ngược dòng khuếch tán

Có lẽ mùi hương chính là thứ phục dựng tiềm thức và thiên đàng hữu hiệu nhất, bởi nó có tất cả: trọng lượng, nhiệt độ, vị, cảm giác, và màu sắc, quang độ,… Khứu giác có thể cùng lúc lay động mọi giác quan còn lại, và như vậy, cả một địa đàng có thể được dựng nên và tiêu hủy chỉ trong tốc độ khuếch tán của một giọt bụi hương.

“Chúng ta là những đứa con gái lớn lên trong nước hoa Tabu, quần jeans Hara và những hộp phấn Én thần thánh”, tôi nói như vậy với cô bạn gái vào một buổi chiều cách đây vài hôm.

Câu nói hết sức buồn thảm này đúng với mọi độc giả cùng thế hệ tôi, đã lớn lên, mê đắm trước những Poison và Anais, những Charlie và Fragile huyền thoại của thị trường xa xỉ phẩm đơn điệu của Sài Gòn cuối thập niên 80.

Rồi tất cả trở thành kí ức già cỗi với những cơn sốt Obssession và Giò, đại dịch unisex và những vụ nổ tung hoa cứu rỗi tính nữ của ngài Jacobs… Mỗi perfumista Sài Gòn (ít ra là ở Sài Gòn) đều lưu giữ trong tiềm thức những dòng hương thời cuộc đó.

Sài Gòn – với thuộc tính rất riêng và thứ thẩm mỹ khứu giác bồng bột của hết thế hệ đến thế hệ khác những perfumista cầu kì hay nhẹ dạ, mang riêng của nó một lịch sử mùi hương.
angela-lansbury-for-blackglama

Từ huyền thoại đơn hương Chà-và đến những dòng hương tuyệt mệnh của Kỷ Hoàng Kim

Khó có thể truy tìm chính xác ai là perfumista người Việt Nam đầu tiên, hay lọ nước hoa đầu tiên được du nhập đến Việt Nam. Nhưng hoàn toàn không khó để kẻ chơi cổ ngoạn tìm thấy những lọ chai nước hoa Shalimar nhà Guerlain được lăng-xê vào thập niên 20 hiện diện trong vô thiên lủng những món cổ vật tế nhuyễn được rao bán từ kho tàng cá nhân một gia đình tư sản xưa nào đó.

Du nhập tới xứ An Nam cùng lối sống cầu kì của cư dân nền văn minh Ánh Sáng, nước hoa như một món trang sức vô hình, không phục vụ mắt nhìn, nhưng vi tế mầu nhiệm hơn tất thảy những món “bắc kế” (từ thời này dùng chỉ trang sức, phụ trang) sang trọng nhất – một thứ đặc quyền của giới kỹ nữ và hàng thị dân phong lưu.

Đồng hành cùng tuyệt phẩm mùi hương của văn minh phong hóa đến từ Tây phương này còn có những dòng đơn hương chưng cất bởi các thương buôn người Chà (Java) sinh sống tại Sài gòn.

Theo câu chuyện kể lại của một nhà bào chế hiện sinh sống tại Đà lạt, khi ấy ông còn là một cậu thanh niên tỉnh lẻ hàng tuần theo chuyến hàng lên Sài gòn, từng ngẩn ngơ chiêm bái hình ảnh những bà trung lưu, những cô nữ sinh áo trắng dập dìu ra vô những hiệu buôn của người Chà bên ngoài Chợ Cũ (giờ là đường Hàm Nghi), nơi những hương liệu mỹ phẩm được chưng cất, đựng trong những vò thủy tinh lớn và chiết ra chai nhỏ theo định lượng để bán. Loại dầu thơm bình dân này hoàn toàn là những đơn hương thuần túy mang mùi thơm của những loài hoa, vị cỏ có trong thiên nhiên được chưng cất, không cấu trúc và không biến cố, nhưng thỏa đáp được nhu cầu làm đỏm cơ bản nhất của nữ giới nói chung.

Cho đến giờ, cậu nhỏ đó vẫn đang thầm lặng thực hiện tham vọng phục dựng những dòng đơn hương giản dị đó cho mầm mống một thị trường nước hoa nội hóa.

Vào thập niên 50, những dòng xa xỉ phẩm nhập khẩu và nếp tôn sùng các nhãn nước hoa mang âm hưởng Francophile thống trị tuyệt đối thị trường thượng lưu, một phần bởi uy danh kinh đô hoa lệ, một phần khác bởi chính bối cảnh thị trường thế giới vẫn chịu sự thao túng của thẩm mỹ lục địa già. Cho đến tận đầu thập niên 60, nước hoa mới trở nên phổ cập hơn cùng sự sầm uất của những thương xá tân kỳ bày bán đồ xa xỉ. Cũng từ đây, các quý bà quý cô Sài Gòn bắt đầu làm quen với những loại nước hoa nhập từ Hoa Kỳ, dao động vô chừng từ những thương hiệu gốc Pháp như YSL và Dior, cho đến những dòng hương “drugstore” với giá cả khá dân chủ xuề xòa, thừa sức cung ứng nhu cầu làm dáng của giới trẻ.

Nhưng kể từ 1975, Sài Gòn cô lập hoàn toàn khỏi thị trường xa xỉ phẩm thế giới, người ta lay lắt dựa dẫm chính vào nguồn mỹ phẩm chợ đen từ các thùng hàng gửi về từ hải ngoại.

Đó là những năm đầu thập niên 1980 tại Sài Gòn, khắp nơi ở khu trung tâm, nơi những tiệm ăn, nhà hàng sang trọng còn sót lại, và những dạ vũ tổ chức “chui” tại nhà, những nếp quen và mùi hương cũ vẫn được duy trì một cách tài tình. Người ta cự tuyệt những dòng hương mới lạ thượng trào trên thị trường thế giới, như một cố gắng tuyệt vọng trong việc bảo tồn vẹn nguyên bầu không khí hoa lệ của Sài Gòn vào những năm 60 phóng túng. Opium của Yves Saint Laurent cho giới nghệ sĩ và cavalliere cũ, Chanel No.5 và Shalimar được coi là tín chỉ thượng lưu. Mấy cô trẻ trung thích Charlie, Joy và Tabu bởi mức giá thân thiện hơn, trong khi Mon Péché nhà Lanvin, Magie Noir nhà Lancome và Poison nhà Dior chinh phục hết thảy mọi thị phần bởi chút vẻ lẳng lơ táo bạo.

Còn với nam giới, Paco Rabanne giữ nguyên vị trí thượng lưu trong khi eau de cologne của Old Spice chỉ còn là tàn tích tại những tiệm barber kiểu cũ, và Brut lui về thị phần trung niên trí thức. Về sau, những lọ cologne hiệu Old Spice tuyệt tích hoàn toàn tại thị trường Sài Gòn, trong khi Brut vẫn tồn tại một cách khá khiêm tốn sau nhiều đợt thay đổi thành phần và thiết kế mề đay trứ danh cũng bị loại bỏ. Chỉ mới gần đây, hai tên tuổi này chính thức tái xuất dưới hình thức các phiên bản sản phẩm vệ sinh cá nhân, Brut và nhãn Old Spice “con tàu đỏ” hầu như bị xóa tên khỏi danh mục những dòng nước hoa giành cho quý ông. Cần phải nói thêm rằng đây là một điều đáng tiếc, bởi sự đặc sắc trong ứng dụng note cẩm chướng ở Old Spice, và thi vị Fougère kinh điển của Brut vẫn là những huyền thoại đáng nể của lịch sử bào chế mùi hương trên thế giới còn gây tranh cãi tới tận bây giờ.

l-gda23j5lkmoyeq

Thảm họa Kỷ Disco: Quá nhiều hormone cho một thành phố nhỏ

Dựa trên tập quán “tàn dư” của các perfumista mới nhập môn bản xứ, những dòng hương lừng lẫy nhất của Kỷ Ngây Thơ – khoảng thập niên 20, 30, tình cờ hội tụ hài hòa với những dòng cực thịnh của cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 và chiều chuộng mỹ mãn gu khứu giác bạo liệt của đàn bà con gái Sài Gòn xứ ngọc Viễn Đông vào đúng thời kỳ “trở mình” hồi phục của Sài Gòn những năm 1980. Tất thảy là những tầng hương mang cấu trúc cầu kỳ, với nốt powdery, xạ hương, gia vị và hương hoa tổng hợp sực nức một vẻ duyên phấn sáp đầy kịch tính, đồng điệu ngẫu nhiên với nét bốc đồng khả ái của Sài Gòn, sự pha tạp Đông-Tây cổ-kim kì thú giữa văn hóa “phố lớn” Sài Gòn với dáng vẻ cổ thị nhưng tinh thần phồn thực sầm uất của khu Chợ Lớn. Phóng khoáng tới mức dễ dãi, duyên dáng theo một cách ồn ào, huyền mặc Đông phương trộn nhuyễn cùng tạp chất văn minh Âu hóa, khoái lạc thụ hưởng được tôn vinh, và nỗi sầu muộn “sentimental” lại lên ngôi thời thượng theo những cuốn băng cassette chuyền tay cùng tên gọi tắt phiên âm “sến”. Tất thảy đều trùng hạp tài tình với tinh thần những mùi hương được ưa chuộng nhất thời kỳ này, với ảnh hưởng tác dụng á phiện lên nỗi ám ảnh Yves Saint Laurent, hay những gia vị Trung Á đậm nét “tuồng hương xa” của nhà Guerlain lúc bấy giờ.

Nhưng đó cũng chính là nguyên nhân tàn lụi của những dòng hương xạ (musky) và hương Đông phương (Oriental) tại thị trường Sài gòn những năm dài sau dư chấn cơn sốt nặc nồng hương nhân tạo đó. Xạ động vật và lượng lớn trầm hương, hổ phách chiếm nồng độ cao trong các dòng nước hoa này bắt buộc sử dụng tinh dầu tổng hợp và những gam hợp hương thay thế để tạo cảm giác tương tự, đặc tả thuộc tính phương Đông. Bỏ qua lòng trân quý những cấu trúc bào chế bậc thầy và những chiến dịch quảng cáo triệu đô, hai trường phái này khiến người ta liên tưởng tới thứ thẩm mỹ rườm rà cũ kỹ, quá nhiều aldehydes, quá nồng nàn với một thông điệp dục tính sỗ sàng, bông tai nhựa to quá khổ và keo xịt tóc nặng mùi. Những mùi hương được ưa chuộng đồng nghĩa với sự xuất hiện nồng nực ở khắp nơi. Cả một xã hội đàn bà đỏm dáng và cá biệt, bất kể thời tiết trong ngày, đều cùng lúc tỏa hương một cách phồn thực tới sỗ sàng.

Trong kí ức của rất nhiều người, thập niên 70 và 80 đã lưu dấu bằng những cái nhăn mặt khổ sở và những tai nạn xây xẩm vì mùi mỹ phẩm nực nồng trong thang máy, tiệm ăn và các rạp cine. Những tên tuổi quý phái thượng tôn trở thành khái niệm bình dân xa cạ, khi mà một quý bà lịch duyệt cũng tỏa hương y hệt một cô nhân viên cửa hàng mậu dịch.

Thảm kịch tương tự đã xảy ra với dòng nước hoa mang số 5 huyền thoại của nhà Chanel trên thế giới – với note hồng và hương phấn kinh điển, đậm đặc và phổ cập đến nỗi ấn tượng “mùi hương bà ngoại” (dù đã là một bà ngoại cực kì am hiểu sành sỏi) cũng đủ khiến các cô gái trẻ phủ lên các dòng powdery định kiến “mùi người già”. Cùng lúc, việc các quý bà Á châu ồ ạt chạy đua theo “đẳng cấp Coco” cũng cùng lúc khiến dòng hương powdery này chịu thêm một định kiến về phong cách trưởng giả nouveau riche.

Không thể không nhắc đến một tác nhân góp phần trong cuộc truất ngôi ngoạn mục của trường phái Oriental và musky là sự xuất hiện của hàng nhái sau thời mở cửa, cùng với thói quen buôn bán nước hoa trong quầy kiếng những khu nhà lồng nóng bức khiến tất cả những gì người ta cảm nhận được là một sức khuếch tán mạnh mẽ và kinh hoàng không kém gì những chiếc khăn lạnh ở quán bia hơi hạng bét.

o.769

Sự thoái trào của mặt phẳng những mùi hương đồng hóa

Sài Gòn đã phải mất tới hai thập niên để rũ bỏ hoàn toàn nỗi ám ảnh cơn sốt “musky Oriental”. Giới bình dân lũ lượt trốn vào sự xoa dịu của Anais Anais, trong khi các bà sang trọng “cai nghiện” Chanel bằng Dune, Giò và nồng độ Đông phương dịu dàng hơn qua hương nhài của J’adore, các cô thanh nữ ưa nổi loạn, hâm mộ Kim Wilde và mô tô Rebel quay lưng lại với Poison tối ám để tung hô những chai Jean Paul Gaultier với thiết kế chai lọ muôn phần kích thích.

Cũng cùng thời điểm này, không ít dòng nước hoa kể trên cũng tuyệt tích trên thị trường thế giới, hoặc phải trải qua những cuộc biến dạng, cách tân (reformulation) với sự thay đổi không hề ít trong công thức. Poison liên tục tung ra các phiên bản thỏa hiệp đa sắc, với thành phần và nồng độ được điều chỉnh mềm mại hơn nên vẫn được ưa chuộng. Cùng lúc, cơn sốt “quả táo độc” được hóa giải bởi các dòng hương trái cây trẻ trung hơn, với thiết kế vỏ chai không kém phần hấp dẫn do nhà Lolita Lempicka liên tục tung ra rù quến thị trường nhiệt đới. Các tên tuổi Á châu với làn hương trong veo và mỏng tang của Kenzo và Issey Miyake như hai giải pháp thỏa đáng cho khí hậu đặc thù nhiệt đới cũng bắt đầu được mến mộ.

Đó đã là một cuộc ru ngủ dịu dàng kéo dài từ giữa thập niên 90 đến nay, với Tommy Hilfiger đồng hóa lằn ranh giới tính của thị phần trẻ chuộng mốt unisex, trong khi trên thượng tầng mua sắm, các dòng hương được săn lùng và ưu ái bởi sự bảo chứng đẳng cấp của chai lọ và thương hiệu. Phần còn lại hứng trận mưa “cổ tích Lái Thiêu” với những lê táo mận nhà Lempicka và Marc Jacobs cùng Kenzo không ngừng nghỉ tung hoa lên thị phần nữ tính. Hơn một thập kỷ thơm tho kéo dài, những thi vị mùi hương được tóm gọn bằng những cái tên thương hiệu, các bàn thắng thị trường được quyết định bởi thiết kế lọ chai – vốn là những thứ không thể trưng trổ để uy hiếp thị giác. Cùng lúc, thảm họa những dòng hương tội đồ được mệnh danh là “nước hoa Singapore” được hau háu tiêu thụ thật sự báo động cho vai trò của thẩm mỹ khứu giác trong sự thành công của một dòng hương. Người ta từ chối chi trả những số tiền khổng lồ phi lý cho cùng một thứ chai lọ được bán trên các sạp chợ đêm hoặc mạng internet với giá chỉ bằng 1/10.

Không chỉ lằn ranh giới tính và đẳng cấp bị xóa mờ, nhộn nhạo đánh lẫn, mà trào lưu những dòng hương nhẹ thơ lơ cũng đã báo động thoái trào khi mà những số tiền cực xa xỉ được trả cho những làn hương mỏng mảnh đến nỗi người ta phải áp mũi lên da mới cảm nhận được, và được quảng cáo là đỉnh cao của sự tinh tế mùi hương…da thịt vừa được tắm sạch trong bồn jacuzzi thả hoa tươi. Tất cả tan biến chỉ trong vòng 15 phút đầu, với những khứu giác hụt hẫng trước cuộc thăng hoa xí hụt.

Đó là khi người ta nhớ da diết cái thời mà đàn ông và đàn bà tỏa mùi khác nhau, như những cá thể rừng già tỏa hương hormone đặc thù quyến rũ, khi mà đóa huệ duyên dáng của nghệ nhân nhà L’Artisan Parfumeur phải vượt trội về độ cầu kỳ so với note ylang ylang điền dã của những dòng hương giá mềm dân chủ. Những tầng, những lớp hương phức hợp trong một cấu trúc cầu kỳ đã trở thành điển lễ cũ kỹ, đậm đặc và dày vò đủ khiến người ta muốn quay trở lại để thưởng thức từ đầu. Những cú xịt đầu vòi với mỗi hạt bụi dung dịch màu hổ phách là một thiên diễm tình có lớp lang, biến cố được khứu giác kiên trì lần dở từng trang, từng cảnh cho đến khi mùi mẫn ngấm hẳn vào thịt da. Những mẫu vật cũ được săn lùng khắp nơi trên thế giới, các phiên bản trường phái chypre và fourège kinh điển được phục dựng trong những diện mạo và tên gọi mới.

006-M

Những “lỗ mũi” nổi khùng và những dấu chỉ phục hưng

Khi Le Parfum nhà Elie Saab bất thần thắng lớn tại mọi trung tâm mua sắm Sài Gòn, như một dấu chỉ cho một trào lưu tuy chậm chạp cẩn trọng nhưng hoàn toàn chắc chắn của những gu thưởng thức cầu kỳ nhưng không còn cũ kỹ. Le Parfum bắt đầu khôn khéo với việc dẫn dụ thói quen khứu giác bằng hương trái cây, hoa cam, khá thông dụng và hợp thời. Nhưng ngay lập tức là một cuộc chơi vi diệu của đặc tính đàn bà rõ nét với hương hoa hồng và nhài. Sự có mặt của các note tổng hợp mang tên aldehydes chính là yếu tố nhắc nhớ đến cái duyên phấn sáp quá tay của những dòng hương huyền thoại. Việc Le Parfum được ưu ái mạnh mẽ chính là dấu hiệu đáng ăn mừng cho các tín đồ perfumista phe bảo thủ về một cuộc đại chấn hưng.

L’artisan Parfumeur cũng táo bạo xuất hiện tại các thương xá Sài Gòn với hợp hương khá dị biệt do được tạo ra bởi quái kiệt Duchaufour, người đã tiễu trừ vị kem sữa (creamy) đặc thù của hương huệ và tạo ra một cấu trúc kì cục nhất xưa giờ với lối dẫn dụ đặc tả từ…gốc đến ngọn, như thể người ta chào hỏi một quý bà bắt đầu bằng việc hôn vào chân vậy.

Những cú chấn động liên tiếp của các “lãnh chúa” haute couture trong thế giới thời trang từ 2008 theo chuỗi domino đã tác động bạo liệt lên thị trường nước hoa, mỹ phẩm và phụ trang – những rường cột chống đỡ tài lực cho các thành trì xa xỉ cuối cùng, khiến cả kỹ nghệ bào chế phải đi qua sự thỏa hiệp với mãi lực bằng những cấu trúc mùi hương thân thiện bên trong những lọ chai bắt mắt. Đó chính là thời điểm quật khởi bạo liệt của những “tân minh chủ” bất ngờ và bất trị nhất: những phù thủy ẩn danh phía sau những huyền thoại mùi hương, các nhà bào chế thượng hạng, và những chiếc mũi phù thủy nổi loạn.

Những nhãn hiệu độc lập được ra đời, mang danh tánh cá nhân của các nhà bào chế, báo hiệu một sự chấn hưng rầm rộ của những hợp hương cầu kỳ bất hủ, những cảm hứng dị biệt nhất nằm ngoài mọi khuôn mẫu của nguyên tắc hòa hương. Thị trường đang quay sang tôn sùng những dòng nước hoa thượng thặng thoát khỏi hệ nô dịch thương hiệu, mang những tên tuổi cá nhân xa lạ nghiễm nhiên trị vì ngôi vị đắt đỏ nhất trên thị trường. Bond No.9 bỏ cả Nữu Ước vào lọ, quái kiệt Francis Kurkdjian thao túng tín đồ sành sỏi bằng bộ sưu tập trầm hương hừng hực sâu thẳm như những cơn sốt nhục cảm, đế vương đến tận từng con số trên tag giá. Tất thảy, mùi mồ hôi, đồng thau han rỉ trong ngôi cabin gỗ hoang phế, những drap đệm tình nhân, cả những chiếc váy slip dress bằng tơ chưa giặt, và có lẽ cả Nữu Ước lẫn Sài Gòn đều có thể được thần thánh hóa dưới dạng dung dịch, và đựng đầy vào những cái chai.

Cùng lúc, giới chuộng mùi hương tại Việt Nam, dù chưa phải là một cộng đồng to lớn, một khi thói quen và điều kiện mua sắm tại nước ngoài đã trở lại như thời hoàng kim gần nửa thế kỷ trước, lập tức hình thành nhu cầu tìm đến những mùi hương cá biệt và thoát khỏi ảnh hưởng nô dịch thương hiệu hay sự quyến rũ thị giác của thiết kế vỏ chai. Tính cá nhân lại được tôn thờ mãnh liệt hơn bao giờ hết sau gần hai thập kỷ của những dòng hương chung chạ. Sự xuất hiện dù chỉ mới duy nhất một cửa tiệm có dịch vụ tạo hương bespoke tại Sài Gòn để làm ra những lọ nước hoa độc bản cho thân chủ cũng đủ để người sành hương nhìn nhận dấu chỉ đáng mừng cho một nền văn minh pefumista hậu nô dịch.

Bởi tất cả, trên cả hương thơm, đó là thế giới tuyệt xảo của những bản ngã được tôn thờ, của mùi hormone nhân tạo được thần thánh hóa, những tuyệt phẩm nghệ thuật mong manh nhất, tan biến bằng tốc độ tản hương nhưng có khả năng gây nghiện đến ám ảnh lâu dài, món trang sức lịch duyệt nhất của nếp sống phong lưu, kiêu ngạo vượt xa khỏi mọi trưng trổ ồn ào của tầng thị trường nhãn mác.

6a00d83451ccbc69e2017615997dd6970c-400wi

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí L’Officiel)

MÙI THỊ DÂN

Tình cờ trong một bài nghiên cứu về những dòng nước hoa phong vị Đông Phương đã ngưng sản xuất, tôi bắt buộc phải săn lùng những mẫu vật đã hoàn toàn tuyệt tích khỏi thị trường. Duyên kỳ ngộ đến với tôi từ tay một phụ nữ trung niên, gửi gắm món kỷ vật trong ve nước hoa bằng thứ thủy tinh đã trở nên đục mờ, bên trong chỉ còn chứa không quá 10ml đáy cặn. Sắc hổ phách huyền thoại của thứ dung dịch xa xỉ đã chuyển sang thứ nước màu thắng quá lửa với mùi hương khét ngằn ngặt như những bông hồng chết trên giàn hỏa thiêu. 40 năm về trước, chị là cô con gái gia đình “tiếp quản” một ngôi nhà mà gia chủ đã ra hải ngoại. Trong tất thảy những cuốn album gia đình cùng tư trang để lại, cô gái nhỏ đã lén giữ lại chiếc lọ cầu kỳ như một kỷ vật của một thứ tàn dư diễm lệ mà cô hụt tay sờ chạm. 40 năm, chưa một lần chị dám phí phạm dù chỉ một làn bụi hương sót lại nơi đáy chai. Tôi hứa với chị sẽ hoàn trả mẫu vật sau khi trích lục để phân tích một phần hương bên trong.

Cái cảm giác ấn chạm vào đầu chiếc ve nhỏ, phóng thích một tia bụi nước đó trở nên thiêng liêng kỳ lạ, vượt xa chuyện sửa soạn xức thoa thường tình. Như thứ thanh âm cũ mòn thốt bật từ lòng đĩa vinyl cổ đại còn đính chiếc tem giá, những thước phim nhị sắc run rẩy trên phông bạc sau hàng thập niên trong phòng lưu trữ, tôi nhận ra mình vừa phóng thích khỏi chiếc lọ cũ kỹ cả một nền văn minh thời cuộc, hiển hiện ngay trên cườm tay, với đầy đủ biến cố cầu kì của một tuyệt tác mỹ phẩm, biến dạng nặng nề bởi ngần ấy thập niên đợi chờ được phóng thích.

Vị thần tai ác chui ra khỏi chiếc ve được thiết kế cầu kỳ, và trước khi tôi kịp chọn cho mình một điều ước, tôi bị quăng không thương tiếc lên chuyến tàu ngược thời gian và nhắm mắt lại để thấy mình, không phải ở thị trấn Provence với bạt ngàn đồng hoa lanvande tím, hay kinh thành Ba Lê thánh địa của kỹ nghệ bào chế nước hoa, mà giữa vẹn nguyên thập thành đô thị Sài Gòn gần ba mươi năm về trước: mùi Sài Gòn!

Hương phấn sáp khỏa lấp kỷ điêu tàn

Tại sao những dòng mỹ phẩm đặc trưng được sản xuất vào những năm 20 của Kỷ Ngây Thơ (Age of Innocence) và thập niên 70 diêm dúa luôn khơi dậy trong tôi chỉ cùng một tiềm thức?

Sài Gòn có mùi gì?

Tôi không tin người ta có thể ngay lập tức trả lời câu hỏi này. Bởi Sài Gòn là một đô thị…nặng mùi. Một tạp âm hổ lốn, đa tầng được cảm nhận bởi khứu giác đã mỏi mòn từ quá lâu đủ để chậm chạp bóc tách từng lớp, từng nốt trầm tích mùi hương ấy ra mà phân tích một thứ “hương Sài Gòn” chuẩn xác.

40 năm sống trong lòng Sài Gòn, tôi dõi theo kí ức của chính mình, nhắm mắt lại, hít thở và để mặc những note mùi hương làm công việc của nhà điêu khắc, tạc vóc chân dung Sài Gòn. 40 năm của một hành trình thoái hương đầy biến cố, cho đến khi bất cứ dòng nước hoa xưa cũ nào với trường phái đặc thù của mỹ cảm 1920 và 1970 cũng có thể lập tức phục dựng sinh động một kỳ đoạn nối dài từ giữa những năm 1970 đến cuối thập niên 80 của Sài Gòn, trở mình giữa lệ và hoa.

Đó chính là khoảng thời gian chuyển tiêp giữa nếp sùng bái thẩm mỹ Francophile còn lại của lớp thị dân elite, cùng những tinh hoa Bắc và Trung kỳ hội tụ về đây giữa những năm 50, pha trộn với trào lưu tân kỳ của những dòng hương “drugstore” Hoa Kỳ đầy tinh thần thực dụng và tag giá dân chủ hơn rất nhiều. Thập niên 20 và 70 tiền-disco gặp nhau trong vẻ hào nhoáng cảnh vẻ: những cô đào trang điểm quá tay, những tiến bộ vị lai của khoa học và những nỗi sầu chính trị hợp thời. Chypre và aldehydes, xạ hương đầy nhục cảm và thứ mùi phấn sáp trang kim của trường phái powdery.

Một chuyên viên tâm lý có thể dễ dàng lý giải điều này bởi sự can thiệp của vốn liếng tiềm thức hạn hẹp bó tròn trong đời sống thị dân, bởi những khái niệm đầu đời về thế giới mùi hương đã gắn liền với mọi kí ức của Sài Gòn giữa thập niên 80, bởi những chuyến du hành thần thánh từ những quầy lộng kiếng nhà lồng Bến Thành, đâm xuyên lối chợ trời Tạ Thu Thâu nực nồng xa xỉ phẩm, bước ra lối vào thương xá Tam Đa cũ chỉ còn là những ngách nhỏ sáng lòa giữa ban ngày bởi vải vóc, trang sức và “đồ Mỹ” được bán tống tháo lại từ những gia đình tư sản trước cuộc lưu vong quáng quíu, hay từ những chuyến hàng hải ngoại cứu rỗi nếp tàn dư còn cầm cự lại của thị dân đất ngọc Viễn Đông.

Sài Gòn đã bắt đầu trong tiềm thức khứu giác của tôi như vậy, như những vệt mùi đài các sa cơ, trưng trổ những nếp vàng son phồn thịnh giả cách, xoa dịu và khỏa lấp những phân hủy điêu tàn.

mùi thị dân

Xá-xị, hồng tiêu, hắc quế và nhang trầm Chợ Lớn

Sài Gòn, những năm giữa thập niên 80, người ta ồ ạt săn đuổi những dòng hương có những cái tên phù phiếm độc địa như Poison (độc dược), Mon Pèche (tội đồ) hay Tabu (điều cấm kỵ). Cùng lúc, trào lưu Oriental do Shalimar nhà Guerlain khởi xướng từ đầu thập niên 30 cũng phả làn hơi “hương xa” nồng nàn lên các dòng hương được ưa chuộng bởi sự gần gũi về tiềm thức văn hóa. Các dòng cologne thân thiện Bien Etre trở nên lỗi thời vì âm hưởng Francophile, không ít những chai lọ của thời này còn tìm thấy trong các hiệu bán đồ cổ ngoạn, bên cạnh những xấp dĩa vinyl và những mề đay mỹ kí hoen rỉ của một gia đình tư sản cũ nào đó, ghi dấu gu thẩm mỹ thời cuộc tuốt từ những năm 50 đầu 60.

Oriental, hay còn gọi là trường phái hương Đông-Phương với mùi xạ hương cùng những thứ gia vị nóng như quế, hồi đầy nhục cảm, đã làm nên cả một không khí của giáo đồ thụ hưởng Sài Gòn ngay giữa lằn ranh những tháng năm đầy biến động, nơi hoa và lệ cộng sinh san sát.

Cơn sốt đầy note hương bạo động với huệ, xạ cầy hương, nhục đậu khấu và hổ phách được bào chế vung tay này đã kéo dài đại dịch Tabu và Poison đến tận thập niên 90, và chỉ thật sự giảm nhẹ chút đỉnh trước cơn lụt xa xỉ phẩm tân kỳ thời mở cửa. Những buổi dạ vũ ball famille, những vũ trường chỉ vừa mới được mở cửa lại, những rạp cine mini ở khu trung tâm lại bật lên hơi lạnh lưu cữu của những máy điều hòa đã bất động suốt một thập niên.

Từ khu nhà lồng chợ Bến Thành, băng qua chợ trời xa xỉ Tạ Thu Thâu, kéo dài tới thương xá Tam Đa cũ, về sau là tòa nhà Intershop (đã không còn), xứng đáng được coi là thú bát bộ mới, thay thế cho passage thương xá Eden cũ dù kém hẳn phần lịch duyệt dành cho các bà các cô điệu nghệ. Những lọ nước hoa được bày bán ngay dưới ánh sáng trực tiếp của nắng, hay trong những tủ lộng kiếng chưng đèn nóng hổi – điều hoàn toàn bậy bạ trong nguyên tắc bảo quản mỹ phẩm, với những mức hét giá trên trời, nhưng thời đó còn chưa có vấn nạn hàng nhái, do phần lớn được thân nhân mua từ chính quốc, hoặc do các thủy thủ tàu viễn dương mang về.

Chính thời điểm này đã làm nên dấu mốc thú vị trong gu khứu giác của đàn bà Sài Gòn, hổ lốn và vô nguyên tắc như mọi thứ đặc sản của thị thành tạp chủng này, như bánh mì kẹp chả lụa Bắc Kỳ với pepperoni Ý Đại Lợi xịt xì dầu Chợ Lớn, chiêu trôi cùng ly café B’lao chánh hiệu.

Cũng là một đô thị phương Đông, nhưng người ta đổ xô vào những dòng nước hoa Oriental, khởi phát vào thập niên 20, và tái phát dữ dội trong văn hóa Âu Mỹ vào những năm 60, lây lan tới trào lưu hiện sinh của những năm 70. Đối với dân Sài Gòn, phong vị này vẫn toàn vẹn sự kì thú huyền bí của yếu tố “hương xa”, với hoa hồi và nhục đậu khấu, trầm hương và hồng tiêu, nhưng vẫn đủ gần gụi để nhắc nhớ từ trong tiềm thức những bánh savon trầm thượng hảo hạng được coi là món quà lịch sự dành cho nữ giới, những hiệu thuốc bắc đường Hải Thượng Lãn Ông, như một thứ mùi hương cửa ngõ mở vào lãnh địa phồn thịnh sầm uất Chợ Lớn.

Trong tất thảy những cam bergamot và hồng tiêu, húng quế ấy, cái khứu giác của đứa con nít Sài Gòn háo hức căng phồng đón nhận về hơi hướm phảng phất mùi tinh dầu lá xá-xị đã làm nên huyền thoại thương  mại cho hãng giải khát Con Cọp lúc bấy giờ, thứ mùi nhang khói mỏng mảnh đã đượm lẫn trong không khí từ bao đời, một khi mỗi căn phố đều có cửa tiệm và một bàn thờ ông Địa, mỗi nếp gia cũng leo lét khói nhang đêm, cho đến đình chùa miếu mạo xen kẽ trong khu dân cư. Tôi tin rằng Chợ Lớn sẽ khác lắm, nếu giả như một ngày người Hoa và tập tục cúng kiến không còn nữa, nếu giả như một ngày, đồng loạt những que nhang tắt ngấm. Đó mới thật sự là ngày Chợ Lớn không còn.

2046

Hương bá tánh trên bức chân dung người đẹp Viễn Đông

Nếu gia vị có xuất xứ Đông phương và những ngành quý mộc đã làm nên phong vị ẩm thực gourmand cho Sài Gòn, thì những hương hoa phù phiếm, hương vanilla, hương huệ đậm đà vị phấn sáp kem sữa chính là bức chân dung trọn vẹn nhất của vẻ đẹp đàn bà miệt Ngọc Viễn Đông. Thứ hợp hương tổng hợp gay gắt của những siêu phẩm được bào chế bởi nền kỹ nghệ tân kỳ những năm 70 này khiến những cái mũi thanh lịch đương thời sẽ phải nhăn nhúm khổ sở bởi trò tán tỉnh sấn sổ ồn ào không khoan nhượng, trong khi hương phấn sáp powdery khiến người ta lập tức liên tưởng đến những giá trị lỗi thời gắn liền với nữ hoàng phấn sáp Coco No.5 từng một thời được ưu ái ồ ạt bởi các bà các cô giới thượng lưu.

Tất thảy đều giả tạo và phồn thực, hào phóng như những bờ ngực phồng vun cao phía sau tà áo dài siết eo đúng điệu Sài Gòn. Những người đẹp “cao su” hồn nhiên và hào phóng ban phát cảm giác mềm mại cứu rỗi của nhục thể lồ lộ dưới hai vạt áo hoa. Hương vanilla đặc thù của tiệm Givral với những ổ bông lan ngập ngụa phẩm màu, dày mịn mỡ màng những lớp kem đỏm dáng phủ ngập những chiếc gateaux còi cọc thiếu sữa của thời bao cấp, như những đắp bù xoa dịu thị giác và khẩu vị con nít háu ăn. Những đầu móng tỉa tót cầu kỳ sơn bôi đỏ thắm, những gót hoa nghễu nghện chênh vênh khỏi mặt đường, và thứ mùi da thịt bị tẩm ướp đến biến dạng bởi hương mỹ phẩm, mùi thuốc uốn tóc và ít nhiều những vệt khói ám muội lẫn trong mái tóc, xống áo, tới hơi thở đàn bà, khỏa lấp cả những giọt mồ hôi nhễ nhại của tiệm nước đầu ngõ cuốc xe cuối ngày nhặt nhạnh lối mưu sinh bên vỉa hè phố thị.

Chỉ có sống ở Sài Gòn mới hiểu thứ hợp hương quái đản này, khi mà người ta đi nhảy đầm và ăn tiệm bất kể công việc lao động phổ thông cóp nhặt hàng ngày. Không hề hiếm những huyền thoại vỉa hè về những người ăn xin cuối ngày ngoắc xích lô đi ăn tiệm. Lằn ranh phân biệt được đặt ra rõ ràng giữa những địa vị và lợi tức khác nhau, nhưng quyền hưởng thụ được chia đều cho tất cả. Một nữ hoàng sàn nhảy hoàn toàn có thể kết thúc một ngày của nàng trong chiếc chòi ốp tôn chênh vênh trên mép dòng kênh nước đen, phó mặc ngày hôm sau cho một canh bạc hoàn toàn mới.

Kết hợp hương hoa với xạ hương, trộn với những mùi gia vị hương xa nồng gắt, người ta có được một hợp thể dễ gây say, gây nghiện của mồ hôi dân nhiệt đới nhễ nhại, thứ nhựa sống thật thà tiết rỉ quanh năm, hong khô dưới nắng và phát tán trong gió, hay đượm quện với những cơn mưa đồng bóng bất thần, trộn hòa chuếnh choáng trong ngăn thang máy, rạp cine, những hộp đêm kín gió đông người, nơi xống áo và người ta ma sát vào nhau, tóc trộn tóc, tay đan tay, và tất cả ướp đượm với đồ ăn và thức uống, champagne và bia hơi, đàn ông và đàn bà. Thứ hương “bá tánh” đó đã là một mùi đặc trưng của Sài Gòn, như những ám ảnh kinh hoàng kéo dài dằng dặc lên tận giường ngủ và lụi tàn giữa chăn nệm vào sáng hôm sau. Có lẽ bởi vậy, ở Sài Gòn, người ta bén mùi nhau, ghiền mùi nhau rất dễ. Mỗi cá thể ném mình vào đời sống cộng sinh nơi đây trở thành một phân tử mùi hương cực nhỏ làm nên cả một hợp chất nồng nực, khó chịu, sực nức, giả tạo nhưng gây nghiện và ám ảnh khôn cùng.

Như người đàn bà đồng bóng nhất, hào nhoáng và phù phiếm nhất đã một lần qua trong đời, Sài Gòn không bao giờ cho phép mình bị lãng quên, ngay cả khi người ta nhắm mắt.

02230939a

Mùi Hương Hoa Lệ

Như mọi cấu trúc cơ bản nhất của một dòng nước hoa, mọi kịch tính của mùi hương đều lắng dịu, thẩm thấu vào cơ thể và dâng lên những nốt cuối cùng, như một đoạn kết đẹp, tròn trĩnh, hoặc như những dấu chấm lửng vẫn mãi kéo dài tận trong tiềm thức.

Sài Gòn nông cạn, ô tạp, xô bồ và sống sượng trong cái thói rù quến bằng kẹo ngọt và những phần thưởng “ăn liền”, thói chiêu đãi hậu hĩ tới mức dại khờ và phóng đãng của ả gái hư không chuyên. Nếu ví Sài Gòn như một hợp hương mỹ phẩm, thì có lẽ những note dư hương day dứt cuối cùng ấy, chỉ có kẻ xa Sài Gòn mới thật sự được hưởng trong những mặc niệm hoài hương, hoặc những ai thương tưởng si mê Sài Gòn ngay khi sống giữa lòng đô thị, đủ để nhìn ngắm nhâm nhi những trầm mặc đằng sau phấn sáp trang kim, đủ để kiên nhẫn chờ đợi khoảnh khắc thật thà sau cuối của ả đàn bà đa chiêu.

Khi những mẫu nước hoa cũ khô dần vào da thịt, sự tài tình của nhà bào chế lại một lần nữa vén lộ những phong vị Đông Phương từ lớp hương đầu, đã được lọc qua những biến cố ồn ào nhất của thời cuộc, để lắng mình, vẹn nguyên mảnh khói nhang trầm mặc trong hơi thở về khuya của phố thị.

Một thời gian tôi mướn trọ trên căn gác xép giữa một hẻm bình dân đúng nghĩa điện câu đèn vàng. Cứ khoảng gần nửa đêm, tiếng lóc bóc của thằng nhỏ bán mì gõ lại vang lên, len lỏi vào mê trận không lối ra của những đường ngoặt bất thần chi chít. Thằng nhỏ quê tận đàng ngoài, trôi dạt vô đây phụ việc xe hủ tíu mì như một vạn kiếp di dân mỗi ngày tấp về đây. Nó sẽ chẳng bao giờ nhớ nổi đường ra giữa những lối ngoặt ngoằn ngoèo ác địa của những hẻm bàn cờ đặc trưng phố thị phương Nam này. Ông chú người Tiều sẽ cắm vài cọng nhang vô góc đường gần đó, thằng nhỏ Bắc Kỳ cứ theo mùi nhang, như cọng khói cứu sinh len lỏi hẻm đêm mà lần đường về. Thi thoảng, tiếng lốc cốc leng keng của nó vọng ra cũng đủ khiến ông chú Ba Tàu biết thằng nhỏ liệu đã rong ruổi lỡ bộ quá xa. Họ làm nên một cặp đôi kì lạ giữa cái thành phố này, bắt kết vào nhau trong cuộc sinh nhai đôi khi chỉ bằng làn khói hương mỏng mảnh mà không gian ô tạp của ban ngày sẽ nuốt chửng, quậy loãng và làm đứt bể tan tành chỉ bằng một cú đạp máy xe.

Tôi cũng từng có những đêm như thằng nhỏ Bắc Kỳ đó, ngơ ngác lêu bêu một góc hẻm lạ quơ chỉ bởi một chậu nhài, một nhánh ngọc lan, hay một bụi dành dành nhà ai lén nở đêm. Những trận du miên kì quái đó đôi khi dẫn tôi dừng lại trước một cổng ngôi gia, lập lòe ánh đèn trái nhót trên bàn thờ, nơi chân nhang đã nguội, và một bình huệ trắng đang phập phồng hơi thở vô hình rất sâu. Cũng như bao dân tứ chiếng đất này, tôi từng hôn Sài Gòn thật sâu để hít thở căng lồng ngực ủ ê làn hương bắp rang bơ quá lửa từ lớp váng ly café tréo ngoe trên ghế bố vỉa hè lúc quá nửa đêm chờ sáng, mà thấy thơm phưng phức những bình minh đục ngầu ảo ảnh, văng vẳng tiếng chuông lễ sớm.

Hoắc hương và đàn hương, hổ phách, hồng tiêu và vạn triệu những thành phần xa xỉ trong một dòng hương Đông Phương cũ kỹ cũng có thể gợi nhớ mùi triều dâng ngoài bến Bạch Đằng. Tôi cùng tụi bạn sống tuốt bên Thủ Thiêm, 3 giờ sáng í ới ngoắc con đò gắn máy phành phạc rẽ làn nước đục ngầu về bên kia mảnh lập thể còn lại của Sài Gòn, khi những lương dân tử tế mệt nhoài đã ngủ rất sâu, và những đôi chân có móng sơn kim tuyến vừa kịp rón rén nhịp gõ gót cao qua những hành lang cư xá. Những phấn sáp được tẩy trôi hay vội vàng xóa bôi nhoe nhoét bởi môi hôn vồ vập, những món trang sức mỹ kí cuối cùng được gỡ bỏ, những vệt nước hoa đã lồ lộ mùi hormone thật thà mệt mỏi. Người ta nghỉ ngơi, trong những căn hộ tân kỳ, thành lớp trong những căn phòng giành cho dân lao động nhập cư, buông tuồng thân ái trong những dãy nhà trọ tồi tàn lòe loẹt, nơi mà khoảng cách bán-mua cuối cùng cũng đã bay hơi.

Nếu Sài Gòn là một loại nước hoa, ở tầng hương cuối, điều khiến người ta luyến lưu dày vò dai dẳng nhất, đó là bởi thứ mùi hương mệt nhoài, giữa những ẩn ức và trưng phô thường nhật: người ta ngửi thấy Chính Mình, trước khi thiêm thiếp bằng an sau thêm một canh ngả nghiêng nữa của Lệ và của Hoa.

017-L

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí Người Đô Thị tháng 06/2015)

cuối nẻo cuồng phong

Trác Thúy Miêu

Nàng là loại đàn bà thụ hưởng không khoan nhượng. Đặt nàng vào khánh tận, tước mất của nàng những gã trai si tình, nàng sẽ lôi giật tấm màn cửa xuống đẻ làm nên một bộ váy trứ danh, và có bằng được mọi ngưỡng mộ phù hoa mà nàng xứng đáng. Nàng cần được khiêu vũ, tán tỉnh, sùng mộ, và nàng cần được hôn thật say đắm, đôi khi là bởi bất cứ ai.

Với Nàng, tất cả những điều đó không hề phi nghĩa khi nó đại diện cho danh dự giai nhân. Nàng bọc điều, hư hỏng, vô ơn, khốn cùng và luôn túng thiếu.

Nhưng nếu mỗi người đàn bà đều tìm thấy lối về thánh địa Tara của riêng mình, họ đều đã phải bỏ lại rất nhiều dọc đường thiên lý những gì thừa thãi để đủ nhẹ mà ngược chiều gió tìm thấy Bằng An.

19_6128_Scrltt_on_Log__Ta

Bạn là cô nàng phù phiếm, bạn thông minh mẫn tiệp, độc lập, cự phách trong kỹ thuật chăn dắt đàn ông, bạn vừa thực tế, vừa tham lam không buông bỏ dù một giấc mộng điên khùng phi nghĩa nhất? Người ta có thể cho rằng bạn là hiện thân của thái độ sống tân kỳ hiện đại, cho đến khi ngược dòng lịch sử, tìm về cuộc nội chiến xứ cờ hoa và gặp lại tiểu thư Scarlett mặc váy dạ hội may từ rèm cửa, băng biển lửa, điên cuồng tung roi trên cỗ độc mã kiệt quệ, bạn sẽ hiểu – chưa có gì thay đổi quá nhiều trong thế giới của đàn bà, từ những trận gió hoang dại thời Scarlett O’Hara.

Và ngày nào những cơn gió hoang của thời cuộc còn đổi chiều bạo liệt, thì vẫn chưa có gì thay đổi quá nhiều trên những chuyến đời quanh quẩn của những cô gái trở thành đàn bà nơi xứ lạ, bước qua những người đàn ông và những vết thương chỉ để trở về nhà – nơi họ tìm thấy điều phải mất một quãng đường quá xa để trở về và tìm thấy: Cõi Bình Yên.

Mọi cô gái luôn bắt đầu với một Ashley Nào Đó

Đã bao thập niên qua, người ta vẫn không thể quên hình ảnh nàng chỉ sau một lần ngự giá màn bạc cine, với mái tóc đen huyền, khuôn dung nhỏ nhắn, đôi mắt to ướt át và khuôn miệng bé như đầu đinh ghim, đôi khi mím lại thành một đường chỉ mỏng uốn cong ngạo mạn nơi khóe mép – một vai chánh toàn diện cho một thiên tiểu thuyết trên cả lãng mạn và bi tráng.

Nàng ngạo nghễ trình diện thế giới trong hình hài 16 tuổi như vậy – một trái táo xanh dốt, ngọt chua đồng bóng, cô nàng tiểu thư miệt vườn sôi nổi và dễ gây say của thái ấp Tara. Trong cuộc ra mắt đầu tiên với văn học và điện ảnh, Katie Scarlett chưa-hẳn-đàn-bà chỉ là một tiểu thần nữ thôn trang đỏm dáng, đa chiêu, ích kỷ và xinh xẻo như đúng mẫu những cô nàng con cưng của phần số. Tệ hơn nữa là cô nàng hoàn toàn ý thức được điều đó. Người ta có thể bắt gặp cô nàng ở bất cứ đâu bên ngoài điền trang Tara, dù là Mã Nhật Tân cận đại, hay lang thang đâu đó trong các department store thời thượng giữa Sài-gòn tạp chủng.

Bạn – cô gái tân thời, cũng có thể tìm thấy mình trong đó, khi mà người ta trẻ với mọi quyền ưu tiên của thanh xuân và nhan sắc, cũng chính là khi người ta vật nài thiếu thốn nhất bởi ô trống cuối cùng còn chưa kịp đong đầy. Cả bạn nữa, cũng là cô nàng bọc điều tội nghiệp.

scarlett

Nhưng chớ nhẫm lẫn Scarlett với những cô em tóc vàng hoe nhạt chuyện. Nàng uyên bác, láu lỉnh và hiếu kỳ như một con cún con. Nàng trội bật hơn cả bởi phía trên đôi mắt búp bê là một vầng trán đĩnh ngộ và khóe mép luôn sẵn sàng uốn cong đầy miệt thị – một dấu hiệu rõ rệt của một nền giáo dục vô nhiễm và cầu kì. Người ta sẽ nghĩ nàng sinh ra chỉ để làm lệnh bà hay nữ tướng cướp, cho đến khi nàng ngớ ngẩn si tình như bất kì gái non nào, trước một con gà trống bảnh chọe và hời hợt của nhà Wilkes lập dị – những người chỉ kết hôn giữa anh chị em cùng dòng tộc.

Tuổi trẻ không thể hoàn thiện được nếu người ta không thiếu thốn một điều gì đó, và có thể là bất cứ điều gì. Anh chàng khó gần nhất sẽ là anh chàng ám ảnh nhất, mọi cô gái trẻ đều cần một bi kịch nhỏ của riêng mình để mặc sức cài đính lên đó một vầng hào quang nhân tạo.

G

Khi người ta còn trẻ, người ta cần phải thấy thiếu bất cứ một Ashley Wilkes nào đó, hững hờ và ẻo lả đúng điệu một thanh niên quý phái miệt vườn, để cô nàng đỏng đảnh biến thành như một chú cún bất an, tuyệt vọng và hoàn toàn bất lực. Cô ả “thạch sùng còn thiếu mẻ kho” sẽ thấy khánh tận và tuyệt vọng khi cả thế giới chỉ thiếu mất đúng một nam thần miền Nam có mái tóc vàng. Nàng vùng vằng hờn dỗi một nỗi sầu không bao giờ lỗi mốt, và nàng vô ơn với tất thảy đặc ân của số phần, khinh bạc dù chỉ cần vài năm sau, những hồi ức về anh chàng nhạt vía cũng đủ khiến cô nàng phá ra cười lăn lộn.

Nhưng lúc này, nàng, và bất kì cô nàng nào khác, những nữ hoàng bi kịch và những nữ chiến binh bất bại, hẵng còn quá trẻ trung, mê đắm và hung hăng để hiểu một chân lí rất tầm thường: Ashley, cũng như mọi anh em từ đồng tuế đến hậu duệ của chàng, vẫn chọn khép chặt cửa khuê phòng cùng với một người bạn phối ngẫu nhàn nhạt và an toàn. Họ có thể tán thưởng vẻ nũng nịu yêu kiều của một O’Hara kiêu hãnh, nhưng không dại dột hoặc không đủ bản lãnh để chọn nhốt chung chuồng với con mèo cái bốc đồng và diễm lệ ấy – một tạo vật vượt quá tầm thống trị của họ, những gã Ashley An Toàn.

Góa phụ thiếu niên và gã hoang đàng sáng giá

Lòng tự trọng bị tổn thương đến cuồng nộ dấy lên cùng lúc với cuộc đại chính biến Bắc Nam của lịch sử Hoa Kỳ. Sĩ quan kiêu hùng Ashley dìu nàng Melanie, mà so với Scarlett là quá đỗi mờ nhạt vô vị, của mình vào căn phòng chồng vợ, bỏ lại phía sau cánh cửa khóa chặt một tiểu nữ thần căng phồng tía tái trong cơn đại thịnh nộ của ghen tuôn, tổn thương và kiêu hãnh. Cơn thịnh nộ được trút lên đầu bất kì tay dớ dẩn nhất cầu hôn với nàng lúc đó bằng sự chấp thuận. Nghiễm nhiên, Scarlett trở thành phu nhân của cậu Charles đang phát cuồng vì lòng biết ơn vô hạn trước sự hào phóng bất ngờ của thần Tình Ái.

189743_1239927343310_400_300

Cùng đợt sóng hàng loạt thanh niên từ những điền trang hòa lành nhập ngũ, cuộc nội chiến tước khỏi vầng hào quang của nàng những kẻ ái mộ trung thành, và Ashley – lí tưởng sống của nàng, sao khuê của nàng, con mồi điên cuồng của cơn háu tình về si đắm, vừa sặc mùi ăn thua đủ của nàng. Cú trả thù vặt bằng cuộc hôn nhân hờ đã chẳng thể làm Ashley ghen tuông đau khổ như mong đợi. Chàng ra đi, cùng tất cả mọi gã trai miền Nam, những kẻ hàng ngày vẫn tắm tưới nàng bằng mọi đón đưa êm ái, để mặc tiểu nữ thần ê chệ trước nụ cười vạch rãnh chân chim của tay thương nhân gian hùng lắm điều tiếng miền Charleston, Rhett Butler. Gã vô hiệu hóa lòng kiêu hãnh trẻ nít của nàng, xuyên thấu cả lớp váy phu nhân cùng những điểm tô phấn sáp mỏi mòn của nàng để che khuất cuộc tình tẽn tò và nỗi khánh tận ê chề về sau.

tumblr_liqomsbEAY1qbgi86o1_500

Cuộc hôn nhân hời hợt kết thúc như bắt đầu, Scarlett nghiễm nhiên trở thành góa phụ bởi một trận sởi của đức ông chồng tội nghiệp. Từ điền trang an hòa miền Nam nước Mỹ, tiểu thư O’Hara trưởng thành, chưa kịp làm đàn bà đã thành quả phụ, dấu đôi bàn chân nhỏ thoăn thoắt bước vũ cồn cào bên dưới lớp váy tang đen khả kính: “Than ôi, mạt vận rồi! Rồi sẽ chẳng còn điều gì xảy ra với cuộc đời tôi nữa!”

Chúng ta đã bao nhiêu lần thốt lên như vậy sau một cuộc tình hỏng kiểu? Nôn nóng háu đói trước những mời mọc còn quá ê hề của cuộc sống mà tưởng như vĩnh viễn không còn dành cho cô nàng xúi quẩy đáng thương duy nhất. Chúng ta thật đã ngô nghê biết bao!

Không buông bỏ hình bóng Ashley một cách đầy tuyệt vọng và phi lý, Scarlett giang tay cưu mang cả người vợ đang mang thai của tình quân trong mộng, cùng đối mặt với cuộc sống giữa lòng cuộc chiến. Không chỉ một lần, nàng tuyệt vọng đón nhận sự hào phóng từ gã Rhett tinh quái nọ, dù là một bản khiêu vũ trong chiếc váy tang đen, chiếc mũ hoa cẩm tú “còn thơm mùi Paris” đỏm dáng,… Nhưng gã chỉ từ chối nàng điều duy nhất mà nàng quá sẵn lòng ban phát: “Mở mắt ra đi cô em, tôi không định hôn cô đâu, bởi cô chỉ đang thèm được hôn quá thôi đó mà!”

tumblr_m7scdkmq3u1ra2wj7o1_400

Và chỉ với một cử chỉ khước từ trịch thượng như vậy từ gã hoang đàng trắc nết, đã khiến Ngài Butler trở nên bội phần kích thích, sáng giá, và đáng chiếm hữu biết chừng nào.

Tông đồ, quỷ dữ và người đàn ông được chọn lựa bất kì

Mọi mối quan hệ với một Rhett Butler đều đáng được coi là món trang sức sáng giá cho một người đàn bà. Ít nhất là một khi Ashley Wilkes vẫn còn bặt dạng giữa cuộc hỗn chiến. Cùng lúc, dẫu sao thì nàng vẫn giữ chặt vợ chàng bên cạnh trong vòng tay bảo bọc cao thượng của mình, cũng là để giữ trong tầm tay mối dây duy nhất giữa nàng với cuộc tình dai dẳng tuyệt vọng của mình.

G

Ả tiểu yêu đỏng đảnh và đa chiêu vẫn tiếp tục cuộc chơi tinh quái. Trong cử chỉ tưởng như thoát ra từ lòng trắc ẩn, bản năng bao bọc của người đàn bà vĩ đại, và ở tư thế gia ơn với người trong mộng, nàng ẩn chứa trong lòng một khoái cảm độc địa khi đặt gia đình Ashley vào vòng tay bảo trợ của mình. Nhưng chính bên trong cái trù hoạch độc địa ấy, Scarlett lại nảy sinh một bản năng bảo vệ vợ con của người mình yêu một cách mãnh liệt. Bản ngã hào hiệp và thói ích kỷ độc địa của đàn bà đang yêu đã kiến tạo nên nàng như thế, nửa tiên nữ, nửa ác thần. Cái trách nhiệm cao thượng vừa phi nghĩa ngông cuồng biến tiểu thần nữ thái ấp Tara thành người đàn bà thực tế, quyết đoán, thủ đoạn, và không khoan nhượng một cách thật thà, như mọi người đàn bà sinh ra để sống sót. Nàng có thể cưu mang vợ của người tình, và cũng có thể kết hôn với hôn phu của em gái. Nàng có một lý trí nhạy bén, một bản lãnh phi thường và một thanh danh hạng bét.

Giữa cao trào chính biến, Scarlett băng bể lửa tìm thoát tâm bão cuộc chiến tìm đường sống. Nàng điên cuồng và cô độc trên cỗ mã xa mang theo người mẹ nhợt nhạt và đứa hài nhi vừa sinh hạ dọc đường. Một thứ lí tưởng điên rồ, phi lý, nhưng cao thượng và bi hùng một cách lộng lẫy rất đàn bà trên cái phông nền bối cảnh của cuộc nội chiến đẫm máu.

gwtw-silloette

Nàng khiến người ta nghĩ đến vị tông đồ hộ giá Mẹ Đồng Trinh trong đêm tìm về máng cỏ Bethleem.

Người ta, hay nói đúng hơn là đàn bà có thể trở thành những siêu anh hùng và những vị thánh khi có một cái cớ, đôi khi là cái cớ phù phiếm và vị kỷ nhất do họ tự tô điểm nên đầy diễm ảo.

Hãy cho người đàn bà một người đàn ông, cô ta sẽ tự lo liệu phần còn lại của thiên tiểu thuyết đàn bà.

Ngày tàn của những nam thần tráng men

Có hai loại phụ nữ trên đời: loại thứ nhất coi “thụ hưởng” là một từ xấu. Và loại còn lại.

Họ tham lam, họ ham sống và phải sống sung sướng, họ thậm chí có thể có tất cả điều mình muốn đến cùng cuộc hôn nhân với người đàn ông biết hôn nụ hôn đình đám nhất lịch sử điện ảnh. Giá như Rhett Butler không có một bản lĩnh tài chính vững vàng của tay buôn súng thời chiến, có thể nàng đã yêu người chồng thứ 3 này của mình nhiều hơn chăng? Scarlett tội nghiệp, nàng vẫn thiếu thốn cùng cực trong cuộc sống xa hoa hậu chiến của mình.

scarlett-ohara--large-msg-13185297937

Nàng luôn luôn thiếu thốn một điều gì đó, và việc này khiến nó trở nên hệ trọng quá mức bình thường. Ashley, vẫn là Ashley, là một hình mẫu thích hợp cho bức tượng thánh thiêng liêng lóng lánh đã được vay mượn để người đàn bà sống, yêu, mơ mộng, và đạp bằng mọi chướng ngại. Chính quãng thời gian quá dài mà nàng đầu tư cho mối tình đơn phương ấy đã khiến nó trở nên hào nhoáng và thiêng liêng, bao bọc vòng hào quang xung quanh mái tóc hoe vàng và khuôn diện thanh tú nhợt nhạt của quý ngài Ashley Wilkes…cho đến khi Melanie qua đời, bỏ lại Scarlett không đối thủ và một nam thần ủ dột lỗi thời và nhạt vía. Cái cốt lõi háo thắng và phù phiếm của người đàn bà tiu nghỉu lụi tàn, không đủ khiến nàng đánh đổi vòng tay kẻ mạnh của Rhett Butler để chiếm hữu một bức tượng được tô màu sặc sỡ.

Chúng ta, những chiến binh háo thắng trong cuộc mưu cầu hạnh phúc, đôi khi si mê chính cuộc chinh chiến lẫy lừng lẫm liệt hơn cả phần thưởng cuối cùng. Bạch mã hoàng tử một thời hiện nguyên hình thật thà một sĩ quan thất trận, một nhà quý tộc thất thế, và một người đàn ông góa bụa, đặt lời tỏ tình muộn mằn lên đầu gối người đàn bà đã đi qua một cuộc chiến trong vai trò thánh nữ, mẹ, và đàn bà.

Lớp tráng men mỡ màng tróc vảy, trớ trêu đặt dưới chân nàng nguyên vẹn một Ashley Wilkes vô can, thất hồn và xa lạ – kẻ xứng đáng được để yên trong nỗi muộn phiền góa bụa sau một vòng tay an ủi muộn màng.

212216-gone-with-the-wind

Sự mất mát cuối cùng và miền bằng an bất biến

Sự thương hại và lòng từ tâm mà Ashley tội nghiệp còn có được từ Scarlett lại, oái oăm thay, chính là thứ duy nhất nàng còn có được từ người đàn ông duy nhất biết về nàng và từng thật sự yêu nàng.

Mọi cố gắng của Scarlett đã quá muộn, Rhett đã cho đi sự kiên nhẫn cuối cùng trước ngưỡng tự trọng tôn nghiêm của đàn ông tính. Cuộc ái ân cay nghiệt cuối cùng, một đứa trẻ chết yểu trên lưng ngựa và một cuộc sẩy thai đã là quá đủ để hoàn toàn phá hủy cuộc hôn nhân thứ ba. Trong nỗi đau đầy cáo buộc của Rhett, Scarlett soi mình để nhìn thấy sự thất bại ê chề qua người chồng kiên nhẫn và những đứa trẻ bị bỏ rơi bên lề chinh chiến của người đàn bà lắm cuồng vọng “Làm mẹ à? Một con mèo còn biết làm mẹ hơn cô!”

Lần thứ hai trong đời, nàng có tất cả. Và cũng như mọi lần, nàng khánh kiệt, túng thiếu, cô độc đến khốn cùng. Rhett sập lại cánh cửa trước mọi cố gắng tuyệt vọng của Scarlett để được yêu chồng như một người vợ tôn ngưỡng và ăn năn.

the-infamous-scene-of-gone-with-the-wind

Người ta cần đến hơn quá nhiều lần mất mát để đặt xuống những phù phiếm thừa thãi, và những muộn màng không thể nào sửa chữa.

Người ta cần đến hơn quá nhiều lần mất mát những điều sinh ra để mất mát: những người đàn ông và những đứa trẻ mong manh như nhau, chỉ để nhận chân điều thiêng liêng, an toàn, và chung thủy cuối cùng.

Có thể Thượng Đế luôn biết Ngài đang làm gì trong bức đại đồ phần số, trong khi những đứa con cưng của Ngài mù lòa trong quá nhiều nhu cầu, và những thiếu hụt tưởng như quá chừng to tát. Ta luôn ngoái lại sau lưng và xót tiếc những điều bất khả vãn hồi, để tiếp tục tạo ra những phần phước bị lãng quên ngay trước mắt. Phải mất mát và đau đớn lắm để nhìn ra miền bình yên được đặt để sẵn cho mỗi người.

Điều đến cùng ta khi đến với cuộc đời này, và bất biến cho đến ngày cuối – như một mảnh đất để ở và mảnh đất để nằm lại.

Và nút thắt huyền vi của tác phẩm được cởi ra, điềm nhiên như sự thức tỉnh sau cú rơi chạm đáy:

–       Rhett, đừng bỏ em, rồi em sẽ đi đâu?

–       Thật tình, cưng ạ, anh mặc xác!

Rhett3

Không lí giải, không biện luận, và không còn cần quá nhiều dữ kiện để trong sự mất mát cuối cùng, người ta mới có thể nhận ra điều không-thể-mất.

Nàng trở về không vì mệt mỏi, bởi người ta đâu thể tìm về Bằng An như một chặng nghỉ chân.

Nàng trở về mà như lần đầu đi đến. Cuối cùng thì mỗi người đàn bà đều có cho riêng mình một Tara, tự tại, an nhiên, và bất biến, trước và sau tất cả những chặng viễn du. Rhett Butler bước ra khỏi đời nàng, giúp nàng đặt xuống ảo mộng thừa thãi cuối cùng.

Đoạn đời của giai nhân điền dã bị cuốn theo cơn lốc thời cuộc như thế: đúng một vòng bão tố, để an nhiên khép lại đúng gốc cây định mệnh để, như ngài Gerald O’Hara đã từng, nhìn bao quát mảnh đất máu huyết thiêng liêng “Tara! Nhà! Tôi về nhà thôi. Và sẽ nghĩ ra một cách nào đó để có lại được chàng. Cuối cùng thì…ngày mai sẽ luôn là một ngày mới!”

gone-with-the-wind-tara2

Cơn gió thời cuộc của đại chiến Bắc-Nam đã cuốn bông hoa miền Georgia đi đúng một vòng lốc xoáy, để đặt nàng lại chính nơi cuộc viễn du bắt đầu, trong hình hài người thiếu phụ ba chuyến đò hai lần góa bụa. Nhưng kẻ sống sót sau cuộc chiến vẫn chưa thể ngừng tồn tại, vòng miên viễn còn xoay theo chiều gió, và rất có thể, bình yên chưa hẳn sẽ đến vào ngày mai.

Nhưng rồi mỗi Tara của mọi Scarlett vẫn luôn ở đấy, nơi để tìm về, xoa dịu và chữa lành, an nhiên và tự tại, như điều duy nhất có thật để xứng đáng cho mọi cuộc chiến sinh tồn, mỗi giá trị bản ngã chí tôn và lòng kiêu hãnh cùng tình yêu thiêng liêng bất biến.

Hollywood's Greatest Year: The Best Picture Nominees of 1939

BDSM – vết răng trên táo cấm

bdsm

Những chiếc móng tay tỉa nhọn cắm ngập thịt da cũng tạo nên những hân hoan thân xác cho cả kẻ cho người nhận, nhục giác đang được vờn vuốt bị lay tỉnh lộn nhào trong vòng xoáy điệu nghệ của những cơn nhói giật bất ngờ trên châu thân ngây dại, không chỉ đến từ người đàn ông, mà cũng thường xuyên không kém, từ sâu kín một góc thuộc tính cái hung hãn đàn bà được thật thà phơi lộ.

Nhưng người ta có thể đi bao xa, từ bản  năng chinh phục hay quy tòng của bản ngã đàn ông đàn bà, để thoái hóa thành hành vi cục súc của con thú mạnh và thứ lạc thú bệ rạc của cơn nghiện khổ dâm?

Nhục tình trường phái salon & loài thú hoang được phóng thích

Ái tình nhục dục là một thứ nghệ thuật của mọi tế bào cảm nhận trên cơ thể, những buông tuồng phô phang tòa thân thể trước hồi hộp trân ngắm thèm thuồng, của mùi hương của những thân thể thật thà trộn quyệt với nhau thành món cocktail mùi hương gây say tận óc, của những vuốt ve sờ nắn tràn chảy châu thân, ắp ứ đầy lòng bàn tay, của cảm nhận da thịt xa lạ ngon lành ấm nóng òa ngập trong vòm miệng, của cả những rung ngân nỉ non hào hển khi người tình như thể dây đàn vi diệu, bật thốt thanh âm khi bần bật rung dưới đầu ngón tay. Một bản giao hưởng hoàn hảo của mọi giác quan được ban tặng!

Người ta gọi đó là những cuộc làm tình trường phái boléro, hoặc những bản nocturne lãng mạn sặc mùi diễm tình tân thế hệ, hoặc những scene ái tình trong video “soft core” thời thập niên 80’s có nhạc nền và những mái tóc xịt keo.

Thứ nhục tình salon phòng lạnh xông hương, nhục tình lý tưởng.

Nhưng những cuộc ái ân không hoàn toàn chỉ là đại lễ của tín ngưỡng tình ái thiêng liêng, không chỉ có các thiên thần mình xịt dầu thơm và những thăng hoa thần thánh.

Bởi đôi khi, những mân mê dè dặt không còn đủ nghĩa gần gũi, da thịt có lúc cũng đói khát cả những gấp vò bạo liệt, vị giác không được thỏa mãn đủ đầy cho đến khi cắm ngập răng vào những thứ ngon lành chưa nuốt trọn vào lòng vẫn cứ nóng sốt trêu ngươi, khiến bật thốt tiếng rên rỉ đau đớn và khuất phục.

177329304048346037_Sg8NdraZ_c

Giữa cuộc phong nguyệt lim dim, đôi khi bạn sẽ điếng thót mình vì một cú…phát vào mông, hay bất thần cảm nhận mười móng tay dài tỉa chuốt sắc ngọt cào cấu thôi thúc vào thịt da. Chớ vội hoảng hồn với những dấu hiệu mang màu sắc “thú tính” xa lạ ấy từ người tình vốn vẫn luôn dịu dàng trong suốt những giờ còn lại trong ngày. Bởi đó chỉ là khi cái phần hoang dại ẩn sâu đang được thật thà giải thoát, khi tin cậy và yêu thương là tuyệt đối.

Và cũng chớ ngạc nhiên khi cảm thấy trong chính cơ thể sự đòi hỏi khốc liệt của một cơn đau chưa đủ đầy, hay những vuốt ve trở nên nhột nhạt trên những mạch máu đã căng bần bật, thôi thúc đòi chờ một va chạm bạo liệt hơn.

Đó là khi bản bolero du dương chuyển khúc li điệu của cơn đói tình, của giằng xé vồ vập, một vũ điệu hồng hoang của giống mạnh và con mồi đang cơn đòi được quy tòng trong khuất phục. Đó là khi thăng hoa bạo liệt trên cả vết đau trên thân thể.

Tất cả những mỹ từ hay ho, những mô tả giật gân của cuộc làm tình lắm biến cố trên có thể khiến một nhà mô phạm cau mày, một quý bà sạch sẽ phải rùng mình che mắt, nhưng một tín đồ của tôn giáo Ái Tình sẽ thấy ở đó mọi sắc thái thuộc tính của một cuộc tình, có cuồng điên mụ mị, có phục tòng dâng hiến, có chiếm hữu tham lam và tất thảy những dày vò gây nghiện. Ấy là cuộc cận kề gần gũi thật thà nhất khi đàn bà là đàn bà, trong tay và dưới chân người đàn ông của mình, hiến dâng và ban phát, rã rời nhàu nhĩ và thỏa mãn hoàn toàn. Còn đàn ông sẽ là đàn ông, say sưa trò chơi quyền lực ngang tàng, ham hố vị kỷ trong vai trò con đực, dẫn dắt vần vò tùy nghi, hào phóng trao ban khoái cảm, tưới tràn phủ phê mầm sống vào vực thẳm đàn bà, đang khai mở đón chờ trong thuần phục.

bdsm

Những cuộc cưỡng dâm thường nhật

Chớ coi đây là một bí quyết ân ái để vội hổ lốn du nhập vào văn hóa gối chăn những bộ đồ da dữ dằn bặm trợn, nhùng nhoặng xích nhợ, những món đồ chơi hăng mùi nhựa, tiếng rên rỉ hòa thanh cùng tiếng động cơ chạy pin kêu rè rè vô cảm, hay đơn giản hơn, thả rông cơn ngốn ngấu những hồng hộc chày dậm cối giã nông phu còn sặc sụa mùi tỏi cháy bia chua của những làng nướng vỉa hè.

Cuộc chinh phục, dù bạo ngược hoang tàn, mà không cần đến tinh hoa thao lược và nghệ thuật tâm lí chiến thì chỉ đáng hàng man mọi sặc mùi phun-rô, một màn cưỡng hiếp thuần túy.

Đáng thương thay, khi màn đêm buông xuống, ngay trong lòng đô thị văn minh còn sáng đèn, hay heo hút chi chít trong những lối hẻm đèn vàng gác trọ ngoằn nghèo bề mặt thành phố, nhan nhản trong từng căn hộ hiện đại, hay đìu hiu những khu khối dân cư văn hóa, vẫn âm thầm đều đặn diễn ra những cuộc cưỡng dâm hợp pháp.

32785550

Vâng, chính xác là những cuộc cưỡng bức thô bạo ngay trong vòng dung thứ của tấm bình phong chồng vợ, hay thuần túy ân nghĩa ái tình thiêng liêng. Những sờ chạm trở thành một thứ xâm phạm sỗ sàng. Họ hả hê trút lên thân thể bạn tình cuộc tổng tấn công cấu véo kéo giật toàn mặt trận, nhây nhám vần vò những gì là kín đáo và mong manh đằng sau lớp áo văn minh bị kéo tuột phũ phàng. Món gia vị quá tay vụt trở thành món chính, cuộc vân vũ mây mưa vằn tia hằn học của sự đói khát hung tàn – một dấu hiệu không nhầm lẫn của thứ đàn ông tính bị thui chột trong suốt những tiếng đồng hồ còn lại trong ngày.

Bạo tình nhục thể đôi khi cũng không ít khi chỉ là hệ quả của một trải nghiệm tình dục nghèo nàn, sự lạc lối trong văn hóa gối chăn, hoặc tệ hơn, lòng tham dục cục súc vô độ, các mối dây rung cảm trở nên vô cảm với lối ân ái thường tình, tìm cậy đến những gì dị biệt, khác lạ để khơi dậy cảm xúc đã thui chột bằng vô số xảo thuật và khí cụ phụ trợ trong một thứ cấu xé và hằn học, tuyệt vọng lay thức cơ thể đã trơ lì trước những âu yếm vuốt ve.

Bản chất của ân ái yêu đương bị chà đạp khi những tình nhân đến với nhau trong bộ giáp trụ của hiệp sĩ cổ đại hay những sợi xích của thời văn minh nô lệ, họ đến với nhau trong cuộc giao cấu cay nghiệt, trong nghèo nàn cùng cực của cảm xúc ái ân và chỉ số văn minh âm tính, mặc nhiên với bằng cấp văn hóa của người trong cuộc.

Gọi là giao cấu, bởi từ bản chất, đó không hề là những cuộc giao hoan.

Lock--legs--bondage--album1_large

BDSM: bản năng tiền sử, biến cố tâm thần, hay hố tự hoại của văn minh tình dục?

Xin không dám lạm bàn đến phạm trù tình dục thuần túy, khi những bạn tình như những đối tác của một cuộc chơi trường phái BDSM (bondagedisciplinedominance-submission, và sadism-masochism: các đôi thuật ngữ chỉ nhiều cặp trạng thái của trường phái bạo dâm và khổ dâm). Đó là khi hành vi tình dục được xem như một hệ quả tâm lí mang chức năng giải tỏa.

Từ trong tiềm thức hoang sơ của nhân loại, bản chất dã thú thôi thúc người ta nắm giữ và chiếm hữu bằng những cú ngoạm, cắn, và hàng triệu năm tiến hóa văn minh đủ để khống chế hành vi dừng lại ở những vết răng cắn yêu của cử chỉ âu yếm thuần túy.

Whip-it-by-Kelly-X-Kelly-Futerer

Từ trong bản chất ngữ nghĩa, bạo dâm và khổ dâm đã không mang trong nó chữ “tình”. Người ta giải tỏa các nhu cầu trong những vai diễn. Vị học giả giấu sau lớp áo tri thức nỗi đau của thời thanh niên làm mọt sách, sẽ hả hê quy phục dưới chân bạn tình, vòng đai ô nhục quanh cổ, thỏa mãn trong trạng thái một con thú-người bị thuần dưỡng. Nhưng cô nàng công chức với những năm dài trong bộ thời trang công sở và đạo đức Thanh giáo vong thân có thể giấu dưới lớp váy chính chuyên một chiếc roi da nữ quyền, hoặc che mặt đằng sau chiếc mặt nạ plastic đen khắc nghiệt, vô cảm, hả hê ban phát những cơn đau da thịt cho bạn tình. Vai trò hoán đổi, đôi khi kẻ thuộc phái mạnh mang trong mình khao khát bị khuất phục sai khiến, và ngược lại.

Đến đây, BDSM đi khỏi phạm trù tình ái mà trở thành hành vi tính dục của một sự giải thoát tâm lí.

Hoặc đơn giản hơn nữa, là một cuộc chạy đua hoang mang tìm kiếm một trào lưu làm tình mới của kẻ muốn ra chiều sành sỏi, hay bởi quá ngập ngụa dư thừa mà hóa thành mỏi mòn tuyệt vọng.

Chiếc rào cản của hàng triệu năm tiến hóa văn minh bị đạp đổ, nhân danh bản năng gốc, những đàn ông đàn bà chông chênh tìm về khoái cảm nô lệ hay trò nhục cảm của con thú mạnh, và hằn học trút tình vào nhau trong màn giả trang quái đản.

Ái tình và hôn nhân không tồn tại trong chủ nghĩa BDSM cực đoan. Không hơn không kém, con người tìm về những cuộc cưỡng dâm thời cổ đại, nơi quyền gieo-thụ giống thuộc về kẻ mạnh trong cuộc đấu tranh nghiệt ngã để sinh tồn. Trong khi hôn nhân và ái tình là một sự gắn kết bậc cao, nơi ngay cả nỗi đau và những dày vò giằng xé cũng là những biểu hiện của tình yêu vượt trên thú tính.

tumblr_mcyrelqjUP1ryfagpo1_500

Vùng thật thà của bản năng trần trụi

Bản năng sinh tồn của dục tính vĩnh viễn không mất đi. Đó chính là thứ tiềm thức khiến người ta run lên trong khoái lạc của những nụ hôn như ngấu nghiến, khoái cảm được cắn nhẹ lên ngón tay hay vành tai, hay những món tóc bị phũ phàng nắm giật trong khoảnh khắc xa rời lý trí nhất.

Từ những hành vi bản năng, chúng trở thành tín hiệu gợi tình của kẻ đang sẵn cơn mê không còn ngại ngần cảnh vẻ.

Một chút phiêu lưu thả mình tin cậy vào trò oái oăm của lớp băng đen che mắt, cho phép từng mô xúc giác bị đánh động đến căng thẳng trong đợi chờ và hưởng ứng, hay khi được đặt vào tình huống bị động hoàn toàn với đôi tay trói chặt, thân thể vào cuộc yêu đương thụ hưởng trong cao trào hỗn loạn của cơn thèm muốn được quy hàng.

BDSM_light_by_Vampirenish

Những rên rỉ đớn đau, những vật nài mời gọi được bung mở hân hoan không kềm hãm. Cuộc đợi chờ, trò ve vãn lắm biến cố níu dài phút giây chờ đợi để được òa vỡ làm đàn bà đàn ông.

Và như thế, mỗi đêm là một cuộc phiêu lưu kì thú, nơi người ta dẫn dắt nhau để lạc lối cùng nhau.

Chẳng phải những cuộc tình hằn dấu đau thương cũng chính là cuộc tình đậm đà ám ảnh dằng dai nhất?

slave-bondage--bdsm--slave--Love--quotes--discipline--nice--comments--JUST-PICTURES--sayings--KCLAYNE--Bow-down_large

Vậy nên khi mọi trạng thái ái tình được tả chân qua hành vi chăn gối, nó cũng hiển hiện mọi tần số nặng nhẹ của thú đau thương.

Nhưng không phải khi người ta bước khỏi cuộc tình để khoác vào những vai trò man rợ, hay khi những nâng niu chiều chuộng bị thế chỗ bởi sự hân hoan của nhục cảm được-bị chà đạp dày vò.

Điều khiến cuộc mây mưa kéo dài đến tận nụ hôn trước khi ngủ, đôi khi chỉ cần một bàn tay đặt khéo lên trán người tình, êm ái chắn che khỏi cú va đập vào vách tường trong những nhịp thúc dồn hối hả của cao trào yêu đương.

Bởi vẫy vùng trong vòng tay đâu chỉ là khối thịt da khác giới, mà chính là thân thể tình nhân, với từng li da thịt để yêu thương ngấu nghiến, nhưng không phải để làm đối tượng đả thương.

Hãy để những vai diễn và các khí cụ của thói bạo dâm khổ hạnh lại cho các nhà nghiên cứu tâm lí học và những chuyên viên xã hội.

Vì khi xác thân đã thỏa mãn cuộc vầy vò vân vũ, những người tình vẫn cần nằm ngủ an toàn và tin cậy bên nhau.

bdsm_by_Fort_o

tín đồ giữa hai hỏa tuyến

Hoa Nhài Đen

handiedan-pin-up-mixed-media-600x309

Với những giá trị cộng thêm hào phóng của thú “chơi hàng hiệu”, trò phong lưu của việc săn tìm trưng trổ các logo thời trang cao cấp trở thành một thú chơi thực thụ của các tân tín đồ “Việt mới”. cũng cầu kì điệu nghệ không kém thú điền viên chim hoa cá cảnh, hay các nhà sưu tầm nghiệp dư đắm đuối theo đuổi lộ trình cổ vật, nhưng muôn phần cay cú trong cuộc cạnh tranh khốc liệt để sắm diễn vai trò tín đồ tuẫn giáo, diễn ra ngay nơi chưa hề là thánh địa thời trang.

Thụ hưởng mọi tư chất ưu việt của một sản phẩm dòng thời trang xa xỉ luôn là nguồn xoa dịu khoan khoái cho mọi tín đồ trên thế giới. Nhưng hơn hẳn thế, nếu bạn là một tín đồ sống tại một quốc gia xa xăm, tít trong ngóc ngách Á châu nơi ngay cả tốc độ ánh sáng của nền văn minh thời trang luôn rọi chiếu muộn đến vài mùa fashion week, thì việc sở hữu những món siêu phẩm non mùa lại càng là một khoái cảm vượt tầm thẩm mỹ thụ hưởng thuần túy.

Nó loảng xoảng to và rõ thân phận danh tánh vị chủ nhân, nó rổn rảng gợi ý đến những tag giá thượng lưu vô tưởng, và nó khệnh khạng ấn một con triện “chịu chơi” to bự lên trán bạn. Bạn được chào đón vồn vã hơn, bạn đầm mình vào những ánh mắt trầm trồ hay tị nạnh, nó cất nhắc bạn ra khỏi tầm văn hóa hay đẳng cấp xã hội vốn có và đặt thẳng bạn vào một cái chiếu sành điệu chung chung. 

…từ dân “chơi” hàng hiệu

ly-nha-ky11

Gọi là “tân tín đồ” bởi vì quả tình, cách đây chưa quá lâu, chúng ta còn nằm trong vùng thảm họa nơi người ta coi Nike là “thời trang hàng hiệu”, và cho đến tận bây giờ, những con đường đáng gọi là runway hè phố tại tâm bão Sài-gòn vẫn còn oằn mình dưới cuộc bạo hành hàng loạt của dép cối nhãn hiệu Doctor.

Sân chơi “nội gia” của thời trang Việt cho đến nay vẫn là những show diễn về cơ bản là vui chơi giải trí mang nặng tính phục trang hơn là thời trang, trong khi cả một khoanh lớn miếng bánh thị phần hoàn toàn thuộc quyền khuynh đảo của các thế lực tội đồ hàng fake Tàu, và một đỉnh cao thượng lưu nằm trong vòng cương tỏa của các tên tuổi hàng hiệu chánh hãng lẫy lừng trên thế giới.

Không chỉ nhìn vào sự phân chia thị phần của ảnh hưởng hàng hiệu toàn năng để phân định một vấn nạn nô dịch. Một dấu hiệu nhận biết khác nằm trong chính khía cạnh thụ hưởng của mỗi “tân tín đồ” khi chạm ngưỡng thời trang cao cấp. Nếu tại London, một tín đồ tầm thượng trung hồn nhiên bỏ đôi Jimmy Choo để thay nơi công sở vào chiếc túi Birkin dòng grande lux có giá tròm trèm 5000 USD dùng để đựng cả thế giới, thì tại Việt Nam, đây hoàn toàn đáng được coi là một món tung hàng hoành tráng trên thảm đỏ hẳn hòi.

“Dân chơi hàng hiệu” tại xứ sở nhập môn xa xỉ học cách vanh vách chỉ ra những dấu hiệu nhận biết giữa một món authentic (hàng chính hãng) và một món hàng trá hình dù tinh vi đến mấy.

Họ là những cuốn cẩm nang sống luôn được cập nhật để vạch mặt tội đồ hàng fake.

Nhưng họ bất lực trước khả năng chiêm ngưỡng thực sự trước những ưu chất mà nền công nghệ thời trang thế giới lao tâm khổ tứ để phụng sự các diva.

Các ngôi sao lao vào cuộc tố tội hàng fake của nhau, cật lực bảo chứng cho vật sở hữu của mình. Các cô nàng fashonista thiết lập thành cả một đội ngũ phân biệt đẳng cấp hàng hiệu tại mỗi night club cho đến khu văn phòng cao cấp, soi xoáy bất kể dấu hiệu giả trá nào trên đôi giày đối thủ, hay hể hả so sánh chiếc phiên bản H&M yếm thế bên cạnh một “con” Versace-đời-Donatella chánh hiệu lẫy lừng.

Trong cuộc cạnh tranh không khoan nhượng ấy, các tín đồ mỏng thẻ thành những kẻ chiêu hồi. Họ quay quắt tiết kiệm ngặt nghèo để an toàn sở hữu một chiếc túi chính hãng dòng bề thế, hay chiêu hồi vào vũng lầy tội lỗi, bỏ cuộc trước một phiên bản Trung Hoa hoàn hảo có giá chỉ ngót 1/100, với 99/100 còn lại tương đương giá trị lòng kiêu hãnh tín đồ để trở thành phản đồ.

Thế là theo một cách nào đó, tất cả đều trở thành dân “chơi thời trang hàng hiệu”: họ đã “chơi” các thương hiệu một vố nên thân trong chính sự sùng bái mù quáng của đám đông tân tín đồ lạc lối.

…đến thảm họa nữ trọc phú thời trang

92d49793-5a22-4a6a-ad27-f10d3a1922f5

Hẳn nhiên, với một thị trường mà cả khoanh bánh lớn bị nhấn chìm trong đại nạn fake, dường như các quyền lực chính hãng đã bị chơi khăm một vố nên thân bởi chính các phản đồ chiêu hồi. Nơi đây không phải vùng thánh địa thời trang, nhưng trên thực tế, mỗi boutique chính hãng cũng không hề là một thánh đường dã chiến của các nhà truyền giáo vong thân vì nghiệp đạo văn minh xa xỉ.

Thiết lập tên gọi và hình ảnh như những dấu hiệu quyền lực mới cho tầng xã hội thượng lưu, các tên tuổi làng chiếu trên của thế giới điềm nhiên phủ sóng các department store xa xỉ nhất, trên màn bạc cine, thảm đỏ, bao bọc quanh những yếu nhân làng giải trí, dấy lên cả những vụ chưng diện ồn ào và những tag giá xa xỉ được “phanh phui” trưng trổ. Tầng xã hội mới được hình thành đón lỏng thị phần tín đồ mỏng thẻ nhưng dạt dào tham vọng.

Chúng ta tôn sùng nhãn hiệu như những vị tông đồ mang mùi thiên đàng về hạ giới, phả sắc xa xỉ tầm cỡ toàn cầu lên toàn cảnh kinh tế đìu hiu của tỉnh lị nhiệt đới, và chúng ta thậm chí thỏa hiệp với những món thời trang giả hiệu bởi các logo như những lá bùa bảo hiểm cho mức độ cháy chợ của quyền lực song tự LV, nhị sắc hắc bạch Chanel, hay trưởng giả một cách phổ cập đến toàn dân của Gucci bản xứ.

Chúng ta hả hê khi tậu được cặp kính cũng đường hoàng gắn mác đặt tên, an toàn trong quyền năng hãnh tiến của logo nữ thần tóc rắn chạm hùng hồn hai bên thái dương, và tự an ủi rằng khi nước mạ xuống màu và lộ tẩy vẻ tiều tụy của món đồ chơi Trung quốc rẻ tiền bằng nhựa, ta đã có thể đường hoàng đầu tư không đáng kể cho một món thời trang mới, theo vòng xoáy trào lưu vốn quá nghiệt ngã để các tân tín đồ kịp đuổi theo bén gót.

Chiến dịch tôn vinh nền văn minh hàng hiệu được ta góp phần tụng ca với âm hưởng Trung Hoa. Trong sự tôn sùng bát nháo ấy, các quyền lực chính hãng điềm nhiên chấp nhận san sẻ mối lợi nhãn tiền với thị trường hàng fake, nhưng vẻ vang độc tôn vầng hào quang tán tụng bởi cả các tín đồ được sờ chạm đến quyền lực thời trang chỉ với những phiên bản LV giá tròm trèm 20USD.

Đây chưa phải là một cuộc cai trị hưng thịnh của thời trang cao cấp, nhưng hẳn nhiên, nó nghiễm nhiên biến vùng đất vô đạo trở thành một thuộc địa tiềm năng, nơi muôn tín đồ cùng tù mù ngưỡng vọng những tên gọi đã không còn là xa lạ, dẫu chưa một lần quẹt thẻ showroom chính hãng.

Một cách tài tình, ngay cả các kênh bán sỉ lẻ hàng fake, kinh doanh “hàng hiệu xách tay” cũng khoác vai nhà truyền giáo, ủy lạo cho thương hiệu tối cao xuống tận những tầng chi xài khiêm tốn nhất. Dù hoàn toàn nằm ngoài sự chào đón của các tập đoàn thời trang chính thống, sự “phân phối hình ảnh” cực kì thành công này cũng vô tình khiến vầng hào quang trào lưu nhãn hiệu lan tỏa rộng và mạnh hơn chính nguyên bản vốn nặng tính quân chủ kiêu kỳ.

Trong khi đó, ngập ngụa toàn thân trong hàng thời trang chính hãng, với nguy cơ sập bẫy fake ở bất cứ đâu, và bất cứ lúc nào cũng có thể sa ngã vào tội danh “thảm họa trọc phú hàng hiệu”, chính những tín đồ trung thành và chính chuyên nhất của hàng authentic cũng phải trà trộn đứng chung tầng nô dịch với phần còn lại của thị trường dân chủ.

Thời trang xa xỉ, ở một tần suất chênh lệch nào đó giữa tag giá phù hoa và mức sống của một quốc gia còn chưa phát triển quá cao khỏi tầm lúa nước, thì những tín đồ chánh hiệu và giả hiệu chỉ là một cộng đồng nô dịch u mê của đại cục thời trang chung trên thế giới.

Tôn ngưỡng nhưng không nô bộc

Các tín đồ tự trọng nhưng mỏng thẻ bị hoang mang hoàn toàn giữa hai hỏa tuyến ngặt nghèo. Sự cứu rỗi của các hãng buôn mang tính “thời trang chan hòa” như Zara hay H&M vẫn chưa đủ độ thân thiện về tài chính trong khi đại dịch hàng nhái lại nhanh tay hơn với tag giá hạ sát sàn và kiểu tiếp thị du kích đến tận từng timeline facebook cá nhân.

Vấn đề duy nhất còn lại để bám víu cho từng tín đồ ở vùng xa đất thánh chỉ còn lại độc tôn hững ý thức cơ bản nhất của lòng tự trọng cá nhân, văn minh tiêu thụ và văn hóa hưởng thụ.

Ngay cả ba nhóm từ nhì nhoằng trừu tượng ấy cũng quá khó nhớ so với một phép so sánh giản dị giữa hàng trăm Mỹ kim và vài trăm ngàn đồng Việt Nam.

Chỉ có kiến thức sơ đẳng của một fashionista sẽ cho phép bạn đầu tư vào những món trọng yếu cho bộ cánh, và khi đó, những đôi giày nên luôn được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu – điểm cứu cánh cho toàn bộ diện mạo. Những thiết kế không mùa, little black dress kinh điển, hay một chiếc trench coat bất hủ, và đặc biệt là một mùi hương nước hoa tinh vi đến từng note sẽ chỉ có thể là những tuyệt phẩm mang dấu ấn kiêu hãnh của những tượng đài như Louboutin, Chanel, Burberry, hay Bvlgari.

Một chi khoản rộng rãi hơn một chút có thể được tập trung vào những thiết kế hoàn hảo và thân thiện của các hãng bán lẻ uy tín như H&M, Bebe, Zara, v.v… Trong khi đó, các tên tuổi thiết kế trong nước cũng đang bảo đảm độ nhạy trào lưu khi thỏa mãn kịp thời cho tín đồ trung lưu những ảnh hưởng tân kỳ nhất qua bộ lọc thẩm mỹ riêng. Các nhãn hiệu DMC, Maschio (cho các fashionisto), Ngân’s Private Collection, Miki, Umbrella, Urbanista, Kelly Bui, v.v… hoàn toàn là những lựa chọn đáng kiêu hãnh cho một diện mạo fashionista phố lớn.

Phần còn lại của cuộc hoán chuyển theo vòng xoay trào lưu có thể được thỏa mãn từ những cuộc hành hương nho nhỏ đến các boutique bản xứ, thú mix-and-match chỉ dành cho fashionista thông minh, tận dụng lợi thế của xứ sở nơi một bộ cánh may đo luôn nằm trong tầm với, hoặc noi gương Stefano Pilati làm cuộc rong ruổi khám phá các khu flea market… đều sẽ cho bạn một ảnh hưởng đúng điệu của phong cách tinh thần từ các tuần lễ thời trang non mùa nhất, nhưng không với tag giá vô tưởng, hoặc hạ mình xuống tầng tội đồ hàng nhái.

Cuối cùng, sẽ không thể là tín đồ nếu bạn ngưỡng vọng sự sáng tạo của các nhà thời trang bằng cách ăn cắp và bán rẻ.

Nhưng sẽ chỉ là một cuộc nô bộc tuyệt vọng của những nạn nhân tội nghiệp nếu tất cả cùng tuyệt vọng rướn đến sự sở hữu tác phẩm hơn là thấu hiểu, ngưỡng mộ, và tác tạo nên một phong cách thời trang riêng.

Ở giữa hai lằn ranh ngặt nghèo ấy, là những tín đồ chính hiệu: sành điệu, tự trọng, và thông minh.

5AFK000Z

mẹ cả Cosmo

Túy Ca

Khi mà các cô các mợ diva thành thị tân thời ngày nay còn đang mải mê chạy theo thái độ sống lẫn tủ quần áo của Carrie Bradshaw trong Sex And The City, không mấy ai còn nhớ đến vụ chấn động New York hồi thập niên 1960 mang tên Sex and the Single Girl, cho đến gần đây, khi phiên bản gốc của Carrie Bradshaw thời ấy – bà đại tổng biên tờ Cosmopolita qua đời, ngày 13 tháng 08, chỉ 2 tuần sau khi bước khỏi chiếc ngai Mẹ Cả Cosmo.

Theo kinh Cựu ước Cosmo của các cô nàng phố lớn (bigtown-girls), tình dục là điều tuyệt vời nhất, bên cạnh ăn và thở. Helen yêu mến bà Hillary Rodham Clinton, trò buôn nhảm và những chuyện ly kì, bà là tín đồ của Donna Karan và Calvin Klein, yêu chồng, mê đàn ông cho vui, và nghiện sự nghiệp.

Nói một cách vắn tắt, bà đã là một Cosmo girl chánh hiệu.

Năm 1962, Helen Gurley chào đón tuổi 40 của mình với cuốn sách Sex and the Single Girl. Cuốn sách được xuất bản tại 28 quốc gia và giữ vững vị trí bestseller trong suốt năm đó. 3 năm sau, Helen Gurley đường hoàng đăng quang ghế tổng biên tờ Cosmopolitan đang hồi xuống dốc và cải mệnh cho tạp chí này ngay từ những ngày đầu nhậm chức. Trải qua suốt thập niên 1960 ấy, bà đã vào vai nữ tuyên giáo bạo miệng nhất cho ý niệm tự do tình dục trong đời sống nữ giới với những bài phỏng vấn, đặt các nữ nghệ sĩ tân thế hệ vào vai trò dẫn dắt, cùng những loạt bài tư vấn cho một phong cách sống đầy rủi ro nhưng gay cấn cho các nữ độc giả nhà Cosmo. Bà trang bị cho các nữ độc giả của mình ý thức về quyền năng nội lực mạnh mẽ của họ để sở hữu tất cả: ái tình, khoái lạc và tài chính – một cái nhìn mà ngay cả các nhà hoạt động nữ quyền mạnh mẽ nhất thời ấy là Betty Friedan và Germaine Greer, trong cuộc đấu tranh chung chung đại diện các bà nội trợ toàn tâm toàn ý tề gia, vẫn chưa dám công nhiên nhìn nhận. Với binh đoàn tinh nhuệ của mình, gồm những nữ nhân sành sỏi, có gout, diễm tình và táo tợn được lôi vào cuộc thánh chiến, Helen Gurley hình thành một chân dung đa sắc nóng hổi của thuộc tính “Cosmo girls”, về sau trở thành hình thái điển hình của sự văn minh và tiến bộ thật sự của nữ giới.

Nhưng những năm oanh liệt của vị công thần nhà Cosmo nhanh chóng bị lãng quên. Năm 1997, bà bị dời khỏi vị trí tổng biên Cosmo U.S. bởi sự xuất hiện của Bonnie Fuller. Vào thời điểm này, Cosmopolitan đứng hàng thứ 6 trong cuộc đua cháy sạp của các tạp chí Mỹ, và trong suốt 16 năm liên tiếp, giữ vị trí hàng đầu tại các hiệu sách của các trường đại học toàn nước Mỹ. Nhưng bà vẫn được trọng dụng tại hãng xuất bản Hearst và duy trì vai trò đại tổng biên cấp cao của toàn thảy 59 ấn bản Cosmo trên toàn thế giới cho đến ngày cuối đời – ngày 13 tháng Tám 2012 vừa qua.

Cẩm nang thụ hưởng của gái thành thị đơn thân

Nhìn lại những năm tháng với Cosmo Mỹ, bà đại tổng biên thở phào nhẹ nhõm và tự hào: “Đó là tờ tạp chí tuyệt vời. Nếu có một điều gì tôi muốn họ ghi nhận khi nhớ về tôi, đó sẽ là: bà ta đã tạo ra một thứ hữu ích. Các nữ độc giả của chúng tôi, họ luôn cần một cuốn cẩm nang để bước vào thế giới bản ngã của chính mình.”

Suy nghĩ đó đã được hình thành từ những ngày mới nhậm chức tổng lãnh tờ Cosmo Mỹ, bà đã thiết lập và cài cắm hệ thống ngôn ngữ riêng của một tộc người mới: các “Cosmo girl” – ngổ ngáo, gợi tình, thông minh lẫn ranh mãnh. Bà tự mô tả mình là một “mouseburger” (bánh mì kẹp chuột) – hàm ý môt phụ nữ không có lợi thế của nhan sắc thiên phú, nhưng có khả năng buộc bản thân phải học và làm việc cật lực để trở nên quyến rũ và thành công. Trên trang bìa Cosmo, Helen dàn trải những tấm dung nhan với những mái tóc kiểu sư tử cuồng nộ, những khe ngực sâu đắm đuối của nhiếp ảnh gia Francesco Scavullo, rồi thượng lên phía trên dòng tít “Không Gì Mau Mỏi Mòn Như Tình Dục – Sự Thật Về Nhu Cầu Tình Dục”. Hoàn toàn không hướng độc giả của mình vào một xu hướng lãnh cảm có kiểm soát, nhưng cho họ một quyền năng tự chiều chuộng và đặt bản thân lên chiếc ngai nữ hoàng tối thượng của riêng mình.

Hẳn nhiên, trong cái công thức tự chiều chuộng ấy, Helen hào phóng dành mấy trang ảnh thơm phức của thập niên 1970 cho quý ông, với bức ảnh kép Burt Reynold e ấp khỏa thân gây sóng gió rần rần suốt năm 1972 khói lửa.

Helen và lối ngôn luận ngả ngớn của Cosmo trở thành một cái gai cho không ít người, mà oái oăm phần nhiều là nữ giới, những cô gái trói cuộc đời nghiêm cẩn của mình trên những dãy bàn công sở. Cosmo đầy thái độ, nhưng thật thà đến sống sượng, đặc biệt là các chuyên đề “săn trai” đôi khi táo tợn đến mức nó khiến người ta nghĩ đến một cuốn cẩm nang dạy các cô gái quyến rũ sếp mình rồi nằng nặc đòi kết hôn.

Một phản ứng dữ dội khác đến từ nhà hoạt động xã hội Betty Friedan, với lời phán xét rằng các bài viết của Cosmo thuần túy là “sự vẽ vời viển vông về tình dục cấp độ tuổi teen”, nhưng về sau, chính bà đã thay đổi quan điểm và tôn vinh Helen rằng “bàn tay biên tập tài hoa đã trở thành nguồn cảm hứng mẫu mực cổ xúy cho tiến trình giải phóng phụ nữ.”

Song song với quyền năng của một nhà nữ cách mạng hợp thời, hẳn nhiên thái độ lộng ngôn của gái hư Cosmo đã mang lại hiệu quả kinh doanh ngoạn mục cho tờ báo. Chỉ trong vòng 4 số tạp chí, giá một tờ Cosmo trên sạp đã nâng từ 35 xu đến 50, và nhanh chóng đạt mức 60, song song với cuộc chạy đua quảng cáo của các nhãn hàng thời trang, mỹ phẩm và sản phẩm tiêu dùng. Đỉnh cao phát hành vào năm 1983 là 3 triệu bản in, rồi duy trì ở 2.5 triệu với giá 2,95USD mỗi tờ vào thời điểm Helen rời vị trí tổng biên tập ấn bản Cosmopolitan Mỹ.

Cosmo Girl tự làm luật và những phần thưởng dọc nẻo đường “hành pháp”

Các độc giả của Cosmopolitan không nghĩ rằng Cosmo-girls là mấy ả lẳng lơ rẻ thối. Nàng là cô người mẫu nõn nường ngoài bìa, nàng hoạt kê và thay đổi đề tài câu chuyện liên tục, sành sỏi mọi tin đồn hành lang, mau quên, chóng chán, có khả năng bắt chước mọi minh tinh với mức giá shopper ranh mãnh, và biết cách tự pha chế hỗn hợp mặt nạ cho công thức spa tại gia. Mẹ cả Cosmo tin mãnh liệt rằng một Cosmo-girl đích thực sẽ luôn có cách để trở thành một ai đó.

Vì đối với bà, “một ai đó” đồng nghĩa với danh tiếng, tài sản, sự trọng vọng, những người đàn ông. Nó còn đồng nghĩa với văn phòng riêng trải thảm giả da beo mềm lút chân, hoa dán tường đồng màu với ghế dựa, gương trang điểm và lỉnh kỉnh chai lọ mỹ phẩm, cùng một chiếc gối dựa thêu dòng chữ “Gái ngoan lên thiên đàng, gái hư đi tứ xứ”.

Đó còn đồng nghĩa với thứ quyền lực thừa đủ để chủ tọa một cuộc họp nội bộ với các tổng biên các tờ sở hội mặc bất cứ cái gì Mẹ Cả muốn, nó còn là chiếc đồng hồ Cartier mua năm 1967 với giá 400USD, sợi lắc vàng trên cánh tay của tập đoàn Hearst tặng nhân kỷ niệm 30 năm thành lập, và bốn sợi khác được giải thích là quà từ “mấy tràng bảnh trai, nhưng không phải nhân tình.”

Nó đồng nghĩa với đàn ông, tình dục không tình yêu, ái tình không hôn nhân, và hôn nhân không con cái. Helen dồn tụ mọi bản năng thiên chức và tờ báo của mình, chăm bẵm và điên cuồng bảo vệ, dồn cho nó mọi sự ưu tiên mà chính bản thân bà chưa bao giờ có được cho mình trước đây. Helen trở thành vị nữ thần hộ mạng của các Cosmo-girl, theo đúng kiểu một bà tiên đỡ đầu mà chính Helen thời xuân trẻ chưa bao giờ có.

“Tôi tin rằng hầu hết các cô tuổi đôi mươi cho rằng mình không đủ đẹp, đủ thông minh hay gợi tình. Họ không có thứ công việc đáng mơ ước, và một tỉ rắc rối nội gia. Nhưng họ cần nhìn thấy, đó là tất cả những nguyên liệu tự nhiên để có thể chuyển hóa thành những điều tuyệt diệu nhất. Và tôi thì kể họ nghe câu chuyện cuộc đời mình, cùng họ ham hố khai thác, vắt kiệt những chào mời của cuộc sống, và cầu khiến số phận chiều chuộng lại mình cho đến kỳ phỉ mãn.”

Bà “bánh mì kẹp chuột” đại diện cho những điều không nằm trong bất cứ tiểu thuyết nào: những cô gái không quá đẹp, không quá thông minh, nhưng làm việc ra trò nhất, dai sức và lì đòn nhất, để trở thành một tạo vật ưu tú, đồng tác giả với Thượng Đế để tự đạo diễn cuộc đời của chính mình – nơi họ thủ vai nữ chính hoàn hảo như mong muốn.

“Tất cả nằm ở khả năng tự tuân thủ cam kết. Tôi chỉ không bao giờ có thể hiểu những ai không làm được điều này. Mỗi người là một nhà làm luật, vậy hãy làm luật, và phần việc còn lại tùy thuộc vào sự tự trọng. Hãy chỉ làm những việc có lợi cho mình, và cho lí tưởng đã chọn lựa, và phần thưởng không cần đợi ở cuối con đường, bạn sẽ nhặt được những món quà kì diệu nhất dọc nẻo đường ‘hành pháp’ ấy của chính mình.”

Trước danh xưng là nhà hoạt động xã hội, Helen nhún vai xa lạ “Đối với các nhà hoạt động kiểu ấy, đàn ông là kẻ thù. Với tộc người Cosmo, ờ thì cũng có thù một số đàn ông đấy, nhưng ân ái với họ thì lại là điều cực hay ho, tuyệt diệu. Vậy thì nếu bạn là đàn bà dị tính, ắt nhiên, đối tượng tình dục của bạn phải là đàn ông. Vậy nếu tôi là một nhà hoạt động kiểu đó và bảo các cô gái Cosmo của mình rằng ‘Chúng ta sẽ không thèm làm tình nữa, bởi như vậy sẽ cần đàn ông, mà phụ nữ tiến bộ không cần đàn ông!’, trời ơi, tôi điên à?”

18 cuộc phiêu lưu của Helen Công Sở

Đường bệ trên chiếc ghế uy quyền và áp lực, Helen vẫn duy trì thân hình mỏng tang với chiều cao 5.4 feet và dao động cân nặng xê dịch trên dưới 100 pounds được duy trì hoàn hảo với chương trình tập luyện hợp lí và thực đơn ăn kiêng được tuân thủ với một sự cam kết sắt đá. “Chớ bao giờ mơ rằng bạn sẽ là một bà béo 60 tuổi gợi tình, và hi vọng những shot ảnh chụp tại một sự kiện từ thiện sẽ khiến bạn đẹp hơn là một ca sửa mũi hoặc căng da”, Helen thật thà thừa nhận mọi xảo thuật thẩm mỹ mà bà đã không hề dại dột chối từ để duy trì một hình mạo quý bà thanh tú từ trước ngưỡng oan nghiệt 60.

Helen Gurley đã không sinh ra như một nàng thiên nga nhan sắc. Sinh năm 1922 để lớn lên giữa lòng thời kỳ đại khủng hoảng, Helen Gurley đã biết tự xoay sở kiếm tiền tiêu vặt bằng chính những gì được trang bị từ nhỏ – cô đi dạy nhảy cho bọn trẻ con. Cha mất khi Helen lên 10, và thân mẫu, một bà giáo, quyết định chuyển đến Los Angeles, nơi mà nàng vịt con xấu xí Helen lấm tấm mụn đọc bài phát biểu đầu đời của mình ở tư cách học sinh tốt nghiệp xuất sắc của trường trung học John H. Francis Polytechnic năm 1939.

Với mảnh bằng tốt nghiệp, tương lai của vịt Helen xấu xí được hứa hẹn trước một đời nữ nhi công sở văn thư. Với kỹ năng đánh máy chữ và tốc ký được học ở trường kinh nghệ, trong chỉ 7 năm, Helen tham gia vào hội chứng chung của thanh nữ văn phòng, tức là nhảy cóc việc làm 18 lần, và một trong những trạm dừng bất kể ấy, khi dừng chân tại hãng đại diện quảng cáo Foote, Cone & Belding, khả năng viết lách của Helen mới được khám phá. Cô được giao thêm công việc của một copywriter. Sau một thời gian củng cố profile, Helen tiếp tục được Kenyon & Eckhardt rước về và trở thành copywriter sáng giá nhất ngành quảng cáo vùng bờ Đông Hoa Kỳ.

Nhưng chính những đồng nghiệp của Helen lúc này cũng không hay biết đây chính là quãng thời gian cô âm thầm tự trang bị những kinh nghiệm và mối quan hệ cần thiết cho một văn sĩ, một biên tập, và một người dẫn chương trình truyền hình về sau. Năm 1982, bà thật thà thú nhận với tờ New York: “Thế này nhé, tôi không nhớ nổi một nơi nào mình đã từng làm việc mà không có dan díu ái tình công sở với ít nhất một ai đó cùng chỗ làm”. Khi được hỏi điều đó có tính cả những vị sếp, bà trả lời: “Tại sao lại phân biệt đối xử với họ?”

“Không có sex, đời coi như bế mạc!”

Cùng với cuộc nhảy cóc sự nghiệp theo kiểu thời thượng của các city girl cả thèm chóng chán, giữa các phiêu lưu ái tình công sở, cuối cùng thì ở tuổi 37 – khi ấy được coi là muộn mằn, Helen bước vào cuộc phiêu lưu dài hơi hơn, được gọi là hôn nhân, với David Brown, vốn cũng từng nắm cương vị quản lý tại Cosmo, và về sau trở thành nhà sản xuất phim.

Chính ông là người khích lệ Helen viết sách, tạo điều kiện cho vợ tranh thủ viết lách vào những dịp cuối tuần, và giúp vợ đặt tên cho cuốn sách đầu tay “Sex an the Single Girl” – một đại cẩm nang lối sống gái độc thân phố lớn. Cuốn sách lập tức lọt bảng top sellers 1962, và cặp đôi bất bại chuyển tổ ấm lẫy lừng của họ đến New York. Các nhà làm phim mời chào Helen món 200,000 Mỹ kim hậu hĩ, nhưng không phải là cho cốt truyện mà cho cái tít quá chừng ngon tai, với Natalie Wood vào vai nhân vật mang tên Helen Gurley Brown nhưng hầu như chẳng thể hiện nét tính cách nào của phiên bản Helen gốc.

Ba năm sau đó, cuốn sách thứ hai được tung ra, với cái tên “Sex in the Office” (Tình Công Sở). Cũng trên đà thắng thế, cặp đôi đề xuất một ý tưởng tạp chí với hãng phát hành Hearst nhưng không thành. Bù lại, Helen gây ấn tượng mạnh mẽ và được Hearst mời về chăn dắt tờ Cosmopolitan khi này đang ngắc ngoải trên các sạp báo.

Sau khi về nhà Cosmo, khi này còn là ấn bản phổ cập thuần túy thời hậu chiến, với những mẹo chăm trẻ và công thức nấu ăn. Bà thẳng tay khai trừ hầu hết các chuyên mục và chỉ giữ lại phần cẩm nang ăn kiêng.

Không cần doanh số để chứng minh, ngay sau cuộc cải tổ này, người ta có “Chiếm lấy anh ta! Những chiêu thức quyến rũ thật sự hiệu quả” trên tờ YM, tờ Madamoiselle có “Hãy làm tình khi đèn sáng!”, Glamour thì giật tít “29 mẹo cho cuộc làm tình nhớ đời.”,  cùng “Khảo sát trải nghiệm tình dục” trên Marie Claire, trong khi Shape trịnh trọng đăng tít “Khoa học rù quến”.


Vị trí tổng biên của tờ Cosmo không dễ dọa Helen, bà tiếp tục dấn bước sâu hơn vào lãnh địa truyền thông, và làm host cho talk show “Outrageous Opinions” năm 1967, phủ sóng 19 thành phố với danh mục khách mời celeb sẵn sàng khai tất tật quan điểm cá nhân về tình dục lẫn những phạm trù mẫn cảm khác.

Nhưng đợt dội bom thị trường xuất bản chưa ngừng lại ở đó, với cùng lúc hai cương vị ở lãnh địa báo chí và truyền hình, bằng một cách nào đó, Helen tiếp tục tung ra 5 đầu sách: Having It All năm 1982 và 1993, vào tuổi 71, bà viết The Late Show, với tít phụ loằng ngoằng nhưng vẫn rất ngon tai: “Chiến Lược Tồn Tại Điên-Rồ-Một-Chút Nhưng Thiết Thực Cho Quý Bà Trên 50”.


Trong một cuộc phỏng vấn, bà thản nhiên đúc kết tinh thần tư tưởng của cuộc cách mạng riêng của mình bằng câu nói “Nếu bạn không làm tình, đời coi như bế mạc. Nó là thứ phân cách giữa các cô gái và các cụ cao niên”.

Trong suốt đời sống hôn nhân, cặp đôi bất bại nhà Brown vẫn chọn không có con. Helen không cam đánh đổi, và David ủng hộ bà.

Tạp chí, truyền hình, và “Having It All”

Nữ đại tổng biên Cosmopolitan Helen Gurley Brown, một trong những nhà hoạt động bình đẳng giới ồn ào và quyết liệt nhất, lại dường như tỏ ra tự mâu thuẫn trong lời tuyên bố “Nếu bạn không phải là đối tượng tình dục, bạn nguy to rồi!”, và gây ồn ào hơn nữa là câu nói trứ danh “gái ngoan lên thiên đàng, gái hư đi tứ xứ”.

Sự mâu thuẫn cực đoan trong hai vế ý thức hệ này cũng hiển hiện trong đời sống riêng tư của Helen, nơi mà từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế của thời ấu thơ, bà bước vào vị trí nữ quyền tân tiến, ủy lạo cho hình ảnh những cô gái vừa hoạt kê vừa gan góc nhan nhản trên toàn thế giới. Vậy mà trong suốt 32 năm tại vị nhà Cosmo, đương khi hô hào đàn bà con gái làm tình và thụ hưởng sự trâng tráo hợp thời trang ấy khi vén váy sải bước qua cửa miệng dư luận, bản thân Helen lại là một vị phu nhân rất mực thủy chung của duy nhất một người đàn ông, cùng lúc tự cho phép mình duy trì các thói xấu vô hại, trong đó có cả thói phù phiếm của thuật thẩm mỹ.

Trong khi Helen vẫn an toàn trong pháo đài hôn nhân lý tưởng của bản thân, thì ngoài kia, xã hội Mỹ sản sinh ra một thế hệ nữ công dân hoang đàng chi địa, mốt ái tình “chơi cho vui” lên ngôi, và tỉ lệ li hôn lẫn hội chứng trầm cảm, bệnh lây qua đường tình dục ở các ‘Cosmo girls’, và các ca nạo phá thai tăng điên đảo. Người ta quy buộc cho Helen dấu ấn tội đồ.

Nhưng cuối cùng, đã không ai nghĩ đến hàng loạt những tạp chí khiêu dâm dành cho quý ông như Penthouse và Hustler cũng đang tung bay như bướm trên mọi sạp báo Mỹ. Và, lời tự bào chữa của Helen lúc sinh thời: “Cuối cùng thì đàn bà đâu có làm tình một mình?”

Thẳng thừng qua tiêu chí của Cosmo, Helen công nhiên đề cao yếu tố tiền bạc, sự nghiệp và tình dục trong đời sống phụ nữ, dù không nhất thiết theo trình tự trên. Các “mục tiêu sống” này được hô hào ủy lạo trong suốt hàng thập niên các chuyên mục bài viết và cẩm nang hướng các Cosmo girl đến ngưỡng cảnh giới cao nhất của các kỹ năng sống rập khuôn: rù quến, làm đẹp, phô diễn năng lực, cạnh tranh, và giải trí nhẹ. Theo bà, “Cách mạng nữ quyền có chăng là một nhu cầu hướng đến sự sòng phẳng, hơn là khái niệm công bằng. Tôi là người làm truyền thông, và tôi chọn thực hiện cuộc cách mạng của mình một cách thực tế nhất, bởi thực tế nên là chất liệu duy nhất của tạp chí và truyền hình.”

Nhưng nếu thuần túy nhìn nhận Helen Gurley ở thông điệp của người đàn bà muốn có tất cả, và làm tất cả để có điều mình muốn, lại là một sai lầm lớn. Trong khi các nhà hoạt động khác khuyến dụ phụ nữ mạnh mẽ hơn trước các nhu cầu của thuộc tính đàn bà, thì Helen khuyến khích họ khai thác và thụ hưởng nó. Nếu việc bị coi là đối tượng tình dục là nỗi sỉ nhục với trào lưu bình quyền chung, thì Helen khuyên độc giả của mình kiêu hãnh và tận dụng thế mạnh đó. Những tiêu đề giật gân của Cosmo về “50 cách chiều chuộng đàn ông” là những thông điệp ngầm của Helen với một nửa còn lại của thực tế phòng the “…để có điều mình muốn”.

Nhưng phụ nữ thật sự muốn gì? Freud không trả lời được, và Helen lẫn các tín đồ Cosmo của mình cũng vậy. Như lão già gân Hefner và đế chế Playboy của lão, Helen tạo nên một đế chế đối lập, và còn là phiên bản giống cái của Thỏ Cột Nơ. Bà lột truồng cả Burt Reynolds lẫn Arnold Schwarzenegger lên trang bìa ruột cho chị em rửa mắt, xếp bên cạnh trang rao bán đồ trang sức rẻ tiền, vài chiêu giường chiếu kinh điển cùng các bài tư vấn về bệnh xã hội. Chủ nghĩa vật dục được hô hào to và rõ, và ngôn ngữ thân thiện xoa dịu cảm giác sống sượng của phiên bản Playboy có chữ.

Cosmo trở thành chân kinh của những phiên bản tiểu Helen – những cô gái với nhan sắc nhàn nhạt, trình độ tầm tầm để văn hóa đọc dừng lại ở một tạp chí lối sống với ngôn văn thân thiện và vài cuốn tiểu thuyết thời danh. Helen không khích lệ họ tự nâng cấp bản thân để gia nhập một thượng tầng xã hội hay tri thức. Bà xoa dịu họ, và cung cấp cho họ những cẩm nang khai thác thú vui thụ hưởng từ chính nhan sắc vừa chừng, mức thu nhập trung bình, và tất cả đàn ông trong mọi quán xá lẫn công sở Hoa Kỳ.

Helen mặc nhiên trở thành phần tử phiến loạn của chính cuộc cách mạng bình đẳng giới. Bà đã đạp lên lằn ranh tuyệt kỵ cuối cùng khi tự chọn cho mình việc không làm mẹ: “Tôi không muốn từ bỏ ngần ấy thời gian, yêu đương, và tiền bạc”.

Năm 1982, khi xuất bản cuốn Having It All, Helen đã viết cho chính những cô gái Cosmo của mình, những cô gái trẻ, độc thân, xứng đáng thụ hưởng mọi điều như bất kì người phụ nữ có chồng nào khác: tiền tài, sự nghiệp, và tình ái. Trong khi các tạp chí tiến bộ khác cân chỉnh cho người phụ nữ khả năng điều tiết giữa công việc xã hội và đại nghiệp tề gia, thì Helen cho rằng các cô nàng Cosmo cũng hoàn toàn xứng đáng tự dành cho mình những điều đó, có hay không có người đàn ông bên cạnh, như chính Helen đã từng làm, với những buổi dạy nhảy của mình trong tuổi thơ bĩ cực mà không có người cha bên cạnh. Hãy yêu đương, phiêu lưu, và cho phép người đàn bà được vuốt ve âu yếm, và khi người bạch mã hoàng tử xuất hiện, nàng sẽ đủ am hiểu để biết cách nhận ra nhà vô địch cuối cùng của cuộc đời mình.

Và như thế, Helen đã dành nửa thế kỷ lửa hương cho nhà vô địch mà bà mất 37 năm cuộc đời để tìm thấy, cho đến khi ông qua đời vào năm 2010.

Tình dục ngoài 50 dưới cơn mưa đá

Helen bảo thủ trong chính cuộc cách mạng của mình. Dẫu về sau, một chút cải tiến cho font chữ các hàng tít sinh động hơn, dàn trang hình ảnh phóng khoáng hơn, nhưng trong suốt hàng thập niên tại vị, bà kiên định với đường lối đã được lựa chọn và minh chứng. Đã từng có những tin đồn về một cuộc cải cách, thậm chí số hóa một số chuyên mục cho phiên bản điện tử, nhưng rồi Helen trấn an tất cả: “Đây là lần đầu chúng tôi thử làm một điều gì khác lạ và táo bạo. Tôi đã cố thỏa hiệp, cũng thử tự cải thiện cho tươi mới hay táo bạo gì đó. Kết quả là tôi thề sẽ không bao giờ thử trò này nữa.”

Bị “nhắc khéo” về sự bảo thủ của tuổi già, Helen nhún vai lờ phắt: “Tôi chẳng thấy mình giống một trưởng lão đáng kính và vô dụng chút nào cả. Tôi là vụ ngoại lệ. Tôi thường nổi khùng với một số người lớn tuổi, đặc biệt những người có cân nặng trên 195 pounds. Họ làm tôi phát cáu và phát ghê!”

Mặc dù với thân hình mỏng tang lá lúa, khi bị Page Six của New York Post liệt vào danh sách thảm họa ngoại hình, Helen sốc chao đảo: “Cả đời tôi đã phải thật sự lao động để cải thiện hình thức mình, làm tất cả những gì có thể. Cuối cùng là bị lên án bởi gầy quá, và như thể tôi ủy lạo cho việc phân biệt đối xử với mấy người bị béo phì vậy. Tôi không làm điều đó bằng việc tự gầy đi, chính họ tự  khinh bỉ thân thể họ bằng cách để mặc cho nó trương lên”.

Ngay cả cuốn sách cuối cùng của bà, cuốn cẩm nang tồn tại cho phụ nữ trên 50 tuổi, tuy không vào hạng bestseller nhưng cũng kịp làm không ít người khó chịu. Trong cuốn này, bà viết rằng phụ nữ không thể có chất lượng cuộc sống cao nếu không làm việc. “Còn chương viết về tình dục ngoài 50 tuổi nữa chứ, chương ưa thích của tôi, vậy mà là chương bị ném đá dữ nhất. Tóm cho gọn, chỉ là suy nghĩ: nếu bạn ngưng làm tình, bạn không còn là đàn bà. Thế là tất cả đồng loạt ném đá vào tôi.”

Ngay cả một số bạn bè của Helen cũng tỏ ra bị xúc phạm và thấy nhột nhạt khi cuốn “cẩm nang bà già ham vui” này cho rằng họ có thể ngủ với bạn của chồng cũng được, chỉ là sex thôi mà. Đâu có đi nghe hòa nhạc, thắp đèn cầy ăn tối, chỉ là sex thôi mà.

“Tôi đặt trọng vai trò của tình dục. Thủ dâm cũng được, nhưng làm tình với con người thật thì vẫn tốt hơn”. Ngay cả với bạn của chồng? Bà ngập ngừng một thoáng rồi cả quyết: “Tôi cho rằng không nên phân biệt đối xử thái quá với bất kì đối tượng nào.”

Tự nhận mình đã nếm khá đủ mùi cuộc chơi trước khi lấy chồng, Helen dành lời nhắn nhủ cho các Cosmo độc thân: “nếu bạn không thể tìm thấy cái gã cưỡi ngựa trắng trên trán có đánh dấu dành sẵn cho bạn, thì đừng có lấy chồng, trừ khi bạn học được cách hài lòng với tình yêu của một anh chàng kha khá, rồi tự tay dạy chàng cưỡi ngựa trắng, uốn nắn hành xử cho chàng cho đến khi bạn có thể hầu như tự hài lòng.”

Chính bà là người ủng hộ việc tung chi chít lên trang bìa những rãnh ngực sâu hoắm năm 1965, một cuộc cách mạng hẳn hoi vào thời kì ấy. Nguyên tắc cơ bản về nội dung thì không khác mấy so với mấy cuốn sách dạy nữ công gia chánh, với phương châm: cứ tuân thủ theo công thức và hướng dẫn, rồi bạn cũng sẽ trông như thế này!

Và chỉ với sự thân thiện hào phóng như thế, các Cosmo girls thật sự đã đi tứ xứ, như Coca Cola có thêm bộ ngực nóng bỏng vậy! Sự khác biệt giữa Helen và một nhà hoạt động bình đẳng giới chính chuyên, đó là nhà hoạt động tin rằng phụ nữ bình đẳng với nam giới, còn Helen tin rằng gái độc thân bình đẳng với gái có chồng.

Vĩnh biệt Mẹ Cả

Hai tuần trước khi Helen qua đời, các nguồn tin kên kên bên ngoài cổng tập đoàn truyền thông Hearst bắt đầu hỉ hả rúng động với tin bà sẽ rời vị trí đại tổng biên sau những thập niên lẫy lừng tại vị. Người ta lại nhớ đến một cuộc sa thải dịu dàng với danh dự tổng biên Cosmo Mỹ để dẹp chỗ cho kẻ kế vị Bonnie Fuller 39 tuổi. Helen lịch thiệp cho rằng đây là lẽ tất nhiên “Sẽ chẳng hay ho gì khi để một lão yêu tinh già như tôi ngồi biên tập những trang báo cho mấy nàng gái phố lớn 23 tuổi. Họ đã làm điều đúng đắn, và thực thi nó một cách nhã nhặn.”

Những ai biết rõ hơn về Helen sẽ hiểu rằng đây không phải là một cuộc từ nhiệm êm ái. Cosmo-girl lâu năm ấy chưa bao giờ tự chuẩn bị cho mình để trở thành một cụ bà cao niên lẩn khuất thư nhàn và bị lãng quên, bà chưa bao giờ sẵn sàng để ngừng làm việc, cũng như việc Helen ở tuổi 90 vẫn đều đặn tập thể hình, và cầu viện đến thủ pháp căng da mặt – bà thậm chí chưa sẵn sàng để ngừng yêu đương. Các độc giả của số Cosmo đầu tiên giới thời Helen, giờ cũng đã chí ít tầm 50 tuổi, và khẩu khí của Helen, từ số tạp chí năm 1965 đến nay, vẫn không hề thay đổi.

Năm 1988, Helen bị công kích dữ dội khi cho phép đăng bài viết về AIDS, trong đó viết rằng quan hệ tình dục dị tính không mang lại nguy cơ lây nhiễm cho phụ nữ, ngoại trừ một số tư thế nhất định. Helen bị lên án đã hồ đồ, thiếu kiến thức và vô trách nhiệm. Kể từ đó, tờ Cosmo hầu như không còn đề cập đến đề tài căn bệnh thế kỷ, nhưng bản thân Helen lì lợm thì vẫn không có vẻ gì là thay đổi quan điểm cá nhân.

Đã có cả một cuộc cân nhắc chuyên nghiệp nhất để tính toán cho sự thay đổi của tờ báo sau những thập niên dưới tôn chỉ tuyên giáo của Mẹ Cả Cosmo, và tập đoàn Hearst đã có điều họ cần – một thực tế duy nhất để thải hồi vị nữ thần vệ quốc sớm 18 tháng trước hạn định của hợp đồng trách nhiệm. Mẹ Cả kiêu hãnh trả lời “Tất cả vụ om sòm này đến tai tôi sau cùng, và tôi là người hết hồn khi biết tin. Đơn giản là tôi chả đang rời đi đâu cả.”

Hai tuần sau khi tin đồn phát tán, tin tức nóng hổi được xác thực duy nhất từ nhà Cosmo là cái chết của Helen.

Frank A. Bennack Jr., CEO của tập đoàn Hearst bùi ngùi vĩnh biệt vị nữ đại công thần quá cố: “Helen Gurley Brown đã là một biểu tượng. Nguyên tắc trung thực và thẳng thắn mà bà vẫn luôn cổ xúy độc giả cùng áp dụng vào cuộc sống, các mối quan hệ, sự nghiệp, và cả vẻ đẹp đã cải mệnh cả nền công nghệ báo chí. Bà đã sống dày và giàu từng ngày trong cuộc đời ấy, và bà sẽ vĩnh viễn được tưởng nhớ như một Cosmo Girl đúng nghĩa. Chúng tôi sẽ rất nhớ bà!

Vâng, và chúng tôi sẽ rất nhớ bà, Helen!

bạch mao nương

Túy Ca

Là tàn dư sống sót từ “kỷ haute couture” hoàng huê kiều mị, Nàng sở hữu một nhan sắc của loài hồ ly thành tinh mà hóa thánh – vừa gợi tình, u mặc, vừa ngạo mạn tôn nghiêm. Nàng là nhân chứng hoàn hảo cho tinh túy nhan sắc Đàn Bà.

Như chính dòng nước hoa trứ danh Nàng từng đại diện, Carmen Dell’Orefice đã có những note hương đầu tươi tắn của tuổi 15 hoàng hoa hiển hiện sắc hương dậy thì trang bìa nhà Vogue, một tầng hương giữa vừa nồng nàn mùi hormon đàn bà, vừa u thảm những chuyến đò bến đục, của xa hoa, khánh tận, và đam mê. Nhưng nhan sắc madame Carmen mới thật sự lộng lẫy ở những note cuối cùng, quý phái dư sắc trầm hương của giai nhân 80 tuổi – người mẫu cao niên nhất của lịch sử catwalk thời trang.

Cuối thập niên 1950, cả thế giới mắc chứng ngứa ngáy hàng loạt bởi câu nói của đào Monroe rằng nàng chỉ ‘khoác’ vài giọt Chanel No.5 lên người khi đi ngủ. Người ta coi người đẹp tóc vàng này là một đại sứ vinh hiển cho danh tiếng nước hoa No.5 nhà Chanel. Trong khi đó, ngược chiều đám đông, bà Coco lại chọn một người đàn bà khác cho những shot ảnh quảng cáo lọ nước hoa bất hủ kia: Nàng có một khuôn mặt thanh tú, đôi gò má bén ngót, chiếc cổ của loài linh dương, nụ cười mệnh phụ quý phái và đôi mắt yêu tinh. Shot ảnh, cũng như dòng nước hoa và chính người đàn bà trong ảnh, trở thành những chuẩn mực trường tồn.

Nửa thế kỷ sau, No.5 vẫn ngự ngai chí tôn của dòng mùi hương xa xỉ, và mệnh phụ tóc trắng Carmen Dell’Orefice lại vừa sải bước hồng hạc trên catwalk mùa SS2012 vừa qua, sau khi mừng sinh nhật tròn 80 tuổi và học hàm tiến sĩ danh dự của trường Đại học Nghệ thuật London.

Như những note cuối của dòng hương tuyệt tác, nhan sắc của người đàn bà khi lắng xuống như note trầm đằm thắm trong sự quý phái đến mức tôn nghiêm, đó là khi dung nhan trở thành khí chất, và hóa thánh cho người đàn bà sặc sụa vẻ quý phái được giới hậu đài mọi sàn diễn couture kính cẩn gọi bằng hỗn danh The Countess (Bà Bá Tước).

Nàng ballerina của Dalí

Là kết quả cuộc dan díu tồi tệ đủ để nảy mầm một nhan sắc mặn mòi nhất nhì trong lịch sử loài người, sự kết hợp hoàn hảo giữa cái ngạo mạn hoang dã của tay nghệ sĩ violin Ý, với vẻ thanh tú uy nghiêm của một vũ nữ ballet Hungary, Carmen đã trải qua tuổi thơ vạ vật ở viện tế bần, trải qua cơn bệnh thập tử nhất sinh ở tuổi 12, được phát hiện trên một tuyến xe bus ở tuổi 13 và xuất hiện trên bìa Vogue chỉ 2 năm sau đó; 3 đức ông chồng, 3 bận phá thai và 2 lần phá sản, nàng vẫn lộng lẫy xuất hiện tại mọi tuần lễ thời trang từ Paris đến New York, nàng đốt nóng sàn diễn của những thiên tài đương đại từ Thierry Mugler, Jean Paul Gaultier đến John Galliano bằng ngọn lửa bạch kim trên mái tóc bồng, khuôn mặt của yêu nữ thành tinh với cặp lưỡng quyền có thể dùng để cắt bánh mì.

Cách đây 67 năm, sau shot ảnh đầu đời do Herman Landschoff chụp thử, mẹ nàng nhận được lá thư từ chối khéo léo rằng “cô Carmen Dell’Orefice tuy rất khả ái, nhưng đáng tiếc, không mấy ăn ảnh”. Carmen lại tiếp tục cam chịu sự chê bai chì chiết từ bà mẹ nghèo nhưng cầu toàn đến khắc nghiệt. Cho đến nay, đã là cụ bà cao niên hiếm có, Carmen vẫn rùng mình khi nhớ lại “Tôi bị phũ phàng tước sạch mọi sự tự tin, đến đôi tai của mình cũng khiến tôi ngượng ngùng vì xấu hổ”. Chỉ có người cha đỡ đầu của cô đã không tin vào điều đó. Ông âm thầm gửi bức ảnh đến tòa soạn nhà Vogue. Một năm sau đó, hình ảnh của Carmen đã xuất hiện lẫy lừng trên trang bìa tạp chí này.

Ngày ấy, nàng chỉ là cô gái nhỏ còi xương đang chơi trò tình yêu với cậu con trai nhà bán tạp hóa trong xóm, và thoắt trở thành nhan sắc trang bìa của một trong những tờ tạp chí thời trang hùng mạnh nhất toàn cầu, nhưng vẫn trượt patin đến studio để tiết kiệm tiền đi xe bus.

Chính trong thế giới thời trang, Carmen tìm được cho mình người mà nàng coi như người mẹ thứ hai – người mẫu thượng hạng Dorian Leigh. Nàng hay gọi bà là “má”, còn Dorian trở thành thân chủ của những chiếc váy do nàng và mẹ nàng may.

Dorian Leigh

Má Dorian cho nàng một ít tiền để đi taxi đến nơi làm việc, còn nàng dùng tiền đó để mua thức ăn mang về nhà. Năm 1947, với sự can thiệp của “má Dorian”, khoản thu nhập còm cõi của cô gái trẻ được nâng lên mức 10 dollar mỗi giờ và thậm chí đến 25 dollar với các shot hình quảng cáo.

Ở tuổi 16, Carmen trở thành một trong những người mẫu trang bìa trẻ tuổi nhất của Vogue, là cục cưng của các nhiếp ảnh gia khét tiếng nhất cùng thời. Shot ảnh bìa cho Harper’s Bazaar năm 1960 do Melvin Sokolsky chụp mang tên Carmen Las Meninas đã trở thành bức ảnh huyền thoại được phổ biến và săn lùng khắp thế giới.

Với một sự xanh xao, dáng điệu kiêu kỳ, và khả năng tạo dáng siêu phàm với đôi cánh tay như cặp chân loài hồng hạc, Carmen chính thức trở thành nàng thơ của danh họa thiên tài Salvador Dalí.

Quyền lực của hormon đàn bà và gã bần tiện tốt số

Đến thời điểm này, trái với sự chờ đợi của hãng đại diện người mẫu và tờ Vogue, nàng thiên nga con vẫn chưa chịu thật sự bung nở vào vẻ đẹp thiếu nữ đến thì. Thất vọng với cô nhỏ còi cọc, hãng Eileen Ford từ chối tiếp tục đại diện cho Carmen, trong khi nhà Vogue cũng tỏ ra thờ ơ nhạt nhẽo, còn các photographer cũng đã chán ngấy việc phải chờ stylist nhồi khăn giấy vào áo ngực của cô thiên nga chậm lớn.

Đó là khi Carmen phải cầu cứu đến y học và những mũi tiêm để kích hoạt các dấu hiệu dậy thì. Như một lối thoát sự nghiệp hơn là một đòn trả đũa, Carmen bắt đầu nhận lời chụp catalog và nội y, với đôi bàn tay dài muốt che khuất gương mặt và mức lương vọt lên đến 300 dollar mỗi giờ.

Với lượng hormon đàn bà được kích phát bởi sự can thiệp của y học, Carmen một lần nữa ngự thế thượng phong làng mẫu với những đường cong ngốt người và sự già dặn bắt đầu nhuốm màu trên khuôn diện tiểu nữ thần.

“Khi này tôi mới 17 nhưng trông như một bà 35”. Cả một dạ tiệc đã được tổ chức long trọng để giới thiệu tiểu thần nữ vừa chín tới với các quý ngài trẻ của New York. Nàng nhanh chóng thu hút được sự ngưỡng mộ của các công tử hoang đàng phố lớn, từ tay chơi De Cicco, Igor Cassini cho đến Joseph P.Kennedy.

Nhưng tầm ngắm của giai nhân lại dừng lại ở ngài William Miles chững chạc, hơn nàng những 10 tuổi và là một doanh nhân. Nàng thuận ý kết hôn, và nhận ra mình chỉ đơn giản đã gia nhập một hãng đại diện tồi tàn và keo bẩn nhất trong lịch sử. Đức lang quân cương quyết bắt nàng phá thai, thâu tóm mọi món thu nhập của nàng, hàng tuần đích thân đến hãng nhận tiền lương của vợ và chi cho carmen 50 dollar mỗi tuần dằn túi. Nàng ly dị chồng ngay sau khi bé gái Laura ra đời, như nghiệp mệnh để lại từ mẹ nàng. Tóc nàng bắt đầu trổ bạc từ đấy. Đến tuổi 43, Carmen quyết định chấm dứt việc nhuộm tóc khi toàn bộ đã chuyển sang màu trắng bạc, cho nàng một vẻ uy nghiêm nửa như một nữ thần, nửa xa lạ như một loài linh thú diễm kiều, chính thức vĩnh biệt hình ảnh đằm thắm của nàng ballerina tóc mun.

Nhiếp ảnh gia cơ hội, một gã nghiện, và một xác chết

Không phải mất quá lâu để nàng lại khép cánh tình hồng hạc vào vòng tay nhiếp ảnh gia Richard Heimann sau chỉ 6 tháng quen biết. Thiếu phụ ngờ nghệch say sưa với cuộc hôn nhân mới và rắp tâm nghỉ hưu non để chuyên chú nghiệp tòng phu, và gã nhiếp ảnh gia cơ hội bỏ rơi nàng ngay tức khắc.

Chuyến sang sông lần thứ ba của nàng cũng diễn ra không lâu sau đó, với kiến trúc sư Richard Kaplan. Lời thề “cho đến khi nhắm mắt” trên thực tế kéo dài chưa đến 10 năm. Chàng hóa ra là một con nghiện hạng nặng, và họ chia tay khi Carmen khám phá ra việc đức phu quân lôi kéo cả cô con gái riêng của nàng là Laura vào vũng lầy ma túy. Về sau, Laura trở thành chuyên gia tư vấn cai nghiện có tiếng tại California.

Sau cuộc ly dị cuối cùng, giai nhân tuyệt vọng thất thểu trở về sàn diễn, và từ đó đến nay, dù vẫn dập dìu lên xuống vài chuyến đò tình tròng trành và chóng vánh, Carmen không còn rời bỏ sự nghiệp lần nào nữa – nàng dành sự chung thủy duy nhất cho điều sẽ không rời bỏ nàng. Và quả tình, sàn catwalk chưa thủy chung bền bỉ với bất cứ người mẫu nào như với Carmen.

Điều kì lạ là Bạch Mao Nương vị tình vẫn tiếp tục giúp đỡ các ông chồng của nàng ngay cả sau này. Nàng khuyên Ông Ba trở thành tay máy điện ảnh, chi trả mọi khoản để ông này trở thành đạo diễn, và cuối cùng thì phim Godspell cũng ra đời. Carmen xoa tay tâm đắc “Ít ra, có một số khoản đầu tư của tôi cũng có ích đấy chứ!”

Mãi đến cuối thập niên 1980, nàng rón rén thử thời vận một lần nữa với David Susskind – một host truyền hình lịch lãm. Nhưng quý ngài talkshow lăn ra chết trước ngày cưới, tưởng như chấm dứt mọi cố gắng cuối cùng của madame đa tình Carmen.

Nhan sắc lưu vong trong vòng tay tài phiệt

Cuộc đời người đàn bà có nhan sắc của mụ phù thủy hoạt hình ấy hẳn không hề là một chuyện thần thoại màu hồng. Nhưng tư chất kiêu hãnh tự tại, sự vô ưu khoáng đạt trong triết lý sống, mặc nhiên với mọi biến cố của số phận và con người ném về phía mình khiến người đàn bà trở thành một thánh mẫu uy nghiêm và vô nhiễm.

Không hẳn nàng là thể loại “lạc quan không khoan nhượng” với một niềm đam mê và tham vọng cào cấu bên trong để dằng dai bám trụ trong giới phồn hoa của thời trang cao cấp. Điềm tĩnh và thăng bằng hoàn hảo như một tư chất tối ưu của một vũ công ballet, nàng đào luyện cho riêng mình một nụ cười mềm mại, bí ẩn, nửa vị tha nửa mai mỉa vào mọi cú đá của số phận, nhưng vẫn ủy mị đàn bà đủ để thốt lên đầy sầu thảm “Than ôi, tôi biết làm gì khác đâu nào!”, rồi giang đôi cánh tay yêu kiều với những ngón dài hoa mỹ trong một dáng vẻ vừa bất lực, vừa sang cả đến cầu kỳ.

Nàng là nàng thơ của những cái tên khắc dưới chân mọi tượng đài, từ Horst, Avedon, Penn và Parkinson, cho đến thiên tài cổ quái Salvadore Dalí. Và nàng hẹn hò dan díu cũng với không ít trong số đó, mà nổi tiếng và ồn ào nhất là nhiếp ảnh gia Norman Parkinson. 41 tuổi, họ gặp nhau tại một bữa tiệc, ông khen rằng nàng “trông không đến nỗi nào so với một cái túi xương cũ nát” và khuyên nàng quay trở lại sự nghiệp người mẫu. Dalí tôn thờ nàng, còn “người đàn bà mặc quần và nhảy múa” Dietrich thì có lần lau dọn bếp cho nàng. Đó là một cuộc đời mà ký ức được nạm óng ánh bởi kỷ niệm, khuôn mặt và dấu ấn tài hoa của những siêu sao, thiên tài và huyền thoại.

Nhưng ánh hào quang của các tinh hoa thiên tài chỉ là thứ tài sản quá trừu tượng cho đời sống một bậc nhan sắc, còn những quý ngài trẻ tuổi si mê bộ môn tình ái với các quý bà độ tuổi mặn mòi lại không đam mê chiến tích cưu mang một nữ hoàng thất thế.

Nàng chọn đặt mình vào vòng tay tài phiệt. Trong những năm 80 và 90, Carmen thua toàn bộ tài sản vào thị trường chứng khoán, khánh tận đến mức phải đấu giá toàn bộ những bức ảnh quý từ thập niên 40, trao tất cả cho nhân tình là Norman Levy để đầu tư cho Madoff trong canh bạc chết người của thị trường tài chính. Trong suốt 12 năm, vợ chồng nhà Madoff cùng cặp đôi Carmen – Norman luôn thân thiết cặp kè cùng nhau như một gia đình hảo hữu tầng thượng lưu.

Có vẻ cuối cùng, Bạch Mao Nương đã tìm được chiếc áo vừa vặn, ấm áp và thừa lộng lẫy xa hoa để xứng hợp với mình: một người tình, và một nhà tư vấn đầu tư ngoại hạng.

Vụ lừa thế kỷ, và thứ tài sản không thể tịch biên

Levy mất năm 2005 khi 93 tuổi, để lại cho người tình cuối đời của ông là Carmen toàn bộ tài sản trị giá 244 triệu Mỹ kim, nhưng dưới quyền thừa hành và cai quản của hảo hữu Madoff.

Carmen khép cánh phù dung, sống an nhàn và vô ưu thụ hưởng trong sự tin cẩn tuyệt đối mà Levy dành cho Madoff – kẻ nắm trong tay vận mệnh tài chính của người đàn bà phù phiếm. Nàng Carmen âu sầu và đơn độc đều đặn đi ăn tối cùng người bảo trợ khôn ngoan và ân cần, nhưng những lần này không còn sự hiện diện của phu nhân Madoff.

Cùng lúc, thâu tóm quyền quản lý và đầu tư tài sản của Levy, Madoff dùng con số mê hoặc 244 triệu để thu hút hàng loạt nhà đầu tư thiêu thân khác vào vụ lừa lịch sử. Tháng 12 năm 2008, một nhà đầu tư khác, cũng là một quý bà đã gửi trọn tài sản tiết kiệm cả đời cho Madoff, gọi điện cho Carmen và cho nàng hay rằng Madoff đã thua đến đồng xu cuối cùng số tài sản khổng lồ của nàng cùng hàng loạt nạn nhân khác vào sàn chứng khoán. Yêu kiều, nàng thốt lên rền rĩ “Vậy là tôi khánh kiệt những 2 lần trong đời rồi đấy!”

Trắng tay, Bạch Mao Nương lại quay về với thế giới của những shot hình và catwalk, nơi nàng luôn được tôn thờ và chào đón, dù đang ở độ tuổi nào: “Tôi biết làm gì khác đây, khi những người đàn ông bỏ ra đi hoặc trở nên bất lực, hoặc chết? Làm mẫu là điều duy nhất tôi biết làm để tự nuôi mình, là lãnh vực duy nhất tôi am hiểu, và là thứ duy nhất khiến tôi hứng thú, nơi tôi yêu và được yêu lại”. Và cũng là thứ duy nhất thủy chung bề bỉ với nàng từ thập niên này sang thập niên khác.

Liệu tổn thương mà người tình quá cố để lại cho nàng – tay Madoff lừa đảo, có khiến trái tim già nua mệt nhừ của Bạch Mao Đại Nữ vĩnh viễn đóng cửa trước ái tình (dẫu chỉ trong tròm trèm 20 năm còn lại). Bạch Mao Nương lại lim dim khóe mắt bén ngọt viền chân chim “Nhà ngân hàng chắc sẽ lấy mất của tôi nhiều thứ. Nhưng không phải Tình Yêu”.

Tuy nhiên, lúc này có vẻ như Bạch Mao Nương đang không thuộc về vòng tay gã đàn ông nào cụ thể cả, nhưng chớ vội cho rằng đó là bởi dòng hormon hiếm hoi của tuổi dậy thì đã cạn kiệt trong cơ thể người đàn bà ấy. Khi được hỏi liệu dục tình đối với nàng khi này có còn là điều quan trọng, nàng hỏi lại “Thế thở có quan trọng không?”

Gần đây không lâu, khi được hỏi về một trong những bí quyết giữ vững chiếc vương miện nhan sắc trên đỉnh đầu kiêu hãnh, cụ bà kiều mị 80 tuổi đã hồn nhiên liệt kê ngoài những hãng kem thoa mặt và thực đơn chay tịnh là những buổi đánh golf cùng nhân tình trẻ, với tuổi đời chưa bằng một nửa của mình. Nàng đã học được thứ kiến thức ái tình khôn ngoan nhất của người đàn bà: si mê nhưng không tôn thờ, thụ hưởng nhưng không phụng sự.

Note lưu hương lộng lẫy tuổi 80

Áp lực nặng nề nhất cho một nữ cao niên 80 tuổi trong thế giới người mẫu “Đó là khi mấy tay designer đời mới cứ nằng nặc bắt tôi xỏ vào mấy cái quần da mà cả đời tôi không bao giờ mặc tới”

Nàng không than vãn, chỉ là “Bạn biết đấy, khi bạn ngấp nghé ngưỡng 80, áp lực không chỉ là nhan sắc, mà trên hết, đó là lòng tự tôn và danh dự – những note cuối cùng tinh túy nhất của nhan sắc đàn bà để dung nhan vào huyền thoại. Dẫu sao thì bản thân tôi cũng đã là một di tích sống rồi”. Thái độ thăng bằng và tuyệt đối quý phái của madame Carmen trong tình trạng khánh kiệt không khỏi nhắc người ta nghĩ đến một Marie Antoinette trên đường đến đoạn đầu đài, nhưng với Carmen, nàng tiến bước lên sàn catwalk.

Từ thời thủy tổ của nghề người mẫu, việc tuổi thọ các công dân catwalk vượt quá 24 đã là điều hiếm. “Thì tôi cũng nghĩ vậy. Tôi nghỉ hưu lần đầu năm 1959, hồi mới lấy ông chồng thứ hai được hai tuần. Ông ấy liền bỏ tôi vì điều đó, thế là tôi lại quay về với thời trang.”

Sẽ là sai lầm trầm trọng nếu cho rằng ẩn sau cốt cách quý phái ấy là một Carmen đầy tuyên ngôn bình quyền của thế hệ các nhà hoạt động đội đá vá trời và thô kệch. “Giải phóng phụ nữ hả? Làm ơn đừng giải phóng tôi được không? Tôi đã phải làm việc thật sự cật lực để đàn bà được như thế này. Tôi hết mình tôn trọng các bà các chị dũng cảm và giỏi giang ấy, nhưng làm ơn lắng nghe này, một khi bạn đã ở một độ tuổi nào đó như của tôi đây, làm ơn giữ lại cặp nịt ngực trên người. Năng động, tự do, với cặp nhũ thõng thệu thì cũng vẫn khó coi như thường”

Và nàng vẫn nghiễm nhiên là tượng đài sống của giới thời trang, từ các designer đến mọi siêu mẫu hàng thượng thặng. Nàng lộng lẫy, hào nhoáng, phù phiếm và tinh tế đến từng chiếc móng tay, nhưng đài các và tôn nghiêm như một nữ bá tước thời phong kiến trong bộ cánh thời thượng cầu kì, một chứng nhân sống sót của “kỷ haute couture” hoàng kim lừng lẫy.

Tất cả những điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với xuất thân bần hàn của cô bé còi cọc trượt patin đi làm thêm và tự may váy cho mình từ những tấm vải thừa. Vào những ngày đó, nàng và cô bạn chí thân là Suzy Parker – người mẫu cục cưng của Chanel, thường tha theo mình chiếc máy may trong những lần lưu diễn đến Paris. Họ say sưa ngắm nghía những vật phẩm xa xỉ của thời trang trong mọi buổi diễn, rồi về phòng khách sạn và tự may lấy cho mình những bộ váy tương tự, theo kiểu Paris, để mặc đến các buổi tiếp tân, dạ hội.

Hẳn nhiên, ngày nay, Carmen không còn phải tự cắt may xống váy cho mình nữa, nhưng có tới 5 chiếc máy may: “Bạn bè cũ, cứ chết đi là di chúc tặng lại cho tôi chiếc máy may cũ thuở cơ hàn của họ. Mà biết đâu đấy, nhà ngân hàng cứ gửi thư đòi tiền, lại dọa tịch biên căn hộ này của tôi bất cứ lúc nào. Có thể tôi sẽ lại cần đến chúng, quan trọng là sẽ vẫn có những buổi dạ tiệc cần xuất hiện cho tươm tất đàng hoàng. Có những thứ nhan sắc chỉ hoàng hoa vào cao trào của thanh xuân và phần số, rồi lụi tàn trong một thứ hương thừa héo hắt. Nếu là một loại nước hoa tỏa hương bền bỉ, bạn sẽ muốn những note cuối chỉn chu.”.

Chat với Carmen

Trí tuệ, nhan sắc, hay tài sản?

Tất cả. Nhưng theo thứ tự như trong câu hỏi.

Mơ ước thời thơ ấu của bà?

Hạnh phúc! Không đói. Và tự do.

Hầu như bà đã gặp, làm việc cùng, quen biết tất cả những tượng đài, vĩ nhân làng thời trang thế giới. Còn sót ai mà bà chưa gặp?

Madame Curie và Pierre Teilhard de Chardin

Hãy mô tả bản thân trong 3 từ.

Cao, bất hủ, khôn ngoan.

Vật gì bà luôn mang theo người?

Bằng lái, trong đó có ghi rõ tôi là người hiến xác, địa chỉ nhà mình, và chìa khóa.

Ai là người ảnh hưởng đến bà nhiều nhất?

1.     Mẹ tôi, nay đã mất

2.     Người bạn và chỗ dựa tinh thần suốt 64 năm là Eileen Ford, giờ đã 90 tuổi rồi

3.     Bạn gái thân suốt 58 năm Margaret Hoffman, giờ 95 tuổi và tinh thần minh mẫn hơn bao giờ.

4.     Sau đó là mọi quý ngài đã từng yêu tôi (sau cha tôi)

Nỗi sợ lớn nhất của bà?

Đạp vỏ chuối, trượt té.

Lần cuối bà nói yêu một ai đó là khi nào?

Cỡ 20 phút trước.

Lời khuyên tuyệt vời nhất bà từng được trao?

Hồi đó mẹ tôi nói “Thiên hạ đều có thể sai bét, và con luôn đúng!”

Trời ơi, bà mới chí lý làm sao!

đàn bà như hương…

by f.

Sự khác biệt giữa một dòng hương siêu phẩm và phiên bản tội lỗi của hàng nhái, dẫu trí trá tinh xảo đến mấy, vẫn  nằm ở cuộc đan xen ngoạn mục của những note hương trong một bản tổng phổ hòa hương vi diệu.

Với một dòng nước hoa siêu phẩm, mỗi tia bụi nước là cả một bản giao hưởng tài tình, một câu chuyện được “lắng nghe” bằng khứu giác và tiềm thức. Nó là âm nhạc, là hình ảnh, nó có những biến cố, những nút thắt oái oăm dẫn đến những cao trào đậm đặc huy hoàng.

Mỗi một loại nước hoa là một câu chuyện khác nhau, mà giá trị chắt lọc lại trong những note dư hương cuối cùng với ma lực ám ảnh dằng dai.

Khi dàn giao hưởng đã tấu hết note cuối cùng, sợi vĩ vẫn còn rung lên dư chấn khoái cảm, như chính sự run rẩy cuối cùng của từng tế bào khứu giác, ngân nga thứ âm nhạc vô ngôn của da thịt.


Người ta nói đến những thiên tài âm nhạc và văn chương, những kẻ đã tác tạo nên cho nhân loại những phần đời hoang tưởng để sống giàu hơn một số phần hữu hạn, để đi nhiều hơn đôi chân có thể, trải rộng hơn không gian đời người, phá mọi quy luật logic để thả mình vào một thế giới hoang đường trong vài trống canh thụ hưởng.

Nhưng không mấy ai biết đến những thiên tài về mùi hương – các perfumer, những sinh vật thượng tầng với khứu giác siêu phàm và gout hưởng thụ duy mỹ. Họ là những tay phù thủy biết tiêu khiển với tiềm thức, tái hiện những cảm xúc xa xỉ nhất của tinh thần lãng mạn và ký ức. Họ xâu chuỗi và sắp đặt các note hương vào những bản tổng phổ kỳ vĩ trong kết cấu 3 chương, được tấu lên vào khoảnh khắc chạm đến làn da, rồi thăng trầm những biến cố, li điệu suốt hàng giờ sau đó, để rồi lắng đọng, nhường chỗ cho những note cao quý sau cùng.


Một dòng hương thứ phẩm sẽ chỉ còn hăng hắc lớp hương bề mặt của loại nước tẩy mùi, chông chênh lấp liếm bụm che những dấu vết tố cáo thứ mùi bài tiết thật thà sống sượng. Cả hai sẽ trộn lại, trấn áp và tố cáo lẫn nhau trên cùng một bản thể.

Chỉ với một hợp thể kiêu hãnh của văn minh thời trang, người ta mới thụ hưởng được những note hương thượng hạng cho khứu giác – những điều đọng lại cuối cùng, tôn nghiêm và đầy ám ảnh.

Đối với một mùi hương, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài tối đa 8 tiếng.

Đối với một tuyệt phẩm đàn bà, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài hơn cả 80 năm.

Có lẽ khi gã Maurice rậm râu, cha đẻ của dòng hương sến cách tân nhà Lolita Lempicka đã nghĩ về nàng thơ của danh họa Salvador Dalí khi thốt lên lòng ngưỡng mộ dành cho những người “đàn bà Hungary với sự kiểu cách của người Pháp”.

Bởi Nàng là một thứ xa xỉ phẩm của lịch sử catwalk thời trang, một tạo vật hiếm hoi mà Chúa trời ắt đã thiết kế nên trong tình trạng lâng lâng phê thuốc.

Với những cấu thành tinh túy nhất của xuất thân, nàng mang dáng dấp nữ hoàng của một vũ công Hungary và nét hoang dã bạo tàn của một tay hoang đàng người Ý.

Nhưng những thành phần tuyệt hảo đó đã không ủ nồng dậy men, nếu không có những thăng hoa và thống khổ đến tận đỉnh lẫn đấy, nếu không có những chê bai bỉ báng, những bận khánh kiệt khốn cùng để thấy tài sản duy nhất còn lại để làm nên một danh dự đàn bà – khả năng Yêu.

Và lịch sử thời trang đã cho nhân loại một người đàn bà như vậy – người mẫu 80 tuổi Carmen Dell’Orefice.

Mỗi người đàn bà là một mùi hương riêng biệt.

Mọi tầng hương đầu đều khoa trương, kiều mỵ hay diêm dúa.

Nhưng thời gian qua đi, vài giờ, hoặc vài thập niên,…

điều còn lại cho những note nhan sắc cuối cùng là danh dự, sự kiêu kỳ của tư chất tự tại, thanh tao và vô nhiễm.

 

Người ta sẽ thảng thốt nghiêng mình khi lặng người nhận ra note hương cuối mà Maurice nghiêm cẩn tác thành nên Fleur de Corail diêm dúa lại là những note trầm hương, với những ưu chất mà ông gán cho khái niệm đàn bà thượng đẳng: tôn nghiêm, xa cách, và gợi dục đến cầu kì.

 

Đàn bà như hương, sự suồng sã cuối đời sẽ bóp méo hình mạo đến nhăn nhúm mà rỉ ra thứ hương bài tiết.

Còn những quý bà chân chính – họ trải qua tuổi trẻ để tạc nên những khắc vạch tuổi già lên những phiến trầm hương.

dân Anglais thứ thiệt

Trác Thúy Miêu

Alice Temperley coi trọng những điển lễ, những dịp hội hè, và nhất là các đám cưới. Đó chính là người phụ nữ mà các nữ nhân hoàng tộc Anh quốc tìm đến để tham vấn chuyện sắc phục hội hè, và cả các fashionista trung lưu. Dù đó là đám cưới thôn trang vùng Glastonbury ảm đạm, hay các tân nương da nâu đến từ trảng nắng sóng sánh mật ong ở miền địa đàng Tuscany, nữ tông đồ người Anh sẽ vẫn phủ lên họ một lớp kem màu ngà như truyện cổ tích, biến họ thành những nàng Lolita vừa chín tới trong bộ cổ trang thời thượng, phóng khoáng và hoang đàng, hòa quyện oái oăm với duyên trầm mặc của một Jane Eyre thanh đạm nhưng kiêu kỳ dòng máu Anglais.


Chiếc váy màu cẩm thạch cho em gái công nương

Cách đây không lâu, ngày mà Sarah Burton đăng quang bằng bộ váy cưới hoàn hảo cho công nương Kate Middleton, nhưng cô em gái Pippa lại xuất hiện với chiếc váy màu xanh ít nhiều làm lu mờ cả cô chị trên đỉnh hôn nhân vương giả, thì cả nước Anh và châu Âu đã hướng sự ưu ái đặc biệt đến Alice Temperley – người đàn bà làm nên bộ váy màu cẩm thạch trứ danh nọ. Nàng lập tức được cả hoàng tộc vồ vập, bắt đầu với chính tân công nương Kate Middleton cho đến bà mẹ kế nhà chồng Camilla.

“Điều thú vị nhất với tôi là hình ảnh Pippa rời bữa dạ tiệc trong chiếc váy xanh, nó đã lan xa tới tận những đâu đâu.” Ngay buổi sáng sau ngày Sarah Burton lẫn Kate Middleton đăng quang với chiếc váy cưới hoàn hảo, trong khi cô em đăng quang thần tượng thời trang trong lòng mọi con dân tín đồ Anh quốc, thì tại Notting Hill, Alice Temperley bị tấn công bởi những yêu cầu mua các phiên bản của chiếc váy màu ngọc trứ danh ấy. Nhưng nàng từ chối “Pippa xứng đáng được sở hữu riêng chiếc váy ấy cho mình. Và tôi cũng không định làm rùm beng lên chỉ vì một chiếc váy, chỉ là một chiếc váy.”

Với giải Designer of the Year tại sự kiện 2011 Hollywood Syle Awards, cuối cùng thì bà trùm áo cưới Ăng-lê Alice Temperley nghiễm nhiên trở thành cục cưng của cộng đồng sao Mỹ, nhưng không ít nữ yếu nhân danh tiếng xứ cờ hoa, những cô đào Mỹ thượng hạng tìm đến tiệm Temperley và được khéo léo chối từ, thường là với lí do “chỉ còn hàng bày mẫu”. Các ngôi sao bước ra khỏi cửa tiệm nhà Temperley kiêu ngạo, nhún vai ngán ngẩm trước sự bảo thủ lì lợm của người đàn bà Anglais cuồng tín.

Alice cùng nhãn hàng vốn xưa nay khiêm tốn Temperley London bắt đầu thật sự được đặc biệt ưu ái bởi những nữ thân chủ hạng yếu nhân hoàng tộc, hoặc xoàng xĩnh ra cũng tầm minh tinh màn bạc, từ đào mụ đến đào tơ, và đặc biệt là những cô dâu tinh tế thừa đủ may mắn để đặt chiếc váy cưới Temperley London vào tầm ngắm. Lọt thỏm giữa cuộc tung hô quy mô rầm rộ ấy, bản thân Alice Temperley vẫn thu nhỏ, lặng lẽ, với một sự ngạo mạn của bản chất thuần chủng phớt tỉnh Ăng-lê.

Sự kiện đích thân Pippa – giờ đã vượt mặt cô chị trong vai trò thần tượng phong cách của giới fashionista Anh, xuất hiện thân mật ngay hàng ghế đầu trong show diễn tại New York của Temperley London, đủ khiến dân tình khiếp vía, báo chí râm ran những hàng tít lẫy lừng. Người ta sốt sắng muốn biết bằng cách nào Alice đã kéo được về phía mình một vị thân chủ thân thiết vương giả cỡ vậy, nàng chỉ ngơ ngác “Cô ấy lại mua đồ suốt, nhất là từ hồi đám cưới cô Kate. Rồi tôi rủ: ‘nè, Chủ Nhật tôi diễn show đó, cô thích coi không tôi để vé?’ và cô ấy đồng ý. Tôi không hề biết rằng nó sẽ được coi là một vụ tầm cỡ rộn ràng đến thế này, và tôi cũng không hiểu vì sao nó nên thế. Có lẽ rằng nếu cả tôi cũng nhảy cẫng lên vì cô Pippa, thì đó chẳng giống tôi chút nào, chẳng nằm trong sợi gene nào trong cấu tạo bản chất của tôi cả.

Pippa khả ái, tôi mến người khách hàng ấy và mời cô ấy đến show diễn của mình. Khái niệm này thì hiểu được, chứ còn bắt tôi cố nghĩ ra một điều gì phức tạp hơn thế thì không thể. Những điều đó với tôi xa lạ lắm.”

Người đàn bà thủ cựu và an nhiên ấy của lục địa già cuối cùng cũng nhẹ tâng đặt dấu ấn như đóng mộc hoàng gia Anh quốc lên thảm đỏ danh dự của những danh nhân dữ dằn nhất của làng thời trang thế giới, khi mà tầm cỡ quy mô của Tempeley London – cái tên cục bộ và kiêu hãnh, chưa thể gọi là một đế chế dàn trải đại đồng và hùng mạnh.

Tiểu quỷ vùng Somerset

Lớn lên ở điền trang Somerset, là trưởng nữ trong gia đình có 4 chị em, Alice luôn được cha khuyến khích nên trở thành một nhà nghiên cứu, hay một bác sĩ thú y, hoặc bất cứ thứ gì đại loại thế. Nhưng thừa hưởng từ chính cha mẹ mình niềm hứng khởi trong việc kiến tạo, cô gái dại dột lại thích cắt phăng những cái chụp đèn thời 1920 của bà thân sinh để làm nữ trang, nơ và xắc tay cầm chơi. “Mẹ tôi hay túm được tôi trong phòng ngủ của bà, bay thủ cái kéo to, lăm le quanh tủ quần áo của bà để cắt xén mọi thứ thành từng rẻo vải thảm hại, những chiếc khăn shawl, những chiếc váy, lồng chụp đèn, tất tật, một cách tàn nhẫn.”

Quả tình, cô trưởng nữ nhà Temperley có cho mình một vẻ hung hăng từ nhỏ “Tôi hung hăng cắt xén tóc mình tơi bời, rồi nhuộm lòe loẹt. Gần nhà tôi có bà hippie, hay tự nhuộm tóc bằng lá ngón cho đến khi nó đỏ rực rỡ lên. Tôi ấn tượng ghê gớm và học làm theo, nhưng tóc tôi lại ra màu cam chóe. Ở trường thì tôi bị coi là phần tử phiến loạn bởi những món tôi treo máng lên mình, tôi xé cụt vớ dài, cắt cao váy ngắn, đại loại thế, và cắt xén tả tơi cả những nội quy nhà trường. Tôi tuyệt vọng, tuyệt vọng, tuyệt vọng chực chờ cái ngày rời xa nơi ấy.”

“Tôi mê London. Có thể đi bộ ở mọi nơi, lang thang xuống mấy khu chợ cũ, vòng quanh Brick Lane, Covent Garden, lại ngược lối Soho sầm uất. Khi đó, tôi học chăm hẳn, bởi cho đến khi này, tôi thật sự được học cách kiến tạo thay cho cắt xé, xây thay vì phá. Trước đó tôi thích làm ra những thứ cầu kì chỉ để trưng bày là đẹp, và rồi tôi đã học được cách làm nên những thứ để trưng bày những gì lẽ ra nó che đậy, đó là cơ thể, rồi hơn nữa, đó là lối sống và tâm hồn.”

Với một tư tưởng duy mỹ hơn là một đầu óc chiến lược, Alice trở thành một quái tính được thời trang chính thống thuần dưỡng trong ngôi trường kì cựu của nước Anh. Cô bé Alice từ nhỏ đã biết đường loay hoay bán đi những đôi hoa tai thủ công trong trang trại trồng táo của gia đình, đã từng làm những món đồ thêu thủ công, những chiếc váy dạ tiệc đơn giản, bán cho các cửa hiệu dọc King’s Road và Covent Garden để tự trang trải tiền ăn học. “Điều này giúp tôi cân chỉnh kỹ năng sống và cả thái độ sáng tạo rất nhiều. Khi vào trường Royal College of Art, tôi đã biết làm mẫu và kinh doanh. Tôi nhận ra điều mình phải làm để bắt giấc mơ đi làm nuôi mình, và mình được trả tiền để sống trong mơ.”

Người đàn bà làm nghề may váy cưới

Nhưng chính sự thận trọng đó đã khiến một Alice Temperley không là một McQueen hay Gaultier phá chùa, bán trời không văn tự. Nàng kiến tạo nên những món xinh xắn, quý báu, và bất hủ tới mức an toàn. Khi mà các ngôi sao lẫn tín đồ đua nhau noi gương bạo ngược của Emilia Fox và Liberty Ross, và ít nhiều e dè với dòng góc cạnh của Kate Moss. Alice không chọn đạp đổ các thanh barrier, nàng chọn lòng tôn ngưỡng và tính công phu kỳ xảo, nâng tầm từng thiết kế lên hàng nghệ phẩm. “Tôi đang không cố chứng tỏ điều gì hay trở thành một hiện tượng mới nổi liều mồm. Tôi thuần túy thích tạo ra một cái gì đó mặc được, và mặc vào là đẹp. Không làm cách mạng, tôi làm đàn bà làm nghề may váy cưới, những bộ váy hoàn hảo.”

Temperley London đã ra đời như thế, ngay khi Alice tốt nghiệp vào năm 2000, với sự trợ lực hoàn hảo của tri kỷ Lars von Bennigsen.

Chỉ sáu năm sau đó, tờ Vogue Mỹ tung hô Alice là “nhà thiết kế gây sốt giữa đại cục thời trang Anh”, với những thiết kế mỏng manh màu ngà và trắng, những tảng đăng-ten thêu tinh xảo và dấu ấn những nghệ nhân thủ công siêu hạng của truyền thống may mặc đượm màu quân chủ.

Alice đã mang mình đi trên một đoạn đường xa là vậy, từ vùng thôn trang Somerset đến ngôi hội sở yêu kiều ở giữa khu Notting Hill thời thượng, với 5 nhãn hiệu độc lập, chiều chuộng những tín đồ vintage thượng hạng trên khắp 37 quốc gia, với từng thiết kế xứng đáng đượi coi là siêu phẩm tuyệt đỉnh của lối sống hoài cổ, lại hiển hiện một thái độ sống của mọi tiểu thư Ăng-lê đương đại.

Cho đến nay, chẵn một thập niên sau hôn lễ với Lars, những thiết kế váy cưới của Alice vẫn là một phiên bản hiển hiện buổi lễ thành hôn cầu kỳ nhưng tham đạm của họ, với chủ đề thẩm mỹ 1920, nơi nàng Alice Temperley chọn khoác cho mình bộ váy bằng chiffon nhàu, những mảnh ren tinh xảo nhất mà nàng cất công sưu tầm, được đính với những vảy cườm li ti chỉ 2mm rải rác, và tấm lưng trần đính chuỗi ngọc trân châu thanh nhã nhưng đầy khí chất công tằng tôn nữ kiêu sa.

Hầu như ngay lập tức, Alice, với tất cả đàn bà tính được thấm nhuần từ nền giáo dục cổ điển từ thời điền trang Somerset, đã ao ước thu gọn cuộc sống và mọi hoài bão vào một khuôn bếp gia đình. Khi này, chính Lars, với vai trò cái đầu tỉnh táo của Temperley London, và ngọn đại phong nâng đỡ cho sự nghiệp sáng tạo của vợ, đã không hề muốn có con. Mãi 6 năm sau, Alice mới được thỏa nguyện với đứa con đầu lòng.

Cũng cùng trong năm khai hoa, Alice chứng tỏ với vị quân phu CEO của mình một sự thăng bằng đáng nể mà nàng có thể dành cho hạnh phúc lẫn cơ đồ. Tháng Chín năm 2008, Alice tung ra sàn diễn bộ sưu tập xuân hè đình đám, và 5 ngày sau đó, nàng “tung” ra đời bé trai Fox London Temperley von Bennigsen Mackiewicz.

Giờ đây, gia đình họ lại tìm về sống ở Somerset 3 ngày mỗi tuần. Cô con gái vị trang chủ đã đi rất xa, chỉ để thong thả trở về, nhưng vẹn tròn và viên mãn. Chỉ với danh phận, các giải thưởng, những thân chủ có tên là Kate Middleton, Halle Berry, Scarlett Johansson và Sarah Jessica Parker, cùng tước hiệp sĩ hoàng gia MBE được phong tặng năm 2011 vì những cống hiến cho ngành thời trang Anh quốc, người ta mới hiểu được người mẹ trẻ chốn điền dã ấy đã đi bao xa.

Người đàn bà ngồi trong quả bóng thủy tinh

Đằng sau những thiết kế trầm mặc cổ điển, Alice Temperley đã từng được biết đến như một nữ hoàng tiệc tùng và tửu lượng đáng gờm. Đến giờ, người ta vẫn còn nhắc đến hồi sinh nhật tròn 30 vui nổ trời của nàng, cả một buổi dạ vũ Ả-rập với 400 vị khách mời ăn vận hào nhoáng khùng điên, với champagne chảy tràn như suối. Nhưng rồi nàng cùng chồng mua ngôi nhà ở Somerset, nơi Alice như một nữ sĩ miền quê, rút vào cái âu thủy tinh cách ly của mình, quẩn quanh với chồng con và những bản vẽ. “Tuyệt đối không một tiếng ồn, không tạp âm, dị vật nào được chào đón ở đây. Tôi khoanh vùng cuộc sống ở Somerset chỉ vừa đủ để sống vừa với chồng con – những người yêu thương nhất của tôi. Không điện thoại, internet, không gì cả, 3 ngày mỗi tuần. Chỉ có tôi, tình yêu, và những ý tưởng được hình thành trong bầu không khí vô nhiễm ấy. Chỉ ở một bầu không khí như vậy, tôi mới có thể toàn tâm nghĩ đến những chiếc váy cô dâu tinh khiết, một dòng nước hoa được chắt lọc tinh chất từ trong tư tưởng thanh tịnh toàn phần.”

Cùng lúc, ở nửa đầu cán cân đa nhân cách ấy, Alice ngả theo xu hướng internet hóa các hoạt động PR của nhãn hàng. Temperley London đang dần loại bỏ những buổi diễn để trưng bày hình ảnh trên internet, và Alice còn đang tìm nhiều phương tiện khác để thay thế một buổi diễn theo kiểu catwalk truyền thống. Chính tinh thần này giúp nàng vượt qua giai kỳ khủng hoảng kinh tế một cách tự tại và khôn ngoan nhất.

“Tôi có thể sống được trong một cái bong bóng, hay một cái âu bằng kính. Tôi cần một người đồng sự đủ tâm tri kỷ để bảo bọc mình khỏi mọi cọ xát với khía cạnh tài chính hay hành chính gì đó của công việc, và cả đời sống nữa. Tất cả mọi thứ diễn ra quá nhanh, và tự nhiên, như cách một quả bóng tuyết lăn lăn và to phình ra vậy. Khi cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra, tôi bần thần ngồi trong cái âu bằng thủy tinh của mình ngó ra, không ý thức được gì ngoài việc một đại gia bán lẻ nào đó đang nợ ngập đầu sa lầy phá sản. Tôi không tìm thấy trong cấu tạo gene của mình một mảnh nào cho phép tôi hiểu biết chút gì về cuộc đại chấn thê thảm này. Những cửa hàng nhỏ bắt đầu mất khả năng thanh toán, một số đóng cửa. Tôi chỉ còn cách từ chối bán hàng cho bất cứ ai không trả tiền ngay lập tức. Nhưng chính Lars mới là người đã đi qua hỏa ngục ấy thay tôi.”

Và ngay giữa cuộc suy thoái, như một động thái sáng suốt cho Temperley kết nối với thị trường trung tầm rộng lớn hơn, nàng tung ra dòng nhãn Alice by Temperley “Luôn là một cảm giác tích cực khi bắt tay làm một cái mới, trong khi mọi thứ xung quanh đang sụp đổ. Sẽ còn là một năm bão tố, và con thuyền mới này, dưới bàn tay hoa tiêu của Lars, sẽ đưa chúng tôi an toàn vượt khỏi vùng tâm bão.”

Câu chuyện cổ tích màu ivory

Mỗi thứ Bảy, Alice tiếp đến khoảng 15 cuộc hẹn với các nữ thân chủ đang mấp mé ngưỡng hôn nhân. Các cô dâu tương lai tìm đến với Temperley luôn tìm kiếm một cái gì đó “không như kiểu váy cưới thông dụng hoặc truyền thống, nhưng vẫn mang nét thiêng liêng, hơi bất thường, nhưng không giống một cái bánh kem nhân cô dâu.”

Và đó cũng chính là công thức ma thuật của những bộ váy cưới Temperley. Mặc nhiên với dàn thân chủ hoàng thân quốc thích, sự ưu ái của giới thảm đỏ showbiz, hay những ngợi ca của báo chí, Alice Temperley vẫn không lớn lắm khỏi cô bé tay cầm kéo to cắt xoẹt vào chụp đèn thập niên 20 và nhuộm tóc như trái bí đao – cô nhỏ bất toàn. “Tôi không cho rằng có nhiều người ngoài kia nhìn nhận tôi như một nhà thiết kế. Tôi hành xử khác lắm. Cứ nhìn vào những chiếc váy cưới như phục chế từ đầu thế kỷ trước, người ta cho rằng tôi lãng mạn vô cùng. Thật ra, so với tất cả những gì bềnh bồng lô xô và lóng lánh của giới thời trang áo cưới, thì tôi chỉ là một bà giáo khắc khổ dạy môn lịch sử, với đôi chân đặt vững dưới đất chớ không bay bổng giữa mây đăng-ten.”

Bước vào thế giới thời trang, như chính phong cách Thanh giáo khổ hạnh nhị sắc trắng đen của mình, Alice thật ra vẫn là cô nhóc 11 tuổi ở vườn táo Somerset, nghiện phim đen trắng, nhảy waltz trong bếp, giả đò mình là Marlene Dietrich hay Ginger Rogers. “Tôi ngán tận họng việc người ta dán mác cho thiết kế của tôi là trường phái bohemien, chỉ vì những nét váy flapper và tinh thần 1920 trong những chiếc váy cưới. Được thôi, thế là tôi dấn thân sâu hơn nữa, với hình hài Victoria, hay dòng hippie 1970 cho mùa hè 2011. Rồi xem, tôi sẽ minh chứng, những vẻ đẹp đó đã bất hủ đến nay, và rồi chúng sẽ không bao giờ lỗi thời. Những con số thập niên đi cùng chỉ có tác dụng gợi nhắc một thời kỳ, nhưng trường phái thẩm mỹ ấy là bất biến và vô hạn. Đó, theo tôi là điều quan trọng nhất cho một chiếc váy cưới. Chúng không nên cổ lỗ, nhưng sẽ không là những món vật quá hợp thời chỉ để vài năm sau đó, người ta phải ngượng ngùng vì vẻ quê mùa lạc mốt khi xem lại những tấm ảnh cưới.”

Thế là cô thôn nữ nước Anh chơi cuộc chơi của mình, từ Lolita đến Cleopatra, từ Grace Kelly sang Marie Antoinette, hay Jane Eyre đến ả mèo giống Gaulois bé bỏng Vanessa Paradis.

Giữa cuộc du hành vượt thời gian nhoay nhoáy như vậy, váy cưới nhà Temperley còn lại cho mình một dấu ấn gì đặc biệt? “Tôi thích làm ra những chiếc váy xinh, tinh xảo, màu trắng hoặc ivory kinh điển. Chúng trông yêu kiều nhưng thiêng liêng như một món hồi môn xưa cũ, nhưng không bệ vệ, trịnh trọng và dọa nạt bất cứ ai về gia thế hay độ kệch cỡm của nữ chủ nhân. Quan trọng hơn hết, nó giống như một bức tranh minh họa cho một câu chuyện cổ tích trang nhã với kết thúc có hậu, dù cô dâu có là nàng thủ thư khắc khổ, hay một nữ tài phiệt lang sói dữ dằn đến cỡ nào. Hôn lễ chính là ngày họ hoàn thiện tròn đâỳ câu chuyện cổ tích của riêng họ. Vậy, hãy hồn nhiên chọn mặc vào một chiếc váy trắng.

Alice lạc vào xứ sở khùng điên

Với tất cả những nỗi ám ảnh đầy màu sắc văn chương và sử học ấy, khó có thể hình dung tinh thần Temperley giữa một tuần lễ thời trang, và Alice tuyệt vọng vào vai của mình giữa khung cảnh nháo nhào mộng mị của một Wonderland. “Quả là nền công nghệ thời trang thế giới đã cho ra đời một đám đông hoảng loạn. Tôi có lạc lối thật, giữa cuộc đại hội phù hoa ấy. Như cô Alice lạc vào xứ sở khùng điên, tôi gặp không ít ả phù du ngạo mạn, những tay lập dị tham ái và loạn ngôn. Trời ơi, làm ơn thức tỉnh, chúng ta thiết kế ra thời trang, và đó không phải là một bộ môn khoa học. Chúng ta không bào chế thuốc cứu người, và càng không đang bảo vệ trái đất.”

Temperley không là một thế lực thương mại khét tiếng, nhưng bằng một tinh thần rất riêng, nàng hồn nhiên như một nhà truyền giáo tuẫn tiết, thiết lập cả một đế chế âm thầm. Tròn 1 thập niên sau sự ra đời của Temperley London, người ta nhận thấy làn sóng các nhà thiết kế trẻ và độc lập của nước Anh, lẳng lặng phục chế lại một tinh thần đế vương thuần chủng, ngạo mạn trên cả lối sống nô dịch thương hiệu, tác tạo ngay trên những chiếc máy may cổ lỗ trong mọi gian bếp, phòng ngủ, hay studio tự tạo dưới gầm garage. “Ngày nay, các celebrity trở thành các tông đồ khai sáng, và các nhãn mác thời trang là một thứ tôn giáo mê cuồng. Rập khuôn theo các tên tuổi lẫy lừng nhất, thật khó cho một nhà thiết kế trẻ để độc lập khởi sự mà không thúc thủ đầu quân cho một thánh đường lừng danh nào đó.”

Trào lưu nô dịch hàng hiệu có thể được nhìn thấy ở bất kì đâu, đặc biệt tại những thị phần chú trọng vào giới trẻ – những kẻ nông nổi, nhạy cảm với mọi trò khích tướng của các đấng cường quyền thời trang, từ tạp chí đến nhãn hàng. “Các phu nhân Anh quốc ở tầm tuổi tôi lại may mắn coi mix-and-match là một lối chơi tao nhã. Trong khi các tín đồ mới nhập môn say sưa rập khuôn theo hình mẫu celebrity, và đồng loạt nhuộm highlight, mặc jegging, dẫm bừa lên slimheel và hô hào thông điệp toàn dân cùng cá tính. Đâu đâu cũng thấy môi và ngực, thật thiểu não làm sao.”

Một người Anh chuyên chính và chủ thuyết của Temperley

Ngay từ khi mới thành lập, giữa những catwalk lẫy lừng của thời trang Anh, Alice điềm nhiên tung ra bộ sưu tập ngô nghê tự tại như một bài đồng dao cổ, với những chiếc váy thôn nữ thời thượng, tươi tắn lẫn uẩn mặc hương xưa.

So với bây giờ, có lẽ các tín đồ nhà Temperley đã có phần trưởng giả trang đài hơn hình hài đầu tiên ấy. Một phần do cuộc tấn công dồn dập của các tiểu thư nhà Middleton, và cũng bởi những tháng ngày Alice trải qua các cuộc chọn lọc đến hơn 300,000 hình ảnh đậm chất hoài cổ cho cuốn sách True British: Alice Temperley: “Sau một thập niên, người ta sẽ nghĩ nhiều hơn đến tủ quần áo của khách hàng, hơn là những ám ảnh vị kỷ sắc màu thẩm mỹ cá nhân. Thực hiện cuốn sách cũng là dịp để tôi đường hoàng nhìn lại 10 năm, những nơi đã đi qua, những trạng thái cảm xúc, cái cách mà tất cả hiển hiện như một biểu đồ khúc chiết, từ đó mà biết mình sẽ còn làm những gì về sau.” Và hẳn nhiên, ở đoạn cuối bảng biểu đồ thời cuộc ấy, người ta thấy hiển hiện tinh thần vương giả cầu kì trong tình hữu hảo của nhà thiết kế quân phiệt và hai tiểu thư nhà Middleton.

Cuốn Alice Temperley: Người Anh Chính Thống, đã có cho mình một tựa để chuẩn xác chân phương, đầy cao ngạo cục bộ như chính tên gọi Temperley London: tôi, và tinh thần nơi tôi sống, tất cả đã quá đủ cho một thái độ thời trang. Alice Temperley công nhiên tỏ lòng tôn ngưỡng các thẩm mỹ và lối sống truyền thống. Và như bản năng của đàn bà tính, nàng ưa nhìn về quá khứ để bói toán tương lai: “Làm một dân Ăng-lê đòi hỏi một sự can trường thực thụ, và tôi là một người ái quốc chuyên chính.”

Nhưng giữa một đại cục thời trang Anh quốc đương đại, với trào lưu chiết trung và cuộc tiêu khiển với họa tiết của những người Anh-mới, Alice vẫn không lạc lõng mà khôn ngoan ngồi vào chiếc ngai vintage chí tôn, quây quanh mình là những tín đồ thượng lưu hoài cổ. “Công nương và tiểu thư thứ nữ nhà Middleton, cả hai đều duyên dáng và khả ái – một dòng dõi Ăng-lê ưu tú hẳn hòi. Họ cho tôi một làn hơi trong mát giữa cuộc khuynh đảo làng thời trang của những diva showbiz từ nước Mỹ. Đây là các cô gái Anh chính tông, những vị đại diện tuyệt hảo cho thời trang và đẳng cấp nước Anh.”

Cuốn True British thoạt tiên đã là một dự án cá nhân, khi mà Alice và Lars cùng muốn nhìn lại một quãng đường dài tròn 1 thập niên của Temperley London, họ lôi ra những tư liệu, các phác thảo, và những hình ảnh cũ. Quá trình sắp xếp tích nhặt đã xâu chuỗi thành một cuốn sách hoàn chỉnh, một chủ thuyết hoàn hảo cho mệnh đề quân chủ của người đàn bà mang họ Temperley.

Vậy chủ thuyết đó là gì? Alice trả lời: “Đàn bà tính thuần túy, những giá trị thẩm mỹ bất hủ, trường phái chiết trung, không phải ngượng ngùng chùn tay trước mọi tiểu tiết cầu kì, hoa văn thêu, nền văn minh của nghệ thuật trang trí, và những gì mềm mại nhất. Với dòng hàng chủ lực, đó là những thiết kế cho dạ tiệc của quý bà, dòng thường nhật điệu đàng cho các tiểu thư son rỗi, và dòng cưới cho các tân nương kiểu cách sành điệu, tất cả được quy đồng thống nhất về một chủ thuyết đó, qua mọi mùa và mọi trào lưu.”

“Tôi chưa bao giờ cố để hợp thời hay gây sốt trào lưu. Không hẳn bởi bất cần, mà vì kết cục duy nhất của hợp thời là lỗi thời.”

Đó cũng là một thứ di sản mà cô Temperley ở Notting Hill muốn gửi lại cho thế hệ designer hậu duệ của nước Anh “Cứ thật thà với bản chất, đam mê hay thông điệp sẽ tự khắc hiển hiện trong tinh thần của thiết kế, hay bất cứ tạo vật gì bạn làm ra. Đây là một quá trình đòi hỏi cô lập, độc lập để được thuần khiết hoàn toàn. Đừng lắng nghe bất cứ ai.”

Quả vậy, với Alice, và với F, nếu thời trang là tôn giáo, thì thiết kế là lời xưng tội thật thà nhất. Người ta không thể đọc thuộc lòng lời xưng tội do kẻ khác viết nên.

Cũng chính với chủ thuyết này, Temperley London trở thành thánh đường của mọi tín đồ thấu đáo tinh thần vintage.

Bản tân cổ giao duyên của smartphone và Filofax

Đầu năm nay, Alice lại đường hoàng bắt tay với hãng văn phòng phẩm Filofax tung ra một bộ sưu tập không thể “Temperley” hơn, tôn vinh một lối sống tưởng như lạc thời giữa thế giới như một tổ ong lầm than rào rào tiếng bàn phím, nhoay nhoáy smartphone và tablet. Bộ sưu tập “Your Life in Your Hands” nhắc nhớ người ta đến một thế hệ của chị em nhà Bronte, những trang viết tay, các món văn phòng phẩm tinh tế – một dấu ấn đặc thù của Alice Temperley.

“Tôi ưng hợp tác với các hiệu truyền thống Anh quốc, như nhà Filofax, và cả nhà làm khăn lụa nổi tiếng Twinings nữa. Tôi bị mê hoặc bởi lối sống của những bữa tiệc trà thanh nhã, huyền thoại Earl Grey từ Trung Hoa vượt biển đến Âu châu. Vậy là tôi chọn các họa tiết in trên khăn lụa là những thành phần của món trà Earl Grey: cam bergamot, tinh dầu, những cái lọ sứ đời Minh, v.v… Thế là tôi có món trà thượng hảo hạng Twinings Tea!”

Như một nhãn hàng tri kỷ, những cuốn sổ tay của Filofax kết hợp với thiết kế của Temperley trở thành một món cocktail hoàn hảo giữa tính chức năng, lối sống công danh xưa cũ đầy thi vị, và thẩm mỹ cầu kỳ nhưng tuyệt nhiên tinh tế của một vật phẩm xa xỉ hương xưa. Chúng được kết đính trang trí với ren, những đồng xu cổ và loại da bọc thượng hạng. Thiết kế The Guinea (đồng ghi-nê cổ) là một món vật hữu dụng và tinh xảo đủ để mang từ văn phòng đến dạ tiệc. Trong khi đó, thiết kế The Affair (cuộc tình) là tuyệt phẩm dành riêng cho các quý cô làm công việc sáng tạo, lấy từ kinh nghiệm sử dụng của chính Alice – cũng là một thân chủ trung thành của Filofax, để lấy cảm hứng từ tư duy thiết kế nội thất, một tiểu thư phòng tuyệt mỹ chứa đựng các bản giấy khổ A5, lí tưởng cho việc ghi chép lẫn kí họa phác thảo. Các phiên bản hạn chế của những cuốn sổ tay này, ngoài các món văn phòng phẩm được đính kèm bên trong, còn có những công thức nấu ăn của vua bếp Ăng-lê Mark Hix, một mảnh thư nhỏ kiểu rỉ tai mách lẻo về những hội chợ, các quán café, tiệm sách, điểm đến ưa thích, và thậm chí cả bài tập yoga của chính Alice Temperley!

Và như thế, mỗi nữ chủ nhân đủ duy mỹ để sở hữu một phiên bản Temperley for Filofax sẽ nghiễm nhiên được chào đón vào một phong cách sống tao nhã, như một tri kỷ của Alice Temperley.

Ai nói người Anh chuyên chính không dân chủ và thân thiện, đương nhiên, ở mức giá 400 bảng Anh?

Lời cuối cùng từ nhà sáng tạo “Sự nghiệp, đó cũng là một khía cạnh của cảm xúc, nếu không là nơi mà cảm xúc được dung dưỡng mãnh liệt nhất. Nó cần những sản phẩm có cảm tính và mang dấu ấn cá nhân hơn. Những dòng thủ bút, những nét phác thảo tay, cảm giác của làn giấy thượng hạng trượt bên dưới ngòi viết, đó là tầng tối cao của thú xa xỉ thượng lưu.

Smartphone có thể có chức năng notebook, thế thì một cuốn sổ tay sẽ có ngăn đựng smartphone. Dung hòa hoàn hảo, phải không nào?”

TIPS BOX

Chiếc váy cưới hoàn hảo:

Chồng tôi muốn lấy tôi làm vợ từ hồi chưa nhìn thấy cái váy cưới. Tôi tin chắc các vị hôn phu khác đều vậy. Đương nhiên nên là chiếc váy biết ca tụng tối đa mọi lợi điểm hình thể của tân nương. Một chiếc váy cưới hoàn hảo nên cho cảm giác rằng cô dâu đang thư giãn và hưởng thụ hạnh phúc.

Chiếc váy cưới đáng nhớ nhất:

Là váy cưới của chính tôi! Tôi đã thử tự vẽ 3 phác thảo khác nhau, rồi chọn ra chiếc mình ưng ý nhất. Chúng đều điểm những tảng ren thêu kiểu thời Victoria, những mảnh cườm mang hơi hướm flapper thập niên 1920s, và đính những hạt trân châu tôi túc tắc gom nhặt giữ gìn như báu vật từ hồi còn nhỏ.

Chiếc váy cưới của bà thân mẫu:

Mẹ tôi lấy cha tôi, mặc chiếc váy hoa, làm lễ trong khu vườn miền nông trang.

Lời khuyên cho những đôi uyên ương trẻ?

Cười, thật thoải mái. Bảo bọc cho nhau. Và luôn thành thật.

Bài hát lí tưởng nhất cho một đám cưới:

Bản “Smile” của Shirley Bassey.

 

Julia Đại Đóa & tình sử 3 chương

Túy Ca

Có những giai nhân trở thành thần tượng chỉ vì một màu mắt, một tỉ lệ vàng, hay một đôi gò nhân tạo phập phồng gay cấn. Còn nàng, nàng vĩnh viễn ghi dấu trên thánh đường nhan sắc cine với chỉ một nụ cười thỏa thuê cực đại.
Ngô nghê tuệch toạc, thậm chí hơi tồ với đôi chân sếu trong đôi boots gái giang hồ Mã Nhật Tân, như bộ khung lỏng khỏng để nâng đỡ một nụ cười “Ultrabrite” đỏ thắm công suất 1,000 watt. Nàng không vân vi đầu mày cuối mắt, nàng toe toét cười dưới mái tóc xù rối beng, thế là Richard Gere, Elvis Presley và cả thế giới gọi nàng là Người Đàn Bà Đẹp, còn các sếp sòng làng cine thế giới thì trả nàng tàn tàn cỡ 15 triệu bảng nếu muốn đóng dấu răng môi người đẹp lên bộ phim của mình.

Bằng một cách nào đó, sự nghiệp lần lượt khoác lên nàng những vai diễn về cô gái bên lề hôn nhân với đôi chân đủ dài để vọt lẹ thoát thân khi chỉ còn vài bước trước bàn thờ Chúa. Từ My Best Friend Wedding, cho đến Runaway Bride. Nàng như cô sếu vườn mải miết vào vai tháo chạy ra khỏi những chiếc váy dài màu trắng, nàng chạy miết, qua vụ kết hôn xí hụt với Kiefer Sutherland, cuộc lửa hương chóng vánh với lãng tử đồng quê Lyle Lovette,… cho đến khi nàng ngừng lại, và làm tất cả để không bỏ chạy khỏi cuộc vợ chồng gian nan đang vào hồi hấp hối. Đó là chưa kể đến tay bạch mã hoàng tử thời vụ thoắt ẩn thoắt hiện mang tên Patric, mà mỗi sự xuất hiện của chàng lại ghi dấu một lần dang dở của nàng với… người đàn ông khác.
Cuối cùng, như trong scene cuối của My Best Friend’s Wedding, nàng vẫn là cô nàng trong chiếc váy phù dâu màu tím lavender, kiên cường ngồi lại trong một tiệc cưới đã đến hồi ly cốc đổ.
Có tồn tại thật chăng, những người đàn bà không được Chúa tạo ra để làm vợ? Có tồn tại thật chăng, một chương kết có hậu cho mọi cô gái trễ đò? Và kịch bản dang dở cuộc đời giai nhân với nụ cười đại đóa còn chưa viết trọn 3 chương.


CHƯƠNG 1. CHUYẾN ĐÒ XÍ HỤT VỚI KIEFER SUTHERLAND

Lần rắp ranh khăn gói sang sông đầu đời của nàng đã có thể là đám cưới trữ tình nhất thập niên, với tân nương Julia Roberts 23 tuổi và nam thần màn bạc Kiefer Sutherland. Nhưng bởi đây là Hollywood, chẳng phải thiên đường, nên 150 khách mời thuộc hàng thượng tầng danh vọng đã tề tựu tại phim trường 14 của 20th Century Fox, được dựng tái hiện một thứ vườn địa đàng thủ công. Nhưng ngay khi mà các tay phó thợ chỉ vừa kịp dựng giàn dây leo hoa mỹ, trải những thảm cỏ xanh thì đã nghe tiếng hô “Cắt!”
Những đơn đặt hoa được hủy bỏ, hãng thịt Marcondas Meats cũng tẽn tò chung số phận, tiệm rượu được dặn ngưng chuyển đi những kiện champagne hảo hạng. Khi này, bốn nàng phù dâu vừa mới nhận mỗi nàng một đôi Manolo Blahnik 425USD tiệp màu với những chiếc váy lấy từ tiệm Fred Hayman ở Rodeo Drive. Chiếc váy may đo riêng cho cô dâu, nghe đâu hao tới 8000USD được ra lệnh xén thành váy ngắn, cho mãi về sau vẫn treo như vật vô chủ ở salon của Tyler Trafficante ở West Hollywood. Chiếc bánh cưới, định sẽ có 4 tầng phù hoa diễm lệ, chạm hoa violet lẫn những dải lụa xanh bằng kem sữa mãi mãi không được hoàn thành. Người ta lấy ruột chiếc bánh ra làm đồ tráng miệng. Chỉ riêng chú gà tây nặng 15 pound là hú hồn thoát nạn.
Một kịch bản cine hoàn chỉnh: khách mời cỡ bự, thất tình, thông tin truyền trực và gián tiếp đến dư luận thế giới, và cô dâu tháo chạy thục mạng, v.v…
Ai mà tin được, cô nàng xuất hiện trên mọi cuộc phỏng vấn truyền hình để hò la to và rõ về tình yêu nồng nàn chung thủy của mình sẽ hành xử như một ca đột biến như thế. Chàng hôn phu ngớ ngẩn mất một thời gian để hiểu việc gì đang diễn ra, còn nàng thì hớn hở vô tư tròng vào bộ váy lung tung xòe của Tinkerbell để nhập vai vào phim Hook của Steven Spielberg chỉ vài hôm sau đó.

Kịch bản “Cô Dâu Chạy Trốn”
Chính xác là vào cái ngày Thứ Sáu đen tối ấy, cái ngày định mệnh đáng ra gắn kết họ lại với nhau, lại chính là ngày Sutherland thất thểu dọn đồ khỏi nhà nàng, trong khi nàng ngồi gặm bánh burger ở tiệm Nowhere Café sành điệu cùng kép Jason Patric. Jason xui xẻo lọt thỏm vào vụ đổ bể của đôi uyên ương xí hụt nghe đâu cũng chỉ là một cuộc hẹn hò chóng vánh của Julia trước đây. Vài giờ sau, họ cùng nhau bay đi London, rồi đến Dublin, thuê hai phòng riêng tại khách sạn Shelbourne.

Một nhân viên ở đây mách lẻo với báo chí rằng chiếc nhẫn cưới không còn ở trên tay nàng, còn nàng thì trông rũ rượi với mái tóc te tua nhuộm màu cam kì cục. Hiển nhiên, nếu đây chỉ là một cuộc chạy trốn thế nhân và tìm lại an bằng tĩnh tại trong tâm hồn, thì họ đã thảm bại, hay chí ít là vào nhầm khách sạn. Cả hai lại lẳng lặng dời đi vào sáng hôm sau để gần như biến mất vào vùng thôn dã Ái Nhĩ Lan quanh đấy.

Nhiều người đồn rằng họ đến tị nạn tại nhà tay bass nhóm U2 là Adam Clayton ở gần vùng đó.
Phải chăng nàng lại đang chạy khỏi một cuộc hôn nhân để lại là một nhân tình? Hay nàng chỉ thuần túy tìm khuây khỏa trong vòng tay ủi an của người bạn tốt khác giới và đẹp trai? Người ta chỉ biết rằng chàng kết bạn với chú rể từ hồi cả hai cùng đóng phim The Lost Boys, nhưng chính Kiefer đã xóa tên Jason khỏi danh sách khách mời sau một trận cãi cọ tưng bừng với Julia.

Quá đủ cho vết nhơ bội phản trên trán cô dâu đào tẩu. Nhưng Garry Marshall, đạo diễn phim Pretty Woman, lại lên tiếng khẳng định một điều tối trọng về nàng “Julia như con mèo vậy, luôn đòi hỏi phải được nhận thật nhiều những ôm ấp vuốt ve.”

Gã hôn phu hoang đàng và vị cứu tinh thời vụ
Lại một hôn lễ gây ngạc nhiên nữa của Julia Roberts dành cho dân Hollywood hóng chuyện. Thật ra, có vẻ như sự tan vỡ đã có đầy đủ dấu hiệu báo bão. Kiefer đã có lần lấy cớ đi “nghiên cứu chất liệu” cho vai diễn của mình đã dọn ra khỏi nhà Julia và đến ở trong phòng trọ tồi tàn giá 105USD/tuần tại khách sạn St.Francis, và cặp kè đi đánh billards với vũ nữ Amanda Rice. Rồi khi Kiefer quay về với Julia, thì nàng Rice khai với báo chí những lời không hay của chàng về việc Julia “thiếu tự tin về ngoại hình, thích sở hữu, và kênh kiệu đỏng đảnh từ sau hồi đóng Pretty Woman”.

Julia điềm nhiên trả đũa bằng sự tận tụy yêu chiều tuyệt đối của Kiefer, bằng việc chằng chối đây đẩy việc có quan hệ ái tình với cô vũ nữ biết chơi billards nọ, và cuối cùng là một lễ đính hôn linh đình lễ nghĩa.

Đòn trả đũa của người đẹp rộng miệng chưa thật sự kết thúc. Chỉ 2 ngày sau khi Kiefer tung tăng bay về sau chuyến tiền trạm cho tuần trăng mật như dự định, Julia thẳng tiến ra spa Canyon Ranch ở tận Tucson, dường như để chuẩn bị cho một diện mạo tối ưu cho ngày trọng đại, và kẻ “tình cờ” xuất hiện ở Tucson lại không ai khác, mà chính là Jason Patric. Thế là sau một buổi tối với món piccata gà và yogurt bơ lạc, Julia rời phòng ăn với Patric, trông có vẻ như đang an ủi nàng tận lực.
Và nàng vẫn không trở về L.A. cho đến sau khi tuyên bố hủy hôn (khi này được tạm gọi là “hoãn hôn”) được đại diện cả hai đàng trai gái tung ra. Dân sành chuyện ở Hollywood thì đồn ầm lên việc Julia nhập vai cô dâu chạy trốn đã đơn phương hủy hôn và cho chú rể môt cú nên thân, sòng phẳng vừa phải với vụ vũ công bàn billards trước đó. Tệ hơn nữa, chàng còn không được là kẻ đầu tiên biết về việc hủy hôn, mà nghe báo lại từ bạn bè.

Hội chứng nhập vai
Đương nhiên, đối với Julia, tay đào tẩu chuyên nghiệp, đây không hề là việc “đời người một lần”. Nàng có tiền sử dan díu lưới tình với các tài tử đóng cùng phim, như thể sẻ chia cùng một hội chứng với đồng nghiệp maneater trứ danh Angelina Jolie. Mới 19 tuổi, nàng chung sống với Liam Neeson cùng đóng trong Satisfaction, khi này 38 tuổi. Nàng hủy hôn với anh chồng trong phim Steell Magnolias là Dylan McDermott, 29 tuổi, sau khi đóng chung và phải lòng với Kiefer trong phim Flatliners năm 1990. Một nàng Tinkerbell dư thừa lãng mạn và dào dạt tư chất tình nhân. Nàng yêu chính bản chất của việc yêu và được yêu, còn nhân vật đối tượng có thể tùy nghi thay đổi.

Chính bối cảnh yêu đương lãng mạn của các kịch bản cho phép nàng dễ dàng thả mình vào mọi thể loại lưới tình, trong khi các anh chàng chẳng dại gì xô ra khỏi vòng tay mình Người Đàn Bà Đẹp đang lúc si tình – một nhan sắc được coi là đặc biệt trứ danh thế giới với miệng rộng chân dài và mái tóc rối to xù.

Nhưng một khi được mệnh danh là Pretty Woman trong siêu phẩm cine cỡ bự, với nụ cười trứ danh ngang ngửa Mona Lisa, thì có gì ngăn nàng kiếm chút khỏa khuây an ủi bên ngoài phạm vi màn bạc? “Thành công mà bạn có được trong lãnh vực nghề nghiệp hào nhoáng này có thể chả dính dáng hoặc chi phối hoàn toàn đời sống riêng tư và tình cảm của bạn”, nàng thống thiết thật thà như vậy với tờ Sunday Express.

Hú tim sau chuyến hụt đò
Ngay sau khi Kiefer ly dị vợ cũ, Julia hạnh phúc trưng khoe một chiếc nhẫn kim cương nhức nổ con ngươi, rồi họ dọn về sống chung vào mùa xuân, cùng nhau tuyên thệ tình yêu long trọng bằng một cách khá phổ biến với dân Hollywood là xăm mình. Nàng thửa cho mình một trái tim đỏ chót và kí hiệu Trung Hoa mang ý nghĩa “sức mạnh của trái tim” ngay trên vai trái.
Tháng Hai trước đó, Julia lại được ứng cử giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, trong khi chàng, từ sau vai diễn cùng với nàng, thì vẫn hoàn vô danh trên bước đườn dặt dẹo – một câu chuyện Hollywood điển hình, giữa những bước sải của cặp giò dài bỏ mặc lại sau lưng chàng tài tử yếm thế hận đời. Nàng vun vút leo lên đỉnh cao cát-sê đến 7 triệu Mỹ kim cho vai diễn trong Renegades, trong khi vị hôn phu đóng cùng phim chỉ nhón được một xấp cỡ 2 triệu rưỡi toẻn hoen, nhưng cũng đã hơn gấp đôi mức cát-sê thông thường của chàng.

Nàng đào tẩu để trả đũa cay nghiệt? Chàng quá chênh lệch và xa vắng trong hao quang của nàng? Cô nàng bộc trực với khuôn miệng biết cười kiểu tỏa nắng ấy cuối cùng chỉ quá lãng mạn tang bồng để tiến quá gần ngưỡng cửa hôn nhân.
Dường như cả hai người trong cuộc cũng chưa có câu trả lời, liệu hôn lễ xí hụt là điều đáng tiếc, hay một cảnh báo kịp thời đã phát huy hiệu quả.

Nhưng một thực tế cho thấy đó là một điều hợp lý chính là việc cả hai đều sống tốt khi không có nhau, và ngay tức thì tìm riêng cho mình một cuộc tình thay thế. Kiefer được đặt vào tình thế hoặc lớn lên cho nhanh, hoặc là chết. Còn người quản lý cũ của Julia là Bob McGowan thì khẳng định “Julia là cô nàng phổi bò, có vẻ nông cạn và bồng bột, nhưng thừa nhạy cảm để cắt đứt mọi chi tiết thừa thãi hay vướng víu trong cuộc đời mình. Cô ấy phải có khả năng làm thế muốn mãi giữ sự bồng bột vô ưu ấy trong cả tâm hồn lẫn thần thái.”
Một cách thông thái và chuẩn xác, lời nhận xét của McGowan đã trịnh trọng tống lên trán Kiefer mảnh giấy vuông vức ghi to và rõ dòng chữ “Đồ Bại Trận!”

CHƯƠNG 2: LÃNG TỬ ĐỒNG QUÊ MANG TÊN LOVE(TTE)

Chỉ tròm trèm đôi ba năm sau chuyến đò hụt, thay cho một kịch bản hôn lễ huy hoàng, nàng đột ngột lên xe hoa trong hôn lễ dã chiến, chân trần tóc xõa, ngời ngời hạnh phúc bên chàng ca sĩ đồng quê. Tại đám cưới mộc mạc nhưng ngập tràn hạnh phúc ấy, chàng đã hát cho nàng một bản country có cái tựa lê thê “Em Có Nghi Ngờ Chuyện Chúng Mình Sinh Ra Là Để Cho Nhau?”. 21 tháng sau, nàng mới trả lời rằng: “Có!”

Hôn lễ dã chiến của hai bại binh ái tình
Họ gặp nhau tháng Sáu năm 1993, đều thất thểu bước ra từ hai cuộc tình rách rưới, nàng với cuộc dan díu chóng vánh cùng Jason Patric, và chàng với người tình lâu năm Allison Inman. Họ cưới nhau tức thì trong một hôn lễ giản dị chỉ sau 3 tuần gặp gỡ. Chàng hớn hở tuyên bố “Tôi như được cứu rỗi, tôi thấy an bình và vững tin. Đó là nhờ khả năng biết chính xác điều mình muốn và quyết đoán tức thì. Không có gì để cân nhắc nữa, chúng tôi quả là sinh ra cho nhau. Tôi biết một ngày nhìn lại, tôi sẽ vẫn thấy đây là một quyết định đúng đắn hoàn toàn” Còn nàng thì say sưa “Mỗi khi tôi nói chuyện với chàng, hay nhìn ảnh chàng, hay chỉ cần suy nghĩ về chàng, tôi lại thấy mình mới khôn ngoan và may mắn làm sao, vì đã chọn người ấy làm chồng.”
Thế là họ chóng vánh thề nguyền trước bàn thờ Chúa, rồi chỉ một ngày sau đám cưới, nàng trở về phim trường The Pelican Brief, chàng tiếp tục tour lưu diễn. Và mọi chuyện cứ tiếp diễn như vậy, như thể họ chưa bao giờ kết hôn. Trong suốt cuộc hôn nhân đầu đời của mình, nàng tiếp tục đóng I Love Trouble, Ready to Wear, Mary Reilly cho đến Game of Love, trong khi chàng ca sĩ country cũng miệt mài đường thiên lý.

Họ sống riêng, và mỗi bận gần nhau không quá được một tuần. Nàng ở New York, chàng heo hút chốn điền trang vùng Texas. Họ cố gắng xem đó như một cuộc hôn nhân bình thường “Chúng tôi thức dậy, dùng điểm tâm, chàng đi làm và tôi cũng vậy. Chúng tôi về nhà vào buổi tối và hỏi thăm nhau về công việc trong ngày. Mỗi khi tranh thủ ở được bên nhau, chúng tôi hể hả giới thiệu với mọi người chung quanh đây là chồng, là vợ. Và chúng tôi ngỡ vậy là đủ.”

Lại một cơ hội nữa cho Jason
Cuối cùng, lịch trình của mỗi người cũng cho phép họ cùng ở New York vào cùng thời điểm. Mỗi người sống tại một khách sạn, giao du với bạn bè riêng của mình. Vài ngày sau, vào đúng dịp kỷ niệm một năm ngày cưới, họ lại mỗi người mỗi nơi, nàng vào phim trường I Love Trouble, chàng hoàn tất album I Love Everybody. Bốn tháng sau paparazzi chụp được cảnh chàng rời phòng khách sạn cùng nữ ca sĩ country Kelly Willis suốt hai đêm liền. Vài tuần sau, người ta lại thấy cảnh Julia gục đầu tâm sự trên vai người tình thời vụ Jason Patric ở ngay Công viên Trung tâm. Trước đó, nàng đi Malibu giỡn sóng với Richard Gere, lúc này mới ly thân.

Và từ một câu chuyện cổ tích, họ bước vào một kịch bản phổ cập của những cặp đôi thảm đỏ. Tại một bữa tiệc, khi nghe hỏi “Julia đâu rồi?”, chàng uể oải trả lời “Cô ấy… cô ấy ở khắp mọi nơi”
Ngày mà cả thế giới run rẩy trước hình ảnh Tom Hanks lên nhận giải Best Actor cho phim Forrest Gump, chàng nhìn xuống người vợ 7 năm của mình và nghẹn ngào “I love you”, thì Julia Roberts, vắng mặt đêm trao giải Oscar, lại đang âm thầm chuẩn bị một vụ tiếng tăm đình đám theo một kiểu rất khác: nàng quyết định tuyên bố ly thân, trong khi chàng ca sĩ đồng quê tội nghiệp còn nằm nhà thương vì gãy xương trong tai nạn motor.
Đức tin cổ tích kết thúc có hậu cũng kết thúc tại đây.
Ngày họ tuyên bố ly thân, chàng nhốt mình trong nhà cả ngày ở Texas, trong khi nàng ở London, chào đón ngày độc thân trở lại một cách bình thản như mọi ngày, có chồng hay không có. Nàng đang hoàn tất phim Mary Reilly, nàng rất bận.
Còn chàng, tiếc tục độc hành đường thiên lý, đành AQ tinh thần “Nhạc country thì phải buồn, chẳng ai thèm nghe bạn kể lể mình hạnh phúc vui vẻ ra sao đâu. Ít nhất là từ giờ tôi lại có thể sáng tác tốt.”

CHƯƠNG 3: NGƯỜI HÙNG ĐƯƠNG NHIỆM DANNY MODER

Sau nhiều năm mỏi mòn hôn các chú ếch mà vẫn không thấy hoàng tử nào xuất hiện đủ lâu, nàng Julia khi này đã 36 xuân đặt mọi kì vọng vào tay cameraman Moder nhỏ hơn mình 1 tuổi khi âu yếm gọi chàng là “gã khổng lồ của tình sử Julia”. Nhưng sự nổi tiếng đã quay lại chơi khăm nàng khi chính các thành viên trong gia đình chàng khổng lồ cục cưng nọ không tỏ ra hào hứng lắm với việc chào đón siêu minh tinh này vào gia phả nhà Moder.

Nàng dâu lắm trò
Hẳn nhiên, dấu ấn tội đồ nàng đã mang phải từ khi đặt chân vào đời chàng như một kẻ cướp chồng người, và dù cho Moder có mệt mỏi khẳng định tái hồi rằng Julia chưa bao giờ là lí do của cuộc hôn nhân thất bại với người vợ cũ Vera, mọi cố gắng tỏ ra thân thiện nhu mì của nàng dâu oan nghiệt này vẫn tiếp tục va phải sự ghẻ lạnh của dòng họ Moder. Nàng xuất hiện trên khắp mặt báo, toe toét nụ cười nổi tiếng, mặc chiếc áo thun ghi dòng chữ “A Low Vera” (Vera Hạ Tiện) như một lối chơi chữ của từ “aloevera” (cây lô hội).

Vera là một chuyên viên trang điểm có mức thu nhập bằng 1/10 của 1/100 mức thu nhập siêu hạng của Julia, nên Julia sốt ruột huỵch toẹt đề nghị số tiền 2 triệu USD, bao luôn mọi chi phí luật sư để ly dị chồng và Danny mau mau thuộc về nàng.
Vậy là nàng đã thu xếp ổn thỏa cho mình tấm chồng của cuộc tình đầy sóng gió như ý. Nhưng nàng vẫn còn thiếu thốn lắm. Nàng hắt ra lời tâm sự não nề vào buổi chiếu ra mắt phim Nụ Cười Mona Lisa “Tôi không muốn sống một mình, và thế là phải đối mặt với bi kịch” – như một lời tổng kết hoàn hảo cho mỗi người phụ nữ lao đao bên bờ vực hôn nhân.

Ngày Bruce Willis ca bản “Một Lũ Khùng”
Danny Moder và Julia Roberts kết hôn vào ngày 4 tháng Bảy, 2004, tại trang viên của nàng tận Mễ Tây Cơ. Tất cả đều được giữ bí mật tuyệt đối, kể cả với 60 khách mời, lơ ngơ xuất hiện vì tưởng đó chỉ là một bữa tiệc thôn trang mừng ngày quốc khánh Hoa Kỳ.
Cả một ngày dài họ tụ tập chơi bóng đá, nướng thịt ngoài trời, với Julia cố nài các bạn thức chơi đến tận nửa đêm. Họ ngồi rải rác mệt nhoài trên những băng ghế gỗ quanh ngôi nhà bằng gạch từ thế kỷ 19. Nến và lồng đèn Trung hoa được thắp lung linh, thiên hạ bắt đầu hồ nghi, rồi vỡ òa khi Roberts và Moder tiến ra. Dưới vòm hoa được kết bằng những cánh hồng thôn dã, Danny quỳ một gối trước Julia, khi này đang lia lịa chấp thuận một cách hào hứng đến sốt ruột: “Vâng, vâng, vâng!”

Nàng diện bộ váy bằng cotton hồng thêu những hạt cườm cổ xưa của Judith Beylerian, đầu cài vòng vương miện đính những hạt thủy tinh được cắt gọt thô sơ bằng tay và ngọc trai, trong khi vị hôn phu xúng xính như một chú chihuahua diêm dúa và can trường trong sơ mi đỏ tía bồng bềnh bèo nhún của Beylerian mặc với quần tan pants. Họ trao nhau lời thể được viết tay trên mảnh giấy con, trước vị chủ hôn, than ôi, cũng là luật gia riêng của Julia là Barry Hirsch.
Và rồi họ khiêu vũ dưới bầu trời sao trong âm nhạc của Sade lẫn Bob Marley đến tận 2 giờ sáng, để rồi tiếp tục tiệc tùng kéo dài tận này hôm sau. Bruce Willis tới muộn và góp vui hai bài country ngộ nghĩnh mang tên Chó Tru và Một Lũ Khùng (Hound Dog và Chain of Fools).

Sự lúng túng của “phụ tá máy B” giữa tâm điểm spotlight
Họ gặp nhau, lúc nàng đang đóng cặp cùng Brad Pitt, trong khi chàng Danny Moder điển trai không kém chỉ khiêm tốn đứng ở vị trí tay quay trợ thủ. Vậy mà Julia tài tình thoát khỏi lời nguyền về các cuộc dan díu với bạn diễn để rơi vào lòng tay “phụ tá máy B”. Mối tình làm lu mờ Brad Pitt ấy không hề là một cái tội, nếu tay phụ tá máy B nọ chưa hề kết hôn 5 năm với nàng chuyên viên trang điểm Vera Steinberg, còn chính Julia lúc này vẫn ngấp nghé vực hôn nhân cùng cuộc tình với tài tử Benjamin Bratt.
Người đẹp tồ chống chế “Anh ấy bảo cuộc hôn nhân đã thất bại, tôi thì tôi tin ngay sau bữa tối đầu tiên của chúng tôi với nhau.” Nhưng chỉ nàng Vera và gia đình Moder là đoan chắc rằng người chồng sa ngã đã bị điều khiển bởi mụ đàn bà tóc xù nổi tiếng lăng nhăng, đã xỏ xâu được một lô lốc những Liam Neeson, Dylan McDermott, Keifer Sutherland, Jason Patric, Daniel Day-Lewis, Richard Gere cho đến Matthew Perry. Nàng là một điển hình maneater với vòm miệng tham lam không từ thủ đoạn.

Người duy nhất mang họ Moder đứng về phía Julia cũng là một người đàn bà ngoại tộc – mẹ của Dany. Bà Patti rộng lượng đã nhắm mắt khi 59 tuổi bởi một cơn suy tim, ngay trước khi có tin Julia và con trai bà lại rậm rịch chia tay. Dòng họ Moder lại thêm một lần nữa tuyên án Julia vào tội ngộ sát, thậm chí chính Danny cũng bị đại gia đình cô lập và tẩy chay ngay giữa đám tang người mẹ. Chính điều này lại vô tình gắn kết chàng với Julia khắng khít hơn bao giờ hết.

Sau hôn lễ kín đáo và lãng mạn ở dinh thự của nàng ở New Mexico, anh chàng cameraman mới thật sự nếm mùi chia sẻ vầng sáng hiếu kì cùng người phối ngẫu nổi tiếng. “Tệ nhỉ,” nàng thơ tóc xù nói thẳng với đấng phu quân mới, “đáng lẽ anh phải lường trước mọi chuyện vào ngay cái lúc anh cả quyết tiến đến hôn nhân cơ chứ, và trong đó, có cả những tay phóng viên ảnh nữa. Trọn gói về tôi là thế, anh đã có điều anh muốn thì đừng phàn nàn về những thứ đính kèm. Tôi vẫn là Julia mà anh từng biết, cùng tất cả những hệ lụy toái phiền để biến cô Julia ấy thành Cô Julia Roberts Vĩ Đại. Vợ anh là một người đàn bà nổi tiếng, hãy học cách hân hoan chấp nhận điều đó đi.”

Cuộc chiến “gánh xiếc Julia” chống lại “bà cô bên chồng”
Đỉnh điểm căng thẳng xảy đến vào khi người cha 67 tuổi của Danny tái hôn. Sau một thời gian dài bị ghẻ lạnh bởi nhà chồng, Người Đàn Bà Đẹp xuất hiện miễn cưỡng tại hôn lễ, bị bao vây bởi những người họ hàng nhà chồng đầy định kiến và thù địch. Dĩ nhiên, rating nhà chồng lên vùn vụt từ khi có nàng dâu tiếng tăm, hội báo giới chen chân hòa vào cùng các khách mời của bữa tiệc, chứng kiến cảnh các chị em của Danny hằn học tố tội Julia lợi dụng sự kiện này để khuấy rating cho bản thân. Chị gái của Danny là Jyl cay nghiệt tuyên bố: “Cô ta xuất hiện ở đâu là cứ như có gánh xiếc ở đó. Cô ta thích như thế, còn tôi thì phát lợm giọng. Rồi ai đó cũng phải đặt cô ta vào đúng chỗ của mình chứ, nếu không ai làm thì để tôi làm”. Còn Julia lại cho rằng chính Jyl chứ không ai khác đã bán rẻ thông tin đời tư của mình cho báo giới như đòn thù vặt kém cơ.
Nhưng nàng nhận ra rằng mọi chuyện vẫn chưa đủ tồi tệ cho đến khi Danny kiên quyết muốn duy trì liên lạc với vợ cũ. Những cuộc cãi vã thường xuyên với mức độ cay nghiệt tăng dần. Cuộc tình mãnh liệt của hai kẻ tội đồ cuối cùng cũng trở thành một hôn nhân xấu xí, Julia cáu tiết: “Tôi tin rằng mình có quyền chọn cho phép những ai bước vào cuộc đời mình, và tôi không chọn Vera. Danny cũng không chọn cô ấy, anh ấy chọn đến với tôi, vậy thì tôi sẽ không đời nào cho phép Vera can dự vào giữa chúng tôi như thế này nữa.” Và nàng càng tin tưởng hơn và phép màu cứu rỗi của một đứa con chung – điều mà Vera chưa bao giờ làm được cho Danny.

Nhưng Julia không ngờ chính nàng cũng chia sẻ với Vera khó khăn đó: nàng không dễ thụ thai. Nàng kiên trì theo đuổi các đợt trị liệu, với hi vọng y học sẽ cứu rỗi hạnh phúc hôn nhân của mình và đứng về phe nàng trong cuộc chiến chống bóng ma Vera. Julia chưa bao giờ tỏ ra tuyệt vọng, nàng kiên định đến ngô nghê: “Rồi xem, không chừng sang năm tôi sẽ mang thai, bằng bất cứ giá nào!” Điều này khiến nhiều người ngờ rằng xác suất xin con nuôi chiếm khá cao trong mọi khả năng, kể cả với sự can thiệp của y học.

Hiệp định hòa bình và Cô-Julia-Có-Tất-Cả
Đây là lần Cô Dâu Chạy Trốn kiên quyết bắt cuộc hôn nhân phải liền lạc và hạnh phúc bằng mọi giá. Nàng nghiến răng nhịn nhục các chị em bên chồng, thậm chí còn hào phóng đãi họ chuyến bay tới New York để có mặt tại bữa tiệc sinh nhật bất ngờ dành cho Danny.
Chàng xúc động tâm sự rằng “giây phút nhìn thấy Jyl đứng đó, tôi hiểu Julia đã phải thỏa hiệp đến mức nào để bảo đảm hạnh phúc tuyệt đối cho một cuộc hôn nhân lý tưởng giữa hai chúng tôi. Cả Jyl cũng trở nên dễ chịu hơn, như thể có một hiệp ước ngưng bắn giữa hai người vậy.”
Về phần nàng Mona Lisa tóc xù, một thỏa hiệp phi thường khác để minh chứng tư cách làm vợ là việc chủ động tránh né giới truyền thông và chỉ nhận một phim trong cả năm là bộ phim Mona Lisa Smile với Danny làm đạo diễn hình ảnh.
Nàng xoa tay phỉ mãn “Vậy đó, giờ thì người ta nhìn vào và sẽ nghĩ: Julia Roberts, cổ cuối cùng cũng có tất cả!”
Và quả vậy, hơn cả sự mong đợi, cặp song sinh Hazel và Finn ra đời khỏe mạnh năm 2004 dù phải sinh non, và cậu út Henry vào năm 2007 dường như đủ để “cổ cuối cùng cũng có tất cả!”

Người đàn bà còn lại trước gương
Nàng hể hả, và điên cuồng cả quyết, bằng cả sự ồn ào của khuôn miệng ngoại cỡ, không ngừng say sưa tuyên bố về hạnh phúc hoàn hảo mà mình có được.
Trong khi giới nhạy tin vẫn đều đặn nghe những tiếng rạn vỡ lọt ra từ tổ ấm đôi uyên ương nhiễu sự, và thi thoảng lại nghe chuyện Danny tuyên bố với gia đình về một cuộc li hôn sớm muộn gì rồi cũng lại xảy ra, trong khi Người Đàn Bà Đẹp mỏi mòn níu giữ chiến thắng héo hon của cuộc hôn nhân “ăn cả, về không” phi nghĩa.

Cô gái giang hồ trong cuộc tình cinema bất hủ Pretty Woman ngày nào giờ đây đã đường bệ vào vai “đào mụ” trong bộ phim Mirror Mirror ngớ ngẩn. Người ta không khỏi xót xa cảnh nàng u buồn nhìn xoáy vào bóng mình trong gương, nụ cười huyền thoại của Người Đàn Bà Đẹp chỉ còn lưu dấu những khắc vạch cay nghiệt của thời gian quanh khuôn miệng từng một thời chói chang tỏa nắng.

Thế rồi nàng lại thủ diễn bên cạnh Javier Bardem trong phim Eat Pray Love, và rồi lại nghe tin đồn họ nhập vai hơn cả khi có mặt đạo diễn và ống kính máy quay. Nhắc đến máy quay, thì ắt nhiên, mối thâm giao mới mẻ giữa Julia và Javier cũng không thể nằm ngoài phạm vi lia ống kính của đám paparazzi lẫn chàng cameraman Danny Moder của nàng.
Người ta e ngại rằng một khi cuộc hôn nhân tan vỡ, hoặc Julia vĩnh viễn cự tuyệt sự mong manh phi nghĩa của giá trị hôn nhân, hoặc nàng sẽ vong thân vào la liệt những anh chồng thời vụ, hồn nhiên đạp gót lên thứ từng làm nàng hãi sợ, khốn đốn và khổ đau nhất.
Nàng đã Yêu, Nàng đã Cưới, và bây giờ, người ta Cầu Nguyện cho Nàng.

tội ác bên trong lớp váy tín đồ

Hoa Nhài Đen

Có thể nói, nội y, hay còn gọi một cách cầu kì đúng điệu Francophone là “lingerie”, chính là cách mà thời trang “sờ chạm” trực tiếp nhất đến các tín đồ của mình. Nhưng sự sờ chạm vào những phần mẫn cảm nhất của tòa thân thể ấy, là một sự vuốt ve, nâng niu chiều chuộng, hay những cọ xát thô lỗ, lại không do Thời Trang quyết định.

Nhưng những cú đụng chạm ấy âm thầm diễn ra nơi ít người nhìn thấy nhất, giấu bên dưới lớp trang phục hào nhoáng bên ngoài. Nhưng nếu thời trang là tuyên ngôn và thông điệp, thì lingerie chính là lời tuyên ngôn cuối cùng, long trọng nhất và cũng thật thà nhất về nữ chủ nhân của nó, dù không hề là lời tuyên ngôn được hét to cho mọi người cùng nghe, ngoại trừ một khán-thính giả tối trọng và duy nhất vào cuối ngày.

Bạn có thể chi 20 USD cho một chiếc váy cưới hoàn hảo tại flea market, nhưng mọi fashionista văn minh đều nên hiểu, nếu có 2 thứ trên tổng diện cơ thể của bạn đòi hỏi đầu tư cầu kì và xa xỉ nhất, đó chỉ có thể là giày và lingerie.

Vậy mà đây lại chính là phần trang phục đang bị ngược đãi nhiều nhất quanh ta. Những cuộc ngược đãi thầm lặng bị đè nén dưới những lớp áo xống. Đôi khi đâu đó trong một công sở, trên đường hay tại một night club, những cuộc ngược đãi ấy vẫn bật thoát một tiếng thét thảm họa vươn ra ngoài: một sợi dây suspender đính hạt nhựa Trung Quốc tố cáo cả một tiểu khu hàng nhái ẩn giấu bên trong, một lưng quần màu khó xác định vươn ra khỏi lưng quần jeans như tiếng thét thất thanh cầu cứu, hay một cặp mông bị phân đều chằn chặn bốn khối bởi một vết hằn chữ V, tố cáo một chiếc quần grannie cổ lỗ sĩ bên dưới lớp váy bó tân thời.

Bạn có thể đứng 20 phút trước tủ quần áo rộng mở và thay vào cởi ra tổng cộng 5 lần cho mỗi cuộc sửa soạn, để rồi lướt thật nhanh qua ngăn kéo lingerie với một sự lựa chọn bất kì.

Nếu quả vậy, thật đáng tiếc, bạn nên làm ngược lại!

Lingerie Hồ Quảng và Nghệ Thuật Trang Trí Đỉnh Cao

Thoạt tiên phải nói đến các nàng diva đa tình và đỏm dáng. Tưởng chừng họ là những tín đồ cục cưng của thời trang tuẫn tiết vì sự cầu kì và tinh thần lãng mạn đến tận lớp lót.

Bạn như một nghệ sĩ và mọi lớp áo quần được đối xử như phục trang trình diễn, và lingerie là thứ để dành cho những show diễn tài tình nhất, cho một khán giả đặc biệt may mắn duy nhất. Đó là khi các thảm họa bắt đầu, và ngay lập tức, F cần có những tiếng còi cảnh tỉnh.

1. Sex Doll:

Không có cái tên nào phù hợp hơn để gọi trường phái lingerie này. Chúng được thiết kế để biến người mặc trở thành một búp-bê tình dục lòe loẹt và ngớ ngẩn. Quần không đáy, coup áo được đục hai lỗ, trông tựa như loại áo đặc chủng của phụ nữ đang cho con bú. Bạn có cả một cái chợ buôn sỉ phụ liệu may mặc trên chỉ 3 rẻo vải tí hon: ren, bèo nhún, đăng-ten, gấu bông to bằng ruồi, vải đốm da beo, những quả pom pom bằng bông xù, hạt nhựa giả pha-lê, v.v…

Món lingerie “đặc chủng” này trông có vẻ phù phiếm nhưng rõ ràng ngập ngụa thuộc tính thực dụng của một món trang phục chức năng. Nhưng ngoại trừ trường hợp bạn đang hẹn hò với một người đàn ông đặc biệt hâm mộ búp bê Barbie, còn thì xác suất bạn trông không hề giống một Thiên Thần nhà Victoria’s Secret là 99.9%!

Đã từng có thời, điều này được coi là sexy, trong những cuốn video xxx thời thập niên 80, nhưng đến nay, vào 2012, chúng chỉ còn đồng nghĩa với những nam tài tử phim đen đầy lông lá, nhạc pop bằng organ điện tử, hay tệ hơn nữa là các cô nàng phố đèn đỏ Patpong ở Bangkok – những thứ chỉ phát huy tác dụng duy nhất và phũ phàng hiệu lực ngay tại chỗ là hiệu quả diệt dục.

Thật tệ nếu bạn tự đánh giá rằng người đàn ông của mình sẽ nhảy dựng lên vì sung sướng khi bạn xuất hiện, ngô nghê với các món khí cụ bằng ren ấy, châu thân lỉnh kỉnh gấu bông, bong bóng, tai thỏ lẫn dây suspender đính vào vớ lưới nhì nhoằng.

Trong thẩm mỹ phòng the các thế hệ trước, vâng, một quý bà ren rua đầy mình, tay cầm tẩu thuốc và cả cái khăn choàng lông phe phẩy như phục trang Hồ Quảng là biểu tượng của những gì li kỳ và gay cấn xảy ra sau 11 giờ tối. Nhưng nếu bạn đang không yêu đương với một vị cao niên, thì đừng bao giờ quên nguyên tắc “càng ít càng nhiều”, và “vui mắt” không đồng nghĩa với “khôi hài”.

2. Pin-up Lolita:

Một biến thể văn minh của dòng lingerie phố đèn đỏ nói trên chính là những kiểu nội y nhắc nhớ các trào lưu pin-up thập niên 50 và bộ bikini của nàng BB thập niên 60.

Bạn gặp chúng ở bất cứ đâu, với một chút ren nhún vui vui, lốm đốm chấm polka, hoặc kẻ sọc kiểu thôn nữ phát rồ, lưng quần thấp như tuột trễ dưới xương chậu và cặp coup tròn xoay mềm mại chỉ đủ ôm nửa bầu ngực dưới. Chúng là một thứ ngô nghê vờ vịt, che đậy nhưng chào mời, bất định và đồng bóng, dậy thì và hồi xuân, ngay cả khi ôm gọn lên những đường cong mùi mẫn của thân hình diva tuổi vào thu (nếu nàng còn may mắn giữ được những nơi cần thon gọn)

Nói một cách khác, pin-up lingerie là một món hay ho rất nên có mặt trong mọi ngăn kéo tối mật của tín đồ lãng mạn. Nhưng ngay cả khi bạn là một cô nàng quen đóng khung lệ bộ trong những bộ suits lịch thiệp, hãy cho phép mình một chút nghịch ngợm hư hỏng vô hại bên dưới lớp váy đen đầy phẩm giá.

Nhưng hãy cẩn thận! Chỉ cần một chút quá tay mất cân bằng, bạn sẽ hóa thân thành một nhân vật hoạt hình ngập chìm trong bèo nhún, và hình ảnh mỹ nhân mẫu giáo ấy khó lòng có thể gợi chút hứng tình nào. Minnie Mouse có thể nổi tiếng vang lừng và được mến mộ thật đấy, nhưng không người đàn ông hay cậu trai nào muốn hẹn hò với nó cả, ngoài một con chuột tưởng tượng.

Cuối cùng thì yếu tố ghi điểm của dòng Lolita lingerie này vẫn được thực hiện tối ưu trong phòng ngủ, như một lời tuyên ngôn đầy màu sắc nữ tính của sự sẵn sàng và lời hứa hẹn đầy hào hứng của một cuộc tiêu khiển vô ưu.

Thảm Họa Nội Y Thực Dụng

Phổ biến hơn hẳn so với sự cầu kì của trường phái hoài cổ Hồ Quảng nói trên, là những thảm họa của định kiến chức năng khi nói đến nội y, để ấn định chúng vào cụm từ “quần áo lót”. Ngay cả các thương hiệu lẫy lừng tên tuổi, những chuỗi cửa hàng bán lẻ cho đến những quầy sạp nhà lồng, kiểu nội y chức năng này thu hút từ cô nhỏ mới dậy thì tập thói cả thẹn, cho đến những cô nàng vừa lập gia đình và bắt đầu lo ngại vấn nạn mỡ thừa.

Chúng là những khí cụ nâng đỡ, tém gọn và tái quy hoạch các khối phần thân thể. Những cặp coup nhồi đệm push-up, những kiểu quần grannie lưng cao bó bụng, và cả những cặp pantyhose tiện dụng.

Tuẫn tiết trong cuộc gò nén thân hình, bạn sẽ không thể ngờ chúng có thể dẫn dắt bạn đến những tội ác thời trang ghê gớm nhất.

1. “Gia Tài Của Nội”:

Bằng một niềm tin hồn nhiên nào đó, bạn hi vọng phần lưng cao và dày bản của loại quần lót bó bụng này sẽ ôm giữ những mảng cơ thể lỏng lẻo và chèn ép bộ nội tạng của bạn lại thành vòng lưng ong. Nhưng kết quả luôn luôn có được, đó là ngấn lưng quần nghiệt ngã hằn sâu trên những tảng cơ đã rệu rã như sắp bong tróc tan chảy khỏi cơ thể bạn, những khối cơ rung rinh bị dồn nén và đẩy ngược cho đến kỳ phun trào ra khỏi lưng quần và, đương nhiên, bộ nội tạng quá tải của bạn vẫn ở nguyên vị trí cũ với thể tích không đổi.

Điều tệ hại hơn nữa, thứ đai trinh tiết bất đắc dĩ này sẽ cho bạn một phong cách xứng danh dũng sĩ diệt dục khi trút bỏ bộ cánh bên ngoài, và thứ cảm giác gần gũi duy nhất với một người đàn bà trong chiếc quần như thế chỉ có thể là hình ảnh võ sĩ môn vật tự do hoặc các cụ bà đáng kính.

Không hài lòng với vòng eo lỏng lẻo của mình? Hãy bỏ số tiền tương đương một tá quần như vậy vào một cái thẻ tập thường xuyên hay một chiếc xe đạp, bằng không thì hãy tập làm quen với những ngấn mỡ phun trào ẩn hiện sau lớp áo, và những tiếng thét kinh hoàng vang lên gần bạn mỗi bận cởi đồ.

Nhưng, oái oăm thay, điểm cộng của kiểu quần lót grannie tân thời với bản lưng cao lại phát huy dáng vẻ gợi tình của một thân hình thon thả, xương hông cân đối, và đặc biệt với cặp dây nịt vớ – một thứ hơi hướm bdsm cực kì kinh điển và gợi tình! Đến đây thì chức năng tạo dáng của nó được phát triển đúng đắn nhất, tức là định hình và tôn dáng cho nữ chủ nhân, với cặp chân như được kéo dài hơn nhờ phần eo nâng cao và phần bụng mềm được bó săn thít, phẳng phiu. Một khi thoát y và được mặc như món trang phục rù quến trong phòng ngủ, chiếc quần lót ôm bó lưng cao, với những đường nẹp luồn xương na ná những chiếc corset kinh điển của Jean Paul Gaultier sẽ khiến bạn trông như một món quà được long trọng gói ghém lịch sự đến mức không người đàn ông có lương tri nào không muốn mau mau xé bỏ cái gói để chóng hưởng món quà theo một cách không hề lịch sự chút nào cả.

Một biến thể tinh tế của granny panties, với chất liệu mỏng và một tỉ lệ đăng-ten chấm phá khôn ngoan để cân chỉnh form dáng thô rộng của chiếc quần, sẽ cho bạn vẻ mong manh có khả năng kín đáo trêu mời mọi tư tưởng manh động, và các cuộc tấn công được hoan nghênh nhằm vào tạo vật mỏng manh sương khói ấy.

Thế là cuối cùng, chẳng có thứ nội y nào thay thế cho một thực đơn khôn ngoan, kỷ luật vận động hay phẫu thuật thẩm mỹ cả! Còn nếu bạn không thể ăn kiêng, tập thể dục và cũng phản đối nốt phẫu thuật thẩm mỹ, nhưng lại trông cậy vào một chiếc quần lót để cho mình vòng eo gợi tình, thì, đương nhiên, bạn rất không nên thoát y trước mặt bất cứ ai cả!

2. Sporty Undies:

Vậy là từ thời gây sóng gây gió của Mel C nhóm Ngũ Vị, khái niệm “sporty” mất hết ý nghĩa về sự gợi cảm của thể hình khỏe mạnh và cô nàng năng động, mà chỉ còn gợi nhớ đến trán cao miệng rộng, vạm vỡ, và múa hát. Ngay cả những bộ đồ lót kiểu dáng thể thao bằng thun co giãn cũng không giúp cải thiện tình hình hơn chút nào. Chúng có thể phù hợp trong phòng thay quần áo của một lớp thể dục nào đó, nhưng làm ơn, đừng nhầm lẫn khi mang chúng vào để tạo hình cho một nữ kiện tướng đại vận hội phòng the.

Tệ hại hơn hết, các nẹp thun viền sẽ tiết lộ bất cứ gam mỡ thừa nào tích tụ tại vòng eo và ngang mông. Để điều tiết ngấn chữ V và tinh thần thể thao hùng hục ấy, một chiếc quần thể thao dáng G-string hay “thong” sẽ là giải pháp tối ưu, an toàn nhưng vẫn nóng bỏng.

Tuy nhiên, nếu bạn là fashionista dòng casual bụi phủi, thường xuyên cặp kè với quần cargo lưng xệ hoặc jeans, thì những dải nẹp lưng quần sặc sỡ sẽ là điểm nhấn nhá vờ như vô tình nhưng gợi ý lắm thứ hay ho. Nhưng bạn sẽ phải chấp nhận một luật bất thành văn của tín đồ trường phái sporty, đó là những bộ ngực trần bên dưới chiếc sơ-mi nam phong phanh vờ vịt, hoặc chiếc tanktop khỏe mạnh, phóng khoáng và trêu ngươi.

3. Ngẫu hứng Mismatch:

Cùng với một cuộc chơi mismatch với những mảnh không cùng một bộ, bạn là hiện thân của lối sống “bán nghệ sĩ” của những cô nàng cẩu thả một cách hữu ý, hút Marloboro Light cao bồi nửa mùa, shopping bằng thẻ, có một công việc dính dáng xa gần tới thời trang và hành xử như đang sống ở Notting Hill. Nói chung là có vẻ vui nhộn và dễ thở.

Mốt này trở nên thịnh cực kì hồi thời của Britney Spears, dẫu sao thì không lâu sau đó cô nàng cũng được nhìn thấy mặc một bộ đồ hình chú heo màu hồng nên đây cũng không hề là một tấm gương điển hình đáng đưa vào cân nhắc cho lắm.

Nhưng kể từ đó, những cô nàng thế hệ “nghệ sĩ một nửa” bắt đầu hứng thú với trào lưu mismatch như một sự tự do buông tuồng dung túng cho thói cẩu thả, một lối thoát dễ dãi để bao biện cho thời trang luộm thuộm. Thảm họa sẽ thật sự diễn ra một khi bạn kết hợp một chiếc quần kiểu thanh nữ virginal bé xíu bằng ren màu trắng ngà với một cặp áo ngực bằng thun cotton kẻ sọc. Đó sẽ là một cặp đôi khiên cưỡng và nhếch nhác, một kiểu tự do vô chính phủ quá đà. Bạn trông giống một cô nữ sinh kí túc, đã mắt nhắm mắt mở vơ bừa những mảnh lingerie của mấy cô bạn cùng phòng mà quàng bừa vào người. Không có sự hời hợt nào có thể xúc phạm thời trang thậm tệ hơn thế, và cũng như cô nàng mặc quần grannie, tốt hơn hết bạn không bao giờ nên cởi quần áo trước mặt bất cứ ai.

Chớ vội cả tin vào cảm giác dễ dãi của vẻ ngẫu hứng cố tình ấy! Tiêu khiển với mismatch là một bộ môn khoa học cao siêu, đặc biệt khi dính dáng đến nội y. Bạn phải tính toán đến sự hài hòa về màu sắc nhưng trên hai mảnh chất liệu đối nghịch, hoặc là đối lập hoàn toàn về màu, nhưng tương thích tài tình về chất liệu hay tại một chi tiết trang trí bất ngờ nào đó. Sự va chạm đối nghịch của hai phần trong cùng một cặp sẽ tạo nên một bức tiểu họa lập thể lí thú với những hiệu ứng bất ngờ.

Một chiếc quần spandex kiểu boyshorts như cặp quần đùi con trai ngắn cũn mặc với cặp nịt ngực ren đỏ thắm sặc vẻ quí bà là một dẫn dụ hoàn hảo, chẳng hạn. Bạn thích phá luật và tự làm luật, vậy đó! Bạn không thích việc mọi thứ phải đi theo một cặp đồng màu. Còn trong mắt các chàng, đây là cả một sự thay đổi lí thú sau màn trình diễn của ái tình kẹo ngọt đều đặn hàng đêm. Bên dưới bất kể bộ váy áo nào, bạn đột ngột xuất hiện đầy ngẫu hứng, khoáng đạt, vô ưu, và vui mắt trong một dáng điệu ngộ nghĩnh, hoặc bởi quáng quàng hậu đậu đến mức không tìm ra mảnh còn lại của một bộ ton-suit-ton, hoặc bạn thừa mứa tự tin vào thân hình ngon rau ráu tới mức chẳng buồn xét nét đến bộ đồ lót vốn chẳng bám được trên da quá vài giờ mỗi ngày!

thăng trầm hai mảnh bikini

Hoa Nhài Đen

Giáo sư danh dự khoa kinh tế trường đại học Baruch, Aaron Levenstein khả kính, là tác giả cuốn “Escape to Freedom: The Story of the International Rescue Committee”.

Không nhiều người biết điều này.

Nhưng câu nói của ông: “Các con số thống kê, chúng như những bộ bikini vậy – phô diễn ồn ào những thứ đầy thi vị, nhưng luôn bảo đảm che đậy những yếu tố nền tảng quan trọng nhất” đã khiến ông nổi tiếng trên toàn thế giới

Cuộc chiến hạt nhân chống nguyên tử trên không phận Riviera

Từ năm đầu tiên uể oải đứng lên sau Đệ Nhị Thế Chiến, toàn châu Âu đặt lên vai giới thời trang Paris trách nhiệm cứu rỗi và chữa lành, vốn dĩ là quyền năng lợi hại muôn thuở của thời trang, nhằm tô điểm cho bức tranh thời hậu chiến khi này còn quá đỗi thê lương u ám. Nhưng không ai ngờ, khi mà madame Coco còn lưu vong với nghi án phản quốc, thì vận mệnh phục hưng lại nằm trong tay những tông đồ ngoại đạo: một chủ tiệm chạp-phô và một tay kỹ sư cơ khí vùng Riviera.

Đầu hè năm ấy, khi mà giới thượng lưu Âu châu đổ xô về bãi biển Cannes nhằm bù đắp những tháng ngày u tối, Jacques Heim – một nhà thiết kế kiêm chủ một cửa hiệu đồ tắm ở Cannes đã trở thành người hùng bất đắc dĩ khi liều mạng tung ra mẫu áo tắm Atome với nghĩa tên gọi “nguyên tử” đầy mùi ca tụng đòn tung bom chí mạng của quân đồng minh tại Nhật, và cũng nhằm hàm chỉ diện tích vải eo hẹp đến ngộp thở của món thời trang này.

Thoạt tiên chỉ với mục đích bán trong cửa tiệm riêng của mình, nhà thiết kế kiêm doanh nhân ranh mãnh đã thuê tàu bay viết quảng cáo bằng khói trắng lên nền trời thừa nắng của miền Nam nước Pháp, xưng tụng Atome là “bộ đồ tắm nhỏ nhất thế giới”.

Nhưng tay chủ tiệm có lời công bố mau mắn nọ đã không ngờ rằng ông không hề là người hùng đơn độc. Cùng lúc, cũng tại Pháp, một nhà thiết kế tài tử khác cũng đã nỗ lực tung ra một mẫu tương tự cho mùa hè phục hưng hậu chiến 1946. Chỉ 3 tuần sau khi lời công bố của Heim được tải bay phấp phới trên trời, Louis Reard – một kỹ sư cơ khí đột nhiên chiêu hồi vào lĩnh vực đồ tắm đồ bơi, cũng tung lên nền trời vùng Riviera thông điệp quảng cáo đầy màu sắc hào hùng và láu cá “Bikini – còn nhỏ hơn cả loại đồ tắm nhỏ nhất thế giới.” Trò “ranh mãnh hơn cả kẻ ranh mãnh nhất nước Pháp” ấy đã khiến Reard khéo léo ăn theo luôn cả hiệu ứng marketing của gã chủ tiệm tội nghiệp. Cái tên bikini ngộ nghĩnh dễ nhớ chính thức trở thành tên gọi của kiểu áo tắm hai mảnh cho đến nay vẫn đảo điên khuấy động sóng biển lẫn sóng tình hơn 70 năm sau.

Khi dự định công diễn bikini tại Paris, Reard đã không thể tìm ra một cô người mẫu nào chịu mặc thiết kế kiệm vải này, cho đến khi ông may mắn gặp người mẫu Micheline Bernardini, vốn mang trái tim quả cảm của một vũ nữ khỏa thân chuyên nghiệp. Cô trở thành vị nữ đại sứ chính thức đầu tiên của cách mạng bikini ghi dấu xâm lăng lên sàn diễn thời trang Paris năm ấy.

Không ai biết được liệu gã chủ tiệm hay anh kỹ sư cơ khí của mùa hè 1946 ấy đã tiên liệu trước cuộc cách mạng dài hơi, với tầm ảnh hưởng xuyên thế kỷ, đã vĩnh viễn thay đổi bộ mặt các bãi biển và can thiệp khó lường vào khái niệm đạo đức xã hội lẫn giá trị hôn nhân của hậu duệ hơn nửa thế kỷ về sau.

Người ta cho rằng bàn thắng của tay kỹ sư cơ khí hơn 60 năm về trước được quyết định không chỉ bởi dòng slogan láu cá, mà chính tên gọi bikini đã khiến trào lưu bùng nổ như chính những vụ thử bom hạt nhân xuất phát cùng năm trên hòn đảo cùng tên. Cả hai vụ nổ trên quần đảo Marshall và bãi tắm Cannes đều để lại cho nhân loại thứ quyền năng hủy diệt và những đống hoang tàn gớm ghê.

Tiết hạnh Hoa Kỳ và người đàn bà Gaulois bé bỏng

Như một lộ trình ngẫu nhiên, bikini vượt bể dội bomb tổng lực lên thị trường thời trang Hoa Kỳ chỉ sau một năm liên tiếp càn quét Âu châu. Vụ bùng nổ bikini tại Cannes đã không thực hiện cuộc càn quét dễ dàng qua những vùng duyên hải nước Mỹ, nơi kiểu áo tắm tiết hạnh khả phong vẫn kiên cường bám trụ trên thân thể quý bà công dân Hợp Chủng Quốc.

Dân Hoa Kỳ thủ cựu mỏi mòn níu giữ những giá trị cực đoan của Âu châu cũ nên tỏ ra câu nệ hơn với những mảnh trang phục giật gân gay cấn này.

Tài phiệt dòng thời trang biển Fred Cole, chủ nhân ông của Cole of California tỏ ra dè bỉu với ít nhiều kì thị đối với cơn sốt bikini của người Pháp, rằng chúng được thiết kế cho “những thân hình dí dị thiệt thòi của đàn bà giống Gaulois”. Ông giải thích rằng các cô gái Pháp sở hữu những cặp chân ngắn đụt nên cần cậy nhờ vào bikini, với hai bên chiếc quần bơi được giảm thiểu cho chân có vẻ dài hơn, và điều đó, cộng với sự lõa thể sỗ sàng của người Pháp, khiến bikini là bộ đồ tắm “để lộ tất cả mọi sự thật về người phụ nữ, ngoại trừ tên thời con gái của bà thân mẫu.”

Nhưng sự mỉa mai huỵch toẹt ấy không làm nản lòng một người phụ nữ Gaulois. Con mèo cái nhỏ của nước Pháp Brigitte Bardot tung tẩy khối thịt da hừng hực trong shot ảnh chụp vào liên hoan phim năm Cannes 1953 đã là một đòn chí mạng giáng lên những mảnh swimsuits thủ cựu.

Tiếp bước theo cô là giai nhân nước Mỹ Marilyn Monroe, dẫn lối cho Esther Williams cho đến Betty Garble trong trào lưu bơm căng danh vọng bằng những đường cong được che đậy hững hờ.

Khi ấy, liên hoan phim Cannes và đào BB đã hình thành một mối liên hệ cộng sinh. Cannes nâng đỡ bước nàng vào hàng danh vọng màn bạc, ngược lại, nàng đặt Cannes lên bờ ngực đẫy đà chỉ chực nhảy xổ khỏi coup áo bikini, và trở thành đại diện quan hệ cộng đồng hùng mạnh nhất của Cannes (cả sự kiện và thành phố diễn ra sự kiện).

Trong khi Mỹ vẫn tỏ ra lãnh đạm, thì ở lục địa già Âu châu, với sự ủy lạo nhiệt tình bằng ngọc thể của những thần nữ ái tình màn bạc như BB, Anita Ekberg và Sophia Loren, bikini vào thượng tầng cao trào. Nhưng những quốc gia lân bang của Pháp là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ý Đại Lợi vẫn cùng một số tiểu bang Hoa Kỳ, kiên cường ôm ghì nền đức hạnh chuyên chính, cấm triệt để bikini.

 

Chiếc vương miện hoa hậu bị nguyền rủa và những nhà cách mạng không có rốn

Năm 1951, cuộc thi Miss World đầu tiên, tiền thân là Festival Bikini Contest đánh dấu cuộc chiến du kích của bikini vào mặt trận thời trang chính thống, do Eric Morley tổ chức, với tư duy đả cựu nghinh tân hiếm hoi của xứ Ăng-lê. Báo giới ồ ạt hoan nghênh sự tiến bộ này và mặc nhiên gọi tên cuộc thi là Miss World, từ đó mà Morley đăng kí cái tên này như tên gọi chính thức của sự kiện. Hoa hậu đầu tiên, Kiki Hakansson từ xứ Thụy Điển đã tài tình người đẹp nhất trong bộ bikini mà ở xứ cô hiếm hoi mới có dịp diện đến, một phần bởi quá nhiều các đối thủ hạng nặng đến từ các nơi dư dả đường duyên hải đã rút tên khỏi cuộc thi dưới áp lực của đạo đức ăn bận của nước nhà. Thế là về sau, chính cuộc thi người đẹp bikini toàn cầu đầu tiên rơi vào cái bẫy danh dự Miss World của chính mình. Bikini bị phế truất khỏi chính sự kiện của nó, và được thay thế bởi những bộ váy dạ hội sang cả, Hakansson là hoa hậu Miss World đầu tiên và duy nhất đầu đội vương miện, mình vận đồ bơi, và người đàn ông duy nhất trên cõi nhân gian nguyền rủa vương miện của nàng là đức Giáo Hoàng.

Từ đó về sau, các cuộc thi nhan sắc cũng lần lượt công khai cấm vận bikini. Các nhóm nữ quyền tung rải tuyên ngôn bài bác bikini tại các cuộc thi đầu thập niên 70, các đoàn thể xã hội tạo sức ép lên kinh đô điện ảnh Hồ Ly Vọng, đòi hỏi các đạo diễn tiễu trừ những mảnh vải không-hề-nhỏ-nhít ấy ra khỏi màn bạc, dù những bộ phim về nam thần hoang dã Tarzan từ thập niên 30 đã sớm trưng trổ tòa thiên nhiên hùng vĩ của đào Maureen O’Sullivan trong bộ bikini sơn nữ với một lí do hiển nhiên là chuyên nghiệp nhất: tôn trọng bối cảnh kịch bản. Nhà nghiên cứu điện ảnh Bruce Goldstein mô tả nôm na bộ cách Sơn Nữ Tên Jane này là “một loại khố để hở một bên sườn, và người ta có thể nhìn thấy nhiều hơn là một mảng sườn”.

Thế là các nhà đạo đức hè nhau dựng tạm một liếp rào phẩm hạnh, với một định chế nôm na là cứ hở rốn như bikini là dâm ô một rọ.

Ranh mãnh như chính cha đẻ người Pháp của bikini, các tạp chí vẫn đăng ảnh chụp bikini, nhưng tinh ma hiệu chỉnh mờ phần rốn, hoặc với những tư thế khôn ngoan vờ vịt che chắn bộ phận vô tội này, chiều theo quan điểm định hình kích thước phẩm giá trên.

Mọi trang bìa phần phật những phần bụng dưới được lập lờ bào nhẵn, những lỗ rốn vô tội được chắn che cẩn thận, và những chiếc quần tắm nhỏ xíu tuột trễ thật sâu dưới xương hông vẫn như có thể bị rơi tuột xuống tận cổ chân bất cứ lúc nào.

Và như vậy, chiếc bikini của người Pháp đã thâm nhập thị trường Hoa Kỳ qua con đường những vị nữ đại diện vẫn đầy đủ phẩm hạnh và không có rốn.

 

Cuộc chinh phục những cô đào Hồ Ly Vọng

Năm 1962, tiêu chuẩn nhan sắc Mỹ Bond Girl, khi này do Ursula Andress thủ diễn, chói chang diễm lệ đi lên từ biển, tái hiện hoàn hảo một bức tranh Vệ Nữ mình bận bikini trắng toát mồ hôi. Scene này lập tức đi vào huyền thoại những pha bất hủ của chuỗi dài phim James Bond mọi thời kỳ, được coi là scene bikini nổi tiếng nhất thời đại đã đưa đào Ursula lên đài cao danh vọng. Theo mô tả lại, đó là một dẫn dụ bằng hình ảnh tuyệt vời nhất của cuộc cách mạng tình dục trên màn ảnh Mỹ những năm 60, và cũng là cái cớ để phái thủ cựu chế giễu gọi trại tên nàng thành Ursula “Undress”.

40 năm sau, Halle Berry, trong một phim khác về James Bond là Die Another Day, tái hiện hình ảnh Ursula Andress trong bộ bikini giống hệt.

Năm 2001 bộ bikini trắng nổi danh ấy được mua lại trong một cuộc bán đấu giá với 61,500USD

Tiếp nối thành công hiển nhiên của bikini với màn bạc Mỹ, các siêu phẩm cine, ca nhạc và truyền hình Hoa Kỳ tiếp tục tung ra những quả bom gây ngộp khác trong Dr.Stragelove, Beach Party, và ca khúc ngộ nghĩnh Itsy Bitsy Teenie Weenie Yellow Polka Dot Bikini trở thành bản pop “bikini ca” của tín đồ thời trang toàn thế giới, với giai điệu ngộ nghĩnh về cô nàng cả thẹn lần đầu mặc bikini đã trở thành ca khúc nổi tiếng nhất về bikini và nâng món trang phục ồn ào này vượt tầm thời trang chức năng để trở thành một hiện tượng xã hội và một đại diện của lối sống thanh niên thành thị mới.

Nương theo đợt sóng thần của cuộc đại cách mạng tình dục và pop culture, bikini trở thành thứ thời thượng nóng rẫy nhan nhản khắp các hồ bơi bãi tắm của Hợp Chủng Quốc. Tờ Playboy của ông lão chăn thỏ Hefner cũng lập tức căng phơi bikini lên trang bìa vào 1962, hai năm sau, tờ thể thao đứng đắn Sports Illustrated cũng nối gót Playboy. Bà hoàng pin-up Marilyn Monroe tung tẩy những khối thân thể tròn căng như muốn nẩy vọt khỏi bộ bikini trên những tấm poster quảng cáo phim và mọi bìa tạp chí. Cùng với nàng là hàng loạt các cô đào thứ dữ, Jayne Masfield, Gina Lollobrigida đến Hayworth và Raquel Welch cùng đắm chìm trong làn sóng bikini.

Chính từ giai kỳ bikini này, lịch sử điện ảnh ghi nhận hàng loạt truyện phim được xây dựng trên bối cảnh bãi biển với yếu tố kịch bản không nhất thiết quá cầu kì. Đây chính là bệ phóng của siêu hình tượng nhan sắc nước Pháp Brigitte Bardot thập niên 60, và về sau này là kiều nữ truyền hình Mỹ Pamela Anderson với những màn chạy nhảy leo trèo mải miết trong series bỏng con ngươi Bay Watch cuối 80.

Cơn đại dịch dai dẳng và những biến chứng li kỳ

Sau hồi hưng thịnh lẫy lừng, những năm cuối 1980 và đầu 1990 đã chứng kiến sự hắt hủi của giới thời trang và các tín đồ dành cho bikini, với màn tái xuất gay cấn của áo tắm một mảnh, lần này với đường hông khoét cao ngặt nghèo đến tận eo, mô phỏng trang phục aerobic khi này đang gây sốt khắp địa cầu qua các video hướng dẫn của minh tinh Jane Fonda và siêu mẫu Cindy Crawford.

Cộng thêm vào đó là những phát hiện mới đầy đe dọa về căn bệnh ung thư da do nắng khiến bikini trở thành kẻ tội đồ khủng khiếp. Năm 1988, hãng bikini của ông tổ Louis Reard phá sản chấm dứt cuộc vinh hoa của anh kỹ sư cơ khí số đỏ, khi mà những mảnh bikini khi này chỉ có mãi lực bằng 30% mãi lực áo tắm một mảnh.

Ông đã không phải chứng kiến ngày lụi tàn của cơ đồ, bởi ông đã viên mãn yên nghỉ 4 năm trước khi phải chứng kiến sản nghiệp một đời vào cơn khánh tận.

Đã phải mất gần một thập niên để bikini chờ đợi những công thức kem chống nắng hiệu quả hơn.

Với chiêu bài cũ là mượn lực từ đối phương, sau thời kì thập niên 90 đen tối, bikini tái xuất lẫy lừng trong một thái độ hoàn toàn mới, mượn ý tưởng từ phần eo được vén cao quá độ khiến những cặp mông bị phơi lộ hầu như hoàn toàn của swimsuit một mảnh. Cánh mày râu lại được phen tối tăm mặt mũi trước những chiếc quần bikini mà cấu trúc phía sau chỉ còn là một dải chất liệu mỏng manh ngặt nghèo, hoặc thậm chí chỉ còn là một sợi dây mảnh mai đến khó chịu, nằm lọt thỏm ngoạn mục giữa đôi gò mộng, dễ bề khiêu gợi lắm sự nhiễu nhương.

Viện thời trang Met đưa ra nhận định về cuộc tái xuất vẻ vang này của bikini là một “hiện tượng xã hội về ý thức thẩm mỹ cơ thể, quan niệm đạo đức, và thái độ giới tính.” Phái PETA thức thời cũng không bỏ qua cơ hội và biến bikini thành vũ khí tối thượng trong chiến dịch sao khỏa thân “I’d Rather Go Naked”. Các siêu bom tình Pamela Anderson, Traci Bingham và Alicia Mayer đường hoàng xuất hiện trưng phô thân thể tươi rau ráu trong những bộ bikini kết bằng rau xanh, cũng tươi xanh ngon lành không kém, nhằm ủy lạo thực đơn ăn chay và hạn chế giết mổ.

Từ đây, con cháu hậu duệ của huyền thoại bikini cũng sinh đẻ đề huề. Từ dòng họ -kini đến các chị em họ -ini đã cho ra đời những dòng mẫu đa dạng, hình thành cả một hệ thống thuật ngữ cực vui tai mà tín đồ nào cũng phải bảo đảm thuộc nằm lòng. Từ monokini, numokini (không có phần áo), seekini trong suốt, tanikini với phần áo theo kiểu tanktop, camikini với áo có gọng như corset, hikini, thong, sling shot, minimini, teardrop, micro, v.v… và v.v…

Bikini vượt tầm thời trang hay một món đồ bơi thực dụng để trở thành một lối sống đầy thái độ và, oái oăm thay, đáng dùng để là cờ hiệu hay linh vật của mọi tổ chức nữ quyền cách đó không lâu còn tẩy chay và kì thị. Một cuộc điều tra cho thấy 85% bộ bikini được mua chưa bao giờ thật sự nhúng nước một lần lấy lệ, nhưng đến những năm đầu thế kỷ 21 đã mang lại nguồn niên lợi 811 tỉ Mỹ kim. Đương nhiên, đó là chưa kể nguồn lợi kinh tế đi kèm từ dịch vụ bikini waxing và công nghệ sản xuất kem chống nắng và nhuộm da.

vintage: hoài cổ & thức thời

 

Hoa Nhài Đen

Mùa thời trang vừa qua, từ Spring-Summer với cú ghi điểm lẫy lừng nhà Gucci qua màn tái hiện mốt flapper 20’s, mọi tuần lễ thời trang đều ngập trong đăng-ten, hơi hướm những chiếc quần ống loe và những cặp mắt kính màu trà nhạt to như mắt chuồn chuồn hồi 70’s cũng đã được dự báo ngoài thị trường, cùng lúc catwalk nhà LV biến thành một thứ công viên Disney với mọi nét hoa mộng của một câu chuyện cổ tích trong mơ, dệt bằng đăng-ten trên silhouette vintage 60’s không thể nhầm lẫn… Người ta nôm na gọi đó là mùa của vintage!

 

Vintage Không Hề Là Thời Trang Chính Thống!

Các tín đồ vintage bĩu môi: “Vintage ư? Từ đời nào rồi, Diễm!”

Phải chăng chúng ta luôn là vòng quay ngớ ngẩn tự lặp lại mình như vòng ngựa gỗ của Marc Jacobs?

Phải chăng thời trang vẫn luôn là sự cũ kỹ luân hồi?

Phải chăng cả thế giới là tín đồ vintage?

Trên thực tế, đôi khi chúng ta quên đi một thế giới ngầm vẫn luôn tồn tại song song với những trào lưu luôn thay đổi của thời trang đương đại.

Nhưng vintage chưa hề là thời trang, hay một dòng thời trang chính thống, cho đến khi những John Galliano, Marc Jacobs hay Miuccia Prada quyết định lôi chúng ra khỏi bảo tàng hay những phiên chợ flea market, đặt chúng lên runway đương đại một lần nữa, sau khi tài tình thổi phà vào đó mọi giá trị thẩm mỹ tân thời, và biến chúng thành những tuyệt phẩm thương mại, hay những phiên bản cổ vật dư thừa tiềm năng cháy chợ.

Vintage chưa hề là thời trang, vì khi nó trở thành thời trang, nó buộc phải bước ra khỏi mảnh sân sau vintage

Ralph Lauren SS-2012

Vương quốc cổ đại của những sơn nữ điên tình

Nguồn gốc thời trang vintage, vốn là một uyển ngữ mỹ miều cho những món trang phục cũ, thậm chí đã qua vài đời chủ nhân, vốn là một chiêu thức cổ xưa của các nữ tiền nhân tằn tiện. Cho đến nay, vintage đại diện nhiều hơn cho việc tái hiện, phục chế những trào lưu thời trang quá vãng, gồm cả retro và antique, với yếu tố sáng tạo hầu như không có, hoặc rất thấp.

Vintage tồn tại song song với vòng quay trào lưu của thời trang đương đại, và trở thành một góc khuất phía sau bề mặt sôi nổi của các biến chuyển của thời trang chính thống, nằm ngoài mọi quy luật đào thải luân hồi. Vintage không chỉ là phép cứu rỗi cho những diva cổ điển với tinh thần thủ cựu bài tân nặng nghiệp, những con nghiện hương xưa chính hiệu, mà đây còn là vùng đất dung dưỡng thú sưu tầm của shopper mỏng thẻ bởi cơ hội cho những món săn chính hãng với tag giá bình dân. Còn đối với các fashionista trí thức, vintage là một lựa chọn cho thông điệp văn hóa. Người ta có thể đoán được dòng văn học, triết lý sống hay trường phái mỹ thuật ưa thích của nữ chủ nhân, dẫu đó là văn học cổ điển, thuyết hiện sinh, hoặc dark-art.

Đó là một nền văn minh thời trang tự trị, nơi các nữ công dân của nó nhắc nhớ đến những tinh thần hoàng kim quá vãng của lịch sử thời trang, hoặc đơn giản chỉ tạo nên cảnh tượng một cuộc oanh tạc của các cô gái nhỏ vào rương quần áo cũ của ngoại. Đôi khi, sự cầu kì và tinh tế được thay thế bằng hình hài nhàu nhĩ của boho 70’s, bị ép duyên với cặp hoa tai disco 80’s, và mắt khói rock chic, để kết thúc bằng một hình mạo vui nhộn diêm dúa của sơn nữ điên tình.

Mặc tình, vintage vẫn tồn tại, ngộ nghĩnh và an nhiên, nơi những hồn vía retro thoát khỏi vòng xoay đào thải nghiệt ngã của những mùa thời trang thương mại. Từ đó, vintage khoác vào mình một giá trị vượt tầm những món vật cũ xưa, vintage trở thành một thông điệp và lối sống, được gìn giữ và tôn vinh bởi những tín đồ riêng của nó, trong khoảng sân sau của trường phái bất hủ và mọi giá trị văn hóa đi kèm.

 

Lãng mạn phục hưng hay chiến lược thương mại Déjà Vu

Cuộc dịch chuyển các mùa trào lưu của thời trang đương đại, và những thế lực thời trang thay nhau tung lên catwalk những sắc màu cạnh tranh gay gắt nhất, như một sự cố gắng tuyệt vọng tìm kiếm những cuộc thay hình đổi dạng mới mẻ, thậm chí quái dị, với mục đích duy nhất là khác biệt và trội bật. Các mùa haute couture biến thành những lễ hội giả trang với giá trị giải trí tối đa và hiệu ứng thương mại tối thiểu.

Như điều tất yếu phải làm khi đi lạc, khi những điều mới mẻ đã trở thành kỳ dị và lệch lạc, người ta sẽ tìm lối quay đầu, nhưng với một tâm thế mới của kẻ đã qua một chặng đường dài.

Louis Vuitton SS-2012

Đó là khi khoảng sân sau, hay thế giới ngầm vintage trở thành nguồn tư liệu sống động của chính các thế lực thời trang đương đại. Sự ảnh hưởng của nó được thể hiện mạnh mẽ và trực tiếp nhất vào runway thượng đỉnh haute couture.

Khi chạm đến ngưỡng tối thượng của trào lưu, người ta sẽ chạm đến những điều đã cũ, và như vậy, biểu đồ vận động của thời trang là một đường xoắn ốc theo chiều đi lên. Vòng xoay lặp lại tại điểm xuất phát, nhưng tại một tầm độ cao hơn.

Như Stefano Pelati xông pha vào các phiên chợ flea market ải mốc để tìm đến chính chiếc váy mang chữ ký của người tiền nhiệm Yves Saint Laurent.

Như chính Chú K. cổ quái nhà Chanel đến tận mùa haute couture vừa rồi vẫn hú hồn hiển hiện trên catwalk một phong mạo madame Coco của đầu thế kỷ trước.

Hoặc như kẻ hậu sinh Sarah Burton, tuân thủ trung thành những giá trị cổ điển trên từng tảng đăng-ten để hoàn thiện chiếc váy cưới trứ danh cho Kate Middleton, hơn là liều lĩnh với một thiết kế tân cổ giao duyên gượng ép và cái tôi phi nghĩa.

Những mảng diềm ren cổ lỗ sĩ lại lên ngôi nữ hoàng catwalk, và khối màu lập thể Mondrian vẫn vẹn nguyên một tinh thần Yves tái sinh, qua bộ lọc cẩn trọng của những tên tuổi mới của làng thời trang.

Cuộc thăng hoa của thời trang vẫn là những chuyến đi ngược, trong khi tự thân những vẻ đẹp xưa cũ, đi lên từ thế giới ngầm vintage, cũng tự vận động cuộc cải biên cho một thẩm mỹ thanh tân cho những tín đồ đương đại.

Temperley London

Không chỉ là một giải pháp mang màu sắc lãng mạn, nguồn cảm hứng vintage còn là một thế đòn bẩy tuyệt vời cho vị thế thương mại đang hồi chao đảo của dòng thời trang cao cấp, khi mà yếu tố chiến lược đằng sau mỗi thiết kế cầu kỳ biết tìm về đúng lợi thế thương mại vô song của dòng vintage: tiềm thức – thủ thuật tâm lí có thể ngay lập tức làm xiêu lòng mọi tín đồ điệu nghệ. Nói một cách khác, họ tung lên catwalk những ảo ảnh thân thuộc déjà vu.

Cùng với cuộc tái hiện rầm rộ tinh thần vintage trong những phiên bản tân kỳ, thông minh và dư thừa mãi lực, những kẻ đang nắm trong tay vận mệnh sống còn của thời trang cao cấp đã chọn dẫn dắt một cuộc hành hương tìm về những bản ngã của thời trang từ những giai kỳ hoàng kim cực thịnh.

Đôi khi người ta không cần phải đi quá xa để tìm thấy những điều mới mẻ.

Ralph Lauren SS-2012

 

Sự Trở Về Của Thời Trang Thập Niên 20 – Return To The Age Of Innocence

Thật ra, trong khi các fashionista Việt Nam còn chìm khá sâu vào giấc mơ hoa của phong trào vintage và rục rịch trù hoạch cho mùa tái thịnh của những chiếc váy mùa hè chít eo của thập niên 50, thì bên ngoài kia, vòng quay tráo trở của trào lưu sẽ dễ dàng chơi khăm các tín đồ vỡ lòng một vố thật đau. Hãy tỉnh táo chỉnh lại tầm ngắm, điều bạn muốn cho 2012 rất có thể được lấy cảm hứng từ một thời kỳ xa hơn từ đầu thế kỷ trước, chỉ riêng điều này cũng đủ giảm đáng kể nguy cơ bị “tủ đè” ê chệ với collection những món săn lệch mùa.

Hồ sơ hội chứng Flapper 20’s và báo động tái nhiễm

Với tất cả những dấu hiệu không chỉ từ mùa thời trang mới nhất, dự cảm của một shopper lão luyện sẽ nghe được từ mọi dấu hiệu của thời cuộc một trận tái thịnh huy hoàng của trào lưu flapper thời 1920, cái thời của cuốn tiểu thuyết Age Of Innocence (Thời Thơ Ngây) trứ danh, và những quý bà tập tành hút thuốc. Trong đó có cả lác đác sự trở về của vòng eo nhỏ xíu với chân váy lửng to phồng thập niên 1950, và một dòng khác với các chất liệu tổng hợp vui nhộn màu sắc disco điện tử 1980.

Nhưng qua mùa Spring-Summer vừa qua, hãy chọn đặt tầm ngắm báo bão vào lựa chọn tưởng như mong manh nhất: Flapper 1920!

Điều này đồng nghĩa với những cơn sốt muôn hình vạn trạng dựa trên tinh thần của thời kỳ đầu thế kỷ 20 này: những tà váy dài lững lờ trên cổ chân cho mùa hè-thu, đặc biệt tại các thánh địa nhiệt đới, các chất liệu xuyên thấu, thủ pháp layer, đường eo phôi pha rơi xuống quá xương hông để thành drop waist, những đường cong xôi thịt bị đánh mờ, những đường xương vai xanh xao và những cặp cổ chân mảnh khảnh sẽ lên ngôi nhan sắc. Dòng vintage tung hô vẻ đẹp gypsy, trong khi ready-to-wear cũng sẽ vận dụng cả kho tàng trang trí haute couture truyền thống với đăng-ten, chiffon, panther print, họa tiết dân dã, và thậm chí các tua rua kết thành mảng.

Người ta có thể dự báo cả một trận đại hồng thủy vào 2012, mặc nhiên, thời trang sẽ là tín ngưỡng chữa lành nỗi hoang mang tận thế với điệu nhảy Charleston quá vãng, trong xập xình nếp váy flapper.

Chỉ có điều, sẽ không phải là những món cổ trang được phục chế, tinh thần flapper hoàn toàn có thể được diễn giải qua ngôn ngữ thẩm mỹ thời trang đương đại và những chất liệu tân kỳ, nhưng đi cùng nó là những cơn sốt trở thành bất hủ,  những thứ không thể bị tuyệt diệt. Như pleat và safari.

Dự cảm của Patricia Field và lời sấm xếp pleat của Halston Herritage

Cuộc tái chấn hưng đã được dự báo từ gần 2 năm trước, trong lời sấm truyền kinh điển của nữ đại tông đồ Patricia Field – tổng lãnh phục trang cho siêu phẩm giải trí Sex And The City The Movie – cẩm nang thiêng liêng của mọi fashionista trên thế giới.

Vào đúng thời điểm tung ra bộ phim, Patricia – như mọi vĩ nhân khác của cõi loài người, bị đồng loại ném đá tả tơi bởi một selection phục trang lệch mùa với mọi sắc thái đồng bóng, cổ quái và bị làm quá không nương tay.

Người ta còn cho rằng có một vụ ăn cánh với Halston Herritage khi các thiết kế của nhà này đồng loạt xuất hiện rực rỡ trong hàng loạt những scene đắt nhất của bộ phim. Từ chiếc váy tơ đa sắc của Samantha, phong cách flapper không nhầm lẫn của Miranda với bộ váy antique emerald trong cảnh ăn trưa trên sa mạc. Nhưng dấu son của lời sấm SATC2 là bộ váy 2 tầng dài lê thê thõng thượt, xóa nhòa vòng eo mỏng dính của Sarah Jessica Parker trong sóng sánh một dòng thác xếp pleat đổ dài từ cằm đến đất, rừng rực một sắc cam tía của sa mạc hoàng hôn.

Các tín đồ ngô nghê thảng thốt hoang mang với sắc màu gypsy chói chang của thập niên 70’s, trong khi các chuyên gia thắt cả tim trước một dự báo hiển nhiên “Flapper sẽ quay về! Thời hồn nhiên của nhân loại ngô nghê 1920 sẽ tái thịnh, và hãy chuẩn bị ngai vàng cho PLEAT!”

Hoàn toàn không hề là một điều xa lạ, những nếp xếp (pleat) đã là một thủ pháp xử lí chất liệu có mặt từ rất lâu trong lịch sử thời trang thế giới. Từ mẫu vật cuối cùng được tìm thấy trong cổ mộ người Viking ở Birka trước Công Nguyên, cho đến thiết kế huyền thoại “Delphos” của Mariano Fortuny năm 1920.

Không thể không xét đến căn nguyên sơ khởi của pleat, một trò khéo tay của các phó may khi muốn tăng thêm cho sớ vải độ đàn hồi đủ để nhấn nhá ý nhị những đường nét chuyển động của cơ thể. Đặc biệt vào thời hoàng kim 1920, với cơn sốt của điệu nhảy swing và váy flapper đã tôn vinh những nếp xếp tung bay quanh những cặp đùi vũ nữ trứ danh.

Vài thập niên sau, Marilyn Monroe tung ra shot ảnh lịch sử với tà váy trắng bay không chút thẹn thùng, uốn lượn kì diệu nhờ những nếp pleat như bông hoa lan lộn ngược sỗ sàng bung nở, phô phang cặp đùi mỹ nữ tóc vàng.

Thập niên 60 với những chiếc miniskirt đầu tiên và phong cách váy tomboy ngô nghê lại tôn vinh những nếp xếp vuông vức chân phương trên những cặp chân thanh nữ khẳng khiu đương thì trổ mã.

Những năm 1970 của lối sống hippy và thuyết hiện sinh, các tín đồ trường phái bohemien xếp xuôi nếp váy dài dân dã những đường pleat nhàu nhĩ, thổi hơi sống vào tà váy carmen bay ma mị trong mùi marijuana và của các diva hippy chân đất đầu trần.

Cuộc đại cách mạng công nghệ tân kỳ hai thập niên tiếp sau đã xếp lại những nếp gấp nền nã ngô nghê trên đồng phục nữ sinh khắc khổ, và trên mình các nhân vật của Disney, để biến mất hầu như hoàn toàn khỏi runway và tủ quần áo những diva thời thượng.

Xếp nếp cả thế giới!

Từ lần cuối cùng xuất hiện vào cuối những năm 1980, người ta đã tưởng như pleat chỉ còn là kỷ niệm lỗi thời cho đến tận những tiếng sấm đầu mùa của thời trang Xuân Hè 2012, người ta lại thấy tung bay thấp thoáng trên runway đương đại những form váy thả suôn hững hờ mắc vào những khung xương vai loài hồng hạc, sổ dài những nếp pleat sống động nên thơ, như một dấu hiệu đầy đe dọa của cuộc tái chiếm rầm rộ vinh danh trường phái lãng mạn tốn vải trong hình thái hồi dương thanh tân của những năm 1920 hào hoa và vui nhộn.

“Quỷ cái” Prada nhanh nhảu ôm giữ tàn dư color-block, trộn nhuyễn lên trong bảng màu pastel tươi tắn, xếp pleat lên tất cả và đe dọa tống tiền cả thế giới.

Chloe nền nã với những đường nẹp trung tính tung xòe theo nếp pleat trường phái ngây thơ, Christian Dior và Gucci cũng không nằm ngoài cơn sốt chung, nhưng với những nếp pleat bén ngót, sắc cạnh trên những chân váy Thanh Giáo gợi tình, trong khi Barbara Casasola thắng lớn đầu năm với toàn tập pleat trung tính dài chấm đất, và Angelina Jolie cũng kịp thời xuất hiện trên thảm đỏ đêm Cartier như tượng nữ thần Hy Lạp trong bộ váy Elie Saab màu “tro của hoa hồng” xếp pleat sương khói đến chạnh lòng.

Đến cả những xì thẩu hàng Tàu chợ cũng đã kịp tung lên mạng giao dịch những mẫu váy mùa hè chiffon xếp pleat giá không quá 10USD bán lẻ.

Vậy là những nếp xếp pleat chỉ còn đợi một đợt gió nhẹ để cùng lúc tung xòa khắp những boutique lớn nhỏ của một cung lộ mua sắm Á châu, tìm ngược dòng về cái nôi của trường phái “ngây thơ phương Đông” những năm 1920 dĩ vãng. Những tín đồ quen nếp nền nã của Việt Nam sẽ không thể quá ngỡ ngàng với những nếp pleat thả xuống tận quá gối, thậm chí đến cổ chân.

Dấu hiệu và những triệu chứng của cơn thú tính lây lan

Quay trở về với Patricia Field và “lời nguyền” SATC2, cùng với hoa văn phương Đông, tua rua, những tảng ren cầu kỳ và họa tiết da báo là một sức nóng hừng hực của không khí sa mạc và vẻ đẹp rực rỡ của hoa xương rồng. Nói một cách khác, mùa Spring-Summer 2012 đang đưa cả thập niên 1920 vào một ảo ảnh sa mạc với tất cả những gì chói chang nhất, như vực dậy cả một sự hân hoan hồn nhiên trước mọi lời sấm xám xì về một cuộc tận thế hoang tàn.

Đây hiển nhiên là cơn sốt kéo dài dai dẳng từ mùa Fall-Winter năm ngoái, khi mà tại nhà Louis Vuitton, Marc Jacobs thẳng thừng đặt hai ông Ba Mươi to như thật, ngồi phệt trên catwalk, hầm hố báo hiệu cuộc tái thịnh hùng mạnh của các thế lực rừng xanh. Người ta hẵng chưa quên những những con khỉ và những quả chuối của Miuccia Prada đã tăng nhiệt cơn sốt ra sao. Thậm chí cả thế giới loài vật được tận dụng không thương tiếc, tôm hùm được vẽ tay tỉ mỉ lên chân váy Jasper Conran, nhà Alexander McQueen có cả những con bươm bướm 3D to tướng điệu đà. Tại một số show diễn, chúng còn xuất hiện trong hình hài sống động nhất – những con thú thật. Ngựa nghẽo làm loạn show nhà Hermes, một cặp French bulldog mặt mũi cau có nghễu nghện dạo chơi trên runway nhà Mulberry và tất cả biến thành một cuốn phim vui nhộn của Thế giới Động Vật.

Xa hơn, ngấp nghé từ mùa xuân năm ngoái, người ta đã nghe tiếng gầm gừ rình vồ của sự tái thịnh quá sớm của cơn sốt nhiệt đới lốm đốm da beo và ngoằn ngoèo họa tiết hoang dã (rural pattern) đủ để run căng những móng vuốt shopper nhạy mùa. Nhưng cú tung mình của cư dân rừng nhiệt đới mãi đến mùa Xuân Hè năm nay mới thật sự tấn công hoang tàn những đường catwalk thế giới.

Cho đến mùa Spring Summer vừa qua, ca sốt phừng phừng nặng nghiệp nhất xảy ra trên catwalk Michael Kors với những mảng phối như thể bạo liệt nhưng lại được tưới dịu bởi sự tiết chế đầy lý trí của dáng suôn mềm, những mảng chiffon trong veo và những nếp xếp điệu đà ý nhị.

Đây quả là một yếu tố văn minh cho cuộc tái thịnh của tinh thần 1920, bên cạnh bảng màu kẹo ngọt của Prada và Elie Saab. Những thân hình đồng hồ cát bó thít trong bộ váy da beo đã trở thành màn cải lương dĩ vãng của thời Pamela Anderson. Họa tiết da thú mùa này mới thật sự là những con thú hoang được thả lỏng trong silhouete suông nhẹ thảnh thơi, chúng không vồ chụp bặm trợn, mà bay bổng như những thước phim quay chậm của Discovery Chanel với nhạc nền của Louis Armstrong.

Safari và panther print cuối cùng cũng tìm được cho mình một hình hài hoàn chỉnh cho lần xuất hiện trở lại, với sự song hành hoàn hảo của tinh thần flapper thập niên 20.

Tại châu Á, cơn sốt da beo 2007 còn chưa kịp hoàn hồn, thì cuộc đổ bộ của bảng màu trung tính ấm nóng truyền thống của trường phái Safari, và hình ảnh mèo ngái ngủ của panther print thế hệ mới lại đang một lần nữa sẵn sàng biến mọi thánh đường mua sắm thành những khu rừng nhiệt đới sầm uất, cùng với sự ưa chuộng mới dành cho những sọc đen trắng zebra, đốm da hươu và cọp vằn cũng đang trở thành thú cưng mới của các diva sành điệu, dù là sự cầu kỳ của flapper 20’s, gợi tình một cách quý phái của 50’s, hoặc phóng khoáng trễ nãi phiên bản flapper thế kỷ 21


Dự đoán: sốt dai ở vùng nhiệt đới

Chưa thể nói đến khi nào cơn sốt này mới hạ nhiệt, khi mà dường như những nếp pleat bay bổng là một sự thách thức với tố chất của thời trang Thu Đông, trong khi animal print của trường phái Safari vẫn hoàn toàn hứa hẹn kéo dài thời thịnh trị đến tận mùa của cardigan, khăn choàng và những đôi boots. Đó là khi các thiết kế ứng dụng pleat sẽ nhìn sang thị trường vùng nhiệt đới, với nắng gió dư dật quanh năm, và trong trường hợp này, cuộc săn mới với tầm ngắm hướng về những chiếc váy suôn dài xếp nếp sẽ vẫn là một đầu tư khôn ngoan cho các shopper Sài-gòn.

Vậy, nếu bạn không muốn volume của thủ pháp xếp pleat tăng vài inch cho vòng 3 công sở, thì drop waist (đường eo thấp) và silhouhete buông thả vừa vặn sẽ lập tức chiều chuộng bất cứ thân vóc petite nào của tín đồ Sài gòn mặc tình cho đường cong được lượt là được ve vuốt bởi những nếp pleat nhuyễn.

Đây cũng là dịp cho các con nhang đệ tử nhà Cavalli hả hê với truyền thống họa tiết rừng rú lâu năm của ‘hãng nhà’,

Nhưng cũng không nên bỏ qua các triệu chứng sốt sẽ chắc chắn lây nhiễm qua các thiết kế của các thương hiệu hùng mạnh khác. Prada đang nhiễm khá nặng và chưa có dấu hiệu dứt cơn, Chanel đến nay có vẻ như thiên hẳn về những đường pleat kinh điển, nhưng người ta rất nên thận trọng với “thú tính” bùng phát bất ngờ của chú K. vào mùa sau.Và đúng như vậy, dưới đây là cuộc chấn hưng tinh thần flapper 20’s của thiết diện quản gia nhà Chanel cho mùa Fall-Winter:

Trong khi đó, Gucci đã dường như toàn phần đắm đuối trong cú ghi điểm lẫy lừng với silhouete buông thả của flapper, các dây tua rua và họa tiết lập thể đính cườm.

Trong tất cả những đế chế lẫy lừng ấy, một cái tên khá xa lạ với shopper Việt, nhưng cũng vừa ghi điểm hoành tráng mùa qua với những nếp pleat hào phóng và tinh thần 1920 toàn tập là nhà Etro cũng là một tham khảo đáng được nhìn tới.

Và với những tín hiệu không cần bàn cãi ấy, chắc chắn, bạn sẽ không hề muốn mình là một diva miễn nhiễm lệch mùa!

 

 The Age Of Innocence lãng mạn hào hoa…

…và cuộc tái thịnh huy hoàng sau gần 1 thế kỷ!


Temperley London



then…

…and now

Hé màn cơn sốt Fall-Winter

Author’s picks!!!

mix & match board

hồ sơ PeTA 2 (tiếp theo): Đại chiến Ngoạn mục PeTA Vs Vogue

Trác Thúy Miêu

Sự hằn học cay nghiệt giữa hai người đàn bà đã từ lâu trở thành một cuộc đấu tay đôi kì thú thu hút sự chú ý của báo giới, vừa mang khí khái của hai đại nữ khét tiếng trong xã hội, mỗi người nghiệt ngã với một lí tưởng riêng, vừa mang màu sắc bỉ bai cá nhân luôn khiến các nữ đối thủ có nhiều trò hấp dẫn hơn hẳn những cuộc đối đầu của các quí ông.

PeTA bị chơi khăm và Chiến thuật phong tỏa lộ trình hành hương điện tử

Tháng Hai 1995, một nhóm đối lập dựng lên website mang tên peta.org, với luận điệu rằng PETA là tên viết tắt của “People Eating Tasty Animals” (Những Người Ăn Thịt Thú Ngon). Vụ việc đã khiến Peta nổi đóa và theo đuổi kiện tụng cho mãi đến tận 2001, với phần thắng đương nhiên nằm ở phía Hội Những Người Không Ăn Thịt Thú Dù Dở Hay Ngon. Nhưng trong suốt những năm đó, hội peta.org đã gây không ít rắc rối cho kênh thông tin mạng của chánh hội Peta, khi mà hầu hết các cú click trên mạng Internet đều bị “dẫn độ” ngay tắp lự đến tên miền peta.org.

Ngay trong những năm theo đuổi vụ kiện tụng, kẻ khủng bố lắm chiêu Peta cũng mau mắn học lại được trò ranh mãnh này của đối thủ và dùng chính chiêu thức khủng bố mạng này để chống lại kẻ tử thù lâu năm của Newkirk là Anna Wintour. Thế là đường hoàng xuất hiện website voguemagazine.com, khiến những cú click của các tín đồ trên toàn thế giới, trên đường hành hương điện tử tìm đọc “thời trang chân kinh nguyệt san” Vogue bị “dẫn độ” về những trang hình ảnh và tư liệu lên án gay gắt đại nạn thảm sát động vật để phục vụ cho nền công nghệ xa xỉ đang được tích cực ủy lạo bằng những shot hình hào nhoáng trên các tạp chí thời trang láng lẩy mà Vogue đứng vào hàng đầu.

Hẳn nhiên, vụ chơi khăm nẻo hành hương điện tử của kênh truyền thông đối thủ không bao giờ tồn tại được lâu, nhưng cũng đủ thời gian để làm xính vính ít nhiều đến tờ Vogue, và đặc biệt lôi kéo thêm một số lượng tín đồ văn minh đáng kể trong đại cuộc tẩy chay thời trang lông thú.

Cảm tử quân khuyết danh vụ xác chồn ở tiệm Bốn Mùa

Cuối cùng thì người ta cũng tìm ra nữ chiến binh “cảm tử” đằng sau vụ xác chồn trên đĩa Anna ở Four Seasons để nghe cuộc tường thuật lại quá trình của hành động đáng nể ấy. Cô tường thuật lại việc tiếp cận một trang trại lông thú và nhặt được xác con vật tội nghiệp bê bết máu trong đống xác động vật. Xác con vật được ướp trong thùng lạnh chờ ngày hành động. Với nguồn thông tin từ chính nội gián Vogue, người ta nắm được lịch trình đi lại của Wintour, và bữa ăn trưa tại Four Seasons đã được chọn, bởi đây là nhà hàng nổi tiếng tập trung các yếu nhân giới thời trang và showbiz. Điều này càng khiến việc tiếp cận trở nên khó khăn hơn cho quân “cảm tử”, bởi lực lượng an ninh tinh nhuệ của nơi dành cho các yếu nhân này.

Cô đã chưng diện như một fashion diva chính hiệu, đặt xác chồn vào một túi mua sắm của một cửa hiệu thượng hạng và nói với nhân viên phục vụ ở đây rằng mình là cuộc hẹn mà Wintour đang chờ. Cô được dẫn đến bàn của đại nữ nhà Vogue, khi này đang dùng bữa cùng một phụ nữ và hai quí ông khác.

Nhà hoạt động can đảm tiến lại gần Bà Chúa Băng Giá, bất ngờ và đanh thép “Thật đáng xấu hổ cho mụ! Đây, cho những con vật mà mụ đã giết, đồ nghiện xác!” rồi vứt mạnh xác con vật rơi ngay lên đĩa thức ăn trước mặt Wintour. Đôi mắt bé xíu không còn sự sống của con vật vẫn mở. Trong khi Wintour và các vị khách vẫn còn sững sờ đông cứng như chính xác con vật tội nghiệp, nữ thành viên quả cảm của PeTA đường hoàng bước ra đường gọi taxi, kiêu hãnh và cả quyết hơn bao giờ.

Dịch vụ y tế bị khước từ

Trước những ngón “đòn thù” không khoan nhượng liên tiếp xả vào giới thời trang, Ingrid Newkird đã vô tình hình thành cho bản thân một bức chân dung dữ dằn và khắc nghiệt, như một đối trọng tuyệt vời với bà tổng biên tờ Vogue – kẻ thù số 1 của phái PeTA – Anna Wintour.

Không ngừng gửi những thông điệp vừa nghiêm khắc quyết liệt, vừa chân thành thống thiết tới tờ Vogue để thuyết phục bài trừ thời trang lông thú nhưng hoàn toàn vô hiệu trước phản hồi băng giá của Anna “Winter”, Ingrid ngán ngẩm tuyên bố rằng bà sẵn sàng đài thọ một ca chụp não cho Wintour để tìm liệu xem trong đó có xuất hiện dấu hiệu mong manh nào của nhân tính, với lời trần tình mai mỉa đầy tính khoa học “Bạn biết không, khi một số dây thần kinh bị tổn thương, nó ngăn chặn sự phát triển một số khía cạnh nhân tính cơ bản, chẳng hạn như lòng trắc ẩn và khả năng thấu cảm”.

Kể từ đó, xác chồn được quăng vào đĩa của Anna tại nhà hàng Four Seasons, sơn đỏ như máu hắt tràn trề nhày nhụa ngay thềm nhà riêng tại Sullivan Street. Mặc dù hẳn nhiên, cuộc chiến của PeTA không chỉ ưu ái tờ Vogue hay cá nhân Anna làm đối thủ, nhưng những chiến thuật bền bỉ và không khoan nhượng của Ingrid khiến người ta rùng mình tự hỏi điều gì đã khiến người đàn bà đầy lòng trắc ẩn với muôn loài sinh linh này lại có thể cay nghiệt đến vậy với đồng loại, và trên hết, mặc dù nhắm vào nhiều nền công nghệ khác nhau – từ nghiên cứu khoa học đến chế biến thực phẩm, nhưng các ngón đòn thù luôn được nhắm tập trung vào giới thời trang, dù không hẳn mức độ tàn sát đã sánh bằng với sự dã man trong các phòng thí nghiệm hay con số hủy diệt của ngành công nghiệp thực phẩm.

Trái tim Mùa Đông

Mưa tương cà vẫn rơi và đạn tàu hũ vẫy bay, Ingrid Newkirk vẫn điềm tĩnh tuyên bố “Tôi không chống lại thời trang! Tôi chỉ rất có vấn đề với một số người trong giới thời trang.” Bà khẳng khái thú nhận “Bản thân tôi sở hữu chiếc áo có cổ viền lông thú đầu tiên vào năm 18 tuổi, 19 tuổi tôi có hẳn một chiếc áo khoác làm từ 100 con sóc. Hồi đó tôi nghĩ trông mình mặc chiếc áo nọ thiệt đẹp!” Sự thật thà và một chút móc ngoáy ý nhị của Ingrid lại một lần nữa thắng điểm thiện cảm tuyệt đối của báo giới dành cho vị nữ thủ lĩnh đảng phái quá khích PeTA, đương nhiên là chừng nào bà còn chưa ném tàu hũ vào ống kính của họ. Dĩ nhiên rồi, không nhiều nhà báo có gout ăn xài của bà tổng biên tờ Vogue.

Không chỉ bởi những trang ảnh lộng lẫy trải tràn trề hàng tảng lông thú ngồn ngộn mềm mại đầy rù quến được ưu ái tỉa tót đến từng milimetre vuông được đăng ngập ngụa trên Vogue, không chỉ bởi những bài review ca tụng các mẫu thiết kế làm từ những xác thú chết đẹp mĩ miều, mà chính Wintour là một tông đồ khét tiếng trong vai trò con nghiện đồ da và áo lông thú đến bất khả cai chữa. Kéo theo từng lần xuất hiện của cá nhân bà, và từng trang bài, ảnh của Vogue là rầm rộ một cơn sốt đòi xác thú của hàng ngàn diva thời trang khắp nơi trên thế giới. Điều này khiến không chỉ ở vai trò tổng biên nhà Vogue, mà chính cá nhân Anna Wintour trở thành cừu nhân hàng đầu của phái PeTA và cá nhân nữ thủ lãnh Ingrid Newkirk.

Giới showbiz Mỹ rầm rộ phản ứng với Anna Wintour sau vụ bà này công nhiên đấu tranh cho cái gọi là “quyền mặc lông thú của phụ nữ”.

Vài tuần sau vụ con chồn chết ở Four Seasons, một lá thư được gửi đến văn phòng tổng lãnh Vogue, với chữ kí của Kim Basinger, Alec Baldwin, Sarah Bernhard, Woody Harrelson và ngay cả cục cưng trang bìa của Vogue là Tatjana Patitz, cùng nhiều sao thượng hạng khác thẳng thừng yêu cầu chấm dứt hành động ngang nhiên ủy lạo cho thời trang lông thú trên tờ Vogue: “Chúng tôi tin rằng chẳng có gì là sành điệu trong việc giết hại thú vật chỉ vì những món hàng xa xỉ. Chúng bị giết bằng hơi ngạt, chích điện, dìm xuống nước và siết cổ. Chúng tôi yêu cầu tạp chí Vogue hãy trở thành một ấn phẩm thân thiện bằng việc chấm dứt việc ủy lạo, quảng cáo cho thời trang lông thú.”

Sau khi lá thư được chuyển đi, người ta đã rất trông đợi vào một phản ứng tích cực từ văn phòng Mùa Đông, bởi hẳn nhiên, ai cũng biết bà Wint-er rất coi trọng những mối quan hệ với giới showbiz hàng đầu, mà hầu hết tên tuổi đều lưu lại thủ bút bên dưới bức tâm thư.

Phản hồi duy nhất đến từ một phát ngôn viên của tờ Vogue: “Chúng tôi sẽ tiếp tục kí các hợp đồng quảng cáo và ủng hộ thời trang lông thú trên các trang mục của Vogue.”

Ngay sau đó, nội dung lá thư được đăng tải ngay sau thư tòa soạn của Vogue tháng ấy, như một thông điệp của Vogue rằng mùa đông này là mùa của những tín đồ thông minh và ưa chuộng lông thú: “Đây chính là khoảnh khắc để tôi thú nhận rằng, vâng, tôi mặc lông thú. Và tôi còn ăn cả beefsteak mỡ màng nữa.” Cùng với mẹo vặt là chiên khoai tây bằng mỡ động vật sẽ ngon hơn rất nhiều khiến Anna ngon ơ chiếm giữ đầu bảng trong danh sách đen của hội PeTA và sổ thù vặt của cá nhân Ingrid cùng nhiều thành viên PeTA khác.

Nhưng danh sách không chỉ dừng lại ở đó, vì Anna cũng có cho mình những tông đồ trường phái liệt neuron trắc ẩn.

Ở vị trí bia ngắm cho Ingrid, xếp hàng ngay sau lưng Wintour không ai khác hơn là nhà thiết kế rất được Vogue sủng ái – ông kẹ mặt chì nhà Chanel – Karl Lagerfeld. Cũng như Wintour, chú K. không hề lấy đó làm điều: “Trái đất đang nóng lên hả? Tôi có thấy vậy đâu?” Hẳn nhiên rồi, đương nhiên là thế, chú.K, khi chú đang đứng sát sạt ngay sau lưng Bà Mùa Đông, chẳng có gì phải bàn về nhiệt độ địa cầu cả!

Thái độ băng giá đầy khiêu khích của Wintour cũng kích động trào lưu ngang phè trong giới thời trang. Tiếp nối đại tẩu truyền thông và tay đồ tể mặt chì Lagerfeld, nhà thiết kế nội y Janet Reger ngang nhiên tuyên bố trên sóng truyền hình rằng mình là tín đồ nặng nghiệp của thời trang xác thú. Ngay lập tức hôm sau, thỏa lòng nguyện ước, Janet và các show diễn có sử dụng thiết kế của bà được đưa vào bản đồ chiến lược của phiên họp thành viên PeTA. Các chiến thuật đa chiêu lại được đưa ra bàn bạc giữa các thành viên dạn dày mưu lược, còn Janet Reger khấp khởi chờ ngày được phong thành tông đồ tử vì đạo, còn con gái bà là Alica Reger thì lớn tiếng gọi các nhà hoạt động là “bầy đàn bại binh nhếch nhác”.

Có vẻ như cuộc thánh chiến dằng dai PeTA chống thời trang lông thú sẽ còn tiếp diễn nóng rẫy tại khắp nơi và mỗi mùa tuần lễ thời trang. Những kẻ đã từng ủy lạo và cam kết, như Donna Karan, vẫn trở mặt, Naomi trở thành kẻ phản bội đê hèn, và những hình ảnh thương tâm sẽ vẫn được gửi đến tận tay những đồ tể hào nhoáng, những tiếng kêu rít của các sinh linh vô tội vẫn thống thiết vang lên bên ngoài lớp cửa khép kín của những tòa tạp chí, đeo đẳng bám theo bằng dấu máu trên bộ áo khoác của các diva. Hàng tấn tàu hũ sẽ vẫn còn bay, dẫu tuyệt vọng, về phía giá băng của đại nữ Wint-er, và xuôi theo vòng xoay thời trang, sẽ vẫn là câu cầu khiến mỏi mòn của không một thế hệ fashionista tiến bộ, mà còn là của nhân loại, và Mẹ Thiên Nhiên: “Stop the insanity! No blood for vanity!”

Hồ sơ PeTA: Nỗi Kinh hoàng Của Những Con Nghiện Xác Thú

Trác Thúy  Miêu

Họ có mặt ở khắp nơi, đanh thép và không khoan nhượng như những chiến binh cảm tử, hay tinh nhuệ lão luyện như những nhân viên tình báo chuyên nghiệp. Họ có thể bất thình lình xuất hiện ở bất cứ đâu, trực diện tấn công vào những tượng đài thời trang và yếu nhân giải trí với vài vòng cảnh vệ bao quanh.

Họ hoàn toàn có thể là một kỳ nữ phim đen bất thần ngồn ngộn xuất hiện trên những tấm poster khổng lồ, mình không mảnh vải, hào phóng ban phát tòa thiên nhiên hùng vĩ cùng thông điệp ngạo nghễ “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!”.

Họ – những nhà hoạt động của PeTA – nỗi kinh hoàng của những tuần lễ thời trang, đặc biệt khi vào mùa của những bộ sưu tập mùa lễ hội – mùa của những tấm áo mĩ miều làm từ xác chết.

Các nhà khoa học hàng đầu lần lượt bị điệu ra trước tòa, bộ Quốc phòng Hoa kỳ đóng cửa vĩnh viễn một phòng thí nghiệm hóa học, hàng loạt nhân viên ngành thực phẩm bị mất việc, và các nhà thiết kế bị ép buộc ngậm ngùi kí vào bản cam kết vĩnh viễn từ bỏ thời trang lông thú.

Sự pha trộn giữa những trò vặt cay nghiệt, những chiêu thức đáo để đến trơ trẽn, thói độc tài ngang ngược, và một lòng trắc ẩn sâu sắc dữ dội đến vậy chỉ có thể đến từ một người đàn bà.

Nhưng không phải bất kì người đàn bà nào, nếu đó không là Ingrid Newkirk.

 

Nữ đồ tể bất đắc dĩ

Người đàn bà gốc Anh ấy đã rất có thể có cho mình một sự nghiệp an toàn vừa đủ với chiếc bằng chuyên viên chứng khoán, nếu vào một ngày năm 1969, Ingrid không tìm thấy những chú mèo lạc hay bị bỏ rơi và mang chúng đến các nhà tiếp nhận. Cô kinh hoàng trước điều kiện tồi tàn của các cơ sở này, và với những gì không chỉ đến từ nền giáo dục trường dòng, cô quyết tâm bẻ ngoặt định hướng sự nghiệp cuộc đời vào mục đích bảo vệ động vật – một công việc khi này còn chưa được xem là một “nghề”, trừ các bác sĩ thú y phục vụ nông nghiệp hoặc thú cưng của các gia đình thượng lưu.

Ingrid trở thành viên chức ban bảo vệ động vật tại Montgomery County, và về sau trở thành nữ chuyên viên đầu tiên tại cơ sở tiếp nhận động vật hoang đầu tiên tại quận Columbia. Cũng chính trong thời gian này, tự tay bà đã giết phải đến hàng ngàn con vật, có thời gian, trung bình hàng chục con mỗi ngày, những con vật bất hạnh đã từng được nuôi nấng như một thành viên gia đình và ruồng bỏ, thậm chí hành hạ, đánh đập, và không có đủ người với đủ lòng trắc ẩn để nhận chúng về nuôi, các cơ sở tiếp nhận, sau một thời gian, buộc lòng phải “tiêu hủy” chúng. Về sau, Ingrid còn thất thần cay đắng kể về thời gian này với tờ The New Yorker: “Những con người ngoài kia, có lẽ việc làm đau các con vật này khiến họ thích thú, hay thỏa mãn một điều gì đó trong họ. Còn tôi khi ấy, tôi khóc suốt trên đường chạy xe về nhà. Khi ấy, thâm sâu trong lương tri, tôi hiểu không thể gọi đây là một việc làm đúng.”

Thành viên đầu tiên của PeTA

Năm 1980, cũng là năm gieo xuống hạt mầm Peta, Ingrid bước ra khỏi cuộc hôn nhân kéo dài từ khi bà mới 19 tuổi. Ingrid gặp Alex Pacheco, khi này đang là một giáo chức truyền đạo và tình nguyện viên tại cơ sở tiếp nhận chó mèo lạc nơi Ingrid làm việc, nơi ông trở thành mối tình thật sự đầu tiên của Ingrid, với tất cả sự mê đắm của ái tình lãng mạn lẫn mối tương đồng khắng khít của hai kẻ chiến hữu, dù Ingrid lớn tuổi hơn rất nhiều, với tư duy thực tế, trong khi Pacheco vẫn còn là một cậu thanh niên mới lớn, nồng nhiệt và vô ưu.

Pacheco đã tặng Ingrid cuốn Animal Liberation của Peter Singer, và vào tháng Ba, bà thuyết phục người tình trở thành nhà đồng sáng lập của ý tưởng Peta, khi này chỉ gồm 5 nhân sự cùng làm việc dưới một tầng hầm, hầu hết là sinh viên, hoặc hội viên các hiệp hội, tổ chức môi trường tại địa phương.

Thoạt tiên, theo lời kể lại của Pacheco, lời đề nghị này không có vẻ thuyết phục đối với ông, “Tôi đã từng hoạt động tại Âu châu, và quá hiểu về tính rắc rối trong các nguyên tắc rối ren có liên quan đến chính trị của các tổ chức nhân đạo tương tự. Tôi chỉ muốn tự mình làm điều gì có thể. Nhưng bà ấy đã chinh phục tôi hoàn toàn khi đồng tình với tôi rằng các tổ chức hiện tại đang hoạt động yếu ớt, và hẳn nhiên là chính phủ, và nhân loại cần một tổ chức đúng nghĩa, hoàn toàn thiện nguyện và hiệu quả hơn để bảo vệ loài vật.”

Và Ingrid Newkirk có cho mình một chiến hữu, và PeTA có một thành viên đầu tiên.

Những con khỉ ở Silver Spring

Ingrid đã không nói suông với Pacheco. Một năm sau khi thành lập, Peta đã gây rúng động toàn thế giới với vụ 17 con khỉ tại Silver Spring. Vụ việc dấy lên sự phẫn nộ lớn trong công chúng, và trở thành đề tài tranh cãi kéo dài của các nhà đạo đức về các hành vi tra tấn với mục đích nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hành vi tại Silver Spring, Maryland. Vụ bê bối khai màn cho các cuộc ruồng bố của cảnh sát đến tận các phòng thí nghiệm khắp Liên bang Hoa kỳ, tạo áp lực lên quy định nghiêm ngặt đối với hoạt động thí nghiệm trên động vật tại Mỹ, và chiến dịch mang tên Animal Welfare Act năm 1985. Đây cũng được ghi nhận là vụ kiện về tính phi nhân trong việc thí nghiệm trên động vật đầu tiên được đệ trình lên tòa án tối cao Liên bang Hoa kỳ. Peta giành được quyền chăm sóc các chú khỉ dưới quyết định của toàn án bàng Louisiana.

Năm 1981, đích thân Pacheco đã vào làm việc tại phòng thí nghiệm nghiên cứu loài linh trưởng của Viện Nghiên cứu Hành vi Silver Spring, với mục đích trực tiếp điều tra các biện pháp tiến hành thí nghiệm trên động vật tại đây. Ông đã phải trực tiếp chứng kiến, và thậm chí tham gia vào các quy trình cắt bỏ các hạch thần kinh cảm nhận trên tay và chân khỉ, khiến chúng mất hoàn toàn các cảm nhận xúc giác. Một số con khác bị rút bỏ hoàn toàn các đốt sống lưng. Họ trói các con vật khốn khổ rồi cho chích điện, giơ cao thức ăn và nước uống để ép chúng phải sử dụng những phần đã bị tê liệt trên cơ thể.

Pacheco đã bằng cách đó đột nhập vào phòng thí nghiệm vào buổi tối, chụp lại hình ảnh các con vật bên trong phòng thí nghiệm và gửi các bằng chứng hình ảnh này đến cảnh sát và yêu cầu một cuộc lục soát hợp pháp, đồng thời bắt giữ giáo sư Taub – kẻ điều hành phòng thí nghiệm phi nhân nọ. Trong suốt vụ xử kéo dài 10, những hình ảnh bằng chứng này đã gây rúng động lương tri nhân loại khi được tung ra công khai qua mọi kênh truyền thông. Vụ kiện này nhắc nhớ đến chiến công của Henry Spira năm 1976, chống lại các thí nghiệm tàn ác trên loài mèo của Viện Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên Mỹ. Cả hai vụ kiện đã khiến chính phủ Hoa kỳ thức tỉnh và dành một sự lưu tâm đặc biệt đến hoạt động bảo vệ động vật một cách thiết thực tại Mỹ.

Cuộc đấu tranh quyết liệt 10 năm giành quyền bảo dưỡng các chú khỉ, theo mô tả của Washington Post, đã là một vụ vật lộn trong bãi lầy, với bên này cáo buộc bên kia là kẻ nói dối và bóp méo sự thật, và đưa Peta, không kém một trào lưu thời trang, trở thành một uy tín hoạt động tầm cỡ quốc tế.

Năm 1999, Pacheco rời khỏi hiệp hội, nhưng Ingrid không ở lại một mình, mà với hơn 2 triệu tình nguyện viên trên toàn thế giới, và nỗi kinh hoàng lớn mang tên PeTA.

Từ chiến công của điệp viên và thuyết khách…

Mỗi tuần, tại đại bản doanh Peta, một cuộc họp được tổ chức đều đặn với sự có mặt của hàng chục nhà chiến lược sừng sỏ nhất tề tựu quanh bàn vuông phòng khánh tiết hội sở Peta, và không có kế hoạch chiến thuật nào ở đây có tên là “quá khích” đối với nữ đầu lãnh Ingrid Newkirk. Thậm chí bà còn treo giải thưởng hằng niên với tên gọi Proggy Award dành cho các cá nhân, tổ chức có những chiến thuật và chiến dịch trội bật trong lãnh vực bảo vệ động vật hoặc đấu tranh chống hành hạ, giết hại động vật.

Các mục tiêu tối trọng của hội Peta nhắm vào các tập đoàn lớn, từ đại gia thực phẩm KFC, Wendy’s và Burger King. Trong lãnh vực thí nghiệm trên động vật, các thành viên Peta đặc biệt “ưu ái” bám sát nhất cử nhất động của các hãng thời trang và mỹ phẩm như Avon, Benetton, Bristol-Myers-Squibb, Chesebrough-Pond’s, v.v…

Cơn ác mộng PETA, đối với các tài phiệt thời trang, hơn cả những cuộc biểu tình và lằn đạn tàu hũ tương cà nhè vào mớ khách hàng thượng hạng, chính là các điều tra viên. Họ có thể là bất cứ ai, và tầm phủ sóng len lỏi của họ không dừng lại ở hậu trường các show diễn, mà luôn có thể lần ngược mối dây nhập khẩu nguyên liệu và thình lình xuất hiện ngay giữa lòng một trang trại ở tận Trung Hoa, hay một phòng nghiên cứu hóa học tận Thụy Sĩ, với mỗi cú bấm máy có thể tác động mãnh liệt đến lòng trắc ẩn của triệu triệu tín đồ thời trang văn minh.

Những điệp viên đặc vụ PETA thường phải bỏ hàng tháng, thậm chí hàng năm để theo đuổi điệp vụ. Phần lớn họ phải có một hồ sơ sạch bong, và thậm chí kinh nghiệm nghiệp vụ đủ để trở thành nhân viên chính thức tại những cơ sở đối tượng này. Họ được trang bị tận răng một cách kín đáo, hoàn toàn không thua kém các điệp viên cine chính hiệu, với nhiệm vụ thu thập chứng cứ, sao chép dữ liệu và chụp ảnh, ghi hình các hoạt động ngược đãi động vật tại đây. Cho đến 2007, tổng cộng 75 điệp vụ đã được đưa ra công luận, và thậm chí ra trước vành móng ngựa mà trong đó, bị cáo thường là các nhà nghiên cứu danh tiếng của các trường đại học, và các tài phiệt công nghệ, với phần thắng thường xuyên nghiêng về phía các nhà hoạt động PETA, khiến không ít phòng thí nghiệm đã phải đóng cửa vô thời hạn và gây khốn đốn đảo điên cho nhiều ngành công nghệ có liên quan.

Không hề trở nên khét tiếng chỉ bởi những điệp vụ gây chấn động toàn cầu, các thành viên giấu mặt của Peta thừa sức vung tay mua lại cổ phần của các tập đoàn bự sự kia cho đến khi nắm được quyền can thiệp vào công nghệ, thậm chí nắm khả năng dẫn đến nguy cơ lũng đoạn và phá sản. Chính nhờ biện pháp kinh tế táo bạo và sòng phẳng này, các đại gia cỡ McDonald và Wendy đã phải chấp nhận đầu tư tung ra những thực đơn chay, Petco ngưng kinh doanh thú quý hiếm, và Polo Ralph Lauren chấm dứt hoàn toàn việc sản xuất và thiết kế các sản phẩm từ lông thú. Trong khi đó, các trùm mỹ phẩm Avon, Estee Lauder, Benetton và Tonka Toy Co. đều nhất loạt chấm dứt việc thí nghiệm hóa học trên động vật, thậm chí trùm vũ khí Pentagon cũng quy phục mà chấm dứt hoàn toàn việc bắn thử lên heo và dê để kiểm tra sức công phá trên vết thương, và một lò sát sinh tại Texas bị đóng cửa vĩnh viễn.

…đến những màn khủng bố đa chiến thuật

Newkirk chính thức trở thành kẻ tử thù của không ít nền công nghệ, từ đại gia thực phẩm KFC, McDonald, cho đến các tông đồ thời trang xa xỉ cỡ bự như Karl Lagerfeld, John Galliano và Donna Karan. Nhưng hẳn nhiên điều này không dễ khiến nữ đại thủ lĩnh phái Peta chùn tay. Bà khẳng khái tuyên bố: “Lòng trắc ẩn có thể ủ mầm cho một sự đổi thay và lòng nhân ái. Nhưng một cuộc cách mạng chỉ có thể được đoạt lấy bằng hành động.”

Khẳng khái không kém gì khẩu khí ấy, Newkirk công khai ủy lạo cho những nhóm sử dụng hành vi tấn công và đột nhập, trực diện hay lén lút vào các đối tượng của Peta. Họ trắng trợn xâm nhập vào các phòng thí nghiệm và giải cứu các con vật, trực diện thóa mạ và hủy hoại mọi sản phẩm thời trang làm từ lông và da thú, với sự hung hăng khiến đau đầu cả những đội ngũ cảnh vệ tinh nhuệ nhất.

Nhưng thái độ của giới người mẫu đối với các chiến dịch của Peta lại có vẻ có thiện chí hơn rất nhiều, và con đường tiếp cận công nghệ thời trang qua các người mẫu của Peta trở nên có sức thuyết phục mạnh mẽ lạ thường đối với các tín đồ. Chiến dịch ủy lạo thực phẩm xanh và chế độ ăn kiêng bằng rau củ đã phủ sóng mãnh liệt lên thị trường fast-food khổng lồ nhất thế giới là nước Mỹ. Kết hợp với các vụ điều tra về hình thức giết mổ man rợ tại các lò mổ của đại gia McDonald và KFC, cùng với những cuộc biểu tình phong tỏa các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh, và cuối cùng là thân hình mảnh khảnh đáng thèm muốn của những model khét tiếng nhất đã khiến các hợp đồng nhân sự của những lò giết mổ phải có thêm điều khoản nhân đạo trong công nghệ xử lí động vật, và ông lớn McDonald cũng đã phải nhún nhường tung ra thực đơn hamgurger chay cho các thị phần người tiêu dùng văn minh.

Nhưng gây tiếng vang đáng kể nhất phải nói tới chiến dịch “I’d Rather Go Naked Than Wear Fur” (Tạm dịch: thà khỏa thân còn hơn mặc lông thú) với một lực lượng celebrity và người mẫu chưa bao giờ hùng hậu đến vậy. Cũng nhờ chiến dịch này. Công chúng và giới tín đồ thời trang được dịp nhìn ngắm thỏa thuê mãn nhãn những yếu nhân khả ái nhất hành tinh trong bộ dạng như trẻ sơ sinh kém bụ bẫm nhưng muôn phần kích động. Chưa bao giờ có một vụ scandal khoe hàng tập thể nào rầm rộ và gây tiếng vang đến vậy. Peta đại thắng về mặt truyền thông và chính thức trở thành lực lượng đối đầu đáng gờm của ngành công nghệ thời trang xa xỉ, cho đến tận các trang trại đồ tể Trung Hoa.

Tại hội chợ lông thú quốc tế ở Paris, các thành viên Peta bò lổm ngổm trên đường phố Paris, kéo lê những cái bẫy sập ngoạm vào chân, và hào phóng vứt ra tứ phía những tờ giấy bạc thấm bê bết máu.

Ngoài ra, trong các chiến thuật du kích nhỏ lẻ và dai dẳng nhưng là nỗi ám ảnh cao đối với giới thời trang và fashionista thượng lưu là đòn bánh pie, tàu hũ nát và tương cà. Những món này khi hạ cánh bẹt thèn lẹt lên một mẫu thiết kế bằng lông thú đắt tiền trông không khác gì một bãi máu me lầy nhầy và hoàn toàn có thể phá hủy hoàn toàn bộ vía. Tháng Giêng năm ngoái, chính bộ trưởng Gail Shea của Canada đã ăn phải đòn thù bánh pie, phản ứng với việc săn bắt hải cẩu bừa bãi tại vùng biển nước này. Khi bị chỉ trích là “đòn vặt”, Ingrid bình tĩnh giải thích: “Đối với đối tượng, nó có công dụng khiến họ lúng túng, bối rối, và trở về với ngoại hình nhơ bẩn như chính bản chất hành vi của họ. Còn đối với cái nhìn của công chúng, nó sẽ có tác dụng như một vụ tai nạn giao thông mà bạn buộc phải nhìn vào.”

Tuần lễ thời trang Melbourne Xuân Hè vừa qua đã lại là một minh chứng cho bàn tay phái Peta đã vươn dài đến tận úc châu. Các nhà hoạt động tấn công thẳng lên catwalk, giăng các tấm poster ghi dòng chữ “Fur is Dead” trước rừng ống kính báo giới, ngay khi các người mẫu vẫn đang tiếp tục tràn ra đường diễn. Dẫu chỉ là 5 phút rối ren – khá nhẹ nhàng với thời trang Úc, nhưng cũng đã đủ khiến cho các nhà tổ chức thức thời lập tức rà soát từng mẫu thiết kế của mọi hãng thời trang và hủy diễn bất kể thiết kế nào có sử dụng da hoặc lông thú. Mặc cho các nhà thiết kế la ó cự nự, cuộc bạo động nho nhỏ của chi sở Peta tại Úc đã đại thắng với một Melbourne Fashion Week 100% fur-free!

Mông cừu ở Úc châu, Yasser Arafat bị cảnh cáo, và tuyến tiền liệt của ngài thị trưởng

Ngay cả các nông trại chăn cừu khai thác len cũng không thoát khỏi tầm ngắm của các thành viên đảng Peta. Mặc dù không sát hại con vật để lấy bộ da, nhưng quy trình cắt một phần lớp da của con vật để lấy lông cũng khiến các tay chăn cừu tận Úc châu không nằm ngoài tầm bay của bánh pie Mỹ. Cả một chiến dịch tấn công trực diện đã được nhằm vào nền công nghệ len sợi của Úc, trong đó, các đại gia bán lẻ đã đồng loạt tẩy chay sản phẩm và chất liệu xuất xứ từ Úc. Các nhà công nghệ và cả các chủ trang trại Úc chất phác đã tỏ ra đáo để không kém cạnh, hì hụi vác đơn kiện đảng Peta, với luận điệu rằng việc lạng đi lớp da dưới mông cừu mang nhiều tác dụng tốt cho con vật và tránh các bệnh nhiễm trùng do ruồi mang lại, có thể gây đau đớn cho cừu còn hơn bị lạng da mông. Có lẽ bị thuyết phục bởi các lý lẽ có liên quan đến da mông cừu cụ thể và khoa học như vậy, Peta chấp thuận đình chiến. Để ứng đáp cho đúng kiểu thiệp liệp giữa chốn nông trang châu Úc và trùm khủng bố thời trang Mỹ, phía nguyên đơn hứa sẽ tìm tòi phương thức khai thác mới mà không lạng da mông cừu.

Thái độ không khoan nhượng của Newkirk lên cao vào năm 2003 khi bà đích thân gửi lá thư đến thủ tướng Yasser Arafat ngay sau việc một chú lừa vô tội bị nổ tung sau một cuộc đụng độ bạo lực tại Jerusalem, yêu cầu ông để yên cho các con vật.

Thiên hạ còn la ó kịch liệt với chiến dịch quảng cáo vận động của PETA mang tên “Your Mommy Kills Animals” (Má Cháu Giết Động Vật), với bức họa theo lối hoạt hình một bà nội trợ tay lăm lăm dao đang tấn công một chú thỏ. Triệt để hơn nữa, để tiết giảm lượng tiêu thụ sữa, tổ chức này còn tung ra chiến dịch “Got Beer?” (Có bia không?) như một đòn chơi khăm sát ván chiến dịch quảng cáo sữa nổi tiếng “Got Milk?” (Có sữa không?). Cho đến khi một số bằng chứng y khoa cho thấy các sản phẩm từ sữa có thể là nguyên nhân dẫn đến ung thư, vừa lúc thị trưởng New York là Rudolf Giuliani được chẩn đoán chứng ung thư tuyến tiền liệt vào năm 2000, PETA mau mắn chạy luôn bức ảnh của ông với hàng ria mép trắng và dòng chữ “Got prostate cancer?” (Có ung thư tiền liệt không?). Đến đây thì cả nước Mỹ la ó phản đối, dĩ nhiên là với các chủ trang trại và các hãng thực phẩm chế biến cự nự dữ dằn nhất.

Trong mọi kế sách chiến lược của mình, hẳn nhiên chiêu khỏa thân chưa bao giờ là cũ nhưng vẫn luôn phát huy tối đa hiệu quả truyền thông.

Tháng Tám 2011, PETA chính thức ra mắt website “người lớn nhẹ”. Phát ngôn viên của tổ chức là Lindsay Rajt tuyên bố với Huffington Post rằng họ “sẵn sàng tận dụng bất cứ chiến thuật và phương tiện nào tốt nhất, hiệu quả nhất cho quyền động vật”, cô còn trấn an rằng website nọ sẽ được xử lí “cẩn trọng và gắt gao với mọi thông tin, hình ảnh để đảm bảo không rời xa hiệu quả của thông điệp và mục đích chính”. Đến đây, các tổ chức bình quyền phụ nữ lại vào cuộc, cho rằng PETA đang vì quyền động vật mà đạp lên cả nhân phẩm phụ nữ.

Bản thân Newkirk, khi bị các nhà hoạt động bình quyền lên án về chiến dịch khỏa thân của các người mẫu, ngôi sao chống nạn sử dụng thời trang lông thú, đã điềm nhiên trả lời “Để đạt đến mục đích nhân đạo, chúng tôi buộc phải bón mớm cho công luận và giới truyền thông những điều họ luôn đói khát”.

Những cuộc săn lông thú và những “con thú” thượng lưu

Chính từ những vụ scandal phá rối sôi động của đảng Peta mà khắp các thánh địa thời trang và giải trí lớn trên thế giới đã dấy lên một môn “thể thao mạo hiểm” mới, hợp thời và là một phần của lối sống fashionista phố lớn: săn tội đồ!

Những cuộc săn này nhằm vào các tượng đài phong cách mới, các celeb danh tiếng. Bãi săn là mọi “vùng trũng” của giới thượng lưu, dập dìu tài tử minh tinh. Từ hộp đêm, nhà hàng, khu nghỉ mát, các đại lễ thảm đỏ, v.v… Những cuộc bố ráp lớn có cả một lực lượng paparazzi hùng hậu, súng ống nòng flash trang bị tận răng, các hội viên activist dấu kín những ổ tàu hũ, túi nilon đựng tương cà và cả bánh pie trong những túi đựng hàng của shopper, và chen chân trong đó là cả những tín đồ thời trang văn minh với diện mạo sành sõi điệu nghệ thừa sức trà trộn vào những đám đông vương giả.

Những “con mồi” được phát hiện thường được chờ dẫn dụ cho đến khi vô tình lọt vào giữa vòng vây bố ráp để lãnh trọn cơn mưa đậu hũ tương cà trong ánh flash lóe lên liên hồi kì trận, và ngay hôm sau, cùng với chiếc áo lông thú đã bị hủy hoại không thương tiếc là một loạt những hình ảnh toét nhoèn cà đậu của đêm trước được phơi bày thảm hại trên các cột báo chính luận cũng như lá cải. Trong số đó, Madonna, Kate Moss, Vic Beckham, J.Lo và Paris Hilton là những con mồi ưa thích của môn “thể thao mùa đông” kì thú này.

Thậm chí giới celeb còn cho rằng scandal “lộ hàng” hay bị phát hiện địa chỉ website khiêu dâm trên ổ cứng còn dễ chịu hơn rất nhiều so với việc bị phát hiện mặc thời trang lông thú.

“Con mồi” gây bẽ bàng nhất cho Peta phải kể đến trường hợp Heather Mills. Người ta tìm được những hình ảnh người phát ngôn danh tiếng của đảng Peta đã từng mặc áo lông chồn cách đó gần…20 năm. Dù Heather tự bào chữa rằng đó là chiếc áo của bà thân mẫu để lại, vết nhơ ngụy quân tử sẽ không bao giờ được gột sạch khỏi danh tiếng Heather Mills – vốn là một mạnh thường quân đắc lực của Peta.

Những chiến binh chân dài và trần trụi

Nằm trong các chiến thuật chống thời trang lông thú của Peta, các thành viên đã trà trộn vào hàng trăm show diễn từ Âu châu, Hoa kỳ cho đến Trung Hoa. Họ có thể bất cứ lúc nào bất thần phun sơn đỏ bê bết lên sàn catwalk, cùng lúc nhảy lên chiếm trung tâm sàn diễn, một số trong tình trạng khỏa thân, tay khư khư biểu ngữ, poster. Đôi khi, điều bất ngờ nhất đối với dàn nhân viên bảo vệ khi các tay khủng bố lại chính là các celebrity hàng đầu, hay thậm chí các người mẫu trong ê-kíp đột ngột thoát y án ngữ ngay trước khu vực báo chí, khỏa thân và che phía trước bằng biểu ngữ nổi tiếng “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!” (I’d rather go naked than wear fur)

Bản thân biểu ngữ này trở thành tên gọi của cả một chiến dịch lẫy lừng, với sự ủng hộ nhiệt tình của hàng loạt tên tuổi nổi tiếng trong làng người mẫu và các ngôi sao giải trí thượng thặng. Họ không ngại ngùng pose các kiểu ảnh, thậm chí xuất hiện nơi công cộng, trần trụi và tự tại, vật che thân duy nhất, nếu có, là tấm biểu ngữ không quá lớn. Chiến dịch này, hẳn nhiên, theo sự tính toán của hội Peta, đã gây được hiệu ứng sâu sắc, với sức lan truyền theo cấp số nhân của các ống kính truyền thông. Đó là khi chính hội Peta bị các tổ chức bình quyền cự nự kịch liệt.

Mới đây, phái Peta đã trân trọng gọi ngày sinh nhật của Boss Model Agency là Flashback Friday (Ngày Thứ Sáu Hồi Tưởng) và cho đăng tải rộng rãi bức ảnh chiến dịch I’d Rather Go Naked than Wear Fur đầu tiên được chụp với các model nam và nữ hàng đầu của agency này cách đó 15 năm trong trạng thái khỏa thân hoàn toàn. Boss Models là công ty đại diện người mẫu đầu tiên chống thời trang lông thú với nguyên tắc khước từ mọi hợp đồng với bất cứ buổi chụp ảnh hoặc sự kiện nào có liên quan đến thời trang lông thú. Một trong những top model hàng đầu của Boss khi này là Marcus Schenkenberg còn khẳng khái tuyên bố rằng anh sẽ tẩy chay triệt để bất cứ ngành công nghệ nào có dấu hiệu ngược đãi và tàn sát động vật, và cho dựng tại hộp đêm Tunnel, khi ấy là chốn lưu tới thịnh hành tại New York, tấm bảng ghi dòng chữ “Thứ Hoang Dã Duy Nhất Ở Đây Chính Là Con Người – Cấm Áo Khoác Lông Thú” (The Only Wildlife Here Is Human – No Fur Coats Allowed)

Trong làng người mẫu, nổi bật và tiên phong trong chiến dịch dài hơi Go Naked là siêu mẫu thế giới Christy Turlington, và mới gần đây là Khloe Kardashan. Sự xuất hiện bạo liệt và quyến rũ của họ trên các poster của chiến dịch Go Naked đã thu hút cả những tiếng tung hô lẫn  những lời phản đối cự nự rầm rĩ từ nhiều phía. Ngày nào cuộc tranh cãi chưa đi đến hồi kết, thì hiệu ứng truyền thông của chiến dịch còn được nuôi sống. Nắm vững chân lý đó, song các phía đối nghịch vẫn không thể kiểm soát được cấp độ đình đám của chiến dịch lẫy lừng nhất trong lịch sử hoạt động của Peta.

Trong khi đó, đồng nghiệp của Kardashian là Gisele Bundchen lại bị các nhà hoạt động tấn công và la ó ngay trên sàn diễn Victoria’s Secrets. Người đẹp Brazil đã là một trong những người mẫu nổi tiếng đã tích cực phô trương những mẫu thiết kế lông thú không chỉ trên sàn diễn, như một nỗ lực đưa thời trang lông thú trở về vị trí chính thống của giới thời trang.

Phát ngôn viên Dawn Carr của Peta cho biết “Gisele đã tự ghi tên mình vào danh sách đen của Peta. Đáng lý ra cô ta đã phải biết rằng mỗi khi mặc vào một chiếc áo lông thú, đồng nghĩa với việc tuyên án tử cho không chỉ một mà hàng ngàn con vật tội nghiệp với những hình thức giết hại man rợ khủng khiếp nhất”

Lá cờ PeTA trên đỉnh phù hoa – khai pháo chiến dịch khỏa thân

Bar Atlantic tại London – chốn lui tới quen mặt của nội giới thời trang tại Anh, còn được mệnh danh là pháo đài an ninh kiên cố nhất với hàng rào an ninh ngăn cách các vị yếu nhân thượng khách với hội fan cuồng, giới săn tin và cả những tay khủng bố quá khích phái PeTA. Các tay gác cửa lịch lãm nhưng lão luyện có thể chỉ cần liếc qua để phát hiện ra một phần tử ngoại giới hay một nhà hoạt động quá khích, và các phần tử này sẽ được đón tiếp trọng thể theo một cách rất riêng.

Không một điệp viên PeTA thiện nghệ nào có thể lọt vào nơi đây. Sự kiên cố của Atlantic đáng để các phòng thí nghiệm hóa học của quân đội Mỹ cũng phải lấy làm hổ thẹn. Mọi chiến thuật tấn công trực tiếp vào Atlantic của PeTA đều liên tiếp bị phá vỡ chỉ bằng một cú phẩy tay của hàng rào an ninh Atlantic.

Và điều này không làm Ingrid Newkirk hài lòng.

Nó khiến bà phải đích thân vạch chiến lược.

Và một khi có đại nữ thủ lĩnh nhúng tay, điều đó đồng nghĩa với sự kiện khai hỏa chiến dịch chống thời trang lông thú được tổ chức, một cách bất ngờ nhất, ngay tại “trái tim nhảy múa” của giới thời trang và showbiz London – bar Atlantic, đương nhiên là với sự xuất hiện của cả một đội quân trường túc lộng lẫy đến từ các hãng đại diện người mẫu sừng sỏ nhất làng thời trang thế giới.

Một tuần sau khi nữ hoàng nội y Janet Reger gang thép tuyên bố “Tôi yêu lông thú tự nhiên!” ( I love real fur) như một tiếng hô xung phong cho phái nghiện thời trang xác thú, PeTA không hề đợi quá lâu để trà đòn thích đáng, với sự hậu thuẫn của hãng đại diện Boss Models và danh sách siêu mẫu quốc tế gồm Christy, Naomi, Nadja, v.v…

Không chỉ có I’d Rather Go Naked, PeTA còn có các chiến dịch với những câu hiệu triệu chân phương hơn như “Turn Your Back on Fur”. Báo giới được mời đến sự kiện khai hỏa để là những người đầu tiên thưởng ngoạn tấm poster chụp tập thể các người mẫu nam và nữ sáng giá nhất của Boss Models, trong tình trạng hoàn toàn khỏa thân. Người ta có chính xác 60 giây để ghi nhận lại hình ảnh và thông điệp để ngay vào sáng hôm sau, hình ảnh nóng hôi hổi của chiến dịch đã được đăng phần phật trên mọi trang đầu từ nhật báo chính thống đến tuần san lá cải.

Sự kiện này đã lập tức cải thiện hoàn toàn hình dung của công chúng về các nhà hoạt động môi trường nói chung: luộm thuộm và nhếch nhác, béo phị và khắc khổ. Giới trẻ tung hô và ủy lạo rầm rộ với hình tượng văn minh thời trang mới này, trong khi giới thủ cựu Ăng-lê, từ London đến các tàn dư quí tộc miệt vườn tỉnh lẻ đều nhất loạt lên án PeTA dữ dội. Và điều này ngay lập tức khiến cái tên PeTA trở thành một từ đồng nghĩa với tính bạo động, hợp thời, và tiến bộ.

PeTA đã thành công trong việc gắn liền lòng trắc ẩn và quyền động vật với hai yếu tố đáng gọi là vật liệu làm nên bom truyền thông: khỏa thân và người mẫu. Nếu có thứ gì mạnh hơn hai “chất nổ” ấy, thì đó chính là người mẫu khỏa thân. PeTA có cả điều ấy, và hơn thế, đó là rất nhiều siêu mẫu khỏa thân, tham gia pose khỏa thân với tinh thần 100% thiện nguyện. Khi Claudia Schiffer từ chối cam kết tẩy chay các hợp đồng quảng cáo thời trang da và lông thú, hầu như ngay lập tức những tiếng xì xầm cả quan ngại lẫn kỳ thị lan nhanh đủ để cô nàng Barbie đỏng đảnh của nước Đức phải chịu khuất phục và kí vào bản cam kết nọ.

Chiến dịch Go Naked lan tràn dài hơi và quyết liệt. Song song với liên tiếp những siêu mẫu khỏa thân là những cuộc biểu tình nhỏ lẻ hay tập thể, với chính các nhà hoạt động khỏa thân đi long nhong ở bất cứ thành phố lớn nào trải dài từ Mỹ đến châu Âu, cũng như mọi cơn sốt về xống áo mà chính các siêu mẫu này thường tạo nên sau mỗi chiến dịch quảng cáo thời trang. 

Không chỉ các người mẫu mà giới showbiz cũng vào cuộc. Các siêu sao đương thịnh từ Patti Davis, vợ chồng Kim Basinger và Alec Baldwin, Frank Skinner cho đến David Baddiel đều đã từng xuất hiện khỏa thân trên các poster của chiến dịch.

Điều này ngay lập tức mang lại khoản thiệt hại trị giá 12 triêu Mỹ kim cho hãng nhập khẩu lông thú lớn nhất tại Hoa kỳ là Evans Inc, với mãi lực giảm 22%, và không lâu sau đó là một cú trượt dốc không gì cứu vãn nổi cho đến cái đáy phá sản với lời cuối ngậm ngùi: “Chúng tôi chưa bao giờ muốn thừa nhận tác động của những tay khủng bố PeTA lên công cuộc kinh doanh của mình, nhưng giờ thì khó tìm lời lí giải hợp lí nào khác cho những thất thoát và tình trạng khánh kiệt”

Liên tiếp những năm sau đó, tổng mãi lực lông thú trên toàn thế gới giảm hẳn 60%.

Nhưng chiến thắng chưa bao giờ là 100% tuyệt đối, ngày nào còn những con vật bị tàn sát, và ảnh hưởng của PeTA chưa xoay chuyển cục diện một cách nhanh chóng và triệt để hơn khi hàng ngày, còn quá nhiều động vật bị hành hạ và hiến tế cho sự man rợ của phái tín đồ nghiện xác thú.

BẢNG PHONG THẦN CHIẾN HỮU VÀ CỪU NHÂN

PeTa và các chiến hữu

Năm 2007, danh ca Paul McCartney trở thành “Nhân Vật Trong Năm” của PeTA, sau sự thành công của chiến dịch thuyết phục hãng British Airway ngưng sử dụng chất liệu da thật để bọc ghế hạng thương gia, và chiến dịch chống thời trang lông thú trên Internet mang tên Second Life. Chưa hết, Paul McCartney còn cống hiến cho PeTA một mạnh thường quân quý báu khác, chính là con gái ông – nhà thiết kế Stella McCartney – một trong những tên tuổi thời trang đầu tiên tẩy chay triệt để chất liệu lông và da thú tự nhiên với thông điệp rõ rệt “Bạn vẫn có thể ăn diện đẹp ‘muốn chết’ mà không cần phải thật sự giết một sinh vật nào.

Theo ghi nhận của website Furisdead.com, người hùng bóng rổ Mỹ Dennis Rodman là quý ông celeb đầu tiên can đảm xuất hiện khỏa thân trên poster chiến dịch của Peta na8m 2005, với thông điệp rằng cuối cùng thì nam tử hán đại trượng phu vẫn luôn nên là những kẻ có thể tự tại thoải mái nhất bên trong bộ da của chính mình. Từ đó đến nay, chàng người hùng da màu này vẫn không ngừng quyên góp tài chánh cho quỹ bảo vệ động vật của Peta.

Quả bomb tình dục này đã minh chứng rằng bên trong thân hình căng mẩy ấy không chỉ là các túi silicon mà còn có cả một trái tim vàng và lòng trắc ẩn thiên phú. Pamela là thế hệ celeb đầu tiên tình nguyện hoạt động cho Peta trong các chiến dịch chống thời trang lông thú năm 1999, và kéo dài hoạt động thường xuyên cho đến hiện tại. Mặc dù hình ảnh khỏa thân của Pamela không phải là thứ hiếm có khó tìm bên ngoài các poster của Peta, nhưng ý nghĩa và sức nặng tiếng tăm của Pam đã khiến con số những thành viên không chính thức của Peta tăng lên theo cấp số nhân, và trong đó có rất nhiều là nam giới.

Giai nhân trường phái hoài cổ này không chỉ nổi tiếng bởi những shot ảnh gây ngứa ngáy nhãn cầu trong phong cách pin-up nũng nịu đa tình, mà cô còn được tung hô ái mộ ở tư cách một nhà hoạt động đình đám của phái Peta. Dita bắt đầu hoạt động cho Peta từ 2007, trong chiến dịch kêu gọi ý thức chăm sóc y tế và triệt sản cho thú nuôi để chúng được hưởng một sự chăm sóc chu đáo hơn, và giảm thiểu trường hợp những con thú nhỏ mới sinh bị vứt bỏ. Mới gần đây, trên Twitter của mình, nàng còn hé lộ thông tin về một chiến dịch sắp tham gia cùng Peta cũng không kém phần vừa thiết thực vừa nóng bỏng ngoạn mục.

Nàng là gương mặt ngôi sao nữ đầu tiên tham gia chiến dịch ủy lạo thực phẩm xanh và chết độ ăn kiêng tẩy chay sản phẩm từ động vật năm 2004. Không chỉ ngừng lại ở đấy, Alicia vẫn đang tiếp tục tham gia các hoạt động tuyên truyền và gây quỹ cho Peta.

Việc pose khỏa thân cho một chiến dịch kêu gọi các fashionista và hội sex-addict chuyển sang sử dụng các sản phẩm thời trang bằng chất liệu da nhân tạo hoàn toàn không nằm ngoài nghiệp vụ của cô đào phim khiêu dâm trứ danh Jenna. Nàng đứng xoạc đôi chân nuột nà lừng lững trong bộ nội y bé xíu, đôi gò bồng đảo phập phồng ôm vừa xinh trong cặp áo bằng da đen, mái tóc đen mun, môi đỏ huyết đào và hàng chữ xấc xược đầy khiêu khích “Pleather Yourself”. Sản phẩm da nhân tạo được làm ra từ plastic cũng được ngành công nghệ đồ chơi tình dục ưa chuộng và được sử dụng triệt để trong các bộ phim có sự xuất hiện của Jenna.

Không chỉ với những talkshow lẫy lừng nhằm vào đề tài “Fur-free and Fabulous” (không lông mà vẫn lộng lẫy), tạp chí O của Winfrey còn dành hẳn nhiều tháng để tẩy chay hoàn toàn mọi sản phẩm sử dụng da và lông thú. Không chỉ vậy, PeTA còn nợ Winfrey một món nợ ân tình lớn khi đại tẩu truyền hình đã khiến tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía chính đạo khi dẫn dụ thành công bà đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ Obama liên tục ủy lạo cho các chiến dịch chống thời trang lông thú, bảo vệ và chăm sóc động vật của PeTA.

Nữ hiệp đồng tính của talkshow truyền hình Mỹ tỏ ra tuẫn tiết hơn cả Winfrey khi luôn trực tiếp ủy lạo cho mọi hoạt động bảo vệ và chăm sóc động vật, từ hoang dã đến thú nuôi. Bà là tên tuổi tiên phong và ồn ào nhất trong vụ kêu gọi chấm dứt phong tục thảm sát cá heo tại Đan Mạch, hay hải cẩu tại Canada với cả sự hóm hỉnh lẫn mỉa mai cay nghiệt dành cho cái gọi là sự trưởng thành của đàn ông thanh niên tại hai đất nước này. Mỗi buổi lên sóng của Ellen đều dành một thời lượng không nhỏ cho hình ảnh của các con vật đáng yêu, hoặc những bản tin kêu gọi nhận nuôi các con vật bị bỏ rơi và bạo hành. Mặc với điều tiếng cự nự của không ít người, Ellen còn đứng đầu phong trào kêu gọi hạn chế giết mổ gà tây vào ngày Lễ Tạ Ơn – một phong tục mà theo bà là hoang phí và vô nhân.

Giai nhân có đôi mắt sâu thẳm đã quyết định không chỉ để dành tòa ngọc thể mĩ miều cho người tình kép lịch George Clooney, mà công khai phô phang cho toàn thể nhân dân trong chiến dịch Go Naked của PeTA, đương nhiên là với sự ủng hộ, dù có hơi xót của, của người tình. Nàng còn tâm sự rằng “khoảnh khắc khỏa thân và cảm thấy dễ chịu nhất của tôi không chỉ là trong bồn nước ấm hay trên giường, mà khi đó là trước ống kính trong một chiến dịch như thế này.” Bản thân người đẹp cũng tham gia nhận nuôi những con vật bị bỏ rơi.

“Con nghiện xác” Lindsay Lohan đã tự xóa tên mình ra khỏi danh sách đối tượng đen của PeTA khi bắt đầu xuất hiện thường xuyên hơn với thời trang lông thú nhân tạo, và cả một huy hiệu tẩy chay lông thú đính trên mũ như một thứ bùa hiệu nghiệm chống tàu hũ bay.

Cô đào Yvonne Strahovski từng lẫy lừng danh tiếng qua bom cine Chuck cũng là một activist năng nổ của chiến dịch “Always Adopt, Never Buy” kêu gọi nhận nuôi những con vật bị bỏ rơi thay cho việc mua chúng từ các tiệm bán thú nuôi. Nàng xuất hiện trên tạp chí Modern Dog vốn rất được các diva yêu thú cưng ưa chuộng, kêu gọi độc giả chia sẻ lòng từ tâm với những chú chó mèo kém may mắn bị bỏ rơi và chất vấn các tín đồ thời trang về nguồn gốc của thời trang lông thú.

 …và danh sách không ngừng lại ở đây.

Cừu nhân của PeTA

Dù trong suốt một thời gian dài trở thành bia tập ném được ưa chuộng của các thành viên Peta, bộ sưu tập túi xách của Bà Beck lại một lần nữa thách thức trữ lượng tàu hũ tương cà của phái bạo động cực đoan này khi tung ra bộ sưu tập túi xách tuyền bằng da cá sấu và da bê. Một thành viên Peta tuyên bố thẳng thừng với tờ nhật báo Mirror rằng “có lẽ tàu hũ quá mềm và tương cà quá nhạt với gout Bà Beck, nên cô ta rất nên thận trọng với một xô máu bò thứ thiệt dội thẳng vào người bất cứ lúc nào khi cô ta bước chân ra ngoài.” Với những ai đã từng biết về Peta, đây hoàn toàn có khả năng chỉ là trò dọa suông, bởi vấn đề là liệu sự giận dữ có đủ khiến Peta sử dụng máu thật để làm vũ khí?

Người đại diện chính thức của chi sở Peta tại Anh quốc phủ nhận lời tuyên bố này, nhưng xác nhận rằng UK PeTA đang rất để mắt tới Victoria Beckham: “Chúng tôi không cho rằng Victoria cố tình lờ đi những bằng chứng thực tế về cách thức dã man dùng để giết hại những con vật để khai thác lông và da để phục vụ thời trang xa xỉ. Chúng tôi chỉ e rằng các thông tin, hình ảnh và các thư yêu cầu khẩn thiết từ phía tổ chức PeTA đã không lọt qua nổi hàng rào kiểm duyệt của các trợ lí của cô ta. Bởi không lí nào một người nào đó, dẫu chỉ còn một chút trắc ẩn trong người, lại có thể thản nhiên xem những hình ảnh tư liệu từ các cuộc điều tra của chúng tôi mà vẫn tiếp tục tiêu thụ và ủy lạo sản phẩm từ lông và da thú.”

Với sự cố gắng tuyệt vọng cho mỗi bộ trang phục và mỗi lần xuất hiện, đặc biệt bộ váy bằng những tảng thịt tươi đã khiến Lady Gaga nghiễm nhiên chiếm giữ vị trí thứ 3 trong danh sách đối tượng của PeTA. Sau đêm Gala và sự xuất hiện đáng nhớ đó, ngoài các nhà thết kế và các cây viết thời trang, lời bình phẩm được trông đợi nhiều nhất lại là từ kẻ ngoại đạo Ingrid: “Như bộ váy Lọ Lem vậy! Cô ta mà không nhanh chân về sớm thì bạn thậm chí còn có thể thấy dòi lúc nhúc trên chiếc váy ấy!”, rồi bà đột ngột trở nên sắc lạnh sau câu bông lơn: “Hẳn nhiên là cô ta rất cần còn được để ý tới, nhưng đó không nên là động cơ giết chóc.” Trong khi đó, Nữ Hoàng Làm Quá đang mỏi mòn chống chế cho “tính tư tưởng” trong bộ váy của mình bằng thông điệp “Tôi không phải là một miếng thịt”. Không ấn tượng lắm với cách bao biện lúng túng này, nhưng Ingrid vẫn tỏ nhã ý mời Lady Gaga xuất hiện tại dạ tiệc 30 năm thành lập PeTA, với hi vọng rằng Nữ Hoàng Làm Quá sẽ có cho mình cơ hội thứ hai để bình luận về thông điệp sâu xa của bộ váy nọ.


Cựu người mẫu, tổng biên Carine Roitfeld của Vogue Pháp bị PeTA tấn công ngay trước buổi diễn của Jean Paul Gaultier, Paris Fashion Week. Một tay quá khích xé rách ống tay chiếc váy nhà Balenciaga khi đang cố giằng chiếc áo khoác bằng lông dê màu tím mơ, trong khi những người khác tới tấp ném trứng vào người bà. Điều này không hề làm con nghiện xác thú nặng nghiệp người Pháp nao núng, nếu không nói là hãnh diện tự nhận mình là “kẻ tử vì đạo” sau vụ tấn công trên.

John Galliano, thời còn tại vị tổng lãnh sáng tạo nhà Dior, đã tiếp xúc trực tiếp với Ingrid và lu loa tố tội Bernard Arnault đã đặt lên ông áp lực đưa thời trang lông thú và phụ trang, áo khoác da vào bộ sưu tập để giữ tag giá xứng tầm xa xỉ. Nhưng không lâu sau đó, Petit John tung ra chiếc mũ không chỉ làm bằng lông thú mà từ hẳn da đầu và mặt một chú cáo tuyết bị lột da. Đôi mắt không còn tròng của con vật tội nghiệp khép lại ngay phía trên đôi lúng liếng được trau chuốt tỉ mẩn của người mẫu. Quả là vô giá!

Tay người Mỹ máu lạnh tuyên bố thẳng thừng với Ingri rằng “Có cầu thì có cung. Nếu còn có người mua, tôi sẽ thiết kế bất cứ thứ gì họ muốn!” Điều này cũng đồng nghĩa với hàng ngàn sản phẩm từ lông cừu karakul. Để bảo đảm chất lượng mềm mịn như tơ, những con cừu bị tế cho các diva khát máu phải là những con cừu mới sinh được khai thác bằng “phương pháp” gây sảy thai cho cừu mẹ, hoặc bị đập bằng dùi cui đến chết ngay khi chào đời. Không như mèo con, cừu con mở mắt ngay khi lọt lòng, và ắt hẳn Mẹ Thiên Nhiên không định tạo ra điều này với mục đích rằng hình ảnh một con người đang cố nện vào nó bằng dùi cui sẽ là hình ảnh duy nhất về hành tinh này mà sinh vật mong manh vắn số ấy chứng kiến được. Những con cừu non vô tội không hề biết rằng loài người, một loài người khác, đã có thể tự tạo ra những sợi tơ tổng hợp cho ra một chất lượng không hề kém cạnh bộ lông tơ mịn màng của chúng. Nhưng ắt hẳn Michael Kors phải có biết đến điều này.

Kors chỉ trả lời cụt lủn rằng “Lông cừu non có độ rũ tốt hơn”.

Ai bảo Tất Cả các nhà thiết kế đồng tính là những người mẫn cảm và tinh tế.

Naomi là một trong những gương mặt siêu mẫu tiên phong trên những poster lừng lẫy nhất của chiến dịch Go Naked, và hầu như ngay sau đó không lâu, khoác lên mình cả một chiếc áo lông thú to sù xuất hiện tại một show diễn ở Milan.

Show diễn của Julien Macdonald bị tấn công ngay tại London Fashion Week. Các nhà hoạt động tràn lên catwalk với biêủ ngữ “Fur Is Dead” và hàng vốc bột trắng ném thẳng vào mặt, ngay khi nhà thiết kế vẫn đang điềm nhiên tiến ra runway và cúi chào khán giả.

Không chỉ liên tục tảng lờ, thậm chí chế nhạo tối hậu thư yêu cầu chấm dứt sử dụng lông và da thú, gã đầu đinh mặt thẹo còn tỏ ra khoái trá khi cù nhầy với các nhà hoạt động của nỗi kinh hoàng PeTA

Năm 2003, các trợ lí của Jean-Paul Gaultier đã “phục kích” phái PeTA bằng một tảng lông thú được quăng trùm lên các nhà hoạt động khi họ tấn công show diễn của tay hooligan thời trang khét tiếng.

Trong khi các celeb cỡ bự và không thiếu cả các nhà thời trang thức thời tham gia ủy lạo chiến dịch chống thời trang lông thú, thì phái thủ cựu lại thể hiện sự chống đối yếu ớt và đuối trò. Nhà thiết kế Pháp Quentin Veron tung tràn lên catwalk tuần lễ thời trang Paris những bộ thiết kế với dòng chữ “I’d Rather Wear Fur than go Naked” (Thà mặc lông thú còn hơn ở truồng) như một phản đề đuối hơi với câu thiệu của chiến dịch “I’d Rather Go Naked than Wear Fur”.

Là bia ngắm ưa thích của các nhà hoạt động PeTA, đứng đầu danh sách ăn mặc tệ nhất năm 2005, được mệnh danh là nàng “đầu bong bóng” khi vẫn mạnh miệng gọi bản thân là kẻ yêu động vật, minh chứng bằng cục cưng chihuahua được chưng sắm xa xỉ, nhưng cô nàng “yêu động vật” cũng yêu luôn mặc da của chúng lên người

…và danh sách không ngừng lại tại đây

chị Hạnh-Dung của nước Mỹ

Túy Ca

Mỗi một talk show của Oprah Winfrey là một sự hoàn chỉnh đầy ứ. Bà ồn ào, đói khát dữ liệu thông tin, dư thừa năng lượng, khôi hài, khả ái, mẫn cảm. Bà thân thiện bình dân, ranh mãnh trong mọi thủ thuật khai thác, tinh anh và không khoan nhượng những trò vè. Lợi thế ngoại hình của một người đàn bà da đen đồ sộ khiến bà vừa trấn áp, vừa vỗ về tin cậy. Oprah thoát khỏi bề ngoài bự sự của chính mình và lao thân tuyệt đối vào cuộc đối thoại với nhân vật, đồng thời tương tác chặt chẽ đến từng hơi thở, từng tràng cười và mỗi giọt nước mắt của khán giả truyền hình toàn nước Mỹ.

Bà không bao giờ hết chuyện để buôn, và bà “buôn dưa” với cả thế giới.

Nữ hoàng Talk Show Mỹ, người đàn bà được xem là có khả năng xoa dịu và chữa lành bằng nước mắt trong thời lượng của chỉ một cuộc trò chuyện, đã sinh ra trong chính số phận của những nhân vật mà bà từng làm việc. Không thiếu gì cả, một dòng máu pha tạp, một bà mẹ độc thân tuổi vị thành niên, tuổi thơ bị lạm dụng và những cuộc tình bị bạc đãi.

Số phận đó đã rất có thể kết thúc tại một nơi nào đó trên bề mặt đau khổ của địa cầu, trong một khu ghetto da màu, trong một trại giáo dưỡng cai nghiện, hay dưới 3 tấc đất.

Ngược lại, bà chỉ vừa mới kết thúc một chặng đường 25 năm bằng cuộc độc thoại 4 giờ đồng hồ trên show truyền hình nổi tiếng thế giới, và sửa soạn cho một vụ đại chấn truyền thông mới mang cái tên đầy tham vọng chiếm hữu: OWN (Oprah Winfrey Network)

Những đứa trẻ đến và đi

Cuộc xét nghiệm gene năm 2006 cho thấy mẹ của Oprah gốc là tộc người Kpelle, nay là Liberia, bản thân Oprah mang 89% dòng máu Sub-Saharan Africa, 3% Đông Á và chỉ có 8% Mỹ bản địa.

6 năm đầu trong đời, Oprah sống cùng bà ngoại Hattie Mae Lee. Bà nghèo đến nỗi cô bé Oprah chỉ có những chiếc váy làm từ vỏ bao bố đựng khoai tây và trở thành trò đùa của lũ trẻ trong vùng. Bù cho những bộ váy áo, bà ngoại dạy cô đọc từ rất sớm nên cô nhóc thuộc làu làu kinh kệ, có khả năng biện dẫn thánh kinh đáng nể. Nền gia huấn của cụ bà sùng đạo còn đi kèm cả những trận đòn roi khắc nghiệt, những công việc vặt trong nhà và một nề nếp của dòng tu kín mang nỗi tự ti giai tầng lẫn chủng tộc.

Những năm tiếp theo là những cuộc phiêu bạt từ thành phố này đến tiểu bang khác cùng mẹ, những đứa em cùng mẹ khác cha được sinh ra, em gái đầu chết vì nghiện ma túy. Em gái Patricia sinh ra khi Oprah được gửi nuôi ở Tennessee, về sau được cho đi vì người mẹ đang hoàn toàn phải sống dựa vào trợ cấp chính phủ. Oprah hoàn toàn không biết gì về người em gái cuối cùng này cho đến tận năm 2010, trên một talkshow của bà. Khi Oprah được đưa về lại với mẹ, đứa bé gái cuối cùng đã bị mang đi, và người mẹ đã kịp sinh em trai cùng mẹ với Oprah là Jeffrey, về sau mất năm 1989 vì bệnh AIDS.

Xen kẽ giữa những cuộc chuyển dời thời ấu thơ, những đứa em sinh ra và thất lạc, là những chuỗi ngày bé Oprah bị lạm dụng bởi các anh em họ, người cậu ruột, và cả những bạn bè của gia đình từ khi mới 9 tuổi, bà giữ kín điều này cho riêng mình và lần đầu thú nhận ngay tại talk show, trước hàng vạn khán giả truyền hình năm 1986, khi đang thảo luận về đề tài lạm dụng tình dục. Oprah thừa nhận lí do bà không muốn làm mẹ vì chính mình đã không được hưởng sự dưỡng dục tối thiểu từ tình mẹ.

Thật ra, lần mang thai đầu tiên của Oprah là khi bà mới 14 tuổi, đứa bé trai chết không lâu sau khi ra đời. Sự phản bội lớn nhất từ gia đình mà Oprah nếm trải chính là khi về sau, họ chấp thuận bán câu chuyện này cho National Enquirer năm 1990.

“chị Hạnh Dung” của nước Mỹ

Sau giải hoa khôi da màu Tennessee năm 1972, Oprah bỏ lại sau lưng những chào mời hứa hẹn theo thông lệ để trở thành trụ cột đài WTVF-TV năm 19 tuổi, và nữ biên tập viên da màu đầu tiên tại Nashville.

Định hướng sự nghiệp truyền thông của Oprah không hề là một điều đáng ngạc nhiên với bà ngoại của cô, người đã từng chứng kiến tuổi thơ với trò chơi phỏng vấn con búp bê bằng lõi ngô và mấy con bù nhìn, và ngược lại, Oprah luôn coi bà Hattie Mae là một nguồn ảnh hưởng lớn của mình, từ ngày thơ bé vẫn luôn khuyến khích khả năng hùng biện của đứa cháu.

Trong suốt nhiều năm liền, Oprah liên tiếp là nữ biên tập trẻ nhất và trường hợp da màu đầu tiên của các đài phát thanh nơi cô cộng tác, nhưng sự định hình đế chế thật sự đã phải chờ đến ngày 8 tháng Chín, 1986, với 1 tiếng đồng hồ lên sóng đầu tiên của The Oprah Winfrey Show. Oprah đường hoàng đánh bại đối thủ tối thượng lúc bấy giờ là Donahue và nghiễm nhiên chiếm vị trí talkshow ban ngày hàng đầu của Mỹ. Giới truyền thông Mỹ tiên liệu một vụ nổ và một nữ vương mới trong lãnh địa truyền thống của những người đàn ông da trắng. Tham gia vào lãnh vực talk show, Oprah biến những cuộc trà dư tửu hậu của các quí ông truyền hình thành một buổi buôn dưa thân thiện với mọi chủ để xoay quanh cuộc sống gần gũi. Từ các đề tài xã hội, chính trị, tâm linh, cho đến cách chọn mua áo ngực. Người ta có thể bị Opran khéo léo lôi tuột từ đề tài chó mèo đi lạc sang vấn đề ngược đãi động vật, và chỉ 2 phút sau, bà đã kịp bàn đến thời trang lông thú, sự phi nhân của văn hóa tiêu thụ xa xỉ. Trên hết, từ size áo lót đến ý thức môi trường trong văn hóa tiêu dùng đều được bàn luận và sẻ chia với một siêu minh tinh trứ danh, hay một chính khách lẫy lừng.

Bà tiếp cận nhân vật không bằng cú pháp chặt chẽ của truyền thống nghiệp vụ, mà bằng một sự hiếu kỳ chân thật, một chút khôi hài của kẻ đã có thể khóc quá nhiều, nhưng trong sâu xa, vượt trên cả cái đầu siêu thông minh, là một lòng trắc ẩn chân thành, không ngụy tạo. Bằng tất cả những điều này, Oprah nắm giữ một thứ ma thuật không những vô hại mà còn có tác dụng chữa lành – bà khiến người ta nói ra những điều không thể, và được xoa dịu hoặc phấn khích hoàn toàn sau chỉ vừa tròn thời lượng một chương trình.

Quá muộn cho Sarah Palin!

So với các đồng nghiệp nam, Oprah thừa sức chứng tỏ sự thông minh của một nhà xã hội học, sự uyên bác của một học giả hàn lâm, nhưng trên hết, bà có điều mà các quí ngài da trắng không thể có được – sự tương tác siêu mẫn cảm và tài tình với nhân vật và cả người xem. Oprah không có vẻ khách quan, thậm chí kẻ cả của các host truyền thống, bà đầy cảm tính và vong thân cực đoan với ngập ngụa dấu ấn cá nhân.

Năm 1993, Oprah tung đòn lịch sử – cuộc trò chuyện với vua Pop Michael Jackson. Đây là quả bomb truyền thông thật sự, với kỷ lục sự kiện truyền hình vĩ đại thứ 4 trong lịch sử truyền hình Hoa kỳ, và cũng là cuộc phỏng vấn được nhiều người xem nhất, với con số 36.5 triệu khán giả.

Năm 2005, sự xuất hiện của chính Oprah trong talkshow The Late Show With David Letterman đã khiến Letterman lập kỉ lục lượng người xem lớn nhất trong suốt 11 năm: 13,45 triệu. Letterman lịch thiệp đáp lễ bằng việc xuất hiện trong The Oprah Winfrey Show ngay khi có thể, tức là khi chương trình của Oprah thực hiện tại New York hai năm sau dó.

Hẳn nhiên, ngoài sự ưu ái của các celebrity giải trí và truyền hình cùng hàng triệu trái tim Mỹ, sự văn minh của Oprah, và đôi khi cả lòng trắc ẩn của bà cũng khiến không ít yếu nhân khó chịu. Năm 2006, các rapper khét tiếng Ludacris, 50 Cent và Ice Cube đồng loạt chỉ trích Oprah là anti-hip hop. Ludacris phàn nàn với tờ GQ là Oprah “chơi khó” anh ta về ca từ, rồi biên tập các câu trả lời của ngôi sao này. Oprah thẳng thắn trả lời rằng bà không nuốt trôi được thứ ca từ miệt thị phụ nữ, những vẫn nghe rap bình thường, tiện thể ca ngợi rapper đối thủ là Kanye West – cũng là khách mời trong talkshow của Oprah.

Tháng Chín, 2008, Oprah tiếp tục chỉ trích bởi Matt Drudge vì tội không chịu mời bà nghị Sarah Palin xuất hiện trong chương trình của mình, vì Oprah lại ở bên phe Barack Obama. Tuy nhiên, điều này khiến các cử tri da màu hể hả vì hành vi “kỳ thị chủng tộc ngược” này của quyền lực “đen” ngay trên truyền hình Mỹ. Bản thân Oprah cũng khẳng khái cho biết bà ủng hộ cho Obama và quyết không để talkshow của mình thành bệ phóng cho bất cứ cá nhân, đảng phái đối lập nào. Nhưng bà phủ nhận việc từ chối Palin, cho rằng bà nghị sẽ là một khách mời lí tưởng, và thể hiện bằng cách mời bà Sarah Palin xuất hiện tại talkshow trứ danh của mình, đương nhiên là sau cuộc bầu cử và Obama an vị trên ghế tổng thống.

Người đàn bà quỳ gối qua những cuộc tình

Ngoài những trải nghiệm kinh hoàng của tuổi thơ bị lạm dụng, đứa bé trai sinh ra khi 14 tuổi và chết gần như ngay sau đó, Oprah Winfrey vẫn có cho mình những trang tình sử đáng nhớ cho cuộc đời người phụ nữ tài danh.

Mối tình học trò ghi dấu ấn sâu sắc trong tuổi hoa niên của Oprah là Anthony Otey – người cho đến nay vẫn nâng niu gìn giữ hàng trăm bức thư tình của hai người. Cả hai đã nghĩ đến hôn nhân, nhưng Otey luôn biết rằng Oprah thuộc về một cuộc đời rộng lớn hơn rất nhiều một tổ ấm mà ông có thể mang lại. Họ chia tay vào một ngày lễ Tình Nhân. Vài tháng sau, nàng có cho mình mối tình đại học, cũng là cuộc tình thật sự sâu đậm và lí tưởng với William “Bubba” Taylor. Oprah có thể làm tất cả để giữ mọi thứ y như vậy, dù đó là việc tìm việc làm lí tưởng cho chàng, hay quì gối van vỉ để tình nhân rời Nashville cùng bà, khi Oprah được cất nhắc làm việc tại Baltimore năm 1976. Dù về sau, Oprah vẫn gọi đó là “một tình yêu không thể quên”, bà vẫn chọn bước ra khỏi cuộc tình để về với đài WJZ-TV.

Những tháng năm tiếp theo, Taylor được thay thế bằng pianist-nhạc sĩ-người dẫn chương trình John Tesh, nhưng họ cũng chia tay bởi chàng không chịu nổi áp lực ràng buộc của mối quan hệ. Về sau, John Tesh thừa nhận rằng lí do tan vỡ đã liên quan rất nhiều đến sự khác biệt màu da. “Một đêm tôi thức dậy bên cô ấy, và nhìn xuống giường, vào hai thân thể một đen một trắng đang trớ trêu nằm cạnh nhau ấy. Dường như quá sức chịu đựng của tôi.” Ông bước ra khỏi căn hộ và cuộc đời Oprah như vậy, lẳng lặng lúc nửa đêm và để lại sau lưng người đàn bà trượt xuôi vào tuyệt vọng.

Bắt đầu cho chuỗi gày đen tối của Oprah. Bà trở nên mẫn cảm và tự ti. Oprah bắt đầu mắc chứng rụng tóc thậm tệ và bị chỉ trích về ngoại hình lôi thôi, bà đã bật khóc, và bờ vai quân tử đã đưa ra để hứng lệ cho bà khi này là phóng viên Lloyd Kramer. Sau này Oprah cò nhớ lại “Đó là người đàn ông yêu thương tôi ngay cả khi tôi là một mụ hói.” Nhưng ngay khi Kramer chuyển đến New York để đầu quân cho NBC, Oprah rơi ngay vào vòng tay một người đàn ông đã có vợ và hoàn toàn không có ý định ly dị. Cuộc dan díu kéo dài suốt 4 năm, Oprah nhớ lại “Ông ta càng tỏ ra xa cách, tôi lại càng muốn gần hơn. Không có ông ấy, tôi cảm thấy như mình không còn giá trị ý nghĩa gì nữa, tôi cạn kiệt hoàn toàn, và cuối cùng là nhìn thấy chính mình đang phủ phục trên sàn nhà, một lần nữa, và van xin”. Sự tồi tệ của mối quan hệ lên đến tận cùng khi Oprah gửi cho bạn thân là Gayle King lá thư tuyệt mệnh, trong đó có hướng dẫn chu đáo cách tưới nước cho những cái cây mà bà muốn nhờ King chăm sóc hộ. “Lá thư ấy, giờ nhìn lại, chỉ là một trò làm quá. Tôi đã không thể tự giết mình, tôi sẽ sợ hãi ngay vào khoảnh khắc ấy, với suy nghĩ rằng tôi sẽ bị hụt mất khi một điều gì đó thật tuyệt nữa sẽ sắp xảy ra, như vẫn luôn như vậy”.

Con nghiện giá 20 triệu và hôn ước bị lãng quên

Tuổi thơ bị bạo hành, và những cuộc tình bị ruồng rẫy đã dẫn theo những cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng, và việc tăng cân là một hệ quả đi cùng. “Tôi luôn cần được chấp nhận. Tôi cần được yêu thích, bởi tôi chẳng thể yêu thương lấy chính mình. Thế là tôi bị hút vào những người đàn ông ích kỷ, những kẻ sẽ cho tôi biết rằng tôi là kẻ ích kỷ, và tôi vồ vập đón nhận lấy lời quy buộc đó một cách hàm ơn. Tất cả bởi vì tôi không hề cho rằng mình xứng đáng có một điều gì đó tốt đẹp hơn. Tôi tăng cân, và đó là thứ tự vỗ về bản thân – cái bản thân bị cả thế giới chối từ”.

Hói đầu, béo, và thậm chí nghiện ngập. Cùng trong thời kì này, Oprah còn dan díu với một người tình khác, về sau bà thú nhận đã từng cùng người này nghiện hút cocaine với lời giải thích “Tôi không bao giờ nghĩ rằng chính cocaine là vấn đề, bởi vấn đề nằm ở chỗ tôi nghiện người đàn ông ấy, thậm chí không thể tưởng tượng nổi liệu còn có gì mà tôi không sẵn lòng làm vì anh ta.” Dựa trên tính toán thời điểm và mô tả, giới thạo tin cho rằng đó rất có thể là Randogh Cook, kẻ một ngày đẹp trời nhận rằng đã từng dan díu với Oprah hồi 1985 và họ thường xuyên hút cocaine với nhau. Gã người tình cũ lăm le cho xuất bản cuốn tự truyện kể tồng tộc về mối quan hệ của họ với nhau và giật trợn đòi kiện Oprah phải trả cho gã 20 triệu USD vì đã can thiệp để cuốn sách không thể xuất bản.

Tình sử những năm 1980 của Oprah không chỉ là những trang buồn, bởi trong đó, mối tình với nhà phê bình điện ảnh Roger Ebert đã là một cột mốc đáng nhớ dẫn dắt Oprah đến với format đầu tiên của The Oprah Winfrey Show danh bất hư truyền.

Năm 1985, trước khi talkshow của Oprah vượt khuôn khổ tiểu bang Chicago để vươn đến tầm phủ sóng liên bang, người ta lại nghe nói đến áp-phe ái tình của bà với nhà làm phim người Haiti Reginald Chevalier. Chính Chevalier cũng không ngại ngần thuật lại những buổi tối lãng mạn của họ, với nến quanh bồn tắm, hay những bữa ăn tối thân mật với Michael Jordan và Danny Glover. Ông còn dũng cảm thú nhận mình đã bị Oprah cho rơi khi bà gặp Stedman Graham.

Với Stedman, Oprah đã đi trọn một cuộc tình dài hơi từ 1986. Họ đính hôn và chuẩn bị hôn lễ vào tháng 11, 1992. Nhưng những cuộc cút bắt trớ trêu với hạnh phúc của Oprah đã không dừng ở đó, hôn lễ ấy đã không hề diễn ra.

“Nghe đồn ở quanh đây, người ta kính Chúa?”

Cho đến gần đây, khi cuốn sách về đời tư của Oprah được tung ra, người ta lại được tác giả ý nhị cho hay rằng Oprah Winfrey có mọi lí do lẫn dấu hiệu lưỡng tính, hoặc hoàn toàn đồng tính ái.

Bên cạnh những cuộc tình không lối thoát, Oprah được san sẻ và bù đắp khá nhiều từ những tình bạn lớn trong đời, mà trong đó không thể không kể đến Gayle King – vốn là host của show truyền hình vang danh The Gayle King Show, và hiện là biên tập cho tạp chí O, the Oprah Magazine.

Ngoài ra, người đồng nghiệp có tài gây sóng gió màn ảnh truyền hình Mỹ khác là Ellen DeGeneres cũng là một tình bạn quí báu mà Oprah có được cho mình. Họ gặp nhau năm 1997, khi Oprah vào vai trò tư vấm tâm lý trong một show đáng nhớ của Ellen, khi cô công khai bản thân là một người đồng tính ái. Bản thân Oprah và King cũng có cho riêng họ những lời đồn về xu hướng tình dục, bà thản nhiên đáp trả “Họ nghĩ rằng tôi đồng tính và tự ti, nhục nhã đến độ không dám công khai thừa nhận à? Làm ơn dùm cái đi!”

Với sự khác biệt nhưng đầy nhân văn của chính mình, Oprah dẫn đầu trong cuộc cách mạng truyền hình về đề tài giới tính, tạo tiền lệ cho các chương trình gây chấn động khác như Ricki Lake, The Jenny Jones Show và The Jerry Springer Show. Các nhà xã hội học phái thủ cựu phản đối kịch liệt việc Oprah đã tự tiện xóa mờ lằn ranh giữa các cá thể “đàng hoàng tử tế” và những kẻ lập dị. Trên ghế khách mời của Oprah, liên tiếp xuất hiện những nhân vật có thật, đồng tính, lưỡng tính hay chuyển đổi giới tính. Họ tài tình và thật thà, vắt kiệt cảm xúc lẫn nước mắt người xem rồi trở thành những hình mẫu hào hùng ngay trên màn ảnh truyền hình, với Oprah ngồi bên cạnh, rơm rớm nước mắt trong tiếng tung hô của khán phòng, vang đến tận từng căn hộ trên khắp nước Mỹ.

Những trường hợp đồng tính công khai càng ngày càng có độ tuổi trẻ hơn, đó là điều khiến các nhà đạo đức khổ sở. Nhưng số vụ tự sát ở người đồng tính theo đó mà tỉ lệ nghịch rõ rệt. Cũng từ thời điểm này, dân đồng tính và các vấn đề xoay quanh đời sống thế hệ tình dục tự do qua sitcom Will & Grace, show giờ vàng Queer Eye for the Straight Guy, và những ứng viên Oscar cỡ Brokeback Mountain.

Trong một show những năm 1980, trong ngày National Coming Out Day (ngày công khai đồng tính toàn quốc), lần lượt từng khán giả trong trường quay của Oprah Show đứng lên, dõng dạc danh tánh và công khai giới tính trước sự chứng kiến của toàn nước Mỹ qua màn ảnh nhỏ.

Cũng vào thời kỳ này, cả khu Đông Virginia đang hoảng loạn vì một người đàn ông đồng tính ở đây đã nhiễm HIV. Nữ Hoàng Buôn Chuyện tất tả gồng gánh cả chương trình đến tận đây. Bà quyết phỏng vấn cho được “con quái vật bị rút phép thông công” cùng ngài thị trưởng – người đã cho lệnh rút cạn hồ nước nơi người đàn ông kia đã đến bơi. Oprah chưa bao giờ gay gắt và miệt thị đến vậy. Bà nhìn xuống khán phòng đầy những công dân Virgina ngoan đạo “Tôi nghe đồn rằng ở vùng này người ta kính Chúa? Vậy cho hỏi nhân tính đâu, tình ái hữu đồng loại ở đâu, Virgina?”

Trong một show khác vào thập niên 1990, một người phụ nữ dưới hàng ghế khán giả đã đứng lên tuyên bố mình đã chán ngấy trò phô trương trơ trẽn tục tĩu của giới gay. Oprah hằn học đáp trả “Bà biết điều gì làm tôi chán ngấy? Bọn đàn ông ‘bình thường’ đi cưỡng dâm các cô gái nhỏ.”

Khi một người đàn bà buôn chuyện trên sóng quốc gia

Sự ảnh hưởng của Oprah không những tác động đến lối sống và tâm lí mọi công dân trong xã hội Mỹ. Sức ảnh hưởng của tài buôn chuyện của Oprah còn tác động mạnh mẽ lên thị trường tiêu thụ, nền kinh tế tiêu dùng, và cả xu hướng chính trị. Các nhà kinh doanh, các nhà văn và cả các chính khách gọi đó là Hiệu Ứng Oprah.

Thoạt tiên, hiệu ứng này được ghi nhận rõ rệt nhất vào thị trường xuất bản và các cuộc bầu cử. Cuối 1996, với sự ra đời của mục Oprah’s Book Club trong Oprah Show, tập trung vào các ấn phẩm văn học kinh điển lẫn đương đại. Với một lượng khán giả khổng lồ trước màn ảnh truyền hình, sự xuất hiện của một cuốn sách trong chương trình của Oprah được coi là chứng nhận siêu hạng, và lập tức chia sẻ một sự tập trung lớn của thị trường dành cho ấn phẩm may mắn nọ. Người ta dễ dàng lập tức nhận ra những cú dội bomb văn học chỉ thật sự bùng nổ sau khi xuất hiện vài tiếng trước đó trên Oprah Show, trong đó, Phía Đông Vường Địa Đàng của John Steinbeck là một ví dụ điển hình. Giới xuất bản ngầm hiểu, sự công nhận của Oprah có giá trị tương đương với lợi nhuận của hàng triệu ấn bản được mua sạch vào ngày hôm sau. Trong cuốn Đọc Sách Với Oprah: Mục Điểm Sách Đã Thay Đổi Nước Mỹ (2005), Karhleen Rooney đã mô tả Oprah là một “nhà trí thức Hoa Kỳ thực thụ, người tiên phong trong việc sử dụng truyền thông điện tử để ủy lạo cho văn hóa đọc, nhấn mạnh vai trò xã hội của văn học đủ thuyết phục khiến hàng triệu con dân thế hệ màn hình cùng hưởng ứng và quay về một cách nghiêm túc, đầy hứng thú với văn chương và văn hóa đọc”.

Sức ảnh hưởng lớn lao của Oprah lên thị trường không ngừng lại ở lãnh vực xuất bản. Trong một cuộc “buôn chuyện” năm 1996, Oprah tỏ ý e dè với món burger bởi dịch bò điên. Các trang chủ Texas hoảng loạn nổi đóa kiện Oprah tội tung tin đồn nhảm, tác hại đến uy tín kinh doanh của họ với tổng thất thu lên đến 11 triệu USD. Vụ kiện 2 tháng ròng rã chẳng đi đến đâu khi luật sư bên nguyên tuyệt vọng trong nỗ lực minh chứng tác hại của một người đàn bà buôn chuyện trên truyền hình. Còn Oprah ngay sau đó mời luôn luật sư biện hộ Phil McGraw xuất hiện trên chương trình của mình. Luật sư Phil xuất hiện thường xuyên đến nỗi chỉ vài năm sau thực hiện luôn show của mình vào năm 2002 với tên gọi Dr.Phil, với sự hỗ trợ của Harpo Productions – hãng sản xuất của Oprah.

Ngoài Dr.Phil, các show Dr.Oz và Rachael Ray là hai chương trình trò chuyện khác do Oprah sản xuất, cũng là những nhân tố lan tỏa Hiệu Ứng Oprah.

Những buổi buôn chuyện của Oprah, hẳn nhiên, như mọi đề tài có thể được mang ra bàn tán quanh mọi bàn café và mọi phòng ăn gia đình, còn đề cập đến đề tài chính trị, khi chính trị có ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày. Khi ứng viên Barack Obama chào sân chính giới năm 2008, mọi đối thủ của ông đều phải lo ngại trước thịnh tình hào phóng mà nữ hoàng buôn chuyện dành cho vị chính khách tiến bộ người da đen. Bà công khai thể hiện thái độ chính trị chủ quan của mình, sử dụng biệt thự riêng cho các sự kiện gây quỹ, cùng Obama có mặt tại các cuộc vận động tại Iowa, New Hampshire và South Carolina, lôi kéo hàng chục ngàn cử tri nghiêng hẳn về phía Obama trong cuộc đua vào tòa Bạch Ốc. Theo phân tích của đại học Maryland, Collage Park, ảnh hưởng của Bà Nhiều Chuyện lên sinh mệnh chính trị của Obama được “quy ra thóc” thành khoảng từ 423,123 đến 1,596,995 phiếu bầu, chỉ tính riêng phe dân chủ, chưa bao gồm Texas, Michigan, North Dakota, Kansas và Alaska. Thống đốc Illinois đã vô cùng ấn tượng với sức ảnh hưởng này và khẩn trương mời bà vào ghế nghị viện còn trống với là ca tụng rằng đây là người đàn bà có lời nói giá trị hơn 100 ông nghị cộng lại. Oprah đáp lễ, tuyên bố hơi mập mờ rằng mặc dù không lấy làm hứng thú với lời đề nghị, bà vẫn luôn biết rằng mình có đầy đủ tố chất và khả năng.

Liệu pháp Oprahfication cho Oprah

Hẳn nhiên, Oprah không thể là hiện tượng siêu nhiên của hiện thân Đức Bà Đen với lòng trắc ẩn vô bờ bến và vô điều kiện. Trong một góc nhìn tâm lý, chính những lời “xưng tội” trước đám đông được chia sẻ và hơi ấm của lòng trắc ẩn lan tỏa là một liệu pháp chữa lành cho chính Oprah. 25 năm nhìn lại, từng cuộc nói chuyện, từng mảnh đời nhân vật mà Oprah từng khai thác và chia sẻ chính là những mảnh ghép phản chiếu chính những bi kịch của Oprah. Từ mặc cảm về thân hình, màu da, những cuộc tình bi lụy, vết nhơ của tuổi thơ bị lạm dụng, những áp lực của một nữ trí thức da đen trong môi trường quyền lực giữa những người đàn ông da trắng, v.v… Oprah luôn có một mảnh rứt ra từ chính câu chuyện cuộc đời bản thân để cùng hóa thân vào nhân vật một quyền năng xoa dịu ấm áp thần kì. Chưa bao giờ tính tương thích của truyền hình lại được thực hiện đơn giản và mang lại hiệu ứng xã hội mãnh liệt đến vậy, và chính hình ảnh của Oprah Winfrey là một minh chứng hiển nhiên, khi mỗi show là một buổi trị liệu cho chính bà.

Quyền lực ảnh hưởng của Oprah ngày càng trở nên rộng lớn và tác động không chỉ đến những bà nội trợ có thú vui ngồi khóc trước màn hình, mà còn trở thành một công thức mới cho chiến lược hình ảnh chính trị. Chính ngài Bill Clinton đã áp dụng thành công liệu pháp Oprahfication để khéo léo chống đỡ sinh mạng chính trị với những sai lầm rất “nhân văn”, những phân tích tâm lí thuyết phục, lời thú tội thật thà với lòng vị tha tương tác của bà đệ nhất phu nhân. Tất cả được đích thân phù thủy Oprah phân tích, nhào trộn và trở thành một tác phẩm talkshow tâm lí hoàn hảo, giàu tính giải trí, nặng mùi cine Mỹ. Cuối cùng, toàn thể con dân cờ hoa tin chắc rằng sau kép Ronald Reagan quá lâu, nước Mỹ rất cần một chú Sam chịu chơi, hơi hào hoa một chút với kết thúc có hậu. Họ hài lòng với cốt truyện theo kiểu “feel-good movie”, vừa có vị diễm tình công chức, và có cả những cuộc đoàn tụ trong hoan ca tôn vinh giá trị gia đình.

Cũng như vậy, Oprah tiết lộ cân nặng của mình (đỉnh cao lên đến 108kg), và dẫn đầu làn sóng các nữ biên tập viên truyền hình “nặng ký” như Roseanne Barr, Rosei O’Donnell và Star Jones. Đến gần cuối những năm 1980, Oprah Winfrey, từ một kẻ bị khiển trách vì ngoại hình lôi thôi, đã biến “fat” thành “fabulous”, tạo hình mẫu phồn thực, sang cả và sôi nổi nhưng sắc bén, ngay giữa một xã hội tôn vinh chuẩn mực thân hình màn hình phẳng và những làn da thiếu máu của các tín đồ da trắng thích ăn kiêng. Công thức của Oprah? Đơn giản là một gout thời trang phù phiếm nhưng thông minh, một lòng tự tôn mãnh liệt, và tình yêu triệt để với hình hài nhân diện được Chúa ban.

Tông đồ đảng PETA

Không chỉ là một con chiên ngoan đạo và một tiếng nói đấu tranh vì hòa bình thực thụ, Oprah còn là một điển hình mẫu mực của một diva sành điệu, có khả năng biến hóa các khiếm nhược ngoại hình trở thành ưu thế, và thậm chí là trademark của bà giữa các celeb hào nhoáng của showbiz thế giới.

Nhưng trên hết, với sự thông minh và ý thức nhân đạo hồn nhiên nhất, Oprah còn được giới thời trang ca tụng là một fashionista văn minh bậc nhất. Là một tín đồ tuẫn tiết nhưng hoàn toàn tự chủ, dù tài sản lên đến hàng tỉ có thể cho phép Oprah có cho mình tủ quần áo của một nữ hoàng, bà vẫn cương quyết cự tuyệt mọi nguồn gốc sản phẩm làm từ lông và da thú. Năm 2008, hội Peta chọn bà làm Nhân Vật Trong Năm vì đã sử dụng uy tín, hình ảnh và công chúng của Oprah Show vào các chiến dịch từ thiện, bao gồm cả các chiến dịch bảo vệ và chăm sóc động vật. Đảng Xanh xem bà như một thành viên danh dự với những talkshow đề cập gay gắt đến tệ nạn sát hại động vật, thẳng tay vạch trần những hình thái tội ác khủng khiếp và nhẫn tâm diễn ra hàng ngày tại các lò sát sinh và các nông trại khai thác lông thú. Oprah còn sử dụng các buổi phát hình và chính bản thân mình để ủy lạo cho phong cách sống xanh, với xu hướng tiêu dùng thời trang văn minh và thực đơn không dùng thịt. Chưa bao giờ một chiếc áo lông thú được xuất hiện trước ống kính Oprah Show, tạp chí Oprah Magazine, và trong tủ quần áo cá nhân của Oprah.

Body dân chủ và thẩm mỹ diva

Cuộc chiến giảm cân bền bỉ và hiệu quả đã khiến Oprah trở thành một hình mẫu đáng gọi là “tiêu chuẩn” cho đại đồng thị trường tiêu dùng trên thế giới. Cũng chính vì vậy mà gout phục sức của bà được theo dõi và tán thưởng rộng rãi. Giới fashionista size L trở lên coi bà là một tông đồ thời trang gần gũi hơn bất cứ tượng đài phong cách có thân hình lý tưởng nào khác. Người ta luôn cần một khuôn mẫu có tính thực tế làm cứu cánh cho những tự ti nảy sinh từ cuộc chạy đua tuyệt vọng theo những thân hình người mẫu mỏng dính đến cay nghiệt và đượm màu viễn tưởng.

Người ta bật truyền hình lên hàng ngày để được nghe Oprah nói, khóc và cười cùng Oprah.

Nhưng theo năm tháng, Oprah Show đã hình thành nên một “trade mark” đáng kể nữa với phong cách xuất hiện của chính Oprah được háo hức dõi theo mỗi kỳ phát sóng, từ những bà nội trợ, các diva công sở, cho đến những fashionista mới nhập môn.

Làn da khỏe mạnh và màu da được chăm sóc kỹ lưỡng, cùng với các kiểu tóc thay đổi xoành xoạch qua từng thời kỳ, Oprah có riêng cho mình một vòng xoay thời trang riêng biệt. Trong đó, bà cự tuyệt “đóng đinh” hình ảnh của mình với bất cứ phong cách, màu sắc nào. Tất cả được tung hứng và đổi thay một cách bốc đồng, thú vị, nhưng vẫn bảo toàn những dấu ấn cá nhân “rất Oprah” để khéo léo hình thành “giá trị nhận diện” cho tên tuổi và dung mạo của mình. Màu da đen khiến Oprah sáng rực lộng lẫy với đỏ tươi và xanh lá, nhưng bà cũng nổi tiếng là diva xài bảng màu trung tính sành sỏi với các màu crème, màu ngà hay nâu sữa đậm. Những bộ cánh tiệc tùng dành cho các sự kiện long trọng của Oprah hoàn toàn có thể gây đại náo thảm đỏ dù khi ấy bà đang nặng 140 hay 200 pounds – Oprah luôn minh chứng rằng một bà béo hoàn toàn có thể thành công, tự tôn, hài lòng và lộng lẫy.

Những khi không gắn bó với những món trang sức ưa thích bằng hạt trai, Oprah trang hoàng cho diện mạo thời trang của mình bằng bất cứ trường phái phụ trang nào, từ những vòng khuyên tai bằng kim loại quá khổ, những chiếc khăn lụa chói lọi thắt điệu nghệ quanh cổ, cho đến những món bling-bling lòe loẹt đặc thù của rapper da màu. Một diện tích thể hình rộng rãi khi này chỉ đồng nghĩa với nhiều không gian để tổ điểm hơn. Hiệu quả của trò mix-and-match tưởng như điên rồ ấy lại thuyết phục đến mức người ta quên mất rằng Oprah Winfrey là loại phụ nữ có 1 tỉ thứ việc để làm trong ngày, ngoài chuyện ngồi chọn phối các bộ nữ trang với quần áo.

Gout mix-and-match của Oprah có thể được coi là một cuộc tung hứng kì quặc, nhưng được tính toán một cách tuyệt hảo. Tuy vậy, với 25 năm liên tục xuất hiện trước hàng triệu khán giả, bất cứ diva nào khác có thể kiệt quệ vì mỏi mòn ý tưởng, nhưng Oprah vẫn tồn tại với một chu kỳ biến hình chặt chẽ. Theo quan sát của các nhà phê bình thời trang, dù khác biệt và trội bật, Oprah chưa bao giờ dị biệt và lạc thời. Từ mốt quần loe tóc quăn tít, đến quần ống túm xếp pleat và áo độn vai,… phong cách thời trang của Oprah vẫn thể hiện rõ nét trào lưu thời cuộc qua bộ lọc thẩm mỹ cá nhân rất riêng, và những kiểu tóc, ton trang điểm đều thay đổi hợp lí và hài hòa với tổng thể diện mạo.

Những hình ảnh trên sóng truyền hình qua từng thời kỳ của Oprah Show có thể được xem là những hình ảnh đại diện của lịch sử thời trang đương đại. Quan sát Oprah, chính là quan sát vòng xoay trào lưu của các mùa thời trang qua suốt 25 năm,  những cặp kính hết rộng đến hẹp, tóc tỉa thẳng lại đến tóc quăn, và váy len dài tay đã đến và đi vài được vài mùa trong suốt ngần ấy lần xuất hiện của nữ hoàng buôn chuyện.

Trợ lực sau lưng cho Oprah là cả một đội ngũ stylist sừng sỏ và những tay chuyên viên làm tóc, trang điểm thuộc hàng lão luyện. Nhưng Oprah tài tình sử dụng ê-kíp của mình – những người đủ thông thái để hiểu rằng Oprah Winfrey không phải là loại phụ nữ để người khác bảo mình phải mặc gì và trang điểm ra sao. Nói một cách khác, khi đưa mục Make-over vào chuyên kỳ talkshow của mình, Oprah đã mang chính mình và các nhân vật được chọn ra làm những nhân chứng thuyết phục và sống động nhất cho chân lý: bạn không nhất thiết phải ốm và ở trên bìa tạp chí để có quyền ăn mặc đẹp.

Cuộc độc thoại cuối cùng

25 năm sau, nhân vật duy nhất với câu chuyện đời điển hình, với những cú bẻ ngoặt bánh lái ngược chiều định mệnh, đầy đủ chất liệu để làm nên một show đầy ứ cảm xúc cho The Oprah Winfrey Show, đó chỉ có thể là chính Oprah Winfrey.

Người ta đã cứ ngỡ rằng lời chia tay của Bà Nhiều Chuyện sẽ phải là một sự kiện toàn cầu, một quả bom truyền thông với những tiết lộ động trời, cùng sự có mặt của một lực lượng celebrity hùng hậu, danh giá và đông đảo hơn cả đám cưới Hoàng Gia Anh và giải Grammy cộng lại. Trên thực tế, Oprah đã không làm họ thất vọng, và đã có một show chia tay như thế, với 13,000 khán giả có mặt tại United Center vỡ òa trong nước mắt, những tràng cười và những tiếng vỗ tay tưởng như của 25 năm đọng lại.

Nhưng đó chỉ là chương trình áp chót.

Bà Hoàng Talkshow muốn dành giờ phát sóng sau cuối cho cuộc hàn huyên thiêng liêng, duy nhất, và sau cùng. Chân thành tuyệt đối và sẻ chia hoàn toàn!

Một ngày thứ Ba không như mọi ngày thứ Ba của 25 năm lừng lẫy, Oprah Winfrey, khi này đã 57 tuổi, lộng lẫy, đầy cảm xúc và ắp ứ sinh lực hơn bao giờ, đã kết thúc những chuỗi ngày chuyện trò với nước Mỹ bằng cuộc độc thoại với chính mình trước màn ảnh nhỏ.

Để khép lại một TV show đã khiến người thiếu phụ da màu bất hạnh, lụy tình, bị bỏ rơi và lạm dụng trở thành “chị Hạnh Dung” của toàn nước Mỹ, Oprah đã dành cho cuộc “buôn chuyện” đơn độc cuối cùng toàn bộ 4 giờ phát sóng liên tục những video clip, những khoảnh khắc xúc động nhất, những nhân vật khó quên đã từng ngồi ghế nóng trường quay The Oprah Winfrey Show, và những tự sự thật thà cuối cùng.

Với một bãi đáp êm đềm hoành tráng sau lưng là dự án Oprah Winfrey’s Network (OWN), Oprah điều khiển liên tục 4 tiếng phát sóng với một sự điềm tĩnh, tự tại, nhưng không giấu những giọt nước mắt xúc động trong những khoảnh khắc ôn cố tri tân. “Mỗi người trong các bạn đều có một nền tảng: Bạn luôn có thể giúp một ai đó, lắng nghe, và tha thứ. Điều ước lớn nhất của tôi đó là các bạn sẽ tiếp tục cuộc hành trình đã chọn, làm những điều nên làm và không uổng phí một khoảnh khắc nào cả”.

Trong tất cả những gì thu về được cho chính mình sau một phần tư thế kỷ, đương nhiên là ngoài hàng tỉ dollar, đối với Oprah, đó là bài học “Ta luôn có trách nhiệm với nguồn năng lượng ta tự tạo nên cho mình và lan tỏa đến những người xung quanh. Đừng chờ một bàn tay đưa ra cứu vớt, hoàn thiện, hay sửa chữa lỗi lầm cho chính mình.”

Như thế, Oprah Winfrey nhẹ nhàng khép lại The Oprah Winfrey Show, ngọt ngào, không chút đắng cay: “tôi không nói tạm biệt đâu, sẽ chỉ là ‘Cho đến lần sau nhé!’”

Oprah đứng lên từ sân khấu, rời trường quay bằng con đường xuyên qua khán phòng, thẳng vào lòng khán giả của bà, dừng lại giữa đường để ôm hôn người chiến hữu Stedman Graham thật thắm thiết, high-five với những thành viên ê-kíp đã kịp vây nghẹt lối ra và dọc cầu thang dẫn lên văn phòng của Oprah. Cuối các bậc thang, chú chó cưng của bà đang đứng chờ sẵn.

Bế chú chó trên tay, bà đi thẳng về phía thư phòng khi nhạc hiệu quen thuộc của The Oprah Winfrey Show cũng vừa vang lên những nốt cuối cùng. Nữ Hoàng Buôn Chuyện hài lòng nói nhỏ: “Đi thôi, Sadie, chúng ta xong việc rồi!”

BOX

Cuốn tiểu sử mang tên Oprah của Kitty Kelley đã là một quả bomb dội vào thị trường văn chương Mỹ, nóng bỏng không kém những cuộc buôn chuyện trên sóng quốc gia của chính nữ hoàng talkshow. Nhưng với những độc giả của F., khi mà cuốn sách này chưa được phát hành tại Việt Nam, việc liệt kê một vài chi tiết thú vị cũng đủ để chấm phá hoàn thiện bức chân dung huyền thoại nữ hoàng buôn chuyện:

–       Một người bạn gái thân của Oprah từng nói rằng bà ta “sẽ chẳng ngạc nhiên nếu biết rằng Oprah đồng tính”.

–       Oprah đã từng khăng khăng nhất quyết không chịu thanh toán cho việc đặt viên gạch danh dự tại trường trung học Nashville, trị giá 50 USD.

–       Khi còn đi học, Oprah ứng cử vào hội đồng sinh viên với khẩu ngữ “Thêm Chút Màu Mè Cho Đời Sinh Viên Của Bạn, Hãy Bầu Cho Đại Tẩu Oprah!” (Put a little color in your life, vote for the Grand Ole Oprah)

–       Khi được chất vấn về sự “ngay thẳng” trong giới tính, bà đã trả lời với đám đông rằng “Tôi thậm chí chẳng tè được thành một đường thẳng!”

–       Ba món khoái khẩu: khoai tây trộn kem cua, Ding Dong và gà rán.

–       Oprah phải cho đặt đúc bồn tắm cho vừa với thân mình

–       Trong suốt 13 năm cuối đời tài tử lừng danh Bob Hope, ngày nào bà cũng gửi đến ông một bó hồng.

–       Trong phim trường The Color Purple, Oprah từng cặp kè sát cánh với Whoopi Goldberg, xoắn xuýt với nhà biên kịch Akosua Busia và gây gổ với Steven Spielberf

–       Bà sợ mùi xăng dầu đến mức mỗi khi chuẩn bị tiếp đón chuyên cơ của bà, các nhân viên phục vụ phải quăng hàng chục bịch bắp rang bơ vào lò để át đi mùi này.

–       Gia đình của Oprah không hề cho bà biết gì về người cha ruột của mình, nhưng lại tiết lộ với tác giả cuốn sách là Kitty Kelley, nhưng trong một nghĩa cử quân tử, Kitty đã không đề cập đến thông tin này trong cuốn sách, với tuyên bố rằng chỉ cho đến khi chính Oprah có thể thuyết phục mẹ của bà là Vernita Lee.

Motel: Đại-hí-viện Của Những Tội-đồ

“Làm tình trong khách sạn” – sự đơn giản đến trần trụi ấy thừa sức kích hoạt từng tế bào háo hức của lòng hiếu kỳ bởi sắc màu nửa lãng mạn, nửa trác táng. Như những đứa trẻ khoái chí lén lút những trò hư hỏng kì thú, những người đàn bà vẫn cần đến những phiêu lưu tình ái như trong tiểu thuyết diễm tình, và những tình lang vẫn mơ cuộc vân vũ nguyệt phong trong khung cảnh phong tình tạm bợ sặc mùi “gái hư”.

Dục tình là một thứ đỏng đảnh, thất thường, và khi no nê thì hay dở chứng. Nó không vừa lòng với sự nhàm mòn, trong khi những cuộc phiêu lưu thử nghiệm lại có thể dễ dàng làm nó bị tổn thương, và thui chột.

Và hàng ngày, người ta vẫn ân ái, vợ chồng hay vụng trộm, đều đặn như một quỹ đạo, quỹ đạo của những cuộc phiêu lưu.

Những cuộc tình chính chuyên chạm đỉnh thăng hoa khoái lạc chốn phòng the, nơi nhân loại thực hiện cái việc tối trọng là…làm ra nhân loại. Trong khi đó, phần lớn các chuyện khác, xảy ra trước hay sau cuộc kết nối chính chuyên, và không mang màu sắc nghĩa vụ giống nòi, đều hầu hết xảy ra trong những căn phòng khách sạn, nơi đã từ rất lâu rồi đã không còn chỉ mang ý nghĩa thuần túy, là nơi ngả lưng qua quýt cho những khách lạ đi qua thành phố.

Những ngôi nhà, chung cư hay biệt thự, đều không gợi gì đến những cuộc phiêu lưu. Chúng là nơi khiến người ta nghĩ đến việc “làm ra con nít”, và gọi nhau là vợ là chồng.

Một lúc nào đó, những kẻ là vợ là chồng bước ra khỏi những ngôi nhà, để lại phía sau cánh cửa tổ ấm để tìm đến thứ khoái lạc cho thuê (qua đêm hoặc tính giờ), dù sang trọng hay tạm bợ, thả mình vào bầu không khí hoang đàng của nó. Dẫu đó là không gian thơm phức hương xa hoa, hay đặc quánh mùi lưu cữu, mọi thứ đều sặc sụa hơi hướm của những điều không được phép, mọi thứ đều nhuốm màu cấm kị của mọi trò ly kì ngoạn mục.

Một căn phòng khách sạn luôn hứa hẹn chực chờ phía sau cánh cửa của nó sự dung túng cho sự buông tuồng tối đa, những cuộc phiêu lưu hữu hạn, và hàng tỉ thứ tội lỗi nghe hết sức bậy bạ và hay ho, như một đại hí viện kì thú của những kẻ tội đồ.

Chiếc hộp khoái lạc

Mỗi căn phòng khách sạn, như vậy, là một vuông thế giới tự do nhưng đầy vẻ vụng trộm và những điều cấm kị. Những khách trọ ghé qua đó, họ thú vị với trò chơi hoan lạc và những vai diễn bị cấm bên ngoài xã hội. Cái không gian tự do ấy được đánh dấu từ ngưỡng cửa những căn phòng khách sạn, và bắt đầu từ khoảnh khắc chiếc chìa khóa phòng được trao, trước khi cánh cửa được khép chặt một cách cẩn trọng đầy ý nhị, an toàn nhốt chặt thế giới còn lại bên ngoài. Những bộ cánh xã hội được lột bỏ, dần dần chậm chạp, hay cuống cuồng hồ hởi, và cuộc phiêu lưu luôn được bảo toàn cho những kẻ trong cuộc, bởi họ cầm giữ chiếc chìa khóa trong tay, và có thể bất cứ lúc nào, bước ra khỏi cuộc viễn chinh lén lút trong vuông phòng khách sạn, và bước trở lại vào đại cảnh ngục tù của thực tế văn minh. Đó có thể được coi là một thú phiêu lưu an toàn nhất trong những trò liều mạng.

Dẫu là một trò thám hiểm chóng vánh những nhân dáng không quen, hay là cuộc ân ái với thân thể bạn tình đã quen thuộc, tất cả mọi thứ đều mới mẻ, ngượng ngập, lúng túng và cuồng vội. Khứu giác bị đánh động bởi hương sữa tắm rẻ tiền chung chạ, da thịt chạm hoang mang lạ lẫm vào những tấm drap trải giường dường như còn nồng sực mùi hoan lạc, đến cả những tiếng cót két cũng lạ tai trên chiếc giường chung chạ. Người ta được hân hoan ngắm thứ ánh sáng tù mù lạ lẫm chảy trên những phập phồng da thịt như đã quen tay quen mắt, và nơi đây, việc tắm rửa trở thành nghi thức dọn mình trước đại lễ hiến dâng.

Các tình lang lâu năm thoắt trở thành gã hoang đàng phóng túng, và những quí bà chính chuyên cũng nhuốm màu rù quến của loài mèo nhà đi hoang, dữ dội và nồng nàn. Thực dụng hay thi vị, bạo liệt hoặc dịu dàng, mỗi một sự va chạm vuốt ve đều có thể trở nên khác lạ, như một kịch bản cũ được tái dựng trên một phông nền đại cảnh mới, với các diễn viên hăm hở hóa thân vào cuộc yêu đương.

Và như thế, mọi thứ dường như trở nên thi vị hơn trong một khung cảnh mượn. Nơi đó không có những bức ảnh gia đình, những đôi dép trẻ con hay chiếc máy tính còn chưa đóng nắp. Tất cả đều lạ lẫm, nơi trú trọ của những kẻ vô danh tính với những tờ giấy tùy thân được giữ kỹ dưới quầy tiếp tân. Họ vào cuộc, và có thể là bất cứ ai. Không có một thứ gì để nhắc nhớ đến cuộc sống thường nhật quay cuồng quanh những khái niệm của tư cách, trách nhiệm, và một tỉ thứ thiêng liêng dễ gây cụt hứng. Những ràng buộc cuối cùng được tạm thời dỡ bỏ, và người ta vồ vập cuộc tự do ngắn ngủi trong những thước vuông của một căn phòng xa lạ, nơi tưởng như chốn chung chạ, nhưng trở nên riêng tư và an ủi đến tận cùng.

Gái khôn đứng ngoài khách sạn

Hãy hỏi một người đàn bà nếu nàng đã từng biết đến phong vị ái tình khách sạn.

Nếu nàng rùng mình vì sự nhớp nhúa, bạn có thể yên tâm cưới nàng làm vợ, vì căn hộ của bạn sẽ luôn được giữ vệ sinh tươm tất, và những đứa trẻ sẽ khỏe mạnh.

Nếu nàng háo hức trong những hồi tưởng miên man của những cuộc nguyệt vân không tiền khoáng hậu, bạn vẫn có thể yên tâm nắm lấy tay nàng mà yêu thương gắn kết, biết rằng các cuộc phiêu lưu thú vị sẽ không ngừng lại sau ngưỡng vợ chồng, chỉ có điều bạn sẽ có bên mình một người bạn đồng hành thú vị.

Nói một cách khác, thế giới đàn bà có thể được chia thành hai loại, gồm những người đàn bà bên ngoài và bên trong cánh cửa khác sạn.

Những quí bà quí cô bên ngoài cánh cửa khách sạn rùng mình miệt thị tất cả mọi thứ diễn ra sau những cánh cửa khép kín nọ, dẫu sẽ không hẳn từ chối một cuộc bàn tán vẽ vời đầy hào hứng về những gì diễn ra bên trong.

Với họ, khách sạn là nơi ngủ lại trong những chuyến công tác xa nhà, là những chuyến nghỉ hè với gia đình và những đứa trẻ.

Nhưng không dưới một lần, họ sẽ khao khát hau háu được thầm vươn tay chạm đến những lớp gối chăn của chốn ly kì hư hỏng ấy mà sờ soạng, được chậm rãi mân mê khi nhọc nhằn chì chiết từng tiểu tiết của những cuộc thám hiểm mà họ đã không thể chọn lấy cho tòa thiên nhiên hoang phế của chính mình. Bởi họ quá “khôn” để mạo hiểm khái niệm đức hạnh lẫn kiến thức về vệ sinh tình dục.

Và những căn phòng khách sạn, còn lại cho họ là những cuộc tổng tấn công giáp chiến hừng hực cuồng nộ quắt quay đi đòi lại những người đàn ông lầm lạc đã không còn thuộc về họ.

Cuộc đào tẩu của “gái ngoan”

Những người đàn bà thuộc thế giới phía sau những cánh cửa khách sạn (ở đây xin không bàn đến các cô gái “chuyên nghiệp”), họ vẫn là những cô gái ngoan, họ có đầy đủ một cuộc sống trọn vẹn bên ngoài kia, và đủ tham lam để tự cho phép mình những cuộc đào tẩu nho nhỏ, nơi những đôi giày chông chênh và kiểu cách được đá tung khi thân thể mất thăng bằng, và y trang vương vãi trên sàn nhà cũng không khiến họ phải nghĩ đến việc khom lưng dọn dẹp. Trong những khoảnh khắc hiếm hoi ấy, người đàn bà tự cho mình cái quyền thả tung không ngượng ngùng cả những đòi hỏi thầm kín nhất, nơi từng mạch máu mặc tình rung lên căng cứng, trong khi mọi tế bào tự do buông thả đến mềm nhũn trong cuộc quy hàng, thuần phục và hân hoan.

Trong những căn phòng xa lạ, họ tung hê hào phóng, và thả bật những tiếng kêu.

Trong những căn phòng xa lạ ở ngay trong thành phố, họ không đi quá xa, họ tìm vào sâu, rất sâu bên trong những ngóc ngách sâu kín nhất ẩn khuất trong tòa thiên nhiên, đòi được chạm đến tận những góc riêng tư kì hiểm nhất, để hoàn thành cuộc nhận-cho đến tận cùng của ái tình nhục thể.

Tất cả những điều đó, nghe hết sức bậy bạ, nhưng họ bước ra khỏi những cánh cửa ấy, giãn nở trong hân hoan phỉ mãn, khép lại những phập phồng da thịt sau hàng nút cài vội, như loài báo sau cuộc say mồi, họ trở về quỹ đạo hàng ngày, đàn bà, và ngoan, hơn bao giờ hết.

Quý bà hạnh phúc đằng sau cách cửa phòng khách sạn

Nhưng trong ái tình nhục thể, sẽ là cứng nhắc và thiển cận, nếu mặc nhận mọi cuộc “đào tẩu” một màu sắc lăng loàn trác táng như nhau. Khoảng cách chênh vênh giữa khái niệm “gái hư” và “gái ngoan” có thể mảnh như tơ. Đó là thứ lằn ranh vi diệu giữa những cuộc phiêu lưu với người đàn ông của mình cùng làm kẻ đồng hành, để cùng hưởng cuộc vui thú đượm hương vị kì thú ngọt ngào của trái cấm ăn chung, hay là những cuộc đi hoang của cấu cào đói khát, và sống sượng buông tuồng, hoang phí những món quà khoái lạc cho những thân thể không quen, và những giọt mồ hôi lạ mùi.

Sẽ là hoàn toàn sai lầm nếu người ta cho rằng việc thử nghiệm những bạn tình xa lạ sẽ là những cuộc đào tẩu thú vị của nhục thể. Bởi mỗi người đàn bà được cấu tạo tinh tế như một cây vĩ cầm mà cuộc mân mó hay vồ vập thô thiển của những gã nhạc sĩ tồi chỉ có thể cất lên những tiếng rít chói tai. Tàn cuộc, người đàn bà bước ra khỏi căn phòng của cuộc gió trăng tạm bợ, căng nứt từng tế bào vẫn đói khát một chút vuốt ve chỉ có thể đến từ da thịt tình nhân, chứ không phải những dập dồn chày dậm cối giã của kẻ qua đường thô lậu trong cơn đói dục bệ rạc, đó là khi cuộc giao hoan chỉ còn lại trơ trẽn một trò giao cấu đơn thuần.

Người đàn bà “khôn ngoan”, nàng thức dậy vào sáng sớm trong căn phòng khách sạn, với bữa sáng cho hai người được các khách sạn dư thừa điệu nghệ gửi đến tận giường, hoặc với một số điện thoại được đặt trên chiếc gối hãy còn ấm bên cạnh. Nàng thức dậy, bước ra khỏi đêm tân hôn thuê mượn,  nhấm nháp thị vị của cuộc độc thân biết đâu chẳng còn dài, và trở về nhà trong một sự nôn nóng hồ hởi không kém cuộc vân vũ vừa kịp tạnh khi tàn đêm.

Bởi biết đâu đấy, đây rất có thể là cuộc viễn chinh nho nhỏ sau cùng!

Perfumista Nhập-môn: Hương-mục (List of Notes)

Một perfumista là một chi phái của tôn giáo thời trang thuộc dòng duy mỹ. Họ không nhất thiết phải là những diva kiểu cách, trên mình phủ một thiết kế non mùa của một brand thượng hạng. Bất kể phong cách trang phục hay trường phái thẩm mỹ thời trang, họ là những nạn nhân và tín đồ tuần tiết của thứ trang phục cuối cùng người đàn bà muốn giữ trên thân thể – Mùi Hương.

Họ không nhất thiết là những diva sẽ hãnh diện khoe với bạn bộ sưu tập những lọ nước hoa bự sự của mọi nhãn hàng có trên thế giới. Họ không nhất thiết phải quẹt mòn thẻ ngay tức thời vì một thiết kế vỏ chai. Một perfumista học được cách đánh giá và trân trọng các tuyệt tác điêu khắc công nghiệp mà kẻ khác gọi nôm na là “vỏ chai nước hoa”. Nhưng gout khứu giác sành sõi cho phép họ chạm đến từng giọt tinh túy thiêng liêng chứa đựng bên trong, và chỉ một perfumista mới có thể thấu đáo giá trị chân thực của một dòng nước hoa, vượt trên tag giá.

Nói một cách khác, một perfumista là một tín đồ thời trang mà độ cảnh giới đã cho phép tiếp cận và thẩm thấu đến phần tinh thần cốt cách tột vời nhất mà mắt thường không nhìn thấy được.

Điều đầu tiên mà một perfumista mới nhập môn cần thuộc nằm lòng, chương đầu của Hương Kinh tối thượng, sẽ là bảng phong thần các note hương cơ bản (hương mục). Nhưng trước khi tiếp cận những danh sách này, oái oăm thay, điều mà perfumista phải nhập tâm và xem làm chân lý lại là: không phải mọi thành phần của một hợp hương (ở đây là các loại nước hoa) đều đến từ Hương Mục, và không phải mọi món trong Hương Mục đều nhất thiết hàm chứa trong một hợp hương.

Hương Mục – những lời nói dối tỏa hương?

Các hãng nước hoa thường công bố những hương mục riêng, tùy thuộc vào dòng hương cụ thể. Mỗi loại nước hoa đều có hương mục do chính hãng công bố, hoặc được phân tích bởi các perfumista sành điệu, với chỉ sau vài tiếng quan sát biến đổi của mùi trên da. Thực tế có thể là một cú shock với perfumista mới nhập môn, bởi các phân tích này có thể rất xa rời với thành phần thật của nước hoa, mà dựa nhiều trên khả năng khứu giác và khả năng ngoa ngôn của công nghệ PR, với mục tiêu nhắm trúng tâm lí thẩm mỹ mùi hương của đối tượng thị phần. Một perfumista sẽ hiểu nguyên tắc cơ bản: hương mục không nhất thiết đồng nghĩa với công thức hoặc thành phần. Sẽ rất ngớ ngẩn nếu chỉ với hương mục ngắn gọn của Ungaro (by Ungaro) gồm nhài, nghệ tây và hổ phách, là bất cứ bà nội trợ nào cũng trở thành chuyên viên bào chế. Ngược lại, quả bom Thiền (Zen) mới nhất được nhà Shiseido tung ra với hương mục có đến 20 cái tên vi diệu: nho, cam bergamot, đào, thơm, hoa hồng xanh, lan Nam Phi, dành dành, táo đỏ, violet, lan chuông, lan dạ hương, hoa hồng, sen, hoắc hương, tuyết tùng, xạ hương, xạ hương trắng, hổ phách, nhang trầm và rong biển. Một perfumista sáng suốt sẽ tự hiểu rằng hoàn toàn có thể thành phần thực chất của Zen không hề nhỉnh hơn mấy tí so với Ungaro, và đó là bí mật tối thượng nằm trong phòng nghiên cứu của mỗi hãng, được bảo vệ nghiêm mật và tưng tiu như vũ khí chiến lược siêu tiên tiến.

Và đó không hề là điều mà các perfumista cần quan tâm đến.

Các hương mục ấy vẫn là những bản mô tả tinh tế và dễ hiểu nhất cho sự hưởng thụ và đánh giá của một perfumista am hiểu. Cho cùng một dòng nước hoa, bạn có thể va phải các hương mục khá khác nhau, hãy tham khảo, so sánh, và tổng hợp cùng với kiểm nghiệm nhạy bén riêng của mình.

Những câu nói ngớ ngẩn của perfumista mới nhập môn

Một hóa chất khá phổ biến trong công nghệ bào chế nước hoa là aldehyde. Chỉ có một perfumista mới toe mới có thể đến cửa hàng và đòi “Cho tôi loại nào không có aldehyde!” Hẳn nhiên, bạn sẽ được giới thiệu một loạt hương mục không ghi aldehyde, tặng kèm với nụ cười “bí ẩn” của nhân viên bán hàng. Bởi lẽ thành phần ấy không nhất thiết luôn được đề cập đến trong hương mục, và có rất nhiều dạng aldehyde khác biệt. Nên tỉnh táo lưu ý rằng, nếu bạn thấy “hương đào” trong hương mục, và hiển hiện trong mẫu thử, thứ bạn đang hít hà, rất có thể là aldehyde.

Một câu nói ngớ ngẩn khác “Tôi không ưa mùi xạ hương!”. Cần phải nói cho rõ là bạn sẽ không bao giờ có thể, hoặc cần biết những thành phần gì đã cấu thành cái gọi là “mùi xạ hương” trong một mẫu nước hoa. Và loại hương này có rất nhiều biến thể mang hương gỗ, phấn, trái cây, hay thậm chí thứ hương được gọi là mùi kim loại, v.v… Các perfumer thường sử dụng hơn một biến thể xạ hương trong cùng một hợp hương. Do đó, sẽ là một trò ngớ ngẩn nếu bạn muốn tỏ ra cầu kì và nằng nặc không thích mùi xạ hương.

Tương tự như với các thành phần hương mục khác, chẳng hạn hương hoa, với các biến thể vô chừng của nó. Việc tên loài hoa xuất hiện trong hương mục không hoàn toàn phải có nghĩa là hàng tấn cánh hoa tươi đã phải được chưng cất để có một ounce (28.35g) tinh dầu, mặc dù thành phần hoa tươi cũng được khai thác khá phổ biến, đôi khi kết hợp với hương tổng hợp và tinh dầu tự nhiên.

Trong một số trường hợp, các hợp hương thành phẩm có sử dụng chất liệu hương tái-thiết-kế. Đó là trường hợp của Hermes Brin de Reglisse do perfumer Jean-Claude Ellena thiết kế. Ông đã cho trích ly oải hương thành 50 nhóm phân tử, ngửi qua tất cả để loại bỏ 5 nhóm mà ông nhăn mũi cho là tạp hương, tái hợp 45 nhóm phân tử còn lại để có một hợp hương lavender tinh tế nhất. Tương tự, hoắc hương (patchouli) thường thấy trong các loại nước hoa thường là một hợp hương các ton mùi trầm và gắt chát, vốn được các fashionista hippy thời 1970 ưa chuộng, nhưng không còn phù hợp với thẩm mỹ khứu giác hiện đại, và có được một phiên bản hoắc hương tân thời và tinh xảo hơn rất nhiều. Các perfumista vốn không hảo dòng hoắc hương ngày nay sẽ khó lòng nhận biết dòng hương “kị rơ” ấy, dưới một “diện mạo” mượt mà nhuần nhã, hợp với khứu giác thành thị hơn.

Không chỉ có vậy, các đại phù thủy perfumer còn có thể cho ra các thành phần hương, với nhiều note trong cùng một thành phần, và được liệt kê trong hương mục như những thành phần độc lập. Điều này thường gặp với các note cùng nhóm, ví dụ nhóm hương “gỗ quý, hổ phách và xạ hương” hoàn toàn có thể chỉ là sự can thiệp của một hợp chất hóa học duy nhất. Một dòng nước hoa khác có thể sử dụng cùng hợp chất, và chỉ được nêu danh nôm na là “hương trầm”, trong khi trong một sản phẩm khác, hợp chất này lại có tên là “gỗ nhiệt đới”. Tương tự, nhóm “cây huệ và hoa cam”, “mimosa và nhài” hay “da thuộc, quế và tuyết tùng”,… đều có thể là những hợp chất duy nhất cho cảm nhận pha trộn của các note trong cùng nhóm sắc độ mùi

Tuy vậy, hương hổ phách (amber) vẫn khiến ngay cả các perfumista sành sõi nhất phải lúng túng. Sau khi nhà Prada tung ra dòng nước hoa nam giới Amber Pour Homme, không ít perfumisto đã khá hoang mang khi trong hương mục hoàn toàn không có thành phần hổ phách như tên gọi. Amber Pour Homme là một hợp hương tươi ngọt và hơi chát chúa của cam bergamot, quýt, dầu hoa cam, bạch đậu khấu, phong lữ, hoa cam, nhựa thơm, xạ hương, gỗ sandal, đậu tonka, vanilla, nghệ tây, hoắc hương và da.

Trên thực tế, hổ phách hoàn toàn không được sử dụng như một thứ nguyên liệu tự nhiên để chưng cất nước hoa. Hổ phách (amber) trong thuật ngữ bào chế mùi hương là một “gam” hay “accord” mùi hương gồm nhiều note như cánh kiến trắng, vanilla, đậu tonka, hoặc hoắc hương. Một hợp hương có thể hàm chứa các thành phần trên, hay cho một cảm giác mùi tương tự. Các hãng nước hoa có thể chọn liệt kê mọi note trong đó vào hương mục, hoặc chỉ tuần túy hợp nhất lại thành hổ phách (amber), hoặc gây hiệu ứng hơn là hổ phách lỏng (molten amber), hổ phách nóng chảy (hot liquid amber). Do đó, tốt hơn hết, chớ bao giờ tuyên bố rằng bạn thích những loại nước hoa màu trà đậm vì chắc chắn trong đó có nhiều hổ phách hơn!

Cà-lem, kem dâu và bánh bông lan

Nếu chỉ có thế, sau khi những kiến thức này được phổ biến đến mọi perfumista, và các hương mục chỉ còn là trò trí trá của các tay buôn hương ngộ chữ. Nhưng trên thực tế, các hương mục được xây dựng chặt chẽ và tinh tế dựa trên tham khảo cảm nhận mùi từ những chuyên gia mùi hương đắt giá nhất thế giới. Từ đó, hương mục được thiết lập như một cách thức hoàn hảo và trung thực nhất để mô tả cảm giác mùi của các tầng hợp hương, điều khả dĩ loài người có thể làm với sự giới hạn của ngôn từ trước những lớp hương tinh tế.

Mỗi thành phần trong hương mục gợi nhớ đến các mùi hương tự nhiên, trực tiếp động chạm đến những dây thần kinh khứu giác và kích hoạt cảm nhận, cảm xúc, để hình thành nên quyền lực tối thượng cuối cùng mà một dòng nước hoa có thể mang lại – một Thái Độ Cảm Xúc.

Mỗi ngày, ngành thời trang thế giới lại có thêm 2-3 dòng mùi hương mới, và hẳn nhiên, không perfumista nào dám tham vọng ngửi thử tất cả những sampler mới này, việc tham khảo hương mục sẽ nhanh chóng cung cấp cho perfumista những thông tin cơ bản nhất về tính chất và tinh thần của hợp hương mới. Một tín đồ hiện sinh, nghe metal rock, hay ưa mặc thời trang hobo sẽ không thể không xao xuyến khi tìm thấy trong hương mục của Diesel Fuel For Life có sự chát chúa của nho đen Hy Lạp và quýt, phảng phất một note hoài cổ hoắc hương, để kéo theo một note ngân tuyệt mỹ của nhài trên nền hương da thuộc, kết thúc một bức tranh toàn cảnh lập dị, nhiệt thành, nhưng vẫn đủ điệu đà.

Note “xanh lá lấp lánh” (sparkling green freshness) trong hương mục của dòng L.A.M.B.L (Gwen Stefani) khiến mọi perfumista ngay lập tức liên tưởng đến tầng hương đầu tươi mát, một kiểu mùi đại dương pha lẫn hương cỏ. Người ta còn nhận thấy cảm nhận hương của quả lê và đậu ngọt đúng như rong hương mục, dẫu không hẳn có dù chỉ một giọt tinh dầu đậu ngọt trong lọ nước hoa.

Tương tự, quả bom kẹo ngọt miss Dior Cherie với hương mục ngộ nghĩnh gồm kem dâu đá (strawberry sorbet), và bắp rang caramel (caramel popcorn) đã thực hiện một cú ngắm tài tình trúng phóc vào hồng tâm thị phần perfumista chanh cốm. Hẳn nhiên, nhà Dior không định xức cà lem kem dâu vào sau gáy các tiểu thư sành điệu, nhưng hương mục này đã trung thành tuyệt đối với cảm hương đỏm dáng, tươi tắn và một vị ngọt tổng thể vừa đủ dịu để không gắt nồng như trong các dòng hương của Dior dành cho các diva cỡ bự.

Cũng như vậy, Britney Spears hoàn toàn không định mang món trộn kì cục là quả vải, mộc qua vàng, trái kiwi và bánh bông lan để bào chế dòng nước hoa Fantasy.

Nếu bạn cảm thấy bị quyến rũ bởi hương mục cầu kì của Flower Princess (Vera Wang) gồm thường xuân non, quýt, hoa súng, hoa cam, hồng Ma-rốc, nhài sambac, mimosa, vỏ mơ, hổ phách, gỗ quý và xạ hương, thì chớ