ái mộ nô nức tụ tập trước rạp diễn phong tỏa mọi con đường chỉ để nhìn tận mặt giai nhân. Hồi hương sau chuyến lưu diễn ngây ngất, Cleo tung cho chủ biên tờ Figaro tất thảy 3000 bức thơ tình thu thập được từ chuyến đi. Rất nhiều trong số đó được chọn đăng tải dài kì trên nhật báo.

images (13)

Nhưng về sau, Cleo giảm dần mật độ lịch trình diễn. Mặc cho lợi nhuận và lòng ái mộ vẫn ngày lên cao, Cleo dần tỏ ra đặc biệt thích thú với điêu khắc – chính bộ môn nghệ thuật đã oái oăm ghi dấu ba đào vào số phận và sự nghiệp của nàng năm 1895. Nàng thư thái và tĩnh tại khi say sưa với những bức tượng nhỏ hình các vũ công, đàn chiên, con giống ngộ nghĩnh… Những món thủ công này đều được rao bán với giá khá đắt và mang lại cho Cleo một khoản thu nhập đáng kể.

Cleo vẫn thi thoảng tái xuất sàn diễn cho đến tận sau tuổi 50. Bà chuyển về sống trong một biệt thự ven biển vùng Biarritz mà nhiều tư liệu cho là cố hương của bà. Nơi đây, bà dạy múa cho trẻ em để khuây khỏa nỗi nhớ nghề cho đến tận tuổi 80.

Cleo 4

Ngay cả sau khi lui về ẩn dật, nghiệp mệnh nữ chúa tin đồn vẫn không buông bỏ Cleo. Năm 1950, nữ văn sĩ Simone de Beauvois, phu nhân nhà biên kịch và phê bình Jean-Paul Sartre tung ra cuốn Le Deuxieme Sexe viết về gái bao hạng sang, trong đó, bà Beauvois có nhắc lại những sủng ái đặc biệt của vua Leopold giành cho ‘ả điếm hoàng gia’ Cleo de Merode. Cuốn sách cũng nhắc lại giả thuyết xuất thân thôn dã của Cleo và gợi ý rằng rất có thể Cleo đã tự nhận theo dòng dõi thế phiệt de Merode để cổ xúy danh giá bản thân. Tức nước vỡ bờ, Cleo khởi kiện, đòi bà văn sĩ phải bồi thường 5 triệu franc mới nghe. Nàng vẻ vang thắng kiện, nhưng cũng chính trong quá trình nghị án, người ta nhận ra rằng nàng cũng chính là bàn tay đạo diễn phía sau rất nhiều tin đồn về bản thân mình trước đây. Do đó, tuy thắng kiện, nhưng Cleo chỉ được hưởng một franc cho các tổn thất tinh thần và quy định dỡ bỏ mọi thông tin thiếu cơ sở có thể gây phương hại đến nàng trong mọi ấn bản về sau của cuốn sách đình đám nọ.

Như những ngày đầu sự nghiệp đầy tăm tiếng, cuối cùng, Cleo de Merode trong cuộc ẩn dật cuối cùng vẫn là người đàn bà chạy đuổi theo những cuộc phân bua vô tận, nàng vẫn là cô vũ nữ viết lá thơ thanh minh với tòa báo, hoặc mỏi mòn trong những cuộc bát phố xuôi ngược phố lớn Paris để xõa tóc trưng bày một đôi tai trọn vẹn. Sau biến cố với vụ kiện bà Beauvois, năm 1955, Cleo phát hành tự truyện Le Ballet de mavie (tạm dịch Vũ Điệu Đời Tôi), như một lần cuối cùng giành quyền lên tiếng cho chính bản thân mình, để nói những gì nàng cho phép thế giới lắng nghe.

069fc4e06792e02ebddec797ae471d05

Cleo qua đời ngày 17 tháng 10 năm 1966, yên nghỉ tại nghĩa trang Père Lachaise. Phía trên mộ phần Cleo là bức tượng chính nàng đang khóc than thân mẫu.

Lúc còn sống, de Merode đã kết hôn nhưng không có con. Theo tin tức trên các báo chí trong suốt cuộc đời sự nghiệp của nàng, thì de Merode còn đính hôn trước đó vài lần, trong đó có một bá tước Nga, một triệu phú Hoa kỳ, công tước vùng Manchester (vì sau bị ngăn chận bởi bà ngoại của ông này), một điền chủ Pháp, M.Reldoyen, một quý tộc Ba lan, Sigismund Malensky, và bản thân hoàng đế Leopold đệ nhị, sau khi hoàng hậu Marie Henriette qua đời. Hẳn nhiên, các nguồn tin của báo chí thời đó vẫn hoàn toàn không có cơ sở chính xác, dựa trên các tiểu tiết mờ nhạt làm căn cứ. Từ phía bản thân, lúc sinh thời, Cleo chỉ thừa nhận 2 cuộc tình lâu bền nhưng thê lương, một người mắc bệnh thương hàn qua đời, và người thứ hai là một học giả và điêu khắc gia Y Pha Nho đã bỏ rơi nàng theo một người đàn bà khác. Nhưng danh tánh và chi tiết về 2 mối tình này cho đến nay vẫn là những bí mật nàng mang theo xuống tuyền đài.

Cleo_de_Merode_by_SUDOR

Tổ nghiệp Celebrity và sự im lặng cuối cùng

Năm 2012, 46 năm sau khi Cleo cuối cùng cũng về tới chốn ẩn dật sau cuối chốn hoàng tuyền, khi thế giới nàng bỏ lại sau lưng đã hoàn toàn bị chi phối bởi quyền lực truyền thông và thảm đỏ, Michael Garval trở thành nhà “showbiz học” khi xuất bản công trình chuyên khảo đầu tiên bằng Anh ngữ về hiện tượng ghi dấu sự trở mình của thị phi toàn nhân loại vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 qua hiện thân nữ thủy thần kiều mị, cuốn sách mang tên Cleo de Merode and the Rise of Modern Celebrity Culture (tạm dịch Cleo de Merode và Sự Trỗi Dậy Của Văn Hóa Người Nổi Tiếng). Garval đã ghi chép lại công trình nghiên cứu, phân tích của ông đến từng ngóc ngách xảo thuật lancée phía sau ánh hào quang của nhan sắc và phần số tài hoa, đánh dấu sự bắt đầu cho một nền kỹ nghệ thực thụ về sau của thế giới, nơi các nghệ sĩ chân chính trở thành các minh tinh.

Sẽ không ngoa nếu lịch sử nghệ thuật trình diễn và công nghệ lancée được chia ra thành giai kỳ tiền và hậu Cleo, một khi tiếng tăm của nàng làm nên một cú chuyển dòng toàn phần về khái niệm nổi tiếng, giá trị của hiệu ứng hình ảnh, yếu huyệt của truyền thông và quyền lực của những tin đồn. Công trình nghiên cứu của Gavral đi sâu vào phân tích những cuộc canh tân mang tính xã hội và công nghệ đã khiến thế giới đi đến hình thành một xã hội hiện đại được dẫn dắt bởi các vị lãnh tụ đỏng đảnh đầy thói tật của chính trường thảm đỏ. Trong đó, Merode chính là một trong các tượng đài tiên phong đầu tiên, giữa tâm bão ái mộ và trải thảm đỏ huy hoàng dưới những trận mưa đá được ném ra từ công luận trong suốt cuộc đời nàng.

74c8a6b3140b1ea2322f2760b4557310

Mặc dù trước Merode, nhân loại vẫn luôn có những trang nhan sắc khuynh thành, những cuộc dan díu vụng trộm éo le đi vào huyền thoại, nhưng bước ngoặt lịch sử khi loài người phát minh ra kỹ thuật in ấn và nhiếp ảnh đã tạo nên hình thái thô sơ nhưng đầy quyền lực của truyền thông và báo chí.

Chính những tấm bưu thiếp ghi lại nhan sắc Cleo trong các bộ phục trang hương xa hoang đường của các vở múa Đông phương đã ghi dấu ấn và lưu giữ minh chứng cho vẻ đẹp bá mị vượt thời gian của một Cleo de Merode danh bất hư truyền. Nhưng với kỹ nghệ in ấn và truyền thông, vẻ đẹp vô ngôn trên các tấm bưu thiếp đã trở nên sống động với những chi tiết riêng tư đầy khuất tất, những thói tật phóng đãng li kỳ đã cho công luận một câu chuyện giật gân đằng sau nhan sắc thiên tinh. Chân dung truyền thông hình thành, cô ả đẹp đến vô thực với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ vừa được nhiếp ảnh đặt lên bệ thờ nhan sắc, vừa được hả hê lôi tuột xuống tận đáy của án đa dâm hạ tiện và những cuộc trác táng phong lưu. Công chúng có cả một màn bi hài sống động li kỳ hơn bất cứ vở diễn nào trên sân khấu đại hí trường, bởi Merode tồn tại, hiển hiện, chiều chiều bát phố khắp kinh đô với mái tóc vén cao, tuyệt vọng phô trình đôi tai nguyên vẹn.

Sự phối hợp của hai nền kỹ nghệ này tôn vinh người đẹp, nhưng không cho phép nàng hóa thánh, hả hê độc địa phơi lộ chuyện riêng tư của nàng, nhưng lại cùng lúc đặt lên vầng trán nàng ánh hào quang nóng bỏng của mọi sự chú ý hiếu kỳ. Ngôi nữ hoàng thị dân tự lập đã được hình thành nên như vậy, công chúng hoặc yêu nàng, hoặc nghiện ngập trong những câu chuyện đầy ác ý về nàng. Truyền thông trao cho họ một quyền lực mới, nơi họ xộc thẳng vào phòng ngủ của người đàn bà đẹp, khoái trá tốc từng lớp xiêm y hào nhoáng của tiết hạnh và nhan sắc để lần mò vào từng chi tiết sống động nhất, để hả hê tiếp cận thịt da có thật của hình hài diễm ảo in trên bưu thiếp: “Nàng cũng như ta, tham dục, đa mưu và đầy khiếm khuyết”

cleo merode006_2

Với thói háu tin theo từng tờ nhật trình, lần đầu tiên thị dân nếm mùi quyền lực và thưởng thức màn bi hài kịch lâm li nhất do chính họ đạo diễn và tham gia, kéo dài đến hàng chục năm, ngay cả sau khi Cleo đã già nua, mệt mỏi và trốn lánh vào tuổi già cô tịch.

Màn kịch vẫn quá chừng hấp dẫn ngay cả khi cô đào chánh đã toan về già và nhan sắc thanh xuân cùng các phiêu lưu tình ái chỉ là những tro cốt cũ kỹ được tái hồi khai quật mua vui cho hậu thế. Như thể một kịch sĩ tài ba đã đi khuất vào cánh gà, thì những tiếng vỗ tay reo hò phấn khích vẫn hồi hồi điệp điệp vang lên, róng riết đòi hỏi thêm một đôi lượt tái xuất của bóng vía tài tình, níu dài âm hưởng giật gân kì thú.

Nhiều thập niên qua đi sau nhiếp ảnh và truyền thông, chính bước ngoặt kỳ vĩ của nhân loại bước vào nền văn minh internet đã khai quật lại đại dịch Belle Epoque trong một diện mạo hoàn toàn mới: những đoạn ghi hình phòng the gây cấn của các minh tinh tài tử, những phát ngôn thường nhật ngô nghê hay xốc nổi, những chi tiết li kỳ đầy mùi thịt da sống sượng… Trong đó, huyền thoại Cleo được lưu truyền với tốc độ mãnh liệt hơn như những di tích của những ánh hào quang celebrity đầu tiên của nhân loại. Những tin đồn cũ được nhặt nhạnh và tổng hợp lại, những tấm bưu thiếp của hơn một thế kỷ về trước được tái bản và số hóa – Cleo de Merode trở thành một thứ di sản chung chạ của những tín đồ Mỹ giáo và những con nghiện tôn thờ bái vật celebrity xuyên thế kỷ.

il_570xN.550085435_qp97

Chính qua Merode, Michael Garval đã tài tình tái hiện thời cuộc văn minh Belle Epoque trong bức biếm họa của ngôn từ, với những cơn sốt của văn hóa thị dân đã bồng bế tô vẽ cho de Merode và đẩy nàng lên đài hiến tế như một con cừu làm cống lễ thần linh. Vì sao nàng trở thành Kẻ Được Chọn? Cơn sốt thẩm mỹ thuộc địa hương xa trong thời cuộc chánh trị của các mẫu quốc thực dân, kết hợp cùng các phát kiến khoa học, sự phát triển của công nghệ nhiếp ảnh, in ấn và truyền thông đã hợp nhất tại khúc quanh định mệnh có Nàng, để cùng làm nên một trong những quả bom truyền thông giải trí đầu tiên trên thế giới. Và từ đó, người ta có Monroe chết cô độc trong cuộc tình với đệ nhất chính khách, James Dean không toàn thây giữa xác xe vặn vẹo, một linh hồn Presley mãi không siêu thoát, Lennon gục ngã trước họng súng tín đồ bái vật celebrity và Diana không toàn thây trong chuyến xe tử thần đào thoát bão flash paparazzi.

Giới yếu nhân thảm đỏ trở thành bàn cờ người với các quân cờ là những hình nhân tuyệt mĩ bị lột trần sống sượng như soi chiếu dưới ống kính truyền thông, thỏa mãn giấc mơ hoang đường của đời sống thị dân đang nhàm mòn dần đi dưới tốc độ kỷ nguyên công nghiệp: giấc mơ của khả năng nhìn xuyên qua những bức tường tư dinh tráng lệ và mọi lớp xống áo hào hoa, và truyền thông như vị thánh cứu rỗi, xoa dịu nỗi khốn cùng bằng lời an ủi “Tất cả họ, những kẻ đội hào quang, phía sau cánh cửa khép kín, đều trần tục như tất thảy chúng ta”.

Các ngôi sao giải trí mua vui cho công chúng của mình ngay cả bên ngoài màn bạc, trên các bãi biển cá nhân, và ngay cả sau khi chết.

Và Nàng, cho đến ngày nay, xuyên thế kỷ và màn hình máy tính, với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ, vẫn là hiện thân của cơn sốt khởi thủy niềm si mê bái vật với những huyền thoại ồn ào.

Ở miền ẩn dật sau cùng, nơi những tiếng ồn thị phi không còn nghe thấy được, lần đầu tiên và duy nhất, Cleo được trả về, thanh thản và bằng an với những sự thật của riêng nàng, nằm sâu dưới nấm đất Père Lachaise và một bức tượng câm.

402dcd1e30024381f227313a83cf2f88

BOX:

Ngày 27 tháng 09, 2013, nhân dịp kỷ niệm 138 năm ngày sinh Cleo de Merode, buổi ra mắt cuốn sách khảo cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và Cải lương của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp tại Việt Nam đã là lần đầu tiên bản múa huyền thoại của Cleo được tái dựng, qua trích đoạn Vũ Khúc Đông Dương trên nền nhạc bản kí âm cổ xưa nhất tìm thấy được trong lịch. Cơ sở dữ liệu đầu tiên của hai nhà nghiên cứu chính là con tem của nhà nước Pháp lúc bấy giờ in hình Cleo de Merode trong trang phục cung đình Nam Vang cùng ban đờn của nghệ nhân Nguyễn Tống Triều tại buổi trình diễn đờn ca tại tử ở Nhà Hát Đông Dương năm 1900.

Tình cờ, tác giả đã chính là người mà nhạc sư Nguyễn Lê Tuyên nhờ thực hiện phần phục dựng bài múa, tái hiện hình ảnh Cleo de Merode vào ngày ra mắt cuốn khảo cứu, cũng chính là vào sinh nhật lần thứ 138 của bà. Trong một sự tình cờ, hậu duệ của bài múa này, tức tác giả, là người sinh sau bà đúng 100 lẻ một đêm. 

DSC_5609

Không đầy 3 tháng sau đó, vào 15 giờ ngày 5 tháng 12 2013, đờn ca tài tử chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đoạn phim tư liệu của nhà làm phim Huy Moeller ghi lại quá trình tái dựng vũ khúc đầu tiên của nhân loại trên nền nhạc đờn ca tài tử sẽ được công chiếu tại Việt Nam vào tháng Giêng 2014 tại trường Điện ảnh Quốc tế Sài gòn và Viện Trao đổi Văn hóa Pháp IDECAF.

Dự án phim Việt Nam đầu tiên về Cleo de Merode và đờn ca tài tử cũng đã được nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh hoàn tất khâu kịch bản và trong quá trình kêu gọi đầu tư. Đây cũng là dự án điện ảnh đầu tiên của Việt Nam về di sản đờn ca tài tử, và cũng là phim điện ảnh đầu tiên trên tái hiện lại hình ảnh bà chúa tin đồn đầu tiên trong lịch sử nền công nghệ giải trí thế giới. 

cleo_de_merode_60

hồ sơ mang bí số 007

timothy dalton

Jasmine nOir

Đàn ông âm thầm muốn đá cho gã một cú, đàn bà âm thầm mơ tưởng về gã, con nít muốn được như gã. Tất cả những điều đó đều quá ồn ào, hào nhoáng và nguy hiểm cho một điệp viên.

Nhưng đây không phải là một điệp viên bất kì. Điệp viên mang bí số 007 thuộc Cục Tình Báo Anh.

“Bí số” ấy không có gì là bí mật với quá nhiều thế hệ khắp nơi trên thế giới, người ta đều có thể vanh vách gọi tên cúng cơm của gã, theo một giọng Shakespearean đầy kịch tính:

“The name is Bond – James Bond!”

007s

Được cha đẻ là nhà văn Ian Fleming đặt tên theo nhà điểu cầm học người Caribe mà bản thân ông ngưỡng mộ. Về sau, khi gặp gỡ bà quả phụ của ông Bond, Fleming tán tụng “tôi không ngờ một cái tên ngắn cụt, phi lãng mạn, đặc sệt Anglo Saxon, nhưng cực kì nam tính này chính là cái tên phù hợp nhất. Nên tôi cho một James Bond khác ra đời”. Về sau, Fleming thú thật, có phần thẳng thắn hơn, với tờ New York Post rằng “Tôi muốn gã là một tay Anglo Saxon thô thô đần đần một chút, và cái tên cộc lốc này chính là cái tên đần nhất mà tôi tìm ra được”.

Về sau, cái âm thanh cụt lủn ấy đã làm nên lời thoại ngắn ngủn, nhưng đầy khẩu khí cao ngạo làm nên ấn tượng sâu sắc lừng danh trong lịch sử điện ảnh thế giới: “The name’s Bond – James Bond”.

James Bond được xây dựng dựa vào thời kỳ Fleming hoạt động tại Cục Tình Báo Hải Quân trong đệ nhị thế chiến. James Bond là sự hợp nhất của những mẫu hình sĩ quan phản gián và biệt kích mà ông đã từng gặp. Nhưng hơn hết, ông gửi gắm vào nhân vật này cả những nét rất chân thật về bản thân, từ sở thích khoái ăn trứng khuấy, đến mọi nhãn xà bông, nước thơm cạo râu mà ông ưa dùng. Các chi tiết về nghiệp vụ tình báo dựa trên kinh nghiệm có thật, cho đến tên của những bạn học hồi nhỏ, người tình, người thân của Fleming cũng được đưa vào để làm nên thế giới của Bond.

Naval-Commander-Ian-Fleming

Fleming muốn Bond có một ngoại hình của ca sĩ Mỹ quốc Hoagy Carmichael nhưng ngầu hơn một chút. Chàng có mái tóc đen dày mạnh khỏe, khóe miệng khắc nghiệt và đôi mắt có ánh thép. Chàng có một khiếu hài hước duyên dáng và lạnh lùng, một dòng máu Scotland sáng giá, mẫu thân sở hữu một nhũ danh vân vi cầu kì là Monique Delacroix đến từ Thụy Sĩ, và thân phụ là ngài Andrew Bond ở Glencoe, Scotland.

Hoagy Carmichael

Bond và cuộc đời bí ẩn của chàng không có một thông tin gì về ngày sinh nhật. Về sau, John Pearson chấp bút nên một hồ sơ chính thức cho chàng, mặc nhận ngày 11 tháng 11 năm 1920 là ngày chào đời của James Bond, trong khi John Griswold là sau đó một năm, vào ngày 11 tháng 11 năm 1921.

Tuổi tác, điều đó chưa bao giờ quá quan trọng đối với bản thân James Bond, một khi tay chân vẫn đánh đấm ngon lành, tình ái miên man, và những bộ âu phục, những chiếc đồng hồ vẫn cực kì hợp mốt.

Từ chiếc cánh gà Beretta đến tuyệt tác DB5 trên tử địa Skyfall

Như tay hiệp sĩ cầu kì về thanh kiếm tri kỷ của mình, James Bond hoàn toàn có thể được coi là người đàn ông có bộ sưu tập xe và vũ khí đáng ham muốn nhất của mọi thời kỳ. Đây là một cuộc biểu trưng khí tài hùng hậu và mĩ miều nhất của lực lượng an ninh phản gián Ăng-lê.

Cậu ấm James Bond của M16 chẳng khác gì một cô Barbie với những phụ kiện không thể thiếu của mình. Giả sử ví von như vậy bởi, khác với mẫu người biệt kích lủng củng lang cang với những bộ sưu tập vũ khí hạng nặng và những viên đạn to cỡ quả bom, James Bond có cho mình những món đồ chơi thông minh tinh xảo và mang theo ít nhiều thói hài hước kiểu Ăng-lê. Ban đầu chỉ là vài cây viết ngụy trang, hay món lưỡi lê giấu trong giày, nhưng từ khi xuất hiện khẩu súng lục bé xíu bằng vàng trong The Man with the Golden Gun, thì những món đồ chơi lợi hại này cũng là một sức hấp dẫn kinh điển của bí số 007.

Vậy là từ đó, mỗi vụ án mới của Bond đều không thể bỏ qua “tiết mục” được trông đợi không kém gì những pha rượt bắt, đó là cuộc giới thiệu trang trọng các món “phụ trang” siêu thông minh được nghiên cứu và thiết kế riêng cho chàng. Motif này trở thành một điển lễ kinh điển cho mọi thể loại điệp viên tình báo, phản gián hay siêu thám tử. Đến cả bộ truyện tranh Conan của Nhật Bổn, dù rõ rệt chịu ảnh hưởng của trường phái tâm lí tội phạm Agatha Christie và dấu ấn Sherlock Holmes, nhưng không thể thiếu một nhà bác học ranh ma phía sau mọi món đồ chơi thủ thân của tay thám tử.

Thậm chí gười ta bắt đầu ái ngại khi dường như chàng đã được trang bị hơi quá tay và trở thành một gã bóng bẩy ẻo lả ỷ lại vào những món đồ chơi công nghệ. Nhưng rồi xét trên sự cân sức của mỗi vụ án, phía kẻ xấu cũng được trang bị đồ hàng xôm tụ không kém, từ khẩu súng bằng vàng của Scaramanga, đôi mũi giày tẩm độc của Rosa Klebb, cho đến cái nón chóp viền thép của Oddjob, cùng hộp trang điểm đầy vi khuẩn của Blofeld. Với ngần ấy kẻ thù nham hiểm, thâm độc và chịu chơi, những món đồ chơi siêu công nghệ của Bond được giải oan hoàn toàn, và cuộc đối đầu lại trở về thế cân sức.

Nhưng hai món vũ trang cơ bản nhất, hơn cả những món phụ kiện bé xíu và buồn cười của nghiệp vụ tình báo, chính là “thanh kiếm” và “chiến mã” của một tay hiệp sĩ chân chính. Trong trường hợp của Bond, đó là bộ sưu tập súng và xe.

Ban đầu, cha đẻ Fleming chỉ trang bị cho chàng khẩu Beretta 418 mập mạp chắc nịch và hữu dụng, một ‘thanh kiếm’ phù hợp với sự thô ráp, lạnh lùng của nguyên bản James Bond. Không lâu sau đó, một độc giả mến mộ nhưng sành sỏi hơn về súng ống viết một lá thư công kích cái cánh gà mập mạp và ngộ nghĩnh ấy là “đồ thứ súng cho đàn bà nhét bóp đầm!”

beretta 418

Tay độc giả cuồng nhiệt này đề cử khẩu Walther PPK 7.65mm bảnh bao ngạo nghễ hơn. Khẩu Walther này xuất hiện ngay trong cuộc tấn công màn bạc của Bond trong phim Dr.No, khiến mọi quý ngài xem phim cứ thở dài sườn sượt. Một món đồ chơi bặm trợn cỡ đó xem chừng tuyệt hảo để rút ra từ sau ve áo pardessus hay tuxedo của mẫu người hùng màn bạc chánh hiệu con nai vàng.

dr.no gun

Boothroyd, tay độc giả nhiều chuyện nọ còn khuyên Fleming sắm thêm cho quý tử tinh thần của mình một cái bao súng Berns-Martin ba quai, và một lô một lốc những món đồ chơi chết người khác. Để đáp lễ, Fleming đặt luôn tên cho tay thiếu tá phụ trách quân bị của M16 là Boothroyd.

ian_fleming_Geoffrey_Boothroyd

Bond còn thủ thân thêm vài khẩu tầm tầm cỡ Colt Detective Special và khẩu Colt cán dài Army Special. Ngoài ra, để cho bằng anh bằng em và không mất thể diện trước hậu duệ Rambo, Bond cũng có cho mình một bộ sưu tập súng trường, trong đó là khẩu Savage Model 99 và Winchester 308.

Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên trên phim, trùm mật vụ M đã ra lệnh cho Bond bỏ khẩu Beretta “bóp đầm” để nhận khẩu Walther PPK. Họ (khẩu súng và Bond) sống hạnh phúc bên nhau suốt 18 bộ phim.

Từ Don Quijote đến James Bond, súng ống kiếm cung đã có, thì khoản ngựa xe mới thật là thứ khiến Bond trở thành thằng cha may mắn đáng ghét nhất thế giới đối với mọi quý ông. Trong khi Batman quanh quẩn với cỗ xe chuột chũi duy nhất, thì Bond từ ban đầu đã được Fleming trang bị cỗ Bentley 4½ Litre đầu bạc, và về sau là Mark II Continental Bentley. Trong vụ án Goldfinger, chàng lái chiếc Aston Martin DB Mark III có thiết bị định vị tối tân giúp chàng truy sát kẻ thù bon bon dọc ngang nước Pháp. Nhưng sau vụ truy lùng đó, người ta lại thấy chàng một mực chung thủy với chiến mã Bentley.

aston martin

Nhưng chỉ cho đến khi đường đường xuất hiện trên màn bạc, cuộc đầu tư điên cuồng vào những cỗ mã xa tối tân của Bond mới thật sự khiến nam nhân thế giới sục sôi thèm muốn. Thời thập niên 1980, chàng ngon lành sập cửa chiếc Aston Martin, còn những năm 2000 là thời kì của cỗ V12 Vanquish điệu nghệ và chiếc DBS đen thẫm bẹp dí như một con gián bảnh bao siêu tốc độ. Giã từ sự thanh lịch thuở ban đầu của vẻ đẹp bạch mã với tên tuổi Alfa Romeo, những lần xuất hiện về sau, Bond thể hiện tư chất tối ưu của một điệp viên thượng hạng khi điệu nghệ điều khiển volant từ xe cứu hỏa, tải hạng nặng, tàu ngầm phóng lựu cho đến tăng thiết giáp. Nhưng cuối cùng, con chiến mã trung thành vinh dự xuất hiện từ Casino Royale cho đến Skyfall vẫn là tuyệt tác màu xám bạc Aston Martin DB5.

aston martin db5

Trong suốt điệp vụ trùng điệp hiểm nguy Skyfall, ngay cả khi bà đầm sắt trùm mật vụ M chết trên cánh tay mình, Bond cũng không bao giờ lộ nét đau đớn sâu sắc và tinh tế bằng giây phút chiếc Aston Martin DB5 bị phá hủy thảm thương. Ngay cả khán giả máu lạnh nhất cũng hiểu chàng Bond đã bị đả thương vào yếu huyệt. Cánh mày râu trong khán phòng cine khắp thế giới cùng rên xiết xuýt xoa đồng cảm: đó là một cỗ chiến xa tuyệt hảo!

aston martin skyfall 

Tay người Úc cơ hội và triều đại Roger Moore

Một trong những vụ án huy hoàng thời kì đầu của chàng mang tên From Russia with Love. So với vụ Dr.No, các hệ thống bí danh khi này cũng bắt đầu hình thành, thiếu tá Boothroyd mang bí danh độc tự  Q cho đến mãi về sau. Đây cũng là lần xuất hiện thứ hai và sau cùng của Sylvia Trench, được nôm na coi là bạn tình lâm thời của Bond sau mỗi vụ phá án. Với 2 vụ giết người so với Dr.No, James Bond bắt đầu hứa hẹn dấn sâu vào những vụ án mạnh dạn hơn về tính bạo lực. Người ta vẫn còn kể rằng John F.Kennedy đã xem bộ phim này lần cuối tại tòa Bạch Ốc ngày 20 tháng 11 nằm 1963 định mệnh, trước khi đi Dallas, mặc dù mãi đến tháng Tư 1964, bộ phim mới được phép công chiếu rộng rãi tại Hoa Kỳ.

DR-NO_610

Đến vụ Goldfinger, Bond bắt đầu trở thành một hiện tượng. Đó cũng là khi chàng tập tành lái chiếc Aston Martin DB5, và sử dụng vũ khí có tia laser của công nghệ tiên phong. Đây cũng là bộ phim James Bond đầu tiên đoạt Oscar về hiệu ứng. Nhưng với Bond, nếu chàng có thật, đây là một vụ án vinh quang nhưng cũng đầy mất mát. Cha đẻ của hình tượng James Bond, người đàn ông đã chu đáo đặt vào tay chàng khẩu súng lục thô kệch ngắn ngủn đầu tiên, Ian Fleming qua đời trước khi phim công chiếu.

ian fleming

Từ đó, các điệp vụ cine của 007 bắt đầu rời xa khỏi kịch bản văn học gốc. You Only Live Twice dựng trên bối cảnh Nhật Bản, với bạn tình Kissy Suzuki và nhan nhản ninja để bao sân chiều chuộng khán giả châu Á. Sean Connery, như thể đã hóa thân vào Bond-phiên-bản-gốc, tuyên bố không tiếp tục đóng các phim sau. Là nam diễn viên thủ diễn James Bond theo kịch bản văn học gốc của Fleming, Connery như một Bond đầu-tiên-và-duy-nhất ra đi như một hành vi tuẫn tiết đáng trọng!

you only live twice

Sự ra đi của Sean Connery khiến người ta lúng túng và cập rập chọn anh kép George Lazenby người Úc kế vị vào vai James Bond. Lazenby xuất hiện hoàn hảo, tay lấp lánh chiếc Rolex Submariner, mình vận bộ suit may ở tiệm Savile Row của Connery để lại, và tỉa tót râu tóc ngay tại hiệu ưa thích của Connery ở Dorchester Hotel. Các nhà phê bình chỉ có thể khen ngợi anh chàng về sự cần cù và dũng cảm tự đảm nhiệm các vai nguy hiểm không cần đóng đúp. Nhưng công chúng la ó phản đối, họ trót quá gắn bó với Connery, cho rằng Lazenby quá bận rộn thay phục trang xoành xoạch như một cô dâu diêm dúa, và quá mỏi mệt trong việc hùng hục chạy theo cái bóng của Connery. Đó là chưa kể giọng phát âm Úc đặc sệt quê trớt của anh chàng khiến phải dùng đến việc lồng tiếng, tổn hại ít nhiều đến hiệu quả thể hiện trên phim.

george lazenby

Thế là hình tượng chàng Bond lại đòi hỏi một lần đổi lốt. Lần này, kép Roger Moore ứng cử, dù đã 45 tuổi. Moore trở thành nam diễn viên bền bỉ nhất trong các nam diễn viên thủ diễn James Bond, chính xác là trong suốt 12 năm. Roger Moore bắt đầu ra tay áp đặt một kỷ luật mới cho James Bond. Hai vụ án đầu, chàng khệnh khạng hút cigar thay cho thuốc lá thường, và uống buorbon thay cho martini. Moore khôn ngoan phá lệ và lập tiền lệ riêng của mình – như một con đực mạnh thực thụ, cũng là điều mà hình tượng James Bond không thể thiếu.

Moore bắt đầu cho Bond…cai thuốc. Vào những năm 1970s, James Bond trở nên “đời” hơn, pha phỉnh một chút khiếu hài hước duyên dáng, song song món chính là những màn đấm đá tuyệt đỉnh. Hẳn nhiên, Bond của những năm 70 không thể nào có được sự đường bệ của Sean Connery, nhưng gã đột nhiên trẻ trung và có duyên hơn, lịch duyệt, duy lý và rõ ràng là háu gái hơn. Về võ nghệ, tuy không điệu nghệ như Sean Connery, Bond của Moore được coi là anh chàng hóm hỉnh và dễ gần nhất trong mọi phiên bản James Bond cả trước đó lẫn về sau.

roger moore

Đài từ thượng đẳng của nam thần xứ Welsh và James Bond bán lạc xoong

Đến tận những năm 1987-1989, Bond mới có một giọng phát âm Ăng-lê thuần chủng chánh hiệu truyền thống “Shakespearean” của kép Timothy Dalton, người kế nhiệm Roger Moore. Tờ Guardian ủng hộ phiên bản mới này của James Bond “Đành rằng đó không phải là Connery, và thiếu hụt cả cái duyên lịch duyệt của Moore, nhưng ít ra, đó không phải là Lazenby”, ám chỉ giọng thổ âm Úc nặng chịch của Lazenby, từng gây khốn đốn cho hình ảnh James Bond.

Timothy Dalton nhập vai James Bond hoàn hảo, với chiếc mũi khoằm của loài thần điểu, mái tóc dày rậm như lông quạ, đôi mắt khi thì ủy mị ươn ướt như mắt cún, khi thì sáng quắc như mắt diều hâu ngay dưới cặp chân mày rậm rì sắc nét như dao phay. Chàng dày vò các nữ khán giả bằng khuôn vai vuông vức, cơ thể nam thần và chiếc cằm chẻ đẹp như một cặp mông thiên sứ. Chỉ cho đến khi chàng thật sự thoát kiếp James Bond và tái xuất ngời ngời trong Jane Eyre, vai bá tước Rochester cục cằn và đa cảm, người ta mới dám chấp nhận rằng chàng không phải là James Bond nữa.

timothy_dalton

Sự xuất hiện hoàn hảo cuả Timothy đã là một thách thức khó vượt cho kẻ kế nhiệm là Pierce Brosnan bóng bẩy. Cũng sở hữu mái tóc đen dày hơi lượn sóng, với “cặp mông thiên sứ” có phần teo tóp hơn, Pierce Brosnan được đánh giá là giai kỳ điển trai màu mè đỏm dáng nhất của Bond.

pierce brosnan vanity

Khi kí hợp đồng kế nhiệm nam thần Timothy, Brosnan hồ hởi tuyên bố “Tôi muốn đào sâu hơn nữa vào bên trong người đàn ông này, lột lớp vỏ bọc máu lạnh của anh ta như lột một củ hành, và phơi lộ một tâm hồn nhạy cảm bất khả xâm phạm của người đàn ông đó”. Điều này làm khán giả hâm mộ của Bond run sợ – Bond không phải là loại đàn ông treo quả tim của mình tòn ten trên ve áo để làm dáng. Nhưng rồi người ta đã có một Bond gốc Scotland của Connery, nói giọng Úc của Lazenby, mang dòng dõi Welsh quí phái của Dalton, thì cuối cùng, đến lượt Brosnan sẽ cho người ta một phiên bản Bond Ái-Nhĩ-Lan rất riêng và khác biệt.

Bond lại hút cigar và chuộng những bộ suits bảnh bao thửa tận bên Ý. Golden Eye với Brosnan cũng là điệp vụ đầu tiên xảy ra sau khi Liên bang Xô viết rã đám. Bond và M16 cũng phải cập nhật tình hình chính trị chung, thay các vụ đối đầu với chính quyền chính thể bằng những vụ rượt bắt gay cấn với các siêu thế lực mafia mới của nước Nga lộn xộn. Cũng bởi tính cập nhật thực tế, Judi Dench vào vai bí số M – đầu lãnh M16, một khi ngoài thực tế, ghế trùm cơ quan tình báo M15 của Anh quốc cũng vừa chào đón nữ chủ nhân mới: bà đầm sắt Stella Rimington.

Công luận nghi ngờ vẻ oặt ẹo điệu đàng của kép Brosnan, các nhà phê bình thở dài phán “Và Bond đã tái xuất, lần này với mái tóc hỉ nhi!”, nhưng MGM vẫn tuyệt đối tin cậy vào cái đẹp và sự hào hoa, quyết đưa Bond về với bản ngã. Đầu tiên là bằng cách tước đoạt bớt những món đồ chơi lặt vặt của chàng, cùng mọi yếu tố hoang đường quá tay mang sắc màu giả tưởng. Bond mạnh mẽ hơn, u sầu hơn, và “người” hơn.

Một lần nữa, khi mà ngoài kia, trào lưu cơ bắp đã lắng xuống, việc thay đổi phong cách cho Bond hoàn toàn phù hợp với thời kì của những anh chàng metro-boy mảnh mai, biết làm đẹp và gần như lưỡng tính, Jack của Titanic thế chỗ Commando, và rock bờm xờm bị hất cẳng bởi boybands thiếu niên tiến bộ.

Các quý ông trung thành của những thế hệ James Bond kinh điển có thể chỉ muốn tung một cú đá vào mông tay Bond đời-sau oặt ẹo này. Hơn nữa, gã rõ ràng là một tay bán đồ lạc-xoong chuyên nghiệp. Gã rao bán mọi thứ, từ nước uống, xe cộ, đồng hồ, bút máy,… chỉ cần một cú lắc tay điệu nghệ bên sòng bạc, gã tài tình rao bán chiếc đồng hồ lấp lóe dưới manchette công tử bột. Gã ngời ngời sáng giá và hốt về bạc triệu mỗi lần tái xuất, chưa kể các nhãn hàng thủy chung lại vồ vập lao vào, Bond của Brosnan được trang hoàng long lanh như cây thông Giáng sinh hạnh phước, với đồng hồ, thời trang, giày và những cỗ xe gây mê đắm.

brosnan poker watch 

Cuộc cách mạng của James Lạt-Nhách

Nhưng công chúng là một đứa trẻ khó chịu, ngay khi thế hệ hâm mộ giai kỳ bóng bẩy của Bond bắt đầu quen với hình ảnh của chàng điệp viên thơm phức trong các bích chương quảng cáo đồng hồ Omega, thì cuộc cách mạng phong cách của James Bond tạo nên một vụ ồn ào chưa từng thấy. Giữa thời loạn lạc của thế giới phẳng phi giới tính, giữa sự tìm tòi khắc khoải một hình tượng nam thần thẳng thớm đáng tin cậy, James Bond cần mau chóng thoát ra khỏi cái dung mạo mĩ miều của những điệp viên tài tử “tóc đen như mun, cằm chẻ như mông” vốn đã thành tiền lệ.

pierce brosnan

Với hình tượng Obama, thậm chí đã có lúc người ta cân nhắc một James Bond da đen…hơn tóc. Nhưng ứng viên thắng cuộc cuối cùng đã khiến tất thảy công luận hồ nghi và cự nự dữ dội: Daniel Craig.

Gã có bản mặt của một tay mafia Đông Âu hơn là một điệp viên Anh quốc. Đôi mắt nhỏ, linh hoạt, chiếc cằm nhọn và một thái độ lì lợm khó gần. Gã có diện mạo của một tay sát nhân máu lạnh sẵn sàng tung nắm đấm thép mà không buồn nheo mắt.

Người ta thổn thức nhắc nhớ những vệt chân chim nơi đuôi mắt Brosnan và vết lõm chen giữa hai múi cằm đẫy nẫn của Dalton. Than ôi, kẻ kế nhiệm thậm chí còn mang một đôi tai vểnh của loài dơi và mái tóc lưa thưa màu sáng.

daniel2

Người ta tung vào thế giới cinema một James-Bond-Không-Thèm-Đẹp!

Thậm chí đã có cả một website với địa chỉ danielcraigisnotbond.com kêu gọi tẩy chay phiên bản mới của James Bond. Tờ Daily Mirror chạy nguyên trang nhất chỉ để bỉ bai Craig với hàng tít nhái theo câu thoại lừng danh của Bond “The Name’s Bland – James Bland” (tên là Lạt Nhách – James Lạt Nhách).

Bond (bởi đó chính là tính cách Bond) phớt lờ đúng điệu Ăng-lê và tái xuất dưới hình hài Daniel Craig trong phi vụ Casino Royale. Món lãi ròng từ phim này, kể từ Moonraker, chưa bao giờ cao đến vậy! Công luận đổi chiều xoành xoạch, người ta tung hô James Bond mới. Chàng mảnh mai hơn, trông “chì” và “ngầu” hơn, không xăm lên trán hàng chữ “vận động viên làm tình”, và không cầu kì giãy nảy nếu ly martini của chàng không được pha đúng điệu. Đơn giản là vì chàng-như một tay Bond đúng điệu, cóc quan tâm!

daniel1

Còn tư cách người hùng và những trò táo tợn? Hãy xem chàng được đích thân nữ hoàng Elizabeth (do chính lệnh bà thủ diễn) vời đến điện Buckingham để hộ tống bà trên chiếc trực thăng bay đến sân vận động Olympic Stadium, cùng lệnh bà tôn quý của nước Anh nhảy thẳng từ trực thăng, bên dưới cánh dù bằng lá cờ liên minh lộng gió!

QUEEN+AND+DANIEL+CRAIG 

Fashionisto siêu hạng và 40 bộ suits cho một cảnh quay

Với vẻ điển mã xứng tầm một quý ông, chàng có tất cả những cái tên quyền lực nhất của giới thời trang làm hậu thuẫn cho tủ phục trang khét tiếng của mình. Giorgio Armani, Brioni, Roberto Cavalli, Tom Ford, Hubert de Givency, Gucci’s Frida Giannini, Douglas Hayward, Rifat Ozbek, Jenny ackham, Miccia Prada, Oscar de la Renta, Anthony sinclair, Phillip Treacy, Emanual Ungaro và Donatella Versace là những cái tên làm nên thế giới hào hoa của James Bond.

Bond cầu kì và chuẩn mực đến từng tiểu tiết. Chàng phân biệt được một ly martini lắc và khuấy khác nhau ra sau, chàng thích ống quần của mình ôm vừa, tỉa tót tuyệt khéo, nhưng không bó sát bởi chàng không phải Tom Jones. Cả tuxedo cũng vậy, chàng thích sự nghiêm cẩn, không xum xuê hoa lá, và đặc biệt ưa chuộng những chiếc sweater chui đầu bằng hàng cashmere thượng hạng. Chàng có thể đã xuất hiện từ nửa thế kỷ trước, nhưng chắc chắn chưa bao giờ muốn mình trở nên cổ lỗ.

Bond Style

Chuẩn bị cho vụ mới nhất của James, nhà thiết kế phục trang của chàng Jany Temime tuyên bố cô đã chuẩn bị cho James Bond lệ bộ chuẩn mực nhất chào mừng 50 năm cát cứ màn bạc, nhưng mang mọi yếu tố đương đại của thẩm mỹ thời trang 2012. Cô nói say sưa như một bà nội trợ sành điệu đi sắm sanh chưng diện cho đức lang quân lừng lẫy hơn là một chuyên viên thiết kế phục trang nói về diện mạo những vai diễn: “Tôi không chạy theo trào lưu mốt mà bám theo kịch bản. James đâu phải loại rảnh rang đọc tạp chí thời trang hàng ngày, tôi rành anh ta quá mà! Tôi biết James sẽ muốn mặc gì và vì sao, tôi luôn tự vấn bản thân trước mỗi quyết định: Đây có phải là thứ James sẽ bỏ tiền ra mua không?”

Tủ quần áo của chàng bày san sát chằn chặn những hàng suits bất tận, phô ra những ống tay và khuôn vai thẳng táp, hoàn hảo của kỹ thuật cắt may thượng hạng, hầu hết đóng mác Tom Ford. Bản thân Craig trong đời thực, cũng là một thân chủ mê mệt của phong cách lịch duyệt đến tối giản, đầy tính thực dụng rặt Mỹ của Ford. Ngay từ khi mới làm việc với Temime, Craig đã báo trước, theo kiểu mà chính James Bond biết mình muốn gì, rằng chàng thích form cắt mảnh mai nhưng phải dễ vận động, và hơi hoài cổ về nét kinh điển của thập niên 60.

tom ford

Mặc dù kép Roger Moore khẳng định rằng Bond vẫn có thể xài ngon ơ mấy bộ thửa cho chàng từ hồi 70s và 80s (đương nhiên, ngoại trừ quần ống loe và cổ sơ-mi to gộc), nhưng tuxedo và suits vẫn kinh điển vào hàng bất hủ. Nhưng ngay cả Moore cũng không còn mặc những bộ vía oai vệ đó nữa: “Chúng được may từ cách đây hai ba thập niên, cả bản đồ thế giới cũng đã thay đổi, huống gì số đo vòng bụng của anh kép diễn về già là tôi. Thời đó tôi cũng mê mẩn phong cách James Bond lắm, nhưng đó là ngài Bond, còn tôi rồi cũng tự xoay sở cho mình một gout riêng về cả đồ ăn lẫn rượu vang và áo vest”. Moore vừa ra mắt cuốn sách của mình về Bond, với cái tên “Bond on Bond” do nhà xuất bản Lyons Press ấn hành, trong đó, ông kể lại rất nhiều về phong cách bảnh bao của hiện tượng mang bí số 007.

Sean Connery, người đầu tiên thủ diễn James Bond năm 1962, cho đến nay vẫn còn ưa thích những bộ suits màu ghi mảnh dẻ Bond từng mặc thời đó, nhưng mấy cái quần yếm bằng vải bông trong Goldfinger thì quả là một cơn ác mộng với thời trang quý ông đương thời.

Đến những năm sau này, James Bond của Pierce Brosnan được diện rất bảnh trong bộ đồng phục sĩ quan Hải quân Hoàng gia, lay động nên bao cuộc đại chấn nức nở trong tim những nữ khán giả nhẹ dạ. Ngoài giai kỳ bảnh bao đột xuất này của Brosnan, thông thường thì James Bond là mẫu đàn ông thích sự tinh tế lẫn thực tế trong từng tiểu tiết của một phong cách tưởng như hoàn toàn giản dị. Cuối cùng, chàng là một điệp viên luôn đặt mình vào giữa chốn trùng điệp hiểm nghèo, chắc chắn không có nhu cầu khoác lên mình một bộ cánh quá lâm li và nổi bần bật giữa chốn đao kiếm vô tình như vậy.

navy uniform

Thời mới xuất hiện, một người đàn ông như chàng hẳn nhiên sẽ chọn hiệu may Savile Row lừng lẫy ở London làm chốn tin cẩn sắm sanh lui tới. Tới năm 1995, chàng thức thời và điệu nghệ hơn giữa thời cuộc phi biên giới, những điệp vụ của chàng giờ mang tầm cỡ toàn cầu, và nhà thời trang Ý Đại Lợi Brioni giờ mới xứng tầm sắm sửa của siêu điệp viên. Nghệ nhân bậc thầy của nhà này là Angelo Petrucci phóng mũi kéo điệu nghệ theo lối cắt may Ăng-lê truyền thống có vạt dài hơn so với các quý ngài La Mã, và đương nhiên là với những cặp ống quần hoàn hảo, ôm suôn, thẳng muốt và sắc nếp như dao: “Anh James, với tôi, là đại diện chí tôn của cái gọi là gout thượng đẳng. Suits là biểu tượng của quyền lực phái mạnh, với một người như James, suits chính thống là phải được may thửa chuẩn mực theo số đo. Chưa kể, hãy ngắm những cô nhân tình của ảnh, cô nào bà nào cũng sành sỏi điệu đàng, đều có con mắt để tán thưởng một bộ vía khéo cắt, bởi chính họ cũng tuyệt đỉnh cầu kì và rất am hiểu thời trang, anh James không thể lôi thôi được”.

bond style 2

Trong Skyfall, Temime vận cho Naomie Harris và Berenice Marlohe những bộ phục trang không hổ thẹn dòng dõi những thế hệ “Bond girls” về trước như Halle Berry và Ursula Andress. Cả hai đã từng khuấy đảo màn bạc trong những bộ bikini, đùi quấn đai súng lục, và Barbara Bach với chiếc váy dạ hội đen viền đá trắng, với được xẻ cắt cao vút đến tận… thiên đàng! Temime quyết định cho Marlohe ăn vận theo phong cách hoàng kim của cựu minh tinh Ava Gardner với bộ váy L’Wren Scott như bộ da thứ hai diễm lệ mà để vừa khít một cách kích động như thế, mỗi buổi sáng, đào Marlohe phải chịu một công đoạn may đính để bảo đảm chiếc váy bó sát thân hình. Và khi chết, nàng được Temime ưu ái cho diện thật đỏm trong chiếc váy đỏ thắm trễ tràng của Donna Karan. Karan phỉ mãn với hiệu ứng gợi tình một cách chết chóc này: “Nghĩ đến Bond girl là phải nghĩ đến gợi tình, sự thông minh, sức mạnh, và lẽ dĩ nhiên, là một thân hình sát thủ!”

berenice_marlohe_skyfall

Trong khi đó, Harris cần một thiết kế hung hăng năng động hơn cho những pha hành động và được cho mặc một chiếc jacket của Belstaff, tank top, và quần da.

Còn riêng cho James, ngay vào màn rượt bắt đầu tiên – một điển lễ mở màn cho mỗi phi vụ của 007, chàng cần một bộ suit vừa đẹp, vừa ôm, vừa thoải mái cho mọi trò vung tay quạt chân của 007. Điều này đồng nghĩa với 40 bộ suit y chang nhau, cái thì cánh tay dài hơn một chút để chàng cưỡi motor, cái thì cần đệm đầu gối cho chàng té đỡ đau, và có cả những bộ cài đặt những túi máu giả, và cả những bộ rách sẵn để đối phó với thứ tự lộn xộn của cảnh quay.

Chàng là siêu điệp viên trường phái sắp đặt, điều này không thuộc hệ tư duy bủn xỉn được. Temime hãnh diện như bà nội trợ siêu hạng “Tất cả phục trang ở đây đều thuộc hàng thượng hảo hạng. James có thể chạy phăm phăm qua nước, bụi, nhảy khỏi tàu hỏa, và chỉ cần phẩy nhẹ, là lại sạch bong như mới”

motor ride skyfall

Những người đàn bà của Bond

Thuật ngữ “Bond Girl”, chỉ những cô nhân tình lâm thời của James Bond, là một đại danh lẫy lừng có phần hơn cả các khái niệm “Playboy Bunny”, “Victoria’s Angel” hay “Cosmo Girl”. Xét về giai tầng, họ không hề dân chủ đại trà. Đó là những nữ sát thủ, minh tinh, hoặc yếu nhân, thậm chí chính khách. Họ là những Pussy Galore, Plenty O’Toole, Xenia Onatopp hay Holly Goodhead. Nói một cách nôm na, đó là những đại diện điển hình của vẻ đẹp xa hoa thượng đẳng, những nữ thần nhục cảm phóng túng, những đóa hồng nhung kiêu sa dùng để trang trí ve áo tuxedo của ngài Bond trong từng điệp vụ.

bond girls2

Nàng có thể là bất cứ ai, miễn sở hữu một thân phận ly kì và một thân hình đẹp. Nàng có thể là chiến hữu hay cừu nhân, nàng cũng có thể là nạn nhân hay thân chủ. Nhưng điều rất quan trọng cần được phân biệt rõ ràng, trùm tình báo mang bí danh M, dẫu là người đàn bà cực kì quan trọng trong mọi cuộc phiêu lưu, phần số và tâm hồn 007, bà ta không hề được tính là một Bond Girl. Ngoài ra, đồng sự Miss Moneypenny cũng bảo toàn một mối quan hệ chiến hữu với Bond khá trong sáng, dù ở phần cuối của điệp vụ Skyfall, có những chi tiết cho thấy cô hoàn toàn có khả năng đã từng đứng vào hàng ngũ Bond Girls.

Dẫu đa dạng đa chủng đến mấy, tộc người ưu tú “Bond Girls” cũng có những mẫu số nhận biết chung. Thoạt tiên là những thân hình tuyệt hảo, thường xuyên được lồng tuyệt khéo trong những bộ trang phục hơi ngầu kiểu nam tính, kiên nghiệt, điểm một vài món trang sức góc cạnh, dây lưng da to bản và giày da mũi vuông. Nhưng họ còn phải có khả năng xuất hiện đột ngột trong vẻ đẹp lẫy lừng đàn bà tính, những bộ váy dạ tiệc dính trượt trên da, váy ngủ satin, push-up bra thượng hạng, bikini trang trí súc lục, và thi thoảng chỉ có một lớp dầu bóng trơn trượt trên mảnh thân trần.

You-Only-Live-Twice-Girls Bond-Girls-6

Phần lớn Bond Girls tuân thủ ngặt nghèo làn da rám nắng, ngoại trừ các cô của thời kì đầu khi mốt nhuộm da chưa thịnh, hoặc những kiều nữ Đông Âu.

Tóc lại là một phạm trù mênh mông đối với các Bond Girls. Họ có thể là các nàng có mớ tơ vàng hoe như Mary Goodnight, đến màu hạt dẻ của Gala Brand, nâu sóng sánh như mật của Tatiana Romanova, xanh tím như Solitare, hay đen thẫm như Vesper Lynd. Hẳn nhiên, đó là những cô nàng có khuôn miệng rộng háu tình, phần lớn có màu mắt xanh, thậm chí xanh như màu Tiffany, long lanh giữa sắc xám và ve chai mắt mèo. Đặc biệt Pussy Galore sở hữu đôi mắt huyền vi tím thẫm – người đẹp mắt tím duy nhất trong trải nghiệm tình sử của James Bond.

Trong khi nàng Vesper Lynd xuất hiện trong Casino Royale với tất cả mọi nét thuần chủng Bond Girls kinh điển ở trên, thì Dominetta Domino Vitali bằng mọi cách trở thành hình ảnh trội bật với sandals da trắng, da rám nâu, tóc bồng kiểu Bardot và các nét trên khuôn mặt đều yêu kiều nhỏ nhắn, thay cho khuôn miệng rộng của những nàng man-eater truyền thống.

james_bond_girls_03

Mẫu đàn bà ưa chuộng của Bond, hẳn nhiên, không chỉ là những tiêu chuẩn về ngoại hình và thời trang. Chàng thích những cái tên hoặc bí danh ly kì, mà điển hình nhất là Pussy Galore, Solitaire (tên thật của nàng là Simone Latrelle), và Tiffany Case (do thân phụ cô này tức tối vì cô sinh ra không phải là nam tử, ông đưa cho mẹ cô 1000 đồng và một hộp phấn Tiffany rồi bỏ đi). Hay như Vesper Lynd, nghe như West Berlin được nói trại theo âm sắc Đức Ngữ, ám chỉ tư cách điệp viên hai mang của cô nàng. Đương nhiên, chàng cũng không chối từ các nàng có danh tánh bình thường.

Dù không nhan nhản những pha cụp lạc phòng the, nhưng chỉ một số tình tiết khơi gợi đủ để người xem hiểu rằng Bond là anh chàng không chối từ ân huệ ái tình từ những cuộc phiêu lưu trời cho ấy. Nhưng không phải cô gái nào của Bond cũng là những tiểu thư đến từ số phần nhung lụa. Rất nhiều trong số các nhân tình của chàng từng bị hãm hiếp, hay là nạn nhân của bạo lực tình dục. Họ mất niềm tin và kỳ thị nam giới (đương nhiên là cho đến khi gặp Bond): Tiffany Case không những bị cha bỏ rơi từ khi mới lọt lòng, mà lớn lên còn bị hãm hiếp tập thể từ khi vị thành niên, cả nàng Honey Ryder cũng cùng chung số phận. Pussy Galore thậm chí bị cưỡng hiếp từ khi 12 tuổi bởi chính chú ruột. Solitaire có một quá khứ may mắn và trơn tru hơn, nhưng nàng vẫn còn tân đến tận cuối phim. Giai nhân Đông Kinh Kissy Suzuki cũng cay đắng kể về sự kỳ thị khi nàng đến Hollywood lúc 17 tuổi “Họ nghĩ vì tôi là người Nhật nên tôi như một loài vật, và thân thể tôi là thứ dành cho tất cả mọi người”.

james_bond_girls_20

Không chỉ ở trong hồ sơ quá khứ, mà ngay cả trên màn bạc. Lupe Lamora bị chính người tình Franz Sanchez hạ nhục trong Licence to Kill, chung số phần là ngư nữ mĩ miều Andrea Anders trong The Man with the Golden Gun. Nàng nuôi hận nên âm thầm gửi Bond một viên đạn bằng vàng để tố cáo gã nhân tình máu lạnh Francisco Scaramanga và khuyến dụ Bond vào vai cứu vớt gái bơ vơ.

Bond không chỉ thành công ra tay bảo bọc giai nhân hoạn nạn, mà còn mang lại… niềm tin yêu cuộc sống đến với họ, bằng chứng là thay vì cạn kiệt lòng tin vào đàn ông, họ đều chuyển sang yêu thương thắm thiết, si mê và cuồng nhiệt tự nguyện trao thân cho người hùng lẫm liệt.

Nói một cách khác, Bond là quý ngài luôn có cho mình những cuộc tình ly kì theo khuôn mẫu, một kiểu tân văn học Danielle Steel cổ lỗ sĩ và đôi khi quá tay đến khôi hài. Trong điệp vụ Goldfinger, Pussy Galore trước khi gặp Bond là một ả đồng tính nhưng lại say đắm hiến thân cho Bond. Ngay trên giường, chàng không dấu sự hiếu kỳ “Tôi tưởng em chỉ yêu đàn bà?” Và nàng đáp “Tôi chưa bao giờ gặp một người đàn ông thực thụ trước đây!”

goldfinger_goldcorpse 

Di vật của Fleming

Đàn ông muốn được như chàng, đàn bà muốn có chàng, một số khác chỉ đơn giản là muốn lại gần chiêm bái cái đồng hồ lấp loáng dưới ống tay áo tuxedo của chàng.

Ngay từ lần ra mắt màn bạc đầu tiên trong điệp vụ Dr.No, Bond đã hãnh diện trưng phô chiếc đồng hồ như một vật cực kì quan trọng đối với tư cách nam nhân của chàng. Chàng lẫy lừng với bộ sưu tập những Rolex, Breitling, Hamilton, Seiko và Omega. Nhưng không chỉ là những chiếc đồng hồ có thể nằm trên bất cứ cái cổ tay dân chủ nào. Đó là những phiên bản đặc biệt gây nên những cuộc săn lùng tuyệt vọng của thói đua đòi không phải là không có ở cánh mày râu.

pierce brosnan watch

Từ khi tạo nên một James Bond từ chính cuộc sống của bản thân, Ian Fleming đã hào phóng “tặng” luôn cho đứa con tinh thần của mình chính chiếc đồng hồ Rolex ưa thích của ông. Chỉ đến điệp vụ thứ 11 của Bond ấn hành năm 1963, Fleming mới cung cấp đoạn miêu tả đặc biệt hình ảnh Bond, vào một đêm biếng nhác, đưa mắt liếc vào “chiếc Rolex Oyster Perpetual kềnh càng có quai kim loại” trên cổ tay. Đó là một chiếc Rolex Explorer I cực kì đàn ông tính. Một cách cụ thể hơn, về chiếc đồng hồ của Fleming, đó là model 1016 với mẫu dây đeo 7206, bằng thép không rỉ, mã sản phẩm 596851.

ian's rolex

Con gái riêng của vợ ông, Fionn Morgan, cho rằng đó chính là chiếc đồng hồ Rolex chung thủy đầu tiên và duy nhất của nhà văn. Sau khi ông mất vào năm 1964, chiếc đồng hồ huyền thoại được giữ trong một ngăn an toàn ở nhà băng cho đến khi bà quả phụ Ann Flemming qua đời vào năm 1981. Một lần nữa, sau gần 2 thập niên, chiếc Rolex trứ danh lại được phản chiếu lấp lóa ánh sáng ban ngày.

rolex-explorer-1016-jbw007-20100201v500

Điều kì diệu nhất, đó là nó vẫn hoạt động bình thường khi được lấy ra khỏi két sắt, theo lời kể lại của Morgan. Món gia bảo lẫy lừng ấy được tặng lại cho con rể của bà Morgan.

Chiếc Rolex nổi tiếng này được trưng bày tại triển lãm Ian Fleming Centenary nhân ngày sinh lần thứ 100 của ông – 28 tháng Năm, 2008. Bảo tàng Chiến tích Hoàng gia Anh đã lên kế hoạch cho cuộc trưng bày kéo dài 45 tuần mang tên “For Your Eyes Only: Ian Fleming and James Bond.” Mary Gibson, con gái của Fionn Morgan đồng ý cho mượn chiếc đồng hồ mà bấy lâu nay chồng cô vẫn đeo, cùng hàng loạt những vật dụng cá nhân của Fleming có xuất hiện trong thế giới của Bond.

bond's watch

7 lí do vì sao phụ nữ mê James Bond

  1. Bond tự tin. Điều đó khiến chàng gợi tình. Chàng có sự ngổ ngáo của kẻ nắm chắc phần thắng trong mọi cuộc đấu – thứ bản năng của con thú mạnh ắt nhiên sẽ thu hút bản năng kén chọn của đàn bà. Trên thực tế, không chỉ với đàn bà, mà cả đối với đàn ông, không ai bị quyến rũ bởi sự khiêm tốn cả.
  2. Chàng luôn bình tĩnh, ngay cả khi luôn ở trong tình trạng nắm chắc cái chết. Chàng không bao giờ có một động tác thừa, bị chi phối bởi cảm giác run sợ, hoảng loạn hay giận dữ. Người ta không có một James nhảy chân sáo ôm một bó hoa to đến tặng người đàn bà, đấm tay lên tường khi nổi giận, hoặc trốn ra chỗ vắng hét to để xả stress. Khi tặng hoa cho phụ nữ, nếu đó là Bond, đó sẽ chỉ là một cành hoa – cành đẹp nhất. Ngay cả trạng thái hạnh phúc cũng không khiến chàng có bất cứ hành vi, động thái nào thừa thãi. Chàng luôn nói đủ chậm, không bao giờ liến thoắng và tuyệt nhiên không ấp úng. Ánh nhìn của một sát thủ siêu hạng có khả năng tập trung cao, chàng không bao giờ đảo và chớp mắt một cách thừa thãi, đây cũng là một chi tiết luôn khiến phụ nữ phải lòng.
  3. Bond không bao giờ bận bịu cho việc phô phang cái cõi lòng của chàng đối với phụ nữ, và bằng cách đó, chàng kích thích bản năng của họ: bản năng tò mò. Nói một cách khác, một khi kích thích được bản năng phụ nữ, thì đó là một sự gợi tình. Chàng không hay cười, và đối với phụ nữ, một người đàn ông đang sung sướng một chuyện gì đó có thể đáng yêu, đáng làm bạn, nhưng không có gì là sexy cả. Chàng kiệm lời, luôn giữ lưng rất thẳng, và điều này kết hợp với một bộ tuxedo thượng hạng là một hình ảnh không thể cưỡng lại được đối với bất cứ người đàn bà có lương tri nào trên thế giới.
  4. Chàng uống Martini, đôi khi Bourbon, cho đến phi vụ cuối mới thấy chàng tỏ ra dân chủ và uống beer. Chàng thích rượu, điều này hứa hẹn cuộc mây mưa ngay lần hẹn đầu, nhưng tất cả chỉ như một tiềm năng hơn là một lời hứa.
  5. Hẹn hò trên một chiếc Aston Martin không hề là một tai họa. Và những cuộc bạc ngả nghiêng ở các casino vương giả, khi chàng vãi tiền mặt hào phóng như vãi đạn, dù là tiền túi hay tiền quỹ phủ phê của Cục Tình Báo, cái kiểu vung vãi ấy được coi là cực kì khả ái, ngay cả đối với các quý bà quý cô phong lưu.
  6. Bond không bao giờ cố công gây cười và không đánh đồng một thằng hề nhạt với sự lịch duyệt duyên dáng. Chàng nổi tiếng với kiểu nói ngắn gọn nhưng không cộc lốc, và lời tự giới thiệu trứ danh huyền thoại cine: “The name’s Blond – James Blond.” Nhưng chàng có thứ hài hước tưng tửng của dân Ăng-lê, đủ để hấp dẫn những phụ nữ biết coi khiếu hài hước là dấu hiệu của trí tuệ.
  7. Phụ nữ lãng mạn thích biến cố, âm mưu và các thảm kịch, và đó là món tráng miệng mỗi bữa của Bond. Điều này cuốn hút họ hơn cả những cơ bắp của chàng. Cô nàng năng động sẽ mơ mòng việc được tham dự trò mạo hiểm, các ả nhà lành sẽ hưởng thú giật gân an toàn trong vòng tay bách thắng. Khi trải qua một cuộc hẹn hò êm đềm quá, phụ nữ sẽ phải sáng tạo ra các âm mưu và thảm kịch, với Bond, họ hoàn toàn có thể thảnh thơi và thụ hưởng các biến cố đó. Đương nhiên, càng an toàn hơn khi chàng là một nhân vật tưởng tượng, và khi đó, người ta không thể thua, hoặc chết.

jamesbondDanielCraig

bạch mao nương

Túy Ca

Là tàn dư sống sót từ “kỷ haute couture” hoàng huê kiều mị, Nàng sở hữu một nhan sắc của loài hồ ly thành tinh mà hóa thánh – vừa gợi tình, u mặc, vừa ngạo mạn tôn nghiêm. Nàng là nhân chứng hoàn hảo cho tinh túy nhan sắc Đàn Bà.

Như chính dòng nước hoa trứ danh Nàng từng đại diện, Carmen Dell’Orefice đã có những note hương đầu tươi tắn của tuổi 15 hoàng hoa hiển hiện sắc hương dậy thì trang bìa nhà Vogue, một tầng hương giữa vừa nồng nàn mùi hormon đàn bà, vừa u thảm những chuyến đò bến đục, của xa hoa, khánh tận, và đam mê. Nhưng nhan sắc madame Carmen mới thật sự lộng lẫy ở những note cuối cùng, quý phái dư sắc trầm hương của giai nhân 80 tuổi – người mẫu cao niên nhất của lịch sử catwalk thời trang.

Cuối thập niên 1950, cả thế giới mắc chứng ngứa ngáy hàng loạt bởi câu nói của đào Monroe rằng nàng chỉ ‘khoác’ vài giọt Chanel No.5 lên người khi đi ngủ. Người ta coi người đẹp tóc vàng này là một đại sứ vinh hiển cho danh tiếng nước hoa No.5 nhà Chanel. Trong khi đó, ngược chiều đám đông, bà Coco lại chọn một người đàn bà khác cho những shot ảnh quảng cáo lọ nước hoa bất hủ kia: Nàng có một khuôn mặt thanh tú, đôi gò má bén ngót, chiếc cổ của loài linh dương, nụ cười mệnh phụ quý phái và đôi mắt yêu tinh. Shot ảnh, cũng như dòng nước hoa và chính người đàn bà trong ảnh, trở thành những chuẩn mực trường tồn.

Nửa thế kỷ sau, No.5 vẫn ngự ngai chí tôn của dòng mùi hương xa xỉ, và mệnh phụ tóc trắng Carmen Dell’Orefice lại vừa sải bước hồng hạc trên catwalk mùa SS2012 vừa qua, sau khi mừng sinh nhật tròn 80 tuổi và học hàm tiến sĩ danh dự của trường Đại học Nghệ thuật London.

Như những note cuối của dòng hương tuyệt tác, nhan sắc của người đàn bà khi lắng xuống như note trầm đằm thắm trong sự quý phái đến mức tôn nghiêm, đó là khi dung nhan trở thành khí chất, và hóa thánh cho người đàn bà sặc sụa vẻ quý phái được giới hậu đài mọi sàn diễn couture kính cẩn gọi bằng hỗn danh The Countess (Bà Bá Tước).

Nàng ballerina của Dalí

Là kết quả cuộc dan díu tồi tệ đủ để nảy mầm một nhan sắc mặn mòi nhất nhì trong lịch sử loài người, sự kết hợp hoàn hảo giữa cái ngạo mạn hoang dã của tay nghệ sĩ violin Ý, với vẻ thanh tú uy nghiêm của một vũ nữ ballet Hungary, Carmen đã trải qua tuổi thơ vạ vật ở viện tế bần, trải qua cơn bệnh thập tử nhất sinh ở tuổi 12, được phát hiện trên một tuyến xe bus ở tuổi 13 và xuất hiện trên bìa Vogue chỉ 2 năm sau đó; 3 đức ông chồng, 3 bận phá thai và 2 lần phá sản, nàng vẫn lộng lẫy xuất hiện tại mọi tuần lễ thời trang từ Paris đến New York, nàng đốt nóng sàn diễn của những thiên tài đương đại từ Thierry Mugler, Jean Paul Gaultier đến John Galliano bằng ngọn lửa bạch kim trên mái tóc bồng, khuôn mặt của yêu nữ thành tinh với cặp lưỡng quyền có thể dùng để cắt bánh mì.

Cách đây 67 năm, sau shot ảnh đầu đời do Herman Landschoff chụp thử, mẹ nàng nhận được lá thư từ chối khéo léo rằng “cô Carmen Dell’Orefice tuy rất khả ái, nhưng đáng tiếc, không mấy ăn ảnh”. Carmen lại tiếp tục cam chịu sự chê bai chì chiết từ bà mẹ nghèo nhưng cầu toàn đến khắc nghiệt. Cho đến nay, đã là cụ bà cao niên hiếm có, Carmen vẫn rùng mình khi nhớ lại “Tôi bị phũ phàng tước sạch mọi sự tự tin, đến đôi tai của mình cũng khiến tôi ngượng ngùng vì xấu hổ”. Chỉ có người cha đỡ đầu của cô đã không tin vào điều đó. Ông âm thầm gửi bức ảnh đến tòa soạn nhà Vogue. Một năm sau đó, hình ảnh của Carmen đã xuất hiện lẫy lừng trên trang bìa tạp chí này.

Ngày ấy, nàng chỉ là cô gái nhỏ còi xương đang chơi trò tình yêu với cậu con trai nhà bán tạp hóa trong xóm, và thoắt trở thành nhan sắc trang bìa của một trong những tờ tạp chí thời trang hùng mạnh nhất toàn cầu, nhưng vẫn trượt patin đến studio để tiết kiệm tiền đi xe bus.

Chính trong thế giới thời trang, Carmen tìm được cho mình người mà nàng coi như người mẹ thứ hai – người mẫu thượng hạng Dorian Leigh. Nàng hay gọi bà là “má”, còn Dorian trở thành thân chủ của những chiếc váy do nàng và mẹ nàng may.

Dorian Leigh

Má Dorian cho nàng một ít tiền để đi taxi đến nơi làm việc, còn nàng dùng tiền đó để mua thức ăn mang về nhà. Năm 1947, với sự can thiệp của “má Dorian”, khoản thu nhập còm cõi của cô gái trẻ được nâng lên mức 10 dollar mỗi giờ và thậm chí đến 25 dollar với các shot hình quảng cáo.

Ở tuổi 16, Carmen trở thành một trong những người mẫu trang bìa trẻ tuổi nhất của Vogue, là cục cưng của các nhiếp ảnh gia khét tiếng nhất cùng thời. Shot ảnh bìa cho Harper’s Bazaar năm 1960 do Melvin Sokolsky chụp mang tên Carmen Las Meninas đã trở thành bức ảnh huyền thoại được phổ biến và săn lùng khắp thế giới.

Với một sự xanh xao, dáng điệu kiêu kỳ, và khả năng tạo dáng siêu phàm với đôi cánh tay như cặp chân loài hồng hạc, Carmen chính thức trở thành nàng thơ của danh họa thiên tài Salvador Dalí.

Quyền lực của hormon đàn bà và gã bần tiện tốt số

Đến thời điểm này, trái với sự chờ đợi của hãng đại diện người mẫu và tờ Vogue, nàng thiên nga con vẫn chưa chịu thật sự bung nở vào vẻ đẹp thiếu nữ đến thì. Thất vọng với cô nhỏ còi cọc, hãng Eileen Ford từ chối tiếp tục đại diện cho Carmen, trong khi nhà Vogue cũng tỏ ra thờ ơ nhạt nhẽo, còn các photographer cũng đã chán ngấy việc phải chờ stylist nhồi khăn giấy vào áo ngực của cô thiên nga chậm lớn.

Đó là khi Carmen phải cầu cứu đến y học và những mũi tiêm để kích hoạt các dấu hiệu dậy thì. Như một lối thoát sự nghiệp hơn là một đòn trả đũa, Carmen bắt đầu nhận lời chụp catalog và nội y, với đôi bàn tay dài muốt che khuất gương mặt và mức lương vọt lên đến 300 dollar mỗi giờ.

Với lượng hormon đàn bà được kích phát bởi sự can thiệp của y học, Carmen một lần nữa ngự thế thượng phong làng mẫu với những đường cong ngốt người và sự già dặn bắt đầu nhuốm màu trên khuôn diện tiểu nữ thần.

“Khi này tôi mới 17 nhưng trông như một bà 35”. Cả một dạ tiệc đã được tổ chức long trọng để giới thiệu tiểu thần nữ vừa chín tới với các quý ngài trẻ của New York. Nàng nhanh chóng thu hút được sự ngưỡng mộ của các công tử hoang đàng phố lớn, từ tay chơi De Cicco, Igor Cassini cho đến Joseph P.Kennedy.

Nhưng tầm ngắm của giai nhân lại dừng lại ở ngài William Miles chững chạc, hơn nàng những 10 tuổi và là một doanh nhân. Nàng thuận ý kết hôn, và nhận ra mình chỉ đơn giản đã gia nhập một hãng đại diện tồi tàn và keo bẩn nhất trong lịch sử. Đức lang quân cương quyết bắt nàng phá thai, thâu tóm mọi món thu nhập của nàng, hàng tuần đích thân đến hãng nhận tiền lương của vợ và chi cho carmen 50 dollar mỗi tuần dằn túi. Nàng ly dị chồng ngay sau khi bé gái Laura ra đời, như nghiệp mệnh để lại từ mẹ nàng. Tóc nàng bắt đầu trổ bạc từ đấy. Đến tuổi 43, Carmen quyết định chấm dứt việc nhuộm tóc khi toàn bộ đã chuyển sang màu trắng bạc, cho nàng một vẻ uy nghiêm nửa như một nữ thần, nửa xa lạ như một loài linh thú diễm kiều, chính thức vĩnh biệt hình ảnh đằm thắm của nàng ballerina tóc mun.

Nhiếp ảnh gia cơ hội, một gã nghiện, và một xác chết

Không phải mất quá lâu để nàng lại khép cánh tình hồng hạc vào vòng tay nhiếp ảnh gia Richard Heimann sau chỉ 6 tháng quen biết. Thiếu phụ ngờ nghệch say sưa với cuộc hôn nhân mới và rắp tâm nghỉ hưu non để chuyên chú nghiệp tòng phu, và gã nhiếp ảnh gia cơ hội bỏ rơi nàng ngay tức khắc.

Chuyến sang sông lần thứ ba của nàng cũng diễn ra không lâu sau đó, với kiến trúc sư Richard Kaplan. Lời thề “cho đến khi nhắm mắt” trên thực tế kéo dài chưa đến 10 năm. Chàng hóa ra là một con nghiện hạng nặng, và họ chia tay khi Carmen khám phá ra việc đức phu quân lôi kéo cả cô con gái riêng của nàng là Laura vào vũng lầy ma túy. Về sau, Laura trở thành chuyên gia tư vấn cai nghiện có tiếng tại California.

Sau cuộc ly dị cuối cùng, giai nhân tuyệt vọng thất thểu trở về sàn diễn, và từ đó đến nay, dù vẫn dập dìu lên xuống vài chuyến đò tình tròng trành và chóng vánh, Carmen không còn rời bỏ sự nghiệp lần nào nữa – nàng dành sự chung thủy duy nhất cho điều sẽ không rời bỏ nàng. Và quả tình, sàn catwalk chưa thủy chung bền bỉ với bất cứ người mẫu nào như với Carmen.

Điều kì lạ là Bạch Mao Nương vị tình vẫn tiếp tục giúp đỡ các ông chồng của nàng ngay cả sau này. Nàng khuyên Ông Ba trở thành tay máy điện ảnh, chi trả mọi khoản để ông này trở thành đạo diễn, và cuối cùng thì phim Godspell cũng ra đời. Carmen xoa tay tâm đắc “Ít ra, có một số khoản đầu tư của tôi cũng có ích đấy chứ!”

Mãi đến cuối thập niên 1980, nàng rón rén thử thời vận một lần nữa với David Susskind – một host truyền hình lịch lãm. Nhưng quý ngài talkshow lăn ra chết trước ngày cưới, tưởng như chấm dứt mọi cố gắng cuối cùng của madame đa tình Carmen.

Nhan sắc lưu vong trong vòng tay tài phiệt

Cuộc đời người đàn bà có nhan sắc của mụ phù thủy hoạt hình ấy hẳn không hề là một chuyện thần thoại màu hồng. Nhưng tư chất kiêu hãnh tự tại, sự vô ưu khoáng đạt trong triết lý sống, mặc nhiên với mọi biến cố của số phận và con người ném về phía mình khiến người đàn bà trở thành một thánh mẫu uy nghiêm và vô nhiễm.

Không hẳn nàng là thể loại “lạc quan không khoan nhượng” với một niềm đam mê và tham vọng cào cấu bên trong để dằng dai bám trụ trong giới phồn hoa của thời trang cao cấp. Điềm tĩnh và thăng bằng hoàn hảo như một tư chất tối ưu của một vũ công ballet, nàng đào luyện cho riêng mình một nụ cười mềm mại, bí ẩn, nửa vị tha nửa mai mỉa vào mọi cú đá của số phận, nhưng vẫn ủy mị đàn bà đủ để thốt lên đầy sầu thảm “Than ôi, tôi biết làm gì khác đâu nào!”, rồi giang đôi cánh tay yêu kiều với những ngón dài hoa mỹ trong một dáng vẻ vừa bất lực, vừa sang cả đến cầu kỳ.

Nàng là nàng thơ của những cái tên khắc dưới chân mọi tượng đài, từ Horst, Avedon, Penn và Parkinson, cho đến thiên tài cổ quái Salvadore Dalí. Và nàng hẹn hò dan díu cũng với không ít trong số đó, mà nổi tiếng và ồn ào nhất là nhiếp ảnh gia Norman Parkinson. 41 tuổi, họ gặp nhau tại một bữa tiệc, ông khen rằng nàng “trông không đến nỗi nào so với một cái túi xương cũ nát” và khuyên nàng quay trở lại sự nghiệp người mẫu. Dalí tôn thờ nàng, còn “người đàn bà mặc quần và nhảy múa” Dietrich thì có lần lau dọn bếp cho nàng. Đó là một cuộc đời mà ký ức được nạm óng ánh bởi kỷ niệm, khuôn mặt và dấu ấn tài hoa của những siêu sao, thiên tài và huyền thoại.

Nhưng ánh hào quang của các tinh hoa thiên tài chỉ là thứ tài sản quá trừu tượng cho đời sống một bậc nhan sắc, còn những quý ngài trẻ tuổi si mê bộ môn tình ái với các quý bà độ tuổi mặn mòi lại không đam mê chiến tích cưu mang một nữ hoàng thất thế.

Nàng chọn đặt mình vào vòng tay tài phiệt. Trong những năm 80 và 90, Carmen thua toàn bộ tài sản vào thị trường chứng khoán, khánh tận đến mức phải đấu giá toàn bộ những bức ảnh quý từ thập niên 40, trao tất cả cho nhân tình là Norman Levy để đầu tư cho Madoff trong canh bạc chết người của thị trường tài chính. Trong suốt 12 năm, vợ chồng nhà Madoff cùng cặp đôi Carmen – Norman luôn thân thiết cặp kè cùng nhau như một gia đình hảo hữu tầng thượng lưu.

Có vẻ cuối cùng, Bạch Mao Nương đã tìm được chiếc áo vừa vặn, ấm áp và thừa lộng lẫy xa hoa để xứng hợp với mình: một người tình, và một nhà tư vấn đầu tư ngoại hạng.

Vụ lừa thế kỷ, và thứ tài sản không thể tịch biên

Levy mất năm 2005 khi 93 tuổi, để lại cho người tình cuối đời của ông là Carmen toàn bộ tài sản trị giá 244 triệu Mỹ kim, nhưng dưới quyền thừa hành và cai quản của hảo hữu Madoff.

Carmen khép cánh phù dung, sống an nhàn và vô ưu thụ hưởng trong sự tin cẩn tuyệt đối mà Levy dành cho Madoff – kẻ nắm trong tay vận mệnh tài chính của người đàn bà phù phiếm. Nàng Carmen âu sầu và đơn độc đều đặn đi ăn tối cùng người bảo trợ khôn ngoan và ân cần, nhưng những lần này không còn sự hiện diện của phu nhân Madoff.

Cùng lúc, thâu tóm quyền quản lý và đầu tư tài sản của Levy, Madoff dùng con số mê hoặc 244 triệu để thu hút hàng loạt nhà đầu tư thiêu thân khác vào vụ lừa lịch sử. Tháng 12 năm 2008, một nhà đầu tư khác, cũng là một quý bà đã gửi trọn tài sản tiết kiệm cả đời cho Madoff, gọi điện cho Carmen và cho nàng hay rằng Madoff đã thua đến đồng xu cuối cùng số tài sản khổng lồ của nàng cùng hàng loạt nạn nhân khác vào sàn chứng khoán. Yêu kiều, nàng thốt lên rền rĩ “Vậy là tôi khánh kiệt những 2 lần trong đời rồi đấy!”

Trắng tay, Bạch Mao Nương lại quay về với thế giới của những shot hình và catwalk, nơi nàng luôn được tôn thờ và chào đón, dù đang ở độ tuổi nào: “Tôi biết làm gì khác đây, khi những người đàn ông bỏ ra đi hoặc trở nên bất lực, hoặc chết? Làm mẫu là điều duy nhất tôi biết làm để tự nuôi mình, là lãnh vực duy nhất tôi am hiểu, và là thứ duy nhất khiến tôi hứng thú, nơi tôi yêu và được yêu lại”. Và cũng là thứ duy nhất thủy chung bề bỉ với nàng từ thập niên này sang thập niên khác.

Liệu tổn thương mà người tình quá cố để lại cho nàng – tay Madoff lừa đảo, có khiến trái tim già nua mệt nhừ của Bạch Mao Đại Nữ vĩnh viễn đóng cửa trước ái tình (dẫu chỉ trong tròm trèm 20 năm còn lại). Bạch Mao Nương lại lim dim khóe mắt bén ngọt viền chân chim “Nhà ngân hàng chắc sẽ lấy mất của tôi nhiều thứ. Nhưng không phải Tình Yêu”.

Tuy nhiên, lúc này có vẻ như Bạch Mao Nương đang không thuộc về vòng tay gã đàn ông nào cụ thể cả, nhưng chớ vội cho rằng đó là bởi dòng hormon hiếm hoi của tuổi dậy thì đã cạn kiệt trong cơ thể người đàn bà ấy. Khi được hỏi liệu dục tình đối với nàng khi này có còn là điều quan trọng, nàng hỏi lại “Thế thở có quan trọng không?”

Gần đây không lâu, khi được hỏi về một trong những bí quyết giữ vững chiếc vương miện nhan sắc trên đỉnh đầu kiêu hãnh, cụ bà kiều mị 80 tuổi đã hồn nhiên liệt kê ngoài những hãng kem thoa mặt và thực đơn chay tịnh là những buổi đánh golf cùng nhân tình trẻ, với tuổi đời chưa bằng một nửa của mình. Nàng đã học được thứ kiến thức ái tình khôn ngoan nhất của người đàn bà: si mê nhưng không tôn thờ, thụ hưởng nhưng không phụng sự.

Note lưu hương lộng lẫy tuổi 80

Áp lực nặng nề nhất cho một nữ cao niên 80 tuổi trong thế giới người mẫu “Đó là khi mấy tay designer đời mới cứ nằng nặc bắt tôi xỏ vào mấy cái quần da mà cả đời tôi không bao giờ mặc tới”

Nàng không than vãn, chỉ là “Bạn biết đấy, khi bạn ngấp nghé ngưỡng 80, áp lực không chỉ là nhan sắc, mà trên hết, đó là lòng tự tôn và danh dự – những note cuối cùng tinh túy nhất của nhan sắc đàn bà để dung nhan vào huyền thoại. Dẫu sao thì bản thân tôi cũng đã là một di tích sống rồi”. Thái độ thăng bằng và tuyệt đối quý phái của madame Carmen trong tình trạng khánh kiệt không khỏi nhắc người ta nghĩ đến một Marie Antoinette trên đường đến đoạn đầu đài, nhưng với Carmen, nàng tiến bước lên sàn catwalk.

Từ thời thủy tổ của nghề người mẫu, việc tuổi thọ các công dân catwalk vượt quá 24 đã là điều hiếm. “Thì tôi cũng nghĩ vậy. Tôi nghỉ hưu lần đầu năm 1959, hồi mới lấy ông chồng thứ hai được hai tuần. Ông ấy liền bỏ tôi vì điều đó, thế là tôi lại quay về với thời trang.”

Sẽ là sai lầm trầm trọng nếu cho rằng ẩn sau cốt cách quý phái ấy là một Carmen đầy tuyên ngôn bình quyền của thế hệ các nhà hoạt động đội đá vá trời và thô kệch. “Giải phóng phụ nữ hả? Làm ơn đừng giải phóng tôi được không? Tôi đã phải làm việc thật sự cật lực để đàn bà được như thế này. Tôi hết mình tôn trọng các bà các chị dũng cảm và giỏi giang ấy, nhưng làm ơn lắng nghe này, một khi bạn đã ở một độ tuổi nào đó như của tôi đây, làm ơn giữ lại cặp nịt ngực trên người. Năng động, tự do, với cặp nhũ thõng thệu thì cũng vẫn khó coi như thường”

Và nàng vẫn nghiễm nhiên là tượng đài sống của giới thời trang, từ các designer đến mọi siêu mẫu hàng thượng thặng. Nàng lộng lẫy, hào nhoáng, phù phiếm và tinh tế đến từng chiếc móng tay, nhưng đài các và tôn nghiêm như một nữ bá tước thời phong kiến trong bộ cánh thời thượng cầu kì, một chứng nhân sống sót của “kỷ haute couture” hoàng kim lừng lẫy.

Tất cả những điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với xuất thân bần hàn của cô bé còi cọc trượt patin đi làm thêm và tự may váy cho mình từ những tấm vải thừa. Vào những ngày đó, nàng và cô bạn chí thân là Suzy Parker – người mẫu cục cưng của Chanel, thường tha theo mình chiếc máy may trong những lần lưu diễn đến Paris. Họ say sưa ngắm nghía những vật phẩm xa xỉ của thời trang trong mọi buổi diễn, rồi về phòng khách sạn và tự may lấy cho mình những bộ váy tương tự, theo kiểu Paris, để mặc đến các buổi tiếp tân, dạ hội.

Hẳn nhiên, ngày nay, Carmen không còn phải tự cắt may xống váy cho mình nữa, nhưng có tới 5 chiếc máy may: “Bạn bè cũ, cứ chết đi là di chúc tặng lại cho tôi chiếc máy may cũ thuở cơ hàn của họ. Mà biết đâu đấy, nhà ngân hàng cứ gửi thư đòi tiền, lại dọa tịch biên căn hộ này của tôi bất cứ lúc nào. Có thể tôi sẽ lại cần đến chúng, quan trọng là sẽ vẫn có những buổi dạ tiệc cần xuất hiện cho tươm tất đàng hoàng. Có những thứ nhan sắc chỉ hoàng hoa vào cao trào của thanh xuân và phần số, rồi lụi tàn trong một thứ hương thừa héo hắt. Nếu là một loại nước hoa tỏa hương bền bỉ, bạn sẽ muốn những note cuối chỉn chu.”.

Chat với Carmen

Trí tuệ, nhan sắc, hay tài sản?

Tất cả. Nhưng theo thứ tự như trong câu hỏi.

Mơ ước thời thơ ấu của bà?

Hạnh phúc! Không đói. Và tự do.

Hầu như bà đã gặp, làm việc cùng, quen biết tất cả những tượng đài, vĩ nhân làng thời trang thế giới. Còn sót ai mà bà chưa gặp?

Madame Curie và Pierre Teilhard de Chardin

Hãy mô tả bản thân trong 3 từ.

Cao, bất hủ, khôn ngoan.

Vật gì bà luôn mang theo người?

Bằng lái, trong đó có ghi rõ tôi là người hiến xác, địa chỉ nhà mình, và chìa khóa.

Ai là người ảnh hưởng đến bà nhiều nhất?

1.     Mẹ tôi, nay đã mất

2.     Người bạn và chỗ dựa tinh thần suốt 64 năm là Eileen Ford, giờ đã 90 tuổi rồi

3.     Bạn gái thân suốt 58 năm Margaret Hoffman, giờ 95 tuổi và tinh thần minh mẫn hơn bao giờ.

4.     Sau đó là mọi quý ngài đã từng yêu tôi (sau cha tôi)

Nỗi sợ lớn nhất của bà?

Đạp vỏ chuối, trượt té.

Lần cuối bà nói yêu một ai đó là khi nào?

Cỡ 20 phút trước.

Lời khuyên tuyệt vời nhất bà từng được trao?

Hồi đó mẹ tôi nói “Thiên hạ đều có thể sai bét, và con luôn đúng!”

Trời ơi, bà mới chí lý làm sao!

dân Anglais thứ thiệt

Trác Thúy Miêu

Alice Temperley coi trọng những điển lễ, những dịp hội hè, và nhất là các đám cưới. Đó chính là người phụ nữ mà các nữ nhân hoàng tộc Anh quốc tìm đến để tham vấn chuyện sắc phục hội hè, và cả các fashionista trung lưu. Dù đó là đám cưới thôn trang vùng Glastonbury ảm đạm, hay các tân nương da nâu đến từ trảng nắng sóng sánh mật ong ở miền địa đàng Tuscany, nữ tông đồ người Anh sẽ vẫn phủ lên họ một lớp kem màu ngà như truyện cổ tích, biến họ thành những nàng Lolita vừa chín tới trong bộ cổ trang thời thượng, phóng khoáng và hoang đàng, hòa quyện oái oăm với duyên trầm mặc của một Jane Eyre thanh đạm nhưng kiêu kỳ dòng máu Anglais.


Chiếc váy màu cẩm thạch cho em gái công nương

Cách đây không lâu, ngày mà Sarah Burton đăng quang bằng bộ váy cưới hoàn hảo cho công nương Kate Middleton, nhưng cô em gái Pippa lại xuất hiện với chiếc váy màu xanh ít nhiều làm lu mờ cả cô chị trên đỉnh hôn nhân vương giả, thì cả nước Anh và châu Âu đã hướng sự ưu ái đặc biệt đến Alice Temperley – người đàn bà làm nên bộ váy màu cẩm thạch trứ danh nọ. Nàng lập tức được cả hoàng tộc vồ vập, bắt đầu với chính tân công nương Kate Middleton cho đến bà mẹ kế nhà chồng Camilla.

“Điều thú vị nhất với tôi là hình ảnh Pippa rời bữa dạ tiệc trong chiếc váy xanh, nó đã lan xa tới tận những đâu đâu.” Ngay buổi sáng sau ngày Sarah Burton lẫn Kate Middleton đăng quang với chiếc váy cưới hoàn hảo, trong khi cô em đăng quang thần tượng thời trang trong lòng mọi con dân tín đồ Anh quốc, thì tại Notting Hill, Alice Temperley bị tấn công bởi những yêu cầu mua các phiên bản của chiếc váy màu ngọc trứ danh ấy. Nhưng nàng từ chối “Pippa xứng đáng được sở hữu riêng chiếc váy ấy cho mình. Và tôi cũng không định làm rùm beng lên chỉ vì một chiếc váy, chỉ là một chiếc váy.”

Với giải Designer of the Year tại sự kiện 2011 Hollywood Syle Awards, cuối cùng thì bà trùm áo cưới Ăng-lê Alice Temperley nghiễm nhiên trở thành cục cưng của cộng đồng sao Mỹ, nhưng không ít nữ yếu nhân danh tiếng xứ cờ hoa, những cô đào Mỹ thượng hạng tìm đến tiệm Temperley và được khéo léo chối từ, thường là với lí do “chỉ còn hàng bày mẫu”. Các ngôi sao bước ra khỏi cửa tiệm nhà Temperley kiêu ngạo, nhún vai ngán ngẩm trước sự bảo thủ lì lợm của người đàn bà Anglais cuồng tín.

Alice cùng nhãn hàng vốn xưa nay khiêm tốn Temperley London bắt đầu thật sự được đặc biệt ưu ái bởi những nữ thân chủ hạng yếu nhân hoàng tộc, hoặc xoàng xĩnh ra cũng tầm minh tinh màn bạc, từ đào mụ đến đào tơ, và đặc biệt là những cô dâu tinh tế thừa đủ may mắn để đặt chiếc váy cưới Temperley London vào tầm ngắm. Lọt thỏm giữa cuộc tung hô quy mô rầm rộ ấy, bản thân Alice Temperley vẫn thu nhỏ, lặng lẽ, với một sự ngạo mạn của bản chất thuần chủng phớt tỉnh Ăng-lê.

Sự kiện đích thân Pippa – giờ đã vượt mặt cô chị trong vai trò thần tượng phong cách của giới fashionista Anh, xuất hiện thân mật ngay hàng ghế đầu trong show diễn tại New York của Temperley London, đủ khiến dân tình khiếp vía, báo chí râm ran những hàng tít lẫy lừng. Người ta sốt sắng muốn biết bằng cách nào Alice đã kéo được về phía mình một vị thân chủ thân thiết vương giả cỡ vậy, nàng chỉ ngơ ngác “Cô ấy lại mua đồ suốt, nhất là từ hồi đám cưới cô Kate. Rồi tôi rủ: ‘nè, Chủ Nhật tôi diễn show đó, cô thích coi không tôi để vé?’ và cô ấy đồng ý. Tôi không hề biết rằng nó sẽ được coi là một vụ tầm cỡ rộn ràng đến thế này, và tôi cũng không hiểu vì sao nó nên thế. Có lẽ rằng nếu cả tôi cũng nhảy cẫng lên vì cô Pippa, thì đó chẳng giống tôi chút nào, chẳng nằm trong sợi gene nào trong cấu tạo bản chất của tôi cả.

Pippa khả ái, tôi mến người khách hàng ấy và mời cô ấy đến show diễn của mình. Khái niệm này thì hiểu được, chứ còn bắt tôi cố nghĩ ra một điều gì phức tạp hơn thế thì không thể. Những điều đó với tôi xa lạ lắm.”

Người đàn bà thủ cựu và an nhiên ấy của lục địa già cuối cùng cũng nhẹ tâng đặt dấu ấn như đóng mộc hoàng gia Anh quốc lên thảm đỏ danh dự của những danh nhân dữ dằn nhất của làng thời trang thế giới, khi mà tầm cỡ quy mô của Tempeley London – cái tên cục bộ và kiêu hãnh, chưa thể gọi là một đế chế dàn trải đại đồng và hùng mạnh.

Tiểu quỷ vùng Somerset

Lớn lên ở điền trang Somerset, là trưởng nữ trong gia đình có 4 chị em, Alice luôn được cha khuyến khích nên trở thành một nhà nghiên cứu, hay một bác sĩ thú y, hoặc bất cứ thứ gì đại loại thế. Nhưng thừa hưởng từ chính cha mẹ mình niềm hứng khởi trong việc kiến tạo, cô gái dại dột lại thích cắt phăng những cái chụp đèn thời 1920 của bà thân sinh để làm nữ trang, nơ và xắc tay cầm chơi. “Mẹ tôi hay túm được tôi trong phòng ngủ của bà, bay thủ cái kéo to, lăm le quanh tủ quần áo của bà để cắt xén mọi thứ thành từng rẻo vải thảm hại, những chiếc khăn shawl, những chiếc váy, lồng chụp đèn, tất tật, một cách tàn nhẫn.”

Quả tình, cô trưởng nữ nhà Temperley có cho mình một vẻ hung hăng từ nhỏ “Tôi hung hăng cắt xén tóc mình tơi bời, rồi nhuộm lòe loẹt. Gần nhà tôi có bà hippie, hay tự nhuộm tóc bằng lá ngón cho đến khi nó đỏ rực rỡ lên. Tôi ấn tượng ghê gớm và học làm theo, nhưng tóc tôi lại ra màu cam chóe. Ở trường thì tôi bị coi là phần tử phiến loạn bởi những món tôi treo máng lên mình, tôi xé cụt vớ dài, cắt cao váy ngắn, đại loại thế, và cắt xén tả tơi cả những nội quy nhà trường. Tôi tuyệt vọng, tuyệt vọng, tuyệt vọng chực chờ cái ngày rời xa nơi ấy.”

“Tôi mê London. Có thể đi bộ ở mọi nơi, lang thang xuống mấy khu chợ cũ, vòng quanh Brick Lane, Covent Garden, lại ngược lối Soho sầm uất. Khi đó, tôi học chăm hẳn, bởi cho đến khi này, tôi thật sự được học cách kiến tạo thay cho cắt xé, xây thay vì phá. Trước đó tôi thích làm ra những thứ cầu kì chỉ để trưng bày là đẹp, và rồi tôi đã học được cách làm nên những thứ để trưng bày những gì lẽ ra nó che đậy, đó là cơ thể, rồi hơn nữa, đó là lối sống và tâm hồn.”

Với một tư tưởng duy mỹ hơn là một đầu óc chiến lược, Alice trở thành một quái tính được thời trang chính thống thuần dưỡng trong ngôi trường kì cựu của nước Anh. Cô bé Alice từ nhỏ đã biết đường loay hoay bán đi những đôi hoa tai thủ công trong trang trại trồng táo của gia đình, đã từng làm những món đồ thêu thủ công, những chiếc váy dạ tiệc đơn giản, bán cho các cửa hiệu dọc King’s Road và Covent Garden để tự trang trải tiền ăn học. “Điều này giúp tôi cân chỉnh kỹ năng sống và cả thái độ sáng tạo rất nhiều. Khi vào trường Royal College of Art, tôi đã biết làm mẫu và kinh doanh. Tôi nhận ra điều mình phải làm để bắt giấc mơ đi làm nuôi mình, và mình được trả tiền để sống trong mơ.”

Người đàn bà làm nghề may váy cưới

Nhưng chính sự thận trọng đó đã khiến một Alice Temperley không là một McQueen hay Gaultier phá chùa, bán trời không văn tự. Nàng kiến tạo nên những món xinh xắn, quý báu, và bất hủ tới mức an toàn. Khi mà các ngôi sao lẫn tín đồ đua nhau noi gương bạo ngược của Emilia Fox và Liberty Ross, và ít nhiều e dè với dòng góc cạnh của Kate Moss. Alice không chọn đạp đổ các thanh barrier, nàng chọn lòng tôn ngưỡng và tính công phu kỳ xảo, nâng tầm từng thiết kế lên hàng nghệ phẩm. “Tôi đang không cố chứng tỏ điều gì hay trở thành một hiện tượng mới nổi liều mồm. Tôi thuần túy thích tạo ra một cái gì đó mặc được, và mặc vào là đẹp. Không làm cách mạng, tôi làm đàn bà làm nghề may váy cưới, những bộ váy hoàn hảo.”

Temperley London đã ra đời như thế, ngay khi Alice tốt nghiệp vào năm 2000, với sự trợ lực hoàn hảo của tri kỷ Lars von Bennigsen.

Chỉ sáu năm sau đó, tờ Vogue Mỹ tung hô Alice là “nhà thiết kế gây sốt giữa đại cục thời trang Anh”, với những thiết kế mỏng manh màu ngà và trắng, những tảng đăng-ten thêu tinh xảo và dấu ấn những nghệ nhân thủ công siêu hạng của truyền thống may mặc đượm màu quân chủ.

Alice đã mang mình đi trên một đoạn đường xa là vậy, từ vùng thôn trang Somerset đến ngôi hội sở yêu kiều ở giữa khu Notting Hill thời thượng, với 5 nhãn hiệu độc lập, chiều chuộng những tín đồ vintage thượng hạng trên khắp 37 quốc gia, với từng thiết kế xứng đáng đượi coi là siêu phẩm tuyệt đỉnh của lối sống hoài cổ, lại hiển hiện một thái độ sống của mọi tiểu thư Ăng-lê đương đại.

Cho đến nay, chẵn một thập niên sau hôn lễ với Lars, những thiết kế váy cưới của Alice vẫn là một phiên bản hiển hiện buổi lễ thành hôn cầu kỳ nhưng tham đạm của họ, với chủ đề thẩm mỹ 1920, nơi nàng Alice Temperley chọn khoác cho mình bộ váy bằng chiffon nhàu, những mảnh ren tinh xảo nhất mà nàng cất công sưu tầm, được đính với những vảy cườm li ti chỉ 2mm rải rác, và tấm lưng trần đính chuỗi ngọc trân châu thanh nhã nhưng đầy khí chất công tằng tôn nữ kiêu sa.

Hầu như ngay lập tức, Alice, với tất cả đàn bà tính được thấm nhuần từ nền giáo dục cổ điển từ thời điền trang Somerset, đã ao ước thu gọn cuộc sống và mọi hoài bão vào một khuôn bếp gia đình. Khi này, chính Lars, với vai trò cái đầu tỉnh táo của Temperley London, và ngọn đại phong nâng đỡ cho sự nghiệp sáng tạo của vợ, đã không hề muốn có con. Mãi 6 năm sau, Alice mới được thỏa nguyện với đứa con đầu lòng.

Cũng cùng trong năm khai hoa, Alice chứng tỏ với vị quân phu CEO của mình một sự thăng bằng đáng nể mà nàng có thể dành cho hạnh phúc lẫn cơ đồ. Tháng Chín năm 2008, Alice tung ra sàn diễn bộ sưu tập xuân hè đình đám, và 5 ngày sau đó, nàng “tung” ra đời bé trai Fox London Temperley von Bennigsen Mackiewicz.

Giờ đây, gia đình họ lại tìm về sống ở Somerset 3 ngày mỗi tuần. Cô con gái vị trang chủ đã đi rất xa, chỉ để thong thả trở về, nhưng vẹn tròn và viên mãn. Chỉ với danh phận, các giải thưởng, những thân chủ có tên là Kate Middleton, Halle Berry, Scarlett Johansson và Sarah Jessica Parker, cùng tước hiệp sĩ hoàng gia MBE được phong tặng năm 2011 vì những cống hiến cho ngành thời trang Anh quốc, người ta mới hiểu được người mẹ trẻ chốn điền dã ấy đã đi bao xa.

Người đàn bà ngồi trong quả bóng thủy tinh

Đằng sau những thiết kế trầm mặc cổ điển, Alice Temperley đã từng được biết đến như một nữ hoàng tiệc tùng và tửu lượng đáng gờm. Đến giờ, người ta vẫn còn nhắc đến hồi sinh nhật tròn 30 vui nổ trời của nàng, cả một buổi dạ vũ Ả-rập với 400 vị khách mời ăn vận hào nhoáng khùng điên, với champagne chảy tràn như suối. Nhưng rồi nàng cùng chồng mua ngôi nhà ở Somerset, nơi Alice như một nữ sĩ miền quê, rút vào cái âu thủy tinh cách ly của mình, quẩn quanh với chồng con và những bản vẽ. “Tuyệt đối không một tiếng ồn, không tạp âm, dị vật nào được chào đón ở đây. Tôi khoanh vùng cuộc sống ở Somerset chỉ vừa đủ để sống vừa với chồng con – những người yêu thương nhất của tôi. Không điện thoại, internet, không gì cả, 3 ngày mỗi tuần. Chỉ có tôi, tình yêu, và những ý tưởng được hình thành trong bầu không khí vô nhiễm ấy. Chỉ ở một bầu không khí như vậy, tôi mới có thể toàn tâm nghĩ đến những chiếc váy cô dâu tinh khiết, một dòng nước hoa được chắt lọc tinh chất từ trong tư tưởng thanh tịnh toàn phần.”

Cùng lúc, ở nửa đầu cán cân đa nhân cách ấy, Alice ngả theo xu hướng internet hóa các hoạt động PR của nhãn hàng. Temperley London đang dần loại bỏ những buổi diễn để trưng bày hình ảnh trên internet, và Alice còn đang tìm nhiều phương tiện khác để thay thế một buổi diễn theo kiểu catwalk truyền thống. Chính tinh thần này giúp nàng vượt qua giai kỳ khủng hoảng kinh tế một cách tự tại và khôn ngoan nhất.

“Tôi có thể sống được trong một cái bong bóng, hay một cái âu bằng kính. Tôi cần một người đồng sự đủ tâm tri kỷ để bảo bọc mình khỏi mọi cọ xát với khía cạnh tài chính hay hành chính gì đó của công việc, và cả đời sống nữa. Tất cả mọi thứ diễn ra quá nhanh, và tự nhiên, như cách một quả bóng tuyết lăn lăn và to phình ra vậy. Khi cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra, tôi bần thần ngồi trong cái âu bằng thủy tinh của mình ngó ra, không ý thức được gì ngoài việc một đại gia bán lẻ nào đó đang nợ ngập đầu sa lầy phá sản. Tôi không tìm thấy trong cấu tạo gene của mình một mảnh nào cho phép tôi hiểu biết chút gì về cuộc đại chấn thê thảm này. Những cửa hàng nhỏ bắt đầu mất khả năng thanh toán, một số đóng cửa. Tôi chỉ còn cách từ chối bán hàng cho bất cứ ai không trả tiền ngay lập tức. Nhưng chính Lars mới là người đã đi qua hỏa ngục ấy thay tôi.”

Và ngay giữa cuộc suy thoái, như một động thái sáng suốt cho Temperley kết nối với thị trường trung tầm rộng lớn hơn, nàng tung ra dòng nhãn Alice by Temperley “Luôn là một cảm giác tích cực khi bắt tay làm một cái mới, trong khi mọi thứ xung quanh đang sụp đổ. Sẽ còn là một năm bão tố, và con thuyền mới này, dưới bàn tay hoa tiêu của Lars, sẽ đưa chúng tôi an toàn vượt khỏi vùng tâm bão.”

Câu chuyện cổ tích màu ivory

Mỗi thứ Bảy, Alice tiếp đến khoảng 15 cuộc hẹn với các nữ thân chủ đang mấp mé ngưỡng hôn nhân. Các cô dâu tương lai tìm đến với Temperley luôn tìm kiếm một cái gì đó “không như kiểu váy cưới thông dụng hoặc truyền thống, nhưng vẫn mang nét thiêng liêng, hơi bất thường, nhưng không giống một cái bánh kem nhân cô dâu.”

Và đó cũng chính là công thức ma thuật của những bộ váy cưới Temperley. Mặc nhiên với dàn thân chủ hoàng thân quốc thích, sự ưu ái của giới thảm đỏ showbiz, hay những ngợi ca của báo chí, Alice Temperley vẫn không lớn lắm khỏi cô bé tay cầm kéo to cắt xoẹt vào chụp đèn thập niên 20 và nhuộm tóc như trái bí đao – cô nhỏ bất toàn. “Tôi không cho rằng có nhiều người ngoài kia nhìn nhận tôi như một nhà thiết kế. Tôi hành xử khác lắm. Cứ nhìn vào những chiếc váy cưới như phục chế từ đầu thế kỷ trước, người ta cho rằng tôi lãng mạn vô cùng. Thật ra, so với tất cả những gì bềnh bồng lô xô và lóng lánh của giới thời trang áo cưới, thì tôi chỉ là một bà giáo khắc khổ dạy môn lịch sử, với đôi chân đặt vững dưới đất chớ không bay bổng giữa mây đăng-ten.”

Bước vào thế giới thời trang, như chính phong cách Thanh giáo khổ hạnh nhị sắc trắng đen của mình, Alice thật ra vẫn là cô nhóc 11 tuổi ở vườn táo Somerset, nghiện phim đen trắng, nhảy waltz trong bếp, giả đò mình là Marlene Dietrich hay Ginger Rogers. “Tôi ngán tận họng việc người ta dán mác cho thiết kế của tôi là trường phái bohemien, chỉ vì những nét váy flapper và tinh thần 1920 trong những chiếc váy cưới. Được thôi, thế là tôi dấn thân sâu hơn nữa, với hình hài Victoria, hay dòng hippie 1970 cho mùa hè 2011. Rồi xem, tôi sẽ minh chứng, những vẻ đẹp đó đã bất hủ đến nay, và rồi chúng sẽ không bao giờ lỗi thời. Những con số thập niên đi cùng chỉ có tác dụng gợi nhắc một thời kỳ, nhưng trường phái thẩm mỹ ấy là bất biến và vô hạn. Đó, theo tôi là điều quan trọng nhất cho một chiếc váy cưới. Chúng không nên cổ lỗ, nhưng sẽ không là những món vật quá hợp thời chỉ để vài năm sau đó, người ta phải ngượng ngùng vì vẻ quê mùa lạc mốt khi xem lại những tấm ảnh cưới.”

Thế là cô thôn nữ nước Anh chơi cuộc chơi của mình, từ Lolita đến Cleopatra, từ Grace Kelly sang Marie Antoinette, hay Jane Eyre đến ả mèo giống Gaulois bé bỏng Vanessa Paradis.

Giữa cuộc du hành vượt thời gian nhoay nhoáy như vậy, váy cưới nhà Temperley còn lại cho mình một dấu ấn gì đặc biệt? “Tôi thích làm ra những chiếc váy xinh, tinh xảo, màu trắng hoặc ivory kinh điển. Chúng trông yêu kiều nhưng thiêng liêng như một món hồi môn xưa cũ, nhưng không bệ vệ, trịnh trọng và dọa nạt bất cứ ai về gia thế hay độ kệch cỡm của nữ chủ nhân. Quan trọng hơn hết, nó giống như một bức tranh minh họa cho một câu chuyện cổ tích trang nhã với kết thúc có hậu, dù cô dâu có là nàng thủ thư khắc khổ, hay một nữ tài phiệt lang sói dữ dằn đến cỡ nào. Hôn lễ chính là ngày họ hoàn thiện tròn đâỳ câu chuyện cổ tích của riêng họ. Vậy, hãy hồn nhiên chọn mặc vào một chiếc váy trắng.

Alice lạc vào xứ sở khùng điên

Với tất cả những nỗi ám ảnh đầy màu sắc văn chương và sử học ấy, khó có thể hình dung tinh thần Temperley giữa một tuần lễ thời trang, và Alice tuyệt vọng vào vai của mình giữa khung cảnh nháo nhào mộng mị của một Wonderland. “Quả là nền công nghệ thời trang thế giới đã cho ra đời một đám đông hoảng loạn. Tôi có lạc lối thật, giữa cuộc đại hội phù hoa ấy. Như cô Alice lạc vào xứ sở khùng điên, tôi gặp không ít ả phù du ngạo mạn, những tay lập dị tham ái và loạn ngôn. Trời ơi, làm ơn thức tỉnh, chúng ta thiết kế ra thời trang, và đó không phải là một bộ môn khoa học. Chúng ta không bào chế thuốc cứu người, và càng không đang bảo vệ trái đất.”

Temperley không là một thế lực thương mại khét tiếng, nhưng bằng một tinh thần rất riêng, nàng hồn nhiên như một nhà truyền giáo tuẫn tiết, thiết lập cả một đế chế âm thầm. Tròn 1 thập niên sau sự ra đời của Temperley London, người ta nhận thấy làn sóng các nhà thiết kế trẻ và độc lập của nước Anh, lẳng lặng phục chế lại một tinh thần đế vương thuần chủng, ngạo mạn trên cả lối sống nô dịch thương hiệu, tác tạo ngay trên những chiếc máy may cổ lỗ trong mọi gian bếp, phòng ngủ, hay studio tự tạo dưới gầm garage. “Ngày nay, các celebrity trở thành các tông đồ khai sáng, và các nhãn mác thời trang là một thứ tôn giáo mê cuồng. Rập khuôn theo các tên tuổi lẫy lừng nhất, thật khó cho một nhà thiết kế trẻ để độc lập khởi sự mà không thúc thủ đầu quân cho một thánh đường lừng danh nào đó.”

Trào lưu nô dịch hàng hiệu có thể được nhìn thấy ở bất kì đâu, đặc biệt tại những thị phần chú trọng vào giới trẻ – những kẻ nông nổi, nhạy cảm với mọi trò khích tướng của các đấng cường quyền thời trang, từ tạp chí đến nhãn hàng. “Các phu nhân Anh quốc ở tầm tuổi tôi lại may mắn coi mix-and-match là một lối chơi tao nhã. Trong khi các tín đồ mới nhập môn say sưa rập khuôn theo hình mẫu celebrity, và đồng loạt nhuộm highlight, mặc jegging, dẫm bừa lên slimheel và hô hào thông điệp toàn dân cùng cá tính. Đâu đâu cũng thấy môi và ngực, thật thiểu não làm sao.”

Một người Anh chuyên chính và chủ thuyết của Temperley

Ngay từ khi mới thành lập, giữa những catwalk lẫy lừng của thời trang Anh, Alice điềm nhiên tung ra bộ sưu tập ngô nghê tự tại như một bài đồng dao cổ, với những chiếc váy thôn nữ thời thượng, tươi tắn lẫn uẩn mặc hương xưa.

So với bây giờ, có lẽ các tín đồ nhà Temperley đã có phần trưởng giả trang đài hơn hình hài đầu tiên ấy. Một phần do cuộc tấn công dồn dập của các tiểu thư nhà Middleton, và cũng bởi những tháng ngày Alice trải qua các cuộc chọn lọc đến hơn 300,000 hình ảnh đậm chất hoài cổ cho cuốn sách True British: Alice Temperley: “Sau một thập niên, người ta sẽ nghĩ nhiều hơn đến tủ quần áo của khách hàng, hơn là những ám ảnh vị kỷ sắc màu thẩm mỹ cá nhân. Thực hiện cuốn sách cũng là dịp để tôi đường hoàng nhìn lại 10 năm, những nơi đã đi qua, những trạng thái cảm xúc, cái cách mà tất cả hiển hiện như một biểu đồ khúc chiết, từ đó mà biết mình sẽ còn làm những gì về sau.” Và hẳn nhiên, ở đoạn cuối bảng biểu đồ thời cuộc ấy, người ta thấy hiển hiện tinh thần vương giả cầu kì trong tình hữu hảo của nhà thiết kế quân phiệt và hai tiểu thư nhà Middleton.

Cuốn Alice Temperley: Người Anh Chính Thống, đã có cho mình một tựa để chuẩn xác chân phương, đầy cao ngạo cục bộ như chính tên gọi Temperley London: tôi, và tinh thần nơi tôi sống, tất cả đã quá đủ cho một thái độ thời trang. Alice Temperley công nhiên tỏ lòng tôn ngưỡng các thẩm mỹ và lối sống truyền thống. Và như bản năng của đàn bà tính, nàng ưa nhìn về quá khứ để bói toán tương lai: “Làm một dân Ăng-lê đòi hỏi một sự can trường thực thụ, và tôi là một người ái quốc chuyên chính.”

Nhưng giữa một đại cục thời trang Anh quốc đương đại, với trào lưu chiết trung và cuộc tiêu khiển với họa tiết của những người Anh-mới, Alice vẫn không lạc lõng mà khôn ngoan ngồi vào chiếc ngai vintage chí tôn, quây quanh mình là những tín đồ thượng lưu hoài cổ. “Công nương và tiểu thư thứ nữ nhà Middleton, cả hai đều duyên dáng và khả ái – một dòng dõi Ăng-lê ưu tú hẳn hòi. Họ cho tôi một làn hơi trong mát giữa cuộc khuynh đảo làng thời trang của những diva showbiz từ nước Mỹ. Đây là các cô gái Anh chính tông, những vị đại diện tuyệt hảo cho thời trang và đẳng cấp nước Anh.”

Cuốn True British thoạt tiên đã là một dự án cá nhân, khi mà Alice và Lars cùng muốn nhìn lại một quãng đường dài tròn 1 thập niên của Temperley London, họ lôi ra những tư liệu, các phác thảo, và những hình ảnh cũ. Quá trình sắp xếp tích nhặt đã xâu chuỗi thành một cuốn sách hoàn chỉnh, một chủ thuyết hoàn hảo cho mệnh đề quân chủ của người đàn bà mang họ Temperley.

Vậy chủ thuyết đó là gì? Alice trả lời: “Đàn bà tính thuần túy, những giá trị thẩm mỹ bất hủ, trường phái chiết trung, không phải ngượng ngùng chùn tay trước mọi tiểu tiết cầu kì, hoa văn thêu, nền văn minh của nghệ thuật trang trí, và những gì mềm mại nhất. Với dòng hàng chủ lực, đó là những thiết kế cho dạ tiệc của quý bà, dòng thường nhật điệu đàng cho các tiểu thư son rỗi, và dòng cưới cho các tân nương kiểu cách sành điệu, tất cả được quy đồng thống nhất về một chủ thuyết đó, qua mọi mùa và mọi trào lưu.”

“Tôi chưa bao giờ cố để hợp thời hay gây sốt trào lưu. Không hẳn bởi bất cần, mà vì kết cục duy nhất của hợp thời là lỗi thời.”

Đó cũng là một thứ di sản mà cô Temperley ở Notting Hill muốn gửi lại cho thế hệ designer hậu duệ của nước Anh “Cứ thật thà với bản chất, đam mê hay thông điệp sẽ tự khắc hiển hiện trong tinh thần của thiết kế, hay bất cứ tạo vật gì bạn làm ra. Đây là một quá trình đòi hỏi cô lập, độc lập để được thuần khiết hoàn toàn. Đừng lắng nghe bất cứ ai.”

Quả vậy, với Alice, và với F, nếu thời trang là tôn giáo, thì thiết kế là lời xưng tội thật thà nhất. Người ta không thể đọc thuộc lòng lời xưng tội do kẻ khác viết nên.

Cũng chính với chủ thuyết này, Temperley London trở thành thánh đường của mọi tín đồ thấu đáo tinh thần vintage.

Bản tân cổ giao duyên của smartphone và Filofax

Đầu năm nay, Alice lại đường hoàng bắt tay với hãng văn phòng phẩm Filofax tung ra một bộ sưu tập không thể “Temperley” hơn, tôn vinh một lối sống tưởng như lạc thời giữa thế giới như một tổ ong lầm than rào rào tiếng bàn phím, nhoay nhoáy smartphone và tablet. Bộ sưu tập “Your Life in Your Hands” nhắc nhớ người ta đến một thế hệ của chị em nhà Bronte, những trang viết tay, các món văn phòng phẩm tinh tế – một dấu ấn đặc thù của Alice Temperley.

“Tôi ưng hợp tác với các hiệu truyền thống Anh quốc, như nhà Filofax, và cả nhà làm khăn lụa nổi tiếng Twinings nữa. Tôi bị mê hoặc bởi lối sống của những bữa tiệc trà thanh nhã, huyền thoại Earl Grey từ Trung Hoa vượt biển đến Âu châu. Vậy là tôi chọn các họa tiết in trên khăn lụa là những thành phần của món trà Earl Grey: cam bergamot, tinh dầu, những cái lọ sứ đời Minh, v.v… Thế là tôi có món trà thượng hảo hạng Twinings Tea!”

Như một nhãn hàng tri kỷ, những cuốn sổ tay của Filofax kết hợp với thiết kế của Temperley trở thành một món cocktail hoàn hảo giữa tính chức năng, lối sống công danh xưa cũ đầy thi vị, và thẩm mỹ cầu kỳ nhưng tuyệt nhiên tinh tế của một vật phẩm xa xỉ hương xưa. Chúng được kết đính trang trí với ren, những đồng xu cổ và loại da bọc thượng hạng. Thiết kế The Guinea (đồng ghi-nê cổ) là một món vật hữu dụng và tinh xảo đủ để mang từ văn phòng đến dạ tiệc. Trong khi đó, thiết kế The Affair (cuộc tình) là tuyệt phẩm dành riêng cho các quý cô làm công việc sáng tạo, lấy từ kinh nghiệm sử dụng của chính Alice – cũng là một thân chủ trung thành của Filofax, để lấy cảm hứng từ tư duy thiết kế nội thất, một tiểu thư phòng tuyệt mỹ chứa đựng các bản giấy khổ A5, lí tưởng cho việc ghi chép lẫn kí họa phác thảo. Các phiên bản hạn chế của những cuốn sổ tay này, ngoài các món văn phòng phẩm được đính kèm bên trong, còn có những công thức nấu ăn của vua bếp Ăng-lê Mark Hix, một mảnh thư nhỏ kiểu rỉ tai mách lẻo về những hội chợ, các quán café, tiệm sách, điểm đến ưa thích, và thậm chí cả bài tập yoga của chính Alice Temperley!

Và như thế, mỗi nữ chủ nhân đủ duy mỹ để sở hữu một phiên bản Temperley for Filofax sẽ nghiễm nhiên được chào đón vào một phong cách sống tao nhã, như một tri kỷ của Alice Temperley.

Ai nói người Anh chuyên chính không dân chủ và thân thiện, đương nhiên, ở mức giá 400 bảng Anh?

Lời cuối cùng từ nhà sáng tạo “Sự nghiệp, đó cũng là một khía cạnh của cảm xúc, nếu không là nơi mà cảm xúc được dung dưỡng mãnh liệt nhất. Nó cần những sản phẩm có cảm tính và mang dấu ấn cá nhân hơn. Những dòng thủ bút, những nét phác thảo tay, cảm giác của làn giấy thượng hạng trượt bên dưới ngòi viết, đó là tầng tối cao của thú xa xỉ thượng lưu.

Smartphone có thể có chức năng notebook, thế thì một cuốn sổ tay sẽ có ngăn đựng smartphone. Dung hòa hoàn hảo, phải không nào?”

TIPS BOX

Chiếc váy cưới hoàn hảo:

Chồng tôi muốn lấy tôi làm vợ từ hồi chưa nhìn thấy cái váy cưới. Tôi tin chắc các vị hôn phu khác đều vậy. Đương nhiên nên là chiếc váy biết ca tụng tối đa mọi lợi điểm hình thể của tân nương. Một chiếc váy cưới hoàn hảo nên cho cảm giác rằng cô dâu đang thư giãn và hưởng thụ hạnh phúc.

Chiếc váy cưới đáng nhớ nhất:

Là váy cưới của chính tôi! Tôi đã thử tự vẽ 3 phác thảo khác nhau, rồi chọn ra chiếc mình ưng ý nhất. Chúng đều điểm những tảng ren thêu kiểu thời Victoria, những mảnh cườm mang hơi hướm flapper thập niên 1920s, và đính những hạt trân châu tôi túc tắc gom nhặt giữ gìn như báu vật từ hồi còn nhỏ.

Chiếc váy cưới của bà thân mẫu:

Mẹ tôi lấy cha tôi, mặc chiếc váy hoa, làm lễ trong khu vườn miền nông trang.

Lời khuyên cho những đôi uyên ương trẻ?

Cười, thật thoải mái. Bảo bọc cho nhau. Và luôn thành thật.

Bài hát lí tưởng nhất cho một đám cưới:

Bản “Smile” của Shirley Bassey.

 

tội ác bên trong lớp váy tín đồ

Hoa Nhài Đen

Có thể nói, nội y, hay còn gọi một cách cầu kì đúng điệu Francophone là “lingerie”, chính là cách mà thời trang “sờ chạm” trực tiếp nhất đến các tín đồ của mình. Nhưng sự sờ chạm vào những phần mẫn cảm nhất của tòa thân thể ấy, là một sự vuốt ve, nâng niu chiều chuộng, hay những cọ xát thô lỗ, lại không do Thời Trang quyết định.

Nhưng những cú đụng chạm ấy âm thầm diễn ra nơi ít người nhìn thấy nhất, giấu bên dưới lớp trang phục hào nhoáng bên ngoài. Nhưng nếu thời trang là tuyên ngôn và thông điệp, thì lingerie chính là lời tuyên ngôn cuối cùng, long trọng nhất và cũng thật thà nhất về nữ chủ nhân của nó, dù không hề là lời tuyên ngôn được hét to cho mọi người cùng nghe, ngoại trừ một khán-thính giả tối trọng và duy nhất vào cuối ngày.

Bạn có thể chi 20 USD cho một chiếc váy cưới hoàn hảo tại flea market, nhưng mọi fashionista văn minh đều nên hiểu, nếu có 2 thứ trên tổng diện cơ thể của bạn đòi hỏi đầu tư cầu kì và xa xỉ nhất, đó chỉ có thể là giày và lingerie.

Vậy mà đây lại chính là phần trang phục đang bị ngược đãi nhiều nhất quanh ta. Những cuộc ngược đãi thầm lặng bị đè nén dưới những lớp áo xống. Đôi khi đâu đó trong một công sở, trên đường hay tại một night club, những cuộc ngược đãi ấy vẫn bật thoát một tiếng thét thảm họa vươn ra ngoài: một sợi dây suspender đính hạt nhựa Trung Quốc tố cáo cả một tiểu khu hàng nhái ẩn giấu bên trong, một lưng quần màu khó xác định vươn ra khỏi lưng quần jeans như tiếng thét thất thanh cầu cứu, hay một cặp mông bị phân đều chằn chặn bốn khối bởi một vết hằn chữ V, tố cáo một chiếc quần grannie cổ lỗ sĩ bên dưới lớp váy bó tân thời.

Bạn có thể đứng 20 phút trước tủ quần áo rộng mở và thay vào cởi ra tổng cộng 5 lần cho mỗi cuộc sửa soạn, để rồi lướt thật nhanh qua ngăn kéo lingerie với một sự lựa chọn bất kì.

Nếu quả vậy, thật đáng tiếc, bạn nên làm ngược lại!

Lingerie Hồ Quảng và Nghệ Thuật Trang Trí Đỉnh Cao

Thoạt tiên phải nói đến các nàng diva đa tình và đỏm dáng. Tưởng chừng họ là những tín đồ cục cưng của thời trang tuẫn tiết vì sự cầu kì và tinh thần lãng mạn đến tận lớp lót.

Bạn như một nghệ sĩ và mọi lớp áo quần được đối xử như phục trang trình diễn, và lingerie là thứ để dành cho những show diễn tài tình nhất, cho một khán giả đặc biệt may mắn duy nhất. Đó là khi các thảm họa bắt đầu, và ngay lập tức, F cần có những tiếng còi cảnh tỉnh.

1. Sex Doll:

Không có cái tên nào phù hợp hơn để gọi trường phái lingerie này. Chúng được thiết kế để biến người mặc trở thành một búp-bê tình dục lòe loẹt và ngớ ngẩn. Quần không đáy, coup áo được đục hai lỗ, trông tựa như loại áo đặc chủng của phụ nữ đang cho con bú. Bạn có cả một cái chợ buôn sỉ phụ liệu may mặc trên chỉ 3 rẻo vải tí hon: ren, bèo nhún, đăng-ten, gấu bông to bằng ruồi, vải đốm da beo, những quả pom pom bằng bông xù, hạt nhựa giả pha-lê, v.v…

Món lingerie “đặc chủng” này trông có vẻ phù phiếm nhưng rõ ràng ngập ngụa thuộc tính thực dụng của một món trang phục chức năng. Nhưng ngoại trừ trường hợp bạn đang hẹn hò với một người đàn ông đặc biệt hâm mộ búp bê Barbie, còn thì xác suất bạn trông không hề giống một Thiên Thần nhà Victoria’s Secret là 99.9%!

Đã từng có thời, điều này được coi là sexy, trong những cuốn video xxx thời thập niên 80, nhưng đến nay, vào 2012, chúng chỉ còn đồng nghĩa với những nam tài tử phim đen đầy lông lá, nhạc pop bằng organ điện tử, hay tệ hơn nữa là các cô nàng phố đèn đỏ Patpong ở Bangkok – những thứ chỉ phát huy tác dụng duy nhất và phũ phàng hiệu lực ngay tại chỗ là hiệu quả diệt dục.

Thật tệ nếu bạn tự đánh giá rằng người đàn ông của mình sẽ nhảy dựng lên vì sung sướng khi bạn xuất hiện, ngô nghê với các món khí cụ bằng ren ấy, châu thân lỉnh kỉnh gấu bông, bong bóng, tai thỏ lẫn dây suspender đính vào vớ lưới nhì nhoằng.

Trong thẩm mỹ phòng the các thế hệ trước, vâng, một quý bà ren rua đầy mình, tay cầm tẩu thuốc và cả cái khăn choàng lông phe phẩy như phục trang Hồ Quảng là biểu tượng của những gì li kỳ và gay cấn xảy ra sau 11 giờ tối. Nhưng nếu bạn đang không yêu đương với một vị cao niên, thì đừng bao giờ quên nguyên tắc “càng ít càng nhiều”, và “vui mắt” không đồng nghĩa với “khôi hài”.

2. Pin-up Lolita:

Một biến thể văn minh của dòng lingerie phố đèn đỏ nói trên chính là những kiểu nội y nhắc nhớ các trào lưu pin-up thập niên 50 và bộ bikini của nàng BB thập niên 60.

Bạn gặp chúng ở bất cứ đâu, với một chút ren nhún vui vui, lốm đốm chấm polka, hoặc kẻ sọc kiểu thôn nữ phát rồ, lưng quần thấp như tuột trễ dưới xương chậu và cặp coup tròn xoay mềm mại chỉ đủ ôm nửa bầu ngực dưới. Chúng là một thứ ngô nghê vờ vịt, che đậy nhưng chào mời, bất định và đồng bóng, dậy thì và hồi xuân, ngay cả khi ôm gọn lên những đường cong mùi mẫn của thân hình diva tuổi vào thu (nếu nàng còn may mắn giữ được những nơi cần thon gọn)

Nói một cách khác, pin-up lingerie là một món hay ho rất nên có mặt trong mọi ngăn kéo tối mật của tín đồ lãng mạn. Nhưng ngay cả khi bạn là một cô nàng quen đóng khung lệ bộ trong những bộ suits lịch thiệp, hãy cho phép mình một chút nghịch ngợm hư hỏng vô hại bên dưới lớp váy đen đầy phẩm giá.

Nhưng hãy cẩn thận! Chỉ cần một chút quá tay mất cân bằng, bạn sẽ hóa thân thành một nhân vật hoạt hình ngập chìm trong bèo nhún, và hình ảnh mỹ nhân mẫu giáo ấy khó lòng có thể gợi chút hứng tình nào. Minnie Mouse có thể nổi tiếng vang lừng và được mến mộ thật đấy, nhưng không người đàn ông hay cậu trai nào muốn hẹn hò với nó cả, ngoài một con chuột tưởng tượng.

Cuối cùng thì yếu tố ghi điểm của dòng Lolita lingerie này vẫn được thực hiện tối ưu trong phòng ngủ, như một lời tuyên ngôn đầy màu sắc nữ tính của sự sẵn sàng và lời hứa hẹn đầy hào hứng của một cuộc tiêu khiển vô ưu.

Thảm Họa Nội Y Thực Dụng

Phổ biến hơn hẳn so với sự cầu kì của trường phái hoài cổ Hồ Quảng nói trên, là những thảm họa của định kiến chức năng khi nói đến nội y, để ấn định chúng vào cụm từ “quần áo lót”. Ngay cả các thương hiệu lẫy lừng tên tuổi, những chuỗi cửa hàng bán lẻ cho đến những quầy sạp nhà lồng, kiểu nội y chức năng này thu hút từ cô nhỏ mới dậy thì tập thói cả thẹn, cho đến những cô nàng vừa lập gia đình và bắt đầu lo ngại vấn nạn mỡ thừa.

Chúng là những khí cụ nâng đỡ, tém gọn và tái quy hoạch các khối phần thân thể. Những cặp coup nhồi đệm push-up, những kiểu quần grannie lưng cao bó bụng, và cả những cặp pantyhose tiện dụng.

Tuẫn tiết trong cuộc gò nén thân hình, bạn sẽ không thể ngờ chúng có thể dẫn dắt bạn đến những tội ác thời trang ghê gớm nhất.

1. “Gia Tài Của Nội”:

Bằng một niềm tin hồn nhiên nào đó, bạn hi vọng phần lưng cao và dày bản của loại quần lót bó bụng này sẽ ôm giữ những mảng cơ thể lỏng lẻo và chèn ép bộ nội tạng của bạn lại thành vòng lưng ong. Nhưng kết quả luôn luôn có được, đó là ngấn lưng quần nghiệt ngã hằn sâu trên những tảng cơ đã rệu rã như sắp bong tróc tan chảy khỏi cơ thể bạn, những khối cơ rung rinh bị dồn nén và đẩy ngược cho đến kỳ phun trào ra khỏi lưng quần và, đương nhiên, bộ nội tạng quá tải của bạn vẫn ở nguyên vị trí cũ với thể tích không đổi.

Điều tệ hại hơn nữa, thứ đai trinh tiết bất đắc dĩ này sẽ cho bạn một phong cách xứng danh dũng sĩ diệt dục khi trút bỏ bộ cánh bên ngoài, và thứ cảm giác gần gũi duy nhất với một người đàn bà trong chiếc quần như thế chỉ có thể là hình ảnh võ sĩ môn vật tự do hoặc các cụ bà đáng kính.

Không hài lòng với vòng eo lỏng lẻo của mình? Hãy bỏ số tiền tương đương một tá quần như vậy vào một cái thẻ tập thường xuyên hay một chiếc xe đạp, bằng không thì hãy tập làm quen với những ngấn mỡ phun trào ẩn hiện sau lớp áo, và những tiếng thét kinh hoàng vang lên gần bạn mỗi bận cởi đồ.

Nhưng, oái oăm thay, điểm cộng của kiểu quần lót grannie tân thời với bản lưng cao lại phát huy dáng vẻ gợi tình của một thân hình thon thả, xương hông cân đối, và đặc biệt với cặp dây nịt vớ – một thứ hơi hướm bdsm cực kì kinh điển và gợi tình! Đến đây thì chức năng tạo dáng của nó được phát triển đúng đắn nhất, tức là định hình và tôn dáng cho nữ chủ nhân, với cặp chân như được kéo dài hơn nhờ phần eo nâng cao và phần bụng mềm được bó săn thít, phẳng phiu. Một khi thoát y và được mặc như món trang phục rù quến trong phòng ngủ, chiếc quần lót ôm bó lưng cao, với những đường nẹp luồn xương na ná những chiếc corset kinh điển của Jean Paul Gaultier sẽ khiến bạn trông như một món quà được long trọng gói ghém lịch sự đến mức không người đàn ông có lương tri nào không muốn mau mau xé bỏ cái gói để chóng hưởng món quà theo một cách không hề lịch sự chút nào cả.

Một biến thể tinh tế của granny panties, với chất liệu mỏng và một tỉ lệ đăng-ten chấm phá khôn ngoan để cân chỉnh form dáng thô rộng của chiếc quần, sẽ cho bạn vẻ mong manh có khả năng kín đáo trêu mời mọi tư tưởng manh động, và các cuộc tấn công được hoan nghênh nhằm vào tạo vật mỏng manh sương khói ấy.

Thế là cuối cùng, chẳng có thứ nội y nào thay thế cho một thực đơn khôn ngoan, kỷ luật vận động hay phẫu thuật thẩm mỹ cả! Còn nếu bạn không thể ăn kiêng, tập thể dục và cũng phản đối nốt phẫu thuật thẩm mỹ, nhưng lại trông cậy vào một chiếc quần lót để cho mình vòng eo gợi tình, thì, đương nhiên, bạn rất không nên thoát y trước mặt bất cứ ai cả!

2. Sporty Undies:

Vậy là từ thời gây sóng gây gió của Mel C nhóm Ngũ Vị, khái niệm “sporty” mất hết ý nghĩa về sự gợi cảm của thể hình khỏe mạnh và cô nàng năng động, mà chỉ còn gợi nhớ đến trán cao miệng rộng, vạm vỡ, và múa hát. Ngay cả những bộ đồ lót kiểu dáng thể thao bằng thun co giãn cũng không giúp cải thiện tình hình hơn chút nào. Chúng có thể phù hợp trong phòng thay quần áo của một lớp thể dục nào đó, nhưng làm ơn, đừng nhầm lẫn khi mang chúng vào để tạo hình cho một nữ kiện tướng đại vận hội phòng the.

Tệ hại hơn hết, các nẹp thun viền sẽ tiết lộ bất cứ gam mỡ thừa nào tích tụ tại vòng eo và ngang mông. Để điều tiết ngấn chữ V và tinh thần thể thao hùng hục ấy, một chiếc quần thể thao dáng G-string hay “thong” sẽ là giải pháp tối ưu, an toàn nhưng vẫn nóng bỏng.

Tuy nhiên, nếu bạn là fashionista dòng casual bụi phủi, thường xuyên cặp kè với quần cargo lưng xệ hoặc jeans, thì những dải nẹp lưng quần sặc sỡ sẽ là điểm nhấn nhá vờ như vô tình nhưng gợi ý lắm thứ hay ho. Nhưng bạn sẽ phải chấp nhận một luật bất thành văn của tín đồ trường phái sporty, đó là những bộ ngực trần bên dưới chiếc sơ-mi nam phong phanh vờ vịt, hoặc chiếc tanktop khỏe mạnh, phóng khoáng và trêu ngươi.

3. Ngẫu hứng Mismatch:

Cùng với một cuộc chơi mismatch với những mảnh không cùng một bộ, bạn là hiện thân của lối sống “bán nghệ sĩ” của những cô nàng cẩu thả một cách hữu ý, hút Marloboro Light cao bồi nửa mùa, shopping bằng thẻ, có một công việc dính dáng xa gần tới thời trang và hành xử như đang sống ở Notting Hill. Nói chung là có vẻ vui nhộn và dễ thở.

Mốt này trở nên thịnh cực kì hồi thời của Britney Spears, dẫu sao thì không lâu sau đó cô nàng cũng được nhìn thấy mặc một bộ đồ hình chú heo màu hồng nên đây cũng không hề là một tấm gương điển hình đáng đưa vào cân nhắc cho lắm.

Nhưng kể từ đó, những cô nàng thế hệ “nghệ sĩ một nửa” bắt đầu hứng thú với trào lưu mismatch như một sự tự do buông tuồng dung túng cho thói cẩu thả, một lối thoát dễ dãi để bao biện cho thời trang luộm thuộm. Thảm họa sẽ thật sự diễn ra một khi bạn kết hợp một chiếc quần kiểu thanh nữ virginal bé xíu bằng ren màu trắng ngà với một cặp áo ngực bằng thun cotton kẻ sọc. Đó sẽ là một cặp đôi khiên cưỡng và nhếch nhác, một kiểu tự do vô chính phủ quá đà. Bạn trông giống một cô nữ sinh kí túc, đã mắt nhắm mắt mở vơ bừa những mảnh lingerie của mấy cô bạn cùng phòng mà quàng bừa vào người. Không có sự hời hợt nào có thể xúc phạm thời trang thậm tệ hơn thế, và cũng như cô nàng mặc quần grannie, tốt hơn hết bạn không bao giờ nên cởi quần áo trước mặt bất cứ ai.

Chớ vội cả tin vào cảm giác dễ dãi của vẻ ngẫu hứng cố tình ấy! Tiêu khiển với mismatch là một bộ môn khoa học cao siêu, đặc biệt khi dính dáng đến nội y. Bạn phải tính toán đến sự hài hòa về màu sắc nhưng trên hai mảnh chất liệu đối nghịch, hoặc là đối lập hoàn toàn về màu, nhưng tương thích tài tình về chất liệu hay tại một chi tiết trang trí bất ngờ nào đó. Sự va chạm đối nghịch của hai phần trong cùng một cặp sẽ tạo nên một bức tiểu họa lập thể lí thú với những hiệu ứng bất ngờ.

Một chiếc quần spandex kiểu boyshorts như cặp quần đùi con trai ngắn cũn mặc với cặp nịt ngực ren đỏ thắm sặc vẻ quí bà là một dẫn dụ hoàn hảo, chẳng hạn. Bạn thích phá luật và tự làm luật, vậy đó! Bạn không thích việc mọi thứ phải đi theo một cặp đồng màu. Còn trong mắt các chàng, đây là cả một sự thay đổi lí thú sau màn trình diễn của ái tình kẹo ngọt đều đặn hàng đêm. Bên dưới bất kể bộ váy áo nào, bạn đột ngột xuất hiện đầy ngẫu hứng, khoáng đạt, vô ưu, và vui mắt trong một dáng điệu ngộ nghĩnh, hoặc bởi quáng quàng hậu đậu đến mức không tìm ra mảnh còn lại của một bộ ton-suit-ton, hoặc bạn thừa mứa tự tin vào thân hình ngon rau ráu tới mức chẳng buồn xét nét đến bộ đồ lót vốn chẳng bám được trên da quá vài giờ mỗi ngày!

vintage: hoài cổ & thức thời

 

Hoa Nhài Đen

Mùa thời trang vừa qua, từ Spring-Summer với cú ghi điểm lẫy lừng nhà Gucci qua màn tái hiện mốt flapper 20’s, mọi tuần lễ thời trang đều ngập trong đăng-ten, hơi hướm những chiếc quần ống loe và những cặp mắt kính màu trà nhạt to như mắt chuồn chuồn hồi 70’s cũng đã được dự báo ngoài thị trường, cùng lúc catwalk nhà LV biến thành một thứ công viên Disney với mọi nét hoa mộng của một câu chuyện cổ tích trong mơ, dệt bằng đăng-ten trên silhouette vintage 60’s không thể nhầm lẫn… Người ta nôm na gọi đó là mùa của vintage!

 

Vintage Không Hề Là Thời Trang Chính Thống!

Các tín đồ vintage bĩu môi: “Vintage ư? Từ đời nào rồi, Diễm!”

Phải chăng chúng ta luôn là vòng quay ngớ ngẩn tự lặp lại mình như vòng ngựa gỗ của Marc Jacobs?

Phải chăng thời trang vẫn luôn là sự cũ kỹ luân hồi?

Phải chăng cả thế giới là tín đồ vintage?

Trên thực tế, đôi khi chúng ta quên đi một thế giới ngầm vẫn luôn tồn tại song song với những trào lưu luôn thay đổi của thời trang đương đại.

Nhưng vintage chưa hề là thời trang, hay một dòng thời trang chính thống, cho đến khi những John Galliano, Marc Jacobs hay Miuccia Prada quyết định lôi chúng ra khỏi bảo tàng hay những phiên chợ flea market, đặt chúng lên runway đương đại một lần nữa, sau khi tài tình thổi phà vào đó mọi giá trị thẩm mỹ tân thời, và biến chúng thành những tuyệt phẩm thương mại, hay những phiên bản cổ vật dư thừa tiềm năng cháy chợ.

Vintage chưa hề là thời trang, vì khi nó trở thành thời trang, nó buộc phải bước ra khỏi mảnh sân sau vintage

Ralph Lauren SS-2012

Vương quốc cổ đại của những sơn nữ điên tình

Nguồn gốc thời trang vintage, vốn là một uyển ngữ mỹ miều cho những món trang phục cũ, thậm chí đã qua vài đời chủ nhân, vốn là một chiêu thức cổ xưa của các nữ tiền nhân tằn tiện. Cho đến nay, vintage đại diện nhiều hơn cho việc tái hiện, phục chế những trào lưu thời trang quá vãng, gồm cả retro và antique, với yếu tố sáng tạo hầu như không có, hoặc rất thấp.

Vintage tồn tại song song với vòng quay trào lưu của thời trang đương đại, và trở thành một góc khuất phía sau bề mặt sôi nổi của các biến chuyển của thời trang chính thống, nằm ngoài mọi quy luật đào thải luân hồi. Vintage không chỉ là phép cứu rỗi cho những diva cổ điển với tinh thần thủ cựu bài tân nặng nghiệp, những con nghiện hương xưa chính hiệu, mà đây còn là vùng đất dung dưỡng thú sưu tầm của shopper mỏng thẻ bởi cơ hội cho những món săn chính hãng với tag giá bình dân. Còn đối với các fashionista trí thức, vintage là một lựa chọn cho thông điệp văn hóa. Người ta có thể đoán được dòng văn học, triết lý sống hay trường phái mỹ thuật ưa thích của nữ chủ nhân, dẫu đó là văn học cổ điển, thuyết hiện sinh, hoặc dark-art.

Đó là một nền văn minh thời trang tự trị, nơi các nữ công dân của nó nhắc nhớ đến những tinh thần hoàng kim quá vãng của lịch sử thời trang, hoặc đơn giản chỉ tạo nên cảnh tượng một cuộc oanh tạc của các cô gái nhỏ vào rương quần áo cũ của ngoại. Đôi khi, sự cầu kì và tinh tế được thay thế bằng hình hài nhàu nhĩ của boho 70’s, bị ép duyên với cặp hoa tai disco 80’s, và mắt khói rock chic, để kết thúc bằng một hình mạo vui nhộn diêm dúa của sơn nữ điên tình.

Mặc tình, vintage vẫn tồn tại, ngộ nghĩnh và an nhiên, nơi những hồn vía retro thoát khỏi vòng xoay đào thải nghiệt ngã của những mùa thời trang thương mại. Từ đó, vintage khoác vào mình một giá trị vượt tầm những món vật cũ xưa, vintage trở thành một thông điệp và lối sống, được gìn giữ và tôn vinh bởi những tín đồ riêng của nó, trong khoảng sân sau của trường phái bất hủ và mọi giá trị văn hóa đi kèm.

 

Lãng mạn phục hưng hay chiến lược thương mại Déjà Vu

Cuộc dịch chuyển các mùa trào lưu của thời trang đương đại, và những thế lực thời trang thay nhau tung lên catwalk những sắc màu cạnh tranh gay gắt nhất, như một sự cố gắng tuyệt vọng tìm kiếm những cuộc thay hình đổi dạng mới mẻ, thậm chí quái dị, với mục đích duy nhất là khác biệt và trội bật. Các mùa haute couture biến thành những lễ hội giả trang với giá trị giải trí tối đa và hiệu ứng thương mại tối thiểu.

Như điều tất yếu phải làm khi đi lạc, khi những điều mới mẻ đã trở thành kỳ dị và lệch lạc, người ta sẽ tìm lối quay đầu, nhưng với một tâm thế mới của kẻ đã qua một chặng đường dài.

Louis Vuitton SS-2012

Đó là khi khoảng sân sau, hay thế giới ngầm vintage trở thành nguồn tư liệu sống động của chính các thế lực thời trang đương đại. Sự ảnh hưởng của nó được thể hiện mạnh mẽ và trực tiếp nhất vào runway thượng đỉnh haute couture.

Khi chạm đến ngưỡng tối thượng của trào lưu, người ta sẽ chạm đến những điều đã cũ, và như vậy, biểu đồ vận động của thời trang là một đường xoắn ốc theo chiều đi lên. Vòng xoay lặp lại tại điểm xuất phát, nhưng tại một tầm độ cao hơn.

Như Stefano Pelati xông pha vào các phiên chợ flea market ải mốc để tìm đến chính chiếc váy mang chữ ký của người tiền nhiệm Yves Saint Laurent.

Như chính Chú K. cổ quái nhà Chanel đến tận mùa haute couture vừa rồi vẫn hú hồn hiển hiện trên catwalk một phong mạo madame Coco của đầu thế kỷ trước.

Hoặc như kẻ hậu sinh Sarah Burton, tuân thủ trung thành những giá trị cổ điển trên từng tảng đăng-ten để hoàn thiện chiếc váy cưới trứ danh cho Kate Middleton, hơn là liều lĩnh với một thiết kế tân cổ giao duyên gượng ép và cái tôi phi nghĩa.

Những mảng diềm ren cổ lỗ sĩ lại lên ngôi nữ hoàng catwalk, và khối màu lập thể Mondrian vẫn vẹn nguyên một tinh thần Yves tái sinh, qua bộ lọc cẩn trọng của những tên tuổi mới của làng thời trang.

Cuộc thăng hoa của thời trang vẫn là những chuyến đi ngược, trong khi tự thân những vẻ đẹp xưa cũ, đi lên từ thế giới ngầm vintage, cũng tự vận động cuộc cải biên cho một thẩm mỹ thanh tân cho những tín đồ đương đại.

Temperley London

Không chỉ là một giải pháp mang màu sắc lãng mạn, nguồn cảm hứng vintage còn là một thế đòn bẩy tuyệt vời cho vị thế thương mại đang hồi chao đảo của dòng thời trang cao cấp, khi mà yếu tố chiến lược đằng sau mỗi thiết kế cầu kỳ biết tìm về đúng lợi thế thương mại vô song của dòng vintage: tiềm thức – thủ thuật tâm lí có thể ngay lập tức làm xiêu lòng mọi tín đồ điệu nghệ. Nói một cách khác, họ tung lên catwalk những ảo ảnh thân thuộc déjà vu.

Cùng với cuộc tái hiện rầm rộ tinh thần vintage trong những phiên bản tân kỳ, thông minh và dư thừa mãi lực, những kẻ đang nắm trong tay vận mệnh sống còn của thời trang cao cấp đã chọn dẫn dắt một cuộc hành hương tìm về những bản ngã của thời trang từ những giai kỳ hoàng kim cực thịnh.

Đôi khi người ta không cần phải đi quá xa để tìm thấy những điều mới mẻ.

Ralph Lauren SS-2012

 

người tô son lên gót đàn bà

Trác Thúy Miêu

“Một đôi giày hoàn hảo, một chiếc váy khéo cắt và một tình quân si mê – đó là tất cả những gì cần có để làm nên một người đàn bà đẹp.” Đó là một câu nói chỉ có thể được nói ra từ một vĩ nhân đã chết: Coco Chanel, Yves Saint Laurent hay Christian Lacroix hay ngài Dior.

Nhưng đó là một tông đồ… còn sống, nắm trong tay một đế chế phú vượng chỉ trong 21 năm. Mới đây, người ta lại vừa mới khai trương một boutique chánh hãng tại Việt Nam, để những cú nện gót điệu nghệ đóng dấu son mang chữ ký Louboutin có thể cùng lúc ghi dấu giữa lòng phố lớn Manhattan trải dài đến tận hòn ngọc Viễn Đông, hòa trong cơn sùng bái mê muội chung trên toàn thế giới.

Từ Những Đôi Giày Bị Cấm Đến Cô Gái Điếm Ở Paris

Cậu bé Christian sinh ra trong một gia đình với cha là thợ mộc, các chị em gái thích đi những đôi giày đế gỗ lóc cóc, và người mẹ hiền lành không hề là tín đồ của giày cao gót.

Những đôi giày với chức năng không chỉ để bảo vệ bàn chân chỉ bắt đầu đến với Christian Louboutin khi cậu 13 tuổi, cùng đám con trai cùng tuổi kéo nhau đến tiệm nhảy Le Palace. Trong khi những cậu trai hiếu kì ngắm thân hình các vũ nữ trên sân khấu, Christian ngơ ngẩn đắm đuối ngắm những đôi chân của họ: “Cho đến tận bây giờ, những đôi giày của tôi vẫn thấp thoáng dáng vẻ của Le Palace ngày ấy, cái thời của disco, với kim tuyến, và những mảnh kim loại”

“Việc lớn lên trong một gia đình mẫu hệ với mẹ và 4 chị em gái, tôi học về phụ nữ từ rất sớm: cách họ tự nhìn nhận bản thân, cách họ đưa tay chỉnh chiếc gương soi, v.v… Và tôi thấy bầu không khí, mọi thứ xung quanh họ – những người đàn bà, thật thân thuộc với tôi. Chẳng lạ gì, bởi họ sinh ra tôi và tạo dựng thẩm mỹ tiềm thức của tôi.

Như sáng nay chẳng hạn, chúng tôi kiểm định thiết kế một đôi biker’s boots. Tôi băn khoăn tự hỏi: Cái thể loại đàn bà nào lại muốn quấn quanh cổ chân mình hai miếng quai da dày cui như vậy chứ? Thế này nhé, nếu bạn có đôi chân mảnh dẻ, bạn sẽ muốn khoe nó ra. Còn nếu bạn có đôi cổ chân to như cổ lực sĩ, bạn lại càng không muốn nhân đôi thảm họa đó. Cả ê-kíp của tôi trầm trồ tiếc rẻ: ‘Nhưng đây quả là một thiết kế đẹp quá chừng!’ Rõ rồi, thiết kế đôi boots ấy quả là có đẹp, nhưng người đàn bà mới là thứ cần đẹp hơn đôi giày của cô ấy. Tôi là vậy đó, cái đẹp quyết định cho thời trang. Đôi giày không thể được coi là hoàn thiện chừng nào nó còn chưa được xỏ vào chân. Nếu khi đó, trông nó không còn đẹp đẽ như trên thiết kế, thì đó là một đôi giày tồi và một thiết kế thất bại.

Nhưng một trong những đôi giày hằn sâu vào ký ức Christian Louboutin lại được nhìn thấy ở một bảo tàng viện, nhưng không phải dưới dạng một mẫu vật được trưng bày, mà ở bảng nội quy treo ở cửa ra vào: “Cấm đi giày cao gót”. Cạnh đó người ta cẩn thận vẽ một đôi giày minh họa.

Bản vẽ và dòng chữ ám ảnh Louboutin, và ông bắt đầu vẽ những đôi giày. Ông vẽ đi vẽ lại đôi giày nhìn thấy trên bảng cấm nọ, rồi một ngày ông giật mình nhìn thấy chính đôi giày đó, hiện hữu hẳn hòi, dưới chân một người đàn bà đi dạo trong công viên ở Paris: “Tôi lẵng nhẵng bám theo chỉ để chăm chú nhìn vào đôi giày. Thật kì diệu: chúng đang ‘sống’, có thật, và chuyển động! Tôi như bị thôi miên và đi miết theo đôi giày (có người phụ nữ trên đó) cho đến khi bị người ta tống cổ ra khỏi công viên. Lúc đó tôi mới hay người đàn bà nọ là một cô gái điếm.”

Cuộc gặp gỡ ngoạn mục với đôi giày ấy đã ấn định rằng thời trang thế giới chuẩn bị đón chờ sự xuất hiện của một Christian Louboutin.

Không được trải qua việc đào luyện bài bản về mỹ thuật và thiết kế, thay vì như mọi nhà thiết kế cùng thời là chọn phụ việc cho một tiệm thời trang đương thịnh nào đó, Christian Louboutin, khi này 17 tuổi, xin được chân phụ việc trong phòng phục trang của tiệm nhảy Folies Bergère, giữa những nàng vũ công với những kiểu mũ cầu kì, những chiếc váy nóng bỏng, những lớp trang điểm công phu và những chuyển động yểu điệu được kiến tạo và nâng đỡ trên những đôi giày.

Christian Louboutin tiếp tục xin việc trợ lý với Charles Jourdan, Chanel và Yves Saint Laurent, và nhanh chóng nghỉ việc: “Tôi là một trợ lí tồi. Làm trợ lí là phải trợ lí, còn tôi chỉ muốn làm việc của mình theo cách riêng.” Và cửa hiệu nhỏ đầu tiên được mở ra ở một ngõ phố cổ của Paris, đến nay vẫn là sở hội chánh của nhà Louboutin, với niềm kiêu hãnh non nớt nhưng hùng mạnh “since 1991”.

Mật mã Louboutin: Pantone 18 Chinese Red

“Những bức vẽ đầu tay của tôi hồi đó luôn đầy màu sắc sặc sỡ, nhưng khi đưa đi thực hiện mẫu vật đầu tiên, tôi nhận chúng về, bên dưới là phần đế đen xì dày cộm. Ơn Trời, cô trợ lí của tôi lúc đó đang ngồi sơn móng tay. Tôi vơ lấy chai sơn, cô ta hét lên tru tréo: ‘cẩn thận, cái đó mắc lắm đó!’ Tôi phải hứa sẽ mua đền lọ khác, rồi sơn bừa màu đỏ thắm ấy lên đôi đế giày. Như một cú shock điện vậy, đôi giày như được hô hấp nhân tạo, chúng hồi sinh! Tôi đã nghĩ tiếp ra trò đổi màu đế theo từng mùa, nhưng cuối cùng, đỏ không chỉ là một màu. Nó là một thái độ!”

Theo nhiều cách diễn giải khác, màu đỏ là biểu tượng của máu, tình yêu, năng lượng cảm xúc. Nhưng với Louboutin, Đỏ là một thứ đèn xanh tâm lí, một sự mời gọi đầy cảnh báo. Nhưng sắc độ 18 trên bảng mã Pantone được mệnh danh là Đỏ Trung Hoa (Chinese Red), dưới tay Louboutin cũng là dấu hiệu của những bước chân đến và đi, hoàn toàn chủ động một cách quyến rũ. Như lời giã từ ngạo nghễ của các cuộc chia tay màu nữ quyền, trên nền ca khúc của Jennifer Lopez “Throwing on my Louboutins, watch these red bottoms, and the back of my jeans. Watch me go, bye baby” (Xỏ chân vô đôi Louboutin, dòm cặp đế đỏ nè, nhìn vào phía sau chiếc quần jeans. Coi em đi nè, chào cưng!)

Với ma lực và mãi lực của những cặp đế đỏ kì diệu, hẳn nhiên nhà Louboutin nhảy đùng đùng vác chiếu đâm đơn đòi kiện cho ra nhẽ nhà Yves Saint Laurent, vốn bấy lâu là hảo hữu, vì việc táy máy đưa cặp đế đỏ trứ danh nọ vào bộ sựu tập mới tung ra gần đây. Nhà Yves Saint Laurent cứng cựa vác bài bản ra cãi lại rằng đế đỏ có phải đâu riêng nhà nào, rằng thì là ai dùng chẳng thế, bởi thật sự ra chúng đã xuất hiện từ thời Christian Louboutin còn ở nơi xa lắm, cụ thể thời Louis XIV đâu đó những năm 1600, với chứng cớ rành rành là…bộ phục trang của nhân vật Dorothy trong phim The Wizard of Oz (sản xuất năm 1939).

Cả giới thời trang cự nự la ó trước viễn cảnh Christian Louboutin sẽ độc chiếm mã 18 bảng Pantone và thả sức phạt vạ bất cứ nhà nào sờ phải sắc đỏ này. Ít ra thì Picasso đã chẳng bao giờ đâm đơn kiện Monet tội xài màu chàm trứ danh “của” ông cho mấy bức tranh vẽ hoa súng, và thế giới vẫn được chiêm ngưỡng cả hai bức tuyệt phẩm hội họa.

Vụ kiện tụng đến nay chưa ngã ngũ, nhưng theo một cách nào đó, nhà Yves Saint Laurent cũng không tránh mối quan ngại rằng các sản phẩm của họ sẽ bị nhầm tưởng là mang nhãn nhà Louboutin. Trong giới thời trang đã có một sắc đỏ Valentino, phần số của “màu đỏ Trung Hoa” mã số 18 cũng mặc nhiên đã được định đoạt.

Phán xét cuối cùng không thuộc về tòa.

Điệu Tap Dance Ngộ Nghĩnh Của “Vua Đế Đỏ”

Christian Louboutin biến chuyện thường tình guốc dép thành tín ngưỡng bái vật, thành những siêu vật thể vượt chót vót trên tầm tính chức năng, rồi ông ghi luôn tên tuổi Lady Gaga cho đến Oprah Winfrey vào danh sách con nhang đệ tử, bản thân Christian Louboutin lại là một ông lão thủ cựu trong lối sống của riêng mình. Đồng nữ Madonna hay đả nữ Angelina Jolie có khiến cả thế giới trầm trồ khi họ trưng khoe những đôi Louboutin trước rừng flash cũng không khiến ông rung động bằng một phần khi biết rằng vợ của ca sĩ Johnny Halliday cũng ưng chọn hãng giày Louboutin. Ông tấm tắc khoe mãi “Bạn biết không, ở Pháp, Halliday nổi tiếng lắm đó!”

Ông dửng dưng cả với việc thứ tự và tần số xuất hiện của giày Louboutin so với Blahnik và Jimmy Choo trong siêu phẩm truyền hình Sex And The City. Khi được hỏi, ông chỉ lơ mơ trả lời “Tôi đồng ý tham gia vì người ta bảo điều này tốt cho việc kinh thương lắm. Tôi đâu có biết, bởi có khi nào tôi xem TV đâu!”

Điều này giải thích được sự dửng dưng của Christian cả với talkshow khét tiếng của Oprah Winfrey. Vốn là một tín đồ hạng nặng của Louboutin, Oprah xem đây là dịp để thể hiện lòng ngưỡng mộ đến bậc thầy đã làm nên phần rất quan trọng trong hình ảnh trang phục của Madame O’. Đối với mọi công dân Hoa Kỳ, việc làm khách mời của Oprah’s Show có giá trị tương đương với việc được phong tước hiệp sĩ nhân dân vậy, thế mà ông già hủ lậu người Pháp lại chối từ quầy quậy chỉ sau một lần quay vì “họ tới tận Paris bắt tôi ra quay ngoài trời. Lạnh quá, thế là tôi bị bệnh. Nên tới khi họ nghĩ tiếp ra trò tôi đến Chicago, tôi phát cáu: Bộ mấy người khùng hả? Tôi bệnh rồi đây này! Đừng hòng!”

Cách đây vài năm, khi được một nhà tên tuổi trong làng thời trang (ông từ chối tiết lộ danh tánh) mời về trong vai trò tổng lãnh sáng tạo dòng thời trang cao cấp, Louboutin gọi đó là một sự xúc phạm: “Bạn biết không, giày, chúng có nhạc, chúng có nhịp phách, thái độ, âm thanh, chuyển động,… như khiêu vũ vậy. Quần áo thì là chuyện khác. Nếu không làm giày, thì tôi còn bao nhiêu đam mê khác, làm vườn nè, tập nhảy, làm đạo diễn,… Còn thiết kế quần áo ấy hả?…” Ông làm một vẻ mặt đủ để trả lời câu hỏi tu từ đầy thái độ.

Sự khó chịu rất Parisian của Louboutin thật sự trở nên quá quắt khi chấp thuận việc cho ra đời búp bê Louboutin Barbie, với một điều kiện: nhà sản xuất phải bóp nhỏ lại đôi cổ chân thô kệch to tướng của Barbie.

Người ta rùng mình về sự táo tợn này đối với cô búp bê được coi là ốm nhom, dài ngoằng và hợp thời trang nhất trong lịch sử đồ chơi. “Làm ơn bình tĩnh đi, cứ như là cô ấy sẽ bị đau không bằng!”

Nhưng sự khả ái đầy tính dân chủ của Christian Louboutin lại được thể hiện một cách bất ngờ nhất. Trong khi nâng niu những cặp gót sen Vệ nữ, tình yêu của Louboutin dành cho Sarah Jessica Parker cũng trân trọng ngang ngửa với sự chiều chuộng chu đáo ông dành cho bất cứ người đàn bà nào khác.

Trong một lần xuất hiện tại đại lộ Saks Fifth ở New York, ông sẵn lòng hủy cả chuyến bay về Paris để bỏ hai tiếng đồng hồ hào phóng ký tặng lên những đôi giày cho khách hàng. Trong số những tín đồ chờ xin thủ bút của designer huyền thoại, có một người đàn bà thẹn thùa xưng với ông rằng bà “chỉ là một người bình thường làm nghề nội trợ”. Christian Louboutin đã trân trọng ghi tặng lên giày cho cô này dòng chữ “Tặng bà nội trợ quyến rũ thân mến của tôi”. Một cô dâu trẻ tìm đến xin chữ ký, Louboutin lém lỉnh và chu đáo chụp lấy cây viết màu xanh và ký tặng “Cái này là cho một món màu xanh” (theo tục lệ, mỗi cô dâu về nhà chồng phải có trong mình một món đồ cũ, một món đồ mới, một món đồ mượn và một món màu xanh)

Christian Louboutin, với niềm đam mê hạng nhì của mình là du lịch và làm vườn, chỉ cảm thấy an toàn và thoải mái nhất giữa cây kiểng các kiểu, mấy môn thể thao nhè nhẹ và một chút khiêu vũ, đặc biệt là thiết hài, đương nhiên, là với đôi giày nhảy hiệu Louboutin. Khi ông xuất hiện trong clip khiêu vũ của Fashionair với đôi giày nhảy dát đá óng ánh và lấp lóa cặp đế đỏ sau mỗi bước tap dance, khuôn mặt rũ bỏ vẻ lãnh đạm kiêu kỳ rất “dân thời trang Paris”, chỉ còn lại một người đàn ông trung niên hạnh phúc như đứa trẻ, nhẹ tênh và đáng yêu đến mủi lòng. Khó lòng mà tưởng tượng được rằng gã đàn ông với điệu nhảy cổ lỗ sĩ ấy lại chính là bộ óc kì tài của trùm thiết kế vũ khí dụ tình. “Tôi chưa bao giờ ôm mộng trở thành một phần của thế giới thời trang cả, tôi chỉ muốn thiết kế giày. Thậm chí đến khi lớn lên tôi mới biết Vogue là tên một tờ tạp chí”

Đế Bằng, Guốc Gỗ Và Những Cơn Khó Ở Của Christian

Trong nghệ thuật rù quến, giày là một khí cụ tối thượng không thể bỏ qua, Christian Louboutin, hơn ai hết, hiểu rõ điều này. Và đó là nguyên nhân vì sao phụ nữ rên lên trước những đôi giày đế đỏ của ông – bản năng chiến binh khiến họ có thể đánh giá được ngay lập tức món vũ khí đắc dụng. Và để sử dụng giày như những món vũ khí một cách điệu nghệ, người ta phải học. Một cơn rùng mình khủng khiếp sẽ giáng vào nhà Louboutin nếu một quý cô tìm đến với ông và than vãn sao giày quá cao, sao đường viền quá mảnh mai chênh vênh. Với Christian Louboutin, không đôi giày nào là quá cao.

Để giải thích một nỗi ám ảnh trứ danh về những cặp gót cao và lòng miệt thị với đế bằng, Louboutin cho rằng “Bản thân hình dáng và độ cao khác biệt của chiếc gót giày đã đại diện rất nhiều cho nữ chủ nhân của nó. Chỉ với sự nâng cao của gót chân, một động tác đơn giản đến vạy, đã là cả một cuộc tổng quy hoạch han thể, như một cuộc đại phẫu thẩm mỹ vậy. Những lòng bàn chân duỗi thẳng đến uốn cong, những múi cơ đùi bị giật căng, vòng mông vươn cao và gom chặt, cứ thế, những phần cơ thể được tuần tự đặt vào trạng thái của một con mèo vươn vai, dài muốt đến từng ngón tay, và tuyệt đẹp. Những cặp gót, chúng cũng có âm nhạc, những âm thanh rất riêng nói lên rất nhiều về thái độ của nữ chủ nhân, gợi ý về tất cả những chuyển động thân hình ly kì phía trên nó. Hãy nhắm mắt và lắng nghe những tiếng gót giày, chúng biết nói, rất nhịp nhàng và trung thực. Tôi có thể chỉ lắng nghe mà biết đó là pump, boots, gót cao hay gót kitten, gót cuban đặc hay slimheel mảnh dẻ. Tôi “nghe” được cả cái cách mà phần mũi giày ôm lấy các ngón chân ra sao… Cũng như âm nhạc, cũng có những thứ chói tai. Tôi đặc biệt ghét những đôi guốc. Tôi mà làm vua là tôi ban hành lệnh cấm ngay lập tức. Một thứ tạp âm lóc cóc, và roèn roẹt kéo lê khô khốc, lỏng lẻo buông bỏ khỏi những lòng bàn chân. Không dễ thương chút nào, như thể người đàn bà sắp bị tuột khỏi những cặp thiết bị đi bộ bằng gỗ ấy.”

Sexy và đế bệt? Không thành vấn đề. Bởi chiều cao của gót không định đoạt độ “hot” của quý bà! Nhưng đừng mong tìm được điều đó ở những đôi sneaker thân thiện. “Jane Birkin đã từng làm điều đó trở thành hiện thực hồi thập niên 1970, nhưng huyền sử không lặp lại với những đôi sneakers super-techno hiện đại. Những thứ đó nói lên rất nhiều thứ về cá tính, thái độ, tuổi trẻ, sự sung mãn, tính năng vận động,… nhưng tuyệt nhiên không có bất cứ nét nào sexy ở những thiết kế như vậy cả.”

Một trong những điều hành hạ Christian Louboutin còn là trường phái Total Look, với những diva vận nguyên con cùng thương hiệu “Cả hình hài họ như đang đồng loạt biểu tình, dương cao biểu ngữ hàng hiệu và thét lớn tên nhãn hàng. Khủng khiếp. Kinh tởm. Không có gì phản nhân văn hơn thế, đi ngược lại văn minh cá thể như thế! Một tội ác của sự ấu trĩ!”

“Đàn bà Pháp, đúng hơn là đàn bà Paris, là những quý bà kiểu cách và tao nhã. Điều này một phần nhờ vào lịch sử cả trăm năm trải dài những tiệm may, những nhà thời trang, những tên tuổi couturiers lẫy lừng điệu nghệ. Quý bà quý cô ở đây luôn có sự lựa chọn, họ không bao giờ cam chịu làm nạn nhân trung thành của một tiệm duy nhất giữa hàng vạn chào mời của những cung lộ mua sắm hào hoa nhất hành tinh. Nếu giữa Paris mà tôi va phải một bà vận nguyên cây Chanel thì đừng mong thuyết phục tôi rằng bà ta là một diva Paris ái quốc, bởi đó chắc chắn phải là một khách du lịch đến từ phương xa. Rất xa.”

Vậy liệu đối với Louboutin, có đôi giày nào là quá cao?

“Chắc là phải có chứ! Nhưng tôi không đi giày cao gót, tại sao lại phải quan tâm? Tôi ngắm, và kiến tạo nên thứ nhiều người thích ngắm, lựa chọn là của phụ nữ, còn ý kiến của bạn là gì?”

Cơn Cực Khoái Của Lòng Bàn Chân

Đã từng một thời, nước hoa và mỹ phẩm là vũ khí tài lực tối ưu của thế giới thời trang, giữ kiên cố thịnh vượng cho bao đế chế haute couture và các thiết kế phi-thân thiện. Rồi sau đó là thời của jeans và thời trang dân chủ để duy trì sức sống của thượng tầng thời trang. Còn bây giờ là thời của giày và túi xách – những quả bom tấn có thể định đoạt mãi lực sống còn cho mọi quyền lực thời trang xa xỉ. Christian Louboutin, song hành cùng Manolo Blahnik và Tamara Mellon của Jimmy Choo trở thành bộ tam đa hùng mạnh trấn giữ thị trường giày siêu thượng hạng, nơi những đôi giày có giá trị và ý nghĩa ngang tầm viên ngọc to nhất trên chiếc vương miện thẩm mỹ và đẳng cấp phải được đội kiêu hãnh trên đỉnh những cái đầu vương giả. Đứng giữa thái cực vừa cầu kì đến cực đoan, vừa đơn giản đến thô sơ của Blahnik, và vẻ diêm dúa đỏm dáng hoàng kim của Jimmy Choo, những đôi giày của Louboutin chỉ có một thông điệp duy nhất, thật thà và nặng ký: Sex!

Từ phong cách disco, những đường lượn thót tim nơi ức hỏm của lòng bàn chân nhạy cảm, cho đến sắc đỏ dập dồn ẩn hiện như một thứ mạch máu căng phồng lập lòe đâu đó sau mỗi bước sải diva, khiến người ta vẫn phải chiêm ngưỡng nàng từ phía sau với những uốn lượn vòng vèo muôn phần sinh động phía trên. Tất cả những thứ đó, không cần là một triết gia để thấy một chữ SEX đỏ chót được viết hoa.

Người ta có thể dễ dàng nhận ra một quý bà trong đôi giày Louboutin: nàng có dáng bộ yêu kiều chuẩn mực, và nàng hầu như không di chuyển quá nhiều.

Trên một đôi Louboutin, dù là dát cườm, quấn nơ hay đơn sơ một lượt da hảo hạng, người ta không có nhiều lựa chọn nào khác ngoài việc duỗi chân thẳng căng, ép sát các ngón chân đến ngặt nghèo với những bước chân được thực hiện theo điệu bộ một con linh dương bị thấp khớp và tuyệt đẹp. Một hiệu ứng phụ nữa là rất có thể, xác suất bị chuốc say và gạ tình rất rất cao.

Thứ gợi cảm nhất ở một đôi giày cao gót tuyệt nhiên không phải là chức năng tăng chiều cao. Do đó mà một diva hiểu biết phải biết rùng mình khó ở trước những đôi giày đế xuồng (một thứ giày bệt có đế thật dày). Như phần gáy, hay khoảng da thịt sau tai của người đàn bà, phần nhạy cảm và gợi tình nhất của giày cao gót nằm ở phần lõm của lòng bàn chân: “Nếu để ý, bạn sẽ thấy đây cũng là phần nhạy cảm trên cơ thể, và nó cũng co duỗi khi người đàn bà “lên đỉnh”. Một đôi giày cao gót đơn giản là một thứ khuôn đúc, khiến khi xỏ vào, đôi bàn chân phụ nữ lập tức bị uốn vào tư thế tự nhiên của nó trong cơn cực khoái.”

Thậm chí có rất nhiều người tin rằng lời giải thích trên của Christian Louboutin là một chứng cứ khoa học.

Bằng chứng chính là những vụ cầu hôn diễn ra liên tiếp tại cửa tiệm của ông, sánh ngang với tiệm nữ trang Tiffany hay nhà Cartier.

Những Cơn Đau Thời Trung Cổ

Giày đối với đàn ông chỉ mang hai ý nghĩa: phong cách lịch thiệp và mức độ giàu có. Còn đối với đàn bà, chúng là đại diện cho mọi khía cạnh đa diện, mâu thuẫn, kì cục và vi diệu bên trong tâm hồn họ. Tôi tin rằng họ sẵn lòng vui vẻ nhảy chân sáo dù đớn đau tím tái vì đôi giày dưới chân”

Và đó là những gì ông có thể say sưa diễn giải từ ngày này sang ngày khác, về cấu trúc cơ bản của một chiếc giày, về các hướng của lực trọng tâm, và coi khinh tất tật những tiếng rên rỉ của fashionista tuẫn tiết quằn quại âm thầm trên những đôi giày kiêu kỳ kén chủ. “Ừ thì phụ nữ chỉ có thể đẹp khi họ thoải mái và không đau. Nhưng thật lòng mà nói, tôi không cũng không thấy thoải mái chút nào khi người ta đến cửa tiệm của tôi và trầm trồ kiểu ‘Ôi, mấy đôi giày này trông tiện lợi quá!’”

Dẫu muốn phủ nhận thực tế của sự dã man mang sắc màu trung cổ này, thì người ta cũng khó lòng phủ nhận hơn 600,000 đôi dụng cụ tra tấn tự nguyện được bán ra trong chỉ 20 năm tồn tại của thương hiệu Christian Louboutin.

Cánh mày râu hoang mang tự hỏi rằng tìm đâu ra trong thế kỷ đàn bà trí thức không còn ưa thú trầm mình trong khổ hạnh, khi mà tục bó chân Trung Hoa và những chiếc đai tiết hạnh đã thành mẫu vật bảo tàng. Phụ nữ đi bar và từ chối các cơn đau tim si tình thống khổ. Và danh sách các khách hàng thân thuộc của nhà Louboutin tạo nên một thực tế đáng ngờ về quan niệm phụ nữ tân thời năng động, độc lập tự do.

Tuẫn tiết nhất là nữ văn sĩ “viện trưởng viện sến Hoa Kỳ” Danielle Steel. Bà ca tụng ái tình lãng mạn và đã tự hành quyết đôi chân mình trong thú đau thương với 6,000 đôi giày Louboutin, lập kỷ lục vô song trong danh sách thượng khách đặc biệt nhà Louboutin. Còn Blake Lively – cô đào nổi tiếng qua series phim truyền hình Hoa kỳ tân nữ Gossip Girl, sẵn sàng tậu một lèo 40 đôi Louboutin chỉ trong một chuyến săn.

Bà Vic nhà Beckham đang mang bầu cũng vong thân vận vào chân đôi Louboutins đến dự đám cưới hoàng gia vào tháng tư năm ngoái, và dài dài trong suốt thời kỳ mang bầu bé Harper, ngay cả với những dấu hiệu cảnh báo của chứng lệch đĩa đệm.

Và đó chỉ là một vài cái tên điển hình trong danh sách hơn 5,000 khách hàng thân thiết của nhà Louboutin, trong đó mỗi người sở hữu ít nhất 500 đôi giày đế đỏ.

Vậy đấy, như Germaine Greer từng viết “trong khi các nhà hoạt động nữ quyền vẫn vật lộn để giải phóng phụ nữ, thì giày cao gót đã kịp chinh phục nhân loại từ bao giờ.”

Louboutin hỏi lại “Con người tài ba đó là ai vậy?”

Một nữ học giả với những đầu sách vĩ đại thập niên 1970

“Vậy đó, thì ra bà ấy là một nhà cách mạng nữ quyền thập niên 70’s. Tôi thấy Madonna cũng là một phụ nữ khá độc lập đó chớ. Cổ là khách hàng ruột của tiệm tôi đó.”

 

Hồ sơ PeTA: Nỗi Kinh hoàng Của Những Con Nghiện Xác Thú

Trác Thúy  Miêu

Họ có mặt ở khắp nơi, đanh thép và không khoan nhượng như những chiến binh cảm tử, hay tinh nhuệ lão luyện như những nhân viên tình báo chuyên nghiệp. Họ có thể bất thình lình xuất hiện ở bất cứ đâu, trực diện tấn công vào những tượng đài thời trang và yếu nhân giải trí với vài vòng cảnh vệ bao quanh.

Họ hoàn toàn có thể là một kỳ nữ phim đen bất thần ngồn ngộn xuất hiện trên những tấm poster khổng lồ, mình không mảnh vải, hào phóng ban phát tòa thiên nhiên hùng vĩ cùng thông điệp ngạo nghễ “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!”.

Họ – những nhà hoạt động của PeTA – nỗi kinh hoàng của những tuần lễ thời trang, đặc biệt khi vào mùa của những bộ sưu tập mùa lễ hội – mùa của những tấm áo mĩ miều làm từ xác chết.

Các nhà khoa học hàng đầu lần lượt bị điệu ra trước tòa, bộ Quốc phòng Hoa kỳ đóng cửa vĩnh viễn một phòng thí nghiệm hóa học, hàng loạt nhân viên ngành thực phẩm bị mất việc, và các nhà thiết kế bị ép buộc ngậm ngùi kí vào bản cam kết vĩnh viễn từ bỏ thời trang lông thú.

Sự pha trộn giữa những trò vặt cay nghiệt, những chiêu thức đáo để đến trơ trẽn, thói độc tài ngang ngược, và một lòng trắc ẩn sâu sắc dữ dội đến vậy chỉ có thể đến từ một người đàn bà.

Nhưng không phải bất kì người đàn bà nào, nếu đó không là Ingrid Newkirk.

 

Nữ đồ tể bất đắc dĩ

Người đàn bà gốc Anh ấy đã rất có thể có cho mình một sự nghiệp an toàn vừa đủ với chiếc bằng chuyên viên chứng khoán, nếu vào một ngày năm 1969, Ingrid không tìm thấy những chú mèo lạc hay bị bỏ rơi và mang chúng đến các nhà tiếp nhận. Cô kinh hoàng trước điều kiện tồi tàn của các cơ sở này, và với những gì không chỉ đến từ nền giáo dục trường dòng, cô quyết tâm bẻ ngoặt định hướng sự nghiệp cuộc đời vào mục đích bảo vệ động vật – một công việc khi này còn chưa được xem là một “nghề”, trừ các bác sĩ thú y phục vụ nông nghiệp hoặc thú cưng của các gia đình thượng lưu.

Ingrid trở thành viên chức ban bảo vệ động vật tại Montgomery County, và về sau trở thành nữ chuyên viên đầu tiên tại cơ sở tiếp nhận động vật hoang đầu tiên tại quận Columbia. Cũng chính trong thời gian này, tự tay bà đã giết phải đến hàng ngàn con vật, có thời gian, trung bình hàng chục con mỗi ngày, những con vật bất hạnh đã từng được nuôi nấng như một thành viên gia đình và ruồng bỏ, thậm chí hành hạ, đánh đập, và không có đủ người với đủ lòng trắc ẩn để nhận chúng về nuôi, các cơ sở tiếp nhận, sau một thời gian, buộc lòng phải “tiêu hủy” chúng. Về sau, Ingrid còn thất thần cay đắng kể về thời gian này với tờ The New Yorker: “Những con người ngoài kia, có lẽ việc làm đau các con vật này khiến họ thích thú, hay thỏa mãn một điều gì đó trong họ. Còn tôi khi ấy, tôi khóc suốt trên đường chạy xe về nhà. Khi ấy, thâm sâu trong lương tri, tôi hiểu không thể gọi đây là một việc làm đúng.”

Thành viên đầu tiên của PeTA

Năm 1980, cũng là năm gieo xuống hạt mầm Peta, Ingrid bước ra khỏi cuộc hôn nhân kéo dài từ khi bà mới 19 tuổi. Ingrid gặp Alex Pacheco, khi này đang là một giáo chức truyền đạo và tình nguyện viên tại cơ sở tiếp nhận chó mèo lạc nơi Ingrid làm việc, nơi ông trở thành mối tình thật sự đầu tiên của Ingrid, với tất cả sự mê đắm của ái tình lãng mạn lẫn mối tương đồng khắng khít của hai kẻ chiến hữu, dù Ingrid lớn tuổi hơn rất nhiều, với tư duy thực tế, trong khi Pacheco vẫn còn là một cậu thanh niên mới lớn, nồng nhiệt và vô ưu.

Pacheco đã tặng Ingrid cuốn Animal Liberation của Peter Singer, và vào tháng Ba, bà thuyết phục người tình trở thành nhà đồng sáng lập của ý tưởng Peta, khi này chỉ gồm 5 nhân sự cùng làm việc dưới một tầng hầm, hầu hết là sinh viên, hoặc hội viên các hiệp hội, tổ chức môi trường tại địa phương.

Thoạt tiên, theo lời kể lại của Pacheco, lời đề nghị này không có vẻ thuyết phục đối với ông, “Tôi đã từng hoạt động tại Âu châu, và quá hiểu về tính rắc rối trong các nguyên tắc rối ren có liên quan đến chính trị của các tổ chức nhân đạo tương tự. Tôi chỉ muốn tự mình làm điều gì có thể. Nhưng bà ấy đã chinh phục tôi hoàn toàn khi đồng tình với tôi rằng các tổ chức hiện tại đang hoạt động yếu ớt, và hẳn nhiên là chính phủ, và nhân loại cần một tổ chức đúng nghĩa, hoàn toàn thiện nguyện và hiệu quả hơn để bảo vệ loài vật.”

Và Ingrid Newkirk có cho mình một chiến hữu, và PeTA có một thành viên đầu tiên.

Những con khỉ ở Silver Spring

Ingrid đã không nói suông với Pacheco. Một năm sau khi thành lập, Peta đã gây rúng động toàn thế giới với vụ 17 con khỉ tại Silver Spring. Vụ việc dấy lên sự phẫn nộ lớn trong công chúng, và trở thành đề tài tranh cãi kéo dài của các nhà đạo đức về các hành vi tra tấn với mục đích nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hành vi tại Silver Spring, Maryland. Vụ bê bối khai màn cho các cuộc ruồng bố của cảnh sát đến tận các phòng thí nghiệm khắp Liên bang Hoa kỳ, tạo áp lực lên quy định nghiêm ngặt đối với hoạt động thí nghiệm trên động vật tại Mỹ, và chiến dịch mang tên Animal Welfare Act năm 1985. Đây cũng được ghi nhận là vụ kiện về tính phi nhân trong việc thí nghiệm trên động vật đầu tiên được đệ trình lên tòa án tối cao Liên bang Hoa kỳ. Peta giành được quyền chăm sóc các chú khỉ dưới quyết định của toàn án bàng Louisiana.

Năm 1981, đích thân Pacheco đã vào làm việc tại phòng thí nghiệm nghiên cứu loài linh trưởng của Viện Nghiên cứu Hành vi Silver Spring, với mục đích trực tiếp điều tra các biện pháp tiến hành thí nghiệm trên động vật tại đây. Ông đã phải trực tiếp chứng kiến, và thậm chí tham gia vào các quy trình cắt bỏ các hạch thần kinh cảm nhận trên tay và chân khỉ, khiến chúng mất hoàn toàn các cảm nhận xúc giác. Một số con khác bị rút bỏ hoàn toàn các đốt sống lưng. Họ trói các con vật khốn khổ rồi cho chích điện, giơ cao thức ăn và nước uống để ép chúng phải sử dụng những phần đã bị tê liệt trên cơ thể.

Pacheco đã bằng cách đó đột nhập vào phòng thí nghiệm vào buổi tối, chụp lại hình ảnh các con vật bên trong phòng thí nghiệm và gửi các bằng chứng hình ảnh này đến cảnh sát và yêu cầu một cuộc lục soát hợp pháp, đồng thời bắt giữ giáo sư Taub – kẻ điều hành phòng thí nghiệm phi nhân nọ. Trong suốt vụ xử kéo dài 10, những hình ảnh bằng chứng này đã gây rúng động lương tri nhân loại khi được tung ra công khai qua mọi kênh truyền thông. Vụ kiện này nhắc nhớ đến chiến công của Henry Spira năm 1976, chống lại các thí nghiệm tàn ác trên loài mèo của Viện Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên Mỹ. Cả hai vụ kiện đã khiến chính phủ Hoa kỳ thức tỉnh và dành một sự lưu tâm đặc biệt đến hoạt động bảo vệ động vật một cách thiết thực tại Mỹ.

Cuộc đấu tranh quyết liệt 10 năm giành quyền bảo dưỡng các chú khỉ, theo mô tả của Washington Post, đã là một vụ vật lộn trong bãi lầy, với bên này cáo buộc bên kia là kẻ nói dối và bóp méo sự thật, và đưa Peta, không kém một trào lưu thời trang, trở thành một uy tín hoạt động tầm cỡ quốc tế.

Năm 1999, Pacheco rời khỏi hiệp hội, nhưng Ingrid không ở lại một mình, mà với hơn 2 triệu tình nguyện viên trên toàn thế giới, và nỗi kinh hoàng lớn mang tên PeTA.

Từ chiến công của điệp viên và thuyết khách…

Mỗi tuần, tại đại bản doanh Peta, một cuộc họp được tổ chức đều đặn với sự có mặt của hàng chục nhà chiến lược sừng sỏ nhất tề tựu quanh bàn vuông phòng khánh tiết hội sở Peta, và không có kế hoạch chiến thuật nào ở đây có tên là “quá khích” đối với nữ đầu lãnh Ingrid Newkirk. Thậm chí bà còn treo giải thưởng hằng niên với tên gọi Proggy Award dành cho các cá nhân, tổ chức có những chiến thuật và chiến dịch trội bật trong lãnh vực bảo vệ động vật hoặc đấu tranh chống hành hạ, giết hại động vật.

Các mục tiêu tối trọng của hội Peta nhắm vào các tập đoàn lớn, từ đại gia thực phẩm KFC, Wendy’s và Burger King. Trong lãnh vực thí nghiệm trên động vật, các thành viên Peta đặc biệt “ưu ái” bám sát nhất cử nhất động của các hãng thời trang và mỹ phẩm như Avon, Benetton, Bristol-Myers-Squibb, Chesebrough-Pond’s, v.v…

Cơn ác mộng PETA, đối với các tài phiệt thời trang, hơn cả những cuộc biểu tình và lằn đạn tàu hũ tương cà nhè vào mớ khách hàng thượng hạng, chính là các điều tra viên. Họ có thể là bất cứ ai, và tầm phủ sóng len lỏi của họ không dừng lại ở hậu trường các show diễn, mà luôn có thể lần ngược mối dây nhập khẩu nguyên liệu và thình lình xuất hiện ngay giữa lòng một trang trại ở tận Trung Hoa, hay một phòng nghiên cứu hóa học tận Thụy Sĩ, với mỗi cú bấm máy có thể tác động mãnh liệt đến lòng trắc ẩn của triệu triệu tín đồ thời trang văn minh.

Những điệp viên đặc vụ PETA thường phải bỏ hàng tháng, thậm chí hàng năm để theo đuổi điệp vụ. Phần lớn họ phải có một hồ sơ sạch bong, và thậm chí kinh nghiệm nghiệp vụ đủ để trở thành nhân viên chính thức tại những cơ sở đối tượng này. Họ được trang bị tận răng một cách kín đáo, hoàn toàn không thua kém các điệp viên cine chính hiệu, với nhiệm vụ thu thập chứng cứ, sao chép dữ liệu và chụp ảnh, ghi hình các hoạt động ngược đãi động vật tại đây. Cho đến 2007, tổng cộng 75 điệp vụ đã được đưa ra công luận, và thậm chí ra trước vành móng ngựa mà trong đó, bị cáo thường là các nhà nghiên cứu danh tiếng của các trường đại học, và các tài phiệt công nghệ, với phần thắng thường xuyên nghiêng về phía các nhà hoạt động PETA, khiến không ít phòng thí nghiệm đã phải đóng cửa vô thời hạn và gây khốn đốn đảo điên cho nhiều ngành công nghệ có liên quan.

Không hề trở nên khét tiếng chỉ bởi những điệp vụ gây chấn động toàn cầu, các thành viên giấu mặt của Peta thừa sức vung tay mua lại cổ phần của các tập đoàn bự sự kia cho đến khi nắm được quyền can thiệp vào công nghệ, thậm chí nắm khả năng dẫn đến nguy cơ lũng đoạn và phá sản. Chính nhờ biện pháp kinh tế táo bạo và sòng phẳng này, các đại gia cỡ McDonald và Wendy đã phải chấp nhận đầu tư tung ra những thực đơn chay, Petco ngưng kinh doanh thú quý hiếm, và Polo Ralph Lauren chấm dứt hoàn toàn việc sản xuất và thiết kế các sản phẩm từ lông thú. Trong khi đó, các trùm mỹ phẩm Avon, Estee Lauder, Benetton và Tonka Toy Co. đều nhất loạt chấm dứt việc thí nghiệm hóa học trên động vật, thậm chí trùm vũ khí Pentagon cũng quy phục mà chấm dứt hoàn toàn việc bắn thử lên heo và dê để kiểm tra sức công phá trên vết thương, và một lò sát sinh tại Texas bị đóng cửa vĩnh viễn.

…đến những màn khủng bố đa chiến thuật

Newkirk chính thức trở thành kẻ tử thù của không ít nền công nghệ, từ đại gia thực phẩm KFC, McDonald, cho đến các tông đồ thời trang xa xỉ cỡ bự như Karl Lagerfeld, John Galliano và Donna Karan. Nhưng hẳn nhiên điều này không dễ khiến nữ đại thủ lĩnh phái Peta chùn tay. Bà khẳng khái tuyên bố: “Lòng trắc ẩn có thể ủ mầm cho một sự đổi thay và lòng nhân ái. Nhưng một cuộc cách mạng chỉ có thể được đoạt lấy bằng hành động.”

Khẳng khái không kém gì khẩu khí ấy, Newkirk công khai ủy lạo cho những nhóm sử dụng hành vi tấn công và đột nhập, trực diện hay lén lút vào các đối tượng của Peta. Họ trắng trợn xâm nhập vào các phòng thí nghiệm và giải cứu các con vật, trực diện thóa mạ và hủy hoại mọi sản phẩm thời trang làm từ lông và da thú, với sự hung hăng khiến đau đầu cả những đội ngũ cảnh vệ tinh nhuệ nhất.

Nhưng thái độ của giới người mẫu đối với các chiến dịch của Peta lại có vẻ có thiện chí hơn rất nhiều, và con đường tiếp cận công nghệ thời trang qua các người mẫu của Peta trở nên có sức thuyết phục mạnh mẽ lạ thường đối với các tín đồ. Chiến dịch ủy lạo thực phẩm xanh và chế độ ăn kiêng bằng rau củ đã phủ sóng mãnh liệt lên thị trường fast-food khổng lồ nhất thế giới là nước Mỹ. Kết hợp với các vụ điều tra về hình thức giết mổ man rợ tại các lò mổ của đại gia McDonald và KFC, cùng với những cuộc biểu tình phong tỏa các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh, và cuối cùng là thân hình mảnh khảnh đáng thèm muốn của những model khét tiếng nhất đã khiến các hợp đồng nhân sự của những lò giết mổ phải có thêm điều khoản nhân đạo trong công nghệ xử lí động vật, và ông lớn McDonald cũng đã phải nhún nhường tung ra thực đơn hamgurger chay cho các thị phần người tiêu dùng văn minh.

Nhưng gây tiếng vang đáng kể nhất phải nói tới chiến dịch “I’d Rather Go Naked Than Wear Fur” (Tạm dịch: thà khỏa thân còn hơn mặc lông thú) với một lực lượng celebrity và người mẫu chưa bao giờ hùng hậu đến vậy. Cũng nhờ chiến dịch này. Công chúng và giới tín đồ thời trang được dịp nhìn ngắm thỏa thuê mãn nhãn những yếu nhân khả ái nhất hành tinh trong bộ dạng như trẻ sơ sinh kém bụ bẫm nhưng muôn phần kích động. Chưa bao giờ có một vụ scandal khoe hàng tập thể nào rầm rộ và gây tiếng vang đến vậy. Peta đại thắng về mặt truyền thông và chính thức trở thành lực lượng đối đầu đáng gờm của ngành công nghệ thời trang xa xỉ, cho đến tận các trang trại đồ tể Trung Hoa.

Tại hội chợ lông thú quốc tế ở Paris, các thành viên Peta bò lổm ngổm trên đường phố Paris, kéo lê những cái bẫy sập ngoạm vào chân, và hào phóng vứt ra tứ phía những tờ giấy bạc thấm bê bết máu.

Ngoài ra, trong các chiến thuật du kích nhỏ lẻ và dai dẳng nhưng là nỗi ám ảnh cao đối với giới thời trang và fashionista thượng lưu là đòn bánh pie, tàu hũ nát và tương cà. Những món này khi hạ cánh bẹt thèn lẹt lên một mẫu thiết kế bằng lông thú đắt tiền trông không khác gì một bãi máu me lầy nhầy và hoàn toàn có thể phá hủy hoàn toàn bộ vía. Tháng Giêng năm ngoái, chính bộ trưởng Gail Shea của Canada đã ăn phải đòn thù bánh pie, phản ứng với việc săn bắt hải cẩu bừa bãi tại vùng biển nước này. Khi bị chỉ trích là “đòn vặt”, Ingrid bình tĩnh giải thích: “Đối với đối tượng, nó có công dụng khiến họ lúng túng, bối rối, và trở về với ngoại hình nhơ bẩn như chính bản chất hành vi của họ. Còn đối với cái nhìn của công chúng, nó sẽ có tác dụng như một vụ tai nạn giao thông mà bạn buộc phải nhìn vào.”

Tuần lễ thời trang Melbourne Xuân Hè vừa qua đã lại là một minh chứng cho bàn tay phái Peta đã vươn dài đến tận úc châu. Các nhà hoạt động tấn công thẳng lên catwalk, giăng các tấm poster ghi dòng chữ “Fur is Dead” trước rừng ống kính báo giới, ngay khi các người mẫu vẫn đang tiếp tục tràn ra đường diễn. Dẫu chỉ là 5 phút rối ren – khá nhẹ nhàng với thời trang Úc, nhưng cũng đã đủ khiến cho các nhà tổ chức thức thời lập tức rà soát từng mẫu thiết kế của mọi hãng thời trang và hủy diễn bất kể thiết kế nào có sử dụng da hoặc lông thú. Mặc cho các nhà thiết kế la ó cự nự, cuộc bạo động nho nhỏ của chi sở Peta tại Úc đã đại thắng với một Melbourne Fashion Week 100% fur-free!

Mông cừu ở Úc châu, Yasser Arafat bị cảnh cáo, và tuyến tiền liệt của ngài thị trưởng

Ngay cả các nông trại chăn cừu khai thác len cũng không thoát khỏi tầm ngắm của các thành viên đảng Peta. Mặc dù không sát hại con vật để lấy bộ da, nhưng quy trình cắt một phần lớp da của con vật để lấy lông cũng khiến các tay chăn cừu tận Úc châu không nằm ngoài tầm bay của bánh pie Mỹ. Cả một chiến dịch tấn công trực diện đã được nhằm vào nền công nghệ len sợi của Úc, trong đó, các đại gia bán lẻ đã đồng loạt tẩy chay sản phẩm và chất liệu xuất xứ từ Úc. Các nhà công nghệ và cả các chủ trang trại Úc chất phác đã tỏ ra đáo để không kém cạnh, hì hụi vác đơn kiện đảng Peta, với luận điệu rằng việc lạng đi lớp da dưới mông cừu mang nhiều tác dụng tốt cho con vật và tránh các bệnh nhiễm trùng do ruồi mang lại, có thể gây đau đớn cho cừu còn hơn bị lạng da mông. Có lẽ bị thuyết phục bởi các lý lẽ có liên quan đến da mông cừu cụ thể và khoa học như vậy, Peta chấp thuận đình chiến. Để ứng đáp cho đúng kiểu thiệp liệp giữa chốn nông trang châu Úc và trùm khủng bố thời trang Mỹ, phía nguyên đơn hứa sẽ tìm tòi phương thức khai thác mới mà không lạng da mông cừu.

Thái độ không khoan nhượng của Newkirk lên cao vào năm 2003 khi bà đích thân gửi lá thư đến thủ tướng Yasser Arafat ngay sau việc một chú lừa vô tội bị nổ tung sau một cuộc đụng độ bạo lực tại Jerusalem, yêu cầu ông để yên cho các con vật.

Thiên hạ còn la ó kịch liệt với chiến dịch quảng cáo vận động của PETA mang tên “Your Mommy Kills Animals” (Má Cháu Giết Động Vật), với bức họa theo lối hoạt hình một bà nội trợ tay lăm lăm dao đang tấn công một chú thỏ. Triệt để hơn nữa, để tiết giảm lượng tiêu thụ sữa, tổ chức này còn tung ra chiến dịch “Got Beer?” (Có bia không?) như một đòn chơi khăm sát ván chiến dịch quảng cáo sữa nổi tiếng “Got Milk?” (Có sữa không?). Cho đến khi một số bằng chứng y khoa cho thấy các sản phẩm từ sữa có thể là nguyên nhân dẫn đến ung thư, vừa lúc thị trưởng New York là Rudolf Giuliani được chẩn đoán chứng ung thư tuyến tiền liệt vào năm 2000, PETA mau mắn chạy luôn bức ảnh của ông với hàng ria mép trắng và dòng chữ “Got prostate cancer?” (Có ung thư tiền liệt không?). Đến đây thì cả nước Mỹ la ó phản đối, dĩ nhiên là với các chủ trang trại và các hãng thực phẩm chế biến cự nự dữ dằn nhất.

Trong mọi kế sách chiến lược của mình, hẳn nhiên chiêu khỏa thân chưa bao giờ là cũ nhưng vẫn luôn phát huy tối đa hiệu quả truyền thông.

Tháng Tám 2011, PETA chính thức ra mắt website “người lớn nhẹ”. Phát ngôn viên của tổ chức là Lindsay Rajt tuyên bố với Huffington Post rằng họ “sẵn sàng tận dụng bất cứ chiến thuật và phương tiện nào tốt nhất, hiệu quả nhất cho quyền động vật”, cô còn trấn an rằng website nọ sẽ được xử lí “cẩn trọng và gắt gao với mọi thông tin, hình ảnh để đảm bảo không rời xa hiệu quả của thông điệp và mục đích chính”. Đến đây, các tổ chức bình quyền phụ nữ lại vào cuộc, cho rằng PETA đang vì quyền động vật mà đạp lên cả nhân phẩm phụ nữ.

Bản thân Newkirk, khi bị các nhà hoạt động bình quyền lên án về chiến dịch khỏa thân của các người mẫu, ngôi sao chống nạn sử dụng thời trang lông thú, đã điềm nhiên trả lời “Để đạt đến mục đích nhân đạo, chúng tôi buộc phải bón mớm cho công luận và giới truyền thông những điều họ luôn đói khát”.

Những cuộc săn lông thú và những “con thú” thượng lưu

Chính từ những vụ scandal phá rối sôi động của đảng Peta mà khắp các thánh địa thời trang và giải trí lớn trên thế giới đã dấy lên một môn “thể thao mạo hiểm” mới, hợp thời và là một phần của lối sống fashionista phố lớn: săn tội đồ!

Những cuộc săn này nhằm vào các tượng đài phong cách mới, các celeb danh tiếng. Bãi săn là mọi “vùng trũng” của giới thượng lưu, dập dìu tài tử minh tinh. Từ hộp đêm, nhà hàng, khu nghỉ mát, các đại lễ thảm đỏ, v.v… Những cuộc bố ráp lớn có cả một lực lượng paparazzi hùng hậu, súng ống nòng flash trang bị tận răng, các hội viên activist dấu kín những ổ tàu hũ, túi nilon đựng tương cà và cả bánh pie trong những túi đựng hàng của shopper, và chen chân trong đó là cả những tín đồ thời trang văn minh với diện mạo sành sõi điệu nghệ thừa sức trà trộn vào những đám đông vương giả.

Những “con mồi” được phát hiện thường được chờ dẫn dụ cho đến khi vô tình lọt vào giữa vòng vây bố ráp để lãnh trọn cơn mưa đậu hũ tương cà trong ánh flash lóe lên liên hồi kì trận, và ngay hôm sau, cùng với chiếc áo lông thú đã bị hủy hoại không thương tiếc là một loạt những hình ảnh toét nhoèn cà đậu của đêm trước được phơi bày thảm hại trên các cột báo chính luận cũng như lá cải. Trong số đó, Madonna, Kate Moss, Vic Beckham, J.Lo và Paris Hilton là những con mồi ưa thích của môn “thể thao mùa đông” kì thú này.

Thậm chí giới celeb còn cho rằng scandal “lộ hàng” hay bị phát hiện địa chỉ website khiêu dâm trên ổ cứng còn dễ chịu hơn rất nhiều so với việc bị phát hiện mặc thời trang lông thú.

“Con mồi” gây bẽ bàng nhất cho Peta phải kể đến trường hợp Heather Mills. Người ta tìm được những hình ảnh người phát ngôn danh tiếng của đảng Peta đã từng mặc áo lông chồn cách đó gần…20 năm. Dù Heather tự bào chữa rằng đó là chiếc áo của bà thân mẫu để lại, vết nhơ ngụy quân tử sẽ không bao giờ được gột sạch khỏi danh tiếng Heather Mills – vốn là một mạnh thường quân đắc lực của Peta.

Những chiến binh chân dài và trần trụi

Nằm trong các chiến thuật chống thời trang lông thú của Peta, các thành viên đã trà trộn vào hàng trăm show diễn từ Âu châu, Hoa kỳ cho đến Trung Hoa. Họ có thể bất cứ lúc nào bất thần phun sơn đỏ bê bết lên sàn catwalk, cùng lúc nhảy lên chiếm trung tâm sàn diễn, một số trong tình trạng khỏa thân, tay khư khư biểu ngữ, poster. Đôi khi, điều bất ngờ nhất đối với dàn nhân viên bảo vệ khi các tay khủng bố lại chính là các celebrity hàng đầu, hay thậm chí các người mẫu trong ê-kíp đột ngột thoát y án ngữ ngay trước khu vực báo chí, khỏa thân và che phía trước bằng biểu ngữ nổi tiếng “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!” (I’d rather go naked than wear fur)

Bản thân biểu ngữ này trở thành tên gọi của cả một chiến dịch lẫy lừng, với sự ủng hộ nhiệt tình của hàng loạt tên tuổi nổi tiếng trong làng người mẫu và các ngôi sao giải trí thượng thặng. Họ không ngại ngùng pose các kiểu ảnh, thậm chí xuất hiện nơi công cộng, trần trụi và tự tại, vật che thân duy nhất, nếu có, là tấm biểu ngữ không quá lớn. Chiến dịch này, hẳn nhiên, theo sự tính toán của hội Peta, đã gây được hiệu ứng sâu sắc, với sức lan truyền theo cấp số nhân của các ống kính truyền thông. Đó là khi chính hội Peta bị các tổ chức bình quyền cự nự kịch liệt.

Mới đây, phái Peta đã trân trọng gọi ngày sinh nhật của Boss Model Agency là Flashback Friday (Ngày Thứ Sáu Hồi Tưởng) và cho đăng tải rộng rãi bức ảnh chiến dịch I’d Rather Go Naked than Wear Fur đầu tiên được chụp với các model nam và nữ hàng đầu của agency này cách đó 15 năm trong trạng thái khỏa thân hoàn toàn. Boss Models là công ty đại diện người mẫu đầu tiên chống thời trang lông thú với nguyên tắc khước từ mọi hợp đồng với bất cứ buổi chụp ảnh hoặc sự kiện nào có liên quan đến thời trang lông thú. Một trong những top model hàng đầu của Boss khi này là Marcus Schenkenberg còn khẳng khái tuyên bố rằng anh sẽ tẩy chay triệt để bất cứ ngành công nghệ nào có dấu hiệu ngược đãi và tàn sát động vật, và cho dựng tại hộp đêm Tunnel, khi ấy là chốn lưu tới thịnh hành tại New York, tấm bảng ghi dòng chữ “Thứ Hoang Dã Duy Nhất Ở Đây Chính Là Con Người – Cấm Áo Khoác Lông Thú” (The Only Wildlife Here Is Human – No Fur Coats Allowed)

Trong làng người mẫu, nổi bật và tiên phong trong chiến dịch dài hơi Go Naked là siêu mẫu thế giới Christy Turlington, và mới gần đây là Khloe Kardashan. Sự xuất hiện bạo liệt và quyến rũ của họ trên các poster của chiến dịch Go Naked đã thu hút cả những tiếng tung hô lẫn  những lời phản đối cự nự rầm rĩ từ nhiều phía. Ngày nào cuộc tranh cãi chưa đi đến hồi kết, thì hiệu ứng truyền thông của chiến dịch còn được nuôi sống. Nắm vững chân lý đó, song các phía đối nghịch vẫn không thể kiểm soát được cấp độ đình đám của chiến dịch lẫy lừng nhất trong lịch sử hoạt động của Peta.

Trong khi đó, đồng nghiệp của Kardashian là Gisele Bundchen lại bị các nhà hoạt động tấn công và la ó ngay trên sàn diễn Victoria’s Secrets. Người đẹp Brazil đã là một trong những người mẫu nổi tiếng đã tích cực phô trương những mẫu thiết kế lông thú không chỉ trên sàn diễn, như một nỗ lực đưa thời trang lông thú trở về vị trí chính thống của giới thời trang.

Phát ngôn viên Dawn Carr của Peta cho biết “Gisele đã tự ghi tên mình vào danh sách đen của Peta. Đáng lý ra cô ta đã phải biết rằng mỗi khi mặc vào một chiếc áo lông thú, đồng nghĩa với việc tuyên án tử cho không chỉ một mà hàng ngàn con vật tội nghiệp với những hình thức giết hại man rợ khủng khiếp nhất”

Lá cờ PeTA trên đỉnh phù hoa – khai pháo chiến dịch khỏa thân

Bar Atlantic tại London – chốn lui tới quen mặt của nội giới thời trang tại Anh, còn được mệnh danh là pháo đài an ninh kiên cố nhất với hàng rào an ninh ngăn cách các vị yếu nhân thượng khách với hội fan cuồng, giới săn tin và cả những tay khủng bố quá khích phái PeTA. Các tay gác cửa lịch lãm nhưng lão luyện có thể chỉ cần liếc qua để phát hiện ra một phần tử ngoại giới hay một nhà hoạt động quá khích, và các phần tử này sẽ được đón tiếp trọng thể theo một cách rất riêng.

Không một điệp viên PeTA thiện nghệ nào có thể lọt vào nơi đây. Sự kiên cố của Atlantic đáng để các phòng thí nghiệm hóa học của quân đội Mỹ cũng phải lấy làm hổ thẹn. Mọi chiến thuật tấn công trực tiếp vào Atlantic của PeTA đều liên tiếp bị phá vỡ chỉ bằng một cú phẩy tay của hàng rào an ninh Atlantic.

Và điều này không làm Ingrid Newkirk hài lòng.

Nó khiến bà phải đích thân vạch chiến lược.

Và một khi có đại nữ thủ lĩnh nhúng tay, điều đó đồng nghĩa với sự kiện khai hỏa chiến dịch chống thời trang lông thú được tổ chức, một cách bất ngờ nhất, ngay tại “trái tim nhảy múa” của giới thời trang và showbiz London – bar Atlantic, đương nhiên là với sự xuất hiện của cả một đội quân trường túc lộng lẫy đến từ các hãng đại diện người mẫu sừng sỏ nhất làng thời trang thế giới.

Một tuần sau khi nữ hoàng nội y Janet Reger gang thép tuyên bố “Tôi yêu lông thú tự nhiên!” ( I love real fur) như một tiếng hô xung phong cho phái nghiện thời trang xác thú, PeTA không hề đợi quá lâu để trà đòn thích đáng, với sự hậu thuẫn của hãng đại diện Boss Models và danh sách siêu mẫu quốc tế gồm Christy, Naomi, Nadja, v.v…

Không chỉ có I’d Rather Go Naked, PeTA còn có các chiến dịch với những câu hiệu triệu chân phương hơn như “Turn Your Back on Fur”. Báo giới được mời đến sự kiện khai hỏa để là những người đầu tiên thưởng ngoạn tấm poster chụp tập thể các người mẫu nam và nữ sáng giá nhất của Boss Models, trong tình trạng hoàn toàn khỏa thân. Người ta có chính xác 60 giây để ghi nhận lại hình ảnh và thông điệp để ngay vào sáng hôm sau, hình ảnh nóng hôi hổi của chiến dịch đã được đăng phần phật trên mọi trang đầu từ nhật báo chính thống đến tuần san lá cải.

Sự kiện này đã lập tức cải thiện hoàn toàn hình dung của công chúng về các nhà hoạt động môi trường nói chung: luộm thuộm và nhếch nhác, béo phị và khắc khổ. Giới trẻ tung hô và ủy lạo rầm rộ với hình tượng văn minh thời trang mới này, trong khi giới thủ cựu Ăng-lê, từ London đến các tàn dư quí tộc miệt vườn tỉnh lẻ đều nhất loạt lên án PeTA dữ dội. Và điều này ngay lập tức khiến cái tên PeTA trở thành một từ đồng nghĩa với tính bạo động, hợp thời, và tiến bộ.

PeTA đã thành công trong việc gắn liền lòng trắc ẩn và quyền động vật với hai yếu tố đáng gọi là vật liệu làm nên bom truyền thông: khỏa thân và người mẫu. Nếu có thứ gì mạnh hơn hai “chất nổ” ấy, thì đó chính là người mẫu khỏa thân. PeTA có cả điều ấy, và hơn thế, đó là rất nhiều siêu mẫu khỏa thân, tham gia pose khỏa thân với tinh thần 100% thiện nguyện. Khi Claudia Schiffer từ chối cam kết tẩy chay các hợp đồng quảng cáo thời trang da và lông thú, hầu như ngay lập tức những tiếng xì xầm cả quan ngại lẫn kỳ thị lan nhanh đủ để cô nàng Barbie đỏng đảnh của nước Đức phải chịu khuất phục và kí vào bản cam kết nọ.

Chiến dịch Go Naked lan tràn dài hơi và quyết liệt. Song song với liên tiếp những siêu mẫu khỏa thân là những cuộc biểu tình nhỏ lẻ hay tập thể, với chính các nhà hoạt động khỏa thân đi long nhong ở bất cứ thành phố lớn nào trải dài từ Mỹ đến châu Âu, cũng như mọi cơn sốt về xống áo mà chính các siêu mẫu này thường tạo nên sau mỗi chiến dịch quảng cáo thời trang. 

Không chỉ các người mẫu mà giới showbiz cũng vào cuộc. Các siêu sao đương thịnh từ Patti Davis, vợ chồng Kim Basinger và Alec Baldwin, Frank Skinner cho đến David Baddiel đều đã từng xuất hiện khỏa thân trên các poster của chiến dịch.

Điều này ngay lập tức mang lại khoản thiệt hại trị giá 12 triêu Mỹ kim cho hãng nhập khẩu lông thú lớn nhất tại Hoa kỳ là Evans Inc, với mãi lực giảm 22%, và không lâu sau đó là một cú trượt dốc không gì cứu vãn nổi cho đến cái đáy phá sản với lời cuối ngậm ngùi: “Chúng tôi chưa bao giờ muốn thừa nhận tác động của những tay khủng bố PeTA lên công cuộc kinh doanh của mình, nhưng giờ thì khó tìm lời lí giải hợp lí nào khác cho những thất thoát và tình trạng khánh kiệt”

Liên tiếp những năm sau đó, tổng mãi lực lông thú trên toàn thế gới giảm hẳn 60%.

Nhưng chiến thắng chưa bao giờ là 100% tuyệt đối, ngày nào còn những con vật bị tàn sát, và ảnh hưởng của PeTA chưa xoay chuyển cục diện một cách nhanh chóng và triệt để hơn khi hàng ngày, còn quá nhiều động vật bị hành hạ và hiến tế cho sự man rợ của phái tín đồ nghiện xác thú.

BẢNG PHONG THẦN CHIẾN HỮU VÀ CỪU NHÂN

PeTa và các chiến hữu

Năm 2007, danh ca Paul McCartney trở thành “Nhân Vật Trong Năm” của PeTA, sau sự thành công của chiến dịch thuyết phục hãng British Airway ngưng sử dụng chất liệu da thật để bọc ghế hạng thương gia, và chiến dịch chống thời trang lông thú trên Internet mang tên Second Life. Chưa hết, Paul McCartney còn cống hiến cho PeTA một mạnh thường quân quý báu khác, chính là con gái ông – nhà thiết kế Stella McCartney – một trong những tên tuổi thời trang đầu tiên tẩy chay triệt để chất liệu lông và da thú tự nhiên với thông điệp rõ rệt “Bạn vẫn có thể ăn diện đẹp ‘muốn chết’ mà không cần phải thật sự giết một sinh vật nào.

Theo ghi nhận của website Furisdead.com, người hùng bóng rổ Mỹ Dennis Rodman là quý ông celeb đầu tiên can đảm xuất hiện khỏa thân trên poster chiến dịch của Peta na8m 2005, với thông điệp rằng cuối cùng thì nam tử hán đại trượng phu vẫn luôn nên là những kẻ có thể tự tại thoải mái nhất bên trong bộ da của chính mình. Từ đó đến nay, chàng người hùng da màu này vẫn không ngừng quyên góp tài chánh cho quỹ bảo vệ động vật của Peta.

Quả bomb tình dục này đã minh chứng rằng bên trong thân hình căng mẩy ấy không chỉ là các túi silicon mà còn có cả một trái tim vàng và lòng trắc ẩn thiên phú. Pamela là thế hệ celeb đầu tiên tình nguyện hoạt động cho Peta trong các chiến dịch chống thời trang lông thú năm 1999, và kéo dài hoạt động thường xuyên cho đến hiện tại. Mặc dù hình ảnh khỏa thân của Pamela không phải là thứ hiếm có khó tìm bên ngoài các poster của Peta, nhưng ý nghĩa và sức nặng tiếng tăm của Pam đã khiến con số những thành viên không chính thức của Peta tăng lên theo cấp số nhân, và trong đó có rất nhiều là nam giới.

Giai nhân trường phái hoài cổ này không chỉ nổi tiếng bởi những shot ảnh gây ngứa ngáy nhãn cầu trong phong cách pin-up nũng nịu đa tình, mà cô còn được tung hô ái mộ ở tư cách một nhà hoạt động đình đám của phái Peta. Dita bắt đầu hoạt động cho Peta từ 2007, trong chiến dịch kêu gọi ý thức chăm sóc y tế và triệt sản cho thú nuôi để chúng được hưởng một sự chăm sóc chu đáo hơn, và giảm thiểu trường hợp những con thú nhỏ mới sinh bị vứt bỏ. Mới gần đây, trên Twitter của mình, nàng còn hé lộ thông tin về một chiến dịch sắp tham gia cùng Peta cũng không kém phần vừa thiết thực vừa nóng bỏng ngoạn mục.

Nàng là gương mặt ngôi sao nữ đầu tiên tham gia chiến dịch ủy lạo thực phẩm xanh và chết độ ăn kiêng tẩy chay sản phẩm từ động vật năm 2004. Không chỉ ngừng lại ở đấy, Alicia vẫn đang tiếp tục tham gia các hoạt động tuyên truyền và gây quỹ cho Peta.

Việc pose khỏa thân cho một chiến dịch kêu gọi các fashionista và hội sex-addict chuyển sang sử dụng các sản phẩm thời trang bằng chất liệu da nhân tạo hoàn toàn không nằm ngoài nghiệp vụ của cô đào phim khiêu dâm trứ danh Jenna. Nàng đứng xoạc đôi chân nuột nà lừng lững trong bộ nội y bé xíu, đôi gò bồng đảo phập phồng ôm vừa xinh trong cặp áo bằng da đen, mái tóc đen mun, môi đỏ huyết đào và hàng chữ xấc xược đầy khiêu khích “Pleather Yourself”. Sản phẩm da nhân tạo được làm ra từ plastic cũng được ngành công nghệ đồ chơi tình dục ưa chuộng và được sử dụng triệt để trong các bộ phim có sự xuất hiện của Jenna.

Không chỉ với những talkshow lẫy lừng nhằm vào đề tài “Fur-free and Fabulous” (không lông mà vẫn lộng lẫy), tạp chí O của Winfrey còn dành hẳn nhiều tháng để tẩy chay hoàn toàn mọi sản phẩm sử dụng da và lông thú. Không chỉ vậy, PeTA còn nợ Winfrey một món nợ ân tình lớn khi đại tẩu truyền hình đã khiến tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía chính đạo khi dẫn dụ thành công bà đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ Obama liên tục ủy lạo cho các chiến dịch chống thời trang lông thú, bảo vệ và chăm sóc động vật của PeTA.

Nữ hiệp đồng tính của talkshow truyền hình Mỹ tỏ ra tuẫn tiết hơn cả Winfrey khi luôn trực tiếp ủy lạo cho mọi hoạt động bảo vệ và chăm sóc động vật, từ hoang dã đến thú nuôi. Bà là tên tuổi tiên phong và ồn ào nhất trong vụ kêu gọi chấm dứt phong tục thảm sát cá heo tại Đan Mạch, hay hải cẩu tại Canada với cả sự hóm hỉnh lẫn mỉa mai cay nghiệt dành cho cái gọi là sự trưởng thành của đàn ông thanh niên tại hai đất nước này. Mỗi buổi lên sóng của Ellen đều dành một thời lượng không nhỏ cho hình ảnh của các con vật đáng yêu, hoặc những bản tin kêu gọi nhận nuôi các con vật bị bỏ rơi và bạo hành. Mặc với điều tiếng cự nự của không ít người, Ellen còn đứng đầu phong trào kêu gọi hạn chế giết mổ gà tây vào ngày Lễ Tạ Ơn – một phong tục mà theo bà là hoang phí và vô nhân.

Giai nhân có đôi mắt sâu thẳm đã quyết định không chỉ để dành tòa ngọc thể mĩ miều cho người tình kép lịch George Clooney, mà công khai phô phang cho toàn thể nhân dân trong chiến dịch Go Naked của PeTA, đương nhiên là với sự ủng hộ, dù có hơi xót của, của người tình. Nàng còn tâm sự rằng “khoảnh khắc khỏa thân và cảm thấy dễ chịu nhất của tôi không chỉ là trong bồn nước ấm hay trên giường, mà khi đó là trước ống kính trong một chiến dịch như thế này.” Bản thân người đẹp cũng tham gia nhận nuôi những con vật bị bỏ rơi.

“Con nghiện xác” Lindsay Lohan đã tự xóa tên mình ra khỏi danh sách đối tượng đen của PeTA khi bắt đầu xuất hiện thường xuyên hơn với thời trang lông thú nhân tạo, và cả một huy hiệu tẩy chay lông thú đính trên mũ như một thứ bùa hiệu nghiệm chống tàu hũ bay.

Cô đào Yvonne Strahovski từng lẫy lừng danh tiếng qua bom cine Chuck cũng là một activist năng nổ của chiến dịch “Always Adopt, Never Buy” kêu gọi nhận nuôi những con vật bị bỏ rơi thay cho việc mua chúng từ các tiệm bán thú nuôi. Nàng xuất hiện trên tạp chí Modern Dog vốn rất được các diva yêu thú cưng ưa chuộng, kêu gọi độc giả chia sẻ lòng từ tâm với những chú chó mèo kém may mắn bị bỏ rơi và chất vấn các tín đồ thời trang về nguồn gốc của thời trang lông thú.

 …và danh sách không ngừng lại ở đây.

Cừu nhân của PeTA

Dù trong suốt một thời gian dài trở thành bia tập ném được ưa chuộng của các thành viên Peta, bộ sưu tập túi xách của Bà Beck lại một lần nữa thách thức trữ lượng tàu hũ tương cà của phái bạo động cực đoan này khi tung ra bộ sưu tập túi xách tuyền bằng da cá sấu và da bê. Một thành viên Peta tuyên bố thẳng thừng với tờ nhật báo Mirror rằng “có lẽ tàu hũ quá mềm và tương cà quá nhạt với gout Bà Beck, nên cô ta rất nên thận trọng với một xô máu bò thứ thiệt dội thẳng vào người bất cứ lúc nào khi cô ta bước chân ra ngoài.” Với những ai đã từng biết về Peta, đây hoàn toàn có khả năng chỉ là trò dọa suông, bởi vấn đề là liệu sự giận dữ có đủ khiến Peta sử dụng máu thật để làm vũ khí?

Người đại diện chính thức của chi sở Peta tại Anh quốc phủ nhận lời tuyên bố này, nhưng xác nhận rằng UK PeTA đang rất để mắt tới Victoria Beckham: “Chúng tôi không cho rằng Victoria cố tình lờ đi những bằng chứng thực tế về cách thức dã man dùng để giết hại những con vật để khai thác lông và da để phục vụ thời trang xa xỉ. Chúng tôi chỉ e rằng các thông tin, hình ảnh và các thư yêu cầu khẩn thiết từ phía tổ chức PeTA đã không lọt qua nổi hàng rào kiểm duyệt của các trợ lí của cô ta. Bởi không lí nào một người nào đó, dẫu chỉ còn một chút trắc ẩn trong người, lại có thể thản nhiên xem những hình ảnh tư liệu từ các cuộc điều tra của chúng tôi mà vẫn tiếp tục tiêu thụ và ủy lạo sản phẩm từ lông và da thú.”

Với sự cố gắng tuyệt vọng cho mỗi bộ trang phục và mỗi lần xuất hiện, đặc biệt bộ váy bằng những tảng thịt tươi đã khiến Lady Gaga nghiễm nhiên chiếm giữ vị trí thứ 3 trong danh sách đối tượng của PeTA. Sau đêm Gala và sự xuất hiện đáng nhớ đó, ngoài các nhà thết kế và các cây viết thời trang, lời bình phẩm được trông đợi nhiều nhất lại là từ kẻ ngoại đạo Ingrid: “Như bộ váy Lọ Lem vậy! Cô ta mà không nhanh chân về sớm thì bạn thậm chí còn có thể thấy dòi lúc nhúc trên chiếc váy ấy!”, rồi bà đột ngột trở nên sắc lạnh sau câu bông lơn: “Hẳn nhiên là cô ta rất cần còn được để ý tới, nhưng đó không nên là động cơ giết chóc.” Trong khi đó, Nữ Hoàng Làm Quá đang mỏi mòn chống chế cho “tính tư tưởng” trong bộ váy của mình bằng thông điệp “Tôi không phải là một miếng thịt”. Không ấn tượng lắm với cách bao biện lúng túng này, nhưng Ingrid vẫn tỏ nhã ý mời Lady Gaga xuất hiện tại dạ tiệc 30 năm thành lập PeTA, với hi vọng rằng Nữ Hoàng Làm Quá sẽ có cho mình cơ hội thứ hai để bình luận về thông điệp sâu xa của bộ váy nọ.


Cựu người mẫu, tổng biên Carine Roitfeld của Vogue Pháp bị PeTA tấn công ngay trước buổi diễn của Jean Paul Gaultier, Paris Fashion Week. Một tay quá khích xé rách ống tay chiếc váy nhà Balenciaga khi đang cố giằng chiếc áo khoác bằng lông dê màu tím mơ, trong khi những người khác tới tấp ném trứng vào người bà. Điều này không hề làm con nghiện xác thú nặng nghiệp người Pháp nao núng, nếu không nói là hãnh diện tự nhận mình là “kẻ tử vì đạo” sau vụ tấn công trên.

John Galliano, thời còn tại vị tổng lãnh sáng tạo nhà Dior, đã tiếp xúc trực tiếp với Ingrid và lu loa tố tội Bernard Arnault đã đặt lên ông áp lực đưa thời trang lông thú và phụ trang, áo khoác da vào bộ sưu tập để giữ tag giá xứng tầm xa xỉ. Nhưng không lâu sau đó, Petit John tung ra chiếc mũ không chỉ làm bằng lông thú mà từ hẳn da đầu và mặt một chú cáo tuyết bị lột da. Đôi mắt không còn tròng của con vật tội nghiệp khép lại ngay phía trên đôi lúng liếng được trau chuốt tỉ mẩn của người mẫu. Quả là vô giá!

Tay người Mỹ máu lạnh tuyên bố thẳng thừng với Ingri rằng “Có cầu thì có cung. Nếu còn có người mua, tôi sẽ thiết kế bất cứ thứ gì họ muốn!” Điều này cũng đồng nghĩa với hàng ngàn sản phẩm từ lông cừu karakul. Để bảo đảm chất lượng mềm mịn như tơ, những con cừu bị tế cho các diva khát máu phải là những con cừu mới sinh được khai thác bằng “phương pháp” gây sảy thai cho cừu mẹ, hoặc bị đập bằng dùi cui đến chết ngay khi chào đời. Không như mèo con, cừu con mở mắt ngay khi lọt lòng, và ắt hẳn Mẹ Thiên Nhiên không định tạo ra điều này với mục đích rằng hình ảnh một con người đang cố nện vào nó bằng dùi cui sẽ là hình ảnh duy nhất về hành tinh này mà sinh vật mong manh vắn số ấy chứng kiến được. Những con cừu non vô tội không hề biết rằng loài người, một loài người khác, đã có thể tự tạo ra những sợi tơ tổng hợp cho ra một chất lượng không hề kém cạnh bộ lông tơ mịn màng của chúng. Nhưng ắt hẳn Michael Kors phải có biết đến điều này.

Kors chỉ trả lời cụt lủn rằng “Lông cừu non có độ rũ tốt hơn”.

Ai bảo Tất Cả các nhà thiết kế đồng tính là những người mẫn cảm và tinh tế.

Naomi là một trong những gương mặt siêu mẫu tiên phong trên những poster lừng lẫy nhất của chiến dịch Go Naked, và hầu như ngay sau đó không lâu, khoác lên mình cả một chiếc áo lông thú to sù xuất hiện tại một show diễn ở Milan.

Show diễn của Julien Macdonald bị tấn công ngay tại London Fashion Week. Các nhà hoạt động tràn lên catwalk với biêủ ngữ “Fur Is Dead” và hàng vốc bột trắng ném thẳng vào mặt, ngay khi nhà thiết kế vẫn đang điềm nhiên tiến ra runway và cúi chào khán giả.

Không chỉ liên tục tảng lờ, thậm chí chế nhạo tối hậu thư yêu cầu chấm dứt sử dụng lông và da thú, gã đầu đinh mặt thẹo còn tỏ ra khoái trá khi cù nhầy với các nhà hoạt động của nỗi kinh hoàng PeTA

Năm 2003, các trợ lí của Jean-Paul Gaultier đã “phục kích” phái PeTA bằng một tảng lông thú được quăng trùm lên các nhà hoạt động khi họ tấn công show diễn của tay hooligan thời trang khét tiếng.

Trong khi các celeb cỡ bự và không thiếu cả các nhà thời trang thức thời tham gia ủy lạo chiến dịch chống thời trang lông thú, thì phái thủ cựu lại thể hiện sự chống đối yếu ớt và đuối trò. Nhà thiết kế Pháp Quentin Veron tung tràn lên catwalk tuần lễ thời trang Paris những bộ thiết kế với dòng chữ “I’d Rather Wear Fur than go Naked” (Thà mặc lông thú còn hơn ở truồng) như một phản đề đuối hơi với câu thiệu của chiến dịch “I’d Rather Go Naked than Wear Fur”.

Là bia ngắm ưa thích của các nhà hoạt động PeTA, đứng đầu danh sách ăn mặc tệ nhất năm 2005, được mệnh danh là nàng “đầu bong bóng” khi vẫn mạnh miệng gọi bản thân là kẻ yêu động vật, minh chứng bằng cục cưng chihuahua được chưng sắm xa xỉ, nhưng cô nàng “yêu động vật” cũng yêu luôn mặc da của chúng lên người

…và danh sách không ngừng lại tại đây

Vó Chinh-phạt Kỵ-sĩ Prorsum

Hoa Nhài Đen

Thông thường, trong danh sách nhận diện cơ bản mà một fashionista vỡ lòng phải biết, đó là dấu hiệu của họa tiết kẻ sọc màu đỏ và đen trên nền crème ngả vàng. Ngày nay, kỹ năng nhận biết ấy không chỉ thuộc về các tín đồ thời trang, mà sự phổ biến đã lan rộng đến cả những quí ông vốn thờ ơ với sự phù phiếm của thời trang, bởi sự xuất hiện bền bỉ của họa tiết ấy ở khắp nơi, như một dấu hiệu của quyền lực, đẳng cấp và một sự xa hoa đầy tính thực dụng thuần chất quí phái Ăng-lê – người ta biết đó là Burberry.

Không cần phải là một tín đồ thời trang để biết đến Madonna, Kate Moss, hay David Beckham. Nhưng một tín đồ am hiểu sẽ biết thấu đáo rằng tên tuổi của các nhân vật ưu tú và lộng lẫy này nằm trong danh sách thân chủ của nhà Burberry.

Đối với nhiều người, sự xuất hiện của dấu ấn kẻ sọc trên “bộ da thứ 2” của một người được coi là dấu hiệu nhận biết của vị trí xã hội, cá tính thẩm mỹ và đẳng cấp hưởng thụ thuộc hàng thượng lưu.

Ngôi sao nhi đồng Emma Watson xuất hiện ở mọi nơi, với tóc pixie, mặt mộc, mình khoác trench coat Burberry đã khiến các thiết kế của Burberry không còn bị coi là những “thẩm mỹ di sản” của một nhà thời trang Ăng-lê bảo thủ.

Burberry còn tung ra bên lề những dòng nước hoa, giày và cả bikini với một phong cách kinh điển bất biến, bên cạnh dòng áo khoác và túi xách đã làm nên danh tiếng.

Hơn lúc nào hết, vẫn chỉ với những họa tiết sọc, nhà Burberry đang trở nên sành điệu và tân kì hơn trên thị trường thời trang, đặc biệt vào mùa Thu-Đông, khi mà mặc nhiên với vòng xoay của mốt, những kiểu trench coat vẫn nguyên vẹn một sức quyến rũ thời thượng như mới. Và một khi một fashion diva nghĩ đến trench coat, đương nhiên, họ nghĩ đến Burberry.

Dã ngoại Hampshire, chinh phục Nam Cực, và bi kịch Everest

Câu chuyện bắt đầu năm 1856, từ tiệm vải của ông chủ mới 21 tuổi – Thomas Burberry ở Hampshire. Cho đến năm 1870, mặt hàng kinh doanh chủ yếu của Burberry vẫn là những món vật dụng và trang phục đi đường, dã ngoại.

Burberry sẽ vẫn chỉ là một cửa hiệu hiền lành phục vụ nhu cầu thiết thực của con dân Ăng-lê trong vùng khí hậu quanh năm sương mù và ẩm ướt, nếu vào 1880, Thomas Burberry đã không phát minh ra loại vải gabardine dầy dặn với 2 tính năng cải tiến là chống thấm nhưng vẫn thoáng khí, nhờ phương pháp xử lí chống thấm nước cho từng sợi vải trước khi đưa vào dệt.

Phát minh này đã cho phép ông mở cửa tiệm thứ hai hoành tráng ngay tại London, nơi Burberry vinh dự nhận được đơn đặt hàng quan trọng đầu tiên của lịch sử nhãn hàng, với số lượng vải được đặt may cho quân phục sĩ quan Anh. Đệ Nhất Thế Chiến diễn ra, cùng với hình ảnh những người hùng Ăng-lê là hình ảnh quen thuộc của những kiểu trench coat quân phục được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi, không chỉ bởi ưu thế chức năng của loại vải gabardine nhà Burberry, mà còn bởi hình ảnh thuần chất Ăng-lê vừa thực dụng, vừa kiểu cách.

Logo hình kỵ sĩ được thiết kế năm 1901 với hàng chữ tiếng Latin Prorsum (Tiên phong) và được đăng kí nhãn hiệu. Một năm sau, bộ trang phục mang hình kỵ mã đã cùng Roald Amundsen lần đầu trong lịch sử nhân loại chinh phục Nam cực, và Ernest Shackleton cùng đoàn thám hiểm băng qua Nam Cực năm 1914. Từ đó, với danh hiệu “áo giáp của những nhà mạo hiểm”, bước chinh phạt của Kỵ sĩ Tiên phong không chỉ ghi dấu vẻ vang, mà cũng đã cùng nếm mùi chiến bại. Năm 1924, George Mallory, cũng như mọi nhà thám hiểm vĩ đại, chọn Burberry cho trang phục của mình khi thử sức trong cuộc chinh phục bi thảm cuối cùng trên triền băng tuyết của đỉnh cao Everest. Bộ trang phục Burberry đã cùng Mallory mất tích suốt 75 năm cho đến khi được tìm thấy năm 1999. Người ta đã không thể xác định đó là George Mallory, nếu không bởi chiếc áo còn nguyên vẹn, và thẻ tên thêu trên ngực với dòng chữ “G.Mallory”.

Cú kích PR lên đỉnh điểm khi trench coat nhà Burberry xuất hiện cùng người hùng cine Humphrey Bogart lãnh đạm nhưng nghĩa hiệp khôn lường trong siêu phẩm Casablanca, cho đến giai nhân hương sắc Audrey Hepburn trong bộ phim kinh điển của fashionista nhiều thế hệ là Breakfast at Tiffany’s, và cả Peter Sellers cũng khoác trench coat nhà Burberry trong bộ phim đặc sệt chất tình báo Anh điệu nghệ Pink Panther.

tài tử Humphrey Bogart trong Casablanca

Audrey Hepburn

Từ đó, vượt ra khỏi khuôn khổ hình ảnh người hùng quân phục, những chiếc áo khoác nhà Burberry chính thức trở thành một tiệm thời trang với đối tượng từ các tiểu thư, phu nhân sành điệu, cho đến các bậc quân tử hào hoa của phong vị châu Âu lãng mạn. Nhưng chỉ cho đến đầu những năm 1920, Burberry mới chính thức hình thành thương hiệu, và mất thêm 4 thập niên nữa để họa tiết kẻ sọc trở thành một dấu hiệu nhận diện trong giới thời trang, khi này chỉ áp dụng cho túi du lịch, khăn quàng và những chiếc ô – ba món vật cũng đậm chất kinh điển Ăng-lê.

Cũng với hình ảnh thuần chủng ấy, Burberry dễ dàng được chào đón rầm rộ tại Hoa Kỳ và châu Á bởi nét bản sắc đặc trưng.

Thập niên 1960, ngoài pop culture, váy ngắn, tóc pageboy và mắt khói, đã sản sinh cho lịch sử thời trang một cuộc bành trướng nghiễm nhiên của phong vị thẩm mỹ thuần Âu mới.

Từ hỏa tuyến Đại Chiến đến sàn diễn thoát y

Những tên tuổi huyền thoại đa lãnh vực ghi dấu vẻ vang trên lịch sử thương hiệu nhà Burberry đã gắn lên logo kỵ sĩ những tấm mề đay cao quý, khiến hình ảnh thương hiệu không chỉ mang vẻ thanh lịch xa xỉ, mà cả một lòng kiêu hãnh vương tôn thuần chủng.

Nhưng vượt trên tất cả, là hai vết son sáng tạo với vải gabardine thoáng hơi và trench coat. Khái niệm trench coat vốn ngay lập tức khiến người ta liên tưởng đến những bộ quân phục sần sùi, bùn, bụi, những vách đá gồ ghề,… Một hình ảnh mang tính “quân sự”, và sâu xa hơn, hình ảnh của những kẻ mạnh. Và như vậy, nhà Burberry ngay từ đầu đã có cho mình một hạt giống tốt.

Vào thời đó, trench coat được coi là sự thay thế hoàn hảo cho những chiếc áo khoác nhà binh bằng serge nặng nề của quân đội Anh và Pháp thời Đệ nhất thế chiến. Những chiếc trench coat quân đội đầu tiên luôn có cầu vai, và các khóa móc D-ring dùng để treo lựu đạn, túi đựng bản đồ hay những loại dao lê nhỏ. Như vậy, những kiểu trench coat đầu tiên đã được thiết kế hoàn toàn như một trang phục chức năng, và cái tên ‘trench coat’ cũng ra đời từ đó, xuất phát từ nghĩa “chiến hào” của từ “trench”.

Như những chiếc mũ cối của thời chiến tranh đã trở thành món phụ trang dân dụng phổ biến của Hà thành thời hậu chiến, những người hùng trở về từ mặt trận trong những chiếc trench coat, đặc biệt khi mà ngành công nghệ dệt may đã kiệt quệ hoàn toàn sau thời kì đầu tư tổng lực cho mặt trận, trở thành một thứ áo khoác phổ biến cho cư dân thành thị Âu châu, cả nam lẫn nữ, đặc biệt trong thời tiết lạnh và ẩm ướt quanh năm của nước Anh.

Trench coat vào thời kì này được thiết kế với 10 nút áo, vạt trước đắp chéo thường có các màu nâu khaki nhạt, xám beige hoặc đen, vai áo raglan với cầu vai và dây cài ống tay (cuff strap).

Khi những móc khóa D-ring không còn dùng để treo lựu đạn, trench coat trở lại đúng chức năng với xuất xứ của nó – hoàn hảo trong việc chắn gió, giữ ấm cơ thể, chống thấm sương và mưa.

Câu chuyện về những huyền thoại quân đội đã cài cắm vào cái tên Burberry và những chiếc trench coat đầu tiên không chỉ như một trào lưu kiểu dáng mới, mà một giá trị văn hóa và lịch sự thực thụ. Burberry và trench coat mặc nhiên đại diện cho những hình ảnh đầy tính phiêu lưu, các siêu anh hùng phản gián, những tính cách được che phủ qua lớp vạt chéo lãnh đạm, những thân hình bốc lửa được che kín, chỉ lộ vòng eo thắt đáy qua chiếc nịt thít chặt, vạt dưới đủ xô lệch theo bước chân để lộ những cặp chân thon thả tuyệt trần. Sau thời kì hoành hành màn bạc cine, trench coat mặc nhiên được coi là một trong những trang phục gợi cảm nhất của nữ giới và trở thành phục trang ưa chuộng của các vũ nữ thoát y khi mở màn vì nét gợi tình và chức năng…dễ cởi.

Mọi sự thật trần trụi được khéo léo che phủ, những uốn lượn kì thú được vẽ vời thống thiết hoàn toàn bởi sự hiếu kì và óc tưởng tượng. Hình ảnh một quí bà khoác lên chiếc trench coat, với dây lưng siết chặt quanh eo, luôn khiến người ta ý thức rõ rệt rằng bên dưới những lớp vải dầy luôn là những thân hình lõa thể.

Nét hấp dẫn giới tính của trench coat đều mang hiệu ứng ma mị đối với cả hai giới. Trong thời kì Đệ Nhị Thế Chiến, các diva thành thị đua nhau đắm chìm trong những cuộc tình chóng vánh sặc mùi tiểu thuyết lãng mạn. Họ rỉ tai nhau và khai thác trench coat theo một công năng đắc dụng mà Thomas Burberry đã không thể nào ngờ tới. Chiếc thắt lưng siết chặt giữ 2 vạt áo trước khiến quí bà thậm chí không phải bận tâm cài nút áo. Trench coat trở thành “đồng phục đi hoang” của lối sống thành thị thời chiến. Họ tìm đến với tình nhân, lõa thể hoàn toàn bên trong chiếc trench coat.

Ngược lại, hình ảnh nam nhân trong trench coat, sau những người hùng chiến trận, là một hơi hướm phản gián đào hoa tràn ngập màn ảnh cine. Từ gã Dick Tracy bảnh bao đến chàng Rick Blaine của huyền thoại tình yêu Casablanca, thậm chí đến mãi về sau này còn ghi dấu vẻ đẹp lạnh lẽo vị lai của những nam thần máu lạnh trong Matrix.

Trench coat, từ một câu chuyện người hùng chiến trận, đã vượt lên trên tầm thời trang xống áo mà hình thành cả một diện mạo lối sống qua nhiều thế hệ. Người ta có thể gán ghép sự liên tưởng những tính cách mạnh màu nhất tới cá tính nhân vật phía sau lớp trench coat, từ những quí ông “ngầu đời”, tới những quí cô phóng túng. Từ đẳng cấp và đài các đến ý nhị và hào hoa.

Chiến dịch mang tên “Hoa Hồng”

Logo mang hình kỵ sĩ đã cứ thế thẳng tiến chinh phạt suốt một thời gian dài, cho đến khi, người ta chợt nhận ra nét kinh điển đã nhuốm màu bảo thủ.

Những năm 1990, vó ngựa tiên phong nhà Burberry đã trở nên lạc nhịp vòng xoay trôn ốc của trào lưu, và giới phê bình thời trang bắt đầu tỏ ý lo ngại cho tinh thần Prorsum tiên tiến, một khi Burberry, kể từ Casablanca, vẫn chỉ là những ô vuông đỏ và đen.

Đại cuộc hồi sinh của Kỵ sĩ Bất bại được quyết định giao vào tay Rose Marie Bravo năm 1997. Bản thân quyết định táo bạo này cho thấy sự quyết tâm của nhà Burberry khi lần đầu pha máu đế vương bằng việc mời một nữ tổng quản người Mỹ.

Và đó đã là một nước cờ hoàn hảo.

Rose Marie Bravo mang về cho Burberry những thiết kế tân tiến thật sự mang hơi thở trào lưu, những sản phẩm ngắm trúng hồng tâm thị trường toàn cầu, và những chiến dịch quảng cáo hào nhoáng với gương mặt non choẹt của siêu mẫu Kate Moss làm tâm điểm.

Một cuộc cải lão hoàn đồng thật sự. Bản thân Burberry, từ một tên tuổi thủ cựu sắp được tôn vào hàng di sản bỗng nghiễm nhiên trở thành thương hiệu có niên lợi thuộc hàng phú vượng nhất làng thời trang, thậm chí ngay trong thời điểm kinh tế bị tổn thương trầm trọng bởi vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín, nếu không muốn nói là dòng áo thun cao cấp và nón lưỡi trai luôn luôn cháy chợ bởi cả tín đồ thời trang lẫn dân hooligan bóng đá chịu chơi.

Tiếp nối chiến dịch mở màn của bông hồng xứ cờ hoa, các chiến dịch quảng cáo đậm chất thời thượng trẻ trung xuất hiện ồ ạt trên các tạp chí đa đối tượng, từ GQ, Esquire, Vogue, Tatler đến Harper’s Bazaar, với các khuôn mặt đại diện của các cô nàng tomboy măng tơ như Agyness Deyn, Emma Watson, hay ngôi sao non choẹt George Craig, hoặc gần đây nhất là thiên thần nội y Rosie Huntington-Whiteley đại diện cho dòng nước hoa mới Burberry Body vừa ra mắt hồi tháng Bảy.

Hai người đàn bà Mỹ và niềm kiêu hãnh Ăng-lê

Trong giới thời trang, có không ít các thương hiệu hùng mạnh được phát triển trên nền tảng sở trường của một loại sản phẩm đặc thù như một dòng độc đạo duy nhất. Hoặc là họ từ đó mà phát triển trở thành hùng mạnh, hoặc biến sở trường độc đạo ấy thành ngõ cụt không lối thoát.

Quy luật khắc nghiệt này thường được tìm thấy trong con đường phát triển của các nhà thời trang lâu đời và nặng tính kinh điển, như nhà Louis Vuitton, với những rương hòm in hình hoa 4 cánh, đã từ đó vươn tay bá chủ để trở thành tập đoàn cá mập siêu hùng mạnh LVMH.

Trong khi đó, các thương hiệu khác, với cùng xuất phát điểm, chọn bám trụ bền vững với dòng sản phẩm truyền thống, rồi chậm rãi và vững chắc, thiết lập mạng lưới sản phẩm vệ tinh mang nặng tính bản sắc. Đây hoàn toàn không phải là một chiến lược dễ dàng và hiệu quả, nếu họ không sinh ra với sự bảo thủ cực đoan với những gì là truyền thống, và lãnh đạm thờ ơ với những biến động thời cuộc của trào lưu thẩm mỹ hay tư duy thương mại tiến bộ. Hay nói một cách khác, người ta không thể vừa bảo thủ vừa thành công, nếu người ta không mang trong mình máu phớt tỉnh Ăng-lê chánh hiệu con nai vàng.

Tính bản sắc của Burberry, khi được khôn ngoan trao vào tay hai đời nữ tổng quản thông thái, đã được kích hoạt đến thành công tột cùng.

Không nằm ngoài quy luật hợp nhất của các nhà thời trang danh tiếng, Burberry độc lập cho đến 1955, khi được thâu tóm bởi ‘cá mập’ GUS (Great Universal Stores)

Rose Marie Bravo nghỉ hưu năm 2006 và được thay thế bởi Angela Agrendts – người hiện nay là CEO tối cao của Burberry.

Nữ đại tổng quản đời sau là Angela Ahrendts, trong 3 năm đầu cầm quyền, đã tái thiết một Burberry hoàn toàn mới, đẩy lên ngang tầm các tên tuổi hùng mạnh dòng kinh điển như LVMH và Hermes. Ngự ngai tối cao thống trị nhãn hàng thuần Ăng-lê, người đàn bà Mỹ này đang cùng giám đốc sáng tạo Christopher Bailey đã đưa trench coat vào kỷ nguyên Internet bằng hai chiêu bài thông minh với mini trench coat, và trench coat cho dạ tiệc. Gần 2 thế kỷ tồn tại, với khuôn diện măng tơ của đại sứ mần non Emma Watson, Burberry không dấu cả tham vọng lẫn tiềm năng kéo dài mệnh bá chủ và sức sống kì diệu của những chiếc trench coat.

Như một truyền nhân kế thừa hoàn hảo của Rose Marie trước đây, Ahrendts chỉ trong một thời gian ngắn đã làm những điều kì diệu với tên tuổi Burberry. Dù không phải đối mặt với những hậu quả của cuộc đại khủng hoảng, bà vẫn đưa ra chiến thuật tiết giảm và hạ chi phí, cùng lúc phát triển các nhánh hàng xa xỉ, vừa là cứu cánh tài chính, vừa đạt hiệu quả phát triển hình ảnh thương hiệu khi duy trì sự trung thành tuyệt đối với bản sắc của Burberry, từ lớp vải dầy màu camel và sọc đen đỏ quấn quanh các lọ nước hoa, đến nét vintage kinh điển trên từng mẫu mini trench coat.

Khi được hỏi liệu Burberry đang hòa tan bản sắc cực đoan vào cuộc chung chạ giai tầng của toàn cảnh thời trang thế giới, Ahrendts trả lời bằng một dẫn chứng về Donna Karan – thương hiệu trung thành với bản sắc Hoa Kỳ. Nói đoạn, bà chỉ tay về phía nóc tòa nhà Quốc Hội – một trong những biểu tượng kiêu hãnh của nước Anh, và nói: “Đó chính là sự khác biệt của chúng tôi”

 

bonjour tristesse!

Thời Trang – khi đến tận cùng đỉnh cao phát triển của nó, hay trên những trang viết của ấn phẩm F., người ta hiểu, nó không chỉ là thuần túy áo quần.

Thời Trang là ngôn ngữ, dẫu thanh hay tục, là bộ da văn minh dù ở tầm công năng hay đến hàng duy mỹ, là bước chuyển vận của mùa và thời cuộc, dẫu thịnh hay suy. Nó không chỉ là bộ da biến đổi vô tri theo môi trường, thời cuộc.

Bởi nó kể câu chuyện thời cuộc, và những con người trong lòng thời cuộc, những kẻ kiến tạo nên nó, và cả những con người thụ hưởng nó. Thời Trang kể câu chuyện bất tận về những con người, và những thời cuộc.

Thời Trang là những trang nhật ký bất tận của nhân loại, từ thật thà nguyên thủy, đến đế vương hào nhoáng của những giai kỳ bùng nổ văn hóa, hay thô sần như vi diệu của những người đàn ông và đàn bà đi qua đại thế chiến, bó mình trong lớp trench coat trứ danh của ái tình dã chiến, hay chân phương thiệp liệp trong phong mạo nam tử hán phản gián Tây phương.

Hãy nghe câu chuyện kể về những vó phi mã chinh phạt của kỵ sĩ tráng kiện trên mình ngựa Prorsum, về thứ thời trang hỏa tuyến bi hùng,về nhà thám hiểm bất hạnh vĩnh viễn nằm lại trên đỉnh giá băng Everest, trong tấm vải liệm – thứ thời trang cuối cùng, bằng vải gabardine, để nghiêng mình trước niềm kiêu hãnh Ăng-lê thuần chủng trong dáng vẻ người hùng phản gián cinema, đã đột ngột trở thành thứ chiến bào kinh điển của những diva phố thị phong tình ra sao, mà dấy nên cả một món thời trang kinh điển và cơn sốt trench coat lại rầm rộ chao đảo mọi thánh địa thời trang mỗi dịp Thu-Đông.

Thời Trang còn là những thông điệp phi ngôn bao bọc bên ngoài hình hài thịt da thật thà nhân thế, từ những họa tiết bằng mực xanh khảm vào da thịt như những logo tâm linh, tuyệt vọng cấu vặt một chút sắc màu bản ngã, hay hô hào những slogan tinh thần mong tôn tạo làm dáng cho giai nhân vật dục Jolie. Khi những slogan bằng mực được xem là đồ trang sức, thì những hành vi thiện nguyện có chăng cũng là một thứ Thời Trang. Chí ít bởi nó làm một người đàn bà đẹp trông có vẻ đẹp hơn dung nhan thuần túy của một ả đào khiếm tài, đói tình, thừa thủ đoạn.

Thời Trang có hàng chính phẩm, cũng có thứ hàng xa cạ pha máu đế vương. Nữ Hoàng Bán Lẻ Donna Karan có thể nâng cao ngọn đại kỳ Dân Chủ để xô đẩy diện mạo haute couture ra các “thánh địa tiểu thương” dưới hình hài những phiên bản vô tính giá rẻ, nhưng cũng có thể cùng lúc hạ thủ hàng vạn con vật vô tội, tảng lờ trước những tiếng kêu rít của loài thú chết, những cuộc biểu tình đẫm máu theo nghĩa đen, chỉ hòng ve vuốt cho một thị phần thượng thừa xa xỉ, khi mùa Đông không chỉ khắc nghiệt với thiên nhiên, mà với cả nền tảng nhân tính của con người. Dưới lần váy jersey dân chủ ấy, Nữ Hoàng Bán Lẻ của thế giới thời trang hiện nguyên hình ả đồ tể không tim.

Thời Trang còn có thể là những lời bao biện hào nhoáng lụa là mơn trớn người nhìn, mân mê kẻ mặc. Thời Trang có thể là một lượt khăn shawl màu tím để chiều mắt ý trung nhân, rồi đưa người đàn bà vào ngai Nàng Thơ Vĩnh Cửu. Thời Trang có thể là một khúc tình đầu tiên và duy nhất, một lời xưng tội của mái đầu bạc bên người bạn thủy chung duy nhất, cuối cùng, và tuyệt đối chí tôn nhưng đắng cay trong thiệt thòi và nhẫn nhục. Thời Trang che đậy, tôn vinh và bao biện,cuối cùng rốt chỉ một vuông vải liệm thuần sơ giản dị, che phủ lên lần cuối hình hài đã mỏi mệt đến bằng an với một đời mặc mặc cởi cởi những lớp áo thế thái hàn huyên.

F. lại bước qua một mùa Đông đa diện, bước sâu vào những thịnh những suy vần vũ của thời trang, và của thời gian. Khi những cơn hiu hắt của Đông nhiệt đới bừng lên vạt nắng ấm cuối cùng trong một buổi hẹn hò với huyền thoại tân nhạc, để nghe một lời xưng tội của ái tình thống hối, lòng trở nên nặng trĩu dẫu ngoài kia, những hân hoan mùa lễ lạc cuối năm hẵng còn chưa kịp khai hội.

Mùa Đông lại vần vũ đến, Sài Gòn đượm sương vào buổi sáng mà vẫn huyễn hoặc mưa cuối chiều. Thôi thì hãy nghe lại những nốt hoan ca đầy thứ thi vị tự hoại, thứ tiếng khóc bật như reo vang hoan hỉ, bởi “chẳng phải cuộc đời bắt đầu bằng tiếng khóc đó sao?”.

Vậy thì, mùa cuối rồi đấy, sang Đông rồi đấy. Nào thì thả mặc mình trong ân phước được khóc và thống hối. Nào thì hân hoan hay cam nhận, thời trang và thời gian vẫn qua đi qua đi.

Bonjour, tristesse!

Có con cừu đực chấm bi…

Đàn ông thì không phù phiếm. Họ làm việc, rất quan trọng, và không có thời gian.

Bởi họ cần minh chứng cho sự giản dị và tính thực dụng thuần túy đàn ông tính.

Đối với không ít người, đặc biệt là tại thị trường Việt Nam, thời trang nam là một trong những lãnh vực thừa thãi, phi nghĩa và tẻ nhạt.

Các người mẫu nam mệt nhoài, thưa thớt và lúng túng vì ít đất diễn.

Các nam nghệ sĩ, những nhân vật tiên phong cho phong cách phục sức phái mạnh, bị các nhà thiết kế bỏ rơi vào tay các nhãn hiệu quốc tế, hoặc lúng túng cài cắm thêu đính lên thân mình bất cứ thứ gì lấp lánh nhặt được từ các món phụ kiện dành cho quí bà.

Người ta có tất cả 2 lựa chọn mua sắm: các công ty dệt may nội địa và các nhãn hiệu nước ngoài.

Người ta cũng có không quá nhiều lựa chọn cho kiểu dáng: T-shirt hoặc sơ-mi, ống dài hay ống ngắn, bỏ vào hay bỏ ra.

Đàn ông thì không phù phiếm. Họ làm việc, rất quan trọng, và không có thời gian.

Bởi họ cần minh chứng cho sự giản dị và tính thực dụng thuần túy đàn ông tính.

Cho đến khi một vài người đàn ông khác xuất hiện, như những con cừu chấm bi giữa một đàn cừu kẻ sọc.

 

Trái cherie phù phiếm và những hạt đậu lạc loài

Có thể gọi show diễn bộ sưu tập Thu-Đông của những chàng trai nhà Maschio là một “Liên Hoan Chấm Bi Toàn Thành”. Từ giờ tiệc cocktail trước show diễn, gian khánh tiết khách sạn StarCity lốm đốm họa tiết polka-dot, sự khác biệt duy nhất, là thứ họa tiết trông như những chiếc mũ nấm này được hãnh diện trưng trổ bởi những anh chàng điển mã.

Nhà thiết kế của bộ sưu tập lại là một trong những nhân vật hiếm hoi trong đêm diễn không mang trên mình những đốm polka.

Trần Minh Dũng: Đó là một cú pháp PR cơ bản thôi, chúng tôi gợi ý cho các khách hàng quen thuộc của mình, đặc biệt là celebrity, mặc những bộ trang phục của chính họ mua từ Maschio.

Sành Điệu: Khách hàng của anh, những người đàn ông ấy, có tỏ phản ứng dè dặt khi nhận được yêu cầu như vậy?

TMD: Chắc chắn không. Họ là khách hàng của Maschio, những người tìm đến giải pháp tách biệt bản thân khỏi bầy cừu.

SĐ: Và như một sự kiện thời trang cùng tất thảy thói cầu kì của nó, quy định trang phục dành cho khách mời đã là…

TMD: …Fabulous! Đó là nguyên tắc cơ bản hàng đầu và không phải là vô định.

SĐ: Có trường hợp vi phạm dress code tưởng chừng như không hề khe khắt đó không?

TMD: Có chứ, thời may không nhiều. Một chiếc váy boheme giữa một sự kiện sang trọng, phía trên là một mái tóc pixie chẳng hạn.

SĐ: Tại sao anh không nhắc nhở?

TMD: (nhún vai) biết sao được, trên đỉnh ly kem không chỉ có cây dù và trái cherie, đôi khi có cả những hạt đậu phộng nữa. Tôi thường biến sự cẩu thả của kẻ khác thành động lực làm việc của bản thân. Rất tiếc, trong trường hợp của chiếc váy boheme lạc loài, như slogan của Maschio: “Sorry ladies, we serve men only!” (Xin lỗi chị em, nơi đây chỉ phục vụ các quý ngài!)

 

Đại ca Sicile, thuyền gondole và văn hóa ‘thời trang công sở’

SĐ: Nhắc đến những cây dù, trong bộ sưu tập phụ kiện đi kèm, có cả những chiếc dù. Có cái bằng nhựa trong, có cái màu hồng, ý tôi nói là rất hồng…

TMD: Người ta đã quên mất thi vị của những sự cầu kì kinh điển. Bộ sưu tập mùa này của Maschio không hoàn toàn ‘tân kì’ hay ‘táo bạo’ như người ta thoạt nghĩ. Vẫn là những nét hào hoa quá vãng, hình ảnh chiếc nón phớt của các đại ca Sicile, vuông khăn lụa quấn quanh cổ của tay chèo thuyền gondole ở Venice, hay chiếc quần âu xếp pleat ống hẹp gấu “lơ-ve”, đeo dây vai như những thầy kí London hồi cuối thập niên 1950,… Cũng như sự trở lại của họa tiết chấm bi từ thời Brigitte Bardot đối với phụ  nữ, trào lưu của nam giới càng về sau càng thể hiện rõ xu hướng hoài cổ, phục hưng vẻ thẩm mỹ hào hoa của những “tháng năm tươi đẹp”, tức thời kì cuối 1950 đến thoái trào 1960. Công việc của nhà thiết kế ở đây là đặt xu hướng này dưới hệ quy chiếu của thẩm mỹ đương đại.

 

Maschio Fall-Winter quả đã là một cuộc diễu hành tươi tắn của những hình ảnh quá vãng. Những cậu trai như quá vội dậy thì, lênh khênh trong những cặp ống quần gấu ngắn, trên trán đội lệch chiếc mũ Peter Pan, như chính hình ảnh của nhà thiết kế nhỏ thó trong chiếc jacket cổ điển và mái tóc như thể được chải bằng brillantine.

Nhưng cuộc sống của những người đàn ông trong đô thị đương đại không có chỗ cho mũ phớt, dù cầm tay và brillantine. Họ chỉ có những chiếc xe máy, mũ bảo hiểm và những cuộc họp nơi mọi chiếc sơ mi thì kẻ sọc và những chiếc jacket luôn sẫm màu – người ta gọi nó bằng một thứ thuật ngữ không tồn tại trong làng thời trang thế giới: thời trang công sở.

Sự phù phiếm trong thiết kế phải chăng đã nhuốm đậm màu sắc lãng mạn phi lý của anh chàng designer được ủ ấm trong studio sáng tạo?

TMD: Sai. Sự phù phiếm đòi hỏi phải được tính toán một cách bài bản và chuyên nghiệp. Tất cả mọi người, nấm và các con bọ dừa đều có thể chấm bi. Form cắt của Maschio, vốn là lợi thế chuyên biệt cho tính nhận dạng của thương hiệu, cho phép từng mẫu thiết kế được hiệu chỉnh chuẩn mực gần như sản phẩm may đo. Trong cấu tứ của bộ sưu tập cũng vậy, từng chương luôn được dẫn dắt bởi những thiết kế cơ bản, dễ “chiều” đám đông, và tăng dần các điểm nhấn trọng tâm cho đến cao trào của tính cầu kì trong thiết kế.

Ngay cả trong bộ sưu tập phụ trang những túi xách, ví cầm tay bằng da của Maschio, tôi không ngây thơ nghĩ rằng khách hàng của mình sẽ cần một món vật gì đó để cầm cho…vui tay. Kích cỡ và form dáng của túi và ví chính là phản ảnh của xu hướng siêu mỏng trong trào lưu kiểu dáng hi-tech. Cuối cùng thì khách hàng của chúng tôi là mẫu thanh niên thế hệ quẹt thẻ, họ không cần quá nhiều cho “hành trang xuống đường” của mình, khi mà mốt túi messenger đã trở thành quá khứ.

SĐ: Với sự cân nhắc tính toán mang tính chức năng “tập trung vào tính ứng dụng” đó, tôi không thấy có chỗ cho những chiếc áo sơ mi màu hồng chói có nắp túi ngực chấm bi.

TMD: Sự tính toán ở đây không hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa “chức năng”. Một chiếc khăn, trong hệ quy chiếu của thời trang, không hề là một “dụng cụ giữ ấm cổ, ngừa đau cổ họng”, và người ta cũng không mặc quần short chỉ vì trời nóng.

Cũng như vậy, người ta cầm dù không chỉ vì trời mưa và đội những chiếc mũ vành không đủ rộng để che nắng.

SĐ: Có phải anh đang muốn nói đến một ý thức hệ tân tiến, văn minh hơn của cấu trúc tháp nhu cầu?

TMD: Đúng vậy. Nếu tôi không có điều kiện, quần áo vẫn rất cần thiết vì nó che thân, bảo vệ da và tránh sự khắc nghiệt của khí hậu. Thời may, xã hội chúng ta đã vượt trên nhu cầu đó, họ bắt đầu tìm đến những thương hiệu ồn ào đủ để hét to giùm họ tuyên ngôn kiêu hãnh “Tôi giàu!” Khi tất cả mọi người đều tin hoặc nghĩ là họ giàu rồi, ắt hẳn nhu cầu tiếp theo sẽ là thông điệp “Tôi sành điệu”, “Tôi văn minh” hay “Tôi yêu chấm bi!”

Thời trang không dành cho người xấu

Thế là thời trang trở thành thông điệp, một thứ tuyên ngôn cá nhân. Đôi khi những tuyên ngôn vẽ vời trên bộ da thứ hai ấy trở thành một kiểu ngoa ngôn.

SĐ: Chúng ta đang quay trở lại câu chuyện “chiếc áo làm nên thày tu”…

TMD: Đúng và không đúng. Chiếc áo có thể làm nên thày tu, nhưng thày tu đã là người chọn áo. Ở một tầm mức nào đó trong bản chất của thời trang, con người chọn những bộ áo phù hợp với mình. Như người ta hay nói là “nhằm tôn lên vóc dáng và che khuyết điểm”. Một số rất ít những người khác, tôi thích mấy người này, thì tự xoay sở sao cho vừa vặn với chiếc áo mà mình thèm muốn.

Kẻ túng bấn trong đời sống tinh thần và một xuất thân nhạt nhẽo sẽ đi khoe mình đã đọc hết các tác phẩm văn học cổ điển và nghe nhạc Jazz. Để thuyết phục kẻ khác tin, họ sẽ đi đọc văn học cổ điển và nghe Jazz thật. Đó chính là tố chất hướng thượng của thời trang và các tín đồ thời trang. Người ta bắt các nữ sinh mặc áo dài ắt không chỉ với mục đích làm đẹp thành phố lúc giữa trưa. Những cô gái trẻ, loay hoay hiếu động trong hệ thống nút áo mong manh tráo trở, sẽ tự khắc trau luyện cho mình một phong mạo nhu mì nghiêm cẩn. Chiếc áo đẹp không dành cho những cái đầu cúi gằm và dáng lưng gù.

SĐ: Có ý kiến cho rằng thiết kế của Maschio chỉ “nhằm tôn vinh thân hình người mẫu”?

TMD: Đúng, nếu các người mẫu là khách hàng. Thời trang thực thụ là một thứ khá kiêu kì. Người ta có thể sở hữu một bộ thiết kế chỉ bằng cách bỏ tiền ra mua nó, và không cần tập luyện kiêng khem gì hết, mặc tình tự tố cáo những lớp thịt dưới vai, tảng lưng gù và cái cổ của một nhà vô địch cử tạ.

SĐ: Thời trang không dành cho người xấu?

TMD: Đừng vô ích cáo buộc cho thời trang tội danh duy mỹ, hay xem tinh thần duy mỹ là một cái tội! Nó làm người ta đẹp lên, tự tin hơn, cầu kì tinh tế hơn,… Tất cả những thứ đó đồng nghĩa với Văn Minh và Phát Triển. Và cuối cùng, sự phù phiếm, hay tính duy mỹ của thời trang, không hoàn toàn vô nghĩa. Ý nghĩa của nó còn được quy đổi thành lợi nhuận và sự thành đạt. Bằng chứng là thành công của những chiếc mũ phớt không che nắng, ô không che mưa và túi không đựng dụng cụ lao động của Maschio vừa qua.

SĐ: Người ta có thể tính toán ra sự phù phiếm và bán nó như một sản phẩm?

TMD: Tính phù phiếm, nếu được cân nhắc tính toán một cách khôn ngoan và đẹp mắt, chính là giá trị cộng thêm, và cũng là giá trị tinh thần thượng thặng của sản phẩm tiêu dùng. Hay nói một cách khác, nếu không có tính phù phiếm, thời trang sẽ chỉ là quần áo, Maschio là tên của một hợp tác xã may mặc, và thế giới sẽ không còn các tạp chí mà chỉ có các báo tờ đưa tin hàng ngày.

(bài viết đã được đăng trên tạp chí Sành Điệu)

 

Scent of Man

 Trác Thúy Miêu

Các chương tiểu thuyết cổ điển chỉ nghe nhắc đến những người phụ nữ úp mặt vào áo nhân tình để tìm lưu hương vương vấn, tuy không tả kỹ lắm cái thứ lưu hương đó nó như thế nào, rạch ròi như những nhà phân tích mùi hương chuyên nghiệp. Thay vào đó, những diva lãng mạn lấy mùi những trang giấy cũ ố vàng để kích hoạt những tần số rung động nhuốm màu tinh văn liệt truyện.

Những trang giấy cũ, gợi nhớ những hau háu mơ mộng khi đọc trộm tiểu thuyết diễm tình trong chăn. Những trang giấy có mùi khói, mùi da thuộc cũ và mùi gỗ trầm, thứ mùi khàn khàn âm ấm, một thứ mùi đàn ông.

Những cô gái may mắn lớn lên trong thời kì cực thịnh của các dòng mỹ phẩm dành cho nam giới, ấn tượng đầu tiên với mùi hương đàn ông thường là những chai nước thơm cạo râu eau de cologne của các ông bố, và làn hương ngai ngái theo mỗi cú vỗ nhẹ dưới cằm đủ mạnh để át cái mùi ngủ nghê trễ nải của gian phòng, thấm vào cổ áo sơ mi đi làm và xộc thẳng vào mũi găn gắt khi họ cúi người đặt lên má các cô con gái rượu nụ hôn đánh thức. Thứ mùi hương trên cổ áo ấy, sau một ngày làm việc, sẽ chỉ còn lại một cảm giác cháy xém của xác oải hương khô, khen khét khói bụi và sặc nồng mùi mồ hôi, xăng cộ, đôi khi cả một chút vị chua chua của ly beer cuối ngày – thứ mùi trụ cột ấy tỏa ra ấm áp từ vuông ngực những người cha, những vị hoa tiêu tài ba của con tàu gia đình – thứ mùi không mĩ miều nhưng hứa hẹn sự an toàn mỹ mãn.

Và tất cả những điều đó, hình thành nên bức chân dung đàn ông hoàn hảo trong tiềm thức khứu giác đàn bà – bức tranh được vẽ bằng mùi hương và chiêm ngưỡng bằng mũi, nhưng rung động không kém gì một tuyệt phẩm hội họa, và kích thích sự thuần phục tự nguyện hơn mọi trò thủ thuật mây mưa.

Ghi dấu những phiên bản Sở Lưu Hương

Không phải tất cả các ông bố đều dùng cologne vào sáng sớm, còn các cô gái, họ lớn lên để tiếp nhận những người đàn ông ghi dấu vĩnh viễn vệt mùi riêng lên bức chân dung khứu giác ấu thơ nọ.

Người ta cho rằng bản năng giống đực khiến đàn ông lưu lại vệt mùi hương của mình tại mọi nơi họ đã qua, kể cả những chiếc giường và những người phụ nữ.

Hãy thử làm một cuộc hành trình điều tra hồ sơ tình ái trong cuộc đời một người đàn bà, chỉ bằng những lớp mùi lưu cữu chồng chất trong tiềm thức khứu giác của nàng.

Nếu nàng đã từng có một cuộc phiêu lưu trong những ngày nghỉ tháng hè trên biển, dấu ấn cuộc tình sẽ mang theo mùi hăng nồng của muối, quyện lẫn hương vị làn da ủ trong cát nóng, đủ hừng hực để gây cơn thèm muốn được thử úp mặt lên làn da màu đồng phập phồng nhựa sống, để uống ngập vào buồng phổi một thứ nhiệt lượng thơm tho hầm hập, ấm nóng và sạch, hứa hẹn những dồn dập mải miết của nhịp sóng nện vào bãi, dẫu đôi khi, trên thực tế, đó chỉ là mùi của những thùng gỗ ướp cá và những tấm ván thuyền chài!

Những anh chàng thể loại đầu đinh mặt thẹo, những quái nhân jean rách ngực trần sẽ nguệch ngoạc dấu vết riêng của mình trong tim và mũi phụ nữ bằng một mùi xăng dầu dễ gây váng vất từ những xưởng sửa xe, cái vị thép tanh tanh lành lạnh của nền văn minh bù lon con tán, mùi cao su cháy khét của những cặp lốp mô tô còn bốc khói nhựa đường. Sần sùi, mạnh mẽ, có vẻ như không chút điệu đà nhưng dễ dàng gây ngất xỉu. Đương nhiên, trên thực tế, hợp hương đầy khí phách ấy rất có thể sẽ đi kèm một “cú bồi” của mùi gàu trên mái tóc phong trần, và phần thân trên ủ lâu ngày trong áo khoác denim, nơi chưa một vệt deodorant nào đặt chân tới.

Những fashionista chuyên trị các người hùng công sở sẽ dễ bị quyến rũ bởi những thứ mỹ phẩm metrosexual bị ướp lạnh trong không gian phòng kín, trong khi các tay săn tình sành sõi sẽ dễ bị thu hút bởi hương gỗ trầm quí phái của những đọt cigar quyện chút hăng hăng cay giật của những chai rượu lâu năm.

Họ – những người đàn ông, là những phiên bản khác nhau của một Sở Lưu Hương hào hoa điệu nghệ, từ người hùng thể thao, tay phong lưu công sở, cho đến gã nghệ sĩ Harley phong trần,…họ xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới của người đàn bà, và lưu lại những vệt mùi gây nghiện. Nếu người ta có thể lần dở từng lớp gối chăn kí ức, để vùi mặt vào những vết lưu hương một thời hào hoa hay hầm hố, cũng sẽ đủ để gây một cơn dư chấn ái tình ngây ngất, thừa sức khiến con tim và đôi đầu gối nữ chủ nhân của lớp chăn gối ấy run rẩy thêm một lần nữa trong đời.

Và nếu người ta có thể tái tạo những mùi hương ấy, chắt lọc thành những giọt tinh chất quý giá và đựng vào những chiếc lọ đẹp đẽ, người ta sẽ dễ dàng tiết kiệm mọi trò vặt và mánh khóe để chinh phục ngay cả những bà hoàng.

Thứ tinh chất ấy, người ta gọi là eau de cologne, parfum pour homme, và cô đặc trong những thỏi sáp deodorant có bán ngoài siêu thị.

Vũ khí tối thượng trong cuộc chinh phạt phòng the

Người phương Tây không “thơm” người tình theo kiểu hít hà lên má, lên tóc, họ đưa môi ra và “chụt!” hay “muah!”, lối mà rất nhiều người trẻ, tiên tiến sau này bắt chước làm theo. Nhưng chính cung cách hôn hít ngộ nghĩnh của người Việt lại là những nụ hôn tình tứ một cách khôn ngoan và dễ gây nghiện, có phần hơn cả những vồ vập lập cập răng-hàm-mặt của người phương Tây.

Việc hít thở, phập phồng nuốt vào ngực cả một bầu mùi hương cơ thể được xem như một cuộc dạo đầu đầy kích thích, có phần hơn cả những vuốt ve suồng sã. Đó là một động thái vô thức của dục tính, của chiếm lĩnh và quy hàng. Cú hít đầu tiên sẽ quyết định cơn nghiện về sau kéo dài hay chóng vánh. Nó lan tỏa trong buồng phổi, rung giật từng mạch máu li ti của cơ thể, rồi một nụ hôn thật dài, thật sâu, đủ để đưa dòng mê hồn hương thốc thẳng lên đầu, gây tê liệt mọi khiên cưỡng cự tuyệt còn lại, để kéo theo là những căng tràn tham lam chinh phạt.

Khoái cảm của khứu giác còn kéo dài sau cuộc vũ vân phong nguyệt, đó là khi người đàn bà khoan khoái thả mình ngập ngụa giữa gối chăn còn nồng sực dư hương khoái lạc, lim dim thưởng thức sự hòa quyện rối rít diệu kì của mùi hương đặc thù của hai bản thể âm dương, pha trộn ngẫu nhiên hương mỹ phẩm được chà xát trên làn da nóng hổi, điểm xuyết sự rù quến thật thà của mùi mồ hôi lẫn lộn,… Tất cả được trộn nháo nhào và ướp hối hả vào từng sớ vải gối chăn, đủ gây đê mê, kích thích thứ xung động hóa học (chemistry) khiến tim đập nhanh hơn, đồng tử dãn nở. Và người ta sẽ gọi đó là rung động của ái tình.

Người đàn bà khi yêu say đắm nhất, thường không giặt chăn gối rất lâu sau lần ân ái đầu, và những tấm áo tình nhân được ưu ái ấp ủ, không chỉ để tìm lại sự mơn man của cổ áo đàn ông cứa lên cằm, lên má, không chỉ bởi luyến lưu những gồ ghề thô ráp của lớp vải chemise trên làn da đã nguội. Lạc thú trong những tấm áo đàn ông còn là một thứ điển lễ trong vô thức giống cái, khi tự ướp thân thể mình trong lưu hương của kẻ đã một lần ghi dấu cuộc chinh phạt huy hoàng, thứ mùi mê muội vẫn có thể một lần nữa rung lên những dây tơ đã từng một lần hoan hỉ bần bật cuộc nguyệt vân.

Và như vậy, ắt hẳn quý ông sẽ chẳng muốn dằng dai tra tấn người đàn bà của mình bằng những thứ mùi thật thà không cần thiết.

Bởi đôi khi, chỉ vài giọt cologne hay vài phút cho lễ nghi tắm rửa cũng đủ ma lực ám ảnh một đời người.

Thần Ái tình tịt mũi

Nếu bức tranh vị thần tình yêu là một tiên đồng bịt mắt cầm cung tên, thì cũng rất nên hiểu rằng với thị giác bị bưng bít như vậy, khứu giác của thần Tình Ái sẽ trở nên vô cùng mẫn cảm. Nhưng bản chất vị tha của tình ái sẽ dễ dàng khiến ngay cả những diva cầu kì nhất bỏ qua mùi nước hoa lạc điệu, đôi tất vứt bừa trên giường hay tuyến mồ hôi ướp tỏi của một gã háu ăn… cho đến khi gã trở thành chồng nàng và ướp cả thế giới của nàng dưới nách.

Không biết có bao nhiêu cuộc tình đã đi vào lối phai hương nhạt vị ngay khi mùi mồ hôi trên quần áo trở nên quá mãnh liệt để gọi là quyến rũ, và những chai dầu thơm thuở hẹn hò trở thành những hủ tục không còn cần thiết.

Những xung động hóa học hay ho biến mất, nàng sẽ chỉ ngao ngán nhìn người đàn ông của mình trong một hình hài bóng nhẫy bởi tuyến nhờn và nặc nồng như một két bia cũ đã hà hơi bật nắp.

Nàng nhận ra những dư hương luyến lưu chỉ là trò mù quáng của vị thần bị bịt mắt, và thói lãng mạn đã chăng hoa kết đèn cho những nhãn hàng mỹ phẩm đàn ông. Khi những mùi hương chỉ là hóa chất, và sự lịch thiệp chỉ là trò cảnh vẻ sớm bị rẻ rúng, người đàn bà còn lại với hôn nhân nặng mùi.

Chỉ có những điển lễ cầu kì, tư phong lịch lãm và kiến thức văn minh cơ bản mới đủ khiến một quý ông duy trì thói quen đáng quý ấy sau hôn nhân, và nằm ngoài mục đích “tìm bạn”.

Hẳn nhiên, đàn bà yêu đàn ông, chứ không say đắm kết hôn với những lọ nước hoa vĩ đại, nhưng ắt hẳn cũng không xứng đáng phải vờ vịt hạnh phúc khi hôn một cái gạt tàn và lên giường với món sữa chua đã quá hạn sử dụng nhiều năm.

Những cái nhăn mũi không còn là trò làm duyên vờ nũng nịu, những sợi dây thần kinh cảm nhận co thắt lại trước những cuộc tấn công với quy mô bom tấn vào khoang mũi. Những làn da co rút, hoảng loạn tránh né cuộc đụng chạm sỗ sàng, những màn chinh phục huy hoàng chốn phòng the trở thành cuộc chiến tranh hóa học, xen lẫn mùi nước hoa xịt phòng đầy tuyệt vọng.

Ái Tình quăng cung tên và úp mặt vào lòng bàn tay, đôi khi không chỉ vì khóc.

Dẫu thần là vị tiên đồng bịt mắt đùa dai, vô tình bắn đi mũi tên phần số vào đúng những xung tần khứu giác, thì cũng không nên trả đũa số phần bằng cách bắt vị thần khiếm thị tội nghiệp phải đưa tay bịt mũi.

Vì, đương nhiên, khi bận rộn bịt mũi, thần Ái Tình sẽ đánh rơi những mũi tên của mình!

 

lavender – note dư hương vintage

Jasmine nOir

Trong thế giới của mùi hương, mỗi hương liệu gốc đều mang trong mình một thứ ngôn ngữ và hình ảnh chỉ có thể “nghe” và “nhìn” được bằng khứu giác, như những màu gốc của vòng tuần sắc, từ đó mà được bào chế hình thành nên những hợp hương như việc kết hợp sắc màu mà thành hình bức họa.

Trong cái thế giới đa sắc ấy, oải hương (lavender) vừa là vẻ thánh thiện của tâm linh, vừa mơn trớn như thú vui nhục thể. Đó là mùi hương duy nhất vừa là hương thôn dã của những dặm dài ngai ngái mùi cỏ khô, vừa là mùi hương đài các của chốn khuê phòng đô thị. Đó là một người thiếu phụ hẵng còn hao gầy nét dậy thì hoang sơ, đã chớm chín muồi vẻ phong tình ý nhị của thuộc tính đàn bà.

Mùi hương của Chúa, những tên trộm, và những vị vua

Có lẽ những dấu vết xa xưa nhất của oải hương là các ghi chép trong Kinh thánh, về Đức mẹ khi tẩm đôi chân Chúa hài đồng bằng dầu hoa oải hương (được gọi dưới cái tên spikenard) và dùng mái tóc chính mình để lau khô chân Ngài cho đến khi căn phòng sực nức một hương thơm thoát tục. Điều này khiến lavender luôn mang theo nó một quyền năng thánh thiện để tránh tà ma, cùng một mùi hương vừa sảng khoái vừa thiêng liêng nghiêm cẩn. Người ta thường treo những bó oải hương khô trong nhà, buộc thành hình thập giá treo nơi cửa ra vào không nằm ngoài ý nghĩa này.

Những tìm tòi về sau lại được tìm thấy tận trong các Kim Tự Tháp, được người Ai Cập sử dụng như một trong những nguyên liệu cho công thức ướp xác bí truyền. Nhưng chính những người La Mã cổ đại đã đầu tiên đặt cho loài hoa màu tím này cái tên phổ biến cho đến nay: lavender, kết hợp từ lavere (tắm, rửa) và livendula.

Dẫu được yêu chuộng như những hiện thân sớm nhất của lối sống phù hoa và một nền văn minh tiến bộ, khi được du nhập đến Âu châu vào đầu thế kỷ 15, những nhánh oải hương tím biếc vẫn mang theo nó một quyền lực tâm linh huyền bí có từ những gốc gác truyền thuyết tôn giáo cho đến các ngôi cổ mộ Ai Cập.

Trong suốt nạn đại dịch tại London hồi thế kỷ 17, người ta truyền miệng nhau bí quyết buộc vào mỗi bên cổ tay một bó lavender đã chống nhiễm dịch. Các tay trộm mộ bào chế ra một thứ dung dịch mang tên Four Thieves Vinegar, pha với lavender để tắm sau mỗi lần đào trộm để xua đuổi dịch bệnh.

Dường như sự thanh tao tinh khiết của oải hương khiến mùi hương này không phải cam chịu chỉ quẩn quanh những khung cảnh ảm đạm của dịch bệnh và chết chóc như một thứ thảo dược sát trùng.

Ngoài các nạn đại dịch thảm khốc và phường trộm mả, mốt sính dùng hương lavender được đặc biệt ưa chuộng trong các gia đình hoàng tộc châu Âu. Vua Charles VI của Pháp luôn phải có những chiếc gối nhồi hoa oải hương (lavender) trong mọi chuyến vi hành. Nữ hoàng Anh Elizabeth muốn trên bàn phải luôn có hoa oải hương tươi được thay mỗi ngày – một màn thách đố oái oăm cho những nghệ nhân làm vườn của hoàng gia Anh, bởi thời tiết quanh năm ẩm ướt nơi đây. Vua Louis XIV cũng là một yếu nhân đặc biệt ưa chuộng thứ mùi hương quí tộc này, và cho hòa hương lavender vào nước tắm để ngâm mình, trong khi nữ hoàng Victoria đệ Nhất và đệ Nhị đều sử dụng mọi sản phẩm có nguồn gốc hương liệu lavender của hãng mỹ phẩm lừng danh London khi đó là Yardley and Co.

Mê hồn hương của thế trận phòng the

Dù Provrence là vùng trồng oải hương lớn nhất ở Âu châu, nhưng với sự ưa chuộng đặc biệt của hoàng gia và quí tộc Anh, lavender trở thành mùi hương đặc thù của xứ sở sương mù. Cũng từ việc gắn liền với hình ảnh phù hoa của thời Victoria, với những đóa hoa hồng Victoria đặc thù trong nghệ thuật trang trí thời kì này, oải hương từ đó được gắn liền với cảm giác thanh tao và sạch sẽ của khuê các tư gia các quí bà quí cô lịch sự.

Và các giới “quí bà quí cô lịch sự” không luôn nhất thiết là dòng dõi trâm anh thế phiệt. Mùi hương thanh khiết của thứ tinh dầu từng ướp xác các vị pharaon đã lan tỏa đến tận giường ngủ những ả giang hồ thời thượng ở khắp Âu châu. Và từ đó, mùi oải hương trở thành một ẩn dụ ý nhị kín đáo cho vẻ lẳng lơ phong nguyệt.

Nhưng một lần nữa, gái giang hồ London đã không phải là những người đầu tiên khám phá ra năng lực dục tình kỳ bí ẩn chứa trong mùi hương của loài hoa màu tím.

Đã từ rất lâu, lâu như chính lịch sử của chính nó, lavender và thủ thuật phòng the luôn song hành cùng nhau như một cặp đôi của thú vui Tình ái. Ngay từ trong an apocryphal book of Bible, nàng Judith đã tự tẩm ướp thân thể bằng tinh dầu oải hương để quyến rũ Holofernes. Nàng ám sát tay tướng bất bại và thành phố Jerusalem đã được bảo vệ như vậy, nhẹ nhõm và thầm lặng như làn hương của một loài thảo mộc.

Nữ hoàng Ai cập huyền thoại Cleopatra cũng không bỏ qua thủ thuật của mùi hương luyến ái này khi quyến rũ cả Julius Cesaer và Mark Antony. Còn nữ hoàng Sheba cũng không quên dâng tặng oải hương (dưới tên gọi spikenard), frankincense cùng myrrh lên vua Solomon.

Vào thời Tudor, các thiếu nữ thường nhấp những ngụm nước chưng cất từ lavender vào ngày lễ thánh Lukes, như một nghi lễ tụng ca tình ái, và họ ngâm nga “Thánh Luke, thánh Luke, hãy xót thương, hãy cho con nhìn thấy, trong những giấc mơ, nhìn thấy Ái Tình.” Còn các cô gái vùng alpine thường bỏ lavender vào gối như một bí quyết chiêu dụ ái tình, một thứ bùa ngải bằng mùi hương, còn các cặp tân hôn thì trải oải hương bên dưới nệm giường để thêm thắt ‘gia vị’ cho đêm động phòng hoa chúc.

Lavender thời thượng: note trầm hoài cổ

Ngày nay, khi mà công nghệ chế tạo mùi hương đã có khả năng tạo ra những hợp chất hóa học thay thế cho dòng nguyên liệu tự nhiên, vẫn không có một hợp chất nhân tạo nào thay thế được cho sức quyến rũ hồn nhiên của những nhánh lavender. Những cánh đồng hoa tím dài bất tận vẫn là niềm kiêu hãnh của các trang trại ngát hương vùng Provrence (Pháp).

Cũng như thuộc tính thời trang của các sản phẩm nước hoa, mùi hương cũng có những giai kỳ mang tính trào lưu, ảnh hưởng trực tiếp lên công thức bào chế của những thương hiệu cao cấp trên thị trường mỹ phẩm. Nhưng dường như lavender hồn nhiên tự tại vẫn luôn được ưa chuộng mặc nhiên với vòng xoay trào lưu của các dòng hương trái cây, hương gỗ hay hương hoa tổng hợp.

Khó lòng tìm ra một thương hiệu nước hoa xa xỉ nào trên thế giới chưa từng ít nhất một lần tung ra cho mình một dòng nước hoa với note lavender chủ đạo. Từ thương hiệu “chuyên trị” hương trái cây (fruity) như Lolita Lempicka cho đến những quả bom thương mại hình ngôi sao của Thierry Mugler.

Lavender còn được sử dụng đặc biệt phổ biến trong các hợp hương dành cho nam giới, từ các dòng thương hiệu xa xỉ cho đến các sản phẩm nước hoa cạo râu (aftershave) và giữ thơm cơ thể (deodorant).

Không chỉ mang lại cảm giác sảng khoái, đầy sinh lực cho sản phẩm, oải hương còn chứa trong nó vị tươi tắn gần giống hương vỏ quýt, nhưng lại có cả vị nồng hơi khô của hương gỗ, khiến cho lavender được sử dụng hợp lí cho cả sản phẩm dành cho nam và nữ, trung hòa tuyệt hảo các khía cạnh âm dương đối lập của tính chất mùi, cho phép lavender dễ dàng hòa phối với các dòng hương gốc khác để tạo hợp hương.

Mặc dù là một trong những thành phần hương gốc được sử dụng phổ biến nhất, những người sành hương vẫn chuộng các dòng sản phẩm thuần chất, tức hương nhiên liệu gốc không qua pha phối và bào chế.

Cùng với xu hướng tiêu dùng thông minh của các sản phẩm cao cấp, song song với trào lưu hoài cổ và thời trang vintage, lavender một lần nữa được đặc biệt ưa chuộng trong các sản phẩm làm sạch như xà-phòng nguyên liệu tự nhiên bào chế từ tinh dầu lavender, nước hoa cologne, body mist, v.v… Người ta có thể bắt gặp hương lavender ở bất cứ đâu, từ các spa cao cấp cho đến tận những tiệm bách hóa ven đường, được tẩm ướp trong các túi hương công nghiệp dùng để treo trong xe hơi hay tủ quần áo.

Dường như những dấu hiệu đe dọa thoái trào của đời sống đô thị, nạn “đại dịch” stress của thế giới, cùng với xu hướng tìm về các giá trị hoài cổ đã khiến người ta tìm đến oải hương không chỉ như một thứ mùi hương sảng khoái, giảm stress, mà còn là một dư hương luyến tiếc còn lại nét duy mỹ cầu kì của những thời kì văn hóa hoàng kim.

(bài viết đã được đăng trên tạp chí M-Mỹ phẩm)

Perfumista Nhập-môn: Hương-mục (List of Notes)

Một perfumista là một chi phái của tôn giáo thời trang thuộc dòng duy mỹ. Họ không nhất thiết phải là những diva kiểu cách, trên mình phủ một thiết kế non mùa của một brand thượng hạng. Bất kể phong cách trang phục hay trường phái thẩm mỹ thời trang, họ là những nạn nhân và tín đồ tuần tiết của thứ trang phục cuối cùng người đàn bà muốn giữ trên thân thể – Mùi Hương.

Họ không nhất thiết là những diva sẽ hãnh diện khoe với bạn bộ sưu tập những lọ nước hoa bự sự của mọi nhãn hàng có trên thế giới. Họ không nhất thiết phải quẹt mòn thẻ ngay tức thời vì một thiết kế vỏ chai. Một perfumista học được cách đánh giá và trân trọng các tuyệt tác điêu khắc công nghiệp mà kẻ khác gọi nôm na là “vỏ chai nước hoa”. Nhưng gout khứu giác sành sõi cho phép họ chạm đến từng giọt tinh túy thiêng liêng chứa đựng bên trong, và chỉ một perfumista mới có thể thấu đáo giá trị chân thực của một dòng nước hoa, vượt trên tag giá.

Nói một cách khác, một perfumista là một tín đồ thời trang mà độ cảnh giới đã cho phép tiếp cận và thẩm thấu đến phần tinh thần cốt cách tột vời nhất mà mắt thường không nhìn thấy được.

Điều đầu tiên mà một perfumista mới nhập môn cần thuộc nằm lòng, chương đầu của Hương Kinh tối thượng, sẽ là bảng phong thần các note hương cơ bản (hương mục). Nhưng trước khi tiếp cận những danh sách này, oái oăm thay, điều mà perfumista phải nhập tâm và xem làm chân lý lại là: không phải mọi thành phần của một hợp hương (ở đây là các loại nước hoa) đều đến từ Hương Mục, và không phải mọi món trong Hương Mục đều nhất thiết hàm chứa trong một hợp hương.

Hương Mục – những lời nói dối tỏa hương?

Các hãng nước hoa thường công bố những hương mục riêng, tùy thuộc vào dòng hương cụ thể. Mỗi loại nước hoa đều có hương mục do chính hãng công bố, hoặc được phân tích bởi các perfumista sành điệu, với chỉ sau vài tiếng quan sát biến đổi của mùi trên da. Thực tế có thể là một cú shock với perfumista mới nhập môn, bởi các phân tích này có thể rất xa rời với thành phần thật của nước hoa, mà dựa nhiều trên khả năng khứu giác và khả năng ngoa ngôn của công nghệ PR, với mục tiêu nhắm trúng tâm lí thẩm mỹ mùi hương của đối tượng thị phần. Một perfumista sẽ hiểu nguyên tắc cơ bản: hương mục không nhất thiết đồng nghĩa với công thức hoặc thành phần. Sẽ rất ngớ ngẩn nếu chỉ với hương mục ngắn gọn của Ungaro (by Ungaro) gồm nhài, nghệ tây và hổ phách, là bất cứ bà nội trợ nào cũng trở thành chuyên viên bào chế. Ngược lại, quả bom Thiền (Zen) mới nhất được nhà Shiseido tung ra với hương mục có đến 20 cái tên vi diệu: nho, cam bergamot, đào, thơm, hoa hồng xanh, lan Nam Phi, dành dành, táo đỏ, violet, lan chuông, lan dạ hương, hoa hồng, sen, hoắc hương, tuyết tùng, xạ hương, xạ hương trắng, hổ phách, nhang trầm và rong biển. Một perfumista sáng suốt sẽ tự hiểu rằng hoàn toàn có thể thành phần thực chất của Zen không hề nhỉnh hơn mấy tí so với Ungaro, và đó là bí mật tối thượng nằm trong phòng nghiên cứu của mỗi hãng, được bảo vệ nghiêm mật và tưng tiu như vũ khí chiến lược siêu tiên tiến.

Và đó không hề là điều mà các perfumista cần quan tâm đến.

Các hương mục ấy vẫn là những bản mô tả tinh tế và dễ hiểu nhất cho sự hưởng thụ và đánh giá của một perfumista am hiểu. Cho cùng một dòng nước hoa, bạn có thể va phải các hương mục khá khác nhau, hãy tham khảo, so sánh, và tổng hợp cùng với kiểm nghiệm nhạy bén riêng của mình.

Những câu nói ngớ ngẩn của perfumista mới nhập môn

Một hóa chất khá phổ biến trong công nghệ bào chế nước hoa là aldehyde. Chỉ có một perfumista mới toe mới có thể đến cửa hàng và đòi “Cho tôi loại nào không có aldehyde!” Hẳn nhiên, bạn sẽ được giới thiệu một loạt hương mục không ghi aldehyde, tặng kèm với nụ cười “bí ẩn” của nhân viên bán hàng. Bởi lẽ thành phần ấy không nhất thiết luôn được đề cập đến trong hương mục, và có rất nhiều dạng aldehyde khác biệt. Nên tỉnh táo lưu ý rằng, nếu bạn thấy “hương đào” trong hương mục, và hiển hiện trong mẫu thử, thứ bạn đang hít hà, rất có thể là aldehyde.

Một câu nói ngớ ngẩn khác “Tôi không ưa mùi xạ hương!”. Cần phải nói cho rõ là bạn sẽ không bao giờ có thể, hoặc cần biết những thành phần gì đã cấu thành cái gọi là “mùi xạ hương” trong một mẫu nước hoa. Và loại hương này có rất nhiều biến thể mang hương gỗ, phấn, trái cây, hay thậm chí thứ hương được gọi là mùi kim loại, v.v… Các perfumer thường sử dụng hơn một biến thể xạ hương trong cùng một hợp hương. Do đó, sẽ là một trò ngớ ngẩn nếu bạn muốn tỏ ra cầu kì và nằng nặc không thích mùi xạ hương.

Tương tự như với các thành phần hương mục khác, chẳng hạn hương hoa, với các biến thể vô chừng của nó. Việc tên loài hoa xuất hiện trong hương mục không hoàn toàn phải có nghĩa là hàng tấn cánh hoa tươi đã phải được chưng cất để có một ounce (28.35g) tinh dầu, mặc dù thành phần hoa tươi cũng được khai thác khá phổ biến, đôi khi kết hợp với hương tổng hợp và tinh dầu tự nhiên.

Trong một số trường hợp, các hợp hương thành phẩm có sử dụng chất liệu hương tái-thiết-kế. Đó là trường hợp của Hermes Brin de Reglisse do perfumer Jean-Claude Ellena thiết kế. Ông đã cho trích ly oải hương thành 50 nhóm phân tử, ngửi qua tất cả để loại bỏ 5 nhóm mà ông nhăn mũi cho là tạp hương, tái hợp 45 nhóm phân tử còn lại để có một hợp hương lavender tinh tế nhất. Tương tự, hoắc hương (patchouli) thường thấy trong các loại nước hoa thường là một hợp hương các ton mùi trầm và gắt chát, vốn được các fashionista hippy thời 1970 ưa chuộng, nhưng không còn phù hợp với thẩm mỹ khứu giác hiện đại, và có được một phiên bản hoắc hương tân thời và tinh xảo hơn rất nhiều. Các perfumista vốn không hảo dòng hoắc hương ngày nay sẽ khó lòng nhận biết dòng hương “kị rơ” ấy, dưới một “diện mạo” mượt mà nhuần nhã, hợp với khứu giác thành thị hơn.

Không chỉ có vậy, các đại phù thủy perfumer còn có thể cho ra các thành phần hương, với nhiều note trong cùng một thành phần, và được liệt kê trong hương mục như những thành phần độc lập. Điều này thường gặp với các note cùng nhóm, ví dụ nhóm hương “gỗ quý, hổ phách và xạ hương” hoàn toàn có thể chỉ là sự can thiệp của một hợp chất hóa học duy nhất. Một dòng nước hoa khác có thể sử dụng cùng hợp chất, và chỉ được nêu danh nôm na là “hương trầm”, trong khi trong một sản phẩm khác, hợp chất này lại có tên là “gỗ nhiệt đới”. Tương tự, nhóm “cây huệ và hoa cam”, “mimosa và nhài” hay “da thuộc, quế và tuyết tùng”,… đều có thể là những hợp chất duy nhất cho cảm nhận pha trộn của các note trong cùng nhóm sắc độ mùi

Tuy vậy, hương hổ phách (amber) vẫn khiến ngay cả các perfumista sành sõi nhất phải lúng túng. Sau khi nhà Prada tung ra dòng nước hoa nam giới Amber Pour Homme, không ít perfumisto đã khá hoang mang khi trong hương mục hoàn toàn không có thành phần hổ phách như tên gọi. Amber Pour Homme là một hợp hương tươi ngọt và hơi chát chúa của cam bergamot, quýt, dầu hoa cam, bạch đậu khấu, phong lữ, hoa cam, nhựa thơm, xạ hương, gỗ sandal, đậu tonka, vanilla, nghệ tây, hoắc hương và da.

Trên thực tế, hổ phách hoàn toàn không được sử dụng như một thứ nguyên liệu tự nhiên để chưng cất nước hoa. Hổ phách (amber) trong thuật ngữ bào chế mùi hương là một “gam” hay “accord” mùi hương gồm nhiều note như cánh kiến trắng, vanilla, đậu tonka, hoặc hoắc hương. Một hợp hương có thể hàm chứa các thành phần trên, hay cho một cảm giác mùi tương tự. Các hãng nước hoa có thể chọn liệt kê mọi note trong đó vào hương mục, hoặc chỉ tuần túy hợp nhất lại thành hổ phách (amber), hoặc gây hiệu ứng hơn là hổ phách lỏng (molten amber), hổ phách nóng chảy (hot liquid amber). Do đó, tốt hơn hết, chớ bao giờ tuyên bố rằng bạn thích những loại nước hoa màu trà đậm vì chắc chắn trong đó có nhiều hổ phách hơn!

Cà-lem, kem dâu và bánh bông lan

Nếu chỉ có thế, sau khi những kiến thức này được phổ biến đến mọi perfumista, và các hương mục chỉ còn là trò trí trá của các tay buôn hương ngộ chữ. Nhưng trên thực tế, các hương mục được xây dựng chặt chẽ và tinh tế dựa trên tham khảo cảm nhận mùi từ những chuyên gia mùi hương đắt giá nhất thế giới. Từ đó, hương mục được thiết lập như một cách thức hoàn hảo và trung thực nhất để mô tả cảm giác mùi của các tầng hợp hương, điều khả dĩ loài người có thể làm với sự giới hạn của ngôn từ trước những lớp hương tinh tế.

Mỗi thành phần trong hương mục gợi nhớ đến các mùi hương tự nhiên, trực tiếp động chạm đến những dây thần kinh khứu giác và kích hoạt cảm nhận, cảm xúc, để hình thành nên quyền lực tối thượng cuối cùng mà một dòng nước hoa có thể mang lại – một Thái Độ Cảm Xúc.

Mỗi ngày, ngành thời trang thế giới lại có thêm 2-3 dòng mùi hương mới, và hẳn nhiên, không perfumista nào dám tham vọng ngửi thử tất cả những sampler mới này, việc tham khảo hương mục sẽ nhanh chóng cung cấp cho perfumista những thông tin cơ bản nhất về tính chất và tinh thần của hợp hương mới. Một tín đồ hiện sinh, nghe metal rock, hay ưa mặc thời trang hobo sẽ không thể không xao xuyến khi tìm thấy trong hương mục của Diesel Fuel For Life có sự chát chúa của nho đen Hy Lạp và quýt, phảng phất một note hoài cổ hoắc hương, để kéo theo một note ngân tuyệt mỹ của nhài trên nền hương da thuộc, kết thúc một bức tranh toàn cảnh lập dị, nhiệt thành, nhưng vẫn đủ điệu đà.

Note “xanh lá lấp lánh” (sparkling green freshness) trong hương mục của dòng L.A.M.B.L (Gwen Stefani) khiến mọi perfumista ngay lập tức liên tưởng đến tầng hương đầu tươi mát, một kiểu mùi đại dương pha lẫn hương cỏ. Người ta còn nhận thấy cảm nhận hương của quả lê và đậu ngọt đúng như rong hương mục, dẫu không hẳn có dù chỉ một giọt tinh dầu đậu ngọt trong lọ nước hoa.

Tương tự, quả bom kẹo ngọt miss Dior Cherie với hương mục ngộ nghĩnh gồm kem dâu đá (strawberry sorbet), và bắp rang caramel (caramel popcorn) đã thực hiện một cú ngắm tài tình trúng phóc vào hồng tâm thị phần perfumista chanh cốm. Hẳn nhiên, nhà Dior không định xức cà lem kem dâu vào sau gáy các tiểu thư sành điệu, nhưng hương mục này đã trung thành tuyệt đối với cảm hương đỏm dáng, tươi tắn và một vị ngọt tổng thể vừa đủ dịu để không gắt nồng như trong các dòng hương của Dior dành cho các diva cỡ bự.

Cũng như vậy, Britney Spears hoàn toàn không định mang món trộn kì cục là quả vải, mộc qua vàng, trái kiwi và bánh bông lan để bào chế dòng nước hoa Fantasy.

Nếu bạn cảm thấy bị quyến rũ bởi hương mục cầu kì của Flower Princess (Vera Wang) gồm thường xuân non, quýt, hoa súng, hoa cam, hồng Ma-rốc, nhài sambac, mimosa, vỏ mơ, hổ phách, gỗ quý và xạ hương, thì chớ băn khoăn về việc có bao nhiêu quả mơ đã bị lột vỏ, và người ta làm gì với ngần ấy phần quả ngon lành còn lại. Điều quan trọng hơn mà một perfumista sẽ cảm nhận được, đó là cảm giác đi băng xuyên một vườn hoa kì lạ nhất hành tinh, nơi mỗi bước chân là một lớp hương kì ảo mới được lần dở trong một bản hòa ca của các note khoan nhặt đan xen.

Hương Mục là những tác phẩm ngôn từ thật sự, một nỗ lực hoàn hảo của con người hòng nắm bắt, với sự hạn hẹp của con chữ, cảm xúc vi diệu khôn lường của mùi hương. Một perfumista sẽ học được cách tôn trọng nghiêm cẩn trước các tuyệt phẩm ngôn từ này, nhưng nếu bạn vô tình cảm nhận được “mùi của mẹ” từ một mẫu sampler Jean Paul Gaultier nào đó, hãy bình thản và tin vào cái mũi của mình, dù trong hương mục không có nhắc tên bà thân mẫu ở nhà.

Dẫu sao thì hydroxycitronellal và galaxolide cũng là những từ quá trúc trắc, không hề làm bạn có vẻ thông minh hơn, nếu không muốn nói là chúng khiến bạn có cảm giác bản thân là một quả bom sinh học, trong khi không gian quanh bạn lại rõ ràng đang ngập tràn hương hoa súng quyện với xạ hương.

 (bài viết đã được đăng trên tạp chí M-Mỹ phẩm)

 

 

 

người đàn bà mặc quần và nhảy múa

Túy Ca

Nàng cũng có thể là một giai nhân đồng tính nữ tiên phong và ngổ ngáo nhất trong lịch sử nhân loại với những người tình mà người ta vĩnh viễn không bao giờ được biết tới. Hình tượng lưỡng tính ấy cũng rất có thể đã chỉ là một siêu phẩm liều lĩnh và hoàn hảo của công nghệ PR thời tân điện ảnh. Nhưng điều mà Marlene để lại cho thế giới là những chiếc quần dành cho quí bà, những người đàn bà thích sải những cặp trường túc để đạp đổ định lề, và để nhảy múa.

Lưỡng tính hay phi giới tính?

Nàng bao phủ đài huyền thoại bản thân bằng một làn sương khói lẫn lộn thực ảo, với lời xác thực duy nhất được kẻ trong cuộc mang theo xuống tuyền đài, bỏ lại phía sau hàng thế hệ tín đồ vĩnh viễn ôm trong lòng mối ngờ hoặc về những sự thật nhạy cảm không thuộc về mình. Mặc nhiên, phong cách, nghiệp mệnh và tuyên ngôn sống của nàng mãi mãi được ngưỡng vọng và tôn vinh bởi những tâm hồn tự do, những đứa con trai và con gái của Thần Ái Tình phi giới tính.

Nàng chưa từng khẳng định bất cứ cuộc dan díu ái tình nào với một phụ nữ, trong khi các nhân vật do nàng hóa thân, luôn biến đổi khôn lường, và luôn phảng phất một sự nhập nhằng bất định giữa hình hài một người đàn bà sắc sảo, ngấm ngầm lửa dục, và một khi nào đó khác, nàng lại có sự quyến rũ của một quí ngài lạnh lùng và tàn nhẫn. Không ai được biết đến một madame Marlene thật sự.

Vậy mà nàng lại là tất cả để đại diện cho tinh thần tự do luyến ái và tất cả những lý tưởng tối thượng mà cộng đồng gay trong thế giới đương đại vẫn hết lòng ngưỡng vọng và tụng ca.

Chính vẻ lưỡng tính thanh lịch và quyến rũ kì lạ của Dietrich khiến nàng trở thành hình mẫu lí tưởng của dòng bút siêu xa xỉ MontBlanc mang tên nàng: Marlene Dietrich như một sự ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho một tinh thần mã thượng quí phái bên trong dáng vẻ của một tuyệt tác nghệ thuật cầu kì và tinh xảo. Dòng Marlene Dietrich là những thanh viết máy mạ bạch kim và nạm một viên saphire màu xanh biếc, gợi nhớ tinh thần siêu phẩm Blue Angel.

Một sản phẩm xa xỉ nổi tiếng khác của thế hệ siêu tín đồ của madame Marlene là dòng nước hoa Angel của Thierry Mugler. Tay tài hoa cổ quái đích thân thiết kế vỏ chai hình ngôi sao sắc lạnh, bên trong chứa thứ hợp hương màu xanh biển óng ánh thuần khiết. Hình ảnh đôi lưỡng quyền cao, mái tóc hung chải chuốt và vẻ lạnh lùng quí ông phía trên một thân hình Vệ Nữ của Dietrich cũng luôn ám ảnh các bộ sưu tập haute couture của Mugler, tạo nên những thế hệ phiên bản sặc sụa khí chất nữ quyền.

Phong mạo của nàng, ngang tàng nhưng không thô lậu. Marlene sở hữu cho mình một sự khôn ngoan tinh tế của một diva sành sõi, khéo léo chọn những bộ nội y tôn tạo kiêu hãnh cho khuôn ngực cao, những bộ smoking chít eo sắc sảo, những cặp quần dài khoe tối đa đôi trường túc trứ danh, và kỹ năng trang điểm tuyệt nghệ cho đến về sau vẫn làm khuôn mẫu cho những tín đồ trường phái pinup, những cặp lưỡng quyền cao bên dưới đuôi mắt khép hờ, trễ nãi và gợi tình.

Như một nàng thơ bất hủ của thời trang và tinh thần avant garde, vị tổ nghiệp haute couture Yves Saint Laurent đã từ khí chất lưỡng tính ma mị của madame Marlene mà làm nên một cuộc cách mạng vĩ đại, vĩnh viễn đảo lộn tủ quần áo nhân loại dưới cái tên cũng sặc sụa hơi khói như giọng ca của chính nàng – Le Smoking.

Cây vĩ cầm mồ côi và Thiên Sứ bạc phần

Maria Magdalene Dietrich sinh ngày 27 tháng 12 năm 1901, tại Berlin, con gái của một trung úy cảnh sát. Nàng lớn lên giữa môi trường của âm nhạc và bắt đầu biểu diễn vĩ cầm từ năm 12 tuổi. Nàng luôn ưng chọn mặc những bộ tuxedo của các cậu con trai hơn là mặc váy. Dường như nàng đã hiển hiện tài năng của một thần đồng âm nhạc cho cả một tương lai được định hình trải thảm. Nhưng chỉ vài năm sau đó, cuộc đời cô nhỏ tomboy chợt rẽ ngoặt ngoạn mục, khi cô mất cả cha lẫn mẹ trong một vụ tai nạn, và chính Marlene bị thương nặng nơi cổ tay, nàng không còn chơi vĩ cầm được nữa. Tất cả những gì nàng còn lại cho tương lai chỉ là một phong mạo dị biệt và một tâm hồn vĩnh viễn đóng cửa với thế giới bên ngoài.

Mãi mãi về sau, không ai biết gì về những năm hoa niên trong đời Marlene sau đó, cho đến mốc thời gian 1921, cô thay tên đổi họ và thi tuyển vào trường kịch nghệ nổi tiếng khắt khe nhất nước Đức của đạo diễn Max Reinhardt. Marlene đã không đủ xuất sắc để dành được suất học tại học viện danh tiếng của ông. Dietrich tái xuất trong buổi diễn thử trước mắt Reinhardt 2 năm sau đó, lần này, Reinhardt thua cuộc, còn Dietrich nghiễm nhiên trở thành học viên kịch nghệ của ngôi trường khắc nghiệt nhất Berlin. Nơi đây, nàng đã bắt đầu sắm một vài vai phụ trên cả sân khấu ca kịch lẫn một số phim ngắn, cùng lúc làm thuê tại một xưởng làm găng tay để trang trải học phí. Sau khi ra trường, Marlene đã bắt đầu hình thành tên tuổi của mình trong thị trường màn bạc mới, khi này còn là kỹ xảo tân kỳ trong làng giải trí thế giới.

Dường như số phận đã mỉm cười và xoa đầu cô nhỏ thích mặc đồ con trai. Êm ái như một bước dạo đài vinh quang, Marlene – như một cô đào mới nổi và đang được ưa chuộng, kết hôn với đạo diễn Rudolf Sieber và có với nhau bé gái Maria. Lại một lần nữa, dường như con đường trải dưới chân Marlene trở nên rõ ràng và quang đãng, nếu như không có cuộc gặp gỡ định mệnh với tay đạo diễn người Áo, kẻ đã âm thầm trong một thời gian dõi theo từng khuôn hình màn bạc thuở ban đầu của nàng, từ khi còn là một cô học trò trường kịch nghệ.

Khi này, nàng Marlene 29 tuổi với hơn 20 bộ phim trong hồ sơ, và vừa trúng đậm một vai để đời trong bộ phim làm nên huyền thoại của Josef von Sternberg – Blue Angel. Quả tình, cái tên đầy màu sắc hi vọng Thiên Sứ Xanh đã phù trợ một đòn bẩy tuyệt hảo, chính thức bắn tung cả Marlene lẫn Sternberg lên vòm trời cao nhất của các minh tinh thượng thặng, lưu danh mãi về sau. Điều duy nhất bị bỏ lại sau lưng nàng là chồng và con gái Maria, khi cùng Sternberg lên đường chinh phạt hào quang Hồ Ly Vọng.

Nước cờ mạo hiểm của “quí bà mặc quần”

Cho đến tận nay, các nhà phê bình và cả giới thời trang vẫn xem hình tượng Marlene Dietrich trong Blue Angel là một hình hài tiên khởi của nét quyến rũ lưỡng tính mãi mãi trở thành dấu ấn bất hủ của huyền thoại Marlene. Một trong những scene gây dư luận nhất ở Morocco, nàng xuất hiện trong bộ smoking đen của đàn ông và hát tặng một quí bà, hiển nhiên là đang ngất ngây vì những lời ve vuốt thốt lên từ một bộ dạng lịch thiệp lưng ong. Marlene nhón tay cầm lấy cành hồng đặt trên đùi người phụ nữ, hôn nàng thật nhẹ lên môi, và chính thức in dấu son của nụ hôn đồng tính nữ đầu tiên lên lịch sử màn bạc thế giới.

Đó đã là một nước cờ hình ảnh liều lĩnh nhưng Marlene đã thắng. Mọi khán phòng lặng ngắt với những đôi mắt mở to và những bộ hàm tê liệt, trước mắt họ là một người đàn bà “dám” mặc quần áo đàn ông và công khai thứ cảm khoái nhục dục kì quặc của việc luyến ái với kẻ được Chúa cho một chức năng và thân thể giống như chính mình. Thế mà trông nàng mới lộng lẫy, ma mị, và trên hết, trông nàng mới gợi tình làm sao!

Không lâu sau, Dietrich được đánh giá là người mặc nam phục đẹp nhất Hollywood.

Hiệu quả của nước cờ liều đã được khẳng định, và không còn có gì có thể ngăn Sternberg cùng Marlene tiếp đục theo đuổi hình tượng lưỡng tính của cái mà họ cùng gọi là “trò hề ở Morocco”. Nàng xuất hiện ở khắp nơi trong một phong thái được chờ đợi trước – hẳn nhiên là ngời ngời nam tính, nhưng luôn gây bất ngờ. Khi thì kiểu đồng phục lính thủy phóng túng phong tình, lúc thì bộ tuxedo trắng ngạo nghễ dáng vẻ công tử bột, thậm chí là cả những bộ quần áo lót của nam giới, vỗ về ôm chặt lấy những đường cong đàn bà. Quí bà quí cô ngỡ ngàng lần mò cảm xúc xa lạ khi ao ước được nàng ném cho những ánh đong đưa qua đuôi mắt dài sắc lẻm, cùng lúc không quên nhắc cánh đàn ông nhớ rằng đằng sau lớp áo quần của chính họ là một thân hình Vệ nữ xanh xao, tràn trề nhục dục, nhưng có vẻ như, chỉ “có vẻ” thôi, không dành cho các quí ngài!

Những giai thoại quanh nữ thần luyến ái

Một cách cố tình, hay chỉ vì chính Marlene cũng say sưa với cuộc sổng chuồng của một góc quái tính dục tình tiềm ẩn, nàng mặc nhiên ve vãn, dù bằng một sự ý nhị rất đàn bà, với mọi cô đào có mặt ở phim trường. Những giai thoại ái tình lập tức được truyền miệng, người ta đồn rằng nàng có thể ân ái cả với đàn ông lẫn đàn bà, và tên của các nữ yếu nhân được nhắc đến nhiều nhất là Edith Piaf và đào Greta Garbo.

Phần lớn những giai thoại dựng đứng quanh người đàn bà mặc quần là những cuộc đồn thổi khoái trá của giới đói tin nhàn hạ, hoặc nhờ công thêu dệt tận tâm của các tay phóng viên lá cải, nhưng một sự thật được minh chứng duy nhất trong hồ sơ tình sử của Marlene là cuộc tình dài hơi với nữ sĩ Mercedes de Acosta. Họ công khai những cử chỉ luyến ái, với Acosta ở vị thế mềm mại và lệ thuộc của nữ giới, và Marlene trong vai trò người đàn ông, mà ngày nay giới lesbian gọi là “femme” và “butch”. Mối quan hệ “bạn hữu” này kéo dài 10 năm. Vài năm sau khi Marlene mất, con gái bà, trong cuốn tự truyện, có nhắc đến các giai thoại về mối tình giữa bà và Greta Garbo nhưng cũng không có lấy một lời khẳng định rõ rệt nào. Hẳn nhiên, công chúng vẫn có nhu cầu gắn đính hai cô đào đối thủ trên màn bạc, cùng được biết đến bởi vẻ quyến rũ đầy nam tính này vào thành một đôi đồng tính ái hoàn hảo, với đầy đủ tính li kỳ huyễn hoặc sặc mùi màn bạc cine.

Ngoài ra, trong suốt quãng đời sự nghiệp của mình, Dietrich được biết đến như một bậc thầy trong nghệ thuật kích hoạt cơn đói tin của công chúng và báo giới bằng những vụ dan díu tình ái, chóng vánh hoặc kéo dài hàng thập niên, mà không nhất thiết phải sỗ sàng tự vén màn phòng the. Khi thủ diễn trong bộ phim Destry Rides Again, Dietrich ngả vào vòng tay bạn diễn là tài tử Jimmy Stewart. Mối tình kết thúc ngay khi bộ phim đóng máy. Năm 1938, người ta lại nghe đồn chuyện nàng gặp gỡ và quyến luyến với văn sĩ Erich Maria Remarque, rồi đến 1941 là người hùng quân đội và tài tử cine Pháp Jean Gabin. Cuộc tình ồn ào cuối cùng của Marlene, khi này đã hơn 50 tuổi là với nam tài tử Yul Brynner, và tiếp theo là một số vụ dan díu chóng vánh kéo dài đến khi huyền thoại lưỡng tính này trên 70 tuổi. Trong hồ sơ tình sử của Thiên Sứ Xanh còn có John Wayne, George Bernard Shaw và John F.Kennedy. Cho đến tận cuối đời, Dietrich vẫn bảo bọc cho người chồng bị bỏ rơi và nhân tình của ông tại Âu châu, và về sau tại một trang trại ở San Fernando Valley, California.

Trên thực tế, không ai biết chính xác điều gì đã xảy ra, ngay cả các chuyên gia điện ảnh, các tay viết tự truyện lừng danh nhất cho đến tận bây giờ vẫn chưa ngưng cuộc cãi vã, với những chứng cớ bác bỏ lí lẽ lẫn nhau về xu hướng tình dục của Marlene và danh sách những bạn tình của nàng. Một nửa chiếc giường còn lại, bên cạnh Marlene, vẫn luôn là một dấu ba chấm lững lờ.

Điệu cabaret phản chiến và hồ sơ điệp viên nhị trùng

Đại Thế Chiến nổ ra, đích thân Hitler viết thư mời Dietrich quay về Đức và thẳng thừng đề nghị nàng làm nhân tình, không quên lời cảnh báo rằng cuộc sống của nàng có thể trở nên rất “bất tiện” nếu từ chối. Marlene, cũng thẳng thừng và ngang tàng không kém, từ chối tay độc tài hiếu sát với tư cách một công dân Hoa Kỳ chính hiệu. Con gái và người chồng bị bỏ rơi của nàng khi này cũng đang sống tại Mỹ, và Marlene hồn nhiên tin chắc rằng họ đang được bảo vệ an toàn tuyệt đối khỏi các cuộc tấn công của quân Nazi. Không chỉ ngừng lại ở lời chối từ kiêu hãnh, trong suốt những năm chiến tranh, Dietrich không ngừng truyền bá các thông điệp chống Quốc xã đến với công chúng Đức của nàng, bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Nàng thân chinh xông pha đến các mặt trận quốc tế, mặc quần shorts đội mũ chóp, nhảy điệu cabaret và hát “Falling In Love Again” bằng thứ giọng điệu đàng sặc khàn hơi khói. Mãi về sau, Marlene vẫn coi đây là thời kì ý nghĩa nhất cuộc đời biểu diễn của mình. Nàng trở thành người đàn bà đầu tiên được trao tặng huân chương Tự Do (American Medal of Freedom), và nhận Huân chương Bội tinh Pháp quốc.

Về sau, trong hơn 150 trang hồ sơ về Marlene Dietrich của FBI, người ta còn tìm ra những chứng cứ cho thấy sự nghi ngờ của chính phủ Hoa Kỳ dành cho cô đào gốc Đức, và đồng thời một lá thư tay do điệp viên đặc vụ E.E.Conroy gửi Hoover, nhắc về việc Dietrich bị quân Nazi bắt vào tháng Giêng năm 1945 tại Pháp, cũng với tội danh gián điệp.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, con gái và cháu trai của Marlene còn khẳng định rằng trong suốt 11 năm ẩn dật cuối đời, bà vẫn duy trì hoạt động chính trị, qua các cuộc điện thoại với một số chính khách đối lập hàng đầu thế giới, trong đó có Ronald Reagan và Mikkhail Gorbachew.

Dân Do Thái ở Hollywood liệt Dietrich vào danh sách đen trong suốt gần hai năm vì cho rằng bà theo xu hướng thân Quốc Xã, trong khi đối với không ít dân Đức, Dietrich vẫn bị coi là kẻ phản quốc.

Năm 1996, sau một số tranh cãi, người ta đã quyết định không lấy tên nàng đặt cho một con đường ở Berlin Schoeneberg – nơi sinh trưởng của Marlene. Tuy nhiên, tháng Mười Một, 1997, trung tâm Marlene Dietrich Platz được khai trương tại Berlin, vinh danh giai nhân giọng khói – người đàn bà nổi tiếng của nước Đức, biểu tượng tuyệt mỹ của Tự Do và Dân Chủ.

Ngày 16 tháng Năm 2002, Marlene Dietrich được công nhận là công nhân danh dự của thành phố Berlin.

Quý bà phả khói vào những bản tình ca

Sau những hoạt động mang màu sắc chính trị tự do của thời kì Đại Thế chiến, sự nghiệp điện ảnh của Marlene, vào những năm 1950 đã đi đến hồi suy tàn. Sternberg không ngần ngại bỏ rơi Thiên Sứ Xanh một thời, với lời tuyên bố rằng nàng “sẽ chẳng ra gì” nếu không có ông ta.

Rất có thể Sternberg đã đúng, nếu vai trò anh thư Đại Thế Chiến của Marlene đã không thuyết phục đến như thế, để đặt nàng trên đỉnh cao ái mộ của công chúng trên toàn thế giới. Người ta nhắc đến nàng ở mọi nơi, từ các chiến hào đến các quân y viện. Như hình ảnh một nữ thần chính nghĩa mồm ngậm tẩu, mình bận chemise đàn ông, gõ những bước cabaret vui nhộn trên sân khấu dã chiến, Marlene vượt qua ánh sáng của một Blue Angel để lẫy lừng như một tượng đài lịch sử. Và một cách vô tình, như một sự tưởng thưởng xứng đáng, Marlene Dietrich trở thành vũ công cabaret cao giá nhất thị trường giải trí, kịch nghệ thế giới lúc bấy giờ.

Nàng thường xuất hiện trong show diễn của mình, thoạt tiên trong những bộ váy lộng lẫy thuần chất đàn bà, bó sát lấy thân hình Vệ Nữ. Nửa phần sau của chương trình là khi một nửa còn lại trong nàng tái xuất, trong chiếc mũ chỏm điệu nghệ và bộ tuxedo kinh điển, giữa những tiếng huýt sáo tung hô hay trầm trồ kinh ngạc. Phong cách này cùng giọng ca khàn trầm hiếm có khiến Marlene dễ dàng tiếp cận các ca khúc vốn chỉ giành cho các divo, mà trong đó, One For My Baby và I’ve Grown Accustomed to Her Face là hai nhạc phẩm vĩnh viễn ghi dấu ấn người đàn bà giọng khói, dù nàng không hề là ca sĩ đầu tiên và duy nhất từng thể hiện các version này.

Dấu ấn dị biệt của Marlene lên các ca khúc bất hủ luôn là một thứ ám ảnh ma mị khiến ngay cả những tình khúc lãng mạn nhất cũng trở nên cũ kỹ, rù quến bởi một chất âm thanh nửa ẩm ướt đàn bà, nữa chát chúa rệu rã như whisky, như cigar, như tiếng trầm trong cổ họng đàn ông. Dù đó là điệu bông lông phù phiếm I Can’t Give You Anything But Love, hay ủy mị kinh điển như La Vie en Rose dưới cái tên Đức Das Lied Ist Aus. Nàng nheo mắt qua vành mũ kéo sụp, và hé miệng phà hơi, thế là đóa hoa ái tình Pháp vĩnh viễn mang mùi muội khói nồng nàn như tiếng rên chăn gối của người đàn bà Đức. Với Dietrich, Where Have All The Flowers Gone không còn chỉ là một bài ca phản chiến, mà trở thành một lời tố cáo đay nghiến tất cả, và một chút rung cảm đàn bà, trong bản điếu ca những cánh xuân thì theo nhau về huyệt mộ “Những chàng trai đi về đâu? Ra chiến trường, từng người một…Những cánh hoa bay về đâu? Ra nghĩa trang, từng cánh một…”

Sau chiến tranh, tour lưu diễn tại Đức năm 1960 của Dietrich đã tạo nên những xung động dư luận cực đoan trái chiều. Nhiều người Đức phản ứng dữ dội và gọi nàng là người đàn bà phản quốc, trong khi phái dân chủ tiên tiến tôn vinh nàng không chỉ như một siêu sao giải trí, mà như một vị anh hùng đương thời. Những tiếng la ó lẫn tung hô ấy đã chỉ đem về cho Marlene một điều duy nhất: tour diễn là một quả bom dư luận thật sự và thành công ngoài sức tưởng tượng.

Sự đón nhận cũng vẻ vang tương tự khi nàng đến Israel và làm điều liều lĩnh nhất có thể vào thời kì này: hát các ca khúc phản chiến bằng tiếng Đức giữa vùng đất những người Do Thái.

Nhưng số phận, cũng chính số phận đã từng tạo ra chấn thương nơi cổ tay khiến nàng vĩnh viễn từ giã nghiệp vĩ cầm năm 12 tuổi, đã gieo xuống Thiên Sứ Xanh chứng ung thư vòm họng vào năm 1965. Marlene tài tình vượt qua cơn bạo bệnh, nhưng lại phát hiện các chấn thương mạch máu ở chân. Nàng hầu như sống hoàn toàn dựa vào các liều thuốc phiện và rượu để chống chọi với những cơn đau.

Cú ngã trên sân khấu Shady Grove Music Fair tại Washington DC năm 1973 đã khiến Marlene bị chấn thương nặng phía đùi trái, và đến năm 1974, nàng lại tiếp tục bị gãy chân phải. Trước đó một năm, trả lời phỏng vấn với Clive Hirschorn, Thiên Sứ Xanh cay đắng thốt lên “Bạn có cho rằng tất cả những điều này thật lộng lẫy mê hoặc? Bạn có thấy rằng đây là một cuộc đời tuyệt diệu khi tôi nhảy múa, diễn ca? Sai bét. Có thể đã từng đúng, vào một thời nào đó, nhưng không phải bây giờ. Bây giờ, tôi tiếp tục diễn để kiếm tiền.”

Cuộc hồi hương cuối cùng của Thiên Sứ Xanh

Nàng – không nằm ngoài quy luật buồn của đàn bà, già đi, khi mà ngoài kia, sau cuộc chiến, thế giới đã nhiều hơn những nữ hiệp mặc quần. Những bước cabaret trở nên quá nhanh và mạo hiểm. Cú ngã cuối cùng khi đang biểu diễn ngày 29 tháng Chín,, 1975 đã khiến Nữ Thần Nhảy Múa nằm liệt giường, hiện nguyên hình một người đàn bà mong manh và kiệt quệ.

Kiêu hãnh, và bị thương tổn bởi thời gian, trong suốt thập niên cuối đời, Dietrich chối từ mọi sự xuất hiện trước công chúng hòng vĩnh viễn giữ lại những hình ảnh hoàng kim cuối cùng. Bà dời đến sống trong một căn hộ nhỏ ở Paris, nơi chỉ có người trợ lí thân tín được lui tới tiếp xúc với bà, mọi sự liên lạc với thế giới bên ngoài đều được thực hiện qua điện thoại. Những gì Marlene còn lại để thế giới chạm vào, chỉ còn là một huyền thoại được bao bọc bởi sương khói nghi hoặc, va một chất giọng cũng sặc khàn hơi khói. Cho đến khi tình trạng của bà trở nên trầm trọng, những người thân duy nhất còn lại quyết định phải đưa bà về một nơi nào đó để gọi là “nhà”.

Nhưng thủ tục đưa Marlene về nước Đức đã quá chậm trễ.

Ngay vào khi những hồ sơ cuối cùng được hoàn tất, Thiên Sứ Xanh vĩnh viễn về trời, khép lại một quãng đời mờ hoặc, chỉ còn vọng lại đến nay những rộn rã tiếng gót giày cabaret.

Tang lễ diễn ra tại nhà thờ thánh mẫu La Madeleine, Paris với hơn 3,500 người đưa tiễn. Những giọt nước mắt thầm lặng của đám đông đứng nghẹt hai bên đường vĩnh biệt Thiên Sứ Xanh trong hình hài người đàn bà mệt mỏi, đắp trên mình lá cờ hoa của Hợp Chủng Quốc – nơi bà đã tỏa sáng và phụng sự như một công dân kiêu hãnh. Linh cữu sau đó mới được đưa về Berlin, nơi Marlene Dietrich được đặt nằm tại nghĩa rang Friedenau, gần mộ thân mẫu, và không xa ngôi nhà nơi bà đã sinh ra.

Trên bia mộ của Dietrich tại Berlin khắc dòng chữ “Hier steh ich an den Marken meiner Tage” (Tạm dịch: “Nơi đây ta đứng lại, bên cột mốc cuối cùng”), trích từ sonnet Abschied vom Leben của thi hào Theodor Korner.

Đứa con gái ngỗ nghịch của nước Đức, Marlene Dietrich, cuối cùng cũng hoàn tất một đoạn đường hồi hương trọn vẹn.

Nhiều người cho rằng Marlene là một mẫu hình lưỡng tính, hơn là một nữ đồng tính ái. Nhưng những cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn dằng dai, cùng cuốn tự truyện trần tình của con gái bà, một phần nhúng tay vào cuộc hiếu kì đào bới những câu chuyện trên chiếc giường của người đã ra thiên cổ. Đám đông hiếu kỳ ấy mãi mãi không bao giờ được chiều chuộng. Họ bị ngăn lại bởi một bức màn duy nhất ngăn giữa một cô đào và vạn muôn công chúng: tấm màn bạc, loang loáng nét hào hoa của “quí bà lịch thiệp” người Đức trong siêu phẩm bất hủ Thiên Sứ Xanh. Người ta chỉ được phép biết chắc những điều Marlene cho phép: nàng là người đàn bà Đức có trái tim quả cảm, một lòng kiêu hãnh đến ngạo ngược, kẻ đã phà một làn hơi khàn đặc vào các bản tình ca bất hủ và những ca khúc phản chiến trứ danh – người đàn bà mặc quần, nhảy múa, và đá tung những định lề và cả những nỗi sợ.

Đồng tính ái hay dị tính ái, Marlene Dietrich vẫn luôn là một huyền thoại lộng lẫy nhất của những tâm hồn Kiêu Hãnh và Tự Do.

Những cuộc phiêu lưu luyến ái hay xu hướng tình dục của Marlene vĩnh viễn chỉ là huyền thoại, và, nhân danh lòng ngưỡng vọng của thế giới dành cho người đàn bà tài hoa ấy, chúng luôn nên được giữ nguyên như vậy.

mèo điên bên lề catwalk

Hoa Nhài Đen

Cho đến nay, gót slimheel của hắc miêu bất bại Naomi đã in dấu trên cả thảy hơn 500 bìa tạp chí, trong đó có những pháo đài tên tuổi cỡ Vogue Italia, Japanese Vogue, Elle, i-D, Glamour, Harper’s Bazaar, Interview, W, Vanity Fair và GQ.

Sau sự nghiệp lẫy lừng tả xung hữu đột, siêu binh catwalk thở hắt ra lời ta thán thấu tâm can: “Chúng tôi-những siêu mẫu, như thể những quân nhân, phải chiến đấu để giành từng bông mai cấp bậc trên cầu vai. Bây giờ người người làm siêu mẫu, danh xưng sử dụng bừa phứa. Kate Moss chẳng hạn, rõ là một siêu mẫu, nhưng sau Gisele Bundchen, chả còn cô nào xứng danh supermodel nữa cả.”

Báo đen công phá pháo đài truyền thông

Xuất hiện trong clip “Is This Love?” của danh ca Bob Marley từ năm mới 7 tuổi, nhưng điểm son đáng nhớ trong đời con báo đen của runway thế giới là khi mới 15 tuổi, trong khi đang thung dung thú window-shopping ở Covent Garden, con báo đen, khi này còn tơ, đã lọt mắt xanh cáo già Beth Boldt, cựu người mẫu hãng Ford, nguyên đại đầu lãnh hãng đại diện người mẫu Synchro. Vài cú chuyển mình điệu nghệ đã khiến cho Naomi ngay lập tức kí hợp đồng danh giá với nhà Elite Model Management, mở lối runway và mở luôn cả lối cho những chiến dịch quảng cáo gây đảo điên toàn cầu bởi những tên tuổi thân chủ cỡ Lee Jeans và Olympus Corporation.

Tăm tiếng làn da gỗ mun ngay lập tức được thị trường Hoa Kỳ đa chủng để mắt tới. Ngay sau đó là những mùa vụ huy hoàng với Ralph Lauren và Francois Nars. Chỉ mới ở độ tuổi 15, vào một ngày đẹp trời tháng Tư năm 1986, Naomi Campbel thập thành tráng lệ xuất hiện trên bìa tờ Elle, thế chỗ nữ tiền bối Veronica Webb, khi này đang chơi trò diva cancel buổi chụp. 2 năm sau, người bạn lớn của những giai nhân da màu thế giới – Yves Saint Laurent dọa dẫm rằng ông sẽ rút lại mọi hợp đồng quảng cáo khi ban biên tập Vogue Paris kiêu kỳ miệt thị từ chối để Campbell lên trang bìa. Kết quả là con báo tơ đen óng 17 tuổi đắc thắng yểu điệu uốn mình trên trang bìa danh giá của Vogue Paris số tháng Tám 1988, đánh dấu cột mốc lịch sử lần đầu tờ này phải cắn răng tôn vinh lên bìa một làn da…không trắng.

Sau vụ công phá thành trì Vogue Paris, Campbell tiếp tục trở thành người mẫu da màu thứ hai (sau Donyale Luna) chinh phục tờ bìa Vogue UK, một lần nữa, như số phận sắp bày, ở vai trò thế mạng cho đàn chuyên-gia-cancel Vernonica Webb. Tiếp nối là Vogue Nippon, rồi đến Time Magazine và cả thành trì dài vạn lý Vogue China.

Thừa thắng xông lên, người đẹp trút bỏ xiêm y pose luôn cho Playboy, giữ nguyên y trạng, trưng nổ tấm thân nữ thần trên cuốn Sex của siêu diva Madonna năm 1992, quần thảo chung với đích thân diva và tay rapper Big Daddy Kane.

Lãnh địa hắc miêu: Âm nhạc, chính trị, mỹ phẩm

Nếu thuật ngữ supermodel bao gồm cả ảnh hưởng xã hội thì rõ là con báo đen không nghi ngờ gì nữa, là ứng viên sáng giá cho danh sách những supermodel của thế kỷ. Năm 2009, nàng bỏ bomb truyền thông với những phát biểu công khai về nạn phân biệt chủng tộc của ngành công nghệ thời trang.

Trong cuộc phỏng vấn với tạp chí Glamour, con mèo cái xinh đẹp phì phì khạc nhổ công khai “Bạn biết đấy, tổng thống Hoa Kỳ có thể là một người da đen, đen cỡ nào dân tình cũng không cự cãi, nhưng ở tư cách một cô gái da màu, cho đến giờ tôi vẫn bị coi là trường hợp ngoại lệ trên bìa tạp chí hay cả trên catwalk. Những cô da màu sẽ luôn phải cố gắng cật lực hơn các đồng nghiệp da trắng rất nhiều để được hưởng sự tôn trọng và quyền lợi tương đương.” Đối với con báo đen không biết chùn chân này, bậc thầy và đàn chị đi trước mà nàng tôn thờ và noi gương chính là Vệ Nữ Đồng Đen Iman.

Nhưng Campbell đã không hề là ngoại lệ so với hai đồng nghiệp da trắng cùng thời là Cindy và Claudia khi cả 3 đều thất bại với những cuộc tấn công bên ngoài lãnh địa thời trang. Album Baby Woman và single Love and Tears của nàng đã phải chịu thảm bại. Baby Woman có phần may mắn hơn tí chút tại thị trường Nhật Bản trên hơn 1 triệu bản được tung ra trên thế giới. Con báo đen khôn ngoan liền lập tức ghi điểm thị trường Nhật bằng cú kết hợp với Toshinobu Kubota cho ra đời single La La La Love Song, cùng ca khúc Long Vacation nhắm trúng hồng tâm No.1 hit thị trường Nhật Bản với chuẩn xác là 1,856,000 bản được thị trường thẩm thấu toàn bộ.

Năm 1994, từ quầy băng đĩa, Campbell tổng tấn công các kệ sách bằng cuốn tự truyện được mong chờ mang tên “Swan”, kể lể câu chuyện của nàng thiên nga đen mỹ miều, những vụ tống tiền và các bí mật đen thăm thẳm trong quá khứ của nàng, qua ghi chép của Caroline Upcher. Hai năm sau, bộ ảnh mang tự Naomi được xuất bản, gồm những shot ảnh của nàng do Richard Avedon và các nhiếp ảnh gia hàng đầu khác thực hiện.

Như một sự hiện nhiên, với tinh thần không khoan nhượng của loài mèo, Naomi Campbell thành lập Design House of Naomi Campbell năm 1999. Cho đến nay, nàng đã cho tung ra 7 dòng nước hoa nữ, phần lớn tập trung vào thị trường Âu châu. Năm 2000, là dòng nước hoa mang tên Naomi Campbell và Naomagic, 2001 đánh dấu sự ra đời của Cat Deluxe, nghỉ ngơi 1 năm thụ hưởng thành công, năm 2003 chứng kiến sự ra đời của Mystery, tiếp theo là Sunset, nghỉ tiếp 1 năm và Paradise Passion được tung ra thị trường vào 2005. Gần đây, Cat Deluxe phiên bản mới mang tên Cat Deluxe at Night lại gây sóng gió thị trường mỹ phẩm.

Không chỉ là nhân vật chính của các chiến dịch quảng cáo đầy quyền lực của Versace, Ralph Lauren, Dolce & Gabbana, giao du mật thiết với những yếu nhân thời trang khét tiến như Azzedine Alaia, Karl Lagerfeld, Jean Paul Gaulteir, John Galliano, Vivienne Westwood, Marc acobs, Yves Saint Laurent, Gianni Bersace và Alexander McQueen, nàng còn cộng tác biên tập cho các đầu tạp chí danh giá như GQ trong phỏng vấn với Lewis Hamilton, Hugo Chavez và Christina Kirchner.

Chưa bao giờ biết cha ruột của mình, Naomi xem Quincy Jones và Chris Blackwell như cha, và tổng thống Nelson Mandela như một người ông.

Với sự ảnh hưởng sâu sắc của những bậc trượng phu lừng danh như vậy, Campbell chưa hề kết hôn, mặc dù hồi 2008, báo chí đã có thời đồn rùm về việc mỹ nhân thành viên trung thành của Đảng Lao động này đang sửa soạn về dinh với tay đại gia bất động sản người Nga Vladislav Doronin và thụ đạo Orthodox. Ngoài ra, con báo đen cũng có lần suýt sa gót vào bẫy hôn nhân với Adam Clayton – tay bass của ban nhạc U2.

Mỹ nhân cục tính, hay Mike Tyson có thân hình Vệ Nữ

Năm 2000, Campbell bị luận tội tại tòa Toronto về vụ hành hung cựu trợ lý của mình là Georgina Galanis. Năm 1998, con mèo đen hung tợn nổi cọc và choảng điện thoại vào cô trợ lý rồi dọa sẽ ném cô ta ra khỏi chiếc Peugeot. Hậu quả là lời xin lỗi công khai và khoản bồi thường được giữ kín con số, cùng cam kết trị liệu tại các giờ huấn luyện kiểm soát cảm xúc.

Không rõ các chuyên gia đã thuần dưỡng hắc miêu Campbell ra sao, nhưng bốn năm sau, cán cân công lý tỏ ra bao dung hơn với nàng ở vụ kiện tiếp theo, với khoản bồi thường trị giá 3,500 bảng Anh về quyền riêng tư bị các paparazzi tờ Daily Mirror bêu riếu bằng những shot ảnh cảnh nàng rã rời tơi tả bước khỏi một viện điều dưỡng.

Nhưng các buổi trị liệu và chuyên gia đã phải vò đầu bứt tóc bất lực khi vào tháng Ba năm 2005, con mèo đen cục tính lại lên cơn sài giật, tát tai trợ lý Amanda Brack rồi xông vào đấm đá túi bụi vào đầu cô này bằng cái điện thoại BlackBerry không chút tiếc thương, dù là với nàng trợ lý tội nghiệp hay với chiếc điện thoại đa năng. Phát ngôn viên Rob Shuter của nàng chối đây đẩy vụ này. Tháng Bảy 2006, cựu trợ lý Brack lại kiên trì tiếp tục vác đơn đi kiện cho bằng được, kể lể chuyện Campbell vừa đánh vừa thóa mạ tưng bừng. Đơn kiện được cô Brack cay cú tội nghiệp gửi đến 3 tòa ở 3 châu lục, đòi được bồi thường với con số không công bố. Cô đào Ý Yvonne Sciò cũng là một nạn nhân khác đã kể lại rằng Campbell đã “bỏ mặc tôi nằm đó trong vũng máu sau khi đấm vào mặt tôi như thể cô ta là một Mike Tyson giống cái vậy.”

Cho đến 30 tháng Ba 2006 tại New York, các nhà chức trách đã phải nhảy vào bắt giữ con mèo cái đang nổi khùng giữa trận thượng hạ tay chân người giúp việc của mình với món vũ khí quen thuộc là một chiếc điện thoại, lần này là một chiếc có nạm đá khiến người này ôm đầu bê bết máu khâu đến mấy mũi trên đầu. Lần này, giai nhân cục tính đứng trước khả năng thụ án từ một đến bảy năm dư sức mọt gông với tội danh hành hung cấp độ 2. Ngày 28 tháng Chín 2006, Campbell không buồn xuất hiện tại phiên xử, chánh án dọa sẽ kêu lính còng đầu nàng ngay tắp lự nếu còn ngoan cố khinh tòa.

Ngày 25 tháng Mười 2006, Campbell lại một lần nữa bị bắt ở London, cũng vì tội hành hung và được bảo lãnh tại ngoại. Ngày 14 tháng 11 cùng năm, một người giúp việc cũ khác của Campbell, Gaby Gibson, tiếp tục đệ đơn kiện Campbell, gọi nàng là “mụ siêu côn đồ cuồng tín”.

Hãng luật mà Campbell làm thân chủ, Sullivan & Worcester ngán ngẩm rụt đầu le lưỡi trước con mèo cái điên và chấm dứt hợp đồng với thân chủ phiền toái này vào năm 2006 – đỉnh điểm các vụ vác chiếu hầu tòa của Campbell, và sau đó lu loa loan tin rằng nàng là “con thú hoang xổng chuồng có hại cho an ninh cộng đồng”.

Mất hãng luật đắc lực để bảo vệ, Naomi vẫn không có vẻ gì là nao núng. Ngày 16 tháng Giêng 2007, nàng bị tuyên án tội tấn công một người giúp việc khác là Ana Scolavino. Siêu diva thời trang bị phạt lao động công ích 5 ngày và 2 ngày tư vấn điều trị tâm lí – môn mà nàng học hoài không tốt nghiệp, và phải thanh toán hóa đơn bồi thường thuốc men cùng bốn mũi khâu nhà chị Scolavino là 363 bảng Anh. Theo đài CNN, Campbell đổ thừa cho “lòng khao khát thiếu thốn tình cha”.

Nhưng ngay cả điều này lẫn uy tín nhà đài CNN, hay dẫu đại tổ thời trang Yves Saint Laurent có can thiệp lần nữa vẫn không lay động được thiết diện bồi thẩm đoàn và cán cân công lý. Ngày 19 tháng Ba lịch sử đã ghi dấu sự kiện con báo đen của runway thời trang thế giới ngậm ngùi yểu điệu kì cọ sàn nhà Sở Vệ sinh Thành phố New York, mở đầu cho 5 ngày lao động công ích.

Tháng Tám 2007, thẩm phán Michael Stallman tòa tối cao New York phán xét và luận tội hắc miêu hung tàn của runway thế giới về “hành vi côn đồ có hệ thống nhắm vào các nhân viên thuộc hạ của mình.”

Ngài Stallman quả đã minh chứng được bản luận tội sáng suốt nọ vào mùa Hè năm sau, khi mà con hoang thú diễm lệ lại một lần nữa bị bắt tại sân bay Heathrow vì định hành hung luôn cả một sĩ quan cảnh sát chỉ vì mất một cái túi trong mớ hành lý của mình. Ngay lập hãng British Airways tuyên bố khước từ vị hành khách danh giá nhưng bất ổn này trên mọi chuyến bay quốc ngoại của hãng. Các nhà chức trách dứ dứ đe dọa trước giai nhân bất trị nguy cơ mặc thời trang sọc đến 6 tháng tù và mức phạt 5,000 bảng, tội danh côn đồ bừa bãi thêm 2,500 bảng nữa, cộng thêm tội hăm dọa lẫn thóa mạ phi hành đoàn vị chi là thêm 1,000 vét túi.

Vô hiệu, 2 tháng sau, Campbell lại bi tố đến 5 tội danh có liên quan đến hành vi bạo lực và thóa mạ. Thần Công-lý ngán ngẩm giáng tiếp xuống tặc miêu bạo tàn đòn 200 giờ lao động công ích.

Kể từ đó, các tiếp viên hãng British Airways đồng thuận gán cho Campbell hỗn danh “hắc diện đại mỹ nhân” (golliwogg supermodel) để ám chỉ cơn ác mộng màu đen của các chuyên bay đầy kịch tính có mặt kỳ nữ du côn này.

Có vẻ sự thiếu thốn tình phụ tử của Campbell đã đến độ trầm kha khi chỉ mới đầu năm nay, tài xế limousine của nàng lại vừa phải cầu cứu sở Cảnh sát Nữu Ước khi bị “báo vờn” bằng một loạt tát và đấm lên mặt và thân thể. Hẳn nhiên là phát ngôn viên mỏi mòn của Campbell phải kêu toáng lên rằng “Đừng chỉ vì nàng thường xuyên có động thủ trong quá khứ mà tin ngay lời cáo buộc” và cho rằng rất có thể đã không chỉ có những cú đấm bay đi từ phía Naomi mà rất có thể “cô gái tội nghiệp” đã phải tung đòn với mục đích tự vệ. Lí lẽ này đã được Sở Cảnh sát Nữu Ước xem là câu đùa tếu nhất trong năm.

Huyền sử “viên kim cương máu” và giai nhân da màu giữa biệt điện Hồng Quân

Cũng trong năm nay, khi Mia Farrow lu loa tin Campbell đã có lần khoe rằng mình được thủ lĩnh đảng tự do Charles Taylor tặng viên kim cương máu (blood diamond) chưa mài cắt, khi cả 3 tham dự sự kiện gây quỹ từ thiện của tổng thống Nam phi Nelson Mandela hồi năm 1997. Campbell từ chối xác thực thông tin. Con báo đen đứng phắt dậy, phóng vút giữa chừng cuộc phỏng vấn với ABC News sau khi từ chối trả lời và tấn công một camera gần đó.

Tháng Bảy vừa rồi, người ta lại thấy báo đen xuất hiện tại tòa, lần đầu ở tư cách nhân chứng phiên tòa chống Charles Taylor, nơi mà việc cưỡng lệnh triệu tập của tòa sẽ bảo đảm tròn trịa 7 cuốn lịch cho báo đen sau song sắt. Campbell miễn cưỡng có mặt, luôn miệng kêu than rằng tòa đang làm phiền quấy nhiễu đến mình. Nàng chỉ khai rằng được Charles tặng “cục đá nhuôm nhoam xấu hoắc” tại một bữa ăn tối, mà về sau mới “nghe đồn” rằng đấy là một thứ…đại loại như kim cương, và nàng đã tặng lại cho Quỹ Thiếu nhi mang tên Nelson Mandela, qua tay vị đại diện đứng đầu là Jeremy Ratcliffe. Vị đại diện Ratcliffe gửi thư đến tòa kêu oan rùm trời, rằng thì là ông chưa bao giờ nhận một hạt tí ti kim cương nào từ tay con báo đen hay bất cứ ai cả, vì nhận đóng góp từ thiện bằng…hột xoàn là sai nguyên tắc hoạt động của quỹ này. Ngày hôm sau, đài BBC loan tin rằng Ratcliffe đã phản cung và thừa nhận có nhận kim cương từ tay kiều nữ báo đen.

Cho đến tháng Năm vừa qua, Naomi Campbell vẫn sống ở Moscow, nơi nàng từ nay xem là ngôi nhà thứ hai của mình cùng người tình trùm bất động sản Nga Xô. Nghe đâu nàng có nhúng tay tham gia công cuộc kinh doanh thịnh vượng cùng người tình. Họ sống trong dinh thự riêng vốn trước đây là đại bản doanh hào hùng của chính quyền Đảng Cộng Sản Xô Viết, nơi ngày nay trở thành tòa biệt điện huy hoàng của con báo ngông cuồng, vĩnh viễn chôn dấu bên trong mọi cơn thất thường sài giật của cựu siêu mẫu thế giới – báo đen mắt huyền Naomi Campbell.

(thuộc chùm bài Iman-Cindy-Claudia-Naomi, tạp chí f. số Tết 2011)

Mademoiselle CoCo – người đàn bà Pháp

 

Từ một cửa hiệu thời trang nhỏ từ những năm đầu thế kỷ 20, Gabrielle ‘Coco’ Chanel, một cách khiêm cung nhất, điềm tĩnh đi con đường của mình, với chuỗi hạt nhỏ trên cổ và chiếc mũ đỏm dáng trên đầu, thản nhiên với ngôi vị một trong những tên tuổi thiết kế hàng đầu của thời trang Paris hoa lệ, chen chân với những đồng nghiệp ‘tay tổ’ của giới mặc suit và chải brillantine. Một cách dịu dàng và cương quyết, bà tháo bỏ những chiếc corset gọng cứng thô ráp bó thít vòng eo phụ nữ hàng thế kỷ để thay vào đấy khái niệm mới của phong cách thời trang thượng đẳng trang nhã, năng động và thanh thản, mở đầu cho khái niệm “casual elegance”. Sử dụng những yếu tố trang phục và trang trí cơ bản nhất, đó là chìa khóa của bà mà sự đơn giản chân phương được nâng đến hàng tinh tế đến không tiền khoáng hậu: đen và trắng, váy suôn, suit và quần, tất cả được bao phủ trong mùi hương kinh điển đã được “thánh hóa” Chanel No.5

Nhưng trên hết, quý bà bé nhỏ ấy đã trở thành một trong 100 nhân vật có tầm ảnh hưởng vĩ đại nhất thế kỷ 20 (theo Thời Báo) không phải vì những sáng tạo trong lãnh vực thời trang, mà vượt trên tất cả, bởi chính những tư tưởng tiên phong phía trên trái tim đàn bà đã khiến kẻ từng mang nghi án phản quốc ấy trở nên bất tử.

Số 5 định mệnh và những bóng nam nhân phía sau người đàn bà bé nhỏ

Chanel sinh ngày 19 tháng Tám 1883, tại thị trấn nhỏ Saumur, Pháp. Là con gái thứ của ông Albert Chanel và bà Jeanne Devolle, khi ấy làm nghề giặt ủi. Năm 1895, khi mới 12 tuổi, thân mẫu bà qua đời vì bệnh và người cha bỏ đi. Chanel được gửi vào cô nhi viện, nơi bà lưu lại trong 6 năm và học những bài học đầu tiên về nữ công, may vá.

18 tuổi, Chanel rời cô nhi viện, và với tất cả hoài bảo của cô gái trẻ, bà đến Moulins và trở thành ca sĩ phòng trà hí kịch. Bà có được biệt danh Coco cũng trong thời kỳ này, dù một số tư liệu cho rằng đây là tên gọi có từ ca khúc ưa thích của bà khi ấy, về chú chó lạc tên Coco, nhưng bản thân Chanel lí giải rằng đây là lối gọi tắt có từ cocotte lấy từ nhạc kịch The Atlanta.

Tuy sự nghiệp ca hát đã không thật sự mang lại thành công và danh vọng như mong muốn, nhưng cũng chính thế giới hào nhoáng của Moulins đã mang lại cho bà cuộc tình với nhà công nghiệp trẻ Etienne Balsan, người đã giới thiệu bà vào làm việc tại một tiệm may vào ban ngày. Balsan phủ lên bà một cuộc sống thư nhàn, những bộ cánh hợp mốt, những chuỗi ngọc khiến Chanel bị mê hoặc cho đến mãi sau này. Trong những ngày tháng sống cùng Balsan, Chanel bắt đầu thiết kế cho mình những chiếc mũ, như một thú tiêu khiển, nhưng càng về sau, sở thích này càng trở nên một đam mê và những hoạch định nghiêm túc. Bà chia tay với Balsan, và ông hào phóng để lại cho bà căn hộ của mình tại Paris.

 Năm 1909, Chanel gặp gỡ một người bạn của Balsan – tay chơi polo hào hoa nổi tiếng Captain Arthur Edward ‘Boy’ Capel, một mối tình lớn trong cuộc đời Chanel vẫn được nhắc đến về sau.

Người tình phong nhã Capel đã không chỉ giúp Chanel khoản tài chính để khai trương cửa hiệu thời trang đầu tiên của bà, mà những chiếc áo khoác nhẹ bằng jersey của ông cũng ám ảnh bà mà trở thành tiền thân ý tưởng cho những chiếc áo khoác jersey dành cho nữ đình đám thế giới cho đến tận ngày nay của nhà Chanel.

Nhưng sự hào phóng của tay chơi đào hoa đã quá lớn để chỉ dành cho một mình nàng Coco với xuất thân ca nữ. Sau 9 năm hương lửa, Capel đột ngột kết hôn với một giai nhân quí tộc Ăng-lê, nhưng vẫn tiếp tục dan díu với Chanel. Cái chết đột ngột của ông trong một tai nạn giao thông đã khiến năm 1919 trở thành giai đoạn khủng hoảng nhất cuộc đời Chanel.

Theo tư liệu địa phương còn lại, Chanel đã dựng nên một đài tưởng niệm nhỏ cho người tình vắn số ngay nơi tai nạn xảy ra, và hàng năm, người đàn bà bé nhỏ vĩ đại ấy của nước Pháp vẫn đến đặt những bó hoa cho kẻ phong tình quá cố.

Năm 1910, Chanel mở cửa tiệm tại số 21 phố Cambon với bảng hiệu Chanel Modes. Hai năm sau, cô đào Gabrielle Dorizat đội một trong những chiếc mũ đỏm dáng của bà trong vở Bel Ami và được cả giới nữ thượng lưu Paris rùng rùng sủng ái. Chanel nghiễm nhiên chính thức được ghi nhận là hiện tượng thời trang mới của kinh đô hoa lệ. Để tri ân và đánh dấu cột mốc này, Chanel về sau đã chọn Dorizat là người mẫu cho những chiếc mũ của bà trên tờ Les Modes. Năm 1913, với cửa hiệu tiếp theo mở tại Dauville, Chanel một lần nữa nâng tầm tên tuổi với những mẫu thời trang đài các nhưng giản dị và thanh nhã dành cho nữ giới thượng lưu trong các tiệc nhẹ và hoạt động ngoài trời. Nhưng mãi đến 2 năm sau, Chanel mới thật sự được xem là nhà thiết kế khi cửa tiệm Chanel-Biarritz được khai trương tại Biarritz, với những thân chủ là các tiểu thư, phu nhân Tây Ban Nha đến đây nghỉ dưỡng, trốn tránh không khí u mặc của cuộc đại chiến thế giới. Chanel tiếp tục lăng-xê những bộ trang phục thoải mái từ chất liệu jersey, vốn chỉ được sử dụng cho nam phục. Năm 1919, bà tiếp tục khai trương cửa tiệm thời trang cao cấp tại dinh thự của mình ở số 31 phố Cambon.

Năm 1922, Coco Chanel chính thức ra mắt những lọ nước hoa No.5 đầu tiên, về sau trở nên một trong những tên tuổi mỹ phẩm nổi tiếng và bất hủ nhất của lịch sử thời trang thế giới, đóng vai trò trụ cột trong những nguồn thu khổng lồ của tên tuổi thương hiệu Chanel. Năm 1924, Pierre Wertheimer, mà theo một số người là tình nhân của Coco, trở thành đối tác của nhà Chanel, cùng phối hợp khuếch trương những dòng nước hoa đình đám của thương hiệu này. Wertheimer sở hữu 70% thương hiệu, Coco Chanel nhận về cho mình 10% và một đối tác khác là Bader – 20%. Con cháu nhà Wertheimer vẫn còn tiếp tục thừa kế và duy trì thương hiệu cho đến tận ngày nay.

Năm 1921, Ernest Beautiful sáng tạo nên những dòng nước hoa được đánh số từ 1 đến 5, và từ 20 đến 24 cho thương hiệu Chanel, chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công mới của nhà Chanel vào địa hạt mỹ phẩm. Coco Chanel ngay lập tức chọn mùi hương số 5. Khi được mời chọn tên gọi cho dòng nước hoa đầu tiên này, bà đã trả lời “Tôi ra mắt bộ sưu tập đầu tay vào ngày 5 tháng Năm, đây là con số bổn mệnh của tôi.” Coco Canel chọn cho dòng nước hoa này một mẫu chai cực kì đơn giản nhưng độc đáo, mà sự kinh điển lẫn hiện đại của nó vẫn đứng vững một cách kì diệu trên thị trường nước hoa cao cấp thế giới cho đến tận ngày nay. Và, cũng như với những thiết kế thời trang của mình, Coco Chanel đã nhấn mạnh rằng chính thứ chứa đựng bên trong mới thật sự là giá trị sản phẩm của bà – dẫu đó là những người phụ nữ hay thứ chất lỏng màu hổ phách có mùi thơm.

Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1954, khi được hỏi về lựa chọn trang phục khi lên giường, cô đào Marilyn Monroe đã yêu kiều trả lời “vài giọt No.5”. Dẫu không có chủ đích, câu trả lời nửa ngây nửa lẳng của cô đào cine mỹ miều đã lập tức trở thành một slogan quảng cáo bất hủ cho Chanel No.5 – thứ mỹ phẩm duy nhất của thời trang thế giới tồn tại và được tôn thờ xuyên thế kỷ.

Năm 1925, mẫu áo vest cardigan của CocoChanel làm khuynh đảo xu hướng thời trang, và cơn chấn động kéo dài cho đến ngày nay. Ngay tiếp sau đó, 1926, những chiếc váy “little black dress” ngay lập tức trở thành món trang phục cơ bản trong mọi tủ quần áo của các tín đồ thời trang mọi trường phái, từ ác tín đồ nhập môn cho đến những couture diva, vĩnh viễn thay đổi cục diện thời trang thế giới.

Và cứ như vậy, trong sự kinh ngạc của làng thời trang vốn xưa nay nằm trong bàn tay tài hoa của “đấng sáng tạo” nam giới, người đàn bà bé nhỏ với chuỗi hạt ngọc bất biến quanh cổ đã liên tiếp tung ra những thiết kế giản dị, đài các, với mãnh lực trường tồn xưa nay hiếm có, những trào lưu thật sự xuyên thế kỷ, và được sủng ái bởi hàng thế hệ fashionista trong khi kiểu dáng và kỹ thuật thực hiện hầu như không thay đổi.

Về sau, Chanel thường vẽ vời và tự gán cho mình một xuất thân óng ánh so với xuất thân của mình. Bà kể lại rằng sau khi thân mẫu mất, cha bà đã vượt biển đến Tân Thế Giới để làm giàu và gửi bà đến ở với những người dì ác độc. Thậm chí, bà còn cho rằng mình sinh năm 1893 chứ không phải là 1883, và rằng mẹ bà qua đời khi bà 2 tuổi, chứ không phải là 12 tuổi như tư liệu ghi nhận lại.

 

“Mata Hari của nước Pháp” và nghi án phản quốc