ngược dòng khuếch tán

Có lẽ mùi hương chính là thứ phục dựng tiềm thức và thiên đàng hữu hiệu nhất, bởi nó có tất cả: trọng lượng, nhiệt độ, vị, cảm giác, và màu sắc, quang độ,… Khứu giác có thể cùng lúc lay động mọi giác quan còn lại, và như vậy, cả một địa đàng có thể được dựng nên và tiêu hủy chỉ trong tốc độ khuếch tán của một giọt bụi hương.

“Chúng ta là những đứa con gái lớn lên trong nước hoa Tabu, quần jeans Hara và những hộp phấn Én thần thánh”, tôi nói như vậy với cô bạn gái vào một buổi chiều cách đây vài hôm.

Câu nói hết sức buồn thảm này đúng với mọi độc giả cùng thế hệ tôi, đã lớn lên, mê đắm trước những Poison và Anais, những Charlie và Fragile huyền thoại của thị trường xa xỉ phẩm đơn điệu của Sài Gòn cuối thập niên 80.

Rồi tất cả trở thành kí ức già cỗi với những cơn sốt Obssession và Giò, đại dịch unisex và những vụ nổ tung hoa cứu rỗi tính nữ của ngài Jacobs… Mỗi perfumista Sài Gòn (ít ra là ở Sài Gòn) đều lưu giữ trong tiềm thức những dòng hương thời cuộc đó.

Sài Gòn – với thuộc tính rất riêng và thứ thẩm mỹ khứu giác bồng bột của hết thế hệ đến thế hệ khác những perfumista cầu kì hay nhẹ dạ, mang riêng của nó một lịch sử mùi hương.
angela-lansbury-for-blackglama

Từ huyền thoại đơn hương Chà-và đến những dòng hương tuyệt mệnh của Kỷ Hoàng Kim

Khó có thể truy tìm chính xác ai là perfumista người Việt Nam đầu tiên, hay lọ nước hoa đầu tiên được du nhập đến Việt Nam. Nhưng hoàn toàn không khó để kẻ chơi cổ ngoạn tìm thấy những lọ chai nước hoa Shalimar nhà Guerlain được lăng-xê vào thập niên 20 hiện diện trong vô thiên lủng những món cổ vật tế nhuyễn được rao bán từ kho tàng cá nhân một gia đình tư sản xưa nào đó.

Du nhập tới xứ An Nam cùng lối sống cầu kì của cư dân nền văn minh Ánh Sáng, nước hoa như một món trang sức vô hình, không phục vụ mắt nhìn, nhưng vi tế mầu nhiệm hơn tất thảy những món “bắc kế” (từ thời này dùng chỉ trang sức, phụ trang) sang trọng nhất – một thứ đặc quyền của giới kỹ nữ và hàng thị dân phong lưu.

Đồng hành cùng tuyệt phẩm mùi hương của văn minh phong hóa đến từ Tây phương này còn có những dòng đơn hương chưng cất bởi các thương buôn người Chà (Java) sinh sống tại Sài gòn.

Theo câu chuyện kể lại của một nhà bào chế hiện sinh sống tại Đà lạt, khi ấy ông còn là một cậu thanh niên tỉnh lẻ hàng tuần theo chuyến hàng lên Sài gòn, từng ngẩn ngơ chiêm bái hình ảnh những bà trung lưu, những cô nữ sinh áo trắng dập dìu ra vô những hiệu buôn của người Chà bên ngoài Chợ Cũ (giờ là đường Hàm Nghi), nơi những hương liệu mỹ phẩm được chưng cất, đựng trong những vò thủy tinh lớn và chiết ra chai nhỏ theo định lượng để bán. Loại dầu thơm bình dân này hoàn toàn là những đơn hương thuần túy mang mùi thơm của những loài hoa, vị cỏ có trong thiên nhiên được chưng cất, không cấu trúc và không biến cố, nhưng thỏa đáp được nhu cầu làm đỏm cơ bản nhất của nữ giới nói chung.

Cho đến giờ, cậu nhỏ đó vẫn đang thầm lặng thực hiện tham vọng phục dựng những dòng đơn hương giản dị đó cho mầm mống một thị trường nước hoa nội hóa.

Vào thập niên 50, những dòng xa xỉ phẩm nhập khẩu và nếp tôn sùng các nhãn nước hoa mang âm hưởng Francophile thống trị tuyệt đối thị trường thượng lưu, một phần bởi uy danh kinh đô hoa lệ, một phần khác bởi chính bối cảnh thị trường thế giới vẫn chịu sự thao túng của thẩm mỹ lục địa già. Cho đến tận đầu thập niên 60, nước hoa mới trở nên phổ cập hơn cùng sự sầm uất của những thương xá tân kỳ bày bán đồ xa xỉ. Cũng từ đây, các quý bà quý cô Sài Gòn bắt đầu làm quen với những loại nước hoa nhập từ Hoa Kỳ, dao động vô chừng từ những thương hiệu gốc Pháp như YSL và Dior, cho đến những dòng hương “drugstore” với giá cả khá dân chủ xuề xòa, thừa sức cung ứng nhu cầu làm dáng của giới trẻ.

Nhưng kể từ 1975, Sài Gòn cô lập hoàn toàn khỏi thị trường xa xỉ phẩm thế giới, người ta lay lắt dựa dẫm chính vào nguồn mỹ phẩm chợ đen từ các thùng hàng gửi về từ hải ngoại.

Đó là những năm đầu thập niên 1980 tại Sài Gòn, khắp nơi ở khu trung tâm, nơi những tiệm ăn, nhà hàng sang trọng còn sót lại, và những dạ vũ tổ chức “chui” tại nhà, những nếp quen và mùi hương cũ vẫn được duy trì một cách tài tình. Người ta cự tuyệt những dòng hương mới lạ thượng trào trên thị trường thế giới, như một cố gắng tuyệt vọng trong việc bảo tồn vẹn nguyên bầu không khí hoa lệ của Sài Gòn vào những năm 60 phóng túng. Opium của Yves Saint Laurent cho giới nghệ sĩ và cavalliere cũ, Chanel No.5 và Shalimar được coi là tín chỉ thượng lưu. Mấy cô trẻ trung thích Charlie, Joy và Tabu bởi mức giá thân thiện hơn, trong khi Mon Péché nhà Lanvin, Magie Noir nhà Lancome và Poison nhà Dior chinh phục hết thảy mọi thị phần bởi chút vẻ lẳng lơ táo bạo.

Còn với nam giới, Paco Rabanne giữ nguyên vị trí thượng lưu trong khi eau de cologne của Old Spice chỉ còn là tàn tích tại những tiệm barber kiểu cũ, và Brut lui về thị phần trung niên trí thức. Về sau, những lọ cologne hiệu Old Spice tuyệt tích hoàn toàn tại thị trường Sài Gòn, trong khi Brut vẫn tồn tại một cách khá khiêm tốn sau nhiều đợt thay đổi thành phần và thiết kế mề đay trứ danh cũng bị loại bỏ. Chỉ mới gần đây, hai tên tuổi này chính thức tái xuất dưới hình thức các phiên bản sản phẩm vệ sinh cá nhân, Brut và nhãn Old Spice “con tàu đỏ” hầu như bị xóa tên khỏi danh mục những dòng nước hoa giành cho quý ông. Cần phải nói thêm rằng đây là một điều đáng tiếc, bởi sự đặc sắc trong ứng dụng note cẩm chướng ở Old Spice, và thi vị Fougère kinh điển của Brut vẫn là những huyền thoại đáng nể của lịch sử bào chế mùi hương trên thế giới còn gây tranh cãi tới tận bây giờ.

l-gda23j5lkmoyeq

Thảm họa Kỷ Disco: Quá nhiều hormone cho một thành phố nhỏ

Dựa trên tập quán “tàn dư” của các perfumista mới nhập môn bản xứ, những dòng hương lừng lẫy nhất của Kỷ Ngây Thơ – khoảng thập niên 20, 30, tình cờ hội tụ hài hòa với những dòng cực thịnh của cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 và chiều chuộng mỹ mãn gu khứu giác bạo liệt của đàn bà con gái Sài Gòn xứ ngọc Viễn Đông vào đúng thời kỳ “trở mình” hồi phục của Sài Gòn những năm 1980. Tất thảy là những tầng hương mang cấu trúc cầu kỳ, với nốt powdery, xạ hương, gia vị và hương hoa tổng hợp sực nức một vẻ duyên phấn sáp đầy kịch tính, đồng điệu ngẫu nhiên với nét bốc đồng khả ái của Sài Gòn, sự pha tạp Đông-Tây cổ-kim kì thú giữa văn hóa “phố lớn” Sài Gòn với dáng vẻ cổ thị nhưng tinh thần phồn thực sầm uất của khu Chợ Lớn. Phóng khoáng tới mức dễ dãi, duyên dáng theo một cách ồn ào, huyền mặc Đông phương trộn nhuyễn cùng tạp chất văn minh Âu hóa, khoái lạc thụ hưởng được tôn vinh, và nỗi sầu muộn “sentimental” lại lên ngôi thời thượng theo những cuốn băng cassette chuyền tay cùng tên gọi tắt phiên âm “sến”. Tất thảy đều trùng hạp tài tình với tinh thần những mùi hương được ưa chuộng nhất thời kỳ này, với ảnh hưởng tác dụng á phiện lên nỗi ám ảnh Yves Saint Laurent, hay những gia vị Trung Á đậm nét “tuồng hương xa” của nhà Guerlain lúc bấy giờ.

Nhưng đó cũng chính là nguyên nhân tàn lụi của những dòng hương xạ (musky) và hương Đông phương (Oriental) tại thị trường Sài gòn những năm dài sau dư chấn cơn sốt nặc nồng hương nhân tạo đó. Xạ động vật và lượng lớn trầm hương, hổ phách chiếm nồng độ cao trong các dòng nước hoa này bắt buộc sử dụng tinh dầu tổng hợp và những gam hợp hương thay thế để tạo cảm giác tương tự, đặc tả thuộc tính phương Đông. Bỏ qua lòng trân quý những cấu trúc bào chế bậc thầy và những chiến dịch quảng cáo triệu đô, hai trường phái này khiến người ta liên tưởng tới thứ thẩm mỹ rườm rà cũ kỹ, quá nhiều aldehydes, quá nồng nàn với một thông điệp dục tính sỗ sàng, bông tai nhựa to quá khổ và keo xịt tóc nặng mùi. Những mùi hương được ưa chuộng đồng nghĩa với sự xuất hiện nồng nực ở khắp nơi. Cả một xã hội đàn bà đỏm dáng và cá biệt, bất kể thời tiết trong ngày, đều cùng lúc tỏa hương một cách phồn thực tới sỗ sàng.

Trong kí ức của rất nhiều người, thập niên 70 và 80 đã lưu dấu bằng những cái nhăn mặt khổ sở và những tai nạn xây xẩm vì mùi mỹ phẩm nực nồng trong thang máy, tiệm ăn và các rạp cine. Những tên tuổi quý phái thượng tôn trở thành khái niệm bình dân xa cạ, khi mà một quý bà lịch duyệt cũng tỏa hương y hệt một cô nhân viên cửa hàng mậu dịch.

Thảm kịch tương tự đã xảy ra với dòng nước hoa mang số 5 huyền thoại của nhà Chanel trên thế giới – với note hồng và hương phấn kinh điển, đậm đặc và phổ cập đến nỗi ấn tượng “mùi hương bà ngoại” (dù đã là một bà ngoại cực kì am hiểu sành sỏi) cũng đủ khiến các cô gái trẻ phủ lên các dòng powdery định kiến “mùi người già”. Cùng lúc, việc các quý bà Á châu ồ ạt chạy đua theo “đẳng cấp Coco” cũng cùng lúc khiến dòng hương powdery này chịu thêm một định kiến về phong cách trưởng giả nouveau riche.

Không thể không nhắc đến một tác nhân góp phần trong cuộc truất ngôi ngoạn mục của trường phái Oriental và musky là sự xuất hiện của hàng nhái sau thời mở cửa, cùng với thói quen buôn bán nước hoa trong quầy kiếng những khu nhà lồng nóng bức khiến tất cả những gì người ta cảm nhận được là một sức khuếch tán mạnh mẽ và kinh hoàng không kém gì những chiếc khăn lạnh ở quán bia hơi hạng bét.

o.769

Sự thoái trào của mặt phẳng những mùi hương đồng hóa

Sài Gòn đã phải mất tới hai thập niên để rũ bỏ hoàn toàn nỗi ám ảnh cơn sốt “musky Oriental”. Giới bình dân lũ lượt trốn vào sự xoa dịu của Anais Anais, trong khi các bà sang trọng “cai nghiện” Chanel bằng Dune, Giò và nồng độ Đông phương dịu dàng hơn qua hương nhài của J’adore, các cô thanh nữ ưa nổi loạn, hâm mộ Kim Wilde và mô tô Rebel quay lưng lại với Poison tối ám để tung hô những chai Jean Paul Gaultier với thiết kế chai lọ muôn phần kích thích.

Cũng cùng thời điểm này, không ít dòng nước hoa kể trên cũng tuyệt tích trên thị trường thế giới, hoặc phải trải qua những cuộc biến dạng, cách tân (reformulation) với sự thay đổi không hề ít trong công thức. Poison liên tục tung ra các phiên bản thỏa hiệp đa sắc, với thành phần và nồng độ được điều chỉnh mềm mại hơn nên vẫn được ưa chuộng. Cùng lúc, cơn sốt “quả táo độc” được hóa giải bởi các dòng hương trái cây trẻ trung hơn, với thiết kế vỏ chai không kém phần hấp dẫn do nhà Lolita Lempicka liên tục tung ra rù quến thị trường nhiệt đới. Các tên tuổi Á châu với làn hương trong veo và mỏng tang của Kenzo và Issey Miyake như hai giải pháp thỏa đáng cho khí hậu đặc thù nhiệt đới cũng bắt đầu được mến mộ.

Đó đã là một cuộc ru ngủ dịu dàng kéo dài từ giữa thập niên 90 đến nay, với Tommy Hilfiger đồng hóa lằn ranh giới tính của thị phần trẻ chuộng mốt unisex, trong khi trên thượng tầng mua sắm, các dòng hương được săn lùng và ưu ái bởi sự bảo chứng đẳng cấp của chai lọ và thương hiệu. Phần còn lại hứng trận mưa “cổ tích Lái Thiêu” với những lê táo mận nhà Lempicka và Marc Jacobs cùng Kenzo không ngừng nghỉ tung hoa lên thị phần nữ tính. Hơn một thập kỷ thơm tho kéo dài, những thi vị mùi hương được tóm gọn bằng những cái tên thương hiệu, các bàn thắng thị trường được quyết định bởi thiết kế lọ chai – vốn là những thứ không thể trưng trổ để uy hiếp thị giác. Cùng lúc, thảm họa những dòng hương tội đồ được mệnh danh là “nước hoa Singapore” được hau háu tiêu thụ thật sự báo động cho vai trò của thẩm mỹ khứu giác trong sự thành công của một dòng hương. Người ta từ chối chi trả những số tiền khổng lồ phi lý cho cùng một thứ chai lọ được bán trên các sạp chợ đêm hoặc mạng internet với giá chỉ bằng 1/10.

Không chỉ lằn ranh giới tính và đẳng cấp bị xóa mờ, nhộn nhạo đánh lẫn, mà trào lưu những dòng hương nhẹ thơ lơ cũng đã báo động thoái trào khi mà những số tiền cực xa xỉ được trả cho những làn hương mỏng mảnh đến nỗi người ta phải áp mũi lên da mới cảm nhận được, và được quảng cáo là đỉnh cao của sự tinh tế mùi hương…da thịt vừa được tắm sạch trong bồn jacuzzi thả hoa tươi. Tất cả tan biến chỉ trong vòng 15 phút đầu, với những khứu giác hụt hẫng trước cuộc thăng hoa xí hụt.

Đó là khi người ta nhớ da diết cái thời mà đàn ông và đàn bà tỏa mùi khác nhau, như những cá thể rừng già tỏa hương hormone đặc thù quyến rũ, khi mà đóa huệ duyên dáng của nghệ nhân nhà L’Artisan Parfumeur phải vượt trội về độ cầu kỳ so với note ylang ylang điền dã của những dòng hương giá mềm dân chủ. Những tầng, những lớp hương phức hợp trong một cấu trúc cầu kỳ đã trở thành điển lễ cũ kỹ, đậm đặc và dày vò đủ khiến người ta muốn quay trở lại để thưởng thức từ đầu. Những cú xịt đầu vòi với mỗi hạt bụi dung dịch màu hổ phách là một thiên diễm tình có lớp lang, biến cố được khứu giác kiên trì lần dở từng trang, từng cảnh cho đến khi mùi mẫn ngấm hẳn vào thịt da. Những mẫu vật cũ được săn lùng khắp nơi trên thế giới, các phiên bản trường phái chypre và fourège kinh điển được phục dựng trong những diện mạo và tên gọi mới.

006-M

Những “lỗ mũi” nổi khùng và những dấu chỉ phục hưng

Khi Le Parfum nhà Elie Saab bất thần thắng lớn tại mọi trung tâm mua sắm Sài Gòn, như một dấu chỉ cho một trào lưu tuy chậm chạp cẩn trọng nhưng hoàn toàn chắc chắn của những gu thưởng thức cầu kỳ nhưng không còn cũ kỹ. Le Parfum bắt đầu khôn khéo với việc dẫn dụ thói quen khứu giác bằng hương trái cây, hoa cam, khá thông dụng và hợp thời. Nhưng ngay lập tức là một cuộc chơi vi diệu của đặc tính đàn bà rõ nét với hương hoa hồng và nhài. Sự có mặt của các note tổng hợp mang tên aldehydes chính là yếu tố nhắc nhớ đến cái duyên phấn sáp quá tay của những dòng hương huyền thoại. Việc Le Parfum được ưu ái mạnh mẽ chính là dấu hiệu đáng ăn mừng cho các tín đồ perfumista phe bảo thủ về một cuộc đại chấn hưng.

L’artisan Parfumeur cũng táo bạo xuất hiện tại các thương xá Sài Gòn với hợp hương khá dị biệt do được tạo ra bởi quái kiệt Duchaufour, người đã tiễu trừ vị kem sữa (creamy) đặc thù của hương huệ và tạo ra một cấu trúc kì cục nhất xưa giờ với lối dẫn dụ đặc tả từ…gốc đến ngọn, như thể người ta chào hỏi một quý bà bắt đầu bằng việc hôn vào chân vậy.

Những cú chấn động liên tiếp của các “lãnh chúa” haute couture trong thế giới thời trang từ 2008 theo chuỗi domino đã tác động bạo liệt lên thị trường nước hoa, mỹ phẩm và phụ trang – những rường cột chống đỡ tài lực cho các thành trì xa xỉ cuối cùng, khiến cả kỹ nghệ bào chế phải đi qua sự thỏa hiệp với mãi lực bằng những cấu trúc mùi hương thân thiện bên trong những lọ chai bắt mắt. Đó chính là thời điểm quật khởi bạo liệt của những “tân minh chủ” bất ngờ và bất trị nhất: những phù thủy ẩn danh phía sau những huyền thoại mùi hương, các nhà bào chế thượng hạng, và những chiếc mũi phù thủy nổi loạn.

Những nhãn hiệu độc lập được ra đời, mang danh tánh cá nhân của các nhà bào chế, báo hiệu một sự chấn hưng rầm rộ của những hợp hương cầu kỳ bất hủ, những cảm hứng dị biệt nhất nằm ngoài mọi khuôn mẫu của nguyên tắc hòa hương. Thị trường đang quay sang tôn sùng những dòng nước hoa thượng thặng thoát khỏi hệ nô dịch thương hiệu, mang những tên tuổi cá nhân xa lạ nghiễm nhiên trị vì ngôi vị đắt đỏ nhất trên thị trường. Bond No.9 bỏ cả Nữu Ước vào lọ, quái kiệt Francis Kurkdjian thao túng tín đồ sành sỏi bằng bộ sưu tập trầm hương hừng hực sâu thẳm như những cơn sốt nhục cảm, đế vương đến tận từng con số trên tag giá. Tất thảy, mùi mồ hôi, đồng thau han rỉ trong ngôi cabin gỗ hoang phế, những drap đệm tình nhân, cả những chiếc váy slip dress bằng tơ chưa giặt, và có lẽ cả Nữu Ước lẫn Sài Gòn đều có thể được thần thánh hóa dưới dạng dung dịch, và đựng đầy vào những cái chai.

Cùng lúc, giới chuộng mùi hương tại Việt Nam, dù chưa phải là một cộng đồng to lớn, một khi thói quen và điều kiện mua sắm tại nước ngoài đã trở lại như thời hoàng kim gần nửa thế kỷ trước, lập tức hình thành nhu cầu tìm đến những mùi hương cá biệt và thoát khỏi ảnh hưởng nô dịch thương hiệu hay sự quyến rũ thị giác của thiết kế vỏ chai. Tính cá nhân lại được tôn thờ mãnh liệt hơn bao giờ hết sau gần hai thập kỷ của những dòng hương chung chạ. Sự xuất hiện dù chỉ mới duy nhất một cửa tiệm có dịch vụ tạo hương bespoke tại Sài Gòn để làm ra những lọ nước hoa độc bản cho thân chủ cũng đủ để người sành hương nhìn nhận dấu chỉ đáng mừng cho một nền văn minh pefumista hậu nô dịch.

Bởi tất cả, trên cả hương thơm, đó là thế giới tuyệt xảo của những bản ngã được tôn thờ, của mùi hormone nhân tạo được thần thánh hóa, những tuyệt phẩm nghệ thuật mong manh nhất, tan biến bằng tốc độ tản hương nhưng có khả năng gây nghiện đến ám ảnh lâu dài, món trang sức lịch duyệt nhất của nếp sống phong lưu, kiêu ngạo vượt xa khỏi mọi trưng trổ ồn ào của tầng thị trường nhãn mác.

6a00d83451ccbc69e2017615997dd6970c-400wi

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí L’Officiel)

MÙI THỊ DÂN

Tình cờ trong một bài nghiên cứu về những dòng nước hoa phong vị Đông Phương đã ngưng sản xuất, tôi bắt buộc phải săn lùng những mẫu vật đã hoàn toàn tuyệt tích khỏi thị trường. Duyên kỳ ngộ đến với tôi từ tay một phụ nữ trung niên, gửi gắm món kỷ vật trong ve nước hoa bằng thứ thủy tinh đã trở nên đục mờ, bên trong chỉ còn chứa không quá 10ml đáy cặn. Sắc hổ phách huyền thoại của thứ dung dịch xa xỉ đã chuyển sang thứ nước màu thắng quá lửa với mùi hương khét ngằn ngặt như những bông hồng chết trên giàn hỏa thiêu. 40 năm về trước, chị là cô con gái gia đình “tiếp quản” một ngôi nhà mà gia chủ đã ra hải ngoại. Trong tất thảy những cuốn album gia đình cùng tư trang để lại, cô gái nhỏ đã lén giữ lại chiếc lọ cầu kỳ như một kỷ vật của một thứ tàn dư diễm lệ mà cô hụt tay sờ chạm. 40 năm, chưa một lần chị dám phí phạm dù chỉ một làn bụi hương sót lại nơi đáy chai. Tôi hứa với chị sẽ hoàn trả mẫu vật sau khi trích lục để phân tích một phần hương bên trong.

Cái cảm giác ấn chạm vào đầu chiếc ve nhỏ, phóng thích một tia bụi nước đó trở nên thiêng liêng kỳ lạ, vượt xa chuyện sửa soạn xức thoa thường tình. Như thứ thanh âm cũ mòn thốt bật từ lòng đĩa vinyl cổ đại còn đính chiếc tem giá, những thước phim nhị sắc run rẩy trên phông bạc sau hàng thập niên trong phòng lưu trữ, tôi nhận ra mình vừa phóng thích khỏi chiếc lọ cũ kỹ cả một nền văn minh thời cuộc, hiển hiện ngay trên cườm tay, với đầy đủ biến cố cầu kì của một tuyệt tác mỹ phẩm, biến dạng nặng nề bởi ngần ấy thập niên đợi chờ được phóng thích.

Vị thần tai ác chui ra khỏi chiếc ve được thiết kế cầu kỳ, và trước khi tôi kịp chọn cho mình một điều ước, tôi bị quăng không thương tiếc lên chuyến tàu ngược thời gian và nhắm mắt lại để thấy mình, không phải ở thị trấn Provence với bạt ngàn đồng hoa lanvande tím, hay kinh thành Ba Lê thánh địa của kỹ nghệ bào chế nước hoa, mà giữa vẹn nguyên thập thành đô thị Sài Gòn gần ba mươi năm về trước: mùi Sài Gòn!

Hương phấn sáp khỏa lấp kỷ điêu tàn

Tại sao những dòng mỹ phẩm đặc trưng được sản xuất vào những năm 20 của Kỷ Ngây Thơ (Age of Innocence) và thập niên 70 diêm dúa luôn khơi dậy trong tôi chỉ cùng một tiềm thức?

Sài Gòn có mùi gì?

Tôi không tin người ta có thể ngay lập tức trả lời câu hỏi này. Bởi Sài Gòn là một đô thị…nặng mùi. Một tạp âm hổ lốn, đa tầng được cảm nhận bởi khứu giác đã mỏi mòn từ quá lâu đủ để chậm chạp bóc tách từng lớp, từng nốt trầm tích mùi hương ấy ra mà phân tích một thứ “hương Sài Gòn” chuẩn xác.

40 năm sống trong lòng Sài Gòn, tôi dõi theo kí ức của chính mình, nhắm mắt lại, hít thở và để mặc những note mùi hương làm công việc của nhà điêu khắc, tạc vóc chân dung Sài Gòn. 40 năm của một hành trình thoái hương đầy biến cố, cho đến khi bất cứ dòng nước hoa xưa cũ nào với trường phái đặc thù của mỹ cảm 1920 và 1970 cũng có thể lập tức phục dựng sinh động một kỳ đoạn nối dài từ giữa những năm 1970 đến cuối thập niên 80 của Sài Gòn, trở mình giữa lệ và hoa.

Đó chính là khoảng thời gian chuyển tiêp giữa nếp sùng bái thẩm mỹ Francophile còn lại của lớp thị dân elite, cùng những tinh hoa Bắc và Trung kỳ hội tụ về đây giữa những năm 50, pha trộn với trào lưu tân kỳ của những dòng hương “drugstore” Hoa Kỳ đầy tinh thần thực dụng và tag giá dân chủ hơn rất nhiều. Thập niên 20 và 70 tiền-disco gặp nhau trong vẻ hào nhoáng cảnh vẻ: những cô đào trang điểm quá tay, những tiến bộ vị lai của khoa học và những nỗi sầu chính trị hợp thời. Chypre và aldehydes, xạ hương đầy nhục cảm và thứ mùi phấn sáp trang kim của trường phái powdery.

Một chuyên viên tâm lý có thể dễ dàng lý giải điều này bởi sự can thiệp của vốn liếng tiềm thức hạn hẹp bó tròn trong đời sống thị dân, bởi những khái niệm đầu đời về thế giới mùi hương đã gắn liền với mọi kí ức của Sài Gòn giữa thập niên 80, bởi những chuyến du hành thần thánh từ những quầy lộng kiếng nhà lồng Bến Thành, đâm xuyên lối chợ trời Tạ Thu Thâu nực nồng xa xỉ phẩm, bước ra lối vào thương xá Tam Đa cũ chỉ còn là những ngách nhỏ sáng lòa giữa ban ngày bởi vải vóc, trang sức và “đồ Mỹ” được bán tống tháo lại từ những gia đình tư sản trước cuộc lưu vong quáng quíu, hay từ những chuyến hàng hải ngoại cứu rỗi nếp tàn dư còn cầm cự lại của thị dân đất ngọc Viễn Đông.

Sài Gòn đã bắt đầu trong tiềm thức khứu giác của tôi như vậy, như những vệt mùi đài các sa cơ, trưng trổ những nếp vàng son phồn thịnh giả cách, xoa dịu và khỏa lấp những phân hủy điêu tàn.

mùi thị dân

Xá-xị, hồng tiêu, hắc quế và nhang trầm Chợ Lớn

Sài Gòn, những năm giữa thập niên 80, người ta ồ ạt săn đuổi những dòng hương có những cái tên phù phiếm độc địa như Poison (độc dược), Mon Pèche (tội đồ) hay Tabu (điều cấm kỵ). Cùng lúc, trào lưu Oriental do Shalimar nhà Guerlain khởi xướng từ đầu thập niên 30 cũng phả làn hơi “hương xa” nồng nàn lên các dòng hương được ưa chuộng bởi sự gần gũi về tiềm thức văn hóa. Các dòng cologne thân thiện Bien Etre trở nên lỗi thời vì âm hưởng Francophile, không ít những chai lọ của thời này còn tìm thấy trong các hiệu bán đồ cổ ngoạn, bên cạnh những xấp dĩa vinyl và những mề đay mỹ kí hoen rỉ của một gia đình tư sản cũ nào đó, ghi dấu gu thẩm mỹ thời cuộc tuốt từ những năm 50 đầu 60.

Oriental, hay còn gọi là trường phái hương Đông-Phương với mùi xạ hương cùng những thứ gia vị nóng như quế, hồi đầy nhục cảm, đã làm nên cả một không khí của giáo đồ thụ hưởng Sài Gòn ngay giữa lằn ranh những tháng năm đầy biến động, nơi hoa và lệ cộng sinh san sát.

Cơn sốt đầy note hương bạo động với huệ, xạ cầy hương, nhục đậu khấu và hổ phách được bào chế vung tay này đã kéo dài đại dịch Tabu và Poison đến tận thập niên 90, và chỉ thật sự giảm nhẹ chút đỉnh trước cơn lụt xa xỉ phẩm tân kỳ thời mở cửa. Những buổi dạ vũ ball famille, những vũ trường chỉ vừa mới được mở cửa lại, những rạp cine mini ở khu trung tâm lại bật lên hơi lạnh lưu cữu của những máy điều hòa đã bất động suốt một thập niên.

Từ khu nhà lồng chợ Bến Thành, băng qua chợ trời xa xỉ Tạ Thu Thâu, kéo dài tới thương xá Tam Đa cũ, về sau là tòa nhà Intershop (đã không còn), xứng đáng được coi là thú bát bộ mới, thay thế cho passage thương xá Eden cũ dù kém hẳn phần lịch duyệt dành cho các bà các cô điệu nghệ. Những lọ nước hoa được bày bán ngay dưới ánh sáng trực tiếp của nắng, hay trong những tủ lộng kiếng chưng đèn nóng hổi – điều hoàn toàn bậy bạ trong nguyên tắc bảo quản mỹ phẩm, với những mức hét giá trên trời, nhưng thời đó còn chưa có vấn nạn hàng nhái, do phần lớn được thân nhân mua từ chính quốc, hoặc do các thủy thủ tàu viễn dương mang về.

Chính thời điểm này đã làm nên dấu mốc thú vị trong gu khứu giác của đàn bà Sài Gòn, hổ lốn và vô nguyên tắc như mọi thứ đặc sản của thị thành tạp chủng này, như bánh mì kẹp chả lụa Bắc Kỳ với pepperoni Ý Đại Lợi xịt xì dầu Chợ Lớn, chiêu trôi cùng ly café B’lao chánh hiệu.

Cũng là một đô thị phương Đông, nhưng người ta đổ xô vào những dòng nước hoa Oriental, khởi phát vào thập niên 20, và tái phát dữ dội trong văn hóa Âu Mỹ vào những năm 60, lây lan tới trào lưu hiện sinh của những năm 70. Đối với dân Sài Gòn, phong vị này vẫn toàn vẹn sự kì thú huyền bí của yếu tố “hương xa”, với hoa hồi và nhục đậu khấu, trầm hương và hồng tiêu, nhưng vẫn đủ gần gụi để nhắc nhớ từ trong tiềm thức những bánh savon trầm thượng hảo hạng được coi là món quà lịch sự dành cho nữ giới, những hiệu thuốc bắc đường Hải Thượng Lãn Ông, như một thứ mùi hương cửa ngõ mở vào lãnh địa phồn thịnh sầm uất Chợ Lớn.

Trong tất thảy những cam bergamot và hồng tiêu, húng quế ấy, cái khứu giác của đứa con nít Sài Gòn háo hức căng phồng đón nhận về hơi hướm phảng phất mùi tinh dầu lá xá-xị đã làm nên huyền thoại thương  mại cho hãng giải khát Con Cọp lúc bấy giờ, thứ mùi nhang khói mỏng mảnh đã đượm lẫn trong không khí từ bao đời, một khi mỗi căn phố đều có cửa tiệm và một bàn thờ ông Địa, mỗi nếp gia cũng leo lét khói nhang đêm, cho đến đình chùa miếu mạo xen kẽ trong khu dân cư. Tôi tin rằng Chợ Lớn sẽ khác lắm, nếu giả như một ngày người Hoa và tập tục cúng kiến không còn nữa, nếu giả như một ngày, đồng loạt những que nhang tắt ngấm. Đó mới thật sự là ngày Chợ Lớn không còn.

2046

Hương bá tánh trên bức chân dung người đẹp Viễn Đông

Nếu gia vị có xuất xứ Đông phương và những ngành quý mộc đã làm nên phong vị ẩm thực gourmand cho Sài Gòn, thì những hương hoa phù phiếm, hương vanilla, hương huệ đậm đà vị phấn sáp kem sữa chính là bức chân dung trọn vẹn nhất của vẻ đẹp đàn bà miệt Ngọc Viễn Đông. Thứ hợp hương tổng hợp gay gắt của những siêu phẩm được bào chế bởi nền kỹ nghệ tân kỳ những năm 70 này khiến những cái mũi thanh lịch đương thời sẽ phải nhăn nhúm khổ sở bởi trò tán tỉnh sấn sổ ồn ào không khoan nhượng, trong khi hương phấn sáp powdery khiến người ta lập tức liên tưởng đến những giá trị lỗi thời gắn liền với nữ hoàng phấn sáp Coco No.5 từng một thời được ưu ái ồ ạt bởi các bà các cô giới thượng lưu.

Tất thảy đều giả tạo và phồn thực, hào phóng như những bờ ngực phồng vun cao phía sau tà áo dài siết eo đúng điệu Sài Gòn. Những người đẹp “cao su” hồn nhiên và hào phóng ban phát cảm giác mềm mại cứu rỗi của nhục thể lồ lộ dưới hai vạt áo hoa. Hương vanilla đặc thù của tiệm Givral với những ổ bông lan ngập ngụa phẩm màu, dày mịn mỡ màng những lớp kem đỏm dáng phủ ngập những chiếc gateaux còi cọc thiếu sữa của thời bao cấp, như những đắp bù xoa dịu thị giác và khẩu vị con nít háu ăn. Những đầu móng tỉa tót cầu kỳ sơn bôi đỏ thắm, những gót hoa nghễu nghện chênh vênh khỏi mặt đường, và thứ mùi da thịt bị tẩm ướp đến biến dạng bởi hương mỹ phẩm, mùi thuốc uốn tóc và ít nhiều những vệt khói ám muội lẫn trong mái tóc, xống áo, tới hơi thở đàn bà, khỏa lấp cả những giọt mồ hôi nhễ nhại của tiệm nước đầu ngõ cuốc xe cuối ngày nhặt nhạnh lối mưu sinh bên vỉa hè phố thị.

Chỉ có sống ở Sài Gòn mới hiểu thứ hợp hương quái đản này, khi mà người ta đi nhảy đầm và ăn tiệm bất kể công việc lao động phổ thông cóp nhặt hàng ngày. Không hề hiếm những huyền thoại vỉa hè về những người ăn xin cuối ngày ngoắc xích lô đi ăn tiệm. Lằn ranh phân biệt được đặt ra rõ ràng giữa những địa vị và lợi tức khác nhau, nhưng quyền hưởng thụ được chia đều cho tất cả. Một nữ hoàng sàn nhảy hoàn toàn có thể kết thúc một ngày của nàng trong chiếc chòi ốp tôn chênh vênh trên mép dòng kênh nước đen, phó mặc ngày hôm sau cho một canh bạc hoàn toàn mới.

Kết hợp hương hoa với xạ hương, trộn với những mùi gia vị hương xa nồng gắt, người ta có được một hợp thể dễ gây say, gây nghiện của mồ hôi dân nhiệt đới nhễ nhại, thứ nhựa sống thật thà tiết rỉ quanh năm, hong khô dưới nắng và phát tán trong gió, hay đượm quện với những cơn mưa đồng bóng bất thần, trộn hòa chuếnh choáng trong ngăn thang máy, rạp cine, những hộp đêm kín gió đông người, nơi xống áo và người ta ma sát vào nhau, tóc trộn tóc, tay đan tay, và tất cả ướp đượm với đồ ăn và thức uống, champagne và bia hơi, đàn ông và đàn bà. Thứ hương “bá tánh” đó đã là một mùi đặc trưng của Sài Gòn, như những ám ảnh kinh hoàng kéo dài dằng dặc lên tận giường ngủ và lụi tàn giữa chăn nệm vào sáng hôm sau. Có lẽ bởi vậy, ở Sài Gòn, người ta bén mùi nhau, ghiền mùi nhau rất dễ. Mỗi cá thể ném mình vào đời sống cộng sinh nơi đây trở thành một phân tử mùi hương cực nhỏ làm nên cả một hợp chất nồng nực, khó chịu, sực nức, giả tạo nhưng gây nghiện và ám ảnh khôn cùng.

Như người đàn bà đồng bóng nhất, hào nhoáng và phù phiếm nhất đã một lần qua trong đời, Sài Gòn không bao giờ cho phép mình bị lãng quên, ngay cả khi người ta nhắm mắt.

02230939a

Mùi Hương Hoa Lệ

Như mọi cấu trúc cơ bản nhất của một dòng nước hoa, mọi kịch tính của mùi hương đều lắng dịu, thẩm thấu vào cơ thể và dâng lên những nốt cuối cùng, như một đoạn kết đẹp, tròn trĩnh, hoặc như những dấu chấm lửng vẫn mãi kéo dài tận trong tiềm thức.

Sài Gòn nông cạn, ô tạp, xô bồ và sống sượng trong cái thói rù quến bằng kẹo ngọt và những phần thưởng “ăn liền”, thói chiêu đãi hậu hĩ tới mức dại khờ và phóng đãng của ả gái hư không chuyên. Nếu ví Sài Gòn như một hợp hương mỹ phẩm, thì có lẽ những note dư hương day dứt cuối cùng ấy, chỉ có kẻ xa Sài Gòn mới thật sự được hưởng trong những mặc niệm hoài hương, hoặc những ai thương tưởng si mê Sài Gòn ngay khi sống giữa lòng đô thị, đủ để nhìn ngắm nhâm nhi những trầm mặc đằng sau phấn sáp trang kim, đủ để kiên nhẫn chờ đợi khoảnh khắc thật thà sau cuối của ả đàn bà đa chiêu.

Khi những mẫu nước hoa cũ khô dần vào da thịt, sự tài tình của nhà bào chế lại một lần nữa vén lộ những phong vị Đông Phương từ lớp hương đầu, đã được lọc qua những biến cố ồn ào nhất của thời cuộc, để lắng mình, vẹn nguyên mảnh khói nhang trầm mặc trong hơi thở về khuya của phố thị.

Một thời gian tôi mướn trọ trên căn gác xép giữa một hẻm bình dân đúng nghĩa điện câu đèn vàng. Cứ khoảng gần nửa đêm, tiếng lóc bóc của thằng nhỏ bán mì gõ lại vang lên, len lỏi vào mê trận không lối ra của những đường ngoặt bất thần chi chít. Thằng nhỏ quê tận đàng ngoài, trôi dạt vô đây phụ việc xe hủ tíu mì như một vạn kiếp di dân mỗi ngày tấp về đây. Nó sẽ chẳng bao giờ nhớ nổi đường ra giữa những lối ngoặt ngoằn ngoèo ác địa của những hẻm bàn cờ đặc trưng phố thị phương Nam này. Ông chú người Tiều sẽ cắm vài cọng nhang vô góc đường gần đó, thằng nhỏ Bắc Kỳ cứ theo mùi nhang, như cọng khói cứu sinh len lỏi hẻm đêm mà lần đường về. Thi thoảng, tiếng lốc cốc leng keng của nó vọng ra cũng đủ khiến ông chú Ba Tàu biết thằng nhỏ liệu đã rong ruổi lỡ bộ quá xa. Họ làm nên một cặp đôi kì lạ giữa cái thành phố này, bắt kết vào nhau trong cuộc sinh nhai đôi khi chỉ bằng làn khói hương mỏng mảnh mà không gian ô tạp của ban ngày sẽ nuốt chửng, quậy loãng và làm đứt bể tan tành chỉ bằng một cú đạp máy xe.

Tôi cũng từng có những đêm như thằng nhỏ Bắc Kỳ đó, ngơ ngác lêu bêu một góc hẻm lạ quơ chỉ bởi một chậu nhài, một nhánh ngọc lan, hay một bụi dành dành nhà ai lén nở đêm. Những trận du miên kì quái đó đôi khi dẫn tôi dừng lại trước một cổng ngôi gia, lập lòe ánh đèn trái nhót trên bàn thờ, nơi chân nhang đã nguội, và một bình huệ trắng đang phập phồng hơi thở vô hình rất sâu. Cũng như bao dân tứ chiếng đất này, tôi từng hôn Sài Gòn thật sâu để hít thở căng lồng ngực ủ ê làn hương bắp rang bơ quá lửa từ lớp váng ly café tréo ngoe trên ghế bố vỉa hè lúc quá nửa đêm chờ sáng, mà thấy thơm phưng phức những bình minh đục ngầu ảo ảnh, văng vẳng tiếng chuông lễ sớm.

Hoắc hương và đàn hương, hổ phách, hồng tiêu và vạn triệu những thành phần xa xỉ trong một dòng hương Đông Phương cũ kỹ cũng có thể gợi nhớ mùi triều dâng ngoài bến Bạch Đằng. Tôi cùng tụi bạn sống tuốt bên Thủ Thiêm, 3 giờ sáng í ới ngoắc con đò gắn máy phành phạc rẽ làn nước đục ngầu về bên kia mảnh lập thể còn lại của Sài Gòn, khi những lương dân tử tế mệt nhoài đã ngủ rất sâu, và những đôi chân có móng sơn kim tuyến vừa kịp rón rén nhịp gõ gót cao qua những hành lang cư xá. Những phấn sáp được tẩy trôi hay vội vàng xóa bôi nhoe nhoét bởi môi hôn vồ vập, những món trang sức mỹ kí cuối cùng được gỡ bỏ, những vệt nước hoa đã lồ lộ mùi hormone thật thà mệt mỏi. Người ta nghỉ ngơi, trong những căn hộ tân kỳ, thành lớp trong những căn phòng giành cho dân lao động nhập cư, buông tuồng thân ái trong những dãy nhà trọ tồi tàn lòe loẹt, nơi mà khoảng cách bán-mua cuối cùng cũng đã bay hơi.

Nếu Sài Gòn là một loại nước hoa, ở tầng hương cuối, điều khiến người ta luyến lưu dày vò dai dẳng nhất, đó là bởi thứ mùi hương mệt nhoài, giữa những ẩn ức và trưng phô thường nhật: người ta ngửi thấy Chính Mình, trước khi thiêm thiếp bằng an sau thêm một canh ngả nghiêng nữa của Lệ và của Hoa.

017-L

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí Người Đô Thị tháng 06/2015)

bên dưới sớ vải Windowpane

suits4

Nhớ thời áo may guốc thửa…

Tôi vẫn còn nhớ khoái lạc thiêng liêng nho nhỏ rất Sài gòn của tụi học trò, như việc cắc củm xin tiền bỏ heo để trịnh trọng thỉnh về cây bút máy Hero và chơi sang mang cái vật thể vi diệu đó ra cho ông thợ trước cổng trường để khắc lên đó tên mình và một cái hình gì đó nhỏ xíu, thật sến để tâm đắc tận hưởng cảm giác sở hữu hoàn toàn khi tên họ đã được đường hoàng khắc lên thân cây viết máy, tô bằng một lớp nạm nhũ kim óng ánh.
Đó là cái khắc khoải của cảm nhận sự vô tận đến sốt ruột của thời gian khi khấp khởi cầm xấp vải ra tiệm may đặt thửa bộ đồ Tết hay tấm áo dài đi học. Đó là cái hoang mang của những lần chạy ra tiệm để ướm những mảnh vải lên người, cố lờ mờ hình dung ra tấm áo hoàn thiện sẽ ra sao và cái khấp khởi huy hoàng của ngày hẹn cuối cùng khi chiếc áo ấy, nghiêm chuẩn đến từng li, được ốp vừa khít trên đường lượn sống lưng con gái, đôi vai raglan nuột tròn không tì vết.
Tất cả mọi thức khi ấy đều được đặt, thửa ngoài tiệm và phải trải qua những đợi chờ hành hạ như vậy cho đến ngưỡng cuối cùng của khoái cảm sở hữu. Chúng tôi đã chọn những cặp guốc vẽ bông ngoài chợ, chọn riêng cặp quai rồi khấp khởi ngồi ướm chân chờ đo, chờ đóng từng chiếc đinh đồng ngập vào thân gỗ, cho đến khi chiếc gót cao su được gọt mài tinh xảo êm chân, nâng niu tới độ phải e dè bước chân sáo trẻ nít được quà. Chúng tôi, những đứa nhỏ lớn lên từ đống bầy nhí nhố hồi hộp bu quanh chiếc xe ông bán tò he, đứa có tiền mặc lòng vòi vĩnh mọi thức tham lam trong trí tưởng tượng trẻ con, từ con heo hồng cài bông xanh, con gà trống có 7 màu sặc sỡ hay ông Tề Thiên tay cầm thiết bảng thiệt oai. Tất thảy đều có thể được đáp ứng chỉ sau vài phút, dưới ngón tay nhoay nhoáy ngắt bột, nặn hình của người đàn ông mà khi ấy, với chúng tôi như một vị anh hùng.
Những chiếc giỏ xách lục bình, những chiếc nón vải mềm, hay thậm chí cả cặp bông hay chiếc lắc vàng “làm của” đầu đời của con gái mới lớn cũng được thửa đặt ngoài tiệm kim hoàn. Tôi xin cho mình một chiếc lắc, và ông thợ bạc hạ cặp mục kỉnh nghe tôi kể lể về những món tòn teng diêm dúa tôi muốn đính treo vào đó. Đúng ngày hẹn, tôi đến cửa tiệm, ông thợ bạc long trọng lau sạch đôi bàn tay chai sần rồi kéo ngăn tủ gỗ, nhón ra cho tôi một tia nắng vàng quý báu, lóng lánh những chiếc chuông, trái tim, những con mèo con vịt bằng vàng nhỏ xíu tòn teng được đính trên cọng xích đã được đo vừa cườm tay con gái, cùng chiếc thẻ bài khắc hoa mỹ tên tôi.
Và khi mùa Giáng sinh sắp tới, trước những chuyến nghỉ mát lên Đà lạt là những chiếc áo len được đặt đan từ vài tháng trước, tăng bội vạn các thi vị khấp khởi đợi chờ.

Bên dưới sớ vải Windowpane
Trong khi má con tôi sắm sửa quanh năm như vậy thì ba tôi mỗi năm cùng lắm ông chỉ có một hai bận ra tiệm may đồ mới. Những cửa tiệm của những ông thợ già đeo suspenders ngang vai, tay chemise nhàu nhĩ xắn cao quá khuỷu và sợi thước dây màu xác pháo vướt choàng qua cổ. Tôi đứng bần thần trước chiếc kệ lộng kiếng đã ố bụi, xếp san sát nghiêm mặc những súc vải dài từ đen, chàm, beige, và cả màu trắng creme, xanh bleu cho phụ nữ. Tôi hiếu kì chú mục vô bộ khuy manchette và kẹp cravatte mạ vàng đã ố, vài ba chiếc nơ đen bằng satin hồ cứng đã sờn toe hai mép như những hiện vật về thế giới bí mật của đồ tế nhuyễn đàn ông.
Ông bác chủ tiệm ngoắt tay gọi mua cho tôi cái bánh cam làm quà trước sự cự tuyệt của ba, rồi mới yên tâm quay qua đo đo đạc đạc. Tôi leo lên chiếc ghế phó may, đặt chiếc bánh gói trong giấy dầu lên đùi, ngắm nghía cái nghi thức long trọng ấy, hồi hộp tưởng tượng ba trong bộ lễ phục bảnh bao, như kép cine, với bông cẩm chướng đỏ cài trên ve áo.
Tôi đã đếm ngược từng ngày để được cùng ba đi “thỉnh” bộ đồ vía. Ông bác chủ tiệm dường như vẫn chưa hề thay chiếc chemise nhàu nhĩ với cặp suspenders vắt hai vai, hãnh diện hai tay rước bộ comple nặng trịch ra khỏi tủ đứng, nhanh tay gạt mớ nhật trình khỏi bàn cắt rồi long trọng trải tác phẩm màu chàm sẫm trước mắt tôi.
Như một nhà ảo thuật ranh mãnh, ông luồn tay vô ve áo rồi lật ra cho tôi ngắm lớp lót bằng thứ lụa mà theo ông là thượng hảo hạng chằn lót bên dưới lớp vải tweed loại Windowpane mà sau này tôi biết ra đời từ cuối thế kỷ 19 và đã từng tái thịnh vào thập niên 70, trước khi tôi sinh ra.
Tôi thất vọng: nó không hề bóng bẩy như bộ áo đuôi tôm của kép Gable hay mấy vị nhạc trưởng. Ông chủ tiệm cười xuề xòa bảo rằng hàng cổ sam bọc satin đó chỉ hợp với nghệ sĩ hay đại lễ, chớ thương nhân, trí thức bận bóng bẩy coi kì. Ba tôi gật gù tấm tắc khen lớp lụa lót trong thiệt khéo, không lệch nhăn luộm thuộm, không bắt điện với lớp áo chemise kêu rẹt rẹt như mấy hàng vải tổng hợp rẻ tiền.
Đó là lần đầu tiên tôi học bài học của mình về kỹ nghệ dệt may, khi ngỡ ngàng nhận ra cái căn nguyên cốt cách của một món may đo hàng thượng phẩm, ấy chính là cái chiều chuộng khéo léo tỉ mỉ với chính cái thân thể con người bên trong lớp áo, chứ không phải chỉ phụng sự ánh mắt người ngoài ở mặt vải trên cùng, và rằng cái đẹp của một bộ comple đo thửa đó chính là cái bộ khung cốt bởi những coup cắt được tính toán như thể một công trình kiến trúc, làm nên phong thái tôn nghiêm cao quý cho người mặc, phong lưu nhưng khiêm nhường nhã nhặn.
Ở đó, trong căn tiệm của thứ hào hoa ố vàng xộc xệch ấy, tôi tưởng tượng ra những ông hoàng…
Tôi lớn lên như vậy, từ những bữa cơm nhà, những bộ cánh áo đo guốc đóng, những cửa tiệm tàn dư bespoke và giữa những ông hoàng.

savile row

Bản ngã Bespoke và sự khiêm nhượng của tao nhân
Nói tới Bespoke, người ta nghĩ ngay đến con lộ của nếp phong nhã Savile Row, nơi những quí ông Âu châu, những chính khách, thương gia, học giả tìm đến để tôn thờ nghiêm cẩn cái nguyên tắc cốt lõi đặc thù của những bộ Âu phục chuẩn mực, với ni tấc được đo đạc riêng cho từng thân chủ, của những cuộc hẹn tới lui ướm thử những mảnh pattern được ghim đính cho đến khi vừa khít cơ thể, đính lược bởi những chiếc đanh ghim phó thợ, và điển lễ long trọng của ngày hẹn cuối cùng, bộ vía thành phẩm đã được hoàn tất trọn vẹn, chi li tới từng mũi khâu, những panel ngực, lưng, vai ốp mĩ miều hoàn hảo trên cơ thể như một bộ da thứ hai hào nhoáng, thứ mà không một cá thể thứ hai nào trên toàn địa cầu có thể xỏ tay ướm mình hoàn toàn vừa vặn như thế. Trên cả một bộ vía hoàn hảo, đó là dấu ấn cá nhân của cả phong cách, gout thẩm mỹ cá nhân của thân chủ, và dấu ấn tài hoa như chữ ký nét thủ tự của tay thợ đã nắn nót từ đường khâu tay cẩn trọng, nét thửa vải tuyệt tài.
Chính từ cung lộ ấy, phong cách hình thức nam nhân Tây phương được định hình nghiêm ngặt, những yếu nhân hàng đầu cho đến vị giáo sư, những thầy ký thượng lưu được phủ đắp lên một lớp giáp trụ không chỉ che khuất những yếu nhược trong thần thái phong mạo, mà còn thị uy tư chất tôn nghiêm của trang quân tử chuẩn mực Âu châu, những bờ vai rộng, dáng ngực vươn kiêu hãnh và những khống chế tế nhị khiến kẻ khoác bộ vía không thể mặc lòng khoa tay múa chân hay buông thõng tư thế trong giao thiệp.
Cũng từ những ngôi tiệm trên lối lộ lừng danh của những tay kéo già cự phách, những thế hệ làm nên huyền thoại đã gia nhập nền công nghệ thời trang đa sắc toàn cầu với một tinh thần haute couture tôn thờ cá nhân tính, những tuyệt phẩm độc bản cầu kì và lòng hãnh tiến cốt cách quân chủ.
Những đợt đại khủng hoảng toàn cầu khiến những đế chế couture liên tiếp rùng rùng sụp đổ, vụ phế truất ô nhục của Galliano, Lacroix bị bức tử, Saint Laurent đã ra người thiên cổ nơi vườn Majorelle, Versace mất Gianni, đành cam hạ cố đặt mình vào thị trường bình dân xa cạ bằng những phiên bản công nghiệp mang tag giá sặc sụa tinh thần dân chủ… Phe quân chủ của thế giới thời trang đã ngậm ngùi đón nhận cuộc thoái trào bi thảm của những giá trị được tôn thờ và những đại lễ haute couture trở thành những bữa tiệc carnival buồn bã của bữa chợ chiều, khi mà thuộc tính thương mại đã khuất phục nét hoa mỹ của những tuyệt tác may mặc và biến chúng thành những mẹt hàng cháy chợ khi được hạ cố sản xuất rập khuôn dưới hình hài thân thiện hơn, cho một địa cầu của những bộ da được tạo hình hàng loạt.

Đây có phải là bờ vực sau cuối của tôn giáo cá nhân?

Người ta không còn bị thống trị bởi những trường phái coup của những tay kéo thuần chủng Ý Đại Lợi hay Ăng lê nữa, đại dịch globalization xóa nhòa lằn ranh trường phái của những nét dị biệt của những dấu vân tay tài hoa và đặc chủng. Người ta mua những bộ suits được may hàng loạt, những mũi kim dây chuyền số hóa không tì vết, không cả dấu vân tay, và nhân loại được chia thành các nhóm size đánh số hoặc từ S đến XXL,…
Những thương hiệu lên ngôi, người ta đồng loạt khoác lên mình những mẫu tự và tên gọi hàng loạt, những phong cách được định đoạt bởi tính nhất thời của trào lưu và đó là sự kết liễu của những trường phái đã thành bất hủ, và những cặp manchette trắng chỉ còn là nét tàn dư giành cho những buổi hòa nhạc, và để thỏa mãn nhu cầu cá nhân hóa ở mức tối thiểu của thị trường, người ta có những lon nước ngọt in tên riêng và quyền tùy chọn trang trí màn hình điện thoại thông minh.
Và, như một kẻ lạc thời còn lại, giữa lòng Sài gòn, giữa những cuộc đổ bộ mời chào những trào lưu hình thức của màn hình điện thoại được cá nhân hóa, những bao ốp lưng tablet và những nhóm người được phân loại theo size ngoại hình, tôi chợt nhận ra sự giàu có vô biên của những kẻ vẫn có thể chọn thửa một vuông vải ngoài chợ mang ra tiệm, đủ cầu kì đến từng phân li thước thợ và thừa xông xênh dư dả để khấp khởi đợi chờ một lớp vỏ ngoài vừa vặn cho riêng mình, chọn cho mình một cốt lõi yêu chiều ve vuốt trên từng lớp da thân thể hơn cả việc khoa trương cho sự trọng vọng ngoại thân qua sắc hoa nhãn hiệu bên ngoài, chọn tôn thờ châu thân Bản Ngã bằng thứ hàng tơ lụa xa xỉ nhất, những form coup cho một Tư Phong tự tôn kiêu hãnh, và chọn lớp vỏ bọc ngoài cùng bằng những sớ vải thô của thứ hàng tweed kinh điển, phong lưu, nhưng nhã nhặn khiêm nhường.
Bản ngã cuối cùng của bespoke đã nằm lại đó, bên dưới lớp vải lót trong cùng, tự do khỏi ánh nhìn và mọi lời đánh giá, để phụng sự suy tôn điều duy nhất giữ người ta đứng thẳng thớm bên ngoài guồng quay trào lưu đồng hóa, nơi mỗi cá thể được tôn trọng và phụng sự như những ông hoàng đích thực.

suits

huyền sử tài nữ Paris

Trác Thúy Miêu

reutlinger-studio-postcard-depicting-the-dancer-cleo-de-merode-1875-1966

Nàng là gái Paris chánh hiệu, dù có một số tư liệu cho rằng nàng tên thật là Hortense Gervais sinh trưởng tại vùng Bordeaux hay Biarritz. Sinh ra dưới cung Thiên Bình, Cleopatra Diane de Merode còn là ‘con gái Vệ-nữ thần’ dựa trên tín ngưỡng chiêm tinh phương Tây, khiến nàng được bảo đảm đủ mọi ưu chất tài hoa, phong tư kiều mị, nhưng trên hết là tư duy sùng bái Cái Đẹp cùng lòng kiêu hãnh của một trang anh thư dòng dõi trâm anh thứ thiệt, con gái họa sĩ phong cảnh và một cựu diễn viên người Áo. Cha cô, Karl von Merode tự nhận mình là nam tước Freiherr von Merode đến từ một dòng dõi cổ kính tại Bỉ.

Và đây chỉ mới là lần đầu tiên số mệnh lắm khuất tất của nàng liên quan đến vương quốc này.

images (5)

Scandal đầu tiên: Màn thoát y bất đắc dĩ 

Bé Lulu, theo cách gọi âu yếm của song thân dành cho nàng, sớm hé lộ thiên hướng nghệ thuật, được gửi đến học viện Paris Opera Ballet từ lúc 7 tuổi. Và khi mới 11 tuổi, cô bé có mớ tóc mây xoăn tít đã có buổi ra mắt đầu đời trên sàn diễn danh giá của kinh đô hoa lệ.

Tất cả đã hứa hẹn một nghiệp lộ lẫy lừng cho một tượng đài nghệ thuật chuyên chính – nếu như nhan sắc ma mị của nàng đã không mê hoặc cả châu Âu, làm mụ mị mọi họa sĩ, nhiếp ảnh gia, lẫn giới truyền thông lúc bấy giờ, vượt xa tài hoa của đôi chân vũ nữ.

Người ta định danh nàng chính là hình mẫu đầu tiên của khái niệm celebrity trên thế giới – nơi mà phong mạo trội bật, thị hiếu thẩm mỹ cầu kỳ và những cuộc tình lâm ly có thể mang thứ hào quang lấn át cả tinh hoa tài khí.

13 tuổi, tiểu thần nữ Cleo đã là nàng thơ phía sau những họa phẩm bậc thầy của Jean-louis Forain và Edgar Degas. Ba năm sau, nàng đã vang danh khắp kinh đô Paris với mái tóc sơn nữ rối bồng bềnh, chẻ chuẩn chu giữa vầng trán Đồng Trinh, viền bằng những vành xuyến đính đá óng ánh, xổ tràn xuống tận vòng eo không tưởng, dệt thành một chiếc khăn shawl đầy đặn lăn tăn sóng tóc. Người ta ghi dấu dung nhan nàng trên mọi tấm bưu thiếp, cỗ bài và các bích chương quảng cáo. Mái tóc sơn nữ và đôi mắt yêu tinh trong như ngọc của Cleo trở thành một mẫu mực về nhan sắc đàn bà đầu thế kỷ 20, dẫn lối cho những nếp tóc xoăn, mắt mơ viền chì và những đôi môi bé xíu như đinh ghim của Kỷ Ngây Thơ 20’s, với các dải băng trang kim trên tóc, điệu vũ chanson phóng đãng và những chuỗi cườm tung tẩy trên váy flapper.

14cd606ffe2997d6bb58b37f0a020bb6

Nàng được cưng chiều, săn đón, ái mộ khắp nơi, và nghiễm nhiên trở thành giai nhân được chụp và họa hình nhiều nhất trên toàn nước Pháp, mà người ta còn cho là trên cả châu Âu.  Cleo trở thành nàng thơ hiển hiện qua rất nhiều tuyệt phẩm của các danh họa bậc thầy cùng thời cho đến nay vẫn được lưu truyền, làm nên một định hình bất hủ của “thẩm mỹ tiền showbiz” đầu thế kỷ trước.

1d3a0b449b4bcad1e4f7021e22f261d6Alfredo Muller, 1869-1939, cleo de m etching c.903Boldini cleobab59a8a7d7bc63c49eca18d3d2fcdb4

Portrait of Cléo de Mérode Georges Jules Victor Clairin (Fr843-919)

Danh họa người Áo Gustav Klimt cũng từng là một nạn nhân chung của cơn sốt Cleo. Nàng xuất hiện rất nhiều trong các tuyệt phẩm ma mị của ông, và về sau, bộ phim mang tên Klimt năm 2006 còn hiển hiện ít nhiều câu chuyện của danh họa và nàng vũ nữ Pháp qua nhân vật “Lea de Castro”.

Năm 1895, Toulouse-Lautrec vẽ chân dung Cleo. Năm tiếp theo, đến lượt nhà điêu khắc Alexandre Falguière rơi vào cơn sốt Cleo, làm nên cả một cuộc náo loạn nhỏ tại Paris Salon khi ông vén tấm trướng che trên tác phẩm mới của mình, phô bày bức tượng Cleo khỏa thân đầy mê đắm. Bản thân nàng thơ yêu kiều cũng bị chấn động trước phiên bản trần truồng mỹ diệu của mình. Trong bức thơ gửi chủ biên tờ Le Gaulois, nàng tha thiết phủ nhận mọi tin đồn rằng Falguiere đã sáng tác dựa trên mẫu thật: “Rất mong ông vui lòng đính chánh lại cùng độc giả của quý báo rằng tôi không hề là người mẫu nguyên bản cho bức tượng của ông M.Falguiere, sự khác biệt có thể được minh chứng nếu lưu ý quan sát đầu của bức tượng”.

họa phẩm Cleo in the Salon của Carlos Vasquez y Obeda minh thuật lại scandal đầu tiên của nàng với bức tượng khỏa thân

Nhưng hẳn nhiên, không ai quan tâm đến cái đầu của bức tượng Cleo khỏa thân cả!

Sau biến cố đình đám này, nàng rút lui khỏi vùng hào quang danh vọng lẫn ánh đèn sân khấu, với lời giải thích là do nỗi lúng túng khổ sở khi chịu đựng những ánh nhìn lia khắp châu thân nàng và liên tưởng đến “bức tượng trần trụi kì khôi nọ”.

Bức tượng định mệnh The Dancer của Alexander Falguiere hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Musée d’Orsay.

garv_07b

Người đẹp bịt tai và lịch sử mốt tóc chignon

Sau vụ “bảo vệ môi trường” bất đắc dĩ, thị dân Paris háu tin vẫn có cách xoay sở để sản sinh thêm những tin đồn khi nàng vắng mặt, và ‘tác phẩm’ tin đồn mới nhất của họ khi này là nhưng lời xì xầm độc mồm rằng người đẹp de Merode trên thực tế không có… tai! Sự thể bắt đầu từ mốt tóc chignon của Cleo, với mái tóc dày che phủ hai bên khuôn mặt búi lại phía sau.

images (1)

Quả là một mánh khóe thần sầu, vì ngay sau đó nàng Cleo tội nghiệp buộc lòng phải tái xuất trở lại hòng minh chứng sự tồn tại đầy đủ của các cơ quan nghe nhìn trên cơ thể mình. Cuống quýt đối đầu với tin đồn quái gở, nàng xuất hiện ở khắp mọi nơi, tại nhà hát, đi dạo miệt mài trên các phố lớn trung tâm, ngược xuống Bois, tóc xõa được vén cao, lộ rõ một đôi tai đăng đối bình thường như hàng vạn đôi tai thị dân háu chuyện khác. Và từ đó, mọi quý bà quý cô Paris hoa lệ đều nhất loạt bới đầu theo kiểu tóc chignon. Mốt này về sau kéo dài đến cực thịnh vào những năm 1920.

images (8)

Tình lang phiền toái và kỳ tích ballet bị lãng quên

Tuyệt nhiên, những biến cố ngoạn mục này không hề làm phương hại đến danh tiếng Cleo, mà trái lại, như hệ quả tất yếu của mọi cơn sóng của sắc màu dư luận, Cleo càng sở hữu một hấp lực khó cưỡng đối với sự hiếu kỳ của công chúng. Nói ngắn gọn lại là nàng nổi như cồn.

Vào cuối năm 1895, một sự kiện lẫy lừng đã xảy ra, kết thúc đầy cao trào cho một năm đầy ngoạn mục và ám ảnh phần số Cleo mãi về sau. Vua nước Bỉ, hoàng đế Leopold Đệ Nhị, vốn là một tay hào hoa khét tiếng, tuyên bố mượn dịp công du thương lượng về quyền lợi thuộc địa để đến kinh đô hoa lệ và thân chinh khám phá sự thật về tiếng tăm tài sắc giai nhân trứ danh Cleo de Merode trong một buổi diễn của nàng. Nhiều tư liệu lẫn tin đồn thị dân thời bấy giờ cho rằng vũ đoàn nhà hát nhạc vũ kịch Paris chính là đại bản doanh thanh lâu hạng sang trên đỉnh thượng lưu của một Paris phóng đãng. Giới săn tin mau mắn đúc kết một mối tương quan giữa thói hào hoa của vị quân vương ngoại quốc và nhan sắc của nàng vũ công đang gây sốt toàn thành.

images (9)

Khắp kinh thành Paris, trong mọi phòng trà lẫn phòng the, người ta hau háu truyền tụng những tình tiết lâm li lẫn dung tục về mối dan díu giữa nàng kỹ nữ vang danh 22 tuổi và vị khách làng chơi vương giả hơn nàng ngót nghét 40 niên. Người ta nói rằng Cleo chính thức trở thành gái bao hạng sang, món đồ chơi ưa thích mới của vị quân vương phong tình, người ta trầm trồ truyền tụng về những món quà sang trọng nàng được dâng tặng, về toa riêng đặc biệt được thiết kế riêng cho Cleo và lắp thêm vào đoàn hỏa xa hoàng gia Bỉ để nàng tháp tùng nhà vua trên đường kinh lý. Họ, rất rất lâu trước khi Brat Pitt và Jolie trở thành Bragelina, được gọi chung bằng một cái tên sặc mùi showbiz: Cleopold!

Kin Leopold and Cleo De Merode taken from the Taschen book Art Nouveau

Trên thực tế, cho đến tận thời điểm này, Cleo vẫn chịu sự giám sát khắc nghiệt của thân mẫu. Bà cựu minh tinh cùng con gái kiên quyết phủ lập mọi tin đồn liên quan đến vị vua hoang đàng, khẳng định rằng thứ duy nhất nàng từng nhận của vị khán giả trứ danh này là những bó hoa hồng chúc mừng vào sau các buổi diễn. Các tòa báo vẫn nhiệt tình loan tiếp thông tin tỉ mỉ đến từng chi tiết về chuỗi ngọc trai trắng muốt được vị quân vương gửi tặng Cleo, và về căn hộ huy hoàng ngài dùng để cất giữ nhân tình. Trong khi đó, Cleo vẫn ngày ngày lên xuống 5 tầng lầu để đi về căn hộ nơi cô vẫn sống cùng mẹ như một con chiên Công giáo ngoan đạo. Tuy vậy, những lời quy buộc vẫn hấp dẫn đám đông hơn. Trò tiêu khiển lỗ nhĩ của đám thị dân háu chuyện đã đến hồi tai quái, Cleo đào tẩu khỏi Paris để đến St.Petersburg, nơi nàng rơi tiếp vào những tin đồn truyền khẩu về lòng ái mộ bất thường của các bậc vương tôn dưới thời Sa Đế. Những lời xì xầm truyền tụng, những tình tiết li kỳ và phóng túng đã trở nên ồn ào lấn lướt cả kỳ tích của lịch sử nghệ thuật múa ballet: nàng đã trở thành nữ vũ công ballet đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật múa diễn cùng bạn diễn nam là Rupert Doone tại nước Nga.

Cleo de Merode-10

Cleo lại trở về Paris để chứng kiến tiếng tăm của nàng đã lẫy lừng hơn gấp bội, tỉ lệ thuận với mức thù lao cho mỗi lần xuất hiện trên sân khấu. Khôn ngoan và chai sạn hơn rất nhiều sau những biến cố vừa trải, Cleo quyết xem đó là một cơ hội vàng. Nàng nhận một khoản thù lao khổng lồ để xuất hiện tại nhà hát hí kịch Folies Bergere – điều mà chưa vũ công ballet nào từng làm trước đây. Cleo ngạo nghễ xuất hiện và yêu kiều bước qua mọi đàm tiếu bằng đôi chân vũ nữ, điều này mang lại cho nàng một lượng khán giả ái mộ khổng lồ chưa từng có. Vài tháng sau, tờ The Éclair phát động cuộc bầu chọn ra người đàn bà đẹp nhất Paris. 130 tấm ảnh được trưng bày trong một gian phòng của bản doanh tờ báo cho mọi thị dân đến thưởng lãm và bình bầu. Cleo đoạt danh hiệu tuyệt sắc giai nhân với số phiếu bầu gần một nửa trên 7000 phiếu bầu.

cleo11_2

Cho đến tận bây giờ, mối dan díu với hoàng đế Leopold vẫn là scandal được nhiều người truyền tụng nhất, làm nên vầng hào quang về tiếng tăm bậc nhan sắc đã ra người thiên cổ. Thám tử đặc vụ Xavier Paoli đã gặp gỡ với Cleo sau khi tin về mối tình vụng trộm đã kịp lan truyền khắp nơi. Ông ghi chép lại trong hồi ký mình, chứng thực lời tạ lỗi của đích thân nhà vua Bỉ: “Cho phép tôi thể hiện lòng thành tâm ân hận, bởi những quy buộc nhân gian dành cho tôi đã làm thương tổn danh phẩm quý cô. Than ôi, chúng ta đã không còn được sống trong thời cuộc nơi mà lòng ái mộ của một vị quân vương không hề là một tai họa! Cuối cùng, tôi chỉ là một ông vua quèn” (nguyên văn: I am only a little king)

Kỹ nghệ lancée của thần nữ Nam Vang trên giọng đờn Gia Định

2 năm sau biến cố bức tượng khỏa thân và tin đồn… không tai, cùng mẹ và người quản lí tiệm hí kịch Folies Bergere, khi này cũng là người đại diện của nàng, cùng 9 rương tư trang và một chú chó cưng, Cleo đến Tân Thế Giới lưu diễn trong suốt một tháng tại Nữu Ước.

Mặc dù trước đó, cả một chiến dịch lót đường cho người đẹp Pháp đã được tiến hành, với những bưu thiếp mang hình ảnh của nàng được bày bán khắp mọi quầy báo, nhưng chuyến lưu diễn đã không thành công như kì vọng. Giới truyền thông ghẻ lạnh trong những bài bình luận hờ hững đầy mai mỉa, ca tụng nhan sắc người đẹp Paris nhưng miệt thị vũ đạo cũng như diễn xuất của nàng. Vào ngày Cleo ngán ngẩm rời Hoa Kỳ, tờ Boston Globe bồi thêm một cú tiễn biệt bằng việc gọi nàng với hỗn danh “The Frost” theo lối chơi chữ quái ác, vừa có nghĩa là “đóng băng”, vừa mang nghĩa lóng lối Mỹ là “thất trận”. Mặc nhiên, Cleo tái xuất Paris, rủng rỉnh 9,000 Mỹ kim thù lao từ chuyến lưu diễn, tức là gấp 40 lần thu nhập hàng tháng của chính nàng tại Paris.

Năm 1899, thân mẫu Cleo qua đời, cũng là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành hoàn toàn cho bản lãnh Cleo. Nàng trở thành một nữ thương gia thực thụ biết khai thác hình ảnh và tiếng tăm bản thân ở mức tuyệt nghệ. Nàng tỏ ra nhã nhặn và lịch lãm trong mọi cuộc phỏng vấn, và khéo léo điều khiển báo giới lẫn dư luận và tình cảm công chúng theo hướng có lợi nhất. Các phóng viên được vời tới có mặt tại các cuộc họp giữa nàng và ban giám đốc nhà hát, cho phép họ tiến sâu vào quan sát hậu đài kì thú của công nghệ giải trí Paris,  nơi nàng thi triển mọi tinh hoa tài khí ở cả tư cách diễn viên lẫn trong mưu lược cổ xúy danh tiếng cá nhân. Những lúc nhàn rỗi, Cleo chơi dương cầm (nàng được biết là một cầm thủ hàng cự phách dù không bao giờ chơi đàn trước công chúng) hoặc đạp xe rong ruổi những ngõ đường vắng vẻ ở ngoại ô Paris.

be0d5f7d3ea49aca71cae05a3025f96a

Trong những năm tiếp theo, Cleo thật sự trở nên một danh tiếng minh tinh ca vũ tầm quốc tế, nàng lưu diễn xuyên lục địa và nhiều lần danh giá tái xuất Hoa Kỳ. Vua Xiêm Chulalenghorn khi đến Paris đã được nàng ưu ái dàn dựng riêng một chương trình nghênh đón, bản thân Cleo xuất hiện trong bộ phục trang diễm lệ theo lối hương xa, mình dát vàng, kim miện có chóp nhọn như các thần nữ trong tín ngưỡng Đông phương. Nàng uyển chuyển múa theo lối truyền thống của vương quốc Xiêm nhưng được thêm thắt cải tân bằng phong cách Parisian chánh hiệu.

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Buổi diễn được hoan nghênh rầm rộ, công chúng Âu châu nức lòng trước vẻ đẹp hương xa khi được thể hiện trên trang tuyệt sắc Paris, sự pha trộn kì diệu giữa đôi mắt như cặp ngọc lưu ly đặc thù của người phương Tây, mớ tóc digan dầy dặn xõa dài trong phục trang Đông phương lạ mắt. Từ đó, Cleo liên tiếp ra mắt công chúng trong những màn múa mang âm hưởng Á đông, trong các bộ trang phục từ Cao miên đến Chà và và luôn được nức lòng ái mộ như một sứ thần thân thiện sau cách sách lược chánh trị hảo hữu của chánh quyền Phú Lang Sa.

60cf680627cf61368e153e7a4c60f3c0

Năm 1900, người ta cho vời ban đờn An nam đến Paris phô diễn nét văn hóa của quốc gia thuộc địa. Để thu hút công chúng và sự quan tâm của truyền thông, nữ hoàng nhảy múa de Merode được mời xuất hiện biểu diễn trên nền nhạc tài tử An Nam. Nàng xuất hiện trong những món trang sức theo lối cung đình Nam Vang và diễn tấu một vũ kịch truyền thuyết được cho là của người Chà Và, khi này được người chánh quốc lờ mờ coi là một nền văn minh Đông Dương nhất thống. Màn diễn tấu được đặt tên là Vũ Khúc Đông Dương dù sai trệch với tinh thần văn hóa An Nam nhưng lại tình cờ phối hợp mượt mà hơi hướm Cao Miên trên giọng đờn của ban tài tử Gia Định, và sự xuất hiện của Cleo đã khiến buổi diễn nổi tiếng đến mức nhà nước Phú Lang Sa chọn in hình trên con tem lưu hành khi ấy. Đây cũng là cơ duyên cho các nhà nghiên cứu về sau tìm lại bản ký âm thất truyền của bài đờn huyền thoại.

play-it-again

1 franc cho thanh danh thần nữ chốn hoàng tuyền

Tháng Sáu 1902, trên đỉnh vinh quang của các tiết mục múa mang màu sắc phương Đông, Cleo đến Anh quốc lần đầu, với trình mục gồm toàn bộ các bài diễn đa chủng đình đám của mình trong đợt lưu diễn kéo dài 2 tuần liền tại nhà hát Alhambra Luân-đôn gồm các điệu vũ âm hưởng Boheme, Hi lạp, Y pha nho và Cao miên. Năm 1904, khi lưu diễn tại Thụy điển, Nam tư, Đan mạch, và đặc biệt ghi điểm lẫy lừng tại Stockholm với những đám đông ái mộ nô nức tụ tập trước rạp diễn phong tỏa mọi con đường chỉ để nhìn tận mặt giai nhân. Hồi hương sau chuyến lưu diễn ngây ngất, Cleo tung cho chủ biên tờ Figaro tất thảy 3000 bức thơ tình thu thập được từ chuyến đi. Rất nhiều trong số đó được chọn đăng tải dài kì trên nhật báo.

images (13)

Nhưng về sau, Cleo giảm dần mật độ lịch trình diễn. Mặc cho lợi nhuận và lòng ái mộ vẫn ngày lên cao, Cleo dần tỏ ra đặc biệt thích thú với điêu khắc – chính bộ môn nghệ thuật đã oái oăm ghi dấu ba đào vào số phận và sự nghiệp của nàng năm 1895. Nàng thư thái và tĩnh tại khi say sưa với những bức tượng nhỏ hình các vũ công, đàn chiên, con giống ngộ nghĩnh… Những món thủ công này đều được rao bán với giá khá đắt và mang lại cho Cleo một khoản thu nhập đáng kể.

Cleo vẫn thi thoảng tái xuất sàn diễn cho đến tận sau tuổi 50. Bà chuyển về sống trong một biệt thự ven biển vùng Biarritz mà nhiều tư liệu cho là cố hương của bà. Nơi đây, bà dạy múa cho trẻ em để khuây khỏa nỗi nhớ nghề cho đến tận tuổi 80.

Cleo 4

Ngay cả sau khi lui về ẩn dật, nghiệp mệnh nữ chúa tin đồn vẫn không buông bỏ Cleo. Năm 1950, nữ văn sĩ Simone de Beauvois, phu nhân nhà biên kịch và phê bình Jean-Paul Sartre tung ra cuốn Le Deuxieme Sexe viết về gái bao hạng sang, trong đó, bà Beauvois có nhắc lại những sủng ái đặc biệt của vua Leopold giành cho ‘ả điếm hoàng gia’ Cleo de Merode. Cuốn sách cũng nhắc lại giả thuyết xuất thân thôn dã của Cleo và gợi ý rằng rất có thể Cleo đã tự nhận theo dòng dõi thế phiệt de Merode để cổ xúy danh giá bản thân. Tức nước vỡ bờ, Cleo khởi kiện, đòi bà văn sĩ phải bồi thường 5 triệu franc mới nghe. Nàng vẻ vang thắng kiện, nhưng cũng chính trong quá trình nghị án, người ta nhận ra rằng nàng cũng chính là bàn tay đạo diễn phía sau rất nhiều tin đồn về bản thân mình trước đây. Do đó, tuy thắng kiện, nhưng Cleo chỉ được hưởng một franc cho các tổn thất tinh thần và quy định dỡ bỏ mọi thông tin thiếu cơ sở có thể gây phương hại đến nàng trong mọi ấn bản về sau của cuốn sách đình đám nọ.

Như những ngày đầu sự nghiệp đầy tăm tiếng, cuối cùng, Cleo de Merode trong cuộc ẩn dật cuối cùng vẫn là người đàn bà chạy đuổi theo những cuộc phân bua vô tận, nàng vẫn là cô vũ nữ viết lá thơ thanh minh với tòa báo, hoặc mỏi mòn trong những cuộc bát phố xuôi ngược phố lớn Paris để xõa tóc trưng bày một đôi tai trọn vẹn. Sau biến cố với vụ kiện bà Beauvois, năm 1955, Cleo phát hành tự truyện Le Ballet de mavie (tạm dịch Vũ Điệu Đời Tôi), như một lần cuối cùng giành quyền lên tiếng cho chính bản thân mình, để nói những gì nàng cho phép thế giới lắng nghe.

069fc4e06792e02ebddec797ae471d05

Cleo qua đời ngày 17 tháng 10 năm 1966, yên nghỉ tại nghĩa trang Père Lachaise. Phía trên mộ phần Cleo là bức tượng chính nàng đang khóc than thân mẫu.

Lúc còn sống, de Merode đã kết hôn nhưng không có con. Theo tin tức trên các báo chí trong suốt cuộc đời sự nghiệp của nàng, thì de Merode còn đính hôn trước đó vài lần, trong đó có một bá tước Nga, một triệu phú Hoa kỳ, công tước vùng Manchester (vì sau bị ngăn chận bởi bà ngoại của ông này), một điền chủ Pháp, M.Reldoyen, một quý tộc Ba lan, Sigismund Malensky, và bản thân hoàng đế Leopold đệ nhị, sau khi hoàng hậu Marie Henriette qua đời. Hẳn nhiên, các nguồn tin của báo chí thời đó vẫn hoàn toàn không có cơ sở chính xác, dựa trên các tiểu tiết mờ nhạt làm căn cứ. Từ phía bản thân, lúc sinh thời, Cleo chỉ thừa nhận 2 cuộc tình lâu bền nhưng thê lương, một người mắc bệnh thương hàn qua đời, và người thứ hai là một học giả và điêu khắc gia Y Pha Nho đã bỏ rơi nàng theo một người đàn bà khác. Nhưng danh tánh và chi tiết về 2 mối tình này cho đến nay vẫn là những bí mật nàng mang theo xuống tuyền đài.

Cleo_de_Merode_by_SUDOR

Tổ nghiệp Celebrity và sự im lặng cuối cùng

Năm 2012, 46 năm sau khi Cleo cuối cùng cũng về tới chốn ẩn dật sau cuối chốn hoàng tuyền, khi thế giới nàng bỏ lại sau lưng đã hoàn toàn bị chi phối bởi quyền lực truyền thông và thảm đỏ, Michael Garval trở thành nhà “showbiz học” khi xuất bản công trình chuyên khảo đầu tiên bằng Anh ngữ về hiện tượng ghi dấu sự trở mình của thị phi toàn nhân loại vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 qua hiện thân nữ thủy thần kiều mị, cuốn sách mang tên Cleo de Merode and the Rise of Modern Celebrity Culture (tạm dịch Cleo de Merode và Sự Trỗi Dậy Của Văn Hóa Người Nổi Tiếng). Garval đã ghi chép lại công trình nghiên cứu, phân tích của ông đến từng ngóc ngách xảo thuật lancée phía sau ánh hào quang của nhan sắc và phần số tài hoa, đánh dấu sự bắt đầu cho một nền kỹ nghệ thực thụ về sau của thế giới, nơi các nghệ sĩ chân chính trở thành các minh tinh.

Sẽ không ngoa nếu lịch sử nghệ thuật trình diễn và công nghệ lancée được chia ra thành giai kỳ tiền và hậu Cleo, một khi tiếng tăm của nàng làm nên một cú chuyển dòng toàn phần về khái niệm nổi tiếng, giá trị của hiệu ứng hình ảnh, yếu huyệt của truyền thông và quyền lực của những tin đồn. Công trình nghiên cứu của Gavral đi sâu vào phân tích những cuộc canh tân mang tính xã hội và công nghệ đã khiến thế giới đi đến hình thành một xã hội hiện đại được dẫn dắt bởi các vị lãnh tụ đỏng đảnh đầy thói tật của chính trường thảm đỏ. Trong đó, Merode chính là một trong các tượng đài tiên phong đầu tiên, giữa tâm bão ái mộ và trải thảm đỏ huy hoàng dưới những trận mưa đá được ném ra từ công luận trong suốt cuộc đời nàng.

74c8a6b3140b1ea2322f2760b4557310

Mặc dù trước Merode, nhân loại vẫn luôn có những trang nhan sắc khuynh thành, những cuộc dan díu vụng trộm éo le đi vào huyền thoại, nhưng bước ngoặt lịch sử khi loài người phát minh ra kỹ thuật in ấn và nhiếp ảnh đã tạo nên hình thái thô sơ nhưng đầy quyền lực của truyền thông và báo chí.

Chính những tấm bưu thiếp ghi lại nhan sắc Cleo trong các bộ phục trang hương xa hoang đường của các vở múa Đông phương đã ghi dấu ấn và lưu giữ minh chứng cho vẻ đẹp bá mị vượt thời gian của một Cleo de Merode danh bất hư truyền. Nhưng với kỹ nghệ in ấn và truyền thông, vẻ đẹp vô ngôn trên các tấm bưu thiếp đã trở nên sống động với những chi tiết riêng tư đầy khuất tất, những thói tật phóng đãng li kỳ đã cho công luận một câu chuyện giật gân đằng sau nhan sắc thiên tinh. Chân dung truyền thông hình thành, cô ả đẹp đến vô thực với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ vừa được nhiếp ảnh đặt lên bệ thờ nhan sắc, vừa được hả hê lôi tuột xuống tận đáy của án đa dâm hạ tiện và những cuộc trác táng phong lưu. Công chúng có cả một màn bi hài sống động li kỳ hơn bất cứ vở diễn nào trên sân khấu đại hí trường, bởi Merode tồn tại, hiển hiện, chiều chiều bát phố khắp kinh đô với mái tóc vén cao, tuyệt vọng phô trình đôi tai nguyên vẹn.

Sự phối hợp của hai nền kỹ nghệ này tôn vinh người đẹp, nhưng không cho phép nàng hóa thánh, hả hê độc địa phơi lộ chuyện riêng tư của nàng, nhưng lại cùng lúc đặt lên vầng trán nàng ánh hào quang nóng bỏng của mọi sự chú ý hiếu kỳ. Ngôi nữ hoàng thị dân tự lập đã được hình thành nên như vậy, công chúng hoặc yêu nàng, hoặc nghiện ngập trong những câu chuyện đầy ác ý về nàng. Truyền thông trao cho họ một quyền lực mới, nơi họ xộc thẳng vào phòng ngủ của người đàn bà đẹp, khoái trá tốc từng lớp xiêm y hào nhoáng của tiết hạnh và nhan sắc để lần mò vào từng chi tiết sống động nhất, để hả hê tiếp cận thịt da có thật của hình hài diễm ảo in trên bưu thiếp: “Nàng cũng như ta, tham dục, đa mưu và đầy khiếm khuyết”

cleo merode006_2

Với thói háu tin theo từng tờ nhật trình, lần đầu tiên thị dân nếm mùi quyền lực và thưởng thức màn bi hài kịch lâm li nhất do chính họ đạo diễn và tham gia, kéo dài đến hàng chục năm, ngay cả sau khi Cleo đã già nua, mệt mỏi và trốn lánh vào tuổi già cô tịch.

Màn kịch vẫn quá chừng hấp dẫn ngay cả khi cô đào chánh đã toan về già và nhan sắc thanh xuân cùng các phiêu lưu tình ái chỉ là những tro cốt cũ kỹ được tái hồi khai quật mua vui cho hậu thế. Như thể một kịch sĩ tài ba đã đi khuất vào cánh gà, thì những tiếng vỗ tay reo hò phấn khích vẫn hồi hồi điệp điệp vang lên, róng riết đòi hỏi thêm một đôi lượt tái xuất của bóng vía tài tình, níu dài âm hưởng giật gân kì thú.

Nhiều thập niên qua đi sau nhiếp ảnh và truyền thông, chính bước ngoặt kỳ vĩ của nhân loại bước vào nền văn minh internet đã khai quật lại đại dịch Belle Epoque trong một diện mạo hoàn toàn mới: những đoạn ghi hình phòng the gây cấn của các minh tinh tài tử, những phát ngôn thường nhật ngô nghê hay xốc nổi, những chi tiết li kỳ đầy mùi thịt da sống sượng… Trong đó, huyền thoại Cleo được lưu truyền với tốc độ mãnh liệt hơn như những di tích của những ánh hào quang celebrity đầu tiên của nhân loại. Những tin đồn cũ được nhặt nhạnh và tổng hợp lại, những tấm bưu thiếp của hơn một thế kỷ về trước được tái bản và số hóa – Cleo de Merode trở thành một thứ di sản chung chạ của những tín đồ Mỹ giáo và những con nghiện tôn thờ bái vật celebrity xuyên thế kỷ.

il_570xN.550085435_qp97

Chính qua Merode, Michael Garval đã tài tình tái hiện thời cuộc văn minh Belle Epoque trong bức biếm họa của ngôn từ, với những cơn sốt của văn hóa thị dân đã bồng bế tô vẽ cho de Merode và đẩy nàng lên đài hiến tế như một con cừu làm cống lễ thần linh. Vì sao nàng trở thành Kẻ Được Chọn? Cơn sốt thẩm mỹ thuộc địa hương xa trong thời cuộc chánh trị của các mẫu quốc thực dân, kết hợp cùng các phát kiến khoa học, sự phát triển của công nghệ nhiếp ảnh, in ấn và truyền thông đã hợp nhất tại khúc quanh định mệnh có Nàng, để cùng làm nên một trong những quả bom truyền thông giải trí đầu tiên trên thế giới. Và từ đó, người ta có Monroe chết cô độc trong cuộc tình với đệ nhất chính khách, James Dean không toàn thây giữa xác xe vặn vẹo, một linh hồn Presley mãi không siêu thoát, Lennon gục ngã trước họng súng tín đồ bái vật celebrity và Diana không toàn thây trong chuyến xe tử thần đào thoát bão flash paparazzi.

Giới yếu nhân thảm đỏ trở thành bàn cờ người với các quân cờ là những hình nhân tuyệt mĩ bị lột trần sống sượng như soi chiếu dưới ống kính truyền thông, thỏa mãn giấc mơ hoang đường của đời sống thị dân đang nhàm mòn dần đi dưới tốc độ kỷ nguyên công nghiệp: giấc mơ của khả năng nhìn xuyên qua những bức tường tư dinh tráng lệ và mọi lớp xống áo hào hoa, và truyền thông như vị thánh cứu rỗi, xoa dịu nỗi khốn cùng bằng lời an ủi “Tất cả họ, những kẻ đội hào quang, phía sau cánh cửa khép kín, đều trần tục như tất thảy chúng ta”.

Các ngôi sao giải trí mua vui cho công chúng của mình ngay cả bên ngoài màn bạc, trên các bãi biển cá nhân, và ngay cả sau khi chết.

Và Nàng, cho đến ngày nay, xuyên thế kỷ và màn hình máy tính, với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ, vẫn là hiện thân của cơn sốt khởi thủy niềm si mê bái vật với những huyền thoại ồn ào.

Ở miền ẩn dật sau cùng, nơi những tiếng ồn thị phi không còn nghe thấy được, lần đầu tiên và duy nhất, Cleo được trả về, thanh thản và bằng an với những sự thật của riêng nàng, nằm sâu dưới nấm đất Père Lachaise và một bức tượng câm.

402dcd1e30024381f227313a83cf2f88

BOX:

Ngày 27 tháng 09, 2013, nhân dịp kỷ niệm 138 năm ngày sinh Cleo de Merode, buổi ra mắt cuốn sách khảo cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và Cải lương của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp tại Việt Nam đã là lần đầu tiên bản múa huyền thoại của Cleo được tái dựng, qua trích đoạn Vũ Khúc Đông Dương trên nền nhạc bản kí âm cổ xưa nhất tìm thấy được trong lịch. Cơ sở dữ liệu đầu tiên của hai nhà nghiên cứu chính là con tem của nhà nước Pháp lúc bấy giờ in hình Cleo de Merode trong trang phục cung đình Nam Vang cùng ban đờn của nghệ nhân Nguyễn Tống Triều tại buổi trình diễn đờn ca tại tử ở Nhà Hát Đông Dương năm 1900.

Tình cờ, tác giả đã chính là người mà nhạc sư Nguyễn Lê Tuyên nhờ thực hiện phần phục dựng bài múa, tái hiện hình ảnh Cleo de Merode vào ngày ra mắt cuốn khảo cứu, cũng chính là vào sinh nhật lần thứ 138 của bà. Trong một sự tình cờ, hậu duệ của bài múa này, tức tác giả, là người sinh sau bà đúng 100 lẻ một đêm. 

DSC_5609

Không đầy 3 tháng sau đó, vào 15 giờ ngày 5 tháng 12 2013, đờn ca tài tử chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đoạn phim tư liệu của nhà làm phim Huy Moeller ghi lại quá trình tái dựng vũ khúc đầu tiên của nhân loại trên nền nhạc đờn ca tài tử sẽ được công chiếu tại Việt Nam vào tháng Giêng 2014 tại trường Điện ảnh Quốc tế Sài gòn và Viện Trao đổi Văn hóa Pháp IDECAF.

Dự án phim Việt Nam đầu tiên về Cleo de Merode và đờn ca tài tử cũng đã được nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh hoàn tất khâu kịch bản và trong quá trình kêu gọi đầu tư. Đây cũng là dự án điện ảnh đầu tiên của Việt Nam về di sản đờn ca tài tử, và cũng là phim điện ảnh đầu tiên trên tái hiện lại hình ảnh bà chúa tin đồn đầu tiên trong lịch sử nền công nghệ giải trí thế giới. 

cleo_de_merode_60

hồ sơ mang bí số 007

timothy dalton

Jasmine nOir

Đàn ông âm thầm muốn đá cho gã một cú, đàn bà âm thầm mơ tưởng về gã, con nít muốn được như gã. Tất cả những điều đó đều quá ồn ào, hào nhoáng và nguy hiểm cho một điệp viên.

Nhưng đây không phải là một điệp viên bất kì. Điệp viên mang bí số 007 thuộc Cục Tình Báo Anh.

“Bí số” ấy không có gì là bí mật với quá nhiều thế hệ khắp nơi trên thế giới, người ta đều có thể vanh vách gọi tên cúng cơm của gã, theo một giọng Shakespearean đầy kịch tính:

“The name is Bond – James Bond!”

007s

Được cha đẻ là nhà văn Ian Fleming đặt tên theo nhà điểu cầm học người Caribe mà bản thân ông ngưỡng mộ. Về sau, khi gặp gỡ bà quả phụ của ông Bond, Fleming tán tụng “tôi không ngờ một cái tên ngắn cụt, phi lãng mạn, đặc sệt Anglo Saxon, nhưng cực kì nam tính này chính là cái tên phù hợp nhất. Nên tôi cho một James Bond khác ra đời”. Về sau, Fleming thú thật, có phần thẳng thắn hơn, với tờ New York Post rằng “Tôi muốn gã là một tay Anglo Saxon thô thô đần đần một chút, và cái tên cộc lốc này chính là cái tên đần nhất mà tôi tìm ra được”.

Về sau, cái âm thanh cụt lủn ấy đã làm nên lời thoại ngắn ngủn, nhưng đầy khẩu khí cao ngạo làm nên ấn tượng sâu sắc lừng danh trong lịch sử điện ảnh thế giới: “The name’s Bond – James Bond”.

James Bond được xây dựng dựa vào thời kỳ Fleming hoạt động tại Cục Tình Báo Hải Quân trong đệ nhị thế chiến. James Bond là sự hợp nhất của những mẫu hình sĩ quan phản gián và biệt kích mà ông đã từng gặp. Nhưng hơn hết, ông gửi gắm vào nhân vật này cả những nét rất chân thật về bản thân, từ sở thích khoái ăn trứng khuấy, đến mọi nhãn xà bông, nước thơm cạo râu mà ông ưa dùng. Các chi tiết về nghiệp vụ tình báo dựa trên kinh nghiệm có thật, cho đến tên của những bạn học hồi nhỏ, người tình, người thân của Fleming cũng được đưa vào để làm nên thế giới của Bond.

Naval-Commander-Ian-Fleming

Fleming muốn Bond có một ngoại hình của ca sĩ Mỹ quốc Hoagy Carmichael nhưng ngầu hơn một chút. Chàng có mái tóc đen dày mạnh khỏe, khóe miệng khắc nghiệt và đôi mắt có ánh thép. Chàng có một khiếu hài hước duyên dáng và lạnh lùng, một dòng máu Scotland sáng giá, mẫu thân sở hữu một nhũ danh vân vi cầu kì là Monique Delacroix đến từ Thụy Sĩ, và thân phụ là ngài Andrew Bond ở Glencoe, Scotland.

Hoagy Carmichael

Bond và cuộc đời bí ẩn của chàng không có một thông tin gì về ngày sinh nhật. Về sau, John Pearson chấp bút nên một hồ sơ chính thức cho chàng, mặc nhận ngày 11 tháng 11 năm 1920 là ngày chào đời của James Bond, trong khi John Griswold là sau đó một năm, vào ngày 11 tháng 11 năm 1921.

Tuổi tác, điều đó chưa bao giờ quá quan trọng đối với bản thân James Bond, một khi tay chân vẫn đánh đấm ngon lành, tình ái miên man, và những bộ âu phục, những chiếc đồng hồ vẫn cực kì hợp mốt.

Từ chiếc cánh gà Beretta đến tuyệt tác DB5 trên tử địa Skyfall

Như tay hiệp sĩ cầu kì về thanh kiếm tri kỷ của mình, James Bond hoàn toàn có thể được coi là người đàn ông có bộ sưu tập xe và vũ khí đáng ham muốn nhất của mọi thời kỳ. Đây là một cuộc biểu trưng khí tài hùng hậu và mĩ miều nhất của lực lượng an ninh phản gián Ăng-lê.

Cậu ấm James Bond của M16 chẳng khác gì một cô Barbie với những phụ kiện không thể thiếu của mình. Giả sử ví von như vậy bởi, khác với mẫu người biệt kích lủng củng lang cang với những bộ sưu tập vũ khí hạng nặng và những viên đạn to cỡ quả bom, James Bond có cho mình những món đồ chơi thông minh tinh xảo và mang theo ít nhiều thói hài hước kiểu Ăng-lê. Ban đầu chỉ là vài cây viết ngụy trang, hay món lưỡi lê giấu trong giày, nhưng từ khi xuất hiện khẩu súng lục bé xíu bằng vàng trong The Man with the Golden Gun, thì những món đồ chơi lợi hại này cũng là một sức hấp dẫn kinh điển của bí số 007.

Vậy là từ đó, mỗi vụ án mới của Bond đều không thể bỏ qua “tiết mục” được trông đợi không kém gì những pha rượt bắt, đó là cuộc giới thiệu trang trọng các món “phụ trang” siêu thông minh được nghiên cứu và thiết kế riêng cho chàng. Motif này trở thành một điển lễ kinh điển cho mọi thể loại điệp viên tình báo, phản gián hay siêu thám tử. Đến cả bộ truyện tranh Conan của Nhật Bổn, dù rõ rệt chịu ảnh hưởng của trường phái tâm lí tội phạm Agatha Christie và dấu ấn Sherlock Holmes, nhưng không thể thiếu một nhà bác học ranh ma phía sau mọi món đồ chơi thủ thân của tay thám tử.

Thậm chí gười ta bắt đầu ái ngại khi dường như chàng đã được trang bị hơi quá tay và trở thành một gã bóng bẩy ẻo lả ỷ lại vào những món đồ chơi công nghệ. Nhưng rồi xét trên sự cân sức của mỗi vụ án, phía kẻ xấu cũng được trang bị đồ hàng xôm tụ không kém, từ khẩu súng bằng vàng của Scaramanga, đôi mũi giày tẩm độc của Rosa Klebb, cho đến cái nón chóp viền thép của Oddjob, cùng hộp trang điểm đầy vi khuẩn của Blofeld. Với ngần ấy kẻ thù nham hiểm, thâm độc và chịu chơi, những món đồ chơi siêu công nghệ của Bond được giải oan hoàn toàn, và cuộc đối đầu lại trở về thế cân sức.

Nhưng hai món vũ trang cơ bản nhất, hơn cả những món phụ kiện bé xíu và buồn cười của nghiệp vụ tình báo, chính là “thanh kiếm” và “chiến mã” của một tay hiệp sĩ chân chính. Trong trường hợp của Bond, đó là bộ sưu tập súng và xe.

Ban đầu, cha đẻ Fleming chỉ trang bị cho chàng khẩu Beretta 418 mập mạp chắc nịch và hữu dụng, một ‘thanh kiếm’ phù hợp với sự thô ráp, lạnh lùng của nguyên bản James Bond. Không lâu sau đó, một độc giả mến mộ nhưng sành sỏi hơn về súng ống viết một lá thư công kích cái cánh gà mập mạp và ngộ nghĩnh ấy là “đồ thứ súng cho đàn bà nhét bóp đầm!”

beretta 418

Tay độc giả cuồng nhiệt này đề cử khẩu Walther PPK 7.65mm bảnh bao ngạo nghễ hơn. Khẩu Walther này xuất hiện ngay trong cuộc tấn công màn bạc của Bond trong phim Dr.No, khiến mọi quý ngài xem phim cứ thở dài sườn sượt. Một món đồ chơi bặm trợn cỡ đó xem chừng tuyệt hảo để rút ra từ sau ve áo pardessus hay tuxedo của mẫu người hùng màn bạc chánh hiệu con nai vàng.

dr.no gun

Boothroyd, tay độc giả nhiều chuyện nọ còn khuyên Fleming sắm thêm cho quý tử tinh thần của mình một cái bao súng Berns-Martin ba quai, và một lô một lốc những món đồ chơi chết người khác. Để đáp lễ, Fleming đặt luôn tên cho tay thiếu tá phụ trách quân bị của M16 là Boothroyd.

ian_fleming_Geoffrey_Boothroyd

Bond còn thủ thân thêm vài khẩu tầm tầm cỡ Colt Detective Special và khẩu Colt cán dài Army Special. Ngoài ra, để cho bằng anh bằng em và không mất thể diện trước hậu duệ Rambo, Bond cũng có cho mình một bộ sưu tập súng trường, trong đó là khẩu Savage Model 99 và Winchester 308.

Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên trên phim, trùm mật vụ M đã ra lệnh cho Bond bỏ khẩu Beretta “bóp đầm” để nhận khẩu Walther PPK. Họ (khẩu súng và Bond) sống hạnh phúc bên nhau suốt 18 bộ phim.

Từ Don Quijote đến James Bond, súng ống kiếm cung đã có, thì khoản ngựa xe mới thật là thứ khiến Bond trở thành thằng cha may mắn đáng ghét nhất thế giới đối với mọi quý ông. Trong khi Batman quanh quẩn với cỗ xe chuột chũi duy nhất, thì Bond từ ban đầu đã được Fleming trang bị cỗ Bentley 4½ Litre đầu bạc, và về sau là Mark II Continental Bentley. Trong vụ án Goldfinger, chàng lái chiếc Aston Martin DB Mark III có thiết bị định vị tối tân giúp chàng truy sát kẻ thù bon bon dọc ngang nước Pháp. Nhưng sau vụ truy lùng đó, người ta lại thấy chàng một mực chung thủy với chiến mã Bentley.

aston martin

Nhưng chỉ cho đến khi đường đường xuất hiện trên màn bạc, cuộc đầu tư điên cuồng vào những cỗ mã xa tối tân của Bond mới thật sự khiến nam nhân thế giới sục sôi thèm muốn. Thời thập niên 1980, chàng ngon lành sập cửa chiếc Aston Martin, còn những năm 2000 là thời kì của cỗ V12 Vanquish điệu nghệ và chiếc DBS đen thẫm bẹp dí như một con gián bảnh bao siêu tốc độ. Giã từ sự thanh lịch thuở ban đầu của vẻ đẹp bạch mã với tên tuổi Alfa Romeo, những lần xuất hiện về sau, Bond thể hiện tư chất tối ưu của một điệp viên thượng hạng khi điệu nghệ điều khiển volant từ xe cứu hỏa, tải hạng nặng, tàu ngầm phóng lựu cho đến tăng thiết giáp. Nhưng cuối cùng, con chiến mã trung thành vinh dự xuất hiện từ Casino Royale cho đến Skyfall vẫn là tuyệt tác màu xám bạc Aston Martin DB5.

aston martin db5

Trong suốt điệp vụ trùng điệp hiểm nguy Skyfall, ngay cả khi bà đầm sắt trùm mật vụ M chết trên cánh tay mình, Bond cũng không bao giờ lộ nét đau đớn sâu sắc và tinh tế bằng giây phút chiếc Aston Martin DB5 bị phá hủy thảm thương. Ngay cả khán giả máu lạnh nhất cũng hiểu chàng Bond đã bị đả thương vào yếu huyệt. Cánh mày râu trong khán phòng cine khắp thế giới cùng rên xiết xuýt xoa đồng cảm: đó là một cỗ chiến xa tuyệt hảo!

aston martin skyfall 

Tay người Úc cơ hội và triều đại Roger Moore

Một trong những vụ án huy hoàng thời kì đầu của chàng mang tên From Russia with Love. So với vụ Dr.No, các hệ thống bí danh khi này cũng bắt đầu hình thành, thiếu tá Boothroyd mang bí danh độc tự  Q cho đến mãi về sau. Đây cũng là lần xuất hiện thứ hai và sau cùng của Sylvia Trench, được nôm na coi là bạn tình lâm thời của Bond sau mỗi vụ phá án. Với 2 vụ giết người so với Dr.No, James Bond bắt đầu hứa hẹn dấn sâu vào những vụ án mạnh dạn hơn về tính bạo lực. Người ta vẫn còn kể rằng John F.Kennedy đã xem bộ phim này lần cuối tại tòa Bạch Ốc ngày 20 tháng 11 nằm 1963 định mệnh, trước khi đi Dallas, mặc dù mãi đến tháng Tư 1964, bộ phim mới được phép công chiếu rộng rãi tại Hoa Kỳ.

DR-NO_610

Đến vụ Goldfinger, Bond bắt đầu trở thành một hiện tượng. Đó cũng là khi chàng tập tành lái chiếc Aston Martin DB5, và sử dụng vũ khí có tia laser của công nghệ tiên phong. Đây cũng là bộ phim James Bond đầu tiên đoạt Oscar về hiệu ứng. Nhưng với Bond, nếu chàng có thật, đây là một vụ án vinh quang nhưng cũng đầy mất mát. Cha đẻ của hình tượng James Bond, người đàn ông đã chu đáo đặt vào tay chàng khẩu súng lục thô kệch ngắn ngủn đầu tiên, Ian Fleming qua đời trước khi phim công chiếu.

ian fleming

Từ đó, các điệp vụ cine của 007 bắt đầu rời xa khỏi kịch bản văn học gốc. You Only Live Twice dựng trên bối cảnh Nhật Bản, với bạn tình Kissy Suzuki và nhan nhản ninja để bao sân chiều chuộng khán giả châu Á. Sean Connery, như thể đã hóa thân vào Bond-phiên-bản-gốc, tuyên bố không tiếp tục đóng các phim sau. Là nam diễn viên thủ diễn James Bond theo kịch bản văn học gốc của Fleming, Connery như một Bond đầu-tiên-và-duy-nhất ra đi như một hành vi tuẫn tiết đáng trọng!

you only live twice

Sự ra đi của Sean Connery khiến người ta lúng túng và cập rập chọn anh kép George Lazenby người Úc kế vị vào vai James Bond. Lazenby xuất hiện hoàn hảo, tay lấp lánh chiếc Rolex Submariner, mình vận bộ suit may ở tiệm Savile Row của Connery để lại, và tỉa tót râu tóc ngay tại hiệu ưa thích của Connery ở Dorchester Hotel. Các nhà phê bình chỉ có thể khen ngợi anh chàng về sự cần cù và dũng cảm tự đảm nhiệm các vai nguy hiểm không cần đóng đúp. Nhưng công chúng la ó phản đối, họ trót quá gắn bó với Connery, cho rằng Lazenby quá bận rộn thay phục trang xoành xoạch như một cô dâu diêm dúa, và quá mỏi mệt trong việc hùng hục chạy theo cái bóng của Connery. Đó là chưa kể giọng phát âm Úc đặc sệt quê trớt của anh chàng khiến phải dùng đến việc lồng tiếng, tổn hại ít nhiều đến hiệu quả thể hiện trên phim.

george lazenby

Thế là hình tượng chàng Bond lại đòi hỏi một lần đổi lốt. Lần này, kép Roger Moore ứng cử, dù đã 45 tuổi. Moore trở thành nam diễn viên bền bỉ nhất trong các nam diễn viên thủ diễn James Bond, chính xác là trong suốt 12 năm. Roger Moore bắt đầu ra tay áp đặt một kỷ luật mới cho James Bond. Hai vụ án đầu, chàng khệnh khạng hút cigar thay cho thuốc lá thường, và uống buorbon thay cho martini. Moore khôn ngoan phá lệ và lập tiền lệ riêng của mình – như một con đực mạnh thực thụ, cũng là điều mà hình tượng James Bond không thể thiếu.

Moore bắt đầu cho Bond…cai thuốc. Vào những năm 1970s, James Bond trở nên “đời” hơn, pha phỉnh một chút khiếu hài hước duyên dáng, song song món chính là những màn đấm đá tuyệt đỉnh. Hẳn nhiên, Bond của những năm 70 không thể nào có được sự đường bệ của Sean Connery, nhưng gã đột nhiên trẻ trung và có duyên hơn, lịch duyệt, duy lý và rõ ràng là háu gái hơn. Về võ nghệ, tuy không điệu nghệ như Sean Connery, Bond của Moore được coi là anh chàng hóm hỉnh và dễ gần nhất trong mọi phiên bản James Bond cả trước đó lẫn về sau.

roger moore

Đài từ thượng đẳng của nam thần xứ Welsh và James Bond bán lạc xoong

Đến tận những năm 1987-1989, Bond mới có một giọng phát âm Ăng-lê thuần chủng chánh hiệu truyền thống “Shakespearean” của kép Timothy Dalton, người kế nhiệm Roger Moore. Tờ Guardian ủng hộ phiên bản mới này của James Bond “Đành rằng đó không phải là Connery, và thiếu hụt cả cái duyên lịch duyệt của Moore, nhưng ít ra, đó không phải là Lazenby”, ám chỉ giọng thổ âm Úc nặng chịch của Lazenby, từng gây khốn đốn cho hình ảnh James Bond.

Timothy Dalton nhập vai James Bond hoàn hảo, với chiếc mũi khoằm của loài thần điểu, mái tóc dày rậm như lông quạ, đôi mắt khi thì ủy mị ươn ướt như mắt cún, khi thì sáng quắc như mắt diều hâu ngay dưới cặp chân mày rậm rì sắc nét như dao phay. Chàng dày vò các nữ khán giả bằng khuôn vai vuông vức, cơ thể nam thần và chiếc cằm chẻ đẹp như một cặp mông thiên sứ. Chỉ cho đến khi chàng thật sự thoát kiếp James Bond và tái xuất ngời ngời trong Jane Eyre, vai bá tước Rochester cục cằn và đa cảm, người ta mới dám chấp nhận rằng chàng không phải là James Bond nữa.

timothy_dalton

Sự xuất hiện hoàn hảo cuả Timothy đã là một thách thức khó vượt cho kẻ kế nhiệm là Pierce Brosnan bóng bẩy. Cũng sở hữu mái tóc đen dày hơi lượn sóng, với “cặp mông thiên sứ” có phần teo tóp hơn, Pierce Brosnan được đánh giá là giai kỳ điển trai màu mè đỏm dáng nhất của Bond.

pierce brosnan vanity

Khi kí hợp đồng kế nhiệm nam thần Timothy, Brosnan hồ hởi tuyên bố “Tôi muốn đào sâu hơn nữa vào bên trong người đàn ông này, lột lớp vỏ bọc máu lạnh của anh ta như lột một củ hành, và phơi lộ một tâm hồn nhạy cảm bất khả xâm phạm của người đàn ông đó”. Điều này làm khán giả hâm mộ của Bond run sợ – Bond không phải là loại đàn ông treo quả tim của mình tòn ten trên ve áo để làm dáng. Nhưng rồi người ta đã có một Bond gốc Scotland của Connery, nói giọng Úc của Lazenby, mang dòng dõi Welsh quí phái của Dalton, thì cuối cùng, đến lượt Brosnan sẽ cho người ta một phiên bản Bond Ái-Nhĩ-Lan rất riêng và khác biệt.

Bond lại hút cigar và chuộng những bộ suits bảnh bao thửa tận bên Ý. Golden Eye với Brosnan cũng là điệp vụ đầu tiên xảy ra sau khi Liên bang Xô viết rã đám. Bond và M16 cũng phải cập nhật tình hình chính trị chung, thay các vụ đối đầu với chính quyền chính thể bằng những vụ rượt bắt gay cấn với các siêu thế lực mafia mới của nước Nga lộn xộn. Cũng bởi tính cập nhật thực tế, Judi Dench vào vai bí số M – đầu lãnh M16, một khi ngoài thực tế, ghế trùm cơ quan tình báo M15 của Anh quốc cũng vừa chào đón nữ chủ nhân mới: bà đầm sắt Stella Rimington.

Công luận nghi ngờ vẻ oặt ẹo điệu đàng của kép Brosnan, các nhà phê bình thở dài phán “Và Bond đã tái xuất, lần này với mái tóc hỉ nhi!”, nhưng MGM vẫn tuyệt đối tin cậy vào cái đẹp và sự hào hoa, quyết đưa Bond về với bản ngã. Đầu tiên là bằng cách tước đoạt bớt những món đồ chơi lặt vặt của chàng, cùng mọi yếu tố hoang đường quá tay mang sắc màu giả tưởng. Bond mạnh mẽ hơn, u sầu hơn, và “người” hơn.

Một lần nữa, khi mà ngoài kia, trào lưu cơ bắp đã lắng xuống, việc thay đổi phong cách cho Bond hoàn toàn phù hợp với thời kì của những anh chàng metro-boy mảnh mai, biết làm đẹp và gần như lưỡng tính, Jack của Titanic thế chỗ Commando, và rock bờm xờm bị hất cẳng bởi boybands thiếu niên tiến bộ.

Các quý ông trung thành của những thế hệ James Bond kinh điển có thể chỉ muốn tung một cú đá vào mông tay Bond đời-sau oặt ẹo này. Hơn nữa, gã rõ ràng là một tay bán đồ lạc-xoong chuyên nghiệp. Gã rao bán mọi thứ, từ nước uống, xe cộ, đồng hồ, bút máy,… chỉ cần một cú lắc tay điệu nghệ bên sòng bạc, gã tài tình rao bán chiếc đồng hồ lấp lóe dưới manchette công tử bột. Gã ngời ngời sáng giá và hốt về bạc triệu mỗi lần tái xuất, chưa kể các nhãn hàng thủy chung lại vồ vập lao vào, Bond của Brosnan được trang hoàng long lanh như cây thông Giáng sinh hạnh phước, với đồng hồ, thời trang, giày và những cỗ xe gây mê đắm.

brosnan poker watch 

Cuộc cách mạng của James Lạt-Nhách

Nhưng công chúng là một đứa trẻ khó chịu, ngay khi thế hệ hâm mộ giai kỳ bóng bẩy của Bond bắt đầu quen với hình ảnh của chàng điệp viên thơm phức trong các bích chương quảng cáo đồng hồ Omega, thì cuộc cách mạng phong cách của James Bond tạo nên một vụ ồn ào chưa từng thấy. Giữa thời loạn lạc của thế giới phẳng phi giới tính, giữa sự tìm tòi khắc khoải một hình tượng nam thần thẳng thớm đáng tin cậy, James Bond cần mau chóng thoát ra khỏi cái dung mạo mĩ miều của những điệp viên tài tử “tóc đen như mun, cằm chẻ như mông” vốn đã thành tiền lệ.

pierce brosnan

Với hình tượng Obama, thậm chí đã có lúc người ta cân nhắc một James Bond da đen…hơn tóc. Nhưng ứng viên thắng cuộc cuối cùng đã khiến tất thảy công luận hồ nghi và cự nự dữ dội: Daniel Craig.

Gã có bản mặt của một tay mafia Đông Âu hơn là một điệp viên Anh quốc. Đôi mắt nhỏ, linh hoạt, chiếc cằm nhọn và một thái độ lì lợm khó gần. Gã có diện mạo của một tay sát nhân máu lạnh sẵn sàng tung nắm đấm thép mà không buồn nheo mắt.

Người ta thổn thức nhắc nhớ những vệt chân chim nơi đuôi mắt Brosnan và vết lõm chen giữa hai múi cằm đẫy nẫn của Dalton. Than ôi, kẻ kế nhiệm thậm chí còn mang một đôi tai vểnh của loài dơi và mái tóc lưa thưa màu sáng.

daniel2

Người ta tung vào thế giới cinema một James-Bond-Không-Thèm-Đẹp!

Thậm chí đã có cả một website với địa chỉ danielcraigisnotbond.com kêu gọi tẩy chay phiên bản mới của James Bond. Tờ Daily Mirror chạy nguyên trang nhất chỉ để bỉ bai Craig với hàng tít nhái theo câu thoại lừng danh của Bond “The Name’s Bland – James Bland” (tên là Lạt Nhách – James Lạt Nhách).

Bond (bởi đó chính là tính cách Bond) phớt lờ đúng điệu Ăng-lê và tái xuất dưới hình hài Daniel Craig trong phi vụ Casino Royale. Món lãi ròng từ phim này, kể từ Moonraker, chưa bao giờ cao đến vậy! Công luận đổi chiều xoành xoạch, người ta tung hô James Bond mới. Chàng mảnh mai hơn, trông “chì” và “ngầu” hơn, không xăm lên trán hàng chữ “vận động viên làm tình”, và không cầu kì giãy nảy nếu ly martini của chàng không được pha đúng điệu. Đơn giản là vì chàng-như một tay Bond đúng điệu, cóc quan tâm!

daniel1

Còn tư cách người hùng và những trò táo tợn? Hãy xem chàng được đích thân nữ hoàng Elizabeth (do chính lệnh bà thủ diễn) vời đến điện Buckingham để hộ tống bà trên chiếc trực thăng bay đến sân vận động Olympic Stadium, cùng lệnh bà tôn quý của nước Anh nhảy thẳng từ trực thăng, bên dưới cánh dù bằng lá cờ liên minh lộng gió!

QUEEN+AND+DANIEL+CRAIG 

Fashionisto siêu hạng và 40 bộ suits cho một cảnh quay

Với vẻ điển mã xứng tầm một quý ông, chàng có tất cả những cái tên quyền lực nhất của giới thời trang làm hậu thuẫn cho tủ phục trang khét tiếng của mình. Giorgio Armani, Brioni, Roberto Cavalli, Tom Ford, Hubert de Givency, Gucci’s Frida Giannini, Douglas Hayward, Rifat Ozbek, Jenny ackham, Miccia Prada, Oscar de la Renta, Anthony sinclair, Phillip Treacy, Emanual Ungaro và Donatella Versace là những cái tên làm nên thế giới hào hoa của James Bond.

Bond cầu kì và chuẩn mực đến từng tiểu tiết. Chàng phân biệt được một ly martini lắc và khuấy khác nhau ra sau, chàng thích ống quần của mình ôm vừa, tỉa tót tuyệt khéo, nhưng không bó sát bởi chàng không phải Tom Jones. Cả tuxedo cũng vậy, chàng thích sự nghiêm cẩn, không xum xuê hoa lá, và đặc biệt ưa chuộng những chiếc sweater chui đầu bằng hàng cashmere thượng hạng. Chàng có thể đã xuất hiện từ nửa thế kỷ trước, nhưng chắc chắn chưa bao giờ muốn mình trở nên cổ lỗ.

Bond Style

Chuẩn bị cho vụ mới nhất của James, nhà thiết kế phục trang của chàng Jany Temime tuyên bố cô đã chuẩn bị cho James Bond lệ bộ chuẩn mực nhất chào mừng 50 năm cát cứ màn bạc, nhưng mang mọi yếu tố đương đại của thẩm mỹ thời trang 2012. Cô nói say sưa như một bà nội trợ sành điệu đi sắm sanh chưng diện cho đức lang quân lừng lẫy hơn là một chuyên viên thiết kế phục trang nói về diện mạo những vai diễn: “Tôi không chạy theo trào lưu mốt mà bám theo kịch bản. James đâu phải loại rảnh rang đọc tạp chí thời trang hàng ngày, tôi rành anh ta quá mà! Tôi biết James sẽ muốn mặc gì và vì sao, tôi luôn tự vấn bản thân trước mỗi quyết định: Đây có phải là thứ James sẽ bỏ tiền ra mua không?”

Tủ quần áo của chàng bày san sát chằn chặn những hàng suits bất tận, phô ra những ống tay và khuôn vai thẳng táp, hoàn hảo của kỹ thuật cắt may thượng hạng, hầu hết đóng mác Tom Ford. Bản thân Craig trong đời thực, cũng là một thân chủ mê mệt của phong cách lịch duyệt đến tối giản, đầy tính thực dụng rặt Mỹ của Ford. Ngay từ khi mới làm việc với Temime, Craig đã báo trước, theo kiểu mà chính James Bond biết mình muốn gì, rằng chàng thích form cắt mảnh mai nhưng phải dễ vận động, và hơi hoài cổ về nét kinh điển của thập niên 60.

tom ford

Mặc dù kép Roger Moore khẳng định rằng Bond vẫn có thể xài ngon ơ mấy bộ thửa cho chàng từ hồi 70s và 80s (đương nhiên, ngoại trừ quần ống loe và cổ sơ-mi to gộc), nhưng tuxedo và suits vẫn kinh điển vào hàng bất hủ. Nhưng ngay cả Moore cũng không còn mặc những bộ vía oai vệ đó nữa: “Chúng được may từ cách đây hai ba thập niên, cả bản đồ thế giới cũng đã thay đổi, huống gì số đo vòng bụng của anh kép diễn về già là tôi. Thời đó tôi cũng mê mẩn phong cách James Bond lắm, nhưng đó là ngài Bond, còn tôi rồi cũng tự xoay sở cho mình một gout riêng về cả đồ ăn lẫn rượu vang và áo vest”. Moore vừa ra mắt cuốn sách của mình về Bond, với cái tên “Bond on Bond” do nhà xuất bản Lyons Press ấn hành, trong đó, ông kể lại rất nhiều về phong cách bảnh bao của hiện tượng mang bí số 007.

Sean Connery, người đầu tiên thủ diễn James Bond năm 1962, cho đến nay vẫn còn ưa thích những bộ suits màu ghi mảnh dẻ Bond từng mặc thời đó, nhưng mấy cái quần yếm bằng vải bông trong Goldfinger thì quả là một cơn ác mộng với thời trang quý ông đương thời.

Đến những năm sau này, James Bond của Pierce Brosnan được diện rất bảnh trong bộ đồng phục sĩ quan Hải quân Hoàng gia, lay động nên bao cuộc đại chấn nức nở trong tim những nữ khán giả nhẹ dạ. Ngoài giai kỳ bảnh bao đột xuất này của Brosnan, thông thường thì James Bond là mẫu đàn ông thích sự tinh tế lẫn thực tế trong từng tiểu tiết của một phong cách tưởng như hoàn toàn giản dị. Cuối cùng, chàng là một điệp viên luôn đặt mình vào giữa chốn trùng điệp hiểm nghèo, chắc chắn không có nhu cầu khoác lên mình một bộ cánh quá lâm li và nổi bần bật giữa chốn đao kiếm vô tình như vậy.

navy uniform

Thời mới xuất hiện, một người đàn ông như chàng hẳn nhiên sẽ chọn hiệu may Savile Row lừng lẫy ở London làm chốn tin cẩn sắm sanh lui tới. Tới năm 1995, chàng thức thời và điệu nghệ hơn giữa thời cuộc phi biên giới, những điệp vụ của chàng giờ mang tầm cỡ toàn cầu, và nhà thời trang Ý Đại Lợi Brioni giờ mới xứng tầm sắm sửa của siêu điệp viên. Nghệ nhân bậc thầy của nhà này là Angelo Petrucci phóng mũi kéo điệu nghệ theo lối cắt may Ăng-lê truyền thống có vạt dài hơn so với các quý ngài La Mã, và đương nhiên là với những cặp ống quần hoàn hảo, ôm suôn, thẳng muốt và sắc nếp như dao: “Anh James, với tôi, là đại diện chí tôn của cái gọi là gout thượng đẳng. Suits là biểu tượng của quyền lực phái mạnh, với một người như James, suits chính thống là phải được may thửa chuẩn mực theo số đo. Chưa kể, hãy ngắm những cô nhân tình của ảnh, cô nào bà nào cũng sành sỏi điệu đàng, đều có con mắt để tán thưởng một bộ vía khéo cắt, bởi chính họ cũng tuyệt đỉnh cầu kì và rất am hiểu thời trang, anh James không thể lôi thôi được”.

bond style 2

Trong Skyfall, Temime vận cho Naomie Harris và Berenice Marlohe những bộ phục trang không hổ thẹn dòng dõi những thế hệ “Bond girls” về trước như Halle Berry và Ursula Andress. Cả hai đã từng khuấy đảo màn bạc trong những bộ bikini, đùi quấn đai súng lục, và Barbara Bach với chiếc váy dạ hội đen viền đá trắng, với được xẻ cắt cao vút đến tận… thiên đàng! Temime quyết định cho Marlohe ăn vận theo phong cách hoàng kim của cựu minh tinh Ava Gardner với bộ váy L’Wren Scott như bộ da thứ hai diễm lệ mà để vừa khít một cách kích động như thế, mỗi buổi sáng, đào Marlohe phải chịu một công đoạn may đính để bảo đảm chiếc váy bó sát thân hình. Và khi chết, nàng được Temime ưu ái cho diện thật đỏm trong chiếc váy đỏ thắm trễ tràng của Donna Karan. Karan phỉ mãn với hiệu ứng gợi tình một cách chết chóc này: “Nghĩ đến Bond girl là phải nghĩ đến gợi tình, sự thông minh, sức mạnh, và lẽ dĩ nhiên, là một thân hình sát thủ!”

berenice_marlohe_skyfall

Trong khi đó, Harris cần một thiết kế hung hăng năng động hơn cho những pha hành động và được cho mặc một chiếc jacket của Belstaff, tank top, và quần da.

Còn riêng cho James, ngay vào màn rượt bắt đầu tiên – một điển lễ mở màn cho mỗi phi vụ của 007, chàng cần một bộ suit vừa đẹp, vừa ôm, vừa thoải mái cho mọi trò vung tay quạt chân của 007. Điều này đồng nghĩa với 40 bộ suit y chang nhau, cái thì cánh tay dài hơn một chút để chàng cưỡi motor, cái thì cần đệm đầu gối cho chàng té đỡ đau, và có cả những bộ cài đặt những túi máu giả, và cả những bộ rách sẵn để đối phó với thứ tự lộn xộn của cảnh quay.

Chàng là siêu điệp viên trường phái sắp đặt, điều này không thuộc hệ tư duy bủn xỉn được. Temime hãnh diện như bà nội trợ siêu hạng “Tất cả phục trang ở đây đều thuộc hàng thượng hảo hạng. James có thể chạy phăm phăm qua nước, bụi, nhảy khỏi tàu hỏa, và chỉ cần phẩy nhẹ, là lại sạch bong như mới”

motor ride skyfall

Những người đàn bà của Bond

Thuật ngữ “Bond Girl”, chỉ những cô nhân tình lâm thời của James Bond, là một đại danh lẫy lừng có phần hơn cả các khái niệm “Playboy Bunny”, “Victoria’s Angel” hay “Cosmo Girl”. Xét về giai tầng, họ không hề dân chủ đại trà. Đó là những nữ sát thủ, minh tinh, hoặc yếu nhân, thậm chí chính khách. Họ là những Pussy Galore, Plenty O’Toole, Xenia Onatopp hay Holly Goodhead. Nói một cách nôm na, đó là những đại diện điển hình của vẻ đẹp xa hoa thượng đẳng, những nữ thần nhục cảm phóng túng, những đóa hồng nhung kiêu sa dùng để trang trí ve áo tuxedo của ngài Bond trong từng điệp vụ.

bond girls2

Nàng có thể là bất cứ ai, miễn sở hữu một thân phận ly kì và một thân hình đẹp. Nàng có thể là chiến hữu hay cừu nhân, nàng cũng có thể là nạn nhân hay thân chủ. Nhưng điều rất quan trọng cần được phân biệt rõ ràng, trùm tình báo mang bí danh M, dẫu là người đàn bà cực kì quan trọng trong mọi cuộc phiêu lưu, phần số và tâm hồn 007, bà ta không hề được tính là một Bond Girl. Ngoài ra, đồng sự Miss Moneypenny cũng bảo toàn một mối quan hệ chiến hữu với Bond khá trong sáng, dù ở phần cuối của điệp vụ Skyfall, có những chi tiết cho thấy cô hoàn toàn có khả năng đã từng đứng vào hàng ngũ Bond Girls.

Dẫu đa dạng đa chủng đến mấy, tộc người ưu tú “Bond Girls” cũng có những mẫu số nhận biết chung. Thoạt tiên là những thân hình tuyệt hảo, thường xuyên được lồng tuyệt khéo trong những bộ trang phục hơi ngầu kiểu nam tính, kiên nghiệt, điểm một vài món trang sức góc cạnh, dây lưng da to bản và giày da mũi vuông. Nhưng họ còn phải có khả năng xuất hiện đột ngột trong vẻ đẹp lẫy lừng đàn bà tính, những bộ váy dạ tiệc dính trượt trên da, váy ngủ satin, push-up bra thượng hạng, bikini trang trí súc lục, và thi thoảng chỉ có một lớp dầu bóng trơn trượt trên mảnh thân trần.

You-Only-Live-Twice-Girls Bond-Girls-6

Phần lớn Bond Girls tuân thủ ngặt nghèo làn da rám nắng, ngoại trừ các cô của thời kì đầu khi mốt nhuộm da chưa thịnh, hoặc những kiều nữ Đông Âu.

Tóc lại là một phạm trù mênh mông đối với các Bond Girls. Họ có thể là các nàng có mớ tơ vàng hoe như Mary Goodnight, đến màu hạt dẻ của Gala Brand, nâu sóng sánh như mật của Tatiana Romanova, xanh tím như Solitare, hay đen thẫm như Vesper Lynd. Hẳn nhiên, đó là những cô nàng có khuôn miệng rộng háu tình, phần lớn có màu mắt xanh, thậm chí xanh như màu Tiffany, long lanh giữa sắc xám và ve chai mắt mèo. Đặc biệt Pussy Galore sở hữu đôi mắt huyền vi tím thẫm – người đẹp mắt tím duy nhất trong trải nghiệm tình sử của James Bond.

Trong khi nàng Vesper Lynd xuất hiện trong Casino Royale với tất cả mọi nét thuần chủng Bond Girls kinh điển ở trên, thì Dominetta Domino Vitali bằng mọi cách trở thành hình ảnh trội bật với sandals da trắng, da rám nâu, tóc bồng kiểu Bardot và các nét trên khuôn mặt đều yêu kiều nhỏ nhắn, thay cho khuôn miệng rộng của những nàng man-eater truyền thống.

james_bond_girls_03

Mẫu đàn bà ưa chuộng của Bond, hẳn nhiên, không chỉ là những tiêu chuẩn về ngoại hình và thời trang. Chàng thích những cái tên hoặc bí danh ly kì, mà điển hình nhất là Pussy Galore, Solitaire (tên thật của nàng là Simone Latrelle), và Tiffany Case (do thân phụ cô này tức tối vì cô sinh ra không phải là nam tử, ông đưa cho mẹ cô 1000 đồng và một hộp phấn Tiffany rồi bỏ đi). Hay như Vesper Lynd, nghe như West Berlin được nói trại theo âm sắc Đức Ngữ, ám chỉ tư cách điệp viên hai mang của cô nàng. Đương nhiên, chàng cũng không chối từ các nàng có danh tánh bình thường.

Dù không nhan nhản những pha cụp lạc phòng the, nhưng chỉ một số tình tiết khơi gợi đủ để người xem hiểu rằng Bond là anh chàng không chối từ ân huệ ái tình từ những cuộc phiêu lưu trời cho ấy. Nhưng không phải cô gái nào của Bond cũng là những tiểu thư đến từ số phần nhung lụa. Rất nhiều trong số các nhân tình của chàng từng bị hãm hiếp, hay là nạn nhân của bạo lực tình dục. Họ mất niềm tin và kỳ thị nam giới (đương nhiên là cho đến khi gặp Bond): Tiffany Case không những bị cha bỏ rơi từ khi mới lọt lòng, mà lớn lên còn bị hãm hiếp tập thể từ khi vị thành niên, cả nàng Honey Ryder cũng cùng chung số phận. Pussy Galore thậm chí bị cưỡng hiếp từ khi 12 tuổi bởi chính chú ruột. Solitaire có một quá khứ may mắn và trơn tru hơn, nhưng nàng vẫn còn tân đến tận cuối phim. Giai nhân Đông Kinh Kissy Suzuki cũng cay đắng kể về sự kỳ thị khi nàng đến Hollywood lúc 17 tuổi “Họ nghĩ vì tôi là người Nhật nên tôi như một loài vật, và thân thể tôi là thứ dành cho tất cả mọi người”.

james_bond_girls_20

Không chỉ ở trong hồ sơ quá khứ, mà ngay cả trên màn bạc. Lupe Lamora bị chính người tình Franz Sanchez hạ nhục trong Licence to Kill, chung số phần là ngư nữ mĩ miều Andrea Anders trong The Man with the Golden Gun. Nàng nuôi hận nên âm thầm gửi Bond một viên đạn bằng vàng để tố cáo gã nhân tình máu lạnh Francisco Scaramanga và khuyến dụ Bond vào vai cứu vớt gái bơ vơ.

Bond không chỉ thành công ra tay bảo bọc giai nhân hoạn nạn, mà còn mang lại… niềm tin yêu cuộc sống đến với họ, bằng chứng là thay vì cạn kiệt lòng tin vào đàn ông, họ đều chuyển sang yêu thương thắm thiết, si mê và cuồng nhiệt tự nguyện trao thân cho người hùng lẫm liệt.

Nói một cách khác, Bond là quý ngài luôn có cho mình những cuộc tình ly kì theo khuôn mẫu, một kiểu tân văn học Danielle Steel cổ lỗ sĩ và đôi khi quá tay đến khôi hài. Trong điệp vụ Goldfinger, Pussy Galore trước khi gặp Bond là một ả đồng tính nhưng lại say đắm hiến thân cho Bond. Ngay trên giường, chàng không dấu sự hiếu kỳ “Tôi tưởng em chỉ yêu đàn bà?” Và nàng đáp “Tôi chưa bao giờ gặp một người đàn ông thực thụ trước đây!”

goldfinger_goldcorpse 

Di vật của Fleming

Đàn ông muốn được như chàng, đàn bà muốn có chàng, một số khác chỉ đơn giản là muốn lại gần chiêm bái cái đồng hồ lấp loáng dưới ống tay áo tuxedo của chàng.

Ngay từ lần ra mắt màn bạc đầu tiên trong điệp vụ Dr.No, Bond đã hãnh diện trưng phô chiếc đồng hồ như một vật cực kì quan trọng đối với tư cách nam nhân của chàng. Chàng lẫy lừng với bộ sưu tập những Rolex, Breitling, Hamilton, Seiko và Omega. Nhưng không chỉ là những chiếc đồng hồ có thể nằm trên bất cứ cái cổ tay dân chủ nào. Đó là những phiên bản đặc biệt gây nên những cuộc săn lùng tuyệt vọng của thói đua đòi không phải là không có ở cánh mày râu.

pierce brosnan watch

Từ khi tạo nên một James Bond từ chính cuộc sống của bản thân, Ian Fleming đã hào phóng “tặng” luôn cho đứa con tinh thần của mình chính chiếc đồng hồ Rolex ưa thích của ông. Chỉ đến điệp vụ thứ 11 của Bond ấn hành năm 1963, Fleming mới cung cấp đoạn miêu tả đặc biệt hình ảnh Bond, vào một đêm biếng nhác, đưa mắt liếc vào “chiếc Rolex Oyster Perpetual kềnh càng có quai kim loại” trên cổ tay. Đó là một chiếc Rolex Explorer I cực kì đàn ông tính. Một cách cụ thể hơn, về chiếc đồng hồ của Fleming, đó là model 1016 với mẫu dây đeo 7206, bằng thép không rỉ, mã sản phẩm 596851.

ian's rolex

Con gái riêng của vợ ông, Fionn Morgan, cho rằng đó chính là chiếc đồng hồ Rolex chung thủy đầu tiên và duy nhất của nhà văn. Sau khi ông mất vào năm 1964, chiếc đồng hồ huyền thoại được giữ trong một ngăn an toàn ở nhà băng cho đến khi bà quả phụ Ann Flemming qua đời vào năm 1981. Một lần nữa, sau gần 2 thập niên, chiếc Rolex trứ danh lại được phản chiếu lấp lóa ánh sáng ban ngày.

rolex-explorer-1016-jbw007-20100201v500

Điều kì diệu nhất, đó là nó vẫn hoạt động bình thường khi được lấy ra khỏi két sắt, theo lời kể lại của Morgan. Món gia bảo lẫy lừng ấy được tặng lại cho con rể của bà Morgan.

Chiếc Rolex nổi tiếng này được trưng bày tại triển lãm Ian Fleming Centenary nhân ngày sinh lần thứ 100 của ông – 28 tháng Năm, 2008. Bảo tàng Chiến tích Hoàng gia Anh đã lên kế hoạch cho cuộc trưng bày kéo dài 45 tuần mang tên “For Your Eyes Only: Ian Fleming and James Bond.” Mary Gibson, con gái của Fionn Morgan đồng ý cho mượn chiếc đồng hồ mà bấy lâu nay chồng cô vẫn đeo, cùng hàng loạt những vật dụng cá nhân của Fleming có xuất hiện trong thế giới của Bond.

bond's watch

7 lí do vì sao phụ nữ mê James Bond

  1. Bond tự tin. Điều đó khiến chàng gợi tình. Chàng có sự ngổ ngáo của kẻ nắm chắc phần thắng trong mọi cuộc đấu – thứ bản năng của con thú mạnh ắt nhiên sẽ thu hút bản năng kén chọn của đàn bà. Trên thực tế, không chỉ với đàn bà, mà cả đối với đàn ông, không ai bị quyến rũ bởi sự khiêm tốn cả.
  2. Chàng luôn bình tĩnh, ngay cả khi luôn ở trong tình trạng nắm chắc cái chết. Chàng không bao giờ có một động tác thừa, bị chi phối bởi cảm giác run sợ, hoảng loạn hay giận dữ. Người ta không có một James nhảy chân sáo ôm một bó hoa to đến tặng người đàn bà, đấm tay lên tường khi nổi giận, hoặc trốn ra chỗ vắng hét to để xả stress. Khi tặng hoa cho phụ nữ, nếu đó là Bond, đó sẽ chỉ là một cành hoa – cành đẹp nhất. Ngay cả trạng thái hạnh phúc cũng không khiến chàng có bất cứ hành vi, động thái nào thừa thãi. Chàng luôn nói đủ chậm, không bao giờ liến thoắng và tuyệt nhiên không ấp úng. Ánh nhìn của một sát thủ siêu hạng có khả năng tập trung cao, chàng không bao giờ đảo và chớp mắt một cách thừa thãi, đây cũng là một chi tiết luôn khiến phụ nữ phải lòng.
  3. Bond không bao giờ bận bịu cho việc phô phang cái cõi lòng của chàng đối với phụ nữ, và bằng cách đó, chàng kích thích bản năng của họ: bản năng tò mò. Nói một cách khác, một khi kích thích được bản năng phụ nữ, thì đó là một sự gợi tình. Chàng không hay cười, và đối với phụ nữ, một người đàn ông đang sung sướng một chuyện gì đó có thể đáng yêu, đáng làm bạn, nhưng không có gì là sexy cả. Chàng kiệm lời, luôn giữ lưng rất thẳng, và điều này kết hợp với một bộ tuxedo thượng hạng là một hình ảnh không thể cưỡng lại được đối với bất cứ người đàn bà có lương tri nào trên thế giới.
  4. Chàng uống Martini, đôi khi Bourbon, cho đến phi vụ cuối mới thấy chàng tỏ ra dân chủ và uống beer. Chàng thích rượu, điều này hứa hẹn cuộc mây mưa ngay lần hẹn đầu, nhưng tất cả chỉ như một tiềm năng hơn là một lời hứa.
  5. Hẹn hò trên một chiếc Aston Martin không hề là một tai họa. Và những cuộc bạc ngả nghiêng ở các casino vương giả, khi chàng vãi tiền mặt hào phóng như vãi đạn, dù là tiền túi hay tiền quỹ phủ phê của Cục Tình Báo, cái kiểu vung vãi ấy được coi là cực kì khả ái, ngay cả đối với các quý bà quý cô phong lưu.
  6. Bond không bao giờ cố công gây cười và không đánh đồng một thằng hề nhạt với sự lịch duyệt duyên dáng. Chàng nổi tiếng với kiểu nói ngắn gọn nhưng không cộc lốc, và lời tự giới thiệu trứ danh huyền thoại cine: “The name’s Blond – James Blond.” Nhưng chàng có thứ hài hước tưng tửng của dân Ăng-lê, đủ để hấp dẫn những phụ nữ biết coi khiếu hài hước là dấu hiệu của trí tuệ.
  7. Phụ nữ lãng mạn thích biến cố, âm mưu và các thảm kịch, và đó là món tráng miệng mỗi bữa của Bond. Điều này cuốn hút họ hơn cả những cơ bắp của chàng. Cô nàng năng động sẽ mơ mòng việc được tham dự trò mạo hiểm, các ả nhà lành sẽ hưởng thú giật gân an toàn trong vòng tay bách thắng. Khi trải qua một cuộc hẹn hò êm đềm quá, phụ nữ sẽ phải sáng tạo ra các âm mưu và thảm kịch, với Bond, họ hoàn toàn có thể thảnh thơi và thụ hưởng các biến cố đó. Đương nhiên, càng an toàn hơn khi chàng là một nhân vật tưởng tượng, và khi đó, người ta không thể thua, hoặc chết.

jamesbondDanielCraig

mẹ cả Cosmo

Túy Ca

Khi mà các cô các mợ diva thành thị tân thời ngày nay còn đang mải mê chạy theo thái độ sống lẫn tủ quần áo của Carrie Bradshaw trong Sex And The City, không mấy ai còn nhớ đến vụ chấn động New York hồi thập niên 1960 mang tên Sex and the Single Girl, cho đến gần đây, khi phiên bản gốc của Carrie Bradshaw thời ấy – bà đại tổng biên tờ Cosmopolita qua đời, ngày 13 tháng 08, chỉ 2 tuần sau khi bước khỏi chiếc ngai Mẹ Cả Cosmo.

Theo kinh Cựu ước Cosmo của các cô nàng phố lớn (bigtown-girls), tình dục là điều tuyệt vời nhất, bên cạnh ăn và thở. Helen yêu mến bà Hillary Rodham Clinton, trò buôn nhảm và những chuyện ly kì, bà là tín đồ của Donna Karan và Calvin Klein, yêu chồng, mê đàn ông cho vui, và nghiện sự nghiệp.

Nói một cách vắn tắt, bà đã là một Cosmo girl chánh hiệu.

Năm 1962, Helen Gurley chào đón tuổi 40 của mình với cuốn sách Sex and the Single Girl. Cuốn sách được xuất bản tại 28 quốc gia và giữ vững vị trí bestseller trong suốt năm đó. 3 năm sau, Helen Gurley đường hoàng đăng quang ghế tổng biên tờ Cosmopolitan đang hồi xuống dốc và cải mệnh cho tạp chí này ngay từ những ngày đầu nhậm chức. Trải qua suốt thập niên 1960 ấy, bà đã vào vai nữ tuyên giáo bạo miệng nhất cho ý niệm tự do tình dục trong đời sống nữ giới với những bài phỏng vấn, đặt các nữ nghệ sĩ tân thế hệ vào vai trò dẫn dắt, cùng những loạt bài tư vấn cho một phong cách sống đầy rủi ro nhưng gay cấn cho các nữ độc giả nhà Cosmo. Bà trang bị cho các nữ độc giả của mình ý thức về quyền năng nội lực mạnh mẽ của họ để sở hữu tất cả: ái tình, khoái lạc và tài chính – một cái nhìn mà ngay cả các nhà hoạt động nữ quyền mạnh mẽ nhất thời ấy là Betty Friedan và Germaine Greer, trong cuộc đấu tranh chung chung đại diện các bà nội trợ toàn tâm toàn ý tề gia, vẫn chưa dám công nhiên nhìn nhận. Với binh đoàn tinh nhuệ của mình, gồm những nữ nhân sành sỏi, có gout, diễm tình và táo tợn được lôi vào cuộc thánh chiến, Helen Gurley hình thành một chân dung đa sắc nóng hổi của thuộc tính “Cosmo girls”, về sau trở thành hình thái điển hình của sự văn minh và tiến bộ thật sự của nữ giới.

Nhưng những năm oanh liệt của vị công thần nhà Cosmo nhanh chóng bị lãng quên. Năm 1997, bà bị dời khỏi vị trí tổng biên Cosmo U.S. bởi sự xuất hiện của Bonnie Fuller. Vào thời điểm này, Cosmopolitan đứng hàng thứ 6 trong cuộc đua cháy sạp của các tạp chí Mỹ, và trong suốt 16 năm liên tiếp, giữ vị trí hàng đầu tại các hiệu sách của các trường đại học toàn nước Mỹ. Nhưng bà vẫn được trọng dụng tại hãng xuất bản Hearst và duy trì vai trò đại tổng biên cấp cao của toàn thảy 59 ấn bản Cosmo trên toàn thế giới cho đến ngày cuối đời – ngày 13 tháng Tám 2012 vừa qua.

Cẩm nang thụ hưởng của gái thành thị đơn thân

Nhìn lại những năm tháng với Cosmo Mỹ, bà đại tổng biên thở phào nhẹ nhõm và tự hào: “Đó là tờ tạp chí tuyệt vời. Nếu có một điều gì tôi muốn họ ghi nhận khi nhớ về tôi, đó sẽ là: bà ta đã tạo ra một thứ hữu ích. Các nữ độc giả của chúng tôi, họ luôn cần một cuốn cẩm nang để bước vào thế giới bản ngã của chính mình.”

Suy nghĩ đó đã được hình thành từ những ngày mới nhậm chức tổng lãnh tờ Cosmo Mỹ, bà đã thiết lập và cài cắm hệ thống ngôn ngữ riêng của một tộc người mới: các “Cosmo girl” – ngổ ngáo, gợi tình, thông minh lẫn ranh mãnh. Bà tự mô tả mình là một “mouseburger” (bánh mì kẹp chuột) – hàm ý môt phụ nữ không có lợi thế của nhan sắc thiên phú, nhưng có khả năng buộc bản thân phải học và làm việc cật lực để trở nên quyến rũ và thành công. Trên trang bìa Cosmo, Helen dàn trải những tấm dung nhan với những mái tóc kiểu sư tử cuồng nộ, những khe ngực sâu đắm đuối của nhiếp ảnh gia Francesco Scavullo, rồi thượng lên phía trên dòng tít “Không Gì Mau Mỏi Mòn Như Tình Dục – Sự Thật Về Nhu Cầu Tình Dục”. Hoàn toàn không hướng độc giả của mình vào một xu hướng lãnh cảm có kiểm soát, nhưng cho họ một quyền năng tự chiều chuộng và đặt bản thân lên chiếc ngai nữ hoàng tối thượng của riêng mình.

Hẳn nhiên, trong cái công thức tự chiều chuộng ấy, Helen hào phóng dành mấy trang ảnh thơm phức của thập niên 1970 cho quý ông, với bức ảnh kép Burt Reynold e ấp khỏa thân gây sóng gió rần rần suốt năm 1972 khói lửa.

Helen và lối ngôn luận ngả ngớn của Cosmo trở thành một cái gai cho không ít người, mà oái oăm phần nhiều là nữ giới, những cô gái trói cuộc đời nghiêm cẩn của mình trên những dãy bàn công sở. Cosmo đầy thái độ, nhưng thật thà đến sống sượng, đặc biệt là các chuyên đề “săn trai” đôi khi táo tợn đến mức nó khiến người ta nghĩ đến một cuốn cẩm nang dạy các cô gái quyến rũ sếp mình rồi nằng nặc đòi kết hôn.

Một phản ứng dữ dội khác đến từ nhà hoạt động xã hội Betty Friedan, với lời phán xét rằng các bài viết của Cosmo thuần túy là “sự vẽ vời viển vông về tình dục cấp độ tuổi teen”, nhưng về sau, chính bà đã thay đổi quan điểm và tôn vinh Helen rằng “bàn tay biên tập tài hoa đã trở thành nguồn cảm hứng mẫu mực cổ xúy cho tiến trình giải phóng phụ nữ.”

Song song với quyền năng của một nhà nữ cách mạng hợp thời, hẳn nhiên thái độ lộng ngôn của gái hư Cosmo đã mang lại hiệu quả kinh doanh ngoạn mục cho tờ báo. Chỉ trong vòng 4 số tạp chí, giá một tờ Cosmo trên sạp đã nâng từ 35 xu đến 50, và nhanh chóng đạt mức 60, song song với cuộc chạy đua quảng cáo của các nhãn hàng thời trang, mỹ phẩm và sản phẩm tiêu dùng. Đỉnh cao phát hành vào năm 1983 là 3 triệu bản in, rồi duy trì ở 2.5 triệu với giá 2,95USD mỗi tờ vào thời điểm Helen rời vị trí tổng biên tập ấn bản Cosmopolitan Mỹ.

Cosmo Girl tự làm luật và những phần thưởng dọc nẻo đường “hành pháp”

Các độc giả của Cosmopolitan không nghĩ rằng Cosmo-girls là mấy ả lẳng lơ rẻ thối. Nàng là cô người mẫu nõn nường ngoài bìa, nàng hoạt kê và thay đổi đề tài câu chuyện liên tục, sành sỏi mọi tin đồn hành lang, mau quên, chóng chán, có khả năng bắt chước mọi minh tinh với mức giá shopper ranh mãnh, và biết cách tự pha chế hỗn hợp mặt nạ cho công thức spa tại gia. Mẹ cả Cosmo tin mãnh liệt rằng một Cosmo-girl đích thực sẽ luôn có cách để trở thành một ai đó.

Vì đối với bà, “một ai đó” đồng nghĩa với danh tiếng, tài sản, sự trọng vọng, những người đàn ông. Nó còn đồng nghĩa với văn phòng riêng trải thảm giả da beo mềm lút chân, hoa dán tường đồng màu với ghế dựa, gương trang điểm và lỉnh kỉnh chai lọ mỹ phẩm, cùng một chiếc gối dựa thêu dòng chữ “Gái ngoan lên thiên đàng, gái hư đi tứ xứ”.

Đó còn đồng nghĩa với thứ quyền lực thừa đủ để chủ tọa một cuộc họp nội bộ với các tổng biên các tờ sở hội mặc bất cứ cái gì Mẹ Cả muốn, nó còn là chiếc đồng hồ Cartier mua năm 1967 với giá 400USD, sợi lắc vàng trên cánh tay của tập đoàn Hearst tặng nhân kỷ niệm 30 năm thành lập, và bốn sợi khác được giải thích là quà từ “mấy tràng bảnh trai, nhưng không phải nhân tình.”

Nó đồng nghĩa với đàn ông, tình dục không tình yêu, ái tình không hôn nhân, và hôn nhân không con cái. Helen dồn tụ mọi bản năng thiên chức và tờ báo của mình, chăm bẵm và điên cuồng bảo vệ, dồn cho nó mọi sự ưu tiên mà chính bản thân bà chưa bao giờ có được cho mình trước đây. Helen trở thành vị nữ thần hộ mạng của các Cosmo-girl, theo đúng kiểu một bà tiên đỡ đầu mà chính Helen thời xuân trẻ chưa bao giờ có.

“Tôi tin rằng hầu hết các cô tuổi đôi mươi cho rằng mình không đủ đẹp, đủ thông minh hay gợi tình. Họ không có thứ công việc đáng mơ ước, và một tỉ rắc rối nội gia. Nhưng họ cần nhìn thấy, đó là tất cả những nguyên liệu tự nhiên để có thể chuyển hóa thành những điều tuyệt diệu nhất. Và tôi thì kể họ nghe câu chuyện cuộc đời mình, cùng họ ham hố khai thác, vắt kiệt những chào mời của cuộc sống, và cầu khiến số phận chiều chuộng lại mình cho đến kỳ phỉ mãn.”

Bà “bánh mì kẹp chuột” đại diện cho những điều không nằm trong bất cứ tiểu thuyết nào: những cô gái không quá đẹp, không quá thông minh, nhưng làm việc ra trò nhất, dai sức và lì đòn nhất, để trở thành một tạo vật ưu tú, đồng tác giả với Thượng Đế để tự đạo diễn cuộc đời của chính mình – nơi họ thủ vai nữ chính hoàn hảo như mong muốn.

“Tất cả nằm ở khả năng tự tuân thủ cam kết. Tôi chỉ không bao giờ có thể hiểu những ai không làm được điều này. Mỗi người là một nhà làm luật, vậy hãy làm luật, và phần việc còn lại tùy thuộc vào sự tự trọng. Hãy chỉ làm những việc có lợi cho mình, và cho lí tưởng đã chọn lựa, và phần thưởng không cần đợi ở cuối con đường, bạn sẽ nhặt được những món quà kì diệu nhất dọc nẻo đường ‘hành pháp’ ấy của chính mình.”

Trước danh xưng là nhà hoạt động xã hội, Helen nhún vai xa lạ “Đối với các nhà hoạt động kiểu ấy, đàn ông là kẻ thù. Với tộc người Cosmo, ờ thì cũng có thù một số đàn ông đấy, nhưng ân ái với họ thì lại là điều cực hay ho, tuyệt diệu. Vậy thì nếu bạn là đàn bà dị tính, ắt nhiên, đối tượng tình dục của bạn phải là đàn ông. Vậy nếu tôi là một nhà hoạt động kiểu đó và bảo các cô gái Cosmo của mình rằng ‘Chúng ta sẽ không thèm làm tình nữa, bởi như vậy sẽ cần đàn ông, mà phụ nữ tiến bộ không cần đàn ông!’, trời ơi, tôi điên à?”

18 cuộc phiêu lưu của Helen Công Sở

Đường bệ trên chiếc ghế uy quyền và áp lực, Helen vẫn duy trì thân hình mỏng tang với chiều cao 5.4 feet và dao động cân nặng xê dịch trên dưới 100 pounds được duy trì hoàn hảo với chương trình tập luyện hợp lí và thực đơn ăn kiêng được tuân thủ với một sự cam kết sắt đá. “Chớ bao giờ mơ rằng bạn sẽ là một bà béo 60 tuổi gợi tình, và hi vọng những shot ảnh chụp tại một sự kiện từ thiện sẽ khiến bạn đẹp hơn là một ca sửa mũi hoặc căng da”, Helen thật thà thừa nhận mọi xảo thuật thẩm mỹ mà bà đã không hề dại dột chối từ để duy trì một hình mạo quý bà thanh tú từ trước ngưỡng oan nghiệt 60.

Helen Gurley đã không sinh ra như một nàng thiên nga nhan sắc. Sinh năm 1922 để lớn lên giữa lòng thời kỳ đại khủng hoảng, Helen Gurley đã biết tự xoay sở kiếm tiền tiêu vặt bằng chính những gì được trang bị từ nhỏ – cô đi dạy nhảy cho bọn trẻ con. Cha mất khi Helen lên 10, và thân mẫu, một bà giáo, quyết định chuyển đến Los Angeles, nơi mà nàng vịt con xấu xí Helen lấm tấm mụn đọc bài phát biểu đầu đời của mình ở tư cách học sinh tốt nghiệp xuất sắc của trường trung học John H. Francis Polytechnic năm 1939.

Với mảnh bằng tốt nghiệp, tương lai của vịt Helen xấu xí được hứa hẹn trước một đời nữ nhi công sở văn thư. Với kỹ năng đánh máy chữ và tốc ký được học ở trường kinh nghệ, trong chỉ 7 năm, Helen tham gia vào hội chứng chung của thanh nữ văn phòng, tức là nhảy cóc việc làm 18 lần, và một trong những trạm dừng bất kể ấy, khi dừng chân tại hãng đại diện quảng cáo Foote, Cone & Belding, khả năng viết lách của Helen mới được khám phá. Cô được giao thêm công việc của một copywriter. Sau một thời gian củng cố profile, Helen tiếp tục được Kenyon & Eckhardt rước về và trở thành copywriter sáng giá nhất ngành quảng cáo vùng bờ Đông Hoa Kỳ.

Nhưng chính những đồng nghiệp của Helen lúc này cũng không hay biết đây chính là quãng thời gian cô âm thầm tự trang bị những kinh nghiệm và mối quan hệ cần thiết cho một văn sĩ, một biên tập, và một người dẫn chương trình truyền hình về sau. Năm 1982, bà thật thà thú nhận với tờ New York: “Thế này nhé, tôi không nhớ nổi một nơi nào mình đã từng làm việc mà không có dan díu ái tình công sở với ít nhất một ai đó cùng chỗ làm”. Khi được hỏi điều đó có tính cả những vị sếp, bà trả lời: “Tại sao lại phân biệt đối xử với họ?”

“Không có sex, đời coi như bế mạc!”

Cùng với cuộc nhảy cóc sự nghiệp theo kiểu thời thượng của các city girl cả thèm chóng chán, giữa các phiêu lưu ái tình công sở, cuối cùng thì ở tuổi 37 – khi ấy được coi là muộn mằn, Helen bước vào cuộc phiêu lưu dài hơi hơn, được gọi là hôn nhân, với David Brown, vốn cũng từng nắm cương vị quản lý tại Cosmo, và về sau trở thành nhà sản xuất phim.

Chính ông là người khích lệ Helen viết sách, tạo điều kiện cho vợ tranh thủ viết lách vào những dịp cuối tuần, và giúp vợ đặt tên cho cuốn sách đầu tay “Sex an the Single Girl” – một đại cẩm nang lối sống gái độc thân phố lớn. Cuốn sách lập tức lọt bảng top sellers 1962, và cặp đôi bất bại chuyển tổ ấm lẫy lừng của họ đến New York. Các nhà làm phim mời chào Helen món 200,000 Mỹ kim hậu hĩ, nhưng không phải là cho cốt truyện mà cho cái tít quá chừng ngon tai, với Natalie Wood vào vai nhân vật mang tên Helen Gurley Brown nhưng hầu như chẳng thể hiện nét tính cách nào của phiên bản Helen gốc.

Ba năm sau đó, cuốn sách thứ hai được tung ra, với cái tên “Sex in the Office” (Tình Công Sở). Cũng trên đà thắng thế, cặp đôi đề xuất một ý tưởng tạp chí với hãng phát hành Hearst nhưng không thành. Bù lại, Helen gây ấn tượng mạnh mẽ và được Hearst mời về chăn dắt tờ Cosmopolitan khi này đang ngắc ngoải trên các sạp báo.

Sau khi về nhà Cosmo, khi này còn là ấn bản phổ cập thuần túy thời hậu chiến, với những mẹo chăm trẻ và công thức nấu ăn. Bà thẳng tay khai trừ hầu hết các chuyên mục và chỉ giữ lại phần cẩm nang ăn kiêng.

Không cần doanh số để chứng minh, ngay sau cuộc cải tổ này, người ta có “Chiếm lấy anh ta! Những chiêu thức quyến rũ thật sự hiệu quả” trên tờ YM, tờ Madamoiselle có “Hãy làm tình khi đèn sáng!”, Glamour thì giật tít “29 mẹo cho cuộc làm tình nhớ đời.”,  cùng “Khảo sát trải nghiệm tình dục” trên Marie Claire, trong khi Shape trịnh trọng đăng tít “Khoa học rù quến”.


Vị trí tổng biên của tờ Cosmo không dễ dọa Helen, bà tiếp tục dấn bước sâu hơn vào lãnh địa truyền thông, và làm host cho talk show “Outrageous Opinions” năm 1967, phủ sóng 19 thành phố với danh mục khách mời celeb sẵn sàng khai tất tật quan điểm cá nhân về tình dục lẫn những phạm trù mẫn cảm khác.

Nhưng đợt dội bom thị trường xuất bản chưa ngừng lại ở đó, với cùng lúc hai cương vị ở lãnh địa báo chí và truyền hình, bằng một cách nào đó, Helen tiếp tục tung ra 5 đầu sách: Having It All năm 1982 và 1993, vào tuổi 71, bà viết The Late Show, với tít phụ loằng ngoằng nhưng vẫn rất ngon tai: “Chiến Lược Tồn Tại Điên-Rồ-Một-Chút Nhưng Thiết Thực Cho Quý Bà Trên 50”.


Trong một cuộc phỏng vấn, bà thản nhiên đúc kết tinh thần tư tưởng của cuộc cách mạng riêng của mình bằng câu nói “Nếu bạn không làm tình, đời coi như bế mạc. Nó là thứ phân cách giữa các cô gái và các cụ cao niên”.

Trong suốt đời sống hôn nhân, cặp đôi bất bại nhà Brown vẫn chọn không có con. Helen không cam đánh đổi, và David ủng hộ bà.

Tạp chí, truyền hình, và “Having It All”

Nữ đại tổng biên Cosmopolitan Helen Gurley Brown, một trong những nhà hoạt động bình đẳng giới ồn ào và quyết liệt nhất, lại dường như tỏ ra tự mâu thuẫn trong lời tuyên bố “Nếu bạn không phải là đối tượng tình dục, bạn nguy to rồi!”, và gây ồn ào hơn nữa là câu nói trứ danh “gái ngoan lên thiên đàng, gái hư đi tứ xứ”.

Sự mâu thuẫn cực đoan trong hai vế ý thức hệ này cũng hiển hiện trong đời sống riêng tư của Helen, nơi mà từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế của thời ấu thơ, bà bước vào vị trí nữ quyền tân tiến, ủy lạo cho hình ảnh những cô gái vừa hoạt kê vừa gan góc nhan nhản trên toàn thế giới. Vậy mà trong suốt 32 năm tại vị nhà Cosmo, đương khi hô hào đàn bà con gái làm tình và thụ hưởng sự trâng tráo hợp thời trang ấy khi vén váy sải bước qua cửa miệng dư luận, bản thân Helen lại là một vị phu nhân rất mực thủy chung của duy nhất một người đàn ông, cùng lúc tự cho phép mình duy trì các thói xấu vô hại, trong đó có cả thói phù phiếm của thuật thẩm mỹ.

Trong khi Helen vẫn an toàn trong pháo đài hôn nhân lý tưởng của bản thân, thì ngoài kia, xã hội Mỹ sản sinh ra một thế hệ nữ công dân hoang đàng chi địa, mốt ái tình “chơi cho vui” lên ngôi, và tỉ lệ li hôn lẫn hội chứng trầm cảm, bệnh lây qua đường tình dục ở các ‘Cosmo girls’, và các ca nạo phá thai tăng điên đảo. Người ta quy buộc cho Helen dấu ấn tội đồ.

Nhưng cuối cùng, đã không ai nghĩ đến hàng loạt những tạp chí khiêu dâm dành cho quý ông như Penthouse và Hustler cũng đang tung bay như bướm trên mọi sạp báo Mỹ. Và, lời tự bào chữa của Helen lúc sinh thời: “Cuối cùng thì đàn bà đâu có làm tình một mình?”

Thẳng thừng qua tiêu chí của Cosmo, Helen công nhiên đề cao yếu tố tiền bạc, sự nghiệp và tình dục trong đời sống phụ nữ, dù không nhất thiết theo trình tự trên. Các “mục tiêu sống” này được hô hào ủy lạo trong suốt hàng thập niên các chuyên mục bài viết và cẩm nang hướng các Cosmo girl đến ngưỡng cảnh giới cao nhất của các kỹ năng sống rập khuôn: rù quến, làm đẹp, phô diễn năng lực, cạnh tranh, và giải trí nhẹ. Theo bà, “Cách mạng nữ quyền có chăng là một nhu cầu hướng đến sự sòng phẳng, hơn là khái niệm công bằng. Tôi là người làm truyền thông, và tôi chọn thực hiện cuộc cách mạng của mình một cách thực tế nhất, bởi thực tế nên là chất liệu duy nhất của tạp chí và truyền hình.”

Nhưng nếu thuần túy nhìn nhận Helen Gurley ở thông điệp của người đàn bà muốn có tất cả, và làm tất cả để có điều mình muốn, lại là một sai lầm lớn. Trong khi các nhà hoạt động khác khuyến dụ phụ nữ mạnh mẽ hơn trước các nhu cầu của thuộc tính đàn bà, thì Helen khuyến khích họ khai thác và thụ hưởng nó. Nếu việc bị coi là đối tượng tình dục là nỗi sỉ nhục với trào lưu bình quyền chung, thì Helen khuyên độc giả của mình kiêu hãnh và tận dụng thế mạnh đó. Những tiêu đề giật gân của Cosmo về “50 cách chiều chuộng đàn ông” là những thông điệp ngầm của Helen với một nửa còn lại của thực tế phòng the “…để có điều mình muốn”.

Nhưng phụ nữ thật sự muốn gì? Freud không trả lời được, và Helen lẫn các tín đồ Cosmo của mình cũng vậy. Như lão già gân Hefner và đế chế Playboy của lão, Helen tạo nên một đế chế đối lập, và còn là phiên bản giống cái của Thỏ Cột Nơ. Bà lột truồng cả Burt Reynolds lẫn Arnold Schwarzenegger lên trang bìa ruột cho chị em rửa mắt, xếp bên cạnh trang rao bán đồ trang sức rẻ tiền, vài chiêu giường chiếu kinh điển cùng các bài tư vấn về bệnh xã hội. Chủ nghĩa vật dục được hô hào to và rõ, và ngôn ngữ thân thiện xoa dịu cảm giác sống sượng của phiên bản Playboy có chữ.

Cosmo trở thành chân kinh của những phiên bản tiểu Helen – những cô gái với nhan sắc nhàn nhạt, trình độ tầm tầm để văn hóa đọc dừng lại ở một tạp chí lối sống với ngôn văn thân thiện và vài cuốn tiểu thuyết thời danh. Helen không khích lệ họ tự nâng cấp bản thân để gia nhập một thượng tầng xã hội hay tri thức. Bà xoa dịu họ, và cung cấp cho họ những cẩm nang khai thác thú vui thụ hưởng từ chính nhan sắc vừa chừng, mức thu nhập trung bình, và tất cả đàn ông trong mọi quán xá lẫn công sở Hoa Kỳ.

Helen mặc nhiên trở thành phần tử phiến loạn của chính cuộc cách mạng bình đẳng giới. Bà đã đạp lên lằn ranh tuyệt kỵ cuối cùng khi tự chọn cho mình việc không làm mẹ: “Tôi không muốn từ bỏ ngần ấy thời gian, yêu đương, và tiền bạc”.

Năm 1982, khi xuất bản cuốn Having It All, Helen đã viết cho chính những cô gái Cosmo của mình, những cô gái trẻ, độc thân, xứng đáng thụ hưởng mọi điều như bất kì người phụ nữ có chồng nào khác: tiền tài, sự nghiệp, và tình ái. Trong khi các tạp chí tiến bộ khác cân chỉnh cho người phụ nữ khả năng điều tiết giữa công việc xã hội và đại nghiệp tề gia, thì Helen cho rằng các cô nàng Cosmo cũng hoàn toàn xứng đáng tự dành cho mình những điều đó, có hay không có người đàn ông bên cạnh, như chính Helen đã từng làm, với những buổi dạy nhảy của mình trong tuổi thơ bĩ cực mà không có người cha bên cạnh. Hãy yêu đương, phiêu lưu, và cho phép người đàn bà được vuốt ve âu yếm, và khi người bạch mã hoàng tử xuất hiện, nàng sẽ đủ am hiểu để biết cách nhận ra nhà vô địch cuối cùng của cuộc đời mình.

Và như thế, Helen đã dành nửa thế kỷ lửa hương cho nhà vô địch mà bà mất 37 năm cuộc đời để tìm thấy, cho đến khi ông qua đời vào năm 2010.

Tình dục ngoài 50 dưới cơn mưa đá

Helen bảo thủ trong chính cuộc cách mạng của mình. Dẫu về sau, một chút cải tiến cho font chữ các hàng tít sinh động hơn, dàn trang hình ảnh phóng khoáng hơn, nhưng trong suốt hàng thập niên tại vị, bà kiên định với đường lối đã được lựa chọn và minh chứng. Đã từng có những tin đồn về một cuộc cải cách, thậm chí số hóa một số chuyên mục cho phiên bản điện tử, nhưng rồi Helen trấn an tất cả: “Đây là lần đầu chúng tôi thử làm một điều gì khác lạ và táo bạo. Tôi đã cố thỏa hiệp, cũng thử tự cải thiện cho tươi mới hay táo bạo gì đó. Kết quả là tôi thề sẽ không bao giờ thử trò này nữa.”

Bị “nhắc khéo” về sự bảo thủ của tuổi già, Helen nhún vai lờ phắt: “Tôi chẳng thấy mình giống một trưởng lão đáng kính và vô dụng chút nào cả. Tôi là vụ ngoại lệ. Tôi thường nổi khùng với một số người lớn tuổi, đặc biệt những người có cân nặng trên 195 pounds. Họ làm tôi phát cáu và phát ghê!”

Mặc dù với thân hình mỏng tang lá lúa, khi bị Page Six của New York Post liệt vào danh sách thảm họa ngoại hình, Helen sốc chao đảo: “Cả đời tôi đã phải thật sự lao động để cải thiện hình thức mình, làm tất cả những gì có thể. Cuối cùng là bị lên án bởi gầy quá, và như thể tôi ủy lạo cho việc phân biệt đối xử với mấy người bị béo phì vậy. Tôi không làm điều đó bằng việc tự gầy đi, chính họ tự  khinh bỉ thân thể họ bằng cách để mặc cho nó trương lên”.

Ngay cả cuốn sách cuối cùng của bà, cuốn cẩm nang tồn tại cho phụ nữ trên 50 tuổi, tuy không vào hạng bestseller nhưng cũng kịp làm không ít người khó chịu. Trong cuốn này, bà viết rằng phụ nữ không thể có chất lượng cuộc sống cao nếu không làm việc. “Còn chương viết về tình dục ngoài 50 tuổi nữa chứ, chương ưa thích của tôi, vậy mà là chương bị ném đá dữ nhất. Tóm cho gọn, chỉ là suy nghĩ: nếu bạn ngưng làm tình, bạn không còn là đàn bà. Thế là tất cả đồng loạt ném đá vào tôi.”

Ngay cả một số bạn bè của Helen cũng tỏ ra bị xúc phạm và thấy nhột nhạt khi cuốn “cẩm nang bà già ham vui” này cho rằng họ có thể ngủ với bạn của chồng cũng được, chỉ là sex thôi mà. Đâu có đi nghe hòa nhạc, thắp đèn cầy ăn tối, chỉ là sex thôi mà.

“Tôi đặt trọng vai trò của tình dục. Thủ dâm cũng được, nhưng làm tình với con người thật thì vẫn tốt hơn”. Ngay cả với bạn của chồng? Bà ngập ngừng một thoáng rồi cả quyết: “Tôi cho rằng không nên phân biệt đối xử thái quá với bất kì đối tượng nào.”

Tự nhận mình đã nếm khá đủ mùi cuộc chơi trước khi lấy chồng, Helen dành lời nhắn nhủ cho các Cosmo độc thân: “nếu bạn không thể tìm thấy cái gã cưỡi ngựa trắng trên trán có đánh dấu dành sẵn cho bạn, thì đừng có lấy chồng, trừ khi bạn học được cách hài lòng với tình yêu của một anh chàng kha khá, rồi tự tay dạy chàng cưỡi ngựa trắng, uốn nắn hành xử cho chàng cho đến khi bạn có thể hầu như tự hài lòng.”

Chính bà là người ủng hộ việc tung chi chít lên trang bìa những rãnh ngực sâu hoắm năm 1965, một cuộc cách mạng hẳn hoi vào thời kì ấy. Nguyên tắc cơ bản về nội dung thì không khác mấy so với mấy cuốn sách dạy nữ công gia chánh, với phương châm: cứ tuân thủ theo công thức và hướng dẫn, rồi bạn cũng sẽ trông như thế này!

Và chỉ với sự thân thiện hào phóng như thế, các Cosmo girls thật sự đã đi tứ xứ, như Coca Cola có thêm bộ ngực nóng bỏng vậy! Sự khác biệt giữa Helen và một nhà hoạt động bình đẳng giới chính chuyên, đó là nhà hoạt động tin rằng phụ nữ bình đẳng với nam giới, còn Helen tin rằng gái độc thân bình đẳng với gái có chồng.

Vĩnh biệt Mẹ Cả

Hai tuần trước khi Helen qua đời, các nguồn tin kên kên bên ngoài cổng tập đoàn truyền thông Hearst bắt đầu hỉ hả rúng động với tin bà sẽ rời vị trí đại tổng biên sau những thập niên lẫy lừng tại vị. Người ta lại nhớ đến một cuộc sa thải dịu dàng với danh dự tổng biên Cosmo Mỹ để dẹp chỗ cho kẻ kế vị Bonnie Fuller 39 tuổi. Helen lịch thiệp cho rằng đây là lẽ tất nhiên “Sẽ chẳng hay ho gì khi để một lão yêu tinh già như tôi ngồi biên tập những trang báo cho mấy nàng gái phố lớn 23 tuổi. Họ đã làm điều đúng đắn, và thực thi nó một cách nhã nhặn.”

Những ai biết rõ hơn về Helen sẽ hiểu rằng đây không phải là một cuộc từ nhiệm êm ái. Cosmo-girl lâu năm ấy chưa bao giờ tự chuẩn bị cho mình để trở thành một cụ bà cao niên lẩn khuất thư nhàn và bị lãng quên, bà chưa bao giờ sẵn sàng để ngừng làm việc, cũng như việc Helen ở tuổi 90 vẫn đều đặn tập thể hình, và cầu viện đến thủ pháp căng da mặt – bà thậm chí chưa sẵn sàng để ngừng yêu đương. Các độc giả của số Cosmo đầu tiên giới thời Helen, giờ cũng đã chí ít tầm 50 tuổi, và khẩu khí của Helen, từ số tạp chí năm 1965 đến nay, vẫn không hề thay đổi.

Năm 1988, Helen bị công kích dữ dội khi cho phép đăng bài viết về AIDS, trong đó viết rằng quan hệ tình dục dị tính không mang lại nguy cơ lây nhiễm cho phụ nữ, ngoại trừ một số tư thế nhất định. Helen bị lên án đã hồ đồ, thiếu kiến thức và vô trách nhiệm. Kể từ đó, tờ Cosmo hầu như không còn đề cập đến đề tài căn bệnh thế kỷ, nhưng bản thân Helen lì lợm thì vẫn không có vẻ gì là thay đổi quan điểm cá nhân.

Đã có cả một cuộc cân nhắc chuyên nghiệp nhất để tính toán cho sự thay đổi của tờ báo sau những thập niên dưới tôn chỉ tuyên giáo của Mẹ Cả Cosmo, và tập đoàn Hearst đã có điều họ cần – một thực tế duy nhất để thải hồi vị nữ thần vệ quốc sớm 18 tháng trước hạn định của hợp đồng trách nhiệm. Mẹ Cả kiêu hãnh trả lời “Tất cả vụ om sòm này đến tai tôi sau cùng, và tôi là người hết hồn khi biết tin. Đơn giản là tôi chả đang rời đi đâu cả.”

Hai tuần sau khi tin đồn phát tán, tin tức nóng hổi được xác thực duy nhất từ nhà Cosmo là cái chết của Helen.

Frank A. Bennack Jr., CEO của tập đoàn Hearst bùi ngùi vĩnh biệt vị nữ đại công thần quá cố: “Helen Gurley Brown đã là một biểu tượng. Nguyên tắc trung thực và thẳng thắn mà bà vẫn luôn cổ xúy độc giả cùng áp dụng vào cuộc sống, các mối quan hệ, sự nghiệp, và cả vẻ đẹp đã cải mệnh cả nền công nghệ báo chí. Bà đã sống dày và giàu từng ngày trong cuộc đời ấy, và bà sẽ vĩnh viễn được tưởng nhớ như một Cosmo Girl đúng nghĩa. Chúng tôi sẽ rất nhớ bà!

Vâng, và chúng tôi sẽ rất nhớ bà, Helen!

bạch mao nương

Túy Ca

Là tàn dư sống sót từ “kỷ haute couture” hoàng huê kiều mị, Nàng sở hữu một nhan sắc của loài hồ ly thành tinh mà hóa thánh – vừa gợi tình, u mặc, vừa ngạo mạn tôn nghiêm. Nàng là nhân chứng hoàn hảo cho tinh túy nhan sắc Đàn Bà.

Như chính dòng nước hoa trứ danh Nàng từng đại diện, Carmen Dell’Orefice đã có những note hương đầu tươi tắn của tuổi 15 hoàng hoa hiển hiện sắc hương dậy thì trang bìa nhà Vogue, một tầng hương giữa vừa nồng nàn mùi hormon đàn bà, vừa u thảm những chuyến đò bến đục, của xa hoa, khánh tận, và đam mê. Nhưng nhan sắc madame Carmen mới thật sự lộng lẫy ở những note cuối cùng, quý phái dư sắc trầm hương của giai nhân 80 tuổi – người mẫu cao niên nhất của lịch sử catwalk thời trang.

Cuối thập niên 1950, cả thế giới mắc chứng ngứa ngáy hàng loạt bởi câu nói của đào Monroe rằng nàng chỉ ‘khoác’ vài giọt Chanel No.5 lên người khi đi ngủ. Người ta coi người đẹp tóc vàng này là một đại sứ vinh hiển cho danh tiếng nước hoa No.5 nhà Chanel. Trong khi đó, ngược chiều đám đông, bà Coco lại chọn một người đàn bà khác cho những shot ảnh quảng cáo lọ nước hoa bất hủ kia: Nàng có một khuôn mặt thanh tú, đôi gò má bén ngót, chiếc cổ của loài linh dương, nụ cười mệnh phụ quý phái và đôi mắt yêu tinh. Shot ảnh, cũng như dòng nước hoa và chính người đàn bà trong ảnh, trở thành những chuẩn mực trường tồn.

Nửa thế kỷ sau, No.5 vẫn ngự ngai chí tôn của dòng mùi hương xa xỉ, và mệnh phụ tóc trắng Carmen Dell’Orefice lại vừa sải bước hồng hạc trên catwalk mùa SS2012 vừa qua, sau khi mừng sinh nhật tròn 80 tuổi và học hàm tiến sĩ danh dự của trường Đại học Nghệ thuật London.

Như những note cuối của dòng hương tuyệt tác, nhan sắc của người đàn bà khi lắng xuống như note trầm đằm thắm trong sự quý phái đến mức tôn nghiêm, đó là khi dung nhan trở thành khí chất, và hóa thánh cho người đàn bà sặc sụa vẻ quý phái được giới hậu đài mọi sàn diễn couture kính cẩn gọi bằng hỗn danh The Countess (Bà Bá Tước).

Nàng ballerina của Dalí

Là kết quả cuộc dan díu tồi tệ đủ để nảy mầm một nhan sắc mặn mòi nhất nhì trong lịch sử loài người, sự kết hợp hoàn hảo giữa cái ngạo mạn hoang dã của tay nghệ sĩ violin Ý, với vẻ thanh tú uy nghiêm của một vũ nữ ballet Hungary, Carmen đã trải qua tuổi thơ vạ vật ở viện tế bần, trải qua cơn bệnh thập tử nhất sinh ở tuổi 12, được phát hiện trên một tuyến xe bus ở tuổi 13 và xuất hiện trên bìa Vogue chỉ 2 năm sau đó; 3 đức ông chồng, 3 bận phá thai và 2 lần phá sản, nàng vẫn lộng lẫy xuất hiện tại mọi tuần lễ thời trang từ Paris đến New York, nàng đốt nóng sàn diễn của những thiên tài đương đại từ Thierry Mugler, Jean Paul Gaultier đến John Galliano bằng ngọn lửa bạch kim trên mái tóc bồng, khuôn mặt của yêu nữ thành tinh với cặp lưỡng quyền có thể dùng để cắt bánh mì.

Cách đây 67 năm, sau shot ảnh đầu đời do Herman Landschoff chụp thử, mẹ nàng nhận được lá thư từ chối khéo léo rằng “cô Carmen Dell’Orefice tuy rất khả ái, nhưng đáng tiếc, không mấy ăn ảnh”. Carmen lại tiếp tục cam chịu sự chê bai chì chiết từ bà mẹ nghèo nhưng cầu toàn đến khắc nghiệt. Cho đến nay, đã là cụ bà cao niên hiếm có, Carmen vẫn rùng mình khi nhớ lại “Tôi bị phũ phàng tước sạch mọi sự tự tin, đến đôi tai của mình cũng khiến tôi ngượng ngùng vì xấu hổ”. Chỉ có người cha đỡ đầu của cô đã không tin vào điều đó. Ông âm thầm gửi bức ảnh đến tòa soạn nhà Vogue. Một năm sau đó, hình ảnh của Carmen đã xuất hiện lẫy lừng trên trang bìa tạp chí này.

Ngày ấy, nàng chỉ là cô gái nhỏ còi xương đang chơi trò tình yêu với cậu con trai nhà bán tạp hóa trong xóm, và thoắt trở thành nhan sắc trang bìa của một trong những tờ tạp chí thời trang hùng mạnh nhất toàn cầu, nhưng vẫn trượt patin đến studio để tiết kiệm tiền đi xe bus.

Chính trong thế giới thời trang, Carmen tìm được cho mình người mà nàng coi như người mẹ thứ hai – người mẫu thượng hạng Dorian Leigh. Nàng hay gọi bà là “má”, còn Dorian trở thành thân chủ của những chiếc váy do nàng và mẹ nàng may.

Dorian Leigh

Má Dorian cho nàng một ít tiền để đi taxi đến nơi làm việc, còn nàng dùng tiền đó để mua thức ăn mang về nhà. Năm 1947, với sự can thiệp của “má Dorian”, khoản thu nhập còm cõi của cô gái trẻ được nâng lên mức 10 dollar mỗi giờ và thậm chí đến 25 dollar với các shot hình quảng cáo.

Ở tuổi 16, Carmen trở thành một trong những người mẫu trang bìa trẻ tuổi nhất của Vogue, là cục cưng của các nhiếp ảnh gia khét tiếng nhất cùng thời. Shot ảnh bìa cho Harper’s Bazaar năm 1960 do Melvin Sokolsky chụp mang tên Carmen Las Meninas đã trở thành bức ảnh huyền thoại được phổ biến và săn lùng khắp thế giới.

Với một sự xanh xao, dáng điệu kiêu kỳ, và khả năng tạo dáng siêu phàm với đôi cánh tay như cặp chân loài hồng hạc, Carmen chính thức trở thành nàng thơ của danh họa thiên tài Salvador Dalí.

Quyền lực của hormon đàn bà và gã bần tiện tốt số

Đến thời điểm này, trái với sự chờ đợi của hãng đại diện người mẫu và tờ Vogue, nàng thiên nga con vẫn chưa chịu thật sự bung nở vào vẻ đẹp thiếu nữ đến thì. Thất vọng với cô nhỏ còi cọc, hãng Eileen Ford từ chối tiếp tục đại diện cho Carmen, trong khi nhà Vogue cũng tỏ ra thờ ơ nhạt nhẽo, còn các photographer cũng đã chán ngấy việc phải chờ stylist nhồi khăn giấy vào áo ngực của cô thiên nga chậm lớn.

Đó là khi Carmen phải cầu cứu đến y học và những mũi tiêm để kích hoạt các dấu hiệu dậy thì. Như một lối thoát sự nghiệp hơn là một đòn trả đũa, Carmen bắt đầu nhận lời chụp catalog và nội y, với đôi bàn tay dài muốt che khuất gương mặt và mức lương vọt lên đến 300 dollar mỗi giờ.

Với lượng hormon đàn bà được kích phát bởi sự can thiệp của y học, Carmen một lần nữa ngự thế thượng phong làng mẫu với những đường cong ngốt người và sự già dặn bắt đầu nhuốm màu trên khuôn diện tiểu nữ thần.

“Khi này tôi mới 17 nhưng trông như một bà 35”. Cả một dạ tiệc đã được tổ chức long trọng để giới thiệu tiểu thần nữ vừa chín tới với các quý ngài trẻ của New York. Nàng nhanh chóng thu hút được sự ngưỡng mộ của các công tử hoang đàng phố lớn, từ tay chơi De Cicco, Igor Cassini cho đến Joseph P.Kennedy.

Nhưng tầm ngắm của giai nhân lại dừng lại ở ngài William Miles chững chạc, hơn nàng những 10 tuổi và là một doanh nhân. Nàng thuận ý kết hôn, và nhận ra mình chỉ đơn giản đã gia nhập một hãng đại diện tồi tàn và keo bẩn nhất trong lịch sử. Đức lang quân cương quyết bắt nàng phá thai, thâu tóm mọi món thu nhập của nàng, hàng tuần đích thân đến hãng nhận tiền lương của vợ và chi cho carmen 50 dollar mỗi tuần dằn túi. Nàng ly dị chồng ngay sau khi bé gái Laura ra đời, như nghiệp mệnh để lại từ mẹ nàng. Tóc nàng bắt đầu trổ bạc từ đấy. Đến tuổi 43, Carmen quyết định chấm dứt việc nhuộm tóc khi toàn bộ đã chuyển sang màu trắng bạc, cho nàng một vẻ uy nghiêm nửa như một nữ thần, nửa xa lạ như một loài linh thú diễm kiều, chính thức vĩnh biệt hình ảnh đằm thắm của nàng ballerina tóc mun.

Nhiếp ảnh gia cơ hội, một gã nghiện, và một xác chết

Không phải mất quá lâu để nàng lại khép cánh tình hồng hạc vào vòng tay nhiếp ảnh gia Richard Heimann sau chỉ 6 tháng quen biết. Thiếu phụ ngờ nghệch say sưa với cuộc hôn nhân mới và rắp tâm nghỉ hưu non để chuyên chú nghiệp tòng phu, và gã nhiếp ảnh gia cơ hội bỏ rơi nàng ngay tức khắc.

Chuyến sang sông lần thứ ba của nàng cũng diễn ra không lâu sau đó, với kiến trúc sư Richard Kaplan. Lời thề “cho đến khi nhắm mắt” trên thực tế kéo dài chưa đến 10 năm. Chàng hóa ra là một con nghiện hạng nặng, và họ chia tay khi Carmen khám phá ra việc đức phu quân lôi kéo cả cô con gái riêng của nàng là Laura vào vũng lầy ma túy. Về sau, Laura trở thành chuyên gia tư vấn cai nghiện có tiếng tại California.

Sau cuộc ly dị cuối cùng, giai nhân tuyệt vọng thất thểu trở về sàn diễn, và từ đó đến nay, dù vẫn dập dìu lên xuống vài chuyến đò tình tròng trành và chóng vánh, Carmen không còn rời bỏ sự nghiệp lần nào nữa – nàng dành sự chung thủy duy nhất cho điều sẽ không rời bỏ nàng. Và quả tình, sàn catwalk chưa thủy chung bền bỉ với bất cứ người mẫu nào như với Carmen.

Điều kì lạ là Bạch Mao Nương vị tình vẫn tiếp tục giúp đỡ các ông chồng của nàng ngay cả sau này. Nàng khuyên Ông Ba trở thành tay máy điện ảnh, chi trả mọi khoản để ông này trở thành đạo diễn, và cuối cùng thì phim Godspell cũng ra đời. Carmen xoa tay tâm đắc “Ít ra, có một số khoản đầu tư của tôi cũng có ích đấy chứ!”

Mãi đến cuối thập niên 1980, nàng rón rén thử thời vận một lần nữa với David Susskind – một host truyền hình lịch lãm. Nhưng quý ngài talkshow lăn ra chết trước ngày cưới, tưởng như chấm dứt mọi cố gắng cuối cùng của madame đa tình Carmen.

Nhan sắc lưu vong trong vòng tay tài phiệt

Cuộc đời người đàn bà có nhan sắc của mụ phù thủy hoạt hình ấy hẳn không hề là một chuyện thần thoại màu hồng. Nhưng tư chất kiêu hãnh tự tại, sự vô ưu khoáng đạt trong triết lý sống, mặc nhiên với mọi biến cố của số phận và con người ném về phía mình khiến người đàn bà trở thành một thánh mẫu uy nghiêm và vô nhiễm.

Không hẳn nàng là thể loại “lạc quan không khoan nhượng” với một niềm đam mê và tham vọng cào cấu bên trong để dằng dai bám trụ trong giới phồn hoa của thời trang cao cấp. Điềm tĩnh và thăng bằng hoàn hảo như một tư chất tối ưu của một vũ công ballet, nàng đào luyện cho riêng mình một nụ cười mềm mại, bí ẩn, nửa vị tha nửa mai mỉa vào mọi cú đá của số phận, nhưng vẫn ủy mị đàn bà đủ để thốt lên đầy sầu thảm “Than ôi, tôi biết làm gì khác đâu nào!”, rồi giang đôi cánh tay yêu kiều với những ngón dài hoa mỹ trong một dáng vẻ vừa bất lực, vừa sang cả đến cầu kỳ.

Nàng là nàng thơ của những cái tên khắc dưới chân mọi tượng đài, từ Horst, Avedon, Penn và Parkinson, cho đến thiên tài cổ quái Salvadore Dalí. Và nàng hẹn hò dan díu cũng với không ít trong số đó, mà nổi tiếng và ồn ào nhất là nhiếp ảnh gia Norman Parkinson. 41 tuổi, họ gặp nhau tại một bữa tiệc, ông khen rằng nàng “trông không đến nỗi nào so với một cái túi xương cũ nát” và khuyên nàng quay trở lại sự nghiệp người mẫu. Dalí tôn thờ nàng, còn “người đàn bà mặc quần và nhảy múa” Dietrich thì có lần lau dọn bếp cho nàng. Đó là một cuộc đời mà ký ức được nạm óng ánh bởi kỷ niệm, khuôn mặt và dấu ấn tài hoa của những siêu sao, thiên tài và huyền thoại.

Nhưng ánh hào quang của các tinh hoa thiên tài chỉ là thứ tài sản quá trừu tượng cho đời sống một bậc nhan sắc, còn những quý ngài trẻ tuổi si mê bộ môn tình ái với các quý bà độ tuổi mặn mòi lại không đam mê chiến tích cưu mang một nữ hoàng thất thế.

Nàng chọn đặt mình vào vòng tay tài phiệt. Trong những năm 80 và 90, Carmen thua toàn bộ tài sản vào thị trường chứng khoán, khánh tận đến mức phải đấu giá toàn bộ những bức ảnh quý từ thập niên 40, trao tất cả cho nhân tình là Norman Levy để đầu tư cho Madoff trong canh bạc chết người của thị trường tài chính. Trong suốt 12 năm, vợ chồng nhà Madoff cùng cặp đôi Carmen – Norman luôn thân thiết cặp kè cùng nhau như một gia đình hảo hữu tầng thượng lưu.

Có vẻ cuối cùng, Bạch Mao Nương đã tìm được chiếc áo vừa vặn, ấm áp và thừa lộng lẫy xa hoa để xứng hợp với mình: một người tình, và một nhà tư vấn đầu tư ngoại hạng.

Vụ lừa thế kỷ, và thứ tài sản không thể tịch biên

Levy mất năm 2005 khi 93 tuổi, để lại cho người tình cuối đời của ông là Carmen toàn bộ tài sản trị giá 244 triệu Mỹ kim, nhưng dưới quyền thừa hành và cai quản của hảo hữu Madoff.

Carmen khép cánh phù dung, sống an nhàn và vô ưu thụ hưởng trong sự tin cẩn tuyệt đối mà Levy dành cho Madoff – kẻ nắm trong tay vận mệnh tài chính của người đàn bà phù phiếm. Nàng Carmen âu sầu và đơn độc đều đặn đi ăn tối cùng người bảo trợ khôn ngoan và ân cần, nhưng những lần này không còn sự hiện diện của phu nhân Madoff.

Cùng lúc, thâu tóm quyền quản lý và đầu tư tài sản của Levy, Madoff dùng con số mê hoặc 244 triệu để thu hút hàng loạt nhà đầu tư thiêu thân khác vào vụ lừa lịch sử. Tháng 12 năm 2008, một nhà đầu tư khác, cũng là một quý bà đã gửi trọn tài sản tiết kiệm cả đời cho Madoff, gọi điện cho Carmen và cho nàng hay rằng Madoff đã thua đến đồng xu cuối cùng số tài sản khổng lồ của nàng cùng hàng loạt nạn nhân khác vào sàn chứng khoán. Yêu kiều, nàng thốt lên rền rĩ “Vậy là tôi khánh kiệt những 2 lần trong đời rồi đấy!”

Trắng tay, Bạch Mao Nương lại quay về với thế giới của những shot hình và catwalk, nơi nàng luôn được tôn thờ và chào đón, dù đang ở độ tuổi nào: “Tôi biết làm gì khác đây, khi những người đàn ông bỏ ra đi hoặc trở nên bất lực, hoặc chết? Làm mẫu là điều duy nhất tôi biết làm để tự nuôi mình, là lãnh vực duy nhất tôi am hiểu, và là thứ duy nhất khiến tôi hứng thú, nơi tôi yêu và được yêu lại”. Và cũng là thứ duy nhất thủy chung bề bỉ với nàng từ thập niên này sang thập niên khác.

Liệu tổn thương mà người tình quá cố để lại cho nàng – tay Madoff lừa đảo, có khiến trái tim già nua mệt nhừ của Bạch Mao Đại Nữ vĩnh viễn đóng cửa trước ái tình (dẫu chỉ trong tròm trèm 20 năm còn lại). Bạch Mao Nương lại lim dim khóe mắt bén ngọt viền chân chim “Nhà ngân hàng chắc sẽ lấy mất của tôi nhiều thứ. Nhưng không phải Tình Yêu”.

Tuy nhiên, lúc này có vẻ như Bạch Mao Nương đang không thuộc về vòng tay gã đàn ông nào cụ thể cả, nhưng chớ vội cho rằng đó là bởi dòng hormon hiếm hoi của tuổi dậy thì đã cạn kiệt trong cơ thể người đàn bà ấy. Khi được hỏi liệu dục tình đối với nàng khi này có còn là điều quan trọng, nàng hỏi lại “Thế thở có quan trọng không?”

Gần đây không lâu, khi được hỏi về một trong những bí quyết giữ vững chiếc vương miện nhan sắc trên đỉnh đầu kiêu hãnh, cụ bà kiều mị 80 tuổi đã hồn nhiên liệt kê ngoài những hãng kem thoa mặt và thực đơn chay tịnh là những buổi đánh golf cùng nhân tình trẻ, với tuổi đời chưa bằng một nửa của mình. Nàng đã học được thứ kiến thức ái tình khôn ngoan nhất của người đàn bà: si mê nhưng không tôn thờ, thụ hưởng nhưng không phụng sự.

Note lưu hương lộng lẫy tuổi 80

Áp lực nặng nề nhất cho một nữ cao niên 80 tuổi trong thế giới người mẫu “Đó là khi mấy tay designer đời mới cứ nằng nặc bắt tôi xỏ vào mấy cái quần da mà cả đời tôi không bao giờ mặc tới”

Nàng không than vãn, chỉ là “Bạn biết đấy, khi bạn ngấp nghé ngưỡng 80, áp lực không chỉ là nhan sắc, mà trên hết, đó là lòng tự tôn và danh dự – những note cuối cùng tinh túy nhất của nhan sắc đàn bà để dung nhan vào huyền thoại. Dẫu sao thì bản thân tôi cũng đã là một di tích sống rồi”. Thái độ thăng bằng và tuyệt đối quý phái của madame Carmen trong tình trạng khánh kiệt không khỏi nhắc người ta nghĩ đến một Marie Antoinette trên đường đến đoạn đầu đài, nhưng với Carmen, nàng tiến bước lên sàn catwalk.

Từ thời thủy tổ của nghề người mẫu, việc tuổi thọ các công dân catwalk vượt quá 24 đã là điều hiếm. “Thì tôi cũng nghĩ vậy. Tôi nghỉ hưu lần đầu năm 1959, hồi mới lấy ông chồng thứ hai được hai tuần. Ông ấy liền bỏ tôi vì điều đó, thế là tôi lại quay về với thời trang.”

Sẽ là sai lầm trầm trọng nếu cho rằng ẩn sau cốt cách quý phái ấy là một Carmen đầy tuyên ngôn bình quyền của thế hệ các nhà hoạt động đội đá vá trời và thô kệch. “Giải phóng phụ nữ hả? Làm ơn đừng giải phóng tôi được không? Tôi đã phải làm việc thật sự cật lực để đàn bà được như thế này. Tôi hết mình tôn trọng các bà các chị dũng cảm và giỏi giang ấy, nhưng làm ơn lắng nghe này, một khi bạn đã ở một độ tuổi nào đó như của tôi đây, làm ơn giữ lại cặp nịt ngực trên người. Năng động, tự do, với cặp nhũ thõng thệu thì cũng vẫn khó coi như thường”

Và nàng vẫn nghiễm nhiên là tượng đài sống của giới thời trang, từ các designer đến mọi siêu mẫu hàng thượng thặng. Nàng lộng lẫy, hào nhoáng, phù phiếm và tinh tế đến từng chiếc móng tay, nhưng đài các và tôn nghiêm như một nữ bá tước thời phong kiến trong bộ cánh thời thượng cầu kì, một chứng nhân sống sót của “kỷ haute couture” hoàng kim lừng lẫy.

Tất cả những điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với xuất thân bần hàn của cô bé còi cọc trượt patin đi làm thêm và tự may váy cho mình từ những tấm vải thừa. Vào những ngày đó, nàng và cô bạn chí thân là Suzy Parker – người mẫu cục cưng của Chanel, thường tha theo mình chiếc máy may trong những lần lưu diễn đến Paris. Họ say sưa ngắm nghía những vật phẩm xa xỉ của thời trang trong mọi buổi diễn, rồi về phòng khách sạn và tự may lấy cho mình những bộ váy tương tự, theo kiểu Paris, để mặc đến các buổi tiếp tân, dạ hội.

Hẳn nhiên, ngày nay, Carmen không còn phải tự cắt may xống váy cho mình nữa, nhưng có tới 5 chiếc máy may: “Bạn bè cũ, cứ chết đi là di chúc tặng lại cho tôi chiếc máy may cũ thuở cơ hàn của họ. Mà biết đâu đấy, nhà ngân hàng cứ gửi thư đòi tiền, lại dọa tịch biên căn hộ này của tôi bất cứ lúc nào. Có thể tôi sẽ lại cần đến chúng, quan trọng là sẽ vẫn có những buổi dạ tiệc cần xuất hiện cho tươm tất đàng hoàng. Có những thứ nhan sắc chỉ hoàng hoa vào cao trào của thanh xuân và phần số, rồi lụi tàn trong một thứ hương thừa héo hắt. Nếu là một loại nước hoa tỏa hương bền bỉ, bạn sẽ muốn những note cuối chỉn chu.”.

Chat với Carmen

Trí tuệ, nhan sắc, hay tài sản?

Tất cả. Nhưng theo thứ tự như trong câu hỏi.

Mơ ước thời thơ ấu của bà?

Hạnh phúc! Không đói. Và tự do.

Hầu như bà đã gặp, làm việc cùng, quen biết tất cả những tượng đài, vĩ nhân làng thời trang thế giới. Còn sót ai mà bà chưa gặp?

Madame Curie và Pierre Teilhard de Chardin

Hãy mô tả bản thân trong 3 từ.

Cao, bất hủ, khôn ngoan.

Vật gì bà luôn mang theo người?

Bằng lái, trong đó có ghi rõ tôi là người hiến xác, địa chỉ nhà mình, và chìa khóa.

Ai là người ảnh hưởng đến bà nhiều nhất?

1.     Mẹ tôi, nay đã mất

2.     Người bạn và chỗ dựa tinh thần suốt 64 năm là Eileen Ford, giờ đã 90 tuổi rồi

3.     Bạn gái thân suốt 58 năm Margaret Hoffman, giờ 95 tuổi và tinh thần minh mẫn hơn bao giờ.

4.     Sau đó là mọi quý ngài đã từng yêu tôi (sau cha tôi)

Nỗi sợ lớn nhất của bà?

Đạp vỏ chuối, trượt té.

Lần cuối bà nói yêu một ai đó là khi nào?

Cỡ 20 phút trước.

Lời khuyên tuyệt vời nhất bà từng được trao?

Hồi đó mẹ tôi nói “Thiên hạ đều có thể sai bét, và con luôn đúng!”

Trời ơi, bà mới chí lý làm sao!

người đàn ông kể chuyện cổ tích vào khóe tai quý bà

Trác Thúy Miêu

 Maurice Roucel liều lĩnh sử dụng những note mùi bạo tay để rung gợi mọi dây thần kinh khứu giác của tiềm thức và kỷ niệm: mùi bánh quy, hương vanilla trên lớp kem sữa của những ổ bánh cưới, mùi hạnh nhân bỏ lò, nỗi ám ảnh của hương kem chống nắng sặc sụa vùng biển quê ông, và những ly lemonade của các tiểu thần nữ từ thôn trang đến tỉnh lỵ… Một “giấc mơ tuổi hồng” sến sũng đặc sệt hương xưa, được xây dựng từ hoa sứ rẻ tiền và mùi thơm của những món quà vặt, được tài tình sắp đặt vào các tầng hương mà tạo thành một trạng thái hưng cảm đồng bóng của một câu chuyện cổ tích không-dành-cho-trẻ-con sặc sụa ái tình và sắc dục.

Mùi hương, ở một hình thái tự hiên nhất, là hợp hương của thảo nguyên, rừng thẳm, hoa quả, nước và quý mộc. Nhưng rồi cũng đến đầu thế kỷ 21, khi tất cả được bỏ lọ, đóng nút trong dây chuyền công nghệ hẳn hoi – như những giọt cảm xúc và hồi ức được lên công thức, và sản xuất hàng loạt.

Nhưng kể từ huyền thoại Chanel No.5 ra đời những năm 1920, lịch sử nước hoa sang trang và sản sinh ra những mùi hương lẫn thành phần tổng hợp không hề có trong tự nhiên. Không hữu hình và hữu hạn như những trường phái hội họa, nhưng nó lay động những dây thần kinh tiềm thức và nhắc người ta nhớ đến những khoảnh khắc, cảm xúc, không gian, kỷ niệm có thật. Mẹ Thiên Nhiên cho người ta những khuôn mẫu của mùi hương, và chính con người cũng góp phần vào kho tàng tiềm thức mùi ấy, với thức ăn, mùi da thịt, vải vóc, mùi trộn lẫn của các thứ mỹ phẩm lẫn trong mồ hôi, hay một lọ nước hoa đã cũ, v.v… Điều này khiến kho tàng những thành phần mùi hương trở nên vô tận, sáng tạo chồng chất lên sáng tạo.

Hoa San Hô – câu chuyện cổ tích mùa hè của Lolita Lempicka đã ra đời theo dòng kể tiếp diễn từ “chương I” mang tên L de Lolita Lempicka ra đời trước đó không lâu.

Cú nhắm đã tài tình xuyên thấu hồng tâm tiêu thụ, khi lão Maurice Roucel khoái trá rung giật mọi nút thần kinh khứu giác lẫn yếu huyệt tiềm thức của bất kì perfumista ở trường phái hay gout khứu vị nào.

Vết tình trên cổ quý bà và chân dung tình dược Hoa San Hô

Mùa hè năm 2008, sau một loạt các hợp hương thần thoại màu mè với những quả táo óng ánh và cỏ ba lá thếp vàng, tiểu thần nữ Lolita Lempicka lại tiếp tục với câu chuyện cổ tích dành cho mùa hè, của loài ngư nữ biết thoa kem chống nắng, nhai bánh bích-quy thơm phức mùi vani, và biết giờ trò lẳng lơ với bông hoa sứ cài đầu.

Fleur de Corail (Hoa San Hô) chính là cái tên lí tưởng nhất để định danh cho sự lộng lẫy hoang dại của hợp hương ngỗ nghịch và lãng mạn này, kết hợp giữa nước ép trái cây Địa Trung Hải, kem chống nắng và bánh cưới – một câu chuyện cổ tích lắm dữ kiện của gã rậm râu Maurice, được kể bằng một giọng đặc sệt âm sắc Francophone.

Lão ngang ngược lôi tuột các perfumista đến một hoang đảo trong cuộc đào tẩu màu mè, hoang đàng và đầy nắng gió bằng thứ nước biển tổng hợp đựng trong những lọ thủy tinh diêm dúa giá 47USD/1.0 oz. màu xanh đỏm dáng, với hình thù gần như bất định của một giọt nước nhang nhác hình tim, với góc cạnh nhẵn thín như những viên sỏi biển. Một hạt ngọc trai nhỏ xíu đính vào tấm lưới đánh cá bằng sợi vàng tinh xảo quấn quanh cổ chai, lủng lẳng một mề đay khắc hình nhánh hoa đá, một Chi Đại Hoa trắng muốt và mẫu tự L nửa bay bướm nửa ngô nghê – tất cả được sắp đặt ngẫu hứng như đang dập dềnh trên mặt bể màu xanh lơ pha sữa đục.

Nhưng chính những giọt tinh chất chứa đựng bên trong, ở tận cùng lớp khám phá, mới là cao trào của câu chuyện cổ tích mùa hè.

Các nhà phê bình nhận xét rằng lần này, lão Maurice lại tung ra câu chuyện của những cuộc ái ân chớp nhoáng kiểu Địa Trung Hải, ngụy tạo những vệt mùi đầy ẩn ý trên cổ, sau dái tai và giữa khe ngực các quý bà quý cô.

Ly mocktail vô hại, bánh quy vùng Provence, và chuyện nàng ngư nữ háu tình

Lão đã kể câu chuyện cổ tích long lanh không dành cho trẻ con của nhà Lolita Lempicka như thế, bắt đầu với một ly mocktail vui nhộn và có vẻ như vô hại.

Lớp đầu tiên là những note nho, bưởi và cam bergamot lanh canh như một ly mocktail cho các cô chưa đủ tuổi uống rượu.

Nhưng ngay từ khoảnh khắc tiếp theo, hợp hương biến chuyển thành một vụ bùng nổ nho nhỏ mùi bánh quy. Chính xác là món biscuit Navette marseillaise truyền thống của những quầy đồ ngọt miền Provence, một sự trộn lẫn giữa hương thơm vani và nước cam.

Nhưng món khai vị với dư hương cam lẫn vani béo ngậy được nhanh chóng chuyển tiếp vào một note hương gần như hạnh nhân, và sự tươi tắn của cam chuyển thành một hợp hương hoa nhài, hoa sứ hoặc mộc lan, non nớt nhưng nồng nàn và… nóng nực.

Đó là một sự dọn đường lí tưởng cho cao trào hương hoa của tầng hương giữa. Một sự bung nở của khám phá dậy thì, với các note hoa trắng xuyên suốt. Như thể một cô gái đã đến tuổi, ngậy và đầy dụ dỗ vô tâm như một mẻ bánh quy hạnh nhân đã chín tới. Những note hương ấm nóng chỉ được làm dịu nhất thời bằng hương hoa trắng, nhưng bùng nổ, nồng sực và dai dẳng như làn da đượm mùi kem chống nắng được hít ngửi rất, rất gần.

Như một tiểu thần nữ miền nhiệt đới được đặt vào ngai chủ đạo, hoa sứ được đặt lên đoạn cao trào của tầng hương giữa. Hoa sứ, trong ngành công nghệ bào chế mùi hương, là nguyên liệu chính của tinh dầu “Monoi”, các sản phẩm chống nắng và cả bánh cưới. Một mối liên kết hình dung hoàn hảo cho ý tưởng cổ tích mùa hè của Lolita!

Bữa tiệc bơ sữa và cô dâu Địa Trung Hải này kéo dài một cách tài tình tới 6 đến 7 tiếng đồng hồ, trước khi bước vào những note dư hương của tầng cuối.

Tại phần kết của câu chuyện có hậu, các note hương được lắng xuống từ của tâm điểm hương hạnh nhân và hoa trắng, thành một thứ mùi kem vani và mộc lan đã được khéo léo ẩn vào note trầm từ tầng đầu. Sự ngọt ngào bồng bột của ly mocktail khai vị và bữa tiệc bánh quy đã biến mất không dư vị. Tất cả còn đọng lại trong khả năng lưu hương đến 2 tiếng của tầng cuối là dư chấn váng vất của một cơn say nắng bất thần còn rung lên hầm hập mùi nắng, cát, và vị kem sữa của da thịt dậy thì.

Cả thế giới chìm đắm vào câu chuyện của lão rậm râu người Pháp, tiếp nối câu chuyện cổ tích nhiều chương về quả táo long lanh tình dược vốn đã quá thành công của nhà Lolita.

Từ khoai tây chiên vùng Cherbourg đến thế giới cũng những “con ma” nhà Chanel

Như một bản bolero hoa mỹ, gợi tình, và sến một cách khả ái, kiệt tác Fleur de Corail ra đời và được truyền tụng khắp thế giới trong những lọ nhỏ màu xanh như thế, bất chấp những dấu hiệu đen tối của trường phái lãng mạn đang khuynh tàn của thị trường thời trang, đi cùng đại dịch những dòng nước hoa lưỡng tính (unisex) và thứ bản sắc bị đồng hóa chung chạ.

Đứng trước cơn bão chung, kẻ truyền nhân kiêu hãnh của Henri Robert nhà Chanel thản nhiên miệt thị cuộc cách mạng thẩm mỹ đại đồng: “Toàn cầu hóa? Có thể ở góc độ tiếp thị và kinh doanh. Tôi là một perfumer – loại người chẳng bao giờ quan tâm đến các vấn đề kiểu đó. Một loại nước hoa nào đó cho nhân dân toàn thế giới? Không bao giờ! Một thứ tội ác đối với tính sáng tạo. Đã là một nhà sáng tạo, bạn hẳn nhiên là phần tử phản động đối với cách mạng toàn cầu hóa, chuẩn hóa, và đồng hóa. Đúng ra, tôi nghĩ mỗi người nếu đã là một vũ trụ khác biệt, cần có một dòng nước hoa được thiết kế và bào chế riêng cho mình, như một bộ cánh may đo vậy.”

Maurice Roucel sinh ra ở miền biển vùng Cherbourg, Pháp, nơi ông mang theo một tuổi thơ có mùi trộn lẫn giữa kem chống nắng L’Oreal, mùi khoai tây chiên từ các kiosk hàng quà, và lọ nước hoa Soir de Paris của Yves Roches trên cườm tay bà ngoại “Bây giờ nhà Roches đã thay đổi điều gì đó trong công thức và cho xuất xưởng một phiên bản còi cọc của Soir de Paris. Hay chỉ vì cảm xúc của tôi đã khác nhiều so với những mùa hè hồi còn nhỏ ở Cherbourg?”

Cậu Maurice đã từng mơ ước trở thành một nhà thám hiểm khoa học, nhưng ông tự nhận mình đã là một cậu bé “quá ngỗ ngược để làm một Einstein”. Ngoài những trò rắn mắt ở trường, cậu tập tọe bước vào thập niên 60 với mái tóc dài và chiếc áo thun in cờ Anh quốc như một tín đồ cuồng nhiệt của Beatles.

Vốn theo đuổi ngành học là hóa hữu cơ và là một tay cứng cựa trong phân ngành ghi sắc (chromatography). Maurice gửi hồ sơ của mình đi khắp nơi để tìm việc một cách hú họa, và một trong những hồ sơ ấy được gửi đến tay Henri Robert – đại phù thủy mùi hương của nhà Chanel, khi ông này đã ở độ tuổi trên 70. Chàng Maurice khi này mới 23, đã trở thành truyền nhân của tay tổ nhà Chanel như vậy. “Thoạt tiên, tôi không phấn khích lắm với trò bào chế nước hoa. Tôi thấy tức cười mỗi khi nhìn những tay perfumer đánh hơi sụt sịt mấy cái que giấy thử mùi. Người ta gọi họ là “những con ma” cũng đúng thôi. Cả thế giới lẫn đào Monroe xức nước hoa hiệu Chanel No.5 ra đường cho đến khi lên giường, nhưng vinh quang thuộc về Coco, còn ông già Ernest Beaux tội nghiệp (người tiền nhiệm của Henri Robert) thì chẳng ai biết tới.”

5 năm và 15 phút

Mọi perfumista sành sỏi đều có thể nhận biết một siêu phẩm của Maurice Roucel qua thủ thuật sử dụng sự xuất hiện lẩn khuất tài tình của note mộc lan hương.

Cùng với note hương trứ danh này, ông đã lưu danh mình với Shalini – thuộc 10 loại nước hoa đắt nhất thế giới năm 2011, cùng một danh sách choáng ngợp của các tuyệt tác mùi hương mang tên Envy (Gucci), 24 Faubourg (Hermes), Oro (Roberto Cavalli), serie Be Delicious (DKNY), Orange (Marc Jacobs), v.v…

Nói về những sáng tạo của mình và những tag giá từ siêu xa xỉ đến thân thiện được treo vào đó, Maurice giữ thái độ hồn nhiên hầu như phi thương mại hoàn toàn: “Trên thực tế, giá thành đôi khi hoàn toàn không hề được quyết định bởi thành phần thứ dung dịch chứa đựng trong chai. Thành phần cơ bản đầu tiên của mỗi hợp hương là tâm hồn và tài hoa của perfumer. Như môn gấp giấy của người Nhật vậy, tất cả bắt đầu từ một miếng giấy. Thế rồi “voilà!”, thành cả một môn nghệ thuật. Đương nhiên, nếu có thể bỏ thêm vào đó cả những nguyên liệu thiên nhiên đắt tiền nữa thì hoàn hảo, như Shalini vậy, nó hoàn toàn cân xứng với 900USD cho mỗi lọ bé xíu. Tôi làm ra nó và thấu hiểu đứa con đẻ của mình. Còn Rochas Rocade và L by Lolita Lempicka không phải vì thế mà kém cạnh, chúng chỉ là những đứa con may mắn hơn vì không phải dựa vào tính cầu kì của hương liệu. Nhưng những ca dễ đẻ không hề đồng nghĩa với những đứa trẻ kém ưu chất. Về sự cầu kì của chúng cũng vậy, Hermes 24 Faubourg tôi đã mất 5 năm để tạo ra Hermes 24 Faubourg trong khi Shalini chỉ mất 15 phút”.

Với la liệt các danh hương lẫy lừng thị trường mỹ phẩm thế giới này, Maurice nghiễm nhiên trở thành chủ sở hữu các giải thưởng danh giá Prix Francois Coty 2002, FiFi Pháp, FiFi Hoa Kỳ, và giải “Oscar des Parfums” Awards của Pháp.

Nhưng cho đến sự ra đời liên tiếp của cặp đôi song nữ Lolita là L de Lolita Lempicka, và sau đó là “cô em” Fleur de Corail ra đời, ngọt ngào và diêm dúa đến táo tợn – một dấu ấn của trường phái sến bất khuất như điểm son tối thượng trong chuỗi dài những câu chuyện cổ tích bằng mùi hương nỉ non chốn phòng khuê “tiểu nữ thần” Lolita Lempicka.

Đàn bà Hungary, người tình của Helmut Lang, và Chúa!

Nước hoa luôn song hành với thời trang, được xem như một món phụ trang tinh tế và khó chọn nhất. Ngược lại, liệu vòng xoay trào lưu của thời trang có ảnh hưởng đến tính trào lưu của thời trang?

Không nhất thiết, và không thường xuyên. Các mùi hương, các dòng nước hoa được gán ghép cho các mẫu thiết kế thời trang để đạt mức tổng hòa mỹ mãn nhất. Hãy nghĩ đến các thương hiệu như Chanel, Houbigant hay Yardley, với những loại nước hoa đưa tên tuổi họ lên hàng danh gia không kém công hiệu so với các thiết kế thời trang của họ. Chính tập quán vận động của trào lưu thời trang khiến vòng đời của các dòng nước hoa cũng theo đó mà ngắn đi. Giờ thì người ta có cả những “bộ sưu tập” mùi hương theo mùa, dẫu chỉ xê dịch ít nhiều về nồng độ. Tôi chọn tìm cảm hứng và ý tưởng theo mùa, nhưng là khái niệm mùa của thời tiết hơn là mùa thời trang.

Nước hoa cần thể hiện tinh thần cảm xúc và văn hóa thời cuộc hơn là trang hoàng cho chiếc váy. Một perfumer phải biết mở lòng đón nhận mọi sự ảnh hưởng của vạn vật ở mức độ chắt lọc nhất, để rồi tái hiện lại bằng thứ ngôn ngữ của thính giác. Chẳng hạn thiết kế xe hơi đang nghiêng về vẻ góc cạnh, nam tính, thì đó là khi nước hoa thể hiện vẻ bóng bẩy cơ khí đó bằng những note hương của mình. Dòng Alliage đã là một điển hình cho thời trào lưu công nghệ xanh, mốt ăn chay và thuyết hiện sinh gần gũi thiên nhiên có từ hồi 1968, chẳng hạn. Trong khi nước hoa Charlie chính là hiện thân dịu dàng của đàn bà tính. Vào thời mà bản lĩnh tài chánh, lối sống tân thượng lưu và mơ ước dối già được coi là 3 giá trị tối thượng của số đông, thì các dòng nước hoa thập niên cuối 70 đầu 80 cũng đậm đặc một sự xa hoa và hào nhoáng của các hương liệu tổng hợp. Thế rồi đến nay, vừa vượt qua thời thượng trào của những mùi hương vị lai xa lạ, người ta lại tìm về tính nguyên bản của vạn vật, thế là các loại hoa và xạ hương mang màu sắc Đông phương lại trở về mùa thịnh vượng.

Perfumer được ban cho các giác quan cảm nhận tinh nhạy và cầu kì trong hưởng thụ, chiều chuộng các giác quan ấy. Điều gì có thể thỏa mãn giác quan của ông nhất?

Tất cả những gì có khả năng chiều chuộng phủ phê mọi giác quan của tôi. Tôi yêu nhạc, mê thú ẩm thực, có thể uống như hũ chìm, mê những hàng vải hảo hạng, và đương nhiên, tôi mê mùi hương trên hết thảy. Nếu phải từ bỏ một giác quan nào đó, chắc tôi sẽ chọn thị giác. À không, đợi đã, trời ơi, tôi mê cảnh đẹp, những con người đẹp đẽ, và đặc biệt là đàn bà đẹp!

Thế nào là một người đàn bà gợi cảm?

Đẹp mắt, cao thượng, và biết cách chuyển động thật duyên dáng. Tóc nàng có thể là bất cứ màu gì, da cũng vậy, chủng tộc hay tín ngưỡng cũng có thể là vô chừng… nhưng nàng đàn bà thuần túy, theo kiểu diêm dúa và đài các thuần Pháp. Và đôi mắt, và thứ gì nàng có đằng sau đôi mắt… Cá nhân tôi thì ưa các cô nàng Hungary.

Nếu có một mùi hương bất kì cho người đàn ông muốn chinh phục mẫu đàn bà ấy?

Chắc chắn là Musc Ravageur!

Hương liệu tự nhiên nào gợi tình nhất? Và tại sao?

Trầm hương. Thậm chí ở phương Đông, người ta sử dụng nó như một chất kích dục mà chỉ riêng cách sử dụng cũng đã đầy kích thích. Họ đốt trầm trên lò than đặt bên dưới người đàn bà để xông hương cho phần thân thể thiêng liêng nhất của nàng trước mỗi cuộc mây mưa.

Helmut Lang Cologne đã là một quả bomb thương mại. Gợi ý cho cảm hứng đến từ đâu?

Helmut bảo tôi ngửi những tấm trải giường của nhân tình của ông ấy, đương nhiên khi chúng đã được giặt sạch, và tôi có Helmut Lang Cologne.

Lọ nước hoa đầu tiên của ông?

Eau Sauvage. Đối với tôi khi ấy đã là cả một cuộc khai minh. Cái món ấy khiến tôi đào hoa hẳn ra.

Perfumer mà ông ngưỡng mộ nhất?

Chúa.

đàn bà như hương…

by f.

Sự khác biệt giữa một dòng hương siêu phẩm và phiên bản tội lỗi của hàng nhái, dẫu trí trá tinh xảo đến mấy, vẫn  nằm ở cuộc đan xen ngoạn mục của những note hương trong một bản tổng phổ hòa hương vi diệu.

Với một dòng nước hoa siêu phẩm, mỗi tia bụi nước là cả một bản giao hưởng tài tình, một câu chuyện được “lắng nghe” bằng khứu giác và tiềm thức. Nó là âm nhạc, là hình ảnh, nó có những biến cố, những nút thắt oái oăm dẫn đến những cao trào đậm đặc huy hoàng.

Mỗi một loại nước hoa là một câu chuyện khác nhau, mà giá trị chắt lọc lại trong những note dư hương cuối cùng với ma lực ám ảnh dằng dai.

Khi dàn giao hưởng đã tấu hết note cuối cùng, sợi vĩ vẫn còn rung lên dư chấn khoái cảm, như chính sự run rẩy cuối cùng của từng tế bào khứu giác, ngân nga thứ âm nhạc vô ngôn của da thịt.


Người ta nói đến những thiên tài âm nhạc và văn chương, những kẻ đã tác tạo nên cho nhân loại những phần đời hoang tưởng để sống giàu hơn một số phần hữu hạn, để đi nhiều hơn đôi chân có thể, trải rộng hơn không gian đời người, phá mọi quy luật logic để thả mình vào một thế giới hoang đường trong vài trống canh thụ hưởng.

Nhưng không mấy ai biết đến những thiên tài về mùi hương – các perfumer, những sinh vật thượng tầng với khứu giác siêu phàm và gout hưởng thụ duy mỹ. Họ là những tay phù thủy biết tiêu khiển với tiềm thức, tái hiện những cảm xúc xa xỉ nhất của tinh thần lãng mạn và ký ức. Họ xâu chuỗi và sắp đặt các note hương vào những bản tổng phổ kỳ vĩ trong kết cấu 3 chương, được tấu lên vào khoảnh khắc chạm đến làn da, rồi thăng trầm những biến cố, li điệu suốt hàng giờ sau đó, để rồi lắng đọng, nhường chỗ cho những note cao quý sau cùng.


Một dòng hương thứ phẩm sẽ chỉ còn hăng hắc lớp hương bề mặt của loại nước tẩy mùi, chông chênh lấp liếm bụm che những dấu vết tố cáo thứ mùi bài tiết thật thà sống sượng. Cả hai sẽ trộn lại, trấn áp và tố cáo lẫn nhau trên cùng một bản thể.

Chỉ với một hợp thể kiêu hãnh của văn minh thời trang, người ta mới thụ hưởng được những note hương thượng hạng cho khứu giác – những điều đọng lại cuối cùng, tôn nghiêm và đầy ám ảnh.

Đối với một mùi hương, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài tối đa 8 tiếng.

Đối với một tuyệt phẩm đàn bà, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài hơn cả 80 năm.

Có lẽ khi gã Maurice rậm râu, cha đẻ của dòng hương sến cách tân nhà Lolita Lempicka đã nghĩ về nàng thơ của danh họa Salvador Dalí khi thốt lên lòng ngưỡng mộ dành cho những người “đàn bà Hungary với sự kiểu cách của người Pháp”.

Bởi Nàng là một thứ xa xỉ phẩm của lịch sử catwalk thời trang, một tạo vật hiếm hoi mà Chúa trời ắt đã thiết kế nên trong tình trạng lâng lâng phê thuốc.

Với những cấu thành tinh túy nhất của xuất thân, nàng mang dáng dấp nữ hoàng của một vũ công Hungary và nét hoang dã bạo tàn của một tay hoang đàng người Ý.

Nhưng những thành phần tuyệt hảo đó đã không ủ nồng dậy men, nếu không có những thăng hoa và thống khổ đến tận đỉnh lẫn đấy, nếu không có những chê bai bỉ báng, những bận khánh kiệt khốn cùng để thấy tài sản duy nhất còn lại để làm nên một danh dự đàn bà – khả năng Yêu.

Và lịch sử thời trang đã cho nhân loại một người đàn bà như vậy – người mẫu 80 tuổi Carmen Dell’Orefice.

Mỗi người đàn bà là một mùi hương riêng biệt.

Mọi tầng hương đầu đều khoa trương, kiều mỵ hay diêm dúa.

Nhưng thời gian qua đi, vài giờ, hoặc vài thập niên,…

điều còn lại cho những note nhan sắc cuối cùng là danh dự, sự kiêu kỳ của tư chất tự tại, thanh tao và vô nhiễm.

 

Người ta sẽ thảng thốt nghiêng mình khi lặng người nhận ra note hương cuối mà Maurice nghiêm cẩn tác thành nên Fleur de Corail diêm dúa lại là những note trầm hương, với những ưu chất mà ông gán cho khái niệm đàn bà thượng đẳng: tôn nghiêm, xa cách, và gợi dục đến cầu kì.

 

Đàn bà như hương, sự suồng sã cuối đời sẽ bóp méo hình mạo đến nhăn nhúm mà rỉ ra thứ hương bài tiết.

Còn những quý bà chân chính – họ trải qua tuổi trẻ để tạc nên những khắc vạch tuổi già lên những phiến trầm hương.

thăng trầm hai mảnh bikini

Hoa Nhài Đen

Giáo sư danh dự khoa kinh tế trường đại học Baruch, Aaron Levenstein khả kính, là tác giả cuốn “Escape to Freedom: The Story of the International Rescue Committee”.

Không nhiều người biết điều này.

Nhưng câu nói của ông: “Các con số thống kê, chúng như những bộ bikini vậy – phô diễn ồn ào những thứ đầy thi vị, nhưng luôn bảo đảm che đậy những yếu tố nền tảng quan trọng nhất” đã khiến ông nổi tiếng trên toàn thế giới

Cuộc chiến hạt nhân chống nguyên tử trên không phận Riviera

Từ năm đầu tiên uể oải đứng lên sau Đệ Nhị Thế Chiến, toàn châu Âu đặt lên vai giới thời trang Paris trách nhiệm cứu rỗi và chữa lành, vốn dĩ là quyền năng lợi hại muôn thuở của thời trang, nhằm tô điểm cho bức tranh thời hậu chiến khi này còn quá đỗi thê lương u ám. Nhưng không ai ngờ, khi mà madame Coco còn lưu vong với nghi án phản quốc, thì vận mệnh phục hưng lại nằm trong tay những tông đồ ngoại đạo: một chủ tiệm chạp-phô và một tay kỹ sư cơ khí vùng Riviera.

Đầu hè năm ấy, khi mà giới thượng lưu Âu châu đổ xô về bãi biển Cannes nhằm bù đắp những tháng ngày u tối, Jacques Heim – một nhà thiết kế kiêm chủ một cửa hiệu đồ tắm ở Cannes đã trở thành người hùng bất đắc dĩ khi liều mạng tung ra mẫu áo tắm Atome với nghĩa tên gọi “nguyên tử” đầy mùi ca tụng đòn tung bom chí mạng của quân đồng minh tại Nhật, và cũng nhằm hàm chỉ diện tích vải eo hẹp đến ngộp thở của món thời trang này.

Thoạt tiên chỉ với mục đích bán trong cửa tiệm riêng của mình, nhà thiết kế kiêm doanh nhân ranh mãnh đã thuê tàu bay viết quảng cáo bằng khói trắng lên nền trời thừa nắng của miền Nam nước Pháp, xưng tụng Atome là “bộ đồ tắm nhỏ nhất thế giới”.

Nhưng tay chủ tiệm có lời công bố mau mắn nọ đã không ngờ rằng ông không hề là người hùng đơn độc. Cùng lúc, cũng tại Pháp, một nhà thiết kế tài tử khác cũng đã nỗ lực tung ra một mẫu tương tự cho mùa hè phục hưng hậu chiến 1946. Chỉ 3 tuần sau khi lời công bố của Heim được tải bay phấp phới trên trời, Louis Reard – một kỹ sư cơ khí đột nhiên chiêu hồi vào lĩnh vực đồ tắm đồ bơi, cũng tung lên nền trời vùng Riviera thông điệp quảng cáo đầy màu sắc hào hùng và láu cá “Bikini – còn nhỏ hơn cả loại đồ tắm nhỏ nhất thế giới.” Trò “ranh mãnh hơn cả kẻ ranh mãnh nhất nước Pháp” ấy đã khiến Reard khéo léo ăn theo luôn cả hiệu ứng marketing của gã chủ tiệm tội nghiệp. Cái tên bikini ngộ nghĩnh dễ nhớ chính thức trở thành tên gọi của kiểu áo tắm hai mảnh cho đến nay vẫn đảo điên khuấy động sóng biển lẫn sóng tình hơn 70 năm sau.

Khi dự định công diễn bikini tại Paris, Reard đã không thể tìm ra một cô người mẫu nào chịu mặc thiết kế kiệm vải này, cho đến khi ông may mắn gặp người mẫu Micheline Bernardini, vốn mang trái tim quả cảm của một vũ nữ khỏa thân chuyên nghiệp. Cô trở thành vị nữ đại sứ chính thức đầu tiên của cách mạng bikini ghi dấu xâm lăng lên sàn diễn thời trang Paris năm ấy.

Không ai biết được liệu gã chủ tiệm hay anh kỹ sư cơ khí của mùa hè 1946 ấy đã tiên liệu trước cuộc cách mạng dài hơi, với tầm ảnh hưởng xuyên thế kỷ, đã vĩnh viễn thay đổi bộ mặt các bãi biển và can thiệp khó lường vào khái niệm đạo đức xã hội lẫn giá trị hôn nhân của hậu duệ hơn nửa thế kỷ về sau.

Người ta cho rằng bàn thắng của tay kỹ sư cơ khí hơn 60 năm về trước được quyết định không chỉ bởi dòng slogan láu cá, mà chính tên gọi bikini đã khiến trào lưu bùng nổ như chính những vụ thử bom hạt nhân xuất phát cùng năm trên hòn đảo cùng tên. Cả hai vụ nổ trên quần đảo Marshall và bãi tắm Cannes đều để lại cho nhân loại thứ quyền năng hủy diệt và những đống hoang tàn gớm ghê.

Tiết hạnh Hoa Kỳ và người đàn bà Gaulois bé bỏng

Như một lộ trình ngẫu nhiên, bikini vượt bể dội bomb tổng lực lên thị trường thời trang Hoa Kỳ chỉ sau một năm liên tiếp càn quét Âu châu. Vụ bùng nổ bikini tại Cannes đã không thực hiện cuộc càn quét dễ dàng qua những vùng duyên hải nước Mỹ, nơi kiểu áo tắm tiết hạnh khả phong vẫn kiên cường bám trụ trên thân thể quý bà công dân Hợp Chủng Quốc.

Dân Hoa Kỳ thủ cựu mỏi mòn níu giữ những giá trị cực đoan của Âu châu cũ nên tỏ ra câu nệ hơn với những mảnh trang phục giật gân gay cấn này.

Tài phiệt dòng thời trang biển Fred Cole, chủ nhân ông của Cole of California tỏ ra dè bỉu với ít nhiều kì thị đối với cơn sốt bikini của người Pháp, rằng chúng được thiết kế cho “những thân hình dí dị thiệt thòi của đàn bà giống Gaulois”. Ông giải thích rằng các cô gái Pháp sở hữu những cặp chân ngắn đụt nên cần cậy nhờ vào bikini, với hai bên chiếc quần bơi được giảm thiểu cho chân có vẻ dài hơn, và điều đó, cộng với sự lõa thể sỗ sàng của người Pháp, khiến bikini là bộ đồ tắm “để lộ tất cả mọi sự thật về người phụ nữ, ngoại trừ tên thời con gái của bà thân mẫu.”

Nhưng sự mỉa mai huỵch toẹt ấy không làm nản lòng một người phụ nữ Gaulois. Con mèo cái nhỏ của nước Pháp Brigitte Bardot tung tẩy khối thịt da hừng hực trong shot ảnh chụp vào liên hoan phim năm Cannes 1953 đã là một đòn chí mạng giáng lên những mảnh swimsuits thủ cựu.

Tiếp bước theo cô là giai nhân nước Mỹ Marilyn Monroe, dẫn lối cho Esther Williams cho đến Betty Garble trong trào lưu bơm căng danh vọng bằng những đường cong được che đậy hững hờ.

Khi ấy, liên hoan phim Cannes và đào BB đã hình thành một mối liên hệ cộng sinh. Cannes nâng đỡ bước nàng vào hàng danh vọng màn bạc, ngược lại, nàng đặt Cannes lên bờ ngực đẫy đà chỉ chực nhảy xổ khỏi coup áo bikini, và trở thành đại diện quan hệ cộng đồng hùng mạnh nhất của Cannes (cả sự kiện và thành phố diễn ra sự kiện).

Trong khi Mỹ vẫn tỏ ra lãnh đạm, thì ở lục địa già Âu châu, với sự ủy lạo nhiệt tình bằng ngọc thể của những thần nữ ái tình màn bạc như BB, Anita Ekberg và Sophia Loren, bikini vào thượng tầng cao trào. Nhưng những quốc gia lân bang của Pháp là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ý Đại Lợi vẫn cùng một số tiểu bang Hoa Kỳ, kiên cường ôm ghì nền đức hạnh chuyên chính, cấm triệt để bikini.

 

Chiếc vương miện hoa hậu bị nguyền rủa và những nhà cách mạng không có rốn

Năm 1951, cuộc thi Miss World đầu tiên, tiền thân là Festival Bikini Contest đánh dấu cuộc chiến du kích của bikini vào mặt trận thời trang chính thống, do Eric Morley tổ chức, với tư duy đả cựu nghinh tân hiếm hoi của xứ Ăng-lê. Báo giới ồ ạt hoan nghênh sự tiến bộ này và mặc nhiên gọi tên cuộc thi là Miss World, từ đó mà Morley đăng kí cái tên này như tên gọi chính thức của sự kiện. Hoa hậu đầu tiên, Kiki Hakansson từ xứ Thụy Điển đã tài tình người đẹp nhất trong bộ bikini mà ở xứ cô hiếm hoi mới có dịp diện đến, một phần bởi quá nhiều các đối thủ hạng nặng đến từ các nơi dư dả đường duyên hải đã rút tên khỏi cuộc thi dưới áp lực của đạo đức ăn bận của nước nhà. Thế là về sau, chính cuộc thi người đẹp bikini toàn cầu đầu tiên rơi vào cái bẫy danh dự Miss World của chính mình. Bikini bị phế truất khỏi chính sự kiện của nó, và được thay thế bởi những bộ váy dạ hội sang cả, Hakansson là hoa hậu Miss World đầu tiên và duy nhất đầu đội vương miện, mình vận đồ bơi, và người đàn ông duy nhất trên cõi nhân gian nguyền rủa vương miện của nàng là đức Giáo Hoàng.

Từ đó về sau, các cuộc thi nhan sắc cũng lần lượt công khai cấm vận bikini. Các nhóm nữ quyền tung rải tuyên ngôn bài bác bikini tại các cuộc thi đầu thập niên 70, các đoàn thể xã hội tạo sức ép lên kinh đô điện ảnh Hồ Ly Vọng, đòi hỏi các đạo diễn tiễu trừ những mảnh vải không-hề-nhỏ-nhít ấy ra khỏi màn bạc, dù những bộ phim về nam thần hoang dã Tarzan từ thập niên 30 đã sớm trưng trổ tòa thiên nhiên hùng vĩ của đào Maureen O’Sullivan trong bộ bikini sơn nữ với một lí do hiển nhiên là chuyên nghiệp nhất: tôn trọng bối cảnh kịch bản. Nhà nghiên cứu điện ảnh Bruce Goldstein mô tả nôm na bộ cách Sơn Nữ Tên Jane này là “một loại khố để hở một bên sườn, và người ta có thể nhìn thấy nhiều hơn là một mảng sườn”.

Thế là các nhà đạo đức hè nhau dựng tạm một liếp rào phẩm hạnh, với một định chế nôm na là cứ hở rốn như bikini là dâm ô một rọ.

Ranh mãnh như chính cha đẻ người Pháp của bikini, các tạp chí vẫn đăng ảnh chụp bikini, nhưng tinh ma hiệu chỉnh mờ phần rốn, hoặc với những tư thế khôn ngoan vờ vịt che chắn bộ phận vô tội này, chiều theo quan điểm định hình kích thước phẩm giá trên.

Mọi trang bìa phần phật những phần bụng dưới được lập lờ bào nhẵn, những lỗ rốn vô tội được chắn che cẩn thận, và những chiếc quần tắm nhỏ xíu tuột trễ thật sâu dưới xương hông vẫn như có thể bị rơi tuột xuống tận cổ chân bất cứ lúc nào.

Và như vậy, chiếc bikini của người Pháp đã thâm nhập thị trường Hoa Kỳ qua con đường những vị nữ đại diện vẫn đầy đủ phẩm hạnh và không có rốn.

 

Cuộc chinh phục những cô đào Hồ Ly Vọng

Năm 1962, tiêu chuẩn nhan sắc Mỹ Bond Girl, khi này do Ursula Andress thủ diễn, chói chang diễm lệ đi lên từ biển, tái hiện hoàn hảo một bức tranh Vệ Nữ mình bận bikini trắng toát mồ hôi. Scene này lập tức đi vào huyền thoại những pha bất hủ của chuỗi dài phim James Bond mọi thời kỳ, được coi là scene bikini nổi tiếng nhất thời đại đã đưa đào Ursula lên đài cao danh vọng. Theo mô tả lại, đó là một dẫn dụ bằng hình ảnh tuyệt vời nhất của cuộc cách mạng tình dục trên màn ảnh Mỹ những năm 60, và cũng là cái cớ để phái thủ cựu chế giễu gọi trại tên nàng thành Ursula “Undress”.

40 năm sau, Halle Berry, trong một phim khác về James Bond là Die Another Day, tái hiện hình ảnh Ursula Andress trong bộ bikini giống hệt.

Năm 2001 bộ bikini trắng nổi danh ấy được mua lại trong một cuộc bán đấu giá với 61,500USD

Tiếp nối thành công hiển nhiên của bikini với màn bạc Mỹ, các siêu phẩm cine, ca nhạc và truyền hình Hoa Kỳ tiếp tục tung ra những quả bom gây ngộp khác trong Dr.Stragelove, Beach Party, và ca khúc ngộ nghĩnh Itsy Bitsy Teenie Weenie Yellow Polka Dot Bikini trở thành bản pop “bikini ca” của tín đồ thời trang toàn thế giới, với giai điệu ngộ nghĩnh về cô nàng cả thẹn lần đầu mặc bikini đã trở thành ca khúc nổi tiếng nhất về bikini và nâng món trang phục ồn ào này vượt tầm thời trang chức năng để trở thành một hiện tượng xã hội và một đại diện của lối sống thanh niên thành thị mới.

Nương theo đợt sóng thần của cuộc đại cách mạng tình dục và pop culture, bikini trở thành thứ thời thượng nóng rẫy nhan nhản khắp các hồ bơi bãi tắm của Hợp Chủng Quốc. Tờ Playboy của ông lão chăn thỏ Hefner cũng lập tức căng phơi bikini lên trang bìa vào 1962, hai năm sau, tờ thể thao đứng đắn Sports Illustrated cũng nối gót Playboy. Bà hoàng pin-up Marilyn Monroe tung tẩy những khối thân thể tròn căng như muốn nẩy vọt khỏi bộ bikini trên những tấm poster quảng cáo phim và mọi bìa tạp chí. Cùng với nàng là hàng loạt các cô đào thứ dữ, Jayne Masfield, Gina Lollobrigida đến Hayworth và Raquel Welch cùng đắm chìm trong làn sóng bikini.

Chính từ giai kỳ bikini này, lịch sử điện ảnh ghi nhận hàng loạt truyện phim được xây dựng trên bối cảnh bãi biển với yếu tố kịch bản không nhất thiết quá cầu kì. Đây chính là bệ phóng của siêu hình tượng nhan sắc nước Pháp Brigitte Bardot thập niên 60, và về sau này là kiều nữ truyền hình Mỹ Pamela Anderson với những màn chạy nhảy leo trèo mải miết trong series bỏng con ngươi Bay Watch cuối 80.

Cơn đại dịch dai dẳng và những biến chứng li kỳ

Sau hồi hưng thịnh lẫy lừng, những năm cuối 1980 và đầu 1990 đã chứng kiến sự hắt hủi của giới thời trang và các tín đồ dành cho bikini, với màn tái xuất gay cấn của áo tắm một mảnh, lần này với đường hông khoét cao ngặt nghèo đến tận eo, mô phỏng trang phục aerobic khi này đang gây sốt khắp địa cầu qua các video hướng dẫn của minh tinh Jane Fonda và siêu mẫu Cindy Crawford.

Cộng thêm vào đó là những phát hiện mới đầy đe dọa về căn bệnh ung thư da do nắng khiến bikini trở thành kẻ tội đồ khủng khiếp. Năm 1988, hãng bikini của ông tổ Louis Reard phá sản chấm dứt cuộc vinh hoa của anh kỹ sư cơ khí số đỏ, khi mà những mảnh bikini khi này chỉ có mãi lực bằng 30% mãi lực áo tắm một mảnh.

Ông đã không phải chứng kiến ngày lụi tàn của cơ đồ, bởi ông đã viên mãn yên nghỉ 4 năm trước khi phải chứng kiến sản nghiệp một đời vào cơn khánh tận.

Đã phải mất gần một thập niên để bikini chờ đợi những công thức kem chống nắng hiệu quả hơn.

Với chiêu bài cũ là mượn lực từ đối phương, sau thời kì thập niên 90 đen tối, bikini tái xuất lẫy lừng trong một thái độ hoàn toàn mới, mượn ý tưởng từ phần eo được vén cao quá độ khiến những cặp mông bị phơi lộ hầu như hoàn toàn của swimsuit một mảnh. Cánh mày râu lại được phen tối tăm mặt mũi trước những chiếc quần bikini mà cấu trúc phía sau chỉ còn là một dải chất liệu mỏng manh ngặt nghèo, hoặc thậm chí chỉ còn là một sợi dây mảnh mai đến khó chịu, nằm lọt thỏm ngoạn mục giữa đôi gò mộng, dễ bề khiêu gợi lắm sự nhiễu nhương.

Viện thời trang Met đưa ra nhận định về cuộc tái xuất vẻ vang này của bikini là một “hiện tượng xã hội về ý thức thẩm mỹ cơ thể, quan niệm đạo đức, và thái độ giới tính.” Phái PETA thức thời cũng không bỏ qua cơ hội và biến bikini thành vũ khí tối thượng trong chiến dịch sao khỏa thân “I’d Rather Go Naked”. Các siêu bom tình Pamela Anderson, Traci Bingham và Alicia Mayer đường hoàng xuất hiện trưng phô thân thể tươi rau ráu trong những bộ bikini kết bằng rau xanh, cũng tươi xanh ngon lành không kém, nhằm ủy lạo thực đơn ăn chay và hạn chế giết mổ.

Từ đây, con cháu hậu duệ của huyền thoại bikini cũng sinh đẻ đề huề. Từ dòng họ -kini đến các chị em họ -ini đã cho ra đời những dòng mẫu đa dạng, hình thành cả một hệ thống thuật ngữ cực vui tai mà tín đồ nào cũng phải bảo đảm thuộc nằm lòng. Từ monokini, numokini (không có phần áo), seekini trong suốt, tanikini với phần áo theo kiểu tanktop, camikini với áo có gọng như corset, hikini, thong, sling shot, minimini, teardrop, micro, v.v… và v.v…

Bikini vượt tầm thời trang hay một món đồ bơi thực dụng để trở thành một lối sống đầy thái độ và, oái oăm thay, đáng dùng để là cờ hiệu hay linh vật của mọi tổ chức nữ quyền cách đó không lâu còn tẩy chay và kì thị. Một cuộc điều tra cho thấy 85% bộ bikini được mua chưa bao giờ thật sự nhúng nước một lần lấy lệ, nhưng đến những năm đầu thế kỷ 21 đã mang lại nguồn niên lợi 811 tỉ Mỹ kim. Đương nhiên, đó là chưa kể nguồn lợi kinh tế đi kèm từ dịch vụ bikini waxing và công nghệ sản xuất kem chống nắng và nhuộm da.

Trịnh Nam Sơn – cậu nhỏ nghịch nắng trên đồi hoa râm

Jasmine nOir

Ông yêu những lời nũng nịu.

Ông thích những nàng thơ hiện sinh, lẳng lơ vừa chừng, và vẫn còn sót lại, giữ gìn cái duyên thẹn thùa kín đáo.

Họ được đưa vào bóng vía âm nhạc của ông. Vì nàng sẽ cho ông những bất an lãng mạn mà thành những cuộc chia tay ghi dấu trong ca khúc Trịnh Nam Sơn.

Nhưng người đàn ông lại cần một sự an toàn cho cuộc đời bên ngoài âm nhạc. Người đàn bà bước ra khỏi vùng thơ nhạc, đặt vòng tay bảo bọc quanh gã cowboy có hàng râu kiểu goatie đã lấm tấm hoa râm.

“Nàng công chúa hạt đậu” và ổ gà trên Con Đường Màu Xanh

Tạo ra một cá tính âm nhạc rất riêng, những giai điệu sáng láng thênh thang và rất “Tây”, Trịnh Nam Sơn đã là một liều sinh tố âm nhạc cho cơn khát của thế hệ trung học thời bấy giờ, vốn đã mệt nhoài sau khi đã mỏi mòn chán chê những băng cassette hải ngoại của thứ nhạc vàng cải biên. Cái tên Trịnh Nam Sơn trở thành một đại diện cho dòng hải ngoại tân thế hệ, sang trọng nhưng thân thiện, với những ca từ vừa khít với bất cứ tâm sự nào, như một bộ suit Armani.

Nhưng trên hết, sự ấm áp của cái tên Trịnh Nam Sơn còn chạm đến trái tim non của các cô gái trẻ bằng chính giọng ca bảng lảng đầy đàn ông tính, lối nhả chữ an nhiên đến bất cần, và gần gũi như một lời tâm sự sát tai, chứ không cầu kì như một ngôi sao ca nhạc hát từ trời Tây nào đó.

Trong mọi lời ca của giọng đàn ông lãng du phớt tình, mọi cô gái trẻ đều lịm đi với lời lẽ vừa ngạo tình vừa mã thượng ấy

Người yêu hỡi hãy quay mặt đi

Em thênh thang trên con đường về

Trìu mến như một người tình, cao thượng như một người cha

Giọt nước mắt hãy lau thật khô,

Tình yêu đã tan theo mây trời

…và lúng túng như một tay Việt kiều vụng về môn ngữ pháp

Anh mong em từ đây,

Nhìn lại con đường em đi trên… đầy màu xanh

Bạn nhảy dựng lên, quai hàm nhức nhối như bị lừa nhai phải một hạt sạn to bự, và nổi da gà bởi một câu văn tệ lậu hết chỗ nói.

Cơn rùng mình có thể ví với việc đọc một bức thư tình cực kì lãng mạn nhưng sai chính tả, hay trong cơn yêu đương với tình nhân nóng bỏng nhưng mắc tật cà lăm. 

Cười vang sảng khoái khi nghe lời trách cứ, gã trai tóc hai màu xuê xoa phân bua “Thời tôi đi học trường nhạc bên ấy, chúng tôi học kỹ năng của nhà soạn nhạc, với lại Mỹ đâu có dạy viết ca từ bằng tiếng Việt ra sao. Tất cả là những bản hòa thanh, những note nhạc như thứ ngôn ngữ duy nhất để truyền tải trạng thái của con tim.”

Rồi chàng lại lần mò tiếp, cho đến khi tìm ra cách chống chế thuyết phục nhất: “Ta thử nào, thay bằng ‘nhìn lại con đường em đang đi… đầy màu xanh’. Em thấy chưa, bản này tôi viết cho tự sự một người đàn ông, mà bắt nam ca sĩ ngân nga âm ‘i’ kéo dài nghe sẽ không thể nào thênh thang bằng âm “ên” vang rền như thế được, đúng không nào? Cuối cùng thì em đúng, cảm xúc của thính giả là quan trọng lắm, giữa các lựa chọn, tôi buộc lòng phải chọn một câu ngữ pháp Mỹ nhưng người ta sẽ vẫn cảm nhận được lối nhả chữ đẹp vào đoạn ngân cao trào cuối cùng ấy, em hài lòng chưa?”

Dù biết thừa đây chỉ là màn chống chế vụng chèo khéo chống của tay láu cá, lúc này đang thao thao bất tuyệt về khẩu âm khẩu hình và mọi thứ biệt từ âm nhạc cao siêu, bạn cũng chịu cho qua bởi vẻ lúng túng gãi đầu gãi tai ấy, và nụ cười hào sảng xuề xòa ấy thật ấm áp, dễ chịu và dễ lây.

Dẫu sao thì đó cũng là một giai điệu đẹp, và thứ ngôn ngữ mà người nhạc sĩ nên sử dụng thuần thục nhất, chả phải là những nốt nhạc đó sao? Và cuối cùng, khi anh ta đủ thiện chí để nhanh nhảu tìm một lối chống chế, chẳng phải là lúc bạn vào vai vị tha và cười xòa cho tan viên sạn đã nhai phải hơn một thập niên về trước?

Cậu bé ngoan, người quân tử, và gã hèn

Nhưng cũng chính sự xuề xòa nghệ sĩ tính ấy đã là nguyên nhân cho bao kẻ tài hoa phải kết thúc vĩnh viễn trong sân chơi underground và cái áo hoa mỹ AQ của một tay nghệ sĩ tự do, ngoài rìa sàn nghệ thuật chính thống của những tài danh cầu toàn và những sản phẩm được chuốt trau hoàn hảo.

“Tôi cầu kỳ lắm chứ, với sở học của mình và những kỳ vọng về diện mạo tác phẩm khi được mang ra trình bày. Nhưng ngoài kiến thức và những cảm xúc sáng tác, tôi còn phải biết rõ mình đang có gì trong tay. Nếu tôi bắt 5 nhạc công làm công việc của một giàn giao hưởng, là tôi sai quá rồi. Nếu tôi làm thánh làm tướng hét la dữ dằn ra vẻ oai vệ với họ, thì tôi sẽ đằm mình lại để hát ra sao? Vậy là tự gây khó cho mình rồi. Chi bằng xác định những điều kiện mình không thể kiểm soát hơn được nữa rồi tìm cách hài lòng với nó.”

Xuyên thấu bức chân dung thái độ nghệ thuật ấy, bạn có thể nhìn thấy bên dưới một anh chàng hòa lành đến khó chịu. Gã luôn lảng tránh những cuộc tranh cãi (mà bạn sẽ thích gọi là tranh luận hơn), gã sẽ chọn thụ hưởng một mối quan hệ yên ổn và an toàn, chứ không thật sự muốn lao đầu vào bi lụy. Đây chính là người đàn ông sẽ vui vẻ mặc chiếc áo mà bạn chọn, ăn món ăn mà bạn nấu, và làm tất cả những điều đó vì một tình yêu hòa bình.

“Quan trọng là mình sướng cái đã, rồi sự thoải mái ấy sẽ lây lan cho những người xung quanh. Để tỏ ra một kẻ cầu toàn, tôi có thể từ chối diễn nếu ban nhạc dở, tôi có thể khoa chân múa tay cà khịa với bất kì ai mà tôi cho là sai quấy, rồi tự đâm đầu vào tường thôi, xem ai thiệt thòi cho biết. Tôi sẽ thành một lão nhạc sĩ già cáu bẳn, nói không ai nghe, và chắc chắn sẽ mắc thêm chứng đau dạ dày. Tranh cãi chỉ là trò phân định đúng sai không bao giờ đi đến hồi kết. Tôi không nhận mình sai, nhưng người ta đến với nhau không phải vì kẻ kia luôn luôn đúng. Khi sự thanh thản và niềm vui được xem trọng thật sự, có những thứ xộc xệch trở nên không còn quá quan trọng nữa. Nếu cuộc đời không bao giờ hoàn hảo, hãy vui vẻ chấp nhận điều đó, và sau đó làm cho nó dễ chịu hơn bằng chính thái độ của mình.”

Trong sự hồn nhiên trẻ con của ông lúc này, bạn đã kịp thấy nhuốm màu thỏa hiệp – một sắc màu của sự khôn ngoan, kinh nghiệm và trưởng thành.

Người đàn ông có thể không bao giờ lớn, nhưng không chọn làm một đứa trẻ ngoan cố cứng đầu.

Mọi đứa trẻ ngoan, mọi tay quân tử mã thượng, và mọi gã hèn đều có một điểm chung: muốn chơi vui thì phải biết nhường nhịn.

Đứa trẻ trên đồi và sự tàn nhẫn vô ưu

Sinh ra ở Sài gòn, nhưng lớn lên ở Đà lạt, đứa trẻ lâu năm trước mặt bạn đến từ những ngọn đồi. Nơi đó, ông đã trải qua một tuổi thơ của nỗi cô độc hồn nhiên, mấy con vật nuôi trong nhà, những người thượng lâu lâu ông nhìn thấy khi họ gùi hàng xuống phố, hay những dịp cuối tuần hiếm hoi được đi câu cá với ông thân sinh…

Đó không chỉ là những nét phác một tuổi thơ. Người đàn ông ấy vẫn vậy, vết dấu của Sài gòn và cuộc hội nhập với Hợp chủng quốc cũng chỉ để phủ phả lên đó một vẻ trai lơ hiện sinh 70’s và mùi văn hóa Harley Davidson của những tay nghệ sĩ xăm mình. Gã ngố rừng vẫn như ngày đầu xuống núi “có những khi phóng xe trên xa lộ cao tốc, tôi đột nhiên có một cảm giác thôi thúc rất kì khôi: tôi muốn bảo ai đó dừng xe, cho tôi xuống, để tôi được thả mình chạy vào những cánh rừng, những ngọn núi hai bên đường. Tôi vẫn là thằng nhóc lặng thinh giữa thiên nhiên núi rừng và muôn vật, và có lúc, tôi muốn thinh lặng giữa cuộc đời, đó là cách tôi trở về, không hẳn với Đà lạt, mà tìm ngược lại vào trong. Tôi không phải là anh chàng hướng ngoại, là kẻ giỏi mồm mép, nhưng tôi khoái gặp mọi người, ai ai tôi cũng mở lòng hồ hởi vô tư, như đứa nhỏ ở trên núi quá lâu nên chỉ chờ dịp để huyên thuyên, để làm bạn. Tất cả không đến từ đời sống Mỹ đa chủng ồn ào, mà đến từ những ngày dài một thân một mình ở Đà-lạt, mong được đi câu cá, được gặp bố và anh trai, để rồi khi còn lại một mình, lại sống với sự an nhiên trong cô độc.”

Nhưng nếu cô độc trong một căn phòng khóa trái dễ khiến người ta trở thành yếm thế, thì sự cô độc giữa thiên nhiên thoáng đãng chỉ khiến người ta thư thái và hào sảng chân thành hơn mà thôi. Rời Đà-lạt về Sài-gòn, rồi lại theo dòng thời cuộc sang đất Hoa-kỳ khi mới 17 tuổi, anh chàng ngố rừng thay vì hoảng loạn co cụm và đề phòng với “life style phố lớn”, lại tự luyện cho mình một khả năng buông lỏng đến mức tưởng như xuề xòa, để tở mở dễ dàng hơn khi thích ứng với môi trường và thời cuộc cứ thay đổi xoành xoạch xung quanh: “Tôi không chọn va đập nên không mặc giáp trụ phòng thân. Tôi chọn đón nhận và cộng sinh, nên mềm mại đưa cánh tay với lòng bàn tay mở ngỏ. Rất có thể, tâm thế hòa lành ấy sẽ khiến cuộc đời không cà khịa với ta nữa. Thái độ định đoạt hành vi và số phận, tôi chọn sống chớ có chọn đối đầu và chinh chiến đâu? Kết cục là tôi sống ổn, ở mọi nơi.”

Đó cũng là cách mà người đàn ông đến với những người đàn bà, như một duyên phần được hồn hậu đón nhận. Và đó cũng là cách mà người đàn ông ra đi khỏi những cuộc tình, như những đổ vỡ được thanh thản chấp nhận: “Một chuyện tình không thành, đó là điều đáng buồn, đáng tiếc. Nhưng tôi không có dịp biết được đã có người đàn bà nào ôm hận phía sau tôi không, bởi tôi chỉ biết một điều duy nhất – tôi đã làm tất cả những gì có thể, nếu nàng không hạnh phúc, tôi đã chọn ra đi. Những gì còn lại đều không trong quyền năng kiểm soát của người đàn ông nữa rồi! Thôi thì nguyện cầu cho họ đều hạnh phúc.”

Bạn rùng mình nhìn người đàn ông trước mặt, không có gì để gợi nhớ sự tàn nhẫn của một tử tước Sébastien de Valmont trong bi kịch Dangerous Liaisons, ngoài vị tanh lạnh sau nụ cười bất lực vô lương “It’s beyond my control!”

Sự hồn nhiên của trẻ con, khi kết hợp trong tâm thế cầu an của kẻ trưởng thành, có thể trở thành thứ gây thương tổn ghê gớm nhất, nhẫn tâm và vô cảm nhất.


Hãy dừng lại, bên ngoài vùng spot-light vô nhiễm!

Quý cô của F, hãy gác qua cơn chấn động nhỏ, cuối cùng thì tất cả cũng là những sự thật về bản ngã kẻ đối diện – điều nằm ngoài khả năng kiểm soát của bạn, “beyond one’s control”. Hãy tập ngửa lòng bàn tay để thảnh thơi chấp nhận, và tránh cho mình những vết cứa hồn nhiên.

Hãy đồng ý nhận lời cùng dùng bữa và níu dài cuộc hàn huyên. Khuôn mặt người đàn ông đồng hành lập tức dãn ra nhẹ nhõm khi bạn đề nghị chọn nhà hàng.

Như mọi người đàn ông có cho mình một khẩu vị phóng khoáng nhưng một hệ miễn dịch mong manh, ông nhường chỗ cho bản năng đàn bà trong bạn trỗi thức. Không phải cho những tán tỉnh đòng đưa, mà cho phần Nữ Oa đội đá luôn sẵn có trong mỗi người đàn bà Việt.

“Đi khắp nơi lang bạt kỳ hồ, sống cách biệt khỏi cộng đồng người Việt khi ở Mỹ, tôi vẫn có thể biết chắc một điều: tôi chỉ mê phụ nữ Việt Nam. Đi đâu thì đàn bà Việt Nam cũng là nhất! Chẳng có cô đầm nào có thể cho tôi cái rung động khi xưng anh gọi em. Cứ tưởng tượng cảnh nằm bên nhau thủ thỉ, cứ “mày mày tao tao” là thấy kì khôi rồi. Rồi về sau về làm vợ làm chồng, cứ tưởng tượng cảnh được nàng gọi là “mình ơi” là thấy trăm ngàn lần thi vị, ai còn ham hố gì đầm tây nữa chứ. Ông bà tổ tiên mình xưa cũng khéo chiều người đàn bà Việt Nam, nên mới nghĩ ra thứ ngôn ngữ có lắm bằng trắc kì tình, khiến họ nũng nịu như hát hay, vừa lả lơi vừa thẹn thùa, dễ thương lắm!”

Đó không hẳn là tay sành sỏi trò nịnh đầm, nhưng chính vẻ hồn nhiên ấy lại là hấp lực của Trịnh Nam Sơn, bởi mọi lời khen của tay lãng tử thô vụng ấy đều mang một giá trị chân thành đặc biệt.

Nhưng sau mỗi buổi diễn, trước vòng vây ái mộ của những nữ thính giả, của những thừa mứa tôn tụng vuốt ve, người nhạc sĩ dẫu hòa nhã, cũng không che dấu được vẻ lúng túng ít nhiều.

“Ánh đèn sân khấu, đó là vầng sáng quyền năng. Tôi không nói đến quyền lực của sự nổi tiếng, mà tôi chỉ quan tâm đến quyền năng kì diệu của những sự sờ chạm vô hình, của sự thông thấu mà người ta có thể có được với nhau, qua âm nhạc, và nhất là âm nhạc do mình sáng tác nữa. Nhưng ngay sau đó, khi bài hát đã xong, nhường chỗ cho những câu chuyện, những lời khen, những bó hoa, là tôi lại trở về làm gã ngố rừng. Tôi yêu quý trân trọng mọi sự chú ý, nhưng quá nhiều đôi khi khiến tôi lúng túng lắm, chẳng biết phải làm sao. Hãy chỉ để tôi hát và chơi nhạc của mình thôi.”

Sự thâm thúy đến từ những kỹ năng tồn tại tưởng như ngô nghê nhất, và cách của Trịnh Nam Sơn bảo bọc ông trong một vùng hồn nhiên vô nhiễm, ngay cả khi phải đứng giữa ánh đèn spot-light.

Hãy đừng làm kinh động đến vùng không gian vô nhiễm ấy!

F.dater hãy nhẹ nhõm rời cuộc hẹn, để lại sau lưng người đàn ông hoàn toàn hài lòng với nụ cười hồn nhiên thỏa mãn.

Trên mọi nẻo hẹn hò, hãy nghe lời khuyên của F: tránh xa những người đàn-ông-con-nít, nếu bạn chỉ đủ nũng nịu để làm một nàng thơ, và hẵng còn quá sớm để vào vai một người mẹ. Nhưng đó cũng chính là những người đàn ông bạn sẽ hi vọng gặp lại một ngày, vào một cuộc hẹn hò hoàn toàn khác, đôi khi chỉ để tự tay làm một món quà quê, để lại được nhìn thấy nét hân hoan con trẻ.

Tuẫn-tiết, Văn-minh, và Đầy Thái-độ

Trác Thúy Miêu

Đứa trẻ không chọn sinh ra vào một ngày lành

Đúng 2 năm về trước, F số đầu tiên tung ra tuyên ngôn “thời trang không phải là nghệ thuật, nhưng cần cả một nền văn minh để kiến tạo và thụ hưởng nó”.

Chặng đường một năm đầu khởi tạo đã được thực hiện đúng với lời tuyên ngôn đầu tiên ấy, khi lần dở ra trên từng trang báo, những câu chuyện, cuộc đời, những thăng trầm của tài hoa thống khổ, và những thái độ thời cuộc đằng sau những đế chế thời trang hùng mạnh và những cái tên đã hóa thánh.

Ngày khai sinh của ấn phẩm F-Thời Trang, ngoài kia, thế giới đang rùng rùng sự sụp đổ của những tượng đài quyền lực trong bi kịch của khánh tận và kiệt quệ, của Christian Lacroix và Alexander McQueen,… Haute couture rùng mình trong cơn tự hủy, những tín đồ hoang mang với câu hỏi “Rồi đây chúng ta sẽ có gì để trông đợi, trước mỗi mùa Thu Đông?”

Nhưng, như đứa trẻ không chọn sinh ra vào ngày lành, F chọn cả tin, điên rồ và lãng mạn, F chọn hướng về thời trang, không chỉ như một trận đồ thương mại, mà còn như một lối sống, một tín ngưỡng, một Tình Yêu.

Đó là một năm của những hồ sơ tên tuổi khét tiếng nhất được lần dở, nghiêm cẩn, trung thực và bạo liệt như chính bản chất của thời trang chuyên chính. Đứa trẻ hư Marc Jacobs, hooligan phá đền Jean Paul Gaultier cho đến cái chết bi thảm của thiên tài yểu mệnh Lee McQueen. Đó đã là năm hình thành nên những loạt bài tư vấn trận đồ mua sắm thế giới, cho đến nay vẫn là kim chỉ nam thân thiết của các shopper Việt, sẵn sàng công phá những bãi săn và trực chỉ hành hương về những thánh địa thời trang nóng bỏng nhất hành tinh. Và miên man bên lề là những cuộc hẹn hò, từ “the boy next door” xóm Manor Johnny Trí Nguyễn cho đến gã đàn ông đồ đá đồ đồng Ngô Quang Hải… F bày ra trước độc giả của mình, những người được gọi là F.readers, một bữa buffet cuộc đời, từ nền văn minh đằng sau những thứ không chỉ là quần áo, cho đến thời trang trong phong cách sống, và trong cả lạc thú đặc ân của một F.diva – những cuộc hẹn hò và những người đàn ông.

12 số F đầu tiên đã ghi dấu cho 12 đại tiệc thụ hưởng thời trang chuyên chính, nơi tất cả đều là Thời Trang, và sự xa xỉ tột cùng của những người đàn bà biết bao phủ bản thân bởi những gì tinh tế và cầu kỳ nhất, với mọi tag giá.

Những vị vua và những bà hoàng đi về đâu?

Đúng một năm sau đó, trong khi F chào đón kỷ niệm tròn 1 năm phát hành thì ngoài kia, như phần số oái oăm của đứa trẻ không chào đời vào ngày lành, giới thời trang cuồng nộ với sự thái quá cuối cùng của gã hiệp sĩ râu kẽm John Galliano. Các tín đồ ở Anh quốc và cả Paris lang thang giữa đại lộ thời trang, tay giơ cao biểu ngữ nguệch ngoạc “The King Is Gone!”, trong khi tay Don Quijote của huyền thoại haute couture nhà Dior bị truất ngôi trong chuyến lưu vong ô nhục. Đứa trẻ hư cuối cùng đã bị đánh đòn và ngai vàng đến nay vẫn còn để trống.

Yếu ớt, vô tâm và vị kỷ, những cơn sài giật đồng bóng của thế hệ thiên tài thời trang đã khiến cac tập đoàn cá mập ngán tận cổ. Họ trở nền phiền toái và tạo bất an không kém sự lộng lẫy kì tài của những thiết kế họ tung ra mỗi mùa.

Những thành trì haute couture còn lại cần những cánh tay tài hoa mới, và những bờ vai khỏe mạnh, vững bền để gánh vác, chờ cuộc chấn hưng.

Trải dọc tuổi đời thứ 2 của F, thế giới lại quằn mình vĩnh biệt một vị vua khác, người giờ đây ắt đang lướt bước moon-walk trứ danh nơi thiên đàng, vĩnh viễn một Neverland cho những thiên tài không bao giờ lớn.

Kế tiếp sau Vua Pop về tuyền đài không lâu là một giai nhân tri kỷ khác của ông, một huyền thoại nhan sắc của nhân loại – người đàn bà mắt tím Liz Taylor. Nàng ra đi, trong khối thân thể tàn tạ và chiếc váy cưới thứ 8 chưa kịp hoàn thành.

Và trong những sinh ly tử biệt ấy, F vẫn lãng mạn và dư dả đức tin để hân hoan thốt lên vào số kỷ niệm 1 năm phát hành: “Cuộc vui chỉ mới bắt đầu!”, bởi với tinh thần lạc quan không khoan nhượng, F hiểu rằng chính khi những cuộc hoán chuyển dữ dội nhất diễn ra, khi những điều đã cũ lần lượt ra đi, đó đồng nghĩa với những khởi đầu mới, và F đang ở mức vạch đầu tiên, sung mãn và đầy kiêu hãnh, bởi: “đứng ở vạch xuất phát luôn là những gã khổng lồ, những người hùng và những quán quân, và cả những kẻ lãng mạn nữa. Bởi khi người ta bắt đầu, tất cả những sự tính toán tỉnh táo nhất, những hoạch định khôn ngoan nhất, tất cả chỉ chịu sự khống chế duy nhất: giới hạn của trí tưởng tượng.”

Đã là 12 tháng, 12 số ấn phẩm của xen kẽ với những cuộc phế truất, những cuộc tử biệt nặng nề, còn là những tên tuổi đang tuần tự thay máu đại cục thời trang thế giới. Từ nữ truyền nhân tóc vàng của Lee McQueen quá cố đã rạng rỡ chinh phục làng thời trang trong chiếc váy hoàn hảo dành cho tân nương hoàng gia Anh Quốc, cho đến người đàn bà nắm trong tay quyền trượng nhiếp chính đế chế Versace và gia huy nữ thần tóc rắn, trong khi ngoài kia, thế trận siêu nhân sự thiết kế thời trang đang được dàn sắp lại bởi những “quân cờ” trẻ trung, sung mãn, và đầy tham vọng. Thế cục vẫn luân hồi chuyển xoay quanh những ngai vàng bỏ trống, những cây thập giá vinh hoa và khổ nạn của haute couture đã sẵn sàng chờ những vị tông đồ trẻ. Cùng lúc, lực lượng những con người đằng sau mỗi ấn phẩm F cũng đón nhận những tay viết mới như một cuộc tiếp máu đúng thời điểm. Và một cuộc hoán chuyển đổi thay lớn đã diễn ra.

Ngạo nghễ trên đống hoang tàn

Chuyên mục Shopping City khép lại, nhường chỗ cho những cuộc du ngoạn hưởng thụ cho một diva sành sỏi, thay cho những câu chuyện về các tên tuổi làng trường túc trong chuyên mục Model được thay thế bằng Style Icon, với những câu chuyện cuộc đời những vĩ nhân đương đại của thảm đỏ thế giới. Họ không chỉ là những nhân vật thượng lưu sành trò ăn vận, mà đưa định nghĩa Style về mọi khía cạnh và giá trị của nó. Đó là vua Pop, Đồng nữ Madonna, Liz Mắt tím, lệnh bà nhà Vogue Anna Wintour, hay tay đàng điếm cao niên Mr.Playboy. Những cuộc đời không hề mẫu mực, nhưng duy mỹ đến tuẫn tiết vong thân ngay giữa phần số phù hoa tráng lệ.

Cũng chính từ Style Icon, F đã tung ra chùm chuyên đề về sự man rợ của thời trang xa xỉ, về những sinh linh vô tội bị tra tấn và thảm sát để đánh đổi cho các nạn nhân của cơn nghiện xác. Họ khoác lên mình những xác chết và tự gọi bản thân là những nữ nhân đại diện cho tầng thượng lưu ưu tú. Trải dài trên liên tiếp nhiều trang báo là chân dung máu lạnh của lệnh bà Vogue Mỹ Anna Wintour với quyền lực tối cao và trái tim của một nữ đồ tể, phía đối diện là cuộc chiến bền bỉ quyết liệt của nữ chính ủy PETA – Ingrid Newkirk, cùng các chiến binh của mình, trong đó là một lực lượng những minh tinh nổi tiếng nhất thế giới tình nguyện khỏa thân và tạo một sức công phá khôn lường lên thị trường thời trang lông thú. Hơn cả lệnh bà tối cao của truyền thông thời trang Anna Wintour, chính họ mới là những mẫu mực duy mỹ chân chính của văn minh thời trang mà F muốn cùng độc giả của mình hướng tới.

Năm thứ 2 của F còn ghi dấu sự ra mắt của Top Brand – một cẩm nang kì thú về huyền sử các tên tuổi thế lực thời trang thế giới, một cuộc chơi thuần túy vị kỷ và tự do của những tay viết không bị chi phối bởi áp lực quảng cáo của một tạp chí. F dàn trải trước các độc giả của mình một giá trị cộng thêm vô song cho mỗi tuyệt phẩm thời trang được mua sắm, vượt trên tầng khoái cảm của việc sở hữu một món “hàng hiệu” đắt tiền, và cũng là một tác động gián tiếp đến nền văn minh hàng chính hãng, đặt một lằn ranh đẳng cấp rõ rệt giữa một tín đồ văn minh với một nạn nhân của các tay buôn sỉ người Tàu và những món vật thứ cấp, nỗi rùng mình kinh hoảng của văn hóa shopping. Thay cho Shopping City, Top Brand tiếp tục đóng vai trò cẩm nang tri thức thời trang cho mọi shopper duy mỹ, khôn ngoan và tự trọng.

Lại thêm 12 tháng nữa, F dẫn dắt các diva tuần tự đến với những hẹn hò, từ tiếng đàn rơi vỡ trong một chiều lặng gió của người đàn ông Hà Nội Phú Quang, rồi ngược về phương Nam đón lấy tia nắng heo hắt cuối ngày với thần tượng tân nhạc Nguyễn Ánh 9,… Tuổi đời thứ 2 của Date Of The Month còn là dấu son ưu ái của những vị vua, từ ông hoàng Nhục Tình Ca Phạm Duy cho đến gã ngạo vương trên bể lệ đàn bà Đàm Vĩnh Hưng.

Ở chặng đường từ vạch xuất phát của mình, F, ngạo nghễ trên đống hoang tàn, chọn sự lãng mạn không khoan nhượng, chọn một tầng văn minh thời trang hướng thượng cực đoan nhất, và chọn chạm vào những vị vua.

Người ta sẽ đi đâu, sau khi chạm vào những ngôi sao?

…và bạn vẫn chưa đọc F năm thứ 3!

Cũng chính từ bom chuyên đề cuộc chiến chống thời trang xác thú, F đã khai mở cho chính mình chặng chinh phục tiếp nối – chủ kiến thời trang. Khi thời trang thoát khỏi tầm mức hạn chế của thuần túy bộ cánh trưng trổ nông khơi, bản chất phù phiếm của nó chính là nghệ thuật thụ hưởng trong xa xỉ cực đoan. Đó có thể là món thời trang non mùa vừa chạm kệ boutique, đó có thể là một tư duy yêu và niêm luật sống mà mỗi độc giả, nhân vật của F xác lập và trung thành tuyệt đối.

Từ số đầu tiên cách đây 2 năm, F đã hình thành mạnh mẽ và rõ ràng một sắc thái ngôn luận, từ văn phong ngôn từ, cho đến thông điệp và thai độ.

Bạn cho rằng các ngôn luận của F đã quá sặc sụa thái độ?

Bạn cho rằng F đầy áp đặt ngông ngạo trong những chủ kiến dễ gây dư luận đa chiều?

Đó là chỉ là vì chúng tôi chưa thực hiện F năm thứ 3!

Stefano Pilati – kẻ đang nắm số cá cược cao về khả năng ngồi vào thế chỗ chiếc ngai bỏ phế trên đỉnh thời trang Pháp đã nói: “Từ những ngày đầu của prêt à porter, đã là những ngày khai mở cho yếu tố thương mại của thời trang. Và ngày nay nó đã thành cái chợ. Trào lưu được định nghĩa là thứ kiểu dáng nào được nhiều người chọn mua nhất trong mùa. Trong thời trang dân chủ, tín đồ quyết định cho xu hướng của tín ngưỡng, đông thắng ít, mạnh thắng yếu. Thành ra cái chợ!”

Không thể hân hoan hơn cho những tín đồ đẳng cấp, khi mà ứng viên sáng giá của thế lực Dior lại là một cái đầu tỉnh táo với một chủ kiến đầy thái độ và quyết liệt đến vậy. Vì F, cũng nhưng những độc giả của mình, tin rằng thời trang, dẫu là prêt à porter dân chủ, cũng cần những kẻ mạnh, những phần tử quá khích, và những chủ kiến dẫu có đầy áp đặt, để chấn hưng, tạc dựng nên một thái độ thời trang rõ rệt, phân định tầng đẳng rạch ròi. Thời trang cần là một bức tranh lập thể đa sắc, nhưng mạnh màu và nặng nghiệp – như tất cả những gì đại diện cho tố chất của thời trang và những tín đồ tuẫn tiết của tinh hoa nghiệp đạo Thời Trang.

Bước vào năm thứ 3, F đã chuẩn bị cho thách thức mới ấy bằng 2 số khai pháo của Smart Money – câu chuyện thật thà đằng sau mỗi món săn vi diệu của fashionista. Smart Money là kim chỉ nam để phân biệt giữa một tín đồ với một nạn nhân. F không chỉ là những câu chuyện nội giới của các nhà thiết kế, các tượng đài phong cách, các nhà thời trang đầy quyền lực, và các cơn sốt theo mùa, Smart Money chính là câu chuyện của độc giả F – những fashionista tân thế hệ: văn minh, ranh mãnh và duy mỹ cực đoan. Đó chính là lý do mà F ưu ái đặt Smart Money ở vị trí đầu trong ấn phẩm, một sự sờ chạm thiết thực đến các độc giả của mình.

Như tuyên ngôn đầu đời của F, thời trang không chỉ là nghệ thuật thuần túy trong ý nghĩa vong thân, đó còn là một thái độ sống, đó còn là một tín ngưỡng để xoa dịu và dẫn dắt, chứ không hề là thói phù phiếm trong những tiếng quẹt thẻ mòn mỏi u mê của những tín đồ thống khổ.

…Và đó vẫn chưa là tất cả mà F có thể vén màn quá sớm khi mà cho đến tận cuốn ấn phẩm F số 24, mọi thứ vẫn chỉ mới đang bắt đầu.

Bạn có thể tin rằng bạn đang cầm trong tay một sản phẩm đích thực của thế hệ văn minh thời trang mới.

Sự thật là, chúng tôi, mỗi người trong cái ê-kíp những con người điên rồ, tuẫn tiết và lãng mạn kì cục đằng sau từng trang viết, từng shot ảnh, ưng gọi đây là một Tác Phẩm hơn.

Và trong thế giới của Thời Trang, trong quan niệm của F, sự khiêm tốn là một giá trị xa xỉ.

3 octave rưỡi và 48 năm

Túy Ca

Từ James Dean trong chiếc xác xe méo mó khét khói, Edie Sedgwick với những ngày thảm hại cuối đời, Michael với cơ thể bị hủy hoại, và giờ đây là Diva Đen, kết thúc cuộc đời như lời thoại trứ danh của Savannah trong Waiting To Exhale: “cuối cùng, tôi nhắm mắt và… thở ra!”

Chúng ta tỏ ra sửng sốt, bất ngờ và đau xót trước cái chết của Whitney Houston, nhưng thật ra trong suốt hơn một thập niên qua, chúng ta đã đứng đó, nhìn nàng chết từ từ ngay trước mắt.

Tiếng ngân lạc điệu cuối cùng

Vào ngày thứ Năm cuối cùng trong đời, nàng có mặt tại buổi tổng duyệt cho đêm gala hằng niên của sự kiện pre-Grammy của Clive Davis – người được coi là đã phát hiện ra Whitney, để cùng tập với Brandy và Monica, trước sự chứng kiến của báo giới. Nàng tươi cười nồng hậu như mọi khi, nhưng trong một dung mạo rối bời, bộ trang phục lỏng chỏng trơ khấc và mái tóc bết ẩm mồ hôi.

Nàng loạng choạng và tỏ ra thất thường trong suốt buổi chiều hôm đó, khi nhảy chân sáo quanh phòng khánh tiết như một đứ trẻ, lúc lại lơ ngơ lang thang bất định ngoài tiền sảnh. Đội cảnh vệ khách sạn nhận cú phone báo rằng Diva Đen đang làm trò trồng cây chuối ngoài khu vực hồ bơi.

Đêm cùng ngày, người ta lại nhìn thấy nàng xuất hiện ở party “For the Love of R&B” của Kelly Price tại Tru nightclulb, hoàn toàn tỉnh táo và thăng bằng. Whitney ngân nga một đoạn gospel ngắn cùng Price, làn hơi của nàng rõ ràng đã không còn phong độ, nhưng điều này cũng đã không còn là sự lạ, kể từ tour diễn sau album “I Look To You”.

Chỉ có điều đã chẳng ai biết được rằng đó chính là màn biểu diễn cuối cùng của Diva Đen.

Hình ảnh của Whitney khi rời Tru Club đêm định mệnh và cái vẫy tay sau cuối. Đã không ai biết rằng đó là lời vĩnh biệt của Diva Đen.

Whitney Houston mãi mãi không sửa soạn để xuất hiện tại đêm gala nọ. Vài giờ trước sự kiện, người ta tìm thấy Diva Đen trong bồn tắm, không còn ca hát, nghiện ngập, và yêu đương.

“Sinking to rise no more…”

Cho đến khi nàng mất đi, người ta vẫn tin rằng câu chuyện tình sâu sắc nhất của Whitney chính là cuộc tình với người bạn gái Robyn Crawford từ 16 tuổi, và về sau là trợ lí riêng trong suốt nhiều năm. Là một con chiên mộ đạo, Whitney tài tình hóa giải scandal bằng một đám cưới linh đình, đương nhiên với một anh chàng rõ là dư thừa nam tính.

Năm 1992, Diva Đen kết hôn với Bobby Brown trước sự chứng kiến của 800 khách mời, trong số đó có không ít người ngấm ngầm tỏ vẻ e ngại cho sự vững bền của những lời thề đang được nồng nhiệt trao nhận trước bệ thờ. Whitney say sưa mê đắm và hể hả đẹp lòng. Nàng cần một vòng tay vững chãi, một thần tượng trong nhà, một người đàn ông để ngước nhìn tin cậy. Trong cuộc trao đổi ấy, nàng phải chấp nhận luôn những gì chàng tha lôi vào cuộc đời nàng, gồm cả những đứa trẻ của hai người đàn bà khác, và đó chỉ mới là màn khởi đầu.

Những vụ ẩu đả nội gia của cặp đôi lập tức được báo giới cập nhật nóng sốt liên tiếp sau ngày cưới. Đáng tiếc, dường như gene cà khịa của Bobby lại nhằm vào cung thê nhiều hơn, tỉ lệ thuận với tình yêu nồng nàn mà chàng cũng công khai dành cho vợ, dù những phi vụ đi đêm của đức ông chồng vẫn thi thoảng được báo giới bắt quả tang.

Chính Bobby về sau cũng thừa nhận rằng hôn lễ năm 1992 với Whitney đã phần nào nhằm chỉnh trang đánh bóng cho hình ảnh bê tha lắm tai tiếng của mình. Như một cuộc đánh đổi tàn nhẫn, ngay khi Bobby Brown tỏ ra chui vừa vặn vào chiếc áo mới mang màu sắc gia đình, thì các vụ scandal, chứng nghiện ngập và thói tính hung dữ thất thường lập tức vây phủ lấy Whitney. Công luận chuyển hướng tình cảm cho nàng từ thương hại sang phê phán khi nàng liên tục xuất hiện trước công chúng với những vết bầm hiện rõ sau lớp concealer. Từ vị trí nữ hoàng, Whitney trở thành hình mẫu hiện thân cho gia đình tệ nạn khu Ghetto.

Cặp đôi rời bỏ nhau chính thức năm 2007, sau 15 năm lửa hương thượng hạ, Houston khuấy đảo truyền thông bằng cuộc tình xập xình nhang khói với phi công trẻ Ray J.

2 năm sau đó, kỹ thuật thu âm đã bảo vệ cho tượng đài diva một cách mỹ mãn, khi nàng cất lên ca từ đầy dự cảm đau buồn: “About to lose my breath, there’s no more fighting left, sinking to rise no more, searching for that open door.”

Đĩa bán chạy, nhưng tour diễn bắt đầu cho thấy một phong độ diva rệu rã và một giọng ca đã bị hủy hoại quá nhiều.

Một tiểu sử đằng đẵng những vụ bạo lực gia đình, tiệc tùng, hào quang và, đương nhiên, rượu, chất kích thích lẫn thuốc an thần, hoàn toàn không có gì khác biệt với câu chuyện của Elvis, Michael, hay Amy – những cuộc đời tài hoa và cụt lủn.

Cả thế giới bên ngoài thảm đỏ đều mơ ước đặt phần số mình vào vị trí một ngôi sao, những kẻ có thể kiếm ra hàng triệu dollar, sống đời đế vương xa xỉ, và để mặc sắc đẹp cùng tiền bạc lo liệu cho mọi thứ còn lại trên đời. Whitney là một người như vậy, với tất cả những sự ưu ái của phần số, và lần lượt mất tất cả cho đến ngày cuối đời ở tuổi 48.

Sống như thiêu thân, chết như thần tượng

Như những ca từ đầy dự cảm trong bản I Look To You, có nhiều giả thuyết cho rằng Whitney rất có thể đã chìm hẳn vào bồn tắm do say rượu, hoặc phê thuốc, nhưng phần nhiều xác suất vẫn nghiêng về khả năng sử dụng thuốc kích thích quá liều. Có vẻ như một giả thuyết đơn giản, phổ biến và hợp lí cho phần lớn các vụ “sao băng hà”. Nhưng giả thuyết đầu tiên lại đúng hoàn toàn, khi xét đến theo nghĩa bóng: chìm hẳn khi say rượu!

Ngay từ lần đầu tiên lạc giọng trên sâu khấu ở độ tuổi còn quá trẻ, Whitney đã trở thành huyền thoại – điều còn có nghĩa là một thứ đã qua. Nàng đã chìm, từ rất lâu, và trong một cuộc hấp hối không hề đẹp mắt.

Trong khi các thủ tục giám định còn chưa cho kết quả cuối cùng về nguyên nhân cái chết, Patricia Houston – chị dâu của Whitney đã là một tiếng nói hiếm hoi cho rằng chính đời sống ái tình của Diva Đen, mà cụ thể ở đây là người chồng cũ và thói nghiện ngập đã đẩy nàng xuống vực thẳm của cuộc sống. Trong buổi trò chuyện với Oprah Wingrey trên chương trình Oprah’s Next Chapter, Patricia thừa nhận đã từng có dự cảm về cái chết trẻ của Whitney: “Điều làm tôi run sợ cho Whitney không hẳn đến từ những cơn say hay phê thuốc của cô ấy vào thời kỳ sau này, mà đến từ một cảm giác rõ rệt rằng cô ấy đang tuyệt vọng tìm kiếm ái tình toàn ở những nơi sẽ chẳng mang lại cho cô ấy điều gì tốt đẹp.”

Công luận phản ứng dữ dội khi Patricia chia sẻ cả những hình ảnh và chi tiết về thể trạng tồi tệ của Whitney trong những tháng ngày cuối. Thói nghiện crack đã khiến Whitney phải đeo răng giả, và chứng mất kiểm soát tiêu hóa khiến nàng phải mặc tã lót khi ra ngoài.

Người ta cho rằng việc Patricia tiết lộ thông tin về đời tư và lối sống của Whitney, cũng như việc La Toya Jackson ngay lập tức lên sóng truyền hình bới móc lại chuyện tình từ 1984 của Whitney với anh trai của Michael Jackson là Jermaine Jackson, là những đòn câu rating thảm hại và báng bổ. Ngay cả việc tiết lộ tấm ảnh cuối cùng của thi hài Whitney Houston cũng là một việc khiến các fan của nàng vừa xót xa thương cảm, vừa đùng đùng căm phẫn.

Người ta muốn Whitney Houston, cuối cùng, được nghỉ cho yên.

Piers Morgan – tay Ăng-lê duy nhất được trả tiền để làm cái việc dạy đời dân Mỹ trên TV Mỹ, đã lạnh lùng tuyên bố rằng những ngôi sao giải trí – phái thượng lưu mới của Mỹ, đang làm gương xấu cho cả thế giới bằng việc sống một cuộc sống bê tha và chết như những thần tượng.

Minh chứng hiển nhiên nhất lại được nhìn thấy khi chính con gái của nàng, đã lập tức phê thuốc trong tình trạng tinh thần suy sụp hoàn toàn ngay sau tang lễ của mẹ.

Xuất hiện trong show Today của đài NBC, Bill O’Reilly thẳng thừng buộc tội giới truyền thông đã khai thác chứng nghiện ngập của Whitney Houston: “Đã không một ai, trong số tất cả những thông tin ấy, thẳng thắn nói rằng ‘Này Whitney, chị ngưng trò ấy lại còn không là xuống đất nằm ngay đấy!’ Họ – những nhà báo, đúng lí ra là làm công việc của truyền tải sự thật. Và sự thật ở đây chính là cái chết được báo trước của Whitney. Cái thứ sự thật đó đã chẳng bao giờ được nhắc tới cả.”

Cú quẫy đạp sau cuối của Whitney, tiếc thay, đã quá muộn, không kịp đặt nàng một lần nữa lên đỉnh thế giới sau khi đã trượt dài quá sâu và quá lâu.

Whitney Houston đã chơi cuộc chơi của mình như vậy, với 3 octave rưỡi và 48 năm. Nàng bắt lấy ngôi sao của mình, nhưng thay vì tỏa sáng dài hơi dưới vì sao may mắn, ánh sáng spot light và rừng flash báo chí chỉ trả lại cho khán giả của nàng một người đàn bà mất thăng bằng và rệu rã.

Nghệ thuật cứu rỗi và xoa dịu, nhưng không phải cho những người tạo ra nó.

Phạm Duy – hoàng đế Nhục Tình Ca

Jasmine nOir

Khi mà ngoài những con lộ trung tâm, những quả châu mừng đêm sao sáng đang được trưng lên cùng lúc với những dãy mai vàng tòe loe phồn thực, thứ hoa nhựa không tàn của thanh tân vĩnh cửu, như một điệp khúc hoan ca lặp lại 12 tháng một lần: Xuân!

Khi mà xen kẽ một cách tài tình vào guồng quay thít chặt của những tuần cuối cùng trong năm là những tấm thiệp hồng như cũng róng riết đầy xách mé: Mùa Tìm Bạn!

Một đáy mắt màu trà, một vạt nắng hanh hao hắt trên khuôn diện người đàn ông cuối chiều, dư vị cuối cùng của những cuộc sờ chạm 12 tháng qua cũng đã kịp tiêu hóa vào từng tế bào xúc cảm và tan biến, bất khả vãn hồi.

Như tuổi.

Như thời gian.

Những hò hẹn lướt qua chưa đủ chậm.

Người ta chỉ đủ thời gian để ghé qua nhau trong đời.

Bạn – diva thế hệ tân nữ nhi tiến bộ, như cô nhỏ xỏ chân vô đôi giày đỏ không thể ngừng những bước nhún nhảy, chợt hiếm hoi một lần ước cho mùa dừng lại.

Chớ vội Hạ thắm Thu vàng, tại sao lại không là một Xuân Hoàng kim Vĩnh hằng Vạn vạn tuế?

Hãy lắng nghe lời khuyên chân thành nhất từ dater của F.: nếu một Xuân dài hơi là thứ bạn đang tìm kiếm, điều dại dột nhất bạn có thể làm là hẹn hò với một chàng trai nhỏ hơn mình.

Hãy tìm đến với người đàn ông có trên mình hơn nửa thế kỷ yêu đương miên man mê khoái, hãy chọn cho mình một con đực đầu đàn với vẻ phương phi phỉ mãn, đôi mắt tinh anh và nụ cười Di Lặc.

Hãy chọn cho mình người đàn ông có mái tóc bạch kim hoàn hảo, khuôn diện hồng hào, và chiếc áo dạ màu bordeaux hàn lâm kiểu cách.

Hãy vận dụng đến từng giọt hormon đàn bà tính để tiết ra thứ thiện chí hợp mùa mà làm cuộc sờ chạm đầu năm với kẻ được mệnh danh là Hoàng Đế Nhục Tình Ca.

photo by DaiNgo

Quý cô F. và phiên chợ tình trung cổ

Điều quan trọng đầu tiên là bạn phải không được quên là dater đầu năm của bạn đã sống gần 1 thế kỷ, và bạn sẽ bình thản hơn khi đương nhiên là cuộc hẹn sẽ không thể diễn ra tại một tiệm café thời thượng nào dưới phố.

Vĩ nhân tóc trắng, cây đại thụ của lịch sử tân nhạc Việt Nam, sẽ chờ bạn trên một chiếc sofa khổng lồ màu tía. Từ khối thân thể ngót nghét 100 năm tuổi phát ra thứ giọng nói vang ấm như chuông đồng và chuẩn mực đến từng nguyên âm phụ.

Ông kể về những cuộc tình, và không về một cuộc tình nào cả:

Những tình nhân trẻ cách đây hàng thập niên cũng hoang mang phi lý đâu kém những nhân tình trẻ bây giờ. Họ hoang mang mò mẫm nhau đòi tìm hạnh phúc, rồi thả rông năng lượng vào những mối tình gầy, những ả vai gầy mi thưa, tình mỏng đến đến vô phương ôm nắm, rồi lại hoang mang tìm nắm những thứ mong manh. Họ cứ ngồi đó, nắm tay nhau rồi về thở than cho cái sự dở dang. Họ như những đứa trẻ nhỏ thơm vào má người tình mẫu giáo rồi bảo rằng dẫu sao đời cũng vá vào được lên vai một mảnh tình.

Ai bảo họ si tình và đa tình? Tôi cho đó là húy tình. Bởi thứ ái tình thật thà trần trụi nhất sẽ nuốt tọng, nhai rau ráu, sẽ đốt trụi những tâm hồn và thân hình mai hạc ấy. Ái Tình là hân hoan xác thịt như nó vẫn hằng, là thăng hoa nhục thể mà “lên đồi hẹn với bình minh”. Ái tình đâu phải vốn dĩ mong manh, bởi trong mắt nhìn của tôi, nó phồn thực ngạo nghễ và mê muội thật thà lắm lắm.

 

Bởi chăng cái thứ ái tình mỡ màng và thật thà trần trụi ấy đã nuôi đến phun trào phỉ khoái nguồn thi hứng tưởng như không cạn của người đàn ông tuổi đời ngót nghét non thế kỷ, giờ đây đang dãn nở thênh thang trên chiếc sofa đỏ thắm, thấp thoáng từ đôi mắt tinh anh tia thép sắc lạnh nghiệt ngã của kẻ đi đi về về đã mòn lối cuộc đong đưa.

Người đàn bà tưởng đã rành tám câu hò hẹn rồi cũng sẽ có lúc run rẩy cảm nhận đôi tia thép ấy lướt nhanh, rất nhanh xuôi chiều dài khiêm tốn của chiếc váy little-black-dress size XS của người đối diện.

Bạn – tín đồ trường phái vị lai của thập niên 1960 với thẩm mỹ Twiggy sẽ thấy mình lạc vào bữa đại tiệc ái tình phồn hoa của những mỹ nhân phồn thực thời 1940, thậm chí xa hơn về phía trước, nơi những người đẹp Phục Hưng tươi tắn khỏa thân ngồn ngộn, đôi má ngây hồng và da thịt tràn trề căng mẩy.

Hay đơn giản hơn, bạn, và tất cả những lý tưởng tình ái lãng mạn tân thế hệ của mình, sẽ thấy bản thân đứng lạc lõng trong một chợ phiên thời trung cổ, lúng túng thẹn thùa trước ánh mắt dửng dưng của tay đại phú hào tài hoa và quyền lực.

Điều này thật tệ nhưng cũng thật thú vị và kích động khôn lường.

Quý cô, hãy giữ nguyên đôi chân an ổn trên đôi gót mảnh, bắt chéo cặp đùi, bởi cuộc hàn huyên chỉ mới bắt đầu!

Người Việt lãng mạn và người Việt giả dối

Người nhạc sĩ tài hoa đã bước qua ngưỡng ngại ngần che đậy mà thơ thới phong phanh trước nhục cảm và ái tình. Thì bạn, cô nhỏ táo tợn, cũng chẳng can cớ gì mà dè dặt khi tung ra một cố gắng yếu ớt thử bao biện cho trường phái lãng-mạn-phi-dục-tình.

Nói rằng Ái là Dục thì hăn hẳn là sai. Vả chăng nếu bảo đấy là Dục, e rằng sẽ sinh nhiều nhầm lẫn tai hại. Tôi gọi đó là Nhục. Ái tình nào mà không thể có cái râm ran Nhục Thể? Dẫu cầm được bàn tay nhau cũng lâng lâng mụ mị tâm thần, ấy là hạnh phúc. Mà dẫu là Ái của cuộc vầy vò trên giường tình, đó cũng là hạnh phúc. Đẹp không nào “anh cuốn lưng cong em ưỡn lưng ong cho sét âm dương nổ tung”. Cái thăng hoa này lại nảy nở từ tình ái, chứ đâu phải chỉ suồng sã dục tình. Nó phải cuống quýt thèm thuồng, phải hau háu tưởng như không bao giờ no đủ. Chứ một cuộc trơ trẽn nguyệt hoa chỉ tổ tanh lạnh lúc nguội trò.

Bạn thở dài, sườn sượt tiếc nuối những cuốn tiểu thuyết diễm tình học đường của Tôi Thương Mà Em Đâu Có Hay và Bong Bóng Lên Trời.

Người Việt Nam quả là tổ sư lãng mạn. Không chỉ từ thời người Pháp mang vào đây những tư tưởng huê tình trưởng giả Tây phương, mà từ thời liền anh liền chị đong đưa lúng liếng đò tình Quan Họ, nào mắt lá răm nào yếm thắm, hay trò tán tỉnh thô bạo ngô nghê Nam bộ “ban ngày mắc cỡ tối ở quên về”, cũng táo tợn, cũng đầy nhục cảm, cũng lẳng, cũng tình lắm đó chứ.

Đến thời trào lưu văn minh Tây học, anh thi sĩ nào mà chẳng tơ vương vài dáng gầy nàng thơ, chỉ ngửi mùi giai nhân đi ngang đã lâng xiêu trời đất, thừa sức tự biên cả một cuộc tình lẫy hoa lệ. Từ các ông Đặng Thế Phong cho chí Văn Cao, ông nào ông nấy cũng ảnh hưởng nhiệt tình trường phái ‘romantisme Francaise’, làm gì có chỗ cho chuyện vầy vò mây mưa.

Nhưng rồi thời nào cũng rách trời rơi xuống một Hồ Xuân Hương táo tợn, một Phạm Duy Tốn phong tình bạo ngược, rồi lại sản sinh ra một Phạm Duy ngạo nghễ với những bản Tục Ca hay tôn vinh ái tình nhục thể qua những bản Nhục Tình ca.

Tình, phải đi với Tục, là thế. Bà thi sĩ họ Hồ có lãng mạn đa tình đấy, nhưng đọc thơ bà toàn nhựa mít với trôi nước trắng trắng tròn tròn, có ai nghĩ đến cái chất Tình ngay đâu, mà đã hừng hực lồ lộ cái điều tế nhị ấy ngay tắp lự.

Tình mà không có Tục, thì dở lắm!

Thế nên mới ra cớ sự, đang viết Tâm Ca, tôi để đấy, viết Tục Ca. Tôi đưa cho các anh Tuấn Ngọc với Duy Quang bảo hát, anh nào cũng hồn nhiên nho nhã, le lưỡi lắc đầu, bảo rằng “bố các anh ấy cũng không dám hát”. Thế là tôi phải minh chứng rằng các anh ấy sai: bố các anh ấy dám viết, thì dám hát.

Lạ nhỉ, tại sao người ta rất sợ phải sờ vào cái nơi vốn dĩ rất thích thú khi được chạm đến?

Vì người Việt ta giả dối lắm, cô ạ, đặc biệt là trong chuyện ái tình. Người ta cần xã hội và lề thói của xã hội, bằng không, chúng ta tất thảy đã thành một bầy đàn hoang dã thác loạn bốn mùa. Thích lắm chứ, thênh thang lắm chứ!

Nhưng thôi, cô đừng nghe tôi. Tôi vẫn là kẻ ngạo ngược xưa giờ, và những kẻ như tôi mỗi thời cuộc không có nhiều, nên ơn Trời, thế gian bình ổn!

Huyền thoại trai lơ và hôn nhân bảo toàn bát đĩa

Đối diện một người đàn ông mà tự thân kho tàng âm nhạc đồ sộ và những huyền thoại ái tình cũng toát ra một thứ hào quang khiến kẻ đối diện choáng mờ. Sự pha trộn kì lạ giữa tính hàn lâm và thông tục, với những nhấn nhá đồng bằng Bắc Bộ trên tiết tấu Tây phương, đã khắc tên ông vào tượng đài vĩ nhân huyền thoại. Nhưng chính thứ ái lực rần rật trong từng ca từ được nhả trau chuốt, và những ẩn dụ nửa ý nhị, nửa buông tuồng trai lơ mới khiến tên tuổi Phạm Duy gắn liền với hình ảnh một tình lang không tuổi.

Dường như ông yêu đàn bà quá, đến chẳng bao giờ là cạn cùng no đủ.

Người ta cứ bảo tôi đào hoa đa mang lắm, ừ đành rằng cũng có, bởi đương nhiên là vậy, nhưng không nhiều đến như họ đồn đại đâu. Nếu tôi nhớ không lầm thì độ vài trăm. Có lẽ nhờ được trời phú cho âm nhạc, hóa ra lại là ngón “câu khách” rất thành công. Thậm chí cách đây không lâu, vẫn còn có những bà thính giả chân thành lắm, nguyện về nâng khăn sửa túi. Chết thật, mà khi ấy tôi trả lời bà ấy ra sao tôi cũng quên rồi.

Người ta ngoài kia thương tôi nhiều lắm, nhưng rồi thời ham hố qua đi, có khi ngồi lại tôi lại tham lam hỏi người mà như tự vấn “Yêu tôi, hay yêu đàn?”

Rồi bà nào cũng thế, đàn thì có thể nghe được từ xa, chứ người đàn ông sống gần mới ê chề nhìn ra bao nhiêu là thói xấu. Chả mấy ai mà chịu nổi tôi, thế là họ ra đi, tôi lại vào vai anh thất tình ngồi viết nhạc để tán kẻ đến sau.

Thế rồi cũng có một người đàn bà chịu ở lại và sinh nở cho ông những đứa trẻ, bây giờ là những tài hoa lừng lẫy. Nửa đời kề cận vợ chồng, Phạm Duy vẫn chỉ gặp một người đàn bà theo ông là đủ hoàn hảo để làm được điều đó.

Bà cho ông mặc tình làm đứa trẻ tài năng và trái thói, mặc lòng, bà ấy vẫn dung dưỡng cả những thói tật của đức ông chồng vĩ nhân.

Một người đàn bà đẹp đến mấy, rành đường phong nguyệt đến mấy, lúc xa có tiếc, cũng chẳng tiếc là bao. Nhưng người nhạc sĩ già ngẩn người, hụt hẫng như đứa trẻ say vòi

Nếu có điều gì để tiếc, tôi chỉ tiếc rằng người vợ quá dễ thương, bà ấy mất sớm quá!

Nửa thế kỷ làm vợ, bà ấy đánh đổi để có được trong tôi một vị trí chưa hồng nhan nào có được, và độc tôn vĩnh viễn về sau. Tròn 50 năm sống với nhau, đến khi bà ấy mất đi, tôi vẫn không tin được rằng chưa hề có một cái bát cái đĩa nào bị vỡ.

Người đàn bà lí tưởng nên hiểu và yêu, hay chỉ nên khéo chịu đựng?

Chịu đựng chứ, không thì loạn gia cang lên mất!

 

Dater ngô nghê của F. sẽ gật gù chiêm nghiệm một chân lí hồn nhiên mới về cuộc hẹn hò lớn và lâu nhất đời người: cuộc tình viên mãn và một cuộc hôn nhân hoàn hảo là khi người ta chịu đựng nhau một nửa thế kỷ mà vẫn bảo toàn bát đĩa!

Một và một vạn

Như một tín đồ trường phái hưởng thụ chuyên chính, khuôn diện ông lại giãn nở hài lòng:

Ai bảo hôn nhân là khổ lụy thì tôi thương họ lắm, bởi mỗi ngày trong hôn nhân của tôi đều tựa thiên đàng. Hay bởi tôi tham lam tôi đòi nên được đáp? Tôi như đứa trẻ được cưng chiều suốt 50 năm. Tôi như trong một cuộc tình dài.

Rồi người ta cũng chỉ ghé qua đời nhau, cuộc tình tàn cuộc không có nghĩa là cuộc tình tạm bợ. Tôi không tin vào ái tình tạm bợ, cuộc duyên phần có thể chóng vánh, thậm chí dẫu chỉ vừa đủ cho một lần hoan lạc, nhưng nếu ta đói khát cho cạn cùng, cho nhận cho phỉ mãn, với tôi, đó vẫn là một cuộc tình trọn vẹn. Ấy huống hồ chi 50 năm phu phụ, những chuyến nhận-cho mang về những kiếp người mới, những đứa con. Cuộc tình ấy, với tôi là thiêng liêng trân quý lắm. Đến nỗi ngay những ngày gần đây, tôi vẫn thẫn thờ nhận ra bà ấy vẫn đang ở nhà, ra vào trông nom kề cận bên tôi. Thế mới hay, mới gọi là sống lâu biết đâu chưa đi trọn hết một cuộc tình. Tôi giàu có lắm, bà vợ tôi quả là người đàn bà vô giá: “yêu một người như yêu một vạn người”

Rồi ngay lập tức, như để đánh tan sự thất vọng của kẻ đối diện, ông cũng không thể ở lâu trong vai trai góa mồ côi:

Còn những cuộc tình. Lại nữa, ai bảo ái tình là khổ lụy, tôi cũng thương cho họ lắm. Dẫu có lúc bị phụ, ấy nhưng trong ái tình tôi “phởn” lắm, nên lúc nào cũng thơ thới. Khi yêu đương thì tôi mê muội quên đời, nhưng khi chuyện không thành, tôi hầu như chẳng chút dằn vặt. Cứ thế, nước trôi qua cầu thì dòng mới trong, mới thoát. Tù đọng làm chi cho ngầu đục dòng đời. Tôi chẳng nhớ gì, chẳng mong nhắc lại gì. Những gì đáng giữ thì đều ở lại cả trong tôi làm của nả mang về Tuyền Đài. Còn giờ đây, tôi còn bận giang tay ôm sự sống, chẳng còn tay nào để cắc cớ lần dở chuyện đã lắng sâu, trôi xa.

Những cuộc tình… Dường như Phạm Duy chỉ có một cuộc tình thủy chung duy nhất với Ái Tình ở nghĩa yêu đương rộng nhất, mà trong đó, những người đàn bà đến và đi, thay phiên nhau ngồi vào ghế nàng thơ, những nàng thơ thật ngoan.

Một người đàn ông, bận rộn lắm, và phải tự tạo cho mình một cái thế kiềng 3 chân vững chãi để làm nên cuộc sống: một sự nghiệp, một vợ, một người tình. Vợ tôi, bà ấy biết hết, hiểu hết, mà chẳng bao giờ một tiếng trách hờn. Bởi tôi là kẻ quá đỗi chung tình, nếu không thì tội gì tôi đã nói “nhiều người tình” chứ đâu chỉ là một.

Tôi thành danh về sự nghiệp, với vợ tôi là một cuộc hôn nhân trọn vẹn đề huề, và với người tình, tôi đoan chắc ngay giờ đây bà ấy vẫn đang nghĩ về tôi nhiều nhất. Có 3 điều ấy được bảo toàn, tôi thấy mình trọn vẹn, sung sức và phỉ mãn nhất, ở tư cách một người đàn ông.

Chẳng phải thế cân bằng của vạn vật chỉ cần là sự đối trọng hai yếu tố Âm-Dương? Tại sao ở đây, người đàn ông lại đòi hỏi có đến 2 người đàn bà?

Ô kìa, mỗi người đàn ông cần một vạn người đàn bà ấy chứ có phải 2 đâu. Nếu chỉ xét theo những gì Tạo Hóa ban tặng, từ xác thịt cơ thể, đàn ông đàn bà đã chẳng được tác tạo nên là vậy, việc của kẻ đi gieo giống, việc của kẻ ủ mầm,… Nhưng rồi có xã hội, có văn minh, có lề thói và trật tự. Người ta vẫn luôn cần những người có đạo đức, hoặc quyền lực, để đứng ra thiết lập đạo lý và lề thói cho an ổn mọi bề. Những cái người ấy, rất cần thiết là vậy!

Vậy ra đạo lý không đi cùng với tự nhiên sao?

Đạo lí phải đi cùng với tự nhiên, để kiểm soát và ngăn loạn. Nếu không thì tôi ở tù từ lâu rồi!

Những người đàn bà tuyệt vời!

Đàn ông, thật là những đứa trẻ hư hỏng quá đỗi! Chúng hư hỏng vì được nuông chiều.

Những đứa trẻ như thế, thường chỉ biết yêu chính bản thân và những cơn say vòi vô độ.

Thú thật, người đàn ông có những lúc yêu vì tự ái. Đàn ông tự ái ghê lắm, cần chăm sóc mơn trớn cái góc tự ái đó. Thế là họ dan díu yêu đương, và mỗi người huênh hoang theo một cách, anh phàm phu có cách của anh ấy, tôi thì khoe tình vào nhạc.

Nhưng không hiểu sao, những người đàn bà trong đời tôi, chẳng có bà nào phàn nàn về điều đó cả. Chẳng có ai bảo tôi phải bỏ vợ vì họ cả, mà vợ tôi cũng chả hờn ghen xem chuyện yêu đương ngoài chồng vợ của tôi là điều khuất tất. Những người đàn bà tuyệt vời!

Nhạc sĩ đánh giá sự phục tòng ấy là một phẩm hạnh của giống cái?

Hẳn nhiên, nếu không muốn nói là một trong những phẩm hạnh cao giá nhất.

Ông có e đây là ngôn luận phong kiến – một dấu hiệu đáng buồn của thời gian?

Lạc hậu à? Chẳng biết các chị phụ nữ của những anh khác thế nào, ngay trong thời đại văn minh này, những người đàn bà tuyệt vời của tôi, xưa nay họ vẫn nằm dưới.

An-nam woman smoking opium. Photo by Albert Kahn

Một thoáng văn minh thụ hưởng từ tư duy đồng đẳng tân thời khiến bạn khẽ rùng mình trước một sự khiếm nhã thản nhiên tênh hênh đến vậy.

Và không có gì qua mắt được sự tinh anh quái quỷ của người đàn ông đối diện

Nhưng chớ nghĩ tôi hàm ý điều chi khinh thị. Họ là Mẹ nhân loại, và khi an nhiên đặt mình bên dưới người đàn ông, họ hào phóng ban bố khoái lạc và Sự Sống. Nhân loại u mê trụy lạc, hay thông mẫn phồn vinh cũng từ đấy mà ra.

Thói trăng hoa ham hố phải chăng là một cách tán tụng nâng niu những người đàn bà đẻ ra sự sống ấy? Hay đó chỉ là nhu cầu vô độ của lạc thú ái tình hoặc thuần túy bản năng gây giống?

Đó là bản năng, thuần túy và thật thà nhất. Và người đàn bà hạnh phúc là người đàn bà hiểu rõ điều này.

con gái An Nam từ góc máy Pierre Dieulefils

Hồn nhiên là thế, đến trần trụi sỗ sàng nhưng hiển nhiên tự tại.

Cứ hồn nhiên đi, hồn nhiên là đàn ông đàn bà, rồi sẽ tìm thấy nhau mà hồn nhiên yêu. Adam yêu Eva đâu phải bởi quá nhiều tán tỉnh tương tư hay chiêu dụ mồi chài rù quến. Một đàn ông một đàn bà, mà từ đó những tội tình kì thú sinh ra.

Xuân Vĩnh Cửu trong cõi hoa màu thiền

Những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc hẹn, người đàn ông thả mình vào lưng ghế màu tía, vẫn cái giọng chuẩn chu đến từng nguyên âm phụ, nhưng đã không còn âm sắc ngạo tình tinh quái:

Chung quy ra Đạo Ca, Bé Ca hay Tục Ca, tất cả đối với tôi, đều là những cái Tri, cái Ngộ. Giữa cuộc u u minh minh của số phận và thời cuộc mà tôi gọi ấy là cái “thành vách sương mù”, tôi viết nên Đạo Ca như một nẻo đường sáng để vin vào và hướng tới. “Đạo” ở đây là “con đường”, chớ không hề là tôn giáo. Giữa những ái tình hời hợt thoảng qua, giữa những vai gầy mi rối tóc tơ, tôi lại ngộ ra chân lí của ái tình thăng hoa trong cạn cùng mãn nguyện, tuyệt đối của cuộc Nhận-Cho, và buông tuồng đến thật thà.

Cuối cùng, sau cuộc hành lạc hân hoan, “châm một điếu thuốc trầm ngâm lõa thể”, tiếng thốt lên tấm tắc của tình nhân “em thơm như cỏ hồng, em ơi!” chẳng phải là thiên đàng hạ giới đó sao?

Những kẻ như tôi không nhiều. Trong cuộc u u minh minh như kể ở trên, mấy ai thoát nỗi hoang mang đến trốn chui vào cái “động hoa vàng” mà an đời yếm thế. Còn tôi, yêu đời như tình nhân, phải ôm chầm lấy mới hả, dù điều đó sẽ gây đau vì cuộc sống không mấy khi tròn trịa. Mà hề gì, được Sống, cứ vồ vập lấy đi, “động hoa vàng” ai về sau mà chẳng có riêng cho mình một cõi hoa màu thiền.

Bạn sẽ đứng lên, giã từ cuộc hẹn hò khai Xuân với tình lang không tuổi.

Hãy thanh thản ra về, ngân nga cho chính mình một nguyện cầu chưa bao giờ xưa cũ

Xuân tôi ơi ! Sức Xuân tôi còn khát khao
Dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu
Xuân muôn năm, có ta Xuân còn hơi Xuân
Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần…

Ngoài kia, xuôi những con lộ trung tâm, như vẫn hằng 12 tháng một lần, người ta lại đang một lần nữa rộn ràng chăng kết thứ hoa Xuân Vĩnh Cửu kì khôi bằng nhựa, một cõi hoa màu thiền.

Thỏ Cột Nơ – “Dân Chơi” Xuyên Thế Kỷ

Túy Ca

Không phải người đàn ông nào lang thang trên bề mặt địa cầu cũng được dịp tận hưởng cảm giác trở thành huyền thoại ngay khi còn sống và vẫn vận hành khá trơn tru. Nhưng thực tế của một huyền thoại cũng là một thứ hoàn toàn không như trí tưởng tượng hào phóng bởi ánh hào quang.

The legendary man…

Trai tân 22 tuổi và cơ đồ đại nghiệp Thỏ Cột Nơ

Ông bà giáo Grace Caroline và Glenn Lucius Hefner ắt chẳng bao giờ ngờ rằng đứa con trai đầu lòng sẽ một ngày trở thành tay ma cô hùng mạnh nhất của hai thế kỷ. Hugh Hefner đã bắt đầu sự nghiệp báo chí từ nền nếp gia huấn thủ cựu ấy, không có phụ huynh ly dị, mẹ độc thân, hay những vụ lạm dụng tình dục – một môi trường vô nhiễm hoàn toàn với những điều cấm kỵ hay ho.

Một cách khôi hài, Hefner tự nhận mình là trường hợp “hoa tình muộn nở” khi thú nhận không hề thủ dâm trước 18 tuổi, và đến 4 năm sau mới chính thức nếm trái cấm lần đầu.

Cuộc phiêu lưu đầu đời đã đột ngột phá bung cánh cửa dẫn ra thế giới của cậu trai 22 tuổi. Say sưa, đầy ám ảnh lẫn hiếu kỳ, cậu cả nhà Hefner lao vào trang bị cho mình kiến thức từ những ấn bản được coi là đệ nhất dâm thư của Kinsey và những cuốn cẩm nang ái tình chuyên chỉ dạy mách nước các mánh khóe phòng the. Không chỉ với lòng đam mê dục tình, mà cả tham vọng của một ông trùm tương lai đã khiến Hefner hình thành những nét phác đầu tiên cho cơ đồ quyền lực mang biểu tượng Thỏ Cột Nơ.

Năm 1953, anh chàng Hugh kì cục bắt đầu cầm cố tống tháo đống đồ gỗ trong nhà được 600$ (hoặc là 800$ mà mãi về sau này, Hefner vẫn không nhớ được), thuyết phục thành công 45 nhà đầu tư để gom về thêm một khoản tiền 8000$, trong đó có 1000$ của bà giáo Grace đáng kính (tuy không mặn mà với ý tưởng Playboy của ông con cho lắm, nhưng bà thân mẫu lại tuyệt đối tin tưởng vào chính cậu trai cả ngông cuồng của mình). Với chưa tròn 10,000USD trong tay, Hugh Hefner đặt viên gạch đầu tiên cho đế chế Thỏ Cột Nơ.

Quả bom bìa huyền thoại & cách mạng đồng tính tiên phong

Thoạt đầu, Hugh Hefner muốn đặt tên cho tờ tạp chí của mình là Stag Party (tạm dịch: Đại Tiệc Trai Lơ), nhưng ngặt nỗi cái tên đó đã có người sử dụng, từ đó Playboy (Dân Chơi) được ấn định trở thành tên gọi của cả một thế lực truyền thông sau này.

Số đầu tiên xuất bản tháng 12 năm 1953, với hơn 50,000 bản cháy sạp với ảnh bìa hình cô đào Marilyn Monroe khỏa thân hơ hớ, bỏng rẫy trên tay các cậu bé bán báo và thiêu đốt khắc khoải dưới gối các gã thiếu niên khắp nước Mỹ.

Cho đến nay, đó vẫn được xem là một trong những shot ảnh bìa gợi cảm và lộng lẫy nhất của lịch sử Playboy. Nếu về sau này, lịch sử ảnh bìa tạp chí khiêu dâm chỉ cho người ta những vận động viên phòng gym, lõng bõng những túi dung dịch dưới da, với tinh thần như thể vừa bước ra từ phòng xông hơi của câu lạc bộ thể hình, thì quả bom vàng hoe Marilyn của ngày ấy, mây mẩy phồn thực, khóe mắt nhễ nhại tình, lại có cái đẹp của người đàn bà thật thà vừa bước ra khỏi cơn cực khoái.

Trong suốt hai năm sau đó, Playboy nghiễm nhiên trở thành một ấn phẩm được cánh tu mi nam tử nô nức đón xem hàng kỳ, với những trang báo tràn trề da thịt được hau háu lần dở, và xuất hiện tại mọi phòng tắm của nam nhân trai tráng khắp nơi. Năm 1955, tờ Playboy đăng tác phẩm The Crooked Man của Charles Beaumont, một thứ văn chương viễn tưởng dặt dẹo về một người đàn ông dị tính bị ngược đãi và lạm dụng tả tơi trong một thế giới đồng tính, với hàng loạt những chi tiết rùng rợn hay ho được đặc tả huỵch toẹt. Đây quả là một truyện kinh dị đối với những người đàn ông khỏe mạnh và thẳng tưng của nước Mỹ. Thư phản đối từ khắp nơi gửi về, các nhà phê bình lên tiếng cự nự. Hugh Hefner – vẫn thẳng tưng, khỏe mạnh và mê gái đẹp, điềm tĩnh đáp trả “Thật là một truyện bậy bạ quá lắm, ngược đãi và chà đạp dân dị tính trong thế giới đồng tính. Vậy thì ngược lại, ngược đãi dân đồng tính trong thế giới tưởng mình là dị tính, cũng thật là sai quấy không kém vậy!” Từ đó, tay ma cô vĩ đại của nước Mỹ chính thức trở thành người hùng thẳng thớm (straight) đấu tranh cho quyền bình đẳng của dân đồng tính, thậm chí có cả một bộ phim tư liệu về việc này, mang tên “Hugh Hefner: Playboy, Activist and Rebel” (Dân chơi, nhà hoạt động, và phần tử phiến loạn)

Mối tình, cuộc hôn nhân và cơn đột quỵ đầu đời

Tuy là cục cưng trẻ tuổi tài cao của sân chơi gái gú thừa mứa những cuộc tình cho không biếu không, một ngày đẹp trời năm 1949, gã ma đầu Dân Chơi cũng đĩnh đạc thắt chiếc nơ chú rể vào dưới cằm và hỏi cưới người tình từ thời hoa mộng là cô sinh viên nền nã Mildred Williams về làm vợ.

Họ đã nối dài cuộc tình từ thời kì Hefner phục vụ trong quân đội, sau khi chàng hồi hương, cô sinh viên thú nhận đã ngoại tình trong suốt những tháng ngày xa cách. Về sau Hefner vẫn còn nhức nhối nhớ về vết thương cũ: “Đó đã là khoảnh khắc khủng hoảng nhất đời tôi!” Nhưng điều này không dễ làm nản lòng Dân Chơi, một hôn lễ truyền thống trắng muốt và tiếp nối là 2 đứa con xinh đẹp, người vợ, với lòng thống hối, sẵn lòng cho phép chồng ngủ với nhiều phụ nữ khác, và kết thúc bằng cuộc li dị năm 1959.

Bước ra khỏi cuộc hôn nhân kiểu Mỹ, Hefner, như mọi người đàn ông thẳng thớm và khỏe mạnh khác, dấn thân vào cuộc tận hưởng mùi đời một cách triệt để. Hai chương trình truyền hình Playboy’s Penthouse (1959-1960) và Playboy After Dark (1969-1970) của ông cũng ủy lạo tích cực cho lối sống hưởng thụ của quý ông độc thân thành thị. Vừa háu tình vừa kén chọn, mỗi tháng Playboy có một Playmate (Bạn Tình) thì mỗi năm, Hefner cặp kè với 11/12 cô nàng Playmates mỡ màng ấy với chu kỳ thay mới, đương nhiên, là vào mỗi 4 tuần.

Rồi điều phải đến đã đến. Năm 1971, Hefner lần đầu trải nghiệm tình dục đồng tính, chuyển từ Chicago đến Los Angeles và tiếp tục trải nghiệm cơn đột quỵ đầu tiên vào năm 1985, ở tuổi 59.

Xuân đi Xuân đến rồi Xuân lại về…

Cú cảnh tỉnh có hiệu lực, Hefner giảm bớt nồng độ “Dân chơi”, kết hôn lần nữa với Kimberley Conrad và đặt vương triều Playboy vào tay con gái là Christie. Cũng từ đó, Playboy Mansion được chuyển thể từ một tòa đại hí viện ái tình để trở thành một siêu dinh thự thân thiện, vui nhộn nhưng ấm áp không khí gia đình văn hóa.

Đây không hẳn là điều giai nhân Conrad trông đợi ở đức ông chồng đã khét tiếng làng chơi. Họ quyết định ly thân trong tình trạng cả hai đều đã ngán tận cổ trò gia đình văn hóa và sinh hoạt điều độ. Hefner lại ngay lập tức xoành xoạch thay đổi các người tình cư ngụ tại Mansion, thậm chí ông có thể cùng lúc công khai có mối quan hệ với một loạt bảy người đẹp, đại diện cho các thứ trong tuần.

Một cách ngang nhiên trước mũi dư luận, các hội đoàn đấu tranh vì bình đẳng giới, và những quý ông thiệt thòi còn lại trên cõi văn minh, Hefner gây dựng cho riêng mình cả một hậu cung ngồn ngộn phập phồng những cô khối da thịt mắt tóc măng tơ, vui nhộn mà ông yêu quý đồng đều như một vị quân vương hào phóng, sung mãn và thấu đáo lẽ đời.

Từ đó, Playboy Mansion một lần nữa trở thành cõi địa đàng lạc thú của không chỉ các quý ông mà còn là viễn mộng của tột đỉnh xa hoa, phù phiếm và một thế giới vô lo trên đỉnh nhan sắc khiến không ít phụ nữ, thậm chí các cô gái nhỏ, ngấm ngầm thèm muốn. Dĩ nhiên, trong mọi hình dung tưởng tượng của họ, những vết nhăn trên khuôn mặt Ngài Hefner đều được xóa mờ tài tình và mái tóc bạc của Ngài, cùng chiếc áo choàng smoking jacket đỏ tía lại có một sức quyến rũ lạ kì của bá tước Dracula điệu nghệ, uy quyền của những ly rượu lâu năm và những bản tango cổ lỗ cầu kì.

Bí mật chuyện tình điệp vụ Playboy

Trong các thiên tình sử ngắn dài đủ kiểu của Mr.Playboy, với hàng trăn hồ sơ “đăng ký yêu” vẫn được tới tấp gửi về hàng tuần, thì cánh cổng Playboy Mansion và đôi vòng tay Hugh Hefner hẳn nhiên đã có lần đón vào lòng những con sói đội lốt thỏ.

Không phải là câu chuyện cổ lỗ về một cô nàng hám lợi, bởi bản thân hậu cung Playboy đã là nghiệp đoàn nữ công nhân khai thác mỏ.

Đây là câu chuyện của Gloria Steinem – con thỏ cảm tử. Là một nhà hoạt động đấu tranh vì nữ quyền, từ khi còn rất trẻ và sở hữu một vẻ hấp dẫn “đàn bà-trẻ con” rất thịnh dưới thời người đẹp BB, Gloria từng ngụy trang dưới…bộ da và những đường cong của chính mình để đến sống tại Lâu đài Khoái lạc một thời gian, dưới tư cách Playmate được sủng ái của Hef, và về sau công bố mọi sự thật về lối sống của Trùm Tình Dục ra công luận như một bản tố cáo giật gân và điệu nghệ.

Trong những tiết lộ về đời sống một Playmate, cô để lại cho giới truyền thông Mỹ thời lạm phát tình dục “Một phụ nữ  đọc tờ PLayboy sẽ thấy chẳng khác gì một người Do Thái đọc tạp chí Quốc xã vậy.”

Mãi về sau, trùm Dân Chơi già lão còn nhắc về cô – khi này đã là một nhà hoạt động bình quyền nổi tiếng, một cách vừa vị tha, vừa vị nể, như về một hồng nhan tri kỷ đặc biệt “đã có lúc tôi cho rằng đã có thể nảy sinh những điều thật đặc biệt giữa chúng tôi. Đó là kiểu một cô gái có thể trị đàn ông như huấn luyện thú nhỏ”.

Sở hữu quyền lực của lòng tự tại và một sĩ diện duy mỹ khắc nghiệt, Hef thừa tư chất mã thượng và vị tha để biến những lời lên án và đòn công kích mãnh liệt từ nữ điệp viên xã hội này trở thành trò vật nẩy màu mè thường tình nữ nhi.

Chỉ đến gần đây, bà úp mở với báo giới một tình cảm lưu luyến đặc biệt dành cho “con yêu râu xanh” Hefner.

Nhưng, không rõ với lòng kiêu hãnh hay với một sự mỉa mai cao thượng, ngoài những lời ca tụng và những cái xoa đầu đầy vị tha dành cho giai nhân ngày cũ, Hefner chọn chôn dấu bí mật giữa hai người vĩnh viễn đằng sau những bức tường, đáng tiếc là không biết nói, của tòa biệt điện Dân Chơi.

Hai bà vợ rưỡi và một chú chó

Cuộc đời một người đàn ông tốt số không phải là những chuyến phiêu lưu gieo giống hoàng tộc như nam nhân thiên hạ vẫn nghĩ. Bản thân Hefner, với phần số đào hoa đậm đặc của mình, lại là một bờ bến mỡ màng phù sa nơi những người đàn bà đến và đi, không chỉ là các bà vợ.

Chuyện động trời xảy ra khi 3 trong số 7 nàng Bunny rời tòa mộng lâu, Hefner không tỏ ra hụt hẫng quá lâu và lập tức tự bù đắp bằng cục cưng mới được sủng ái nhất là Crystal Harris và cặp song sinh đôi mươi xinh như mộng Kristina và Karissa Shannon. Chỉ riêng “Mối tình” với cặp song sinh tóc vàng đủ để Hefner trở nên đáng ganh tị hơn James Bond và Casanova cộng lại đối với mọi quý ông lão ấu trên địa cầu.

Hefner chính thức ly dị với Conrad sau 11 năm ly thân, khi người con út của họ vừa tròn 18 tuổi. Ngay sau vụ ly dị và cuộc chia tay với cả hai chị em nhà Shannon, vị hoàng đế đa tình quay qua trân trọng những gì còn lại – người tình được sủng ái nhất Mansion là Crystal Harris.

Mọi động thái phòng vệ nghiêm ngặt lập tức được áp đặt cho lâu đài lạc thú để ngăn chặn làn sóng “thỏ chiêu hồi”. Ông thú nhận điều này với tờ New York Times trong khi phàn nàn về thói lẳng lơ của bà phu nhân tiền nhiệm: “Tôi chung thủy tuyệt đối với Kimberly Conrad, trong khi bà ấy ăn vụng bất kể bữa. Điều này khiến tôi luôn bị ám ảnh bởi cảm giác già khọm và cô độc trong suốt cuộc hôn nhân.” Hef coi đây là nguyên nhân khiến ông rơi vào phản ứng cực đoan và lao vào những cuộc tình tay ba tay tư cùng lúc với nhiều cô gái khác, kết thúc bằng luật giới nghiêm lúc 9 giờ tối, áp dụng trong phạm vi Playboy Mansion cho cả 7 cô bồ. “Cho chắc ăn!” ông nói vậy.

Sự bồng bột ngây thơ không đáng có của chúa tể lâu đài Playboy đã trả giá rõ ràng, ngay cả với luật giới nghiêm 9 giờ tối: nàng Crystal từ hôn khi chỉ còn 5 ngày trước lễ cưới, mang theo mình chiếc nhẫn đính hôn trị giá 90,000USD, con xe Bentley xa xỉ, nhưng đau đớn nhất, là cả chú chó cưng Charlie.

Ngay vào ngày đáng ra đã được ấn định cho hôn lễ, tân nương hụt tung hê tiệc tùng be bét ở Vegas và tồng tộc vạch chuyện phòng the trên đài phát thanh “Thân thể Hef không hề làm tôi bị tụt hứng, bởi ổng có bao giờ dám cởi đồ trước mặt tôi đâu. Tôi thề chưa một lần nhìn thấy ổng khỏa thân!”

Ở nhà, vị hôn phu u sầu post lên Twitter “Sau tất cả thăng trầm vinh nhục, cái gì làm được đã làm, những điều có thể nói cũng đã nói hết, cuối cùng thì độc thân có lẽ là điều tốt nhất.” Phía dưới, ông cũng đã kịp thông báo thêm với các follower về việc tự bù đắp sự trống rỗng trong tim bằng 2 giai nhân mới là Anna Sophia Berglund và Shera Bechard vừa dọn đến hậu cung Playboy.

Ngày 26 tháng Bảy, trong cuộc phỏng vấn truyền hình với Howad Stern, Crystal Harris, non nớt và sống sượng với tuổi 25 của mình, ngô nghê bôi tro trát trấu lên vị cựu hôn phu đáng kính, tồng tộc kể về cuộc ân ái mà theo nàng là lần duy nhất và kéo dài chỉ 2 giây.

Quá nhiều cho một người đàn ông vừa bị phản bội và bị lột truồng trước công luận bởi chính người đàn bà mà chút nữa đã trở thành phu nhân.

Người ta hể hả cho rằng đây chỉ là một phần rất nhỏ hệ quả dành cho Hugh Hefner, sau ngần ấy thập niên lột truồng các cô gái trẻ trên bìa tạp chí.

Crystal say sưa với danh hiệu “cô gái bỏ rơi Hef”, lại tiếp tục sa đà “Lúc đó tôi hơi xỉn và nghĩ: Ờ thì thử chút có sao đâu? Đằng nào thì ông ta cũng từng làm tình đến ngán ngẩm ngập ngụa rồi. Cuối cùng thì hóa ra ổng trụ được đúng 2 giây, trước khi kịp ghi bàn vào vùng cấm địa”

Hefner đón nhận đòn tro trấu của cô vợ hụt với một thái độ nhẫn nhịn, khả kính và kẻ cả. Ông thậm chí còn tỏ ra thú vị với những gì đang diễn ra. Quả tình, Crystal đã làm rất nhiều để Hefner không phải cảm thấy quá tiếc nuối nàng cùng ý nghĩ gắn kết trọn đời.

Đoàn luật sư tóc vàng và đức tính trung thành của loài thỏ

Đến đây, người ta lại tìm đến cuốn tự truyện Sliding Into Home của cựu nhân tình Kendra với những chi tiết thâm cung giật gân về cuộc sống của nàng tại Playboy Mansion và bản thân vị chủ nhân tôn quý của nó. Bỏ qua những chi tiết về ma túy, nghiện ngập, nghề người mẫu khỏa thân và các hộp đêm thoát y mà người ta có thể tìm thấy trong bất cứ hồ sơ của diễn viên phim đen hạng xoàng nào, thì những chi tiết mô tả cái “lần đâu xao xuyến ấy” với Hefner đủ làm ngứa mắt các nhà mô phạm.

Kendra Wilkinson mô tả tỉ mỉ cuộc làm tình tập thể mà các cô gái xếp hàng chờ đến lượt, mỗi người được ân ái trong khoảng một phút và lại thay ca “Lúc đó tôi chẳng buồn quan tâm đến việc ông ấy bao nhiêu tuổi, cuối cùng thì các bộ phận cũng vận động đúng chức năng cơ học của nó mà thôi. Buổi sáng hôm sau, đích thân Hef xuống tận phòng để hỏi thăm tôi ‘Hello, my darlin’. Và tôi cảm thấy được ưu ái đặc biệt, thấy mình được yêu, và thấy mình xinh đẹp. Chẳng phải đó là điều mọi cô gái muốn cảm nhận từ người tình của mình?” Và Kendra quyết định dọn vào Mansion sống như một trong những tình nhân lâm thời của Hugh Hefner, khi mới 18 tuổi, một cách tự nguyện hoàn toàn.

Cùng lúc, phản ứng trước sự mạo phạm của con chiên ghẻ Crystal, các bạn tình mới cũ của Hef đồng loạt lên tiếng bênh vực và tụng ca khả năng thụ hưởng ái tình của hoàng đế Dân Chơi. Bạn Tình xứ Phù Tang Hiromi Oshima nói “Chỉ có một luật được áp dụng trong phòng ngủ của Hef – đó là không có luật lệ lề lối gì ráo!”

Còn Dani Mathers ở đài truyền hình Playboy TV thì khẳng định như đinh đóng cột “Hef là một bạn tình hoàn hảo! Mấy người may mắn ở Playboy Mansion thật sự ham vui như bầy thỏ háu tình, và Hef có một đời sống phòng the cực kì bận rộn.”

Kiều nữ Shanna McLaughlin vô tình vạch ra rất rõ sự cảm kích từ các người tình của Hef không liên quan lắm đến khả năng tình dục của Đức Ngài “Tôi thấy tất cả những chuyện này về Crystal thật đáng buồn. Hef là một quý ngài cực kì dễ thương. Ông hào phóng và chu đáo bảo bọc tất cả mọi người quanh mình, đặc biệt là những nàng Playmates. Ít nhất là vì lòng biết ơn, một số bí mật nên được giữ riêng chỉ giữa hai người trong cuộc.”

Sau đợt sóng chỉ trích của dư luận và các chị em thỏ, cuối cùng thì nàng Crystal vạ miệng lại tất tưởi lên sóng truyền hình ấp úng lời xin lỗi đại loại “ý tôi không thật sự chỉ là 2 giây…”

Điều an ủi cuối cùng cho Hef là rồi thì phu nhân hụt cũng thuận ý trao lại cho ông quyền nuôi dưỡng chú chó Charlie “Có lẽ Charlie hạnh phúc hơn khi sống ở đó, còn tôi thì an ổn ở ngoài này. Hef cũng rất nhớ Charlie, điều này tốt cho tất cả.”

 …and the Man

Bất kể mọi thứ vây quanh cuộc đời Hugh Hefner có biến ông trở thành “lão già dơ” bậc nhất của thế kỷ, thì sự sành sỏi ngầm của tay chơi trải đời và tinh thần ngạo mạn đến tĩnh tại và lịch lãm của một quý ông vẫn bao phủ quanh Mr.Playboy một ma lực quyến rũ say sưa mê hoặc, sần nhám nhưng nhưng đê mê thách thức như hàm ria của tài tử Clark Gable vậy.

Sau cùng, nhân cách ưu việt nhất của trùm Thỏ Cột Nơ vẫn là sự trung thành tuyệt đối với tư tưởng hưởng thụ duy mỹ và, trên hết, cho một trùm truyền thông, đó là Sự Thật – toàn phần không che đậy.

Tất cả những điều đó quá đủ để biến một ông lão thành một huyền thoại sống.

Ông già Hef đáng mến và sự quyến rũ của loài thỏ

Những người đàn ông khác vẫn thường cảm thấy khó hiểu trước lòng ưu ái mến mộ của nữ giới dành cho “cha già khú đế” Hefner. Một số sử dụng liệu pháp AQ tinh thần khi thuần túy cho rằng đó không khác gì là những cuộc bán chác sòng phẳng. Hẳn nhiên, Hef có thể là một người tri kỷ hào sảng, một người cha sành điệu để chiều chuộng, chăm dưỡng và bảo bọc hợp tác xã gái tơ cơ nhỡ, chứ không hẳn họ lao vào Hef với những hứa hẹn về một bạn tình cao siêu tuyệt xảo.

Một cách thông tục nhất, một cô nàng tóc vàng hoe mẫu mực phải ngay lập tức liệt kê được những quyền lợi của một thỏ cưng nhà Playboy: giá chót 1000USD tiền mặt dằn túi do chính ngài Hef đưa cho vào thứ Sáu hàng tuần, dịch vụ làm tóc chuyên nghiệp nhất và hoàn toàn miễn phí, xe hơi đưa rước, được chi trả toàn phần cho các ca bơm ngực, làm răng và trang phục dạ hội cho các dịp tiệc tùng quan trọng.

Và nếu đó là tất cả, thì Hefner không là người đàn ông duy nhất.

“Vậy thì đó là cái gì, cái hấp lực gì từ lão già tốt số ấy?” – những người đàn ông còn lại trên đời và các phóng viên tự hỏi.

Không chỉ những nàng thỏ non tóc vàng của vương quốc Playboy, những ả nhan sắc công khai si tình sùng mộ lão quái già khoác áo choàng đỏ tía ấy, mà lão còn tài tình quyến rũ luôn mọi đại diện đầy lý trí của báo giới. Các cuộc tiếp cận đều bị chinh phục hoàn toàn, dẫu đó là lòng ngưỡng mộ quyền lực tổng lãnh Playboy hay khoái cảm vị tha trước sự nhã nhặn của một quí ông đáng mến phía sau lớp áo phong lưu.

So với những hình tượng “bô lão trác táng” nổi tiếng của thế giới, tính cả những nhân vật điện ảnh và văn học, người ta ngỡ ngàng khi không tìm thấy ở Hef khuôn mặt bóng dầu nhớp nháp của Bob Guccione, hay mùi tục tĩu mỉa mai của Larry Flynt. Bù lại, Hefner sở hữu vẻ lịch thiệp nguy hiểm của Robert De Niro, dã tâm và trí tuệ của Anthony Hopkins, và sự dịu dàng hàn lâm của Al Pacino. Nói chung là một loại tội phạm huyền thoại, điều mà người đàn ông nào cũng muốn tiếp cận và người đàn bà nào cũng mong sở hữu.

Biến thái tiên phong và khiêu dâm kiểu bảo thủ

Hefner tỉnh rụi và hòa nhã đến mức không một đại diện báo chí nào bị nhắc nhở về sự khiếm nhã và lố bịch khi cật vấn một vị cao niên về năng lực tình dục của ông ta.

Ông Dân Chơi không có gì để trách cứ, ở cương vị làm chủ cả hai yếu tố truyền thông và tình dục để hợp nhất lại dưới hình hài một tờ tạp chí hàng đầu trong công cuộc tôn vinh ca tụng khoái cảm dục tình. Và ắt nhiên, đó là hệ quả mà Hef vui lòng đón nhận sau gần một thế kỷ xây dựng đế chế quyền lực và hình ảnh cá nhân trên thứ bản năng cơ bản và tối thiết của con người: SEX!

Mặc nhiên với mọi sự đánh giá về vị trí và vai trò của ông trong lịch sử thượng lưu, Hugh Hefner vẫn là một thể thống nhất của hai khía cạnh mâu thuẫn cùng cực nhất: kẻ bệnh hoạn tiên phong, nghiện dục một cách thật thà và lây lan rộng khắp, nhưng lại cũng là người đàn ông kiên định đến khắc nghiệt với truyền thống của bản năng con đực, cùng lúc tự nhận mình là lão già đa tình ủy mị dòng sướt mướt, luôn ngô nghê đau đáu tìm kiếm ái tình chính thống toàn ở những nơi rõ ràng là sai lè lè. Đó vừa là vị tổng lãnh khôn ngoan đầy mưu mẹo của một huyền thoại về quyền năng lá cải, lại cũng chính là vị gia chủ thiệp liệp của lâu đài khoái lạc, tông đồ duy mỹ chánh tông của mọi lạc thú cuộc đời, từ gái non cho đến điện ảnh Hollywood dòng kinh điển.

Ông hoang đàng, trác táng và khinh mạn chà đạp lên thuyết bình đẳng giới một cách hào phóng và khả kính. Cùng lúc, bằng từng cuộc ái ân, hay mỗi chiếc đĩa than cổ lỗ, điếu cigar được thưởng thức đúng điệu, Hefner lại dường như là con chiên sùng đạo và tri ân mọi món quà của Thượng Đế một cách tận lực nhất.

Hefner là một người đàn ông hiếm hoi trở thành một mật mã khó giải đối với nhân loại, và rất có thể, với chính bản thân ông. Suốt hơn một thập niên, Hefner kiên trì theo đuổi việc thực hiện hồi ký và cuối cùng quyết định vứt bỏ tất cả và nhún vai một cách hài hước: “Tốt hơn hết câu chuyện đời tôi chỉ nên được kể ra khi tôi không còn ở quanh đây, bởi rồi sẽ có lắm người cáu với tôi lắm, nếu phải một lần nữa nghe rằng thật ra đến tận tuổi này tôi vẫn yêu đương phấn khởi đều đều.”

Người đàn ông phía sau chiếc mặt nạ tai dài

Khó có một nam nữ minh tinh nào dám mơ đến việc đứng đầu tần suất quan tâm của truyền thông đương đại khi đã sống và nổi tiếng mỏi mòn gần trọn thế kỷ. Ngày 19 tháng Chín, đài NBC tung đòn The Playboy Club – serie truyền hình xoay quanh thánh đường khoái lạc của giới thượng lưu Mỹ, đã tồn tại từ 29 tháng Hai 1960. Ngay lập tức, chương trình lọt hạng 3 với 5 triệu lượt người xem.

Các hội đoàn giáo dục và xã hội lên tiếng, các bậc phụ huynh đầy quan ngại gửi thư cự nự đến tận hai nhà tài trợ Unilever và Chrysler yêu cầu ngưng phát sóng, hay chí ít là chấm dứt việc “hân hạnh tài trợ cho chương trình này”, còn chi sở của NBC ở Utah là KSL-TV thì thẳng thừng từ chối phát sóng. Quý Ngài chỉ nhã nhặn đáp trả “Nói thật nhé, thư quý vị, chiến dịch Chống Tình Dục của quý vị mới chính là thứ phủ nhận quyền năng nữ giới một cách mạnh mẽ và vô tri nhất!” Mặc cho những bà cô mãn thì của các hiệp hội ngoài kia có thương xót và phẫn nộ khi phải chứng kiến các nàng Thỏ bị cư xử theo chế độ đa thê và xem như thú cưng ra sao, thì đằng sau những bức tường hoa mỹ của Playboy Mansion vẫn tồn tại một thực tế: họ xinh đẹp, vô ưu, mỡ màng và no đủ.

Nội dung serie phim truyền hình Playboy Club xoay quanh vị luật sư do Eddi Cibrian thủ diễn và vụ một nàng thỏ lỡ tay giết chết một tay trùm mafia, với Hefner úp mở cho biết rằng kịch bản dựa ít nhiều trên chuyện đời có thật của ông lại càng khiến lượng view tăng rần rật.

Với tinh thần thắng thế lia lịa như vậy, từ một tạp chí khiêu dâm thuần túy, Playboy cùng logo thỏ cột nơ trứ danh lại lần lượt bán license cho các hộp đêm thời thượng trải dài từ Chicago, Lodon, Cancun, Las Vegas, cho đến tận sòng bạc Đông phương Macao. Người ta còn bắt gặp license thương hiệu nóng bỏng này trên tất thảy những gì muốn khoác vào mình sắc màu “sành điệu kiểu Mỹ”, từ kem nhuộm da, hộp quẹt gas, thảm chùi chân, ghế bành, cho đến các loại nước giải khát đáng lẽ ra chỉ là thứ nước đường có gas hiền lành chân chất. Với chỉ một cặp tai dài dựng đứng và chiếc nơ diêm dúa, tất cả đều lập tức được đeo vào một hấp lực sặc mùi nồng nặc hormon giới tính và một vẻ nhâng nháo trai lơ không bao giờ lỗi mốt.

Người ta thậm chí còn cân nhắc đến việc đưa kịch bản Playboy Club lên sân khấu Broadway, điều này đồng nghĩa với việc ngần ấy thịt da sống sượng sẽ được trình bày trong thánh đường kịch thuật hẳn hòi, hơn hẳn Victoria’s Secret Show một tầm với.

Trùm Dân Chơi Hefner vẫn khiêm nhường trước những cuộc bành trướng của quyền lực Thỏ Thắt Nơ: “Tôi chỉ giữ mình lại ở vai trò cố vấn và tham gia một số công việc có liên quan trực tiếp đến tờ tạp chí mà thôi.”
Hàng tháng, ông vẫn là người đích thân quyết định shot ảnh bìa, chọn Bạn Tình Của Tháng, quyết định về hình ảnh, biên tập một số chuyên mục định kỳ và duyệt các trang layout.

Chỉ vậy mà thôi, xuyên qua hai thế kỷ.

Ông già Hef tội nghiệp!

Vương triều (hay ít nhất 73% của nó) trên vai và một hậu cung bận rộn trên đùi, Hefner cho rằng mình đang ở vào thời kỳ sung mãn nhất trong đời “Liệu tôi có thể tưởng tượng bản thân mình ở bất kì nơi đâu, bất kì hoàn cảnh nào trong đời tốt hơn như thế này? Hồi nhỏ, ngay cả trong những hoài bão điên khùng nhất, tôi cũng chưa hề tưởng tượng được điều gì ngọt lịm đến thế này.”

Mọi thứ có thật sự ngọt lịm hoàn hảo đến vậy không? Câu hỏi đó vang lên trong đầu bất cứ người đàn ông nào khi nhìn vào những tấm ảnh ông lão Hefner lặn ngụp giữa bể đường cong nóng hổi. Hay phải chăng ông già Hef tội nghiệp cũng chỉ đang gân cổ huýt sáo yêu đời và thầm kín nuốt ngược vào lòng vài cục đắng cay?

Trong tòa biệt đài 21,000 feet vuông, với những bãi cỏ xanh mướt được tỉa tót công phu, những món nội thất xa xỉ đế vương đúng gout một nhà quý tộc Ăng-lê bảo thủ, là căn phòng ngủ khổng lồ ốp gỗ, một lối cầu thang xoắn ốc dẫn lên một thư phòng bừa bộn. Để nhìn vào đời sâu thẳm đời sống riêng tư của một người đàn ông, không gì trung thực hơn nơi phòng ngủ. Trong trường hợp của Hef, đó là một chân dung Hugh Hefner không đánh bóng mỹ miều bởi những hào quang và truyền thuyết. Và đó là đây – tâm bão khoái lạc, vùng riêng tư của Lãnh Chúa Ái Tình, là một đống bừa bộn hàng trăm con gấu bông, lò sưởi chạm phù điêu đầu Frankenstein dị hợm và một khẩu súng đồ chơi ưa thích hồi nhỏ của ông được phục chế, đóng khung treo trang trọng trên tường. Tứ bề là những kỷ vật nửa quái gở, nửa buồn cười, những mảnh cuộc đời của huyền thoại Mr.Playboy, được vứt bừa bãi khắp nơi, ở giữa là một ông già gần trăm tuổi, nhỏ thó, và vẫn vẹn nguyên là cậu bé được nuông chiều giữa đống đồ chơi của mình, ngô nghê thốt lên một cách thành tâm nhất “Tôi có thật nhiều bạn tình để tìm thấy một bạn lòng đích thực!”

Những mảnh ghép vương vãi khắp nơi ấy nhắc về một tuổi thơ phi-sóng-gió, không có phụ huynh li dị hay lạm dụng tình dục trẻ em, đó còn là những bài báo, những tấm ảnh các đời Bạn Tình nhà Playboy qua bao thế hệ được ưu ái cất giữ như những mảnh lá cải có giá trị tinh thần, và dấu vết của cả những giai nhân hảo hớn đã từng là thượng khách của vương quốc khoái lạc Playboy.

Những năm 1970 trôi qua hoang tàn với những cuộc viếng thăm thường xuyên của Warren Beatty, Jack Nicholson và James Caan, những cuộc làm tình tập thể thường nhật, da thịt, hơi nóng và trạng thái mụ mị trở nên thường xuyên đến thừa thãi, nhưng cũng không bao giờ là đủ.

Mỗi tuần, ông chủ lâu đài Playboy vẫn nhận được thư từ khắp nơi trên thế giới, không phải những lá thư tình, mà những bộ hồ sơ thực thụ, kèm hình ảnh, của những cô gái trẻ muốn đăng ký làm nhân tình của Ông Playboy. Hugh Hefner không hoàn toàn u mê lờ đi việc “nghi ngờ” rằng điều mà họ nhắm đến có chút liên quan đến hào quang quyền lực và cuộc sống vương giả nhàn hạ tại lâu đài Playboy: “Đương nhiên, nhưng cuối cùng thì người ta ngoài kia thật sự bị quyến rũ bởi điều gì?”

Hefner đọc qua từng hồ sơ được gửi hàng tuần, xem xét các bức ảnh và nếu thích, ông sẽ hồi đáp và mời họ đến chơi vài hôm. Như một phiên bản thu nhỏ của America’s Next Top Model, những cô gái giành được lòng sủng ái của ngài Hef sẽ được mời chính thức dọn đến đây sống.

Ngụp lặn trong hàng tấn da thịt đàn bà, Hef nhìn quanh và nhận ra ông hầu như không còn một người bạn đồng niên nào. Như gã Từ Thức tốt số vẫn tắm suối với tiên chợt nhận ra đã gần một thế kỷ trôi qua “Sống lâu đến thế này, đương nhiên, người ta phải mất mát nhiều lắm. Hơn nửa thế kỷ qua, tôi là chứng nhân có thể duy nhất còn lại lần lượt chứng kiến sự ra đi của những người đàn ông kiệt xuất nhất, những bạn bè đồng niên thân thiết nhất trong đời…”

Đó đã là lời nói buồn hiếm hoi của Hef với báo chí. Người ta bảo ông tránh được cái chết và sự già lão một phần bởi việc ngoảnh mặt quay lưng với thứ thực tế đáng buồn và hiển nhiên ấy của quy luật sinh-lão-bệnh-tử. “Không, sự sống sau cái chết đối với tôi hiển nhiên là điều bất khả tri. Tôi chỉ biết một thực tế là bà thân mẫu của tôi thọ tới 101 tuổi, và tôi thì không muốn phí thời gian vào việc lo lắng cho chuyện còn xa mới đến”

Thậm chí Hef hoàn toàn không có một sự chuẩn bị nào về người thừa kế đế chế Thỏ Cột Nơ. Cả hai người con trai còn quá trẻ tuổi và không có tí kinh nghiệm đáng kể gì về truyền thông lẫn tình dục, trong khi người ái nữ Christie đã từng có thời thay cha cầm vương trượng lại không hề tỏ ra thú vị với lãnh vực này và đã rời ghế CEO từ 2009, sau 27 năm kế vị.

Dân chơi lão thành và suối nguồn tươi trẻ

Bên cạnh những vụ lật đổ uy tín ái ân của Hugh Hefner, một điều khác mà không ít người khao khát rằng tuổi tác sẽ mang lại cho ông chính là… cái chết. 86 tuổi, được số phần ưu ái và đương nhiên là một playboy vô độ hạng tiên phong, Hefner dường như là một ca nằm ngoài luật bù trừ của Tạo Hóa. Hefner phạm luật, và như thế, ông ta cần bất hạnh trong tâm hồn, kém cỏi về sinh lý hoặc hấp hối, hoặc cả ba, và như thế thì những quý ông còn lại trên đời mới có thể tin vào sự công bằng của Thượng Đế.

Do đó, phát triển nhanh như nấm, dịch bệnh và các tin đồn, trung bình cứ khoảng 1 đến 2 năm một lần, người ta lại xôn xao tin Hefner sắp, hoặc thậm chí đã chết.

Lần cuối cùng là vào tháng Bảy năm ngoái, bắt đầu vào một ngày thứ Hai với những lời tường thuật cụ thể về cái chết thê thảm của Phú Hộ Ái Tình Hugh Hefner. Cụ Hef tức tốc lật đật xuất hiện trên Twitter trấn an các followers: “Những tin đồn về cái chết của tôi, như Mark Twain từng nói trong trường hợp tương tự, là một sự cường điệu sống sượng. Tôi đang nằm cạnh Shera (bé cưng mới của nhà Playboy), chính thức còn cục cựa và sống nhăn.”

Mới đây, ngoài 28 quốc gia phủ sóng phát hành, Playboy lại chính thức xuất hiện phiên bản Nam Phi, Moldova và Mongollia. Internet và đại dịch đồng tính nam đã khiến chú thỏ đeo nơ của Hef trở thành lão già cổ lỗ đối với một thị phần Mỹ đáng kể, nhưng ngoài kia, vẫn còn đó những quý ông thẳng tưng và khỏe mạnh.

Và với lời tuyên bố đó, giữa thế giới đại đồng phi giới tính, Hugh Hefner trở thành một bô lão đáng kính của làng dân chơi thủ cựu bài tân, đại diện của trường phái tình dục cải lương chuyên chính.

Nhiều người cho rằng sự thủ cựu kiên trinh ấy chính là nguyên nhân khiến ngài Hef, dù thời gian qua đi, nhưng độ tuổi của những người tình của Hef không hề thay đổi. Chỉ là những cô gái được thay mới để vẫn luôn là những cô nàng tóc vàng hoe, ngớ ngẩn, với độ tuổi dưới đôi mươi và vòng ngực sánh bằng tuổi tác của tình quân. Việc này không là ngoại lệ, như thể những chiếc áo choàng màu đỏ tía hoặc pajamas bằng satin đen thẫm, những bộ phim thời hoàng kim đen trắng, nghe chanson và các dàn big band thời 1930 – thú vui mà ông tìm được sự đồng cảm vô điều kiện từ chú chó cưng hơn là từ những nàng tình nhân trẻ tuổi.

Ông lão chăn thỏ may mắn đã tìm ra bí kíp của suối nguồn tươi trẻ, nằm thâm sâu bên trong thói tật thường tình: “trong quan hệ nhận-cho với một cô gái trẻ, nhất là những nàng tóc vàng hoe vô tư lự, tôi học rất nhiều. Tôi tái khám phá thế giới một lần nữa qua góc nhìn ngô nghê nhẹ tênh của họ, thấy vui thú và thanh tân lại từ đầu. Những cô nhỏ dễ thương ấy, họ là những thiên thần lẳng lơ, vui nhộn, và đáng chiều chuộng là vì vậy!”

Kha khá thập niên đã đi qua và Hefner trở thành một cụ già lẫm liệt, và những cô bồ vẫn ở tuổi đôi mươi. Nhưng họ, những tình nhân mãi mãi tuổi 20 ấy, 55 năm về sau có thật sự vẫn không khác gì thế hệ thỏ tiền phong: “Họ vẫn vậy, tức là không ai như ai, luôn luôn là vậy. Các Bunny sẽ luôn là những dấu ấn riêng biệt, từng người một và tất cả. Ngày nay, họ to cao mạnh khỏe hơn, chăm tập thể thao, sành sỏi cách tự chăm sóc bản thân, nhu cầu về dung tích silicone có vẻ cũng cao hơn, nhưng nhìn chung thì đó chỉ là những thay đổi của trào lưu thời cuộc. Về bản ngã, Pamela Anderson hay Marilyn Monroe quả tình không có quá nhiều khác biệt. Rất có thể bởi “khẩu vị” của đàn ông Mỹ, và cả thế giới nói chung, cũng không phát triển hay đổi thay chi lắm.”

Chính trị, lối sống và thời trang thì vẫn xoay vần đấy, nhưng đi vào cái cốt lõi của thẩm mỹ hưởng thụ, khi chúng ta tự do và trung thực hoàn toàn, thì cũng vẫn vậy thôi, ngày nào người ta còn khoan khoái khi cắm ngập răng vào quả táo hườm hườm mọng nước: “Những quả táo, được yêu thích bởi tất cả những lí do xưa cũ, chúng không nhất thiết phải quá khác biệt, tiến bộ và giàu cá tính. Bạn nghĩ thế nào, khi cắn phải một quả táo đầy thái độ? Hay một quả táo thông minh?”

Đối thoại với Mr.Playboy

Sau hơn nửa thế kỷ yêu đương, bài học lớn lao nào mà ông rút ra được cho lỗi lầm thường mắc phải nhất của đàn ông là gì?

– Không lắng nghe. Chúng tôi luôn tưởng rằng những gì mình đem lại cho họ đã là đủ: sự chiều chuộng, bảo bọc chở che và bất cứ món thứ phù phiếm nào làm họ thích thú, và vào cuối ngày, họ vẫn không hạnh phúc. Người đàn ông sẽ không bao giờ có thể tự nhận rằng mình đủ quan tâm đến người đàn bà của mình, hoặc những người đàn bà của mình.

Ông có hối tiếc gì, sau một cuộc đời lẫy lừng tiếng tăm như vậy?

– Tôi nghĩ quyết định cưới vợ của tôi đã là sai lầm đầu tiên, nhưng nếu không như vậy, tôi đã chẳng có những đứa trẻ. Nhưng mà ân hận tiếc nuối gì, khi thực tế cuối cùng, tôi vẫn đang thụ hưởng một số phận mà bao người khác sẵn sàng làm tất cả để có được. Vậy nên tôi biết ơn phần số, đôi khi tất cả cái gọi là Vận Mệnh chỉ nằm trong một cú tung con xúc xắc. Bởi quá ý thức ân phúc của mình nên tôi không thật sự muốn hối tiếc hay làm lại điều gì. Tất cả đều đã diễn ra trong quá khứ để tôi có được điều tốt nhất – Hiện Tại!

Vậy nghĩ theo một cách khác, nếu không là sự nuối tiếc cho chính mình, thì lời khuyên của ông với các cậu nhà về hôn nhân sẽ là gì?

– Tôi sẽ bảo chúng rằng đấy là cách tốt nhất để có những đứa trẻ và nuôi dạy chúng khôn lớn. Tôi cũng sẽ bảo chúng rằng nếu gặp được một người xứng đáng để chia sẻ suốt phần đời còn lại, thì đám cưới là một ý hay. Nhưng ngày nay, người ta sống lâu hơn nên những lí tưởng lãng mạn sẽ cần có nhiều cơ sở hơn để tồn tại ngần ấy năm dài.

Than ôi, chẳng lẽ trong 100 năm nữa, khái niệm thủy chung sẽ tuyệt chủng?

– Không, nó sẽ chỉ trở thành một trong những lựa chọn. Mà hình như ngay bây giờ thời thế đã là như vậy rồi.

Đối với Mr.Playboy, liệu còn có món lạ nào, mánh khóe ái tình nào mà ông chưa biết tới?

– Tôi nghĩ vậy. Xưa nay tôi vốn cầu thị và tò mò mà.

Ông có nghĩ đến cái chết?

– Có chứ, nhưng thường là không quá lâu.

Ông nghĩ sao nếu người ta bảo rằng đúng ra ông nên hành xử đúng cương vị một cụ già cao tuổi đáng kính hơn là tiếp tục chơi búp-bê và chăn thỏ?

– Bộ mấy người đó mới nghe tên tôi hay sao? Từ đầu tôi đã quen với việc bước qua những hạn chế của chủng tộc, giới tính, đẳng tầng hay tuổi tác rồi. Mặc nhiên với con số đại diện cho số lượng năm tồn tại của bạn, nếu như bạn còn khỏe mạnh thì tại sao lại phải cân nhắc? Dục tình không phải là cách tụng ca và tận hưởng đặc ân cuộc sống đó sao? Hơn ai hết, những bậc cao niên nên hiểu rõ điều này.

Ông có những khoảng lặng trong lịch trình hội hè miên man của mình?

– Ngoài những gì người ta thường tưởng tượng và đồn đại, thì cuối cùng tô vẫn là một nhà báo và biên tập. Đương nhiên, tôi luôn bố trí cho mình những khoảng lặng của cuộc sống, khi tôi ở một mình để viết lách và làm việc.

Vào những đêm không phải ghi hình cho các TV series, hay những bữa dạ tiệc trên giường, tôi vẫn tuân thủ một lịch sinh hoạt khoa học và chặt chẽ, lặp lại mỗi đêm trong tuần. Tối thứ tư chơi bài với em trai và bạn bè, thứ Sáu thứ Bảy là đêm của các tác phẩm điện ảnh kinh điển, còn các tối Chủ Nhật để dành xem những phim mới.

Hơn nửa thế kỷ của ái tình miên man và hàng trăm bạn tình, người tình và cuộc tình, cuối cùng thì điều mà Mr.Playboy vẫn không thể hiểu được về đàn bà là gì?

– Điều mà quý bà quý cô nào cũng thường nói mà đàn ông vạn đời vẫn không bao giờ hiểu đúng được, đó là “khiếu hài hước”. Có vẻ điều đó quan trọng với nữ giới lắm, bạn thấy đấy, 90% đàn bà đặt đó vào những tiêu chuẩn đầu tiên để chọn người tình. Và một điều khác không được họ thường xuyên nói ra, ít ra là trong buổi hẹn đầu, nhưng cực kì cực kì quan trọng, đó là “sạch sẽ”. Đáng tiếc, dù việc giữ vệ sinh cá nhân và phân biệt được những màn pha trò tục tĩu hoặc nhạt thếch hoàn toàn không phải là khoa học phân tử, nhưng có vẻ bao thế hệ đàn ông vẫn đang tiếp tục đi từ sai đến sai bét. Cuối cùng, và trên hết, đó là sự quan tâm, thật sự Quan Tâm đến người đàn bà.

người tô son lên gót đàn bà

Trác Thúy Miêu

“Một đôi giày hoàn hảo, một chiếc váy khéo cắt và một tình quân si mê – đó là tất cả những gì cần có để làm nên một người đàn bà đẹp.” Đó là một câu nói chỉ có thể được nói ra từ một vĩ nhân đã chết: Coco Chanel, Yves Saint Laurent hay Christian Lacroix hay ngài Dior.

Nhưng đó là một tông đồ… còn sống, nắm trong tay một đế chế phú vượng chỉ trong 21 năm. Mới đây, người ta lại vừa mới khai trương một boutique chánh hãng tại Việt Nam, để những cú nện gót điệu nghệ đóng dấu son mang chữ ký Louboutin có thể cùng lúc ghi dấu giữa lòng phố lớn Manhattan trải dài đến tận hòn ngọc Viễn Đông, hòa trong cơn sùng bái mê muội chung trên toàn thế giới.

Từ Những Đôi Giày Bị Cấm Đến Cô Gái Điếm Ở Paris

Cậu bé Christian sinh ra trong một gia đình với cha là thợ mộc, các chị em gái thích đi những đôi giày đế gỗ lóc cóc, và người mẹ hiền lành không hề là tín đồ của giày cao gót.

Những đôi giày với chức năng không chỉ để bảo vệ bàn chân chỉ bắt đầu đến với Christian Louboutin khi cậu 13 tuổi, cùng đám con trai cùng tuổi kéo nhau đến tiệm nhảy Le Palace. Trong khi những cậu trai hiếu kì ngắm thân hình các vũ nữ trên sân khấu, Christian ngơ ngẩn đắm đuối ngắm những đôi chân của họ: “Cho đến tận bây giờ, những đôi giày của tôi vẫn thấp thoáng dáng vẻ của Le Palace ngày ấy, cái thời của disco, với kim tuyến, và những mảnh kim loại”

“Việc lớn lên trong một gia đình mẫu hệ với mẹ và 4 chị em gái, tôi học về phụ nữ từ rất sớm: cách họ tự nhìn nhận bản thân, cách họ đưa tay chỉnh chiếc gương soi, v.v… Và tôi thấy bầu không khí, mọi thứ xung quanh họ – những người đàn bà, thật thân thuộc với tôi. Chẳng lạ gì, bởi họ sinh ra tôi và tạo dựng thẩm mỹ tiềm thức của tôi.

Như sáng nay chẳng hạn, chúng tôi kiểm định thiết kế một đôi biker’s boots. Tôi băn khoăn tự hỏi: Cái thể loại đàn bà nào lại muốn quấn quanh cổ chân mình hai miếng quai da dày cui như vậy chứ? Thế này nhé, nếu bạn có đôi chân mảnh dẻ, bạn sẽ muốn khoe nó ra. Còn nếu bạn có đôi cổ chân to như cổ lực sĩ, bạn lại càng không muốn nhân đôi thảm họa đó. Cả ê-kíp của tôi trầm trồ tiếc rẻ: ‘Nhưng đây quả là một thiết kế đẹp quá chừng!’ Rõ rồi, thiết kế đôi boots ấy quả là có đẹp, nhưng người đàn bà mới là thứ cần đẹp hơn đôi giày của cô ấy. Tôi là vậy đó, cái đẹp quyết định cho thời trang. Đôi giày không thể được coi là hoàn thiện chừng nào nó còn chưa được xỏ vào chân. Nếu khi đó, trông nó không còn đẹp đẽ như trên thiết kế, thì đó là một đôi giày tồi và một thiết kế thất bại.

Nhưng một trong những đôi giày hằn sâu vào ký ức Christian Louboutin lại được nhìn thấy ở một bảo tàng viện, nhưng không phải dưới dạng một mẫu vật được trưng bày, mà ở bảng nội quy treo ở cửa ra vào: “Cấm đi giày cao gót”. Cạnh đó người ta cẩn thận vẽ một đôi giày minh họa.

Bản vẽ và dòng chữ ám ảnh Louboutin, và ông bắt đầu vẽ những đôi giày. Ông vẽ đi vẽ lại đôi giày nhìn thấy trên bảng cấm nọ, rồi một ngày ông giật mình nhìn thấy chính đôi giày đó, hiện hữu hẳn hòi, dưới chân một người đàn bà đi dạo trong công viên ở Paris: “Tôi lẵng nhẵng bám theo chỉ để chăm chú nhìn vào đôi giày. Thật kì diệu: chúng đang ‘sống’, có thật, và chuyển động! Tôi như bị thôi miên và đi miết theo đôi giày (có người phụ nữ trên đó) cho đến khi bị người ta tống cổ ra khỏi công viên. Lúc đó tôi mới hay người đàn bà nọ là một cô gái điếm.”

Cuộc gặp gỡ ngoạn mục với đôi giày ấy đã ấn định rằng thời trang thế giới chuẩn bị đón chờ sự xuất hiện của một Christian Louboutin.

Không được trải qua việc đào luyện bài bản về mỹ thuật và thiết kế, thay vì như mọi nhà thiết kế cùng thời là chọn phụ việc cho một tiệm thời trang đương thịnh nào đó, Christian Louboutin, khi này 17 tuổi, xin được chân phụ việc trong phòng phục trang của tiệm nhảy Folies Bergère, giữa những nàng vũ công với những kiểu mũ cầu kì, những chiếc váy nóng bỏng, những lớp trang điểm công phu và những chuyển động yểu điệu được kiến tạo và nâng đỡ trên những đôi giày.

Christian Louboutin tiếp tục xin việc trợ lý với Charles Jourdan, Chanel và Yves Saint Laurent, và nhanh chóng nghỉ việc: “Tôi là một trợ lí tồi. Làm trợ lí là phải trợ lí, còn tôi chỉ muốn làm việc của mình theo cách riêng.” Và cửa hiệu nhỏ đầu tiên được mở ra ở một ngõ phố cổ của Paris, đến nay vẫn là sở hội chánh của nhà Louboutin, với niềm kiêu hãnh non nớt nhưng hùng mạnh “since 1991”.

Mật mã Louboutin: Pantone 18 Chinese Red

“Những bức vẽ đầu tay của tôi hồi đó luôn đầy màu sắc sặc sỡ, nhưng khi đưa đi thực hiện mẫu vật đầu tiên, tôi nhận chúng về, bên dưới là phần đế đen xì dày cộm. Ơn Trời, cô trợ lí của tôi lúc đó đang ngồi sơn móng tay. Tôi vơ lấy chai sơn, cô ta hét lên tru tréo: ‘cẩn thận, cái đó mắc lắm đó!’ Tôi phải hứa sẽ mua đền lọ khác, rồi sơn bừa màu đỏ thắm ấy lên đôi đế giày. Như một cú shock điện vậy, đôi giày như được hô hấp nhân tạo, chúng hồi sinh! Tôi đã nghĩ tiếp ra trò đổi màu đế theo từng mùa, nhưng cuối cùng, đỏ không chỉ là một màu. Nó là một thái độ!”

Theo nhiều cách diễn giải khác, màu đỏ là biểu tượng của máu, tình yêu, năng lượng cảm xúc. Nhưng với Louboutin, Đỏ là một thứ đèn xanh tâm lí, một sự mời gọi đầy cảnh báo. Nhưng sắc độ 18 trên bảng mã Pantone được mệnh danh là Đỏ Trung Hoa (Chinese Red), dưới tay Louboutin cũng là dấu hiệu của những bước chân đến và đi, hoàn toàn chủ động một cách quyến rũ. Như lời giã từ ngạo nghễ của các cuộc chia tay màu nữ quyền, trên nền ca khúc của Jennifer Lopez “Throwing on my Louboutins, watch these red bottoms, and the back of my jeans. Watch me go, bye baby” (Xỏ chân vô đôi Louboutin, dòm cặp đế đỏ nè, nhìn vào phía sau chiếc quần jeans. Coi em đi nè, chào cưng!)

Với ma lực và mãi lực của những cặp đế đỏ kì diệu, hẳn nhiên nhà Louboutin nhảy đùng đùng vác chiếu đâm đơn đòi kiện cho ra nhẽ nhà Yves Saint Laurent, vốn bấy lâu là hảo hữu, vì việc táy máy đưa cặp đế đỏ trứ danh nọ vào bộ sựu tập mới tung ra gần đây. Nhà Yves Saint Laurent cứng cựa vác bài bản ra cãi lại rằng đế đỏ có phải đâu riêng nhà nào, rằng thì là ai dùng chẳng thế, bởi thật sự ra chúng đã xuất hiện từ thời Christian Louboutin còn ở nơi xa lắm, cụ thể thời Louis XIV đâu đó những năm 1600, với chứng cớ rành rành là…bộ phục trang của nhân vật Dorothy trong phim The Wizard of Oz (sản xuất năm 1939).

Cả giới thời trang cự nự la ó trước viễn cảnh Christian Louboutin sẽ độc chiếm mã 18 bảng Pantone và thả sức phạt vạ bất cứ nhà nào sờ phải sắc đỏ này. Ít ra thì Picasso đã chẳng bao giờ đâm đơn kiện Monet tội xài màu chàm trứ danh “của” ông cho mấy bức tranh vẽ hoa súng, và thế giới vẫn được chiêm ngưỡng cả hai bức tuyệt phẩm hội họa.

Vụ kiện tụng đến nay chưa ngã ngũ, nhưng theo một cách nào đó, nhà Yves Saint Laurent cũng không tránh mối quan ngại rằng các sản phẩm của họ sẽ bị nhầm tưởng là mang nhãn nhà Louboutin. Trong giới thời trang đã có một sắc đỏ Valentino, phần số của “màu đỏ Trung Hoa” mã số 18 cũng mặc nhiên đã được định đoạt.

Phán xét cuối cùng không thuộc về tòa.

Điệu Tap Dance Ngộ Nghĩnh Của “Vua Đế Đỏ”

Christian Louboutin biến chuyện thường tình guốc dép thành tín ngưỡng bái vật, thành những siêu vật thể vượt chót vót trên tầm tính chức năng, rồi ông ghi luôn tên tuổi Lady Gaga cho đến Oprah Winfrey vào danh sách con nhang đệ tử, bản thân Christian Louboutin lại là một ông lão thủ cựu trong lối sống của riêng mình. Đồng nữ Madonna hay đả nữ Angelina Jolie có khiến cả thế giới trầm trồ khi họ trưng khoe những đôi Louboutin trước rừng flash cũng không khiến ông rung động bằng một phần khi biết rằng vợ của ca sĩ Johnny Halliday cũng ưng chọn hãng giày Louboutin. Ông tấm tắc khoe mãi “Bạn biết không, ở Pháp, Halliday nổi tiếng lắm đó!”

Ông dửng dưng cả với việc thứ tự và tần số xuất hiện của giày Louboutin so với Blahnik và Jimmy Choo trong siêu phẩm truyền hình Sex And The City. Khi được hỏi, ông chỉ lơ mơ trả lời “Tôi đồng ý tham gia vì người ta bảo điều này tốt cho việc kinh thương lắm. Tôi đâu có biết, bởi có khi nào tôi xem TV đâu!”

Điều này giải thích được sự dửng dưng của Christian cả với talkshow khét tiếng của Oprah Winfrey. Vốn là một tín đồ hạng nặng của Louboutin, Oprah xem đây là dịp để thể hiện lòng ngưỡng mộ đến bậc thầy đã làm nên phần rất quan trọng trong hình ảnh trang phục của Madame O’. Đối với mọi công dân Hoa Kỳ, việc làm khách mời của Oprah’s Show có giá trị tương đương với việc được phong tước hiệp sĩ nhân dân vậy, thế mà ông già hủ lậu người Pháp lại chối từ quầy quậy chỉ sau một lần quay vì “họ tới tận Paris bắt tôi ra quay ngoài trời. Lạnh quá, thế là tôi bị bệnh. Nên tới khi họ nghĩ tiếp ra trò tôi đến Chicago, tôi phát cáu: Bộ mấy người khùng hả? Tôi bệnh rồi đây này! Đừng hòng!”

Cách đây vài năm, khi được một nhà tên tuổi trong làng thời trang (ông từ chối tiết lộ danh tánh) mời về trong vai trò tổng lãnh sáng tạo dòng thời trang cao cấp, Louboutin gọi đó là một sự xúc phạm: “Bạn biết không, giày, chúng có nhạc, chúng có nhịp phách, thái độ, âm thanh, chuyển động,… như khiêu vũ vậy. Quần áo thì là chuyện khác. Nếu không làm giày, thì tôi còn bao nhiêu đam mê khác, làm vườn nè, tập nhảy, làm đạo diễn,… Còn thiết kế quần áo ấy hả?…” Ông làm một vẻ mặt đủ để trả lời câu hỏi tu từ đầy thái độ.

Sự khó chịu rất Parisian của Louboutin thật sự trở nên quá quắt khi chấp thuận việc cho ra đời búp bê Louboutin Barbie, với một điều kiện: nhà sản xuất phải bóp nhỏ lại đôi cổ chân thô kệch to tướng của Barbie.

Người ta rùng mình về sự táo tợn này đối với cô búp bê được coi là ốm nhom, dài ngoằng và hợp thời trang nhất trong lịch sử đồ chơi. “Làm ơn bình tĩnh đi, cứ như là cô ấy sẽ bị đau không bằng!”

Nhưng sự khả ái đầy tính dân chủ của Christian Louboutin lại được thể hiện một cách bất ngờ nhất. Trong khi nâng niu những cặp gót sen Vệ nữ, tình yêu của Louboutin dành cho Sarah Jessica Parker cũng trân trọng ngang ngửa với sự chiều chuộng chu đáo ông dành cho bất cứ người đàn bà nào khác.

Trong một lần xuất hiện tại đại lộ Saks Fifth ở New York, ông sẵn lòng hủy cả chuyến bay về Paris để bỏ hai tiếng đồng hồ hào phóng ký tặng lên những đôi giày cho khách hàng. Trong số những tín đồ chờ xin thủ bút của designer huyền thoại, có một người đàn bà thẹn thùa xưng với ông rằng bà “chỉ là một người bình thường làm nghề nội trợ”. Christian Louboutin đã trân trọng ghi tặng lên giày cho cô này dòng chữ “Tặng bà nội trợ quyến rũ thân mến của tôi”. Một cô dâu trẻ tìm đến xin chữ ký, Louboutin lém lỉnh và chu đáo chụp lấy cây viết màu xanh và ký tặng “Cái này là cho một món màu xanh” (theo tục lệ, mỗi cô dâu về nhà chồng phải có trong mình một món đồ cũ, một món đồ mới, một món đồ mượn và một món màu xanh)

Christian Louboutin, với niềm đam mê hạng nhì của mình là du lịch và làm vườn, chỉ cảm thấy an toàn và thoải mái nhất giữa cây kiểng các kiểu, mấy môn thể thao nhè nhẹ và một chút khiêu vũ, đặc biệt là thiết hài, đương nhiên, là với đôi giày nhảy hiệu Louboutin. Khi ông xuất hiện trong clip khiêu vũ của Fashionair với đôi giày nhảy dát đá óng ánh và lấp lóa cặp đế đỏ sau mỗi bước tap dance, khuôn mặt rũ bỏ vẻ lãnh đạm kiêu kỳ rất “dân thời trang Paris”, chỉ còn lại một người đàn ông trung niên hạnh phúc như đứa trẻ, nhẹ tênh và đáng yêu đến mủi lòng. Khó lòng mà tưởng tượng được rằng gã đàn ông với điệu nhảy cổ lỗ sĩ ấy lại chính là bộ óc kì tài của trùm thiết kế vũ khí dụ tình. “Tôi chưa bao giờ ôm mộng trở thành một phần của thế giới thời trang cả, tôi chỉ muốn thiết kế giày. Thậm chí đến khi lớn lên tôi mới biết Vogue là tên một tờ tạp chí”

Đế Bằng, Guốc Gỗ Và Những Cơn Khó Ở Của Christian

Trong nghệ thuật rù quến, giày là một khí cụ tối thượng không thể bỏ qua, Christian Louboutin, hơn ai hết, hiểu rõ điều này. Và đó là nguyên nhân vì sao phụ nữ rên lên trước những đôi giày đế đỏ của ông – bản năng chiến binh khiến họ có thể đánh giá được ngay lập tức món vũ khí đắc dụng. Và để sử dụng giày như những món vũ khí một cách điệu nghệ, người ta phải học. Một cơn rùng mình khủng khiếp sẽ giáng vào nhà Louboutin nếu một quý cô tìm đến với ông và than vãn sao giày quá cao, sao đường viền quá mảnh mai chênh vênh. Với Christian Louboutin, không đôi giày nào là quá cao.

Để giải thích một nỗi ám ảnh trứ danh về những cặp gót cao và lòng miệt thị với đế bằng, Louboutin cho rằng “Bản thân hình dáng và độ cao khác biệt của chiếc gót giày đã đại diện rất nhiều cho nữ chủ nhân của nó. Chỉ với sự nâng cao của gót chân, một động tác đơn giản đến vạy, đã là cả một cuộc tổng quy hoạch han thể, như một cuộc đại phẫu thẩm mỹ vậy. Những lòng bàn chân duỗi thẳng đến uốn cong, những múi cơ đùi bị giật căng, vòng mông vươn cao và gom chặt, cứ thế, những phần cơ thể được tuần tự đặt vào trạng thái của một con mèo vươn vai, dài muốt đến từng ngón tay, và tuyệt đẹp. Những cặp gót, chúng cũng có âm nhạc, những âm thanh rất riêng nói lên rất nhiều về thái độ của nữ chủ nhân, gợi ý về tất cả những chuyển động thân hình ly kì phía trên nó. Hãy nhắm mắt và lắng nghe những tiếng gót giày, chúng biết nói, rất nhịp nhàng và trung thực. Tôi có thể chỉ lắng nghe mà biết đó là pump, boots, gót cao hay gót kitten, gót cuban đặc hay slimheel mảnh dẻ. Tôi “nghe” được cả cái cách mà phần mũi giày ôm lấy các ngón chân ra sao… Cũng như âm nhạc, cũng có những thứ chói tai. Tôi đặc biệt ghét những đôi guốc. Tôi mà làm vua là tôi ban hành lệnh cấm ngay lập tức. Một thứ tạp âm lóc cóc, và roèn roẹt kéo lê khô khốc, lỏng lẻo buông bỏ khỏi những lòng bàn chân. Không dễ thương chút nào, như thể người đàn bà sắp bị tuột khỏi những cặp thiết bị đi bộ bằng gỗ ấy.”

Sexy và đế bệt? Không thành vấn đề. Bởi chiều cao của gót không định đoạt độ “hot” của quý bà! Nhưng đừng mong tìm được điều đó ở những đôi sneaker thân thiện. “Jane Birkin đã từng làm điều đó trở thành hiện thực hồi thập niên 1970, nhưng huyền sử không lặp lại với những đôi sneakers super-techno hiện đại. Những thứ đó nói lên rất nhiều thứ về cá tính, thái độ, tuổi trẻ, sự sung mãn, tính năng vận động,… nhưng tuyệt nhiên không có bất cứ nét nào sexy ở những thiết kế như vậy cả.”

Một trong những điều hành hạ Christian Louboutin còn là trường phái Total Look, với những diva vận nguyên con cùng thương hiệu “Cả hình hài họ như đang đồng loạt biểu tình, dương cao biểu ngữ hàng hiệu và thét lớn tên nhãn hàng. Khủng khiếp. Kinh tởm. Không có gì phản nhân văn hơn thế, đi ngược lại văn minh cá thể như thế! Một tội ác của sự ấu trĩ!”

“Đàn bà Pháp, đúng hơn là đàn bà Paris, là những quý bà kiểu cách và tao nhã. Điều này một phần nhờ vào lịch sử cả trăm năm trải dài những tiệm may, những nhà thời trang, những tên tuổi couturiers lẫy lừng điệu nghệ. Quý bà quý cô ở đây luôn có sự lựa chọn, họ không bao giờ cam chịu làm nạn nhân trung thành của một tiệm duy nhất giữa hàng vạn chào mời của những cung lộ mua sắm hào hoa nhất hành tinh. Nếu giữa Paris mà tôi va phải một bà vận nguyên cây Chanel thì đừng mong thuyết phục tôi rằng bà ta là một diva Paris ái quốc, bởi đó chắc chắn phải là một khách du lịch đến từ phương xa. Rất xa.”

Vậy liệu đối với Louboutin, có đôi giày nào là quá cao?

“Chắc là phải có chứ! Nhưng tôi không đi giày cao gót, tại sao lại phải quan tâm? Tôi ngắm, và kiến tạo nên thứ nhiều người thích ngắm, lựa chọn là của phụ nữ, còn ý kiến của bạn là gì?”

Cơn Cực Khoái Của Lòng Bàn Chân

Đã từng một thời, nước hoa và mỹ phẩm là vũ khí tài lực tối ưu của thế giới thời trang, giữ kiên cố thịnh vượng cho bao đế chế haute couture và các thiết kế phi-thân thiện. Rồi sau đó là thời của jeans và thời trang dân chủ để duy trì sức sống của thượng tầng thời trang. Còn bây giờ là thời của giày và túi xách – những quả bom tấn có thể định đoạt mãi lực sống còn cho mọi quyền lực thời trang xa xỉ. Christian Louboutin, song hành cùng Manolo Blahnik và Tamara Mellon của Jimmy Choo trở thành bộ tam đa hùng mạnh trấn giữ thị trường giày siêu thượng hạng, nơi những đôi giày có giá trị và ý nghĩa ngang tầm viên ngọc to nhất trên chiếc vương miện thẩm mỹ và đẳng cấp phải được đội kiêu hãnh trên đỉnh những cái đầu vương giả. Đứng giữa thái cực vừa cầu kì đến cực đoan, vừa đơn giản đến thô sơ của Blahnik, và vẻ diêm dúa đỏm dáng hoàng kim của Jimmy Choo, những đôi giày của Louboutin chỉ có một thông điệp duy nhất, thật thà và nặng ký: Sex!

Từ phong cách disco, những đường lượn thót tim nơi ức hỏm của lòng bàn chân nhạy cảm, cho đến sắc đỏ dập dồn ẩn hiện như một thứ mạch máu căng phồng lập lòe đâu đó sau mỗi bước sải diva, khiến người ta vẫn phải chiêm ngưỡng nàng từ phía sau với những uốn lượn vòng vèo muôn phần sinh động phía trên. Tất cả những thứ đó, không cần là một triết gia để thấy một chữ SEX đỏ chót được viết hoa.

Người ta có thể dễ dàng nhận ra một quý bà trong đôi giày Louboutin: nàng có dáng bộ yêu kiều chuẩn mực, và nàng hầu như không di chuyển quá nhiều.

Trên một đôi Louboutin, dù là dát cườm, quấn nơ hay đơn sơ một lượt da hảo hạng, người ta không có nhiều lựa chọn nào khác ngoài việc duỗi chân thẳng căng, ép sát các ngón chân đến ngặt nghèo với những bước chân được thực hiện theo điệu bộ một con linh dương bị thấp khớp và tuyệt đẹp. Một hiệu ứng phụ nữa là rất có thể, xác suất bị chuốc say và gạ tình rất rất cao.

Thứ gợi cảm nhất ở một đôi giày cao gót tuyệt nhiên không phải là chức năng tăng chiều cao. Do đó mà một diva hiểu biết phải biết rùng mình khó ở trước những đôi giày đế xuồng (một thứ giày bệt có đế thật dày). Như phần gáy, hay khoảng da thịt sau tai của người đàn bà, phần nhạy cảm và gợi tình nhất của giày cao gót nằm ở phần lõm của lòng bàn chân: “Nếu để ý, bạn sẽ thấy đây cũng là phần nhạy cảm trên cơ thể, và nó cũng co duỗi khi người đàn bà “lên đỉnh”. Một đôi giày cao gót đơn giản là một thứ khuôn đúc, khiến khi xỏ vào, đôi bàn chân phụ nữ lập tức bị uốn vào tư thế tự nhiên của nó trong cơn cực khoái.”

Thậm chí có rất nhiều người tin rằng lời giải thích trên của Christian Louboutin là một chứng cứ khoa học.

Bằng chứng chính là những vụ cầu hôn diễn ra liên tiếp tại cửa tiệm của ông, sánh ngang với tiệm nữ trang Tiffany hay nhà Cartier.

Những Cơn Đau Thời Trung Cổ

Giày đối với đàn ông chỉ mang hai ý nghĩa: phong cách lịch thiệp và mức độ giàu có. Còn đối với đàn bà, chúng là đại diện cho mọi khía cạnh đa diện, mâu thuẫn, kì cục và vi diệu bên trong tâm hồn họ. Tôi tin rằng họ sẵn lòng vui vẻ nhảy chân sáo dù đớn đau tím tái vì đôi giày dưới chân”

Và đó là những gì ông có thể say sưa diễn giải từ ngày này sang ngày khác, về cấu trúc cơ bản của một chiếc giày, về các hướng của lực trọng tâm, và coi khinh tất tật những tiếng rên rỉ của fashionista tuẫn tiết quằn quại âm thầm trên những đôi giày kiêu kỳ kén chủ. “Ừ thì phụ nữ chỉ có thể đẹp khi họ thoải mái và không đau. Nhưng thật lòng mà nói, tôi không cũng không thấy thoải mái chút nào khi người ta đến cửa tiệm của tôi và trầm trồ kiểu ‘Ôi, mấy đôi giày này trông tiện lợi quá!’”

Dẫu muốn phủ nhận thực tế của sự dã man mang sắc màu trung cổ này, thì người ta cũng khó lòng phủ nhận hơn 600,000 đôi dụng cụ tra tấn tự nguyện được bán ra trong chỉ 20 năm tồn tại của thương hiệu Christian Louboutin.

Cánh mày râu hoang mang tự hỏi rằng tìm đâu ra trong thế kỷ đàn bà trí thức không còn ưa thú trầm mình trong khổ hạnh, khi mà tục bó chân Trung Hoa và những chiếc đai tiết hạnh đã thành mẫu vật bảo tàng. Phụ nữ đi bar và từ chối các cơn đau tim si tình thống khổ. Và danh sách các khách hàng thân thuộc của nhà Louboutin tạo nên một thực tế đáng ngờ về quan niệm phụ nữ tân thời năng động, độc lập tự do.

Tuẫn tiết nhất là nữ văn sĩ “viện trưởng viện sến Hoa Kỳ” Danielle Steel. Bà ca tụng ái tình lãng mạn và đã tự hành quyết đôi chân mình trong thú đau thương với 6,000 đôi giày Louboutin, lập kỷ lục vô song trong danh sách thượng khách đặc biệt nhà Louboutin. Còn Blake Lively – cô đào nổi tiếng qua series phim truyền hình Hoa kỳ tân nữ Gossip Girl, sẵn sàng tậu một lèo 40 đôi Louboutin chỉ trong một chuyến săn.

Bà Vic nhà Beckham đang mang bầu cũng vong thân vận vào chân đôi Louboutins đến dự đám cưới hoàng gia vào tháng tư năm ngoái, và dài dài trong suốt thời kỳ mang bầu bé Harper, ngay cả với những dấu hiệu cảnh báo của chứng lệch đĩa đệm.

Và đó chỉ là một vài cái tên điển hình trong danh sách hơn 5,000 khách hàng thân thiết của nhà Louboutin, trong đó mỗi người sở hữu ít nhất 500 đôi giày đế đỏ.

Vậy đấy, như Germaine Greer từng viết “trong khi các nhà hoạt động nữ quyền vẫn vật lộn để giải phóng phụ nữ, thì giày cao gót đã kịp chinh phục nhân loại từ bao giờ.”

Louboutin hỏi lại “Con người tài ba đó là ai vậy?”

Một nữ học giả với những đầu sách vĩ đại thập niên 1970

“Vậy đó, thì ra bà ấy là một nhà cách mạng nữ quyền thập niên 70’s. Tôi thấy Madonna cũng là một phụ nữ khá độc lập đó chớ. Cổ là khách hàng ruột của tiệm tôi đó.”

 

Miuccia Prada – kẻ làm nên bộ da Quỷ Cái

Trác Thúy Miêu

Với Anna Wintour đứng đầu danh sách tín đồ và thanh danh bản thân cũng thuộc hàng đầu bảng phong thần của PeTA, Miuccia Prada có được cho mình một hình ảnh xứng tầm gia tộc quyền lực nhất thời trang thế giới.

Và khó lòng vẽ nên một chân dung hoàn chỉnh của chính “quỷ cái” Anna Wintour nếu thiếu một nét phác mang hiệu Prada.

Và từ đó, cái tên Prada không còn thuộc về gia phả cháu con nhà sáng lập Mario Prada nữa. Nó trở thành tính từ đại diện cho một phong cách sống: ngạo mạn trong tinh thần trang nhã, cầu kì trong cấu trúc thân thiện, và đài các ngay trong những bảng màu lòe loẹt và họa tiết ngô nghê nhất.

Nữ thừa tự đại nghiệp họ Prada

Không phát hiện “vấn đề giới tính” từ khi còn nhỏ, không bẻ ngoặt bánh lái số phận để chọn thời trang, có bằng PhD ngành khoa học chính trị, là một thành viên hoạt động bình đẳng giới, và chưa hề được đào tạo chính quy về mỹ thuật – người đàn bà mang cái tên quyền lực Miuccia Prada đã có cho mình một hồ sơ như thế, tức là không “fashionable” chút nào so với các đồng nghiệp đi trước và cùng thời.

Số phận đơn giản đã cầm tay dắt bà đến với thời trang, khi đặt Miuccia vào vị trí kẻ thừa tự của thương hiệu Fratelli Prada của dòng họ vào năm 1978, nơi bà đặt vào đó một góc nhìn rất riêng của một phụ nữ tưởng như không có chút gì khí chất thời trang: góc nhìn từ bộ óc của một diva quyền lực.

Điều này ắt đã là một sự bất ngờ với ông nội của bà, cũng là người sáng lập thương hiệu. Là một nam tử hán Ý Đại Lợi thuần chủng và thủ cựu, ông cụ Mario chưa bao giờ tin rằng thế giới của doanh lợi và quyền lực có chỗ cho những dấu chân đàn bà. Thậm chí ông đã đích thân ra tay can thiệp để tránh cho cuộc kinh doanh của dòng họ lọt vào tay một kẻ thừa tự là nữ nhi, dù đó có là người ruột thịt. Oái oăm thay, những đứa cháu trai mà ông kì vọng nhắm tới đều không tỏ ra tí hứng thú nào với việc cáng đáng đại sự nhà Prada. Mario ngậm ngùi đặt trọn ván bài vào tay đứa cháu gái, khi này đã lộ rõ khí chất nữ quyền.

Cũng vào thời kì này, Miuccia gặp và yêu người cộng sự và bạn đời Patrizio Bertelli. Đôi trẻ thế hệ cấp tiến đã lập tức cấy vào hệ thống nhà Prada những mầm mống mang xu hướng tư duy tiến bộ đầy tham vọng. Với gout thẩm mỹ của đứa con gái dòng họ Prada, lớn lên trong niềm kiêu hãnh của một gia tộc cầu kì và vương giả, Miuccia chỉ việc đặt lối sống của các tín đồ thời trang toàn cầu vào giá trị truyền thống của thương hiệu Ý, và không sự hợp nhất nào tốt hơn thế, để lập tức đặt bà vào vị trí đáng nể trong làng thời trang cao cấp thế giới.

Trường phái “tân Italy” trên gia huy họ tộc

Phớt lờ các nguyên tắc của thiết kế thời trang và kinh nghiệm về kỹ nghệ, đối với Miuccia, những kiến thức đang được tổng hợp lại đã đến từ chính những gia tộc thời trang như nhà Prada, nơi bà sinh ra và thừa tự: “Nên mặc nhiên với quá trình tư duy và sản xuất, sản phẩm cuối cùng mới là giá trị tiên quyết, cho dẫu bản thân tôi không đính nổi một cái móc khóa bình thường vào một chiếc túi xách bình thường nhất.”

Thái độ thực dụng “tân Italy” này được thể hiện rõ ràng hơn qua những thiết kế của Miuccia trên trang phục: tối giản, kinh điển, và hoàn toàn thoải mái tự tại trong sự xa xỉ đến ung dung tự tại. Say sưa với mục tiêu mới, Miuccia tiếp tục tung ra nhãn hàng mang dấu ấn cá nhân mang cái tên vui nhộn Miu Miu năm 1992, tách biệt khỏi ưu chất cố hữu của áp lực gia tộc Prada. Đến tận thời điểm này, Miuccia mới thật sự nhập cuộc. Miu Miu chính là phiên bản gout thời trang cá nhân của Miuccia, với chiến lược hình ảnh và tag giá thân thiện hơn. Với Miu Miu, bà có thể thực hiện cuộc chơi nhân danh bản thân mà không làm phương hại đến sự kiêu hãnh dòng hàng xa xỉ của nghiệp lớn nhà Prada. Miu Miu là một trò nghịch ngợm tài tình nhất, nguồn cơn hứng thú cho vị nữ vương dư máu liều: “Tôi không thích những thứ hiển nhiên, bởi vậy tôi luôn tìm cách tung ra một ý tưởng “lệch lạc”, sai so với cái vẫn hằng được cho là đúng – một cái gì đó khác. Chỉ thuần túy làm ra một cái gì đó đèm đẹp không thôi thì đã là điều dễ. Việc không được đào tạo cho phép tôi dễ dàng nhìn thấy những vẻ-đẹp-ngoài-luồng, và sự tỉnh táo giúp tôi biến chúng thành vẻ-đẹp-mới.

Cứ như thế, vào những mùa trào lưu màu trung tính, người ta sẽ có một Prada bung trào bảng màu lòe loẹt nhất đủ khiến phái bảo thủ Ý suy tim, cùng những mẫu giày sặc mùi thực dụng. Miuccia chỉ cười xòa: “Tôi thì tôi cho rằng thời trang đòi hỏi sự chuẩn xác đến cực đoan. Tôi cũng vậy, nhưng không cực đoan theo dòng.”

Ngược dòng thời thế tạo trào lưu

Bà tự nhận xét các thiết kế của mình là “kì khôi và không hoàn hảo”, và đó cũng chính là lí do vì sao bà tạo nên được cả một trào lưu cho các tín đồ tân thế hệ. Sự thừa nhận và tôn vinh quyền lực ấy đã ảnh hưởng lên văn hóa đại đồng, mà dấu son rực rỡ nhất là bomb cine The Devil Wears Prada.Dù nhăm nhe mô tả chuyện thâm cung tờ Vogue và đại nữ Anna Wintour cũng cần cả một chân dung đặc tả do Meryl Streep thủ diễn, bản thân Prada chỉ cần xuất hiện như thế, như một con dấu đóng lên cái tựa đầy kiêu hãnh, với sức mạnh ẩn dụ mãnh liệt hơn mọi tính từ để tô vẽ nên một khí chất Wintour.

Dấu ấn Prada xuất hiện ở khắp nơi, vượt trên cả một thương hiệu thời trang để trở thành dấu hiệu của lối sống xa xỉ, một thứ đế vương hiện đại, vừa đẳng cấp, vừa phổ thông, và phổ thông đến mức không chỉ xuất hiện trong siêu phẩm cinema mà còn cả những serie truyền hình thời thượng. Như thể nhắc đến câu chuyện của các diva thành thị, thì ắt đẳng cấp Prada không thể vắng mặt như một yếu tố cần và đủ.

Kinh điển nhất vẫn là serie về các tín đồ thời trang long lanh lãng mạn của New York – Sex And The City, khi mà cô nàng phóng viên thời thượng Carrie Bradshaw dẫn độ anh kép mới đến tiệm New York Prada để “đổi đời”: “Đối với một số người thì sự kiện hệ trọng tiên khởi là cuộc gặp gỡ các bậc phụ huynh, còn đối với Carrie, đó là cuộc chạm ngõ Prada”. Các tín đồ ruột khác của Prada là Linsay Lohan, Eva Longoria và, đương nhiên, đứng đầu danh sách là bà Mùa Đông Anna Wint-er cũng đồng ý với quan điểm thức thời và sâu sắc này.

Đồng bóng và tráo trở

Một ngày đẹp trời năm 2007, Miuccia Prada, khi này đã đường hoàng ngự chiếu trên làng thời trang thế giới, thở hắt đầy sầu não và tuyên bố “Tôi chán lông thú rồi!”. Hội PeTA reo hò, lập tức gửi đến tận văn phòng Miuccia một bó hồng đỏ tưng bừng thay lời tạ lỗi vì vụ khủng bố runway, do các nhà hoạt động xớn xác đã không thể ngờ rằng bộ sưu tập lần ấy của Miuccia đã ngấm ngầm sử dụng hoàn toàn lông thú nhân tạo. Trong khi đó, giới tín đồ chao đảo, còn Anna Wintour tuyên bố nếu không vì nghiện quá nặng những kiểu khăn choàng lụa của Prada thì đã gạch tên bà khỏi danh sách thượng khách cho những trang quảng cáo của Vogue.

Phe PeTA và đảng Xanh hẵng còn hể hả trước một loạt tên tuổi bự sự cuối cùng cũng hạ tay cam kết “cai nghiện xác thú” gồm Kenneth Cole, J.Crew, Ann Taylor và Ralph Lauren, thì lời tuyên bố của Miuccia quả đã thêm phần rạng rỡ cho vòng nguyệt quế vinh quang của sự nghiệp “cai nghiện”.

Trong khi đó, dân nội giới rành chuyện thì cho rằng tiếng thở hát não nề nọ rất có thể sẽ chấm dứt hình ảnh những binh đoàn trường túc mình khoác xác thú nghễu nghện diễu hành trên các runway cao cấp, không ít người khác chỉ cười ruồi và cho đây là trò đồng bóng thất thường vốn là thuộc tính của những tên tuổi khét tiếng làng thời trang thế giới.

Quả nhiên, chỉ một năm sau đó, các điệp viên hội PeTA đã ghi nhận được một cuộc điện thoại gọi trực tiếp đến đại bản doanh Prada Corps USA, xác nhận một lượng thiết kế đủ gây rùng mình bằng lông cáo, chồn, gấu trúc Bắc Mỹ vày chồn vizon đã được tung rải thảm tại toàn bộ hệ thống boutique và cửa hiệu Prada tại các department store tại Bắc Mỹ, với tag giá từ 2,000 USD cho một mẫu áo khoác viền lông, đến 22,000 USD cho chiếc áo khoác toàn bộ bằng lông chồn dày ngập mặt, làm từ xác 60 con chồn vizon tuyệt đẹp và không có khả năng tự vệ. Chúng được nhốt giữ trong điều kiện thê thảm tại các trang trại lông thú, bị giết bằng hơi gas hoặc chích điện, hay bị thương đến chết do bị sập bẫy.

Đòn lật lọng trắng trợn về sau được sao y nguyên mẫu với nữ đồ tể Donna Karan. Bà này thậm chí buông lời cam kết như đinh đóng cột, và ngay lập tức nuốt ngược vào chiếc lưỡi tráo trở của chính mình.

Rõ ràng cơn buồn chán của nữ đồ tể người Ý qua nhanh như gió thoảng, và tên tuổi dòng họ Prada lại tiếp tục vấy tanh máu súc vật. PeTA và các hiệp hội bảo vệ động vật khác lập tức rùng rùng triển khai chiến dịch kêu gọi ý thức tiêu dùng của các fashionista. Chưa bao giờ các cuộc tấn công bằng tương cà tàu hũ nát lại rầm rộ như thế. Mùa Đông năm ấy, tại một số khu thương mại, người ta đã ví von rằng không thể phân biệt nổi giữa tuyết rơi và tàu hũ bay, nếu không nhờ những tiếng thét căm phẫn của cả hai phía – phe nghiện xác và các nhà hoạt động.

Quỷ thì có thể bận đồ Prada, chứ thành viên hội PeTA thì chắc chắn là không.

Ứng viên viện Met 2012

Năm 2011 đã đánh dấu son lên lịch sử viện Met (Metropolitan Museum of Art exhibit) với cuộc triển lãm gây rúng động mang tên Alexander McQueen: Savage Beauty, như một sự kiện vinh danh và tưởng nhớ thiên tài thời trang vắn số. Với chính xác là 661,509 lượt người đến chiêm ngưỡng chỉ trong 4 tháng khiến Met trở thành thánh địa hành hương của mọi con dân tín đồ sùng kính nhất.

Câu hỏi còn lại là liệu viện Met sẽ chọn gương mặt nào để tự cạnh tranh với tên tuổi huyền thoại Lee McQueen cho lịch mục triển lãm 2012.

Và câu trả lời, sau rất nhiều đồ đoán lẫn những cuộc vận động ngấm ngầm, cuối cùng cũng đã được công bố trong sự tâm phục khẩu phục toàn phần của thời trang giới: nữ hiệp từng sát cánh với tên tuổi Salvador Dali lẫ Alberto Giacometi: Elsa Schiaparelli và, đương nhiên, vâng, chiếc vé còn lại thuộc về Miuccia Prada.

Trong mọi lí do để nôn nóng dành cho sự kiện này có cả việc trông đợi sự hiện diện của Quỷ Cái Anna Wintour, cùng Meryl Streep, Anna Hathaway và Emily Blunt – tác giả cuốn The Devil Wears Prada. Chưa hết, cô đào Haylee Steinfeld của True Grit, người vừa được chọn là gương mặt đại diện cho Miu Miu ắt cũng sẽ không thế vắng mặt, và thậm chí việc này ắt đã được cộng thêm vào các điều khoản hợp đồng kí kết giữa nhà Miu Miu và Haylee. Trong các tên tuổi đương thời của làng điện ảnh và là tín đồ của Prada còn có ngôi sao Twilight: Breaking Dawn 1 – Kristen Stewart. Stewart mắc chứng “nghiện” Prada khá nặng qua sự dìu dắt của stylist riêng là Tara Swennen.

Ngoài ra, các con nhang đệ tử nổi tiếng của Prada chắc chắn sẽ hành hương về viện Met còn có Carey Mulligan, Gwyneth Paltrow, Jessica Alba, Julianne Moore, Kirsten Dunst, Kate Hudson, Maggie Gyllenhaal, Mary-Kate Olsen, Megan Fox, Naomi Watts, Nicole Kidman, Rachal Zoe, Rihanna, Sienna Mmiller và Salma Hayek.

Chỉ bấy nhiêu thôi, đã đủ để sự kiện triển lãm sắp tới của viện Met dưới cái tên Prada hứa hẹn trở thành sự kiện thảm đỏ đình đám và lộng lẫy nhất của năm.

Và chỉ bấy nhiêu, cũng đủ để hàng ngàn con vật vô tội chờ đợi một cuộc đại thảm sát với những hình thức dã man nhất tại các trang trại lông thú để phục vụ cho ngày đăng quang những bộ da của loài quỷ.

Không chỉ dành cho trẻ em ham chơi lâu lớn

Những mảng ren cứng khô còng queo vằn vện chạy trên chiếc jacket hầm hố, họa tiết xe đua in nhì nhoằng trên những chân váy xếp pleat tung tẩy, đối với một nhà thiết kế nào khác, đây hẳn là bảng mô tả hiện trường một vụ tai nạn giao thông, nhưng đối với Miuccia, đó chỉ là bộ sưu tập Donna e Motori (Đàn bà và Xe hơi) – một khái niệm thoạt tiên tưởng chừng như sặc sụa hormone đàn ông, nhưng lại thể hiện một vẻ xinh xẻo dịu dàng cũ xưa.

Phía sau hậu đài, nhà thiết kế nói về ý tưởng kì khôi của mình “Tôi đã tìm cách để vực dậy khái niệm ‘dịu dàng xinh xắn’, thứ thẩm mỹ mà thời trang đương đại kị húy. Tôi không hiểu nổi, tại sao đàn bà con gái lại cần phải tỏ ra hung hăng ngạo ngược đến vậy?”

Thế là bà trộn nháo nhào lên mọi thứ, ngô nghê và láu lỉnh, cứng và mềm, đồ chơi cho con trai trên những bộ váy búp bê cho con gái. Nháo nhào và đăng đối một cách hoàn hảo! Chiếc bánh kem ngọt ngào trở nên dễ nuốt trôi hơn cho những nhà bình luận thời trang đã quen liều cay chua mặn chát của hương sắc hùng hổ nữ quyền. Sàn diễn loang lổ vệt dầu nhớt, những thanh xà kim loại nặng nề hầm hố, và những chiếc xe hơi con con màu hồng phấn ngô nghê,… tất cả tạo nên một phông màn hoàn hảo cho ý tưởng kì khôi nhưng dư thừa tiềm năng “cháy chợ”.

Cũng những yếu tố phông nền ấy được phản ảnh lại một cách tài tình trên từng thiết kế tung tăng diễu qua trước khán phòng: hồng kẹo ngọt, vàng mơ và xanh lơ của những chiếc Cadillac đỏm dáng, những chiếc áo chẽn nâng cao bộ ngực căng phồng, jupe bó sát bộ mông ngổ ngáo và hiếu chiến như những chiếc motor đôn dên, và la liệt những chiếc xắc tay trông như những chiếc xe đồ chơi, đủ để chiêu hồi khuyến dụ bất cứ cậu nhóc ham chơi nào bên trong mỗi quý ông.

Rõ ràng như dấu ấn của nữ thừa tự nhà Prada: năng lực sáng tạo và tiềm năng cháy chợ như những cỗ xe chờ phóng hết tốc lực, nhưng trong một bộ dạng thân thiện và, như bà nói, “xinh xẻo dịu dàng” – và hi vọng là sạch vết máu.

hồ sơ PeTA 2 (tiếp theo): Đại chiến Ngoạn mục PeTA Vs Vogue

Trác Thúy Miêu

Sự hằn học cay nghiệt giữa hai người đàn bà đã từ lâu trở thành một cuộc đấu tay đôi kì thú thu hút sự chú ý của báo giới, vừa mang khí khái của hai đại nữ khét tiếng trong xã hội, mỗi người nghiệt ngã với một lí tưởng riêng, vừa mang màu sắc bỉ bai cá nhân luôn khiến các nữ đối thủ có nhiều trò hấp dẫn hơn hẳn những cuộc đối đầu của các quí ông.

PeTA bị chơi khăm và Chiến thuật phong tỏa lộ trình hành hương điện tử

Tháng Hai 1995, một nhóm đối lập dựng lên website mang tên peta.org, với luận điệu rằng PETA là tên viết tắt của “People Eating Tasty Animals” (Những Người Ăn Thịt Thú Ngon). Vụ việc đã khiến Peta nổi đóa và theo đuổi kiện tụng cho mãi đến tận 2001, với phần thắng đương nhiên nằm ở phía Hội Những Người Không Ăn Thịt Thú Dù Dở Hay Ngon. Nhưng trong suốt những năm đó, hội peta.org đã gây không ít rắc rối cho kênh thông tin mạng của chánh hội Peta, khi mà hầu hết các cú click trên mạng Internet đều bị “dẫn độ” ngay tắp lự đến tên miền peta.org.

Ngay trong những năm theo đuổi vụ kiện tụng, kẻ khủng bố lắm chiêu Peta cũng mau mắn học lại được trò ranh mãnh này của đối thủ và dùng chính chiêu thức khủng bố mạng này để chống lại kẻ tử thù lâu năm của Newkirk là Anna Wintour. Thế là đường hoàng xuất hiện website voguemagazine.com, khiến những cú click của các tín đồ trên toàn thế giới, trên đường hành hương điện tử tìm đọc “thời trang chân kinh nguyệt san” Vogue bị “dẫn độ” về những trang hình ảnh và tư liệu lên án gay gắt đại nạn thảm sát động vật để phục vụ cho nền công nghệ xa xỉ đang được tích cực ủy lạo bằng những shot hình hào nhoáng trên các tạp chí thời trang láng lẩy mà Vogue đứng vào hàng đầu.

Hẳn nhiên, vụ chơi khăm nẻo hành hương điện tử của kênh truyền thông đối thủ không bao giờ tồn tại được lâu, nhưng cũng đủ thời gian để làm xính vính ít nhiều đến tờ Vogue, và đặc biệt lôi kéo thêm một số lượng tín đồ văn minh đáng kể trong đại cuộc tẩy chay thời trang lông thú.

Cảm tử quân khuyết danh vụ xác chồn ở tiệm Bốn Mùa

Cuối cùng thì người ta cũng tìm ra nữ chiến binh “cảm tử” đằng sau vụ xác chồn trên đĩa Anna ở Four Seasons để nghe cuộc tường thuật lại quá trình của hành động đáng nể ấy. Cô tường thuật lại việc tiếp cận một trang trại lông thú và nhặt được xác con vật tội nghiệp bê bết máu trong đống xác động vật. Xác con vật được ướp trong thùng lạnh chờ ngày hành động. Với nguồn thông tin từ chính nội gián Vogue, người ta nắm được lịch trình đi lại của Wintour, và bữa ăn trưa tại Four Seasons đã được chọn, bởi đây là nhà hàng nổi tiếng tập trung các yếu nhân giới thời trang và showbiz. Điều này càng khiến việc tiếp cận trở nên khó khăn hơn cho quân “cảm tử”, bởi lực lượng an ninh tinh nhuệ của nơi dành cho các yếu nhân này.

Cô đã chưng diện như một fashion diva chính hiệu, đặt xác chồn vào một túi mua sắm của một cửa hiệu thượng hạng và nói với nhân viên phục vụ ở đây rằng mình là cuộc hẹn mà Wintour đang chờ. Cô được dẫn đến bàn của đại nữ nhà Vogue, khi này đang dùng bữa cùng một phụ nữ và hai quí ông khác.

Nhà hoạt động can đảm tiến lại gần Bà Chúa Băng Giá, bất ngờ và đanh thép “Thật đáng xấu hổ cho mụ! Đây, cho những con vật mà mụ đã giết, đồ nghiện xác!” rồi vứt mạnh xác con vật rơi ngay lên đĩa thức ăn trước mặt Wintour. Đôi mắt bé xíu không còn sự sống của con vật vẫn mở. Trong khi Wintour và các vị khách vẫn còn sững sờ đông cứng như chính xác con vật tội nghiệp, nữ thành viên quả cảm của PeTA đường hoàng bước ra đường gọi taxi, kiêu hãnh và cả quyết hơn bao giờ.

Dịch vụ y tế bị khước từ

Trước những ngón “đòn thù” không khoan nhượng liên tiếp xả vào giới thời trang, Ingrid Newkird đã vô tình hình thành cho bản thân một bức chân dung dữ dằn và khắc nghiệt, như một đối trọng tuyệt vời với bà tổng biên tờ Vogue – kẻ thù số 1 của phái PeTA – Anna Wintour.

Không ngừng gửi những thông điệp vừa nghiêm khắc quyết liệt, vừa chân thành thống thiết tới tờ Vogue để thuyết phục bài trừ thời trang lông thú nhưng hoàn toàn vô hiệu trước phản hồi băng giá của Anna “Winter”, Ingrid ngán ngẩm tuyên bố rằng bà sẵn sàng đài thọ một ca chụp não cho Wintour để tìm liệu xem trong đó có xuất hiện dấu hiệu mong manh nào của nhân tính, với lời trần tình mai mỉa đầy tính khoa học “Bạn biết không, khi một số dây thần kinh bị tổn thương, nó ngăn chặn sự phát triển một số khía cạnh nhân tính cơ bản, chẳng hạn như lòng trắc ẩn và khả năng thấu cảm”.

Kể từ đó, xác chồn được quăng vào đĩa của Anna tại nhà hàng Four Seasons, sơn đỏ như máu hắt tràn trề nhày nhụa ngay thềm nhà riêng tại Sullivan Street. Mặc dù hẳn nhiên, cuộc chiến của PeTA không chỉ ưu ái tờ Vogue hay cá nhân Anna làm đối thủ, nhưng những chiến thuật bền bỉ và không khoan nhượng của Ingrid khiến người ta rùng mình tự hỏi điều gì đã khiến người đàn bà đầy lòng trắc ẩn với muôn loài sinh linh này lại có thể cay nghiệt đến vậy với đồng loại, và trên hết, mặc dù nhắm vào nhiều nền công nghệ khác nhau – từ nghiên cứu khoa học đến chế biến thực phẩm, nhưng các ngón đòn thù luôn được nhắm tập trung vào giới thời trang, dù không hẳn mức độ tàn sát đã sánh bằng với sự dã man trong các phòng thí nghiệm hay con số hủy diệt của ngành công nghiệp thực phẩm.

Trái tim Mùa Đông

Mưa tương cà vẫn rơi và đạn tàu hũ vẫy bay, Ingrid Newkirk vẫn điềm tĩnh tuyên bố “Tôi không chống lại thời trang! Tôi chỉ rất có vấn đề với một số người trong giới thời trang.” Bà khẳng khái thú nhận “Bản thân tôi sở hữu chiếc áo có cổ viền lông thú đầu tiên vào năm 18 tuổi, 19 tuổi tôi có hẳn một chiếc áo khoác làm từ 100 con sóc. Hồi đó tôi nghĩ trông mình mặc chiếc áo nọ thiệt đẹp!” Sự thật thà và một chút móc ngoáy ý nhị của Ingrid lại một lần nữa thắng điểm thiện cảm tuyệt đối của báo giới dành cho vị nữ thủ lĩnh đảng phái quá khích PeTA, đương nhiên là chừng nào bà còn chưa ném tàu hũ vào ống kính của họ. Dĩ nhiên rồi, không nhiều nhà báo có gout ăn xài của bà tổng biên tờ Vogue.

Không chỉ bởi những trang ảnh lộng lẫy trải tràn trề hàng tảng lông thú ngồn ngộn mềm mại đầy rù quến được ưu ái tỉa tót đến từng milimetre vuông được đăng ngập ngụa trên Vogue, không chỉ bởi những bài review ca tụng các mẫu thiết kế làm từ những xác thú chết đẹp mĩ miều, mà chính Wintour là một tông đồ khét tiếng trong vai trò con nghiện đồ da và áo lông thú đến bất khả cai chữa. Kéo theo từng lần xuất hiện của cá nhân bà, và từng trang bài, ảnh của Vogue là rầm rộ một cơn sốt đòi xác thú của hàng ngàn diva thời trang khắp nơi trên thế giới. Điều này khiến không chỉ ở vai trò tổng biên nhà Vogue, mà chính cá nhân Anna Wintour trở thành cừu nhân hàng đầu của phái PeTA và cá nhân nữ thủ lãnh Ingrid Newkirk.

Giới showbiz Mỹ rầm rộ phản ứng với Anna Wintour sau vụ bà này công nhiên đấu tranh cho cái gọi là “quyền mặc lông thú của phụ nữ”.

Vài tuần sau vụ con chồn chết ở Four Seasons, một lá thư được gửi đến văn phòng tổng lãnh Vogue, với chữ kí của Kim Basinger, Alec Baldwin, Sarah Bernhard, Woody Harrelson và ngay cả cục cưng trang bìa của Vogue là Tatjana Patitz, cùng nhiều sao thượng hạng khác thẳng thừng yêu cầu chấm dứt hành động ngang nhiên ủy lạo cho thời trang lông thú trên tờ Vogue: “Chúng tôi tin rằng chẳng có gì là sành điệu trong việc giết hại thú vật chỉ vì những món hàng xa xỉ. Chúng bị giết bằng hơi ngạt, chích điện, dìm xuống nước và siết cổ. Chúng tôi yêu cầu tạp chí Vogue hãy trở thành một ấn phẩm thân thiện bằng việc chấm dứt việc ủy lạo, quảng cáo cho thời trang lông thú.”

Sau khi lá thư được chuyển đi, người ta đã rất trông đợi vào một phản ứng tích cực từ văn phòng Mùa Đông, bởi hẳn nhiên, ai cũng biết bà Wint-er rất coi trọng những mối quan hệ với giới showbiz hàng đầu, mà hầu hết tên tuổi đều lưu lại thủ bút bên dưới bức tâm thư.

Phản hồi duy nhất đến từ một phát ngôn viên của tờ Vogue: “Chúng tôi sẽ tiếp tục kí các hợp đồng quảng cáo và ủng hộ thời trang lông thú trên các trang mục của Vogue.”

Ngay sau đó, nội dung lá thư được đăng tải ngay sau thư tòa soạn của Vogue tháng ấy, như một thông điệp của Vogue rằng mùa đông này là mùa của những tín đồ thông minh và ưa chuộng lông thú: “Đây chính là khoảnh khắc để tôi thú nhận rằng, vâng, tôi mặc lông thú. Và tôi còn ăn cả beefsteak mỡ màng nữa.” Cùng với mẹo vặt là chiên khoai tây bằng mỡ động vật sẽ ngon hơn rất nhiều khiến Anna ngon ơ chiếm giữ đầu bảng trong danh sách đen của hội PeTA và sổ thù vặt của cá nhân Ingrid cùng nhiều thành viên PeTA khác.

Nhưng danh sách không chỉ dừng lại ở đó, vì Anna cũng có cho mình những tông đồ trường phái liệt neuron trắc ẩn.

Ở vị trí bia ngắm cho Ingrid, xếp hàng ngay sau lưng Wintour không ai khác hơn là nhà thiết kế rất được Vogue sủng ái – ông kẹ mặt chì nhà Chanel – Karl Lagerfeld. Cũng như Wintour, chú K. không hề lấy đó làm điều: “Trái đất đang nóng lên hả? Tôi có thấy vậy đâu?” Hẳn nhiên rồi, đương nhiên là thế, chú.K, khi chú đang đứng sát sạt ngay sau lưng Bà Mùa Đông, chẳng có gì phải bàn về nhiệt độ địa cầu cả!

Thái độ băng giá đầy khiêu khích của Wintour cũng kích động trào lưu ngang phè trong giới thời trang. Tiếp nối đại tẩu truyền thông và tay đồ tể mặt chì Lagerfeld, nhà thiết kế nội y Janet Reger ngang nhiên tuyên bố trên sóng truyền hình rằng mình là tín đồ nặng nghiệp của thời trang xác thú. Ngay lập tức hôm sau, thỏa lòng nguyện ước, Janet và các show diễn có sử dụng thiết kế của bà được đưa vào bản đồ chiến lược của phiên họp thành viên PeTA. Các chiến thuật đa chiêu lại được đưa ra bàn bạc giữa các thành viên dạn dày mưu lược, còn Janet Reger khấp khởi chờ ngày được phong thành tông đồ tử vì đạo, còn con gái bà là Alica Reger thì lớn tiếng gọi các nhà hoạt động là “bầy đàn bại binh nhếch nhác”.

Có vẻ như cuộc thánh chiến dằng dai PeTA chống thời trang lông thú sẽ còn tiếp diễn nóng rẫy tại khắp nơi và mỗi mùa tuần lễ thời trang. Những kẻ đã từng ủy lạo và cam kết, như Donna Karan, vẫn trở mặt, Naomi trở thành kẻ phản bội đê hèn, và những hình ảnh thương tâm sẽ vẫn được gửi đến tận tay những đồ tể hào nhoáng, những tiếng kêu rít của các sinh linh vô tội vẫn thống thiết vang lên bên ngoài lớp cửa khép kín của những tòa tạp chí, đeo đẳng bám theo bằng dấu máu trên bộ áo khoác của các diva. Hàng tấn tàu hũ sẽ vẫn còn bay, dẫu tuyệt vọng, về phía giá băng của đại nữ Wint-er, và xuôi theo vòng xoay thời trang, sẽ vẫn là câu cầu khiến mỏi mòn của không một thế hệ fashionista tiến bộ, mà còn là của nhân loại, và Mẹ Thiên Nhiên: “Stop the insanity! No blood for vanity!”

Hồ sơ PeTA: Nỗi Kinh hoàng Của Những Con Nghiện Xác Thú

Trác Thúy  Miêu

Họ có mặt ở khắp nơi, đanh thép và không khoan nhượng như những chiến binh cảm tử, hay tinh nhuệ lão luyện như những nhân viên tình báo chuyên nghiệp. Họ có thể bất thình lình xuất hiện ở bất cứ đâu, trực diện tấn công vào những tượng đài thời trang và yếu nhân giải trí với vài vòng cảnh vệ bao quanh.

Họ hoàn toàn có thể là một kỳ nữ phim đen bất thần ngồn ngộn xuất hiện trên những tấm poster khổng lồ, mình không mảnh vải, hào phóng ban phát tòa thiên nhiên hùng vĩ cùng thông điệp ngạo nghễ “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!”.

Họ – những nhà hoạt động của PeTA – nỗi kinh hoàng của những tuần lễ thời trang, đặc biệt khi vào mùa của những bộ sưu tập mùa lễ hội – mùa của những tấm áo mĩ miều làm từ xác chết.

Các nhà khoa học hàng đầu lần lượt bị điệu ra trước tòa, bộ Quốc phòng Hoa kỳ đóng cửa vĩnh viễn một phòng thí nghiệm hóa học, hàng loạt nhân viên ngành thực phẩm bị mất việc, và các nhà thiết kế bị ép buộc ngậm ngùi kí vào bản cam kết vĩnh viễn từ bỏ thời trang lông thú.

Sự pha trộn giữa những trò vặt cay nghiệt, những chiêu thức đáo để đến trơ trẽn, thói độc tài ngang ngược, và một lòng trắc ẩn sâu sắc dữ dội đến vậy chỉ có thể đến từ một người đàn bà.

Nhưng không phải bất kì người đàn bà nào, nếu đó không là Ingrid Newkirk.

 

Nữ đồ tể bất đắc dĩ

Người đàn bà gốc Anh ấy đã rất có thể có cho mình một sự nghiệp an toàn vừa đủ với chiếc bằng chuyên viên chứng khoán, nếu vào một ngày năm 1969, Ingrid không tìm thấy những chú mèo lạc hay bị bỏ rơi và mang chúng đến các nhà tiếp nhận. Cô kinh hoàng trước điều kiện tồi tàn của các cơ sở này, và với những gì không chỉ đến từ nền giáo dục trường dòng, cô quyết tâm bẻ ngoặt định hướng sự nghiệp cuộc đời vào mục đích bảo vệ động vật – một công việc khi này còn chưa được xem là một “nghề”, trừ các bác sĩ thú y phục vụ nông nghiệp hoặc thú cưng của các gia đình thượng lưu.

Ingrid trở thành viên chức ban bảo vệ động vật tại Montgomery County, và về sau trở thành nữ chuyên viên đầu tiên tại cơ sở tiếp nhận động vật hoang đầu tiên tại quận Columbia. Cũng chính trong thời gian này, tự tay bà đã giết phải đến hàng ngàn con vật, có thời gian, trung bình hàng chục con mỗi ngày, những con vật bất hạnh đã từng được nuôi nấng như một thành viên gia đình và ruồng bỏ, thậm chí hành hạ, đánh đập, và không có đủ người với đủ lòng trắc ẩn để nhận chúng về nuôi, các cơ sở tiếp nhận, sau một thời gian, buộc lòng phải “tiêu hủy” chúng. Về sau, Ingrid còn thất thần cay đắng kể về thời gian này với tờ The New Yorker: “Những con người ngoài kia, có lẽ việc làm đau các con vật này khiến họ thích thú, hay thỏa mãn một điều gì đó trong họ. Còn tôi khi ấy, tôi khóc suốt trên đường chạy xe về nhà. Khi ấy, thâm sâu trong lương tri, tôi hiểu không thể gọi đây là một việc làm đúng.”

Thành viên đầu tiên của PeTA

Năm 1980, cũng là năm gieo xuống hạt mầm Peta, Ingrid bước ra khỏi cuộc hôn nhân kéo dài từ khi bà mới 19 tuổi. Ingrid gặp Alex Pacheco, khi này đang là một giáo chức truyền đạo và tình nguyện viên tại cơ sở tiếp nhận chó mèo lạc nơi Ingrid làm việc, nơi ông trở thành mối tình thật sự đầu tiên của Ingrid, với tất cả sự mê đắm của ái tình lãng mạn lẫn mối tương đồng khắng khít của hai kẻ chiến hữu, dù Ingrid lớn tuổi hơn rất nhiều, với tư duy thực tế, trong khi Pacheco vẫn còn là một cậu thanh niên mới lớn, nồng nhiệt và vô ưu.

Pacheco đã tặng Ingrid cuốn Animal Liberation của Peter Singer, và vào tháng Ba, bà thuyết phục người tình trở thành nhà đồng sáng lập của ý tưởng Peta, khi này chỉ gồm 5 nhân sự cùng làm việc dưới một tầng hầm, hầu hết là sinh viên, hoặc hội viên các hiệp hội, tổ chức môi trường tại địa phương.

Thoạt tiên, theo lời kể lại của Pacheco, lời đề nghị này không có vẻ thuyết phục đối với ông, “Tôi đã từng hoạt động tại Âu châu, và quá hiểu về tính rắc rối trong các nguyên tắc rối ren có liên quan đến chính trị của các tổ chức nhân đạo tương tự. Tôi chỉ muốn tự mình làm điều gì có thể. Nhưng bà ấy đã chinh phục tôi hoàn toàn khi đồng tình với tôi rằng các tổ chức hiện tại đang hoạt động yếu ớt, và hẳn nhiên là chính phủ, và nhân loại cần một tổ chức đúng nghĩa, hoàn toàn thiện nguyện và hiệu quả hơn để bảo vệ loài vật.”

Và Ingrid Newkirk có cho mình một chiến hữu, và PeTA có một thành viên đầu tiên.

Những con khỉ ở Silver Spring

Ingrid đã không nói suông với Pacheco. Một năm sau khi thành lập, Peta đã gây rúng động toàn thế giới với vụ 17 con khỉ tại Silver Spring. Vụ việc dấy lên sự phẫn nộ lớn trong công chúng, và trở thành đề tài tranh cãi kéo dài của các nhà đạo đức về các hành vi tra tấn với mục đích nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hành vi tại Silver Spring, Maryland. Vụ bê bối khai màn cho các cuộc ruồng bố của cảnh sát đến tận các phòng thí nghiệm khắp Liên bang Hoa kỳ, tạo áp lực lên quy định nghiêm ngặt đối với hoạt động thí nghiệm trên động vật tại Mỹ, và chiến dịch mang tên Animal Welfare Act năm 1985. Đây cũng được ghi nhận là vụ kiện về tính phi nhân trong việc thí nghiệm trên động vật đầu tiên được đệ trình lên tòa án tối cao Liên bang Hoa kỳ. Peta giành được quyền chăm sóc các chú khỉ dưới quyết định của toàn án bàng Louisiana.

Năm 1981, đích thân Pacheco đã vào làm việc tại phòng thí nghiệm nghiên cứu loài linh trưởng của Viện Nghiên cứu Hành vi Silver Spring, với mục đích trực tiếp điều tra các biện pháp tiến hành thí nghiệm trên động vật tại đây. Ông đã phải trực tiếp chứng kiến, và thậm chí tham gia vào các quy trình cắt bỏ các hạch thần kinh cảm nhận trên tay và chân khỉ, khiến chúng mất hoàn toàn các cảm nhận xúc giác. Một số con khác bị rút bỏ hoàn toàn các đốt sống lưng. Họ trói các con vật khốn khổ rồi cho chích điện, giơ cao thức ăn và nước uống để ép chúng phải sử dụng những phần đã bị tê liệt trên cơ thể.

Pacheco đã bằng cách đó đột nhập vào phòng thí nghiệm vào buổi tối, chụp lại hình ảnh các con vật bên trong phòng thí nghiệm và gửi các bằng chứng hình ảnh này đến cảnh sát và yêu cầu một cuộc lục soát hợp pháp, đồng thời bắt giữ giáo sư Taub – kẻ điều hành phòng thí nghiệm phi nhân nọ. Trong suốt vụ xử kéo dài 10, những hình ảnh bằng chứng này đã gây rúng động lương tri nhân loại khi được tung ra công khai qua mọi kênh truyền thông. Vụ kiện này nhắc nhớ đến chiến công của Henry Spira năm 1976, chống lại các thí nghiệm tàn ác trên loài mèo của Viện Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên Mỹ. Cả hai vụ kiện đã khiến chính phủ Hoa kỳ thức tỉnh và dành một sự lưu tâm đặc biệt đến hoạt động bảo vệ động vật một cách thiết thực tại Mỹ.

Cuộc đấu tranh quyết liệt 10 năm giành quyền bảo dưỡng các chú khỉ, theo mô tả của Washington Post, đã là một vụ vật lộn trong bãi lầy, với bên này cáo buộc bên kia là kẻ nói dối và bóp méo sự thật, và đưa Peta, không kém một trào lưu thời trang, trở thành một uy tín hoạt động tầm cỡ quốc tế.

Năm 1999, Pacheco rời khỏi hiệp hội, nhưng Ingrid không ở lại một mình, mà với hơn 2 triệu tình nguyện viên trên toàn thế giới, và nỗi kinh hoàng lớn mang tên PeTA.

Từ chiến công của điệp viên và thuyết khách…

Mỗi tuần, tại đại bản doanh Peta, một cuộc họp được tổ chức đều đặn với sự có mặt của hàng chục nhà chiến lược sừng sỏ nhất tề tựu quanh bàn vuông phòng khánh tiết hội sở Peta, và không có kế hoạch chiến thuật nào ở đây có tên là “quá khích” đối với nữ đầu lãnh Ingrid Newkirk. Thậm chí bà còn treo giải thưởng hằng niên với tên gọi Proggy Award dành cho các cá nhân, tổ chức có những chiến thuật và chiến dịch trội bật trong lãnh vực bảo vệ động vật hoặc đấu tranh chống hành hạ, giết hại động vật.

Các mục tiêu tối trọng của hội Peta nhắm vào các tập đoàn lớn, từ đại gia thực phẩm KFC, Wendy’s và Burger King. Trong lãnh vực thí nghiệm trên động vật, các thành viên Peta đặc biệt “ưu ái” bám sát nhất cử nhất động của các hãng thời trang và mỹ phẩm như Avon, Benetton, Bristol-Myers-Squibb, Chesebrough-Pond’s, v.v…

Cơn ác mộng PETA, đối với các tài phiệt thời trang, hơn cả những cuộc biểu tình và lằn đạn tàu hũ tương cà nhè vào mớ khách hàng thượng hạng, chính là các điều tra viên. Họ có thể là bất cứ ai, và tầm phủ sóng len lỏi của họ không dừng lại ở hậu trường các show diễn, mà luôn có thể lần ngược mối dây nhập khẩu nguyên liệu và thình lình xuất hiện ngay giữa lòng một trang trại ở tận Trung Hoa, hay một phòng nghiên cứu hóa học tận Thụy Sĩ, với mỗi cú bấm máy có thể tác động mãnh liệt đến lòng trắc ẩn của triệu triệu tín đồ thời trang văn minh.

Những điệp viên đặc vụ PETA thường phải bỏ hàng tháng, thậm chí hàng năm để theo đuổi điệp vụ. Phần lớn họ phải có một hồ sơ sạch bong, và thậm chí kinh nghiệm nghiệp vụ đủ để trở thành nhân viên chính thức tại những cơ sở đối tượng này. Họ được trang bị tận răng một cách kín đáo, hoàn toàn không thua kém các điệp viên cine chính hiệu, với nhiệm vụ thu thập chứng cứ, sao chép dữ liệu và chụp ảnh, ghi hình các hoạt động ngược đãi động vật tại đây. Cho đến 2007, tổng cộng 75 điệp vụ đã được đưa ra công luận, và thậm chí ra trước vành móng ngựa mà trong đó, bị cáo thường là các nhà nghiên cứu danh tiếng của các trường đại học, và các tài phiệt công nghệ, với phần thắng thường xuyên nghiêng về phía các nhà hoạt động PETA, khiến không ít phòng thí nghiệm đã phải đóng cửa vô thời hạn và gây khốn đốn đảo điên cho nhiều ngành công nghệ có liên quan.

Không hề trở nên khét tiếng chỉ bởi những điệp vụ gây chấn động toàn cầu, các thành viên giấu mặt của Peta thừa sức vung tay mua lại cổ phần của các tập đoàn bự sự kia cho đến khi nắm được quyền can thiệp vào công nghệ, thậm chí nắm khả năng dẫn đến nguy cơ lũng đoạn và phá sản. Chính nhờ biện pháp kinh tế táo bạo và sòng phẳng này, các đại gia cỡ McDonald và Wendy đã phải chấp nhận đầu tư tung ra những thực đơn chay, Petco ngưng kinh doanh thú quý hiếm, và Polo Ralph Lauren chấm dứt hoàn toàn việc sản xuất và thiết kế các sản phẩm từ lông thú. Trong khi đó, các trùm mỹ phẩm Avon, Estee Lauder, Benetton và Tonka Toy Co. đều nhất loạt chấm dứt việc thí nghiệm hóa học trên động vật, thậm chí trùm vũ khí Pentagon cũng quy phục mà chấm dứt hoàn toàn việc bắn thử lên heo và dê để kiểm tra sức công phá trên vết thương, và một lò sát sinh tại Texas bị đóng cửa vĩnh viễn.

…đến những màn khủng bố đa chiến thuật

Newkirk chính thức trở thành kẻ tử thù của không ít nền công nghệ, từ đại gia thực phẩm KFC, McDonald, cho đến các tông đồ thời trang xa xỉ cỡ bự như Karl Lagerfeld, John Galliano và Donna Karan. Nhưng hẳn nhiên điều này không dễ khiến nữ đại thủ lĩnh phái Peta chùn tay. Bà khẳng khái tuyên bố: “Lòng trắc ẩn có thể ủ mầm cho một sự đổi thay và lòng nhân ái. Nhưng một cuộc cách mạng chỉ có thể được đoạt lấy bằng hành động.”

Khẳng khái không kém gì khẩu khí ấy, Newkirk công khai ủy lạo cho những nhóm sử dụng hành vi tấn công và đột nhập, trực diện hay lén lút vào các đối tượng của Peta. Họ trắng trợn xâm nhập vào các phòng thí nghiệm và giải cứu các con vật, trực diện thóa mạ và hủy hoại mọi sản phẩm thời trang làm từ lông và da thú, với sự hung hăng khiến đau đầu cả những đội ngũ cảnh vệ tinh nhuệ nhất.

Nhưng thái độ của giới người mẫu đối với các chiến dịch của Peta lại có vẻ có thiện chí hơn rất nhiều, và con đường tiếp cận công nghệ thời trang qua các người mẫu của Peta trở nên có sức thuyết phục mạnh mẽ lạ thường đối với các tín đồ. Chiến dịch ủy lạo thực phẩm xanh và chế độ ăn kiêng bằng rau củ đã phủ sóng mãnh liệt lên thị trường fast-food khổng lồ nhất thế giới là nước Mỹ. Kết hợp với các vụ điều tra về hình thức giết mổ man rợ tại các lò mổ của đại gia McDonald và KFC, cùng với những cuộc biểu tình phong tỏa các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh, và cuối cùng là thân hình mảnh khảnh đáng thèm muốn của những model khét tiếng nhất đã khiến các hợp đồng nhân sự của những lò giết mổ phải có thêm điều khoản nhân đạo trong công nghệ xử lí động vật, và ông lớn McDonald cũng đã phải nhún nhường tung ra thực đơn hamgurger chay cho các thị phần người tiêu dùng văn minh.

Nhưng gây tiếng vang đáng kể nhất phải nói tới chiến dịch “I’d Rather Go Naked Than Wear Fur” (Tạm dịch: thà khỏa thân còn hơn mặc lông thú) với một lực lượng celebrity và người mẫu chưa bao giờ hùng hậu đến vậy. Cũng nhờ chiến dịch này. Công chúng và giới tín đồ thời trang được dịp nhìn ngắm thỏa thuê mãn nhãn những yếu nhân khả ái nhất hành tinh trong bộ dạng như trẻ sơ sinh kém bụ bẫm nhưng muôn phần kích động. Chưa bao giờ có một vụ scandal khoe hàng tập thể nào rầm rộ và gây tiếng vang đến vậy. Peta đại thắng về mặt truyền thông và chính thức trở thành lực lượng đối đầu đáng gờm của ngành công nghệ thời trang xa xỉ, cho đến tận các trang trại đồ tể Trung Hoa.

Tại hội chợ lông thú quốc tế ở Paris, các thành viên Peta bò lổm ngổm trên đường phố Paris, kéo lê những cái bẫy sập ngoạm vào chân, và hào phóng vứt ra tứ phía những tờ giấy bạc thấm bê bết máu.

Ngoài ra, trong các chiến thuật du kích nhỏ lẻ và dai dẳng nhưng là nỗi ám ảnh cao đối với giới thời trang và fashionista thượng lưu là đòn bánh pie, tàu hũ nát và tương cà. Những món này khi hạ cánh bẹt thèn lẹt lên một mẫu thiết kế bằng lông thú đắt tiền trông không khác gì một bãi máu me lầy nhầy và hoàn toàn có thể phá hủy hoàn toàn bộ vía. Tháng Giêng năm ngoái, chính bộ trưởng Gail Shea của Canada đã ăn phải đòn thù bánh pie, phản ứng với việc săn bắt hải cẩu bừa bãi tại vùng biển nước này. Khi bị chỉ trích là “đòn vặt”, Ingrid bình tĩnh giải thích: “Đối với đối tượng, nó có công dụng khiến họ lúng túng, bối rối, và trở về với ngoại hình nhơ bẩn như chính bản chất hành vi của họ. Còn đối với cái nhìn của công chúng, nó sẽ có tác dụng như một vụ tai nạn giao thông mà bạn buộc phải nhìn vào.”

Tuần lễ thời trang Melbourne Xuân Hè vừa qua đã lại là một minh chứng cho bàn tay phái Peta đã vươn dài đến tận úc châu. Các nhà hoạt động tấn công thẳng lên catwalk, giăng các tấm poster ghi dòng chữ “Fur is Dead” trước rừng ống kính báo giới, ngay khi các người mẫu vẫn đang tiếp tục tràn ra đường diễn. Dẫu chỉ là 5 phút rối ren – khá nhẹ nhàng với thời trang Úc, nhưng cũng đã đủ khiến cho các nhà tổ chức thức thời lập tức rà soát từng mẫu thiết kế của mọi hãng thời trang và hủy diễn bất kể thiết kế nào có sử dụng da hoặc lông thú. Mặc cho các nhà thiết kế la ó cự nự, cuộc bạo động nho nhỏ của chi sở Peta tại Úc đã đại thắng với một Melbourne Fashion Week 100% fur-free!

Mông cừu ở Úc châu, Yasser Arafat bị cảnh cáo, và tuyến tiền liệt của ngài thị trưởng

Ngay cả các nông trại chăn cừu khai thác len cũng không thoát khỏi tầm ngắm của các thành viên đảng Peta. Mặc dù không sát hại con vật để lấy bộ da, nhưng quy trình cắt một phần lớp da của con vật để lấy lông cũng khiến các tay chăn cừu tận Úc châu không nằm ngoài tầm bay của bánh pie Mỹ. Cả một chiến dịch tấn công trực diện đã được nhằm vào nền công nghệ len sợi của Úc, trong đó, các đại gia bán lẻ đã đồng loạt tẩy chay sản phẩm và chất liệu xuất xứ từ Úc. Các nhà công nghệ và cả các chủ trang trại Úc chất phác đã tỏ ra đáo để không kém cạnh, hì hụi vác đơn kiện đảng Peta, với luận điệu rằng việc lạng đi lớp da dưới mông cừu mang nhiều tác dụng tốt cho con vật và tránh các bệnh nhiễm trùng do ruồi mang lại, có thể gây đau đớn cho cừu còn hơn bị lạng da mông. Có lẽ bị thuyết phục bởi các lý lẽ có liên quan đến da mông cừu cụ thể và khoa học như vậy, Peta chấp thuận đình chiến. Để ứng đáp cho đúng kiểu thiệp liệp giữa chốn nông trang châu Úc và trùm khủng bố thời trang Mỹ, phía nguyên đơn hứa sẽ tìm tòi phương thức khai thác mới mà không lạng da mông cừu.

Thái độ không khoan nhượng của Newkirk lên cao vào năm 2003 khi bà đích thân gửi lá thư đến thủ tướng Yasser Arafat ngay sau việc một chú lừa vô tội bị nổ tung sau một cuộc đụng độ bạo lực tại Jerusalem, yêu cầu ông để yên cho các con vật.

Thiên hạ còn la ó kịch liệt với chiến dịch quảng cáo vận động của PETA mang tên “Your Mommy Kills Animals” (Má Cháu Giết Động Vật), với bức họa theo lối hoạt hình một bà nội trợ tay lăm lăm dao đang tấn công một chú thỏ. Triệt để hơn nữa, để tiết giảm lượng tiêu thụ sữa, tổ chức này còn tung ra chiến dịch “Got Beer?” (Có bia không?) như một đòn chơi khăm sát ván chiến dịch quảng cáo sữa nổi tiếng “Got Milk?” (Có sữa không?). Cho đến khi một số bằng chứng y khoa cho thấy các sản phẩm từ sữa có thể là nguyên nhân dẫn đến ung thư, vừa lúc thị trưởng New York là Rudolf Giuliani được chẩn đoán chứng ung thư tuyến tiền liệt vào năm 2000, PETA mau mắn chạy luôn bức ảnh của ông với hàng ria mép trắng và dòng chữ “Got prostate cancer?” (Có ung thư tiền liệt không?). Đến đây thì cả nước Mỹ la ó phản đối, dĩ nhiên là với các chủ trang trại và các hãng thực phẩm chế biến cự nự dữ dằn nhất.

Trong mọi kế sách chiến lược của mình, hẳn nhiên chiêu khỏa thân chưa bao giờ là cũ nhưng vẫn luôn phát huy tối đa hiệu quả truyền thông.

Tháng Tám 2011, PETA chính thức ra mắt website “người lớn nhẹ”. Phát ngôn viên của tổ chức là Lindsay Rajt tuyên bố với Huffington Post rằng họ “sẵn sàng tận dụng bất cứ chiến thuật và phương tiện nào tốt nhất, hiệu quả nhất cho quyền động vật”, cô còn trấn an rằng website nọ sẽ được xử lí “cẩn trọng và gắt gao với mọi thông tin, hình ảnh để đảm bảo không rời xa hiệu quả của thông điệp và mục đích chính”. Đến đây, các tổ chức bình quyền phụ nữ lại vào cuộc, cho rằng PETA đang vì quyền động vật mà đạp lên cả nhân phẩm phụ nữ.

Bản thân Newkirk, khi bị các nhà hoạt động bình quyền lên án về chiến dịch khỏa thân của các người mẫu, ngôi sao chống nạn sử dụng thời trang lông thú, đã điềm nhiên trả lời “Để đạt đến mục đích nhân đạo, chúng tôi buộc phải bón mớm cho công luận và giới truyền thông những điều họ luôn đói khát”.

Những cuộc săn lông thú và những “con thú” thượng lưu

Chính từ những vụ scandal phá rối sôi động của đảng Peta mà khắp các thánh địa thời trang và giải trí lớn trên thế giới đã dấy lên một môn “thể thao mạo hiểm” mới, hợp thời và là một phần của lối sống fashionista phố lớn: săn tội đồ!

Những cuộc săn này nhằm vào các tượng đài phong cách mới, các celeb danh tiếng. Bãi săn là mọi “vùng trũng” của giới thượng lưu, dập dìu tài tử minh tinh. Từ hộp đêm, nhà hàng, khu nghỉ mát, các đại lễ thảm đỏ, v.v… Những cuộc bố ráp lớn có cả một lực lượng paparazzi hùng hậu, súng ống nòng flash trang bị tận răng, các hội viên activist dấu kín những ổ tàu hũ, túi nilon đựng tương cà và cả bánh pie trong những túi đựng hàng của shopper, và chen chân trong đó là cả những tín đồ thời trang văn minh với diện mạo sành sõi điệu nghệ thừa sức trà trộn vào những đám đông vương giả.

Những “con mồi” được phát hiện thường được chờ dẫn dụ cho đến khi vô tình lọt vào giữa vòng vây bố ráp để lãnh trọn cơn mưa đậu hũ tương cà trong ánh flash lóe lên liên hồi kì trận, và ngay hôm sau, cùng với chiếc áo lông thú đã bị hủy hoại không thương tiếc là một loạt những hình ảnh toét nhoèn cà đậu của đêm trước được phơi bày thảm hại trên các cột báo chính luận cũng như lá cải. Trong số đó, Madonna, Kate Moss, Vic Beckham, J.Lo và Paris Hilton là những con mồi ưa thích của môn “thể thao mùa đông” kì thú này.

Thậm chí giới celeb còn cho rằng scandal “lộ hàng” hay bị phát hiện địa chỉ website khiêu dâm trên ổ cứng còn dễ chịu hơn rất nhiều so với việc bị phát hiện mặc thời trang lông thú.

“Con mồi” gây bẽ bàng nhất cho Peta phải kể đến trường hợp Heather Mills. Người ta tìm được những hình ảnh người phát ngôn danh tiếng của đảng Peta đã từng mặc áo lông chồn cách đó gần…20 năm. Dù Heather tự bào chữa rằng đó là chiếc áo của bà thân mẫu để lại, vết nhơ ngụy quân tử sẽ không bao giờ được gột sạch khỏi danh tiếng Heather Mills – vốn là một mạnh thường quân đắc lực của Peta.

Những chiến binh chân dài và trần trụi

Nằm trong các chiến thuật chống thời trang lông thú của Peta, các thành viên đã trà trộn vào hàng trăm show diễn từ Âu châu, Hoa kỳ cho đến Trung Hoa. Họ có thể bất cứ lúc nào bất thần phun sơn đỏ bê bết lên sàn catwalk, cùng lúc nhảy lên chiếm trung tâm sàn diễn, một số trong tình trạng khỏa thân, tay khư khư biểu ngữ, poster. Đôi khi, điều bất ngờ nhất đối với dàn nhân viên bảo vệ khi các tay khủng bố lại chính là các celebrity hàng đầu, hay thậm chí các người mẫu trong ê-kíp đột ngột thoát y án ngữ ngay trước khu vực báo chí, khỏa thân và che phía trước bằng biểu ngữ nổi tiếng “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!” (I’d rather go naked than wear fur)