vọng Sài-gòn

Tôi nhớ hoài một đêm thứ Bảy đang bát phố lòng vòng Sài gòn Chợ lớn, anh bạn tôi bỗng thốt lên “Giá mà giờ rủ nhau chui vô rạp coi cải lương thì mới đã đời!”

Câu nói vu vơ khiến tôi cũng thốt chùng lòng: đêm thứ Bảy giữa trung tâm Sài gòn, muốn tìm nghe một câu vọng cổ, coi một lớp tuồng mà rọi đuốc kiếm không ra!

Sài Gòn ở hai phía rèm nhung

Có lẽ từ thời những ban hát miền Lục tỉnh dạt về đây, nương theo bất cứ nơi nào lưu dấu chân khai khẩn mà dựng rạp sắm tuồng, nơi những bản tài tử, những bài vọng cổ được kết chuỗi thành lớp lang với đủ đầy kịch tính mà thành những kịch bản trọn vẹn, từ hương xa, đường rừng, cho tới tuồng tâm lí xã hội với đào kép ăn bận phấn sáp kiểu tân thời, dáng điệu lịch duyệt đời thường chứ không còn lối ra bộ cường điệu của tuồng tích cổ trang, hát bội.

rạp cải lương 3

Cải lương từ đó, là món nhắm tinh thần khoái khẩu của thị dân Sài Gòn, thú thưởng ngoạn cho mọi giới từ mặc khách tới bình dân. Đầy đủ chuyện giựt gân, diễm tình, những gã cướp rừng xanh đậm máu giang hồ tứ chiếng, tới câu chuyện đời mấy cô gái bán bar, chuyện nghĩa hiệp đường rừng, tới Lữ Bố mang khẩu khí giang hồ Cầu Muối và thứ tiếng lóng vỉa hè đặc trưng.

Dân Sài Gòn dễ bị chọc cười mà cũng dễ bị chọc cho khóc. Cải lương có hết, với miếng hài miếng bi đan lẫn như hai bức mặt nạ khóc cười đã từ lâu thành “logo” nhận biết của thế giới rèm nhung.

Dân Sài Gòn ham thói hiếu kỳ trước những điều mới, thì cải lương có tân cổ giao duyên, có kích động nhạc xập xòe, có đờn Hạ Uy Di, kèn tây và những bản tuồng hương xa mang âm hưởng ngoại quốc dù Cao Miên hay tiểu thuyết kinh điển Pháp. Từ tuồng dã sử nước nhà cho tới những pha đấu kiếm như chưởng Hương Cảng, đủ pha lộn mèo, tọt gươm vô nách chết dãy lâm sàng mà vẫn nấc ặc ặc trọn sáu câu, xuống xề mới chịu lăn ra chết (tới đoạn này giấy tiền được kẹp vô quạt chọi lên sân khấu rần rần, “tử sĩ” lóp ngóp dậy gom tiền gom quạt, cúi đầu chào tạ rồi vô cánh gà mới chia nhau).

đào kép 4

Cho tới tận mấy năm đầu thập niên 80, vẫn còn lác đác vài nhà hát cải lương hoạt động, áp-phích vẽ tay trưng lộng lẫy lừng. Người ta bu quanh mấy sạp thuốc trước rạp mua xá-xị bỏ bịch và quạt bóng kiếng, còn khăn tay thì thời này chưa xài khăn giấy, mỗi bà mỗi cô đều thủ chiếc mouchoir điệu đà để chậm nước mắt.

Người ta vô rạp, mê mẩn coi đào kép sắm vai, hả hê cười khóc những khóc cười mà bi hài của cuộc mưu sinh thường nhật trở nên quá trần tục, tầm thường. Thị dân cần những vở tuồng, những làn hơi cải lương mùi mẫn như những cuốn tiểu thuyết diễm tình vẽ bìa sặc sỡ để thêm thắt vào bữa tiệc đời chút món nhắm đưa cay. Điều này tới giờ vẫn nhìn thấy được qua lượt coi những phim truyền hình kiểu soap opera nội hóa dành cho các bà nội trợ và mấy chị tiểu thương.

đào kép 3

Về sau, tức là vào thời tôi lớn lên, những năm 80, khi trường phái bi lụy diễm tình bị lên án, dân Sài Gòn có món nhắm thoại kịch tươi vui, đời thường hơn với Trong Nhà Ngoài Phố mỗi tối thứ Năm, cải lương đen trắng vào tối thứ Bảy có cô Thanh Nga diễn Bên Cầu Dệt Lụa, cô Bạch Tuyết đi Âu châu diễn Đời Cô Lựu làm người hải ngoại khóc rần rần…Kì đó, cải lương Sài Gòn lại “thất thoát” thêm một Thành Được…

Rồi người ta vô rạp thưa dần.

thanh nga 2

Những hấp hối vô danh

Những rạp hát cuối cùng của Sài Gòn đã hấp hối và diễn những xuất hát cuối cùng ra sao, ngay cả người Sài Gòn cũng không biết, mà cũng không được các sử gia bận rộn lưu tâm ghi nhận.

Có lẽ rạp cuối cùng hoạt động đã là trụ sở của đoàn ca múa nhạc Bông Sen ở đường Nguyễn Thái Bình, đoạn Lê Công Kiều ngó qua, ngay gần tiệm cơm Âu Thiên Nam. Hồi Tết đâu như năm 2011 hay 2012, tôi có thử hỏi mua vé xuất diễn nào gần nhất, người bán vé uể oải thở dài yêu cầu tôi để lại số liên lạc đặng khi nào đủ vé coi mới dựng tuồng sắm vở.

Họ không bao giờ gọi lại cho tôi nữa, vài tháng sau nghe đâu đóng cửa luôn.

Kênh truyền hình giờ nhiều lắm, phát hình thâu đêm thấu sáng. Chẳng còn những bà mẹ nô nức dọn cơm rồi hò tụi con nít tắm rửa thơm tho từ sớm để cùng chờ coi cải lương truyền hình.

Từ “cải lương” thành thứ tính từ giễu nhại, dùng để chỉ những gì lòe loẹt hay hủ lậu quê mùa. Vậy mà cách chưa đầy thế kỷ, Trung Trực đã viết trên tờ Lục Tỉnh Tân Văn rằng “…nên làm những việc chi hễ bịa vào tiếng nói cải lương được, thì trong trí vẫn trộm tưởng rằng việc ấy đã thập phần hoàn mỹ…”

Vậy mới thấy mặt trở trớ trêu giữa những giai kỳ.

Chỉ đôi chục năm về trước, có mấy ai ngờ có ngày người Việt kém chữ Việt đớn đau tới nỗi vĩnh viễn đánh mất nghĩa hiếu tri và canh tân tốt đẹp của hai âm tiết “cải lương”.

đào kép 1

Như tôi và anh bạn nọ, tội tình thay giữa đêm thứ Bảy Sài Gòn, lòng thèm nghe câu vọng cổ mà rọi đuốc kiếm không ra, nao nao ngỡ mình đang đi lạc.

Chỉ đôi dịp đi du hí miền Tây, buồn não ruột mở đài Trà Vinh lên coi chơi, nghe bản tân cổ đời đầu của làn hơi Lệ Thủy, thiếu điều muốn nấc lên vì nhớ.

lệ thủy

Tiếng nấc Trụ Vương giữa đêm bão thị thành

Tôi sửa soạn quần áo chỉnh tề, dùng cơm sớm rồi khoác tay chồng đi coi hát – than ôi, đó đã từng là một điển lễ không quá xa hoa của nếp sống thị dân Sài gòn không lâu về trước! Không rạp không rèm, cũng không trống kèn cờ quạt, phòng trà Tiếng Xưa trên đường Trần Hưng Đạo hiu hắt đêm thứ Năm, chỉ vài bước cách rạp Nguyễn Văn Hảo thuở nào, với đêm diễn kinh hoàng của đoàn Kim Thoa, vở Lấp Sông Gianh. Một mảnh lựu đạn xuất hát đẫm máu vẫn còn ghim trong cơ thể đào Thiên Kim tới tận bây giờ…

CREATOR: gd-jpeg v1.0 (using IJG JPEG v62), quality = 70

Bây giờ thì rạp Nguyễn Văn Hảo xưa tổ chức diễn hài, có loa phóng thanh và các cô PG đứng giữa đường phát tờ bướm. Còn nơi đây, chỉ cách vài bước, một mầm phục hưng yếu ớt của cải lương đang thoi thóp quẫy cựa trong khung cảnh một phòng trà.

Là phòng trà “ruột” của dân chuộng bolero, cũng là điểm tái ngộ của những ca sĩ hàng thượng thặng Sài Gòn xưa giờ đã ra hải ngoại, từ hồi còn “cát cứ” ở quận 10, Tiếng Xưa trở thành một góc lui tới đặc biệt của Sài Gòn, với lối trang trí sân khấu tuy thô sơ nhưng mang hơi hướm Sài Gòn 60’s, ban nhạc với những bản phối cũ và những đêm tái ngộ tưởng như có thể làm sống lại hàng chục năm đã từng bôi xóa.

Chỉ mới dời về khu trung tâm gần đây, án ngữ cửa ngõ ráp ranh Sài Gòn – Chợ Lớn, dù với khán phòng lịch sự hơn, cùng những ngôi sao hải ngoại không ngừng xuất hiện, nhưng có vẻ việc gián đoạn, di dời đã khiến những khách cũ không còn tìm tới xôm tụ như ngày nào.

Những đêm thứ Năm đặc thù phong vị giải trí kiểu Sài Gòn xưa với những ngôi sao cải lương cũ mới kiểu này là một đêm trong cả tuần hoạt động, cặp chủ nhân phòng trà chọn thực hiện như một lối “trả nghĩa” lại cho các nghệ sĩ vang bóng một thời. Nói là trả nghĩa bởi khi tôi tới, chỉ có lác đác vài bàn có khách.

Cặp nghệ sĩ trẻ diễn một trích đoạn tuồng Lữ Bố. Từng đường phấn sáp vẫn mang hơi hướm lối vẽ mặt tuồng, cặp “râu tôm” nghễu nghện quết tới trần nhà, rạch ròi từng ngón ra bộ, từng ý tứ lẳng lơ cụp lạc đầy ước lệ của lớp tuồng trứ danh.

Chồng tôi là người Bắc, có lẽ đây là lần đầu tiên được coi tuồng, dù chỉ một trích đoạn nhỏ trên bục diễn phòng trà, cũng đủ choáng ngợp bởi ánh mắt quắc lên của tay dõng tướng đa tình, hay những lẳng lơ bắt nhả của nàng Điêu Thuyền hàng hậu duệ. Trong một khoảnh khắc, người ta không thở nữa, mải mê ngắm nghía ngón nghề điêu luyện, lòng rộn theo tiếng nhạc khí phát ra từ dàn máy mà tưởng như sống lại cả một ban đờn.

Tôi đến để được tái ngộ và nghe giọng ca Đệ nhất Đào thương – sầu nữ Út Bạch Lan, nhưng bất ngờ hơn nữa, khi lớp trích đoạn rút vào hậu đài, một người đàn bà lớn tuổi chập chững bước ra sân khấu. Khuôn mặt bị biến dạng bởi tháng năm đã không nhắc nhớ được gì, cho tới khi khúc vọng cổ cất lên bi tráng:

…Trời ơi đám tôi trung đã phản Trụ đầu Châu kéo binh về vấn tội. Trong khi hoàng hậu Tô Nương lại bỏ ta sớm vội…bôn…đào…Lần đầu tiên, trẫm để cho suối lệ tuôn trào…

Đệ nhất Đào võ Diệu Hiền!

Có lẽ chưa người đàn bà nào cất tiếng nấc Trụ Vương tài tình hơn như vậy, đòn tay ra bộ điệu nghệ xuất thần, còn ánh mắt chợt thoắt tinh anh nộ khí vị hôn quân thất trận.

Đã có lần tôi may mắn được tài tử cine Trần Quang diễn lại cho coi một trích đoạn vai Trụ Vương trong vở diễn tốt nghiệp của ông tại trường Kịch nghệ. Nhưng nếu cái gian hùng ngạo nghễ trong Trụ Vương – thoại kịch của ảnh đế cine Sài gòn năm ấy đầy tính hàn lâm trong từng nếp nhăn khóe mắt, với ánh nhìn lạc thần của cơn cuồng khấu hung tàn và đài từ như tiếng chuông đồng ngạo nghễ, thì Trụ Vương qua làn hơi vọng cổ đàn bà lại khiến người ta run rẩy trước một thần lực tôn nghiêm, trong Cái Đẹp của tận cùng Cái Ác.

Người ta quên cả người đào hát đã về già trước mặt, khi nét uy nghiêm hằn dấu sát khí hung tàn mà vẫn bi lụy cất tiếng ca nghe buốt can tràng kẻ kiêu binh thất trận.

Tôi ngồi bật dậy khỏi chiếc ghế dựa, như không tin được ngần ấy uy lực tinh anh vẫn phát tiết ngời ngời từ cuống họng, lồng ngực cô đào từng một thời làm điên đảo khán trường cải lương của Sài Gòn hoa lệ.

diệu hiền

Mong manh nhành lan trắng giữa đêm mộng phục hưng

Hết Trụ Vương Thiêu Mình, người ta lại chao đảo sau nhịp ngựa hối hả với tiếng kêu thống thiết giữa pháp trường “hãy để anh can phần đừng giết oan một trang hào kiệt, nghe lời anh đình thủ bớ La…Thành…”, rồi dẫu có nghe lại một vạn lần bản Tần Quỳnh Khóc Bạn, người nghe vẫn rưng rưng theo từng ngón tay cô đào dừng lại, lẩy bẩy giữa không trung và làn hơi tắc nghẹn “Thôi rồi một lưỡi gươm đưa đã dứt mạng anh hùng…”

Hai bản ca trứ danh của bậc thầy Viễn Châu vừa dứt, đào Diệu Hiền lại trở về trong hình mạo người đàn bà bé nhỏ, chập choạng cúi chào khán phòng vắng ngắt, chập choạng tựa vào cánh tay dìu bước rời sân khấu trong tiếng tung hô tuy mỏng nhưng da diết không muốn ngừng.

Không chỉ là một đêm phủ phê thịnh soạn với đào võ Diệu Hiền, mà người ta còn được khoản đãi giọng tình mùi mẫn của Sầu Nữ Út Bạch Lan với những bài bản bất hủ, khuôn diện đăm chiêu nhưng thanh thoát, xứng tầm tàn dư nhan sắc một Đệ nhất Đào thương.

út lan 1

Nhưng vượt trên tất cả còn là lòng xót xa của chính từng người thưởng lãm những ánh hào quang muộn mằn sau cuối của hai bà hoàng sân khấu ấy, đó là những suy tàn của thời gian đã hiển hiện lồ lộ, lòng áy náy không tránh khỏi khi phải bất lực ngồi đó, nhìn những tượng đài cao niên vẫn phải dìu nhau đến từng đêm hát hiếm hoi bởi cuộc mưu sinh thường nhật, hay dẫu bởi ơn gọi mỏi mòn của nghề ca xướng. Họ vẫn dìu nhau đến, hóa thân bà chúa ông hoàng, nơi một ánh đèn leo lét nhất, một khán phòng thưa thớt cũng làm nên cả một di tích thành đường quý báu cho những hồi ức vãn thời.

út lan 3.jpg

Chúng tôi tiếc rẻ ra về, đi một đoạn sau hai cô đào một thời vang bóng, nay chỉ là hai cái bóng cập rập liêu xiêu dựa vào nhau, dắt díu từng bước ra khỏi vùng tối phòng trà.

Khán giả ngày nay cũng đánh mất thói quen tụ tập trước cổng rạp chờ chiêm ngưỡng đào kép ra về. Chắc trong đời hát xướng của hai người đàn bà tài hoa đó, đây là một trong những buổi vãn hát đìu hiu nhất.

Họ chỉ có nhau.

Chồng tôi có hỏi “Vì sao cải lương Sài Gòn biến mất?” Tôi không có được câu trả lời. Chỉ biết rằng ngày nay, người ta không trốn nhà mải miết theo ghe bầu gánh hát để ăn xin cơm tổ nên không được học đức khiêm nhu từ các tiền bối, không được dạy dỗ bởi các thầy đờn. Họ thi thố học hành trong những học viện chính quy, ra sức canh tân hai nghĩa “cải lương” và “vọng cổ” bằng phục trang dã sử Tàu lai trên những bản tuồng nghèo ca từ mà giàu tính tư tưởng. Thời của hoa và lệ, của những soạn giả hàng Hà Triều Hoa Phượng đã qua đi không hậu duệ, bởi những bài bản Viễn Châu hoa mỹ đã không còn dễ hiểu dễ nghe so với ca từ hoặc mang tính khẩu hiệu, hoặc nặng mùi sáo ngữ. Mà có lẽ cũng bởi ngày nay, ở những trường lớp dạy nghề ca diễn, người ta hình như cũng không dạy ra các thầy tuồng.

Trong một cuộc phỏng vấn, Cô Út đã từng thật thà nói “Mộng lớn của tôi bây giờ là dựng lại được một nhà hát thiệt đàng hoàng. Có nghệ sĩ vẽ cảnh trí, có máy vi âm thả dòng từ nóc rạp như hồi xưa, chứ ca ra bộ mà tay cầm mic phòng trà thật khổ cho mấy cháu, mấy em…”

Đêm đó, cơn bão hiếm hoi tạt ngang thành thị, gió giật và mưa tầm tã. Giữa cơn mưa xối vần vũ trên những nóc gia đã say ngủ, tôi vẫn còn nghe văng vẳng bên tai làn hơi sầu nữ không chút tì vết thời cuộc, nhưng đã nhuốm hơi hướm tủi thân nghiệp mệnh xướng ca:

“Đêm nay mưa gió ngập trời,

Hỏi ai còn nhớ một người tên Lan…”

út lan 4.jpg

(bài viết đã sử dụng bởi tạp chí Người Đô-thị)

ngược dòng khuếch tán

Có lẽ mùi hương chính là thứ phục dựng tiềm thức và thiên đàng hữu hiệu nhất, bởi nó có tất cả: trọng lượng, nhiệt độ, vị, cảm giác, và màu sắc, quang độ,… Khứu giác có thể cùng lúc lay động mọi giác quan còn lại, và như vậy, cả một địa đàng có thể được dựng nên và tiêu hủy chỉ trong tốc độ khuếch tán của một giọt bụi hương.

“Chúng ta là những đứa con gái lớn lên trong nước hoa Tabu, quần jeans Hara và những hộp phấn Én thần thánh”, tôi nói như vậy với cô bạn gái vào một buổi chiều cách đây vài hôm.

Câu nói hết sức buồn thảm này đúng với mọi độc giả cùng thế hệ tôi, đã lớn lên, mê đắm trước những Poison và Anais, những Charlie và Fragile huyền thoại của thị trường xa xỉ phẩm đơn điệu của Sài Gòn cuối thập niên 80.

Rồi tất cả trở thành kí ức già cỗi với những cơn sốt Obssession và Giò, đại dịch unisex và những vụ nổ tung hoa cứu rỗi tính nữ của ngài Jacobs… Mỗi perfumista Sài Gòn (ít ra là ở Sài Gòn) đều lưu giữ trong tiềm thức những dòng hương thời cuộc đó.

Sài Gòn – với thuộc tính rất riêng và thứ thẩm mỹ khứu giác bồng bột của hết thế hệ đến thế hệ khác những perfumista cầu kì hay nhẹ dạ, mang riêng của nó một lịch sử mùi hương.
angela-lansbury-for-blackglama

Từ huyền thoại đơn hương Chà-và đến những dòng hương tuyệt mệnh của Kỷ Hoàng Kim

Khó có thể truy tìm chính xác ai là perfumista người Việt Nam đầu tiên, hay lọ nước hoa đầu tiên được du nhập đến Việt Nam. Nhưng hoàn toàn không khó để kẻ chơi cổ ngoạn tìm thấy những lọ chai nước hoa Shalimar nhà Guerlain được lăng-xê vào thập niên 20 hiện diện trong vô thiên lủng những món cổ vật tế nhuyễn được rao bán từ kho tàng cá nhân một gia đình tư sản xưa nào đó.

Du nhập tới xứ An Nam cùng lối sống cầu kì của cư dân nền văn minh Ánh Sáng, nước hoa như một món trang sức vô hình, không phục vụ mắt nhìn, nhưng vi tế mầu nhiệm hơn tất thảy những món “bắc kế” (từ thời này dùng chỉ trang sức, phụ trang) sang trọng nhất – một thứ đặc quyền của giới kỹ nữ và hàng thị dân phong lưu.

Đồng hành cùng tuyệt phẩm mùi hương của văn minh phong hóa đến từ Tây phương này còn có những dòng đơn hương chưng cất bởi các thương buôn người Chà (Java) sinh sống tại Sài gòn.

Theo câu chuyện kể lại của một nhà bào chế hiện sinh sống tại Đà lạt, khi ấy ông còn là một cậu thanh niên tỉnh lẻ hàng tuần theo chuyến hàng lên Sài gòn, từng ngẩn ngơ chiêm bái hình ảnh những bà trung lưu, những cô nữ sinh áo trắng dập dìu ra vô những hiệu buôn của người Chà bên ngoài Chợ Cũ (giờ là đường Hàm Nghi), nơi những hương liệu mỹ phẩm được chưng cất, đựng trong những vò thủy tinh lớn và chiết ra chai nhỏ theo định lượng để bán. Loại dầu thơm bình dân này hoàn toàn là những đơn hương thuần túy mang mùi thơm của những loài hoa, vị cỏ có trong thiên nhiên được chưng cất, không cấu trúc và không biến cố, nhưng thỏa đáp được nhu cầu làm đỏm cơ bản nhất của nữ giới nói chung.

Cho đến giờ, cậu nhỏ đó vẫn đang thầm lặng thực hiện tham vọng phục dựng những dòng đơn hương giản dị đó cho mầm mống một thị trường nước hoa nội hóa.

Vào thập niên 50, những dòng xa xỉ phẩm nhập khẩu và nếp tôn sùng các nhãn nước hoa mang âm hưởng Francophile thống trị tuyệt đối thị trường thượng lưu, một phần bởi uy danh kinh đô hoa lệ, một phần khác bởi chính bối cảnh thị trường thế giới vẫn chịu sự thao túng của thẩm mỹ lục địa già. Cho đến tận đầu thập niên 60, nước hoa mới trở nên phổ cập hơn cùng sự sầm uất của những thương xá tân kỳ bày bán đồ xa xỉ. Cũng từ đây, các quý bà quý cô Sài Gòn bắt đầu làm quen với những loại nước hoa nhập từ Hoa Kỳ, dao động vô chừng từ những thương hiệu gốc Pháp như YSL và Dior, cho đến những dòng hương “drugstore” với giá cả khá dân chủ xuề xòa, thừa sức cung ứng nhu cầu làm dáng của giới trẻ.

Nhưng kể từ 1975, Sài Gòn cô lập hoàn toàn khỏi thị trường xa xỉ phẩm thế giới, người ta lay lắt dựa dẫm chính vào nguồn mỹ phẩm chợ đen từ các thùng hàng gửi về từ hải ngoại.

Đó là những năm đầu thập niên 1980 tại Sài Gòn, khắp nơi ở khu trung tâm, nơi những tiệm ăn, nhà hàng sang trọng còn sót lại, và những dạ vũ tổ chức “chui” tại nhà, những nếp quen và mùi hương cũ vẫn được duy trì một cách tài tình. Người ta cự tuyệt những dòng hương mới lạ thượng trào trên thị trường thế giới, như một cố gắng tuyệt vọng trong việc bảo tồn vẹn nguyên bầu không khí hoa lệ của Sài Gòn vào những năm 60 phóng túng. Opium của Yves Saint Laurent cho giới nghệ sĩ và cavalliere cũ, Chanel No.5 và Shalimar được coi là tín chỉ thượng lưu. Mấy cô trẻ trung thích Charlie, Joy và Tabu bởi mức giá thân thiện hơn, trong khi Mon Péché nhà Lanvin, Magie Noir nhà Lancome và Poison nhà Dior chinh phục hết thảy mọi thị phần bởi chút vẻ lẳng lơ táo bạo.

Còn với nam giới, Paco Rabanne giữ nguyên vị trí thượng lưu trong khi eau de cologne của Old Spice chỉ còn là tàn tích tại những tiệm barber kiểu cũ, và Brut lui về thị phần trung niên trí thức. Về sau, những lọ cologne hiệu Old Spice tuyệt tích hoàn toàn tại thị trường Sài Gòn, trong khi Brut vẫn tồn tại một cách khá khiêm tốn sau nhiều đợt thay đổi thành phần và thiết kế mề đay trứ danh cũng bị loại bỏ. Chỉ mới gần đây, hai tên tuổi này chính thức tái xuất dưới hình thức các phiên bản sản phẩm vệ sinh cá nhân, Brut và nhãn Old Spice “con tàu đỏ” hầu như bị xóa tên khỏi danh mục những dòng nước hoa giành cho quý ông. Cần phải nói thêm rằng đây là một điều đáng tiếc, bởi sự đặc sắc trong ứng dụng note cẩm chướng ở Old Spice, và thi vị Fougère kinh điển của Brut vẫn là những huyền thoại đáng nể của lịch sử bào chế mùi hương trên thế giới còn gây tranh cãi tới tận bây giờ.

l-gda23j5lkmoyeq

Thảm họa Kỷ Disco: Quá nhiều hormone cho một thành phố nhỏ

Dựa trên tập quán “tàn dư” của các perfumista mới nhập môn bản xứ, những dòng hương lừng lẫy nhất của Kỷ Ngây Thơ – khoảng thập niên 20, 30, tình cờ hội tụ hài hòa với những dòng cực thịnh của cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 và chiều chuộng mỹ mãn gu khứu giác bạo liệt của đàn bà con gái Sài Gòn xứ ngọc Viễn Đông vào đúng thời kỳ “trở mình” hồi phục của Sài Gòn những năm 1980. Tất thảy là những tầng hương mang cấu trúc cầu kỳ, với nốt powdery, xạ hương, gia vị và hương hoa tổng hợp sực nức một vẻ duyên phấn sáp đầy kịch tính, đồng điệu ngẫu nhiên với nét bốc đồng khả ái của Sài Gòn, sự pha tạp Đông-Tây cổ-kim kì thú giữa văn hóa “phố lớn” Sài Gòn với dáng vẻ cổ thị nhưng tinh thần phồn thực sầm uất của khu Chợ Lớn. Phóng khoáng tới mức dễ dãi, duyên dáng theo một cách ồn ào, huyền mặc Đông phương trộn nhuyễn cùng tạp chất văn minh Âu hóa, khoái lạc thụ hưởng được tôn vinh, và nỗi sầu muộn “sentimental” lại lên ngôi thời thượng theo những cuốn băng cassette chuyền tay cùng tên gọi tắt phiên âm “sến”. Tất thảy đều trùng hạp tài tình với tinh thần những mùi hương được ưa chuộng nhất thời kỳ này, với ảnh hưởng tác dụng á phiện lên nỗi ám ảnh Yves Saint Laurent, hay những gia vị Trung Á đậm nét “tuồng hương xa” của nhà Guerlain lúc bấy giờ.

Nhưng đó cũng chính là nguyên nhân tàn lụi của những dòng hương xạ (musky) và hương Đông phương (Oriental) tại thị trường Sài gòn những năm dài sau dư chấn cơn sốt nặc nồng hương nhân tạo đó. Xạ động vật và lượng lớn trầm hương, hổ phách chiếm nồng độ cao trong các dòng nước hoa này bắt buộc sử dụng tinh dầu tổng hợp và những gam hợp hương thay thế để tạo cảm giác tương tự, đặc tả thuộc tính phương Đông. Bỏ qua lòng trân quý những cấu trúc bào chế bậc thầy và những chiến dịch quảng cáo triệu đô, hai trường phái này khiến người ta liên tưởng tới thứ thẩm mỹ rườm rà cũ kỹ, quá nhiều aldehydes, quá nồng nàn với một thông điệp dục tính sỗ sàng, bông tai nhựa to quá khổ và keo xịt tóc nặng mùi. Những mùi hương được ưa chuộng đồng nghĩa với sự xuất hiện nồng nực ở khắp nơi. Cả một xã hội đàn bà đỏm dáng và cá biệt, bất kể thời tiết trong ngày, đều cùng lúc tỏa hương một cách phồn thực tới sỗ sàng.

Trong kí ức của rất nhiều người, thập niên 70 và 80 đã lưu dấu bằng những cái nhăn mặt khổ sở và những tai nạn xây xẩm vì mùi mỹ phẩm nực nồng trong thang máy, tiệm ăn và các rạp cine. Những tên tuổi quý phái thượng tôn trở thành khái niệm bình dân xa cạ, khi mà một quý bà lịch duyệt cũng tỏa hương y hệt một cô nhân viên cửa hàng mậu dịch.

Thảm kịch tương tự đã xảy ra với dòng nước hoa mang số 5 huyền thoại của nhà Chanel trên thế giới – với note hồng và hương phấn kinh điển, đậm đặc và phổ cập đến nỗi ấn tượng “mùi hương bà ngoại” (dù đã là một bà ngoại cực kì am hiểu sành sỏi) cũng đủ khiến các cô gái trẻ phủ lên các dòng powdery định kiến “mùi người già”. Cùng lúc, việc các quý bà Á châu ồ ạt chạy đua theo “đẳng cấp Coco” cũng cùng lúc khiến dòng hương powdery này chịu thêm một định kiến về phong cách trưởng giả nouveau riche.

Không thể không nhắc đến một tác nhân góp phần trong cuộc truất ngôi ngoạn mục của trường phái Oriental và musky là sự xuất hiện của hàng nhái sau thời mở cửa, cùng với thói quen buôn bán nước hoa trong quầy kiếng những khu nhà lồng nóng bức khiến tất cả những gì người ta cảm nhận được là một sức khuếch tán mạnh mẽ và kinh hoàng không kém gì những chiếc khăn lạnh ở quán bia hơi hạng bét.

o.769

Sự thoái trào của mặt phẳng những mùi hương đồng hóa

Sài Gòn đã phải mất tới hai thập niên để rũ bỏ hoàn toàn nỗi ám ảnh cơn sốt “musky Oriental”. Giới bình dân lũ lượt trốn vào sự xoa dịu của Anais Anais, trong khi các bà sang trọng “cai nghiện” Chanel bằng Dune, Giò và nồng độ Đông phương dịu dàng hơn qua hương nhài của J’adore, các cô thanh nữ ưa nổi loạn, hâm mộ Kim Wilde và mô tô Rebel quay lưng lại với Poison tối ám để tung hô những chai Jean Paul Gaultier với thiết kế chai lọ muôn phần kích thích.

Cũng cùng thời điểm này, không ít dòng nước hoa kể trên cũng tuyệt tích trên thị trường thế giới, hoặc phải trải qua những cuộc biến dạng, cách tân (reformulation) với sự thay đổi không hề ít trong công thức. Poison liên tục tung ra các phiên bản thỏa hiệp đa sắc, với thành phần và nồng độ được điều chỉnh mềm mại hơn nên vẫn được ưa chuộng. Cùng lúc, cơn sốt “quả táo độc” được hóa giải bởi các dòng hương trái cây trẻ trung hơn, với thiết kế vỏ chai không kém phần hấp dẫn do nhà Lolita Lempicka liên tục tung ra rù quến thị trường nhiệt đới. Các tên tuổi Á châu với làn hương trong veo và mỏng tang của Kenzo và Issey Miyake như hai giải pháp thỏa đáng cho khí hậu đặc thù nhiệt đới cũng bắt đầu được mến mộ.

Đó đã là một cuộc ru ngủ dịu dàng kéo dài từ giữa thập niên 90 đến nay, với Tommy Hilfiger đồng hóa lằn ranh giới tính của thị phần trẻ chuộng mốt unisex, trong khi trên thượng tầng mua sắm, các dòng hương được săn lùng và ưu ái bởi sự bảo chứng đẳng cấp của chai lọ và thương hiệu. Phần còn lại hứng trận mưa “cổ tích Lái Thiêu” với những lê táo mận nhà Lempicka và Marc Jacobs cùng Kenzo không ngừng nghỉ tung hoa lên thị phần nữ tính. Hơn một thập kỷ thơm tho kéo dài, những thi vị mùi hương được tóm gọn bằng những cái tên thương hiệu, các bàn thắng thị trường được quyết định bởi thiết kế lọ chai – vốn là những thứ không thể trưng trổ để uy hiếp thị giác. Cùng lúc, thảm họa những dòng hương tội đồ được mệnh danh là “nước hoa Singapore” được hau háu tiêu thụ thật sự báo động cho vai trò của thẩm mỹ khứu giác trong sự thành công của một dòng hương. Người ta từ chối chi trả những số tiền khổng lồ phi lý cho cùng một thứ chai lọ được bán trên các sạp chợ đêm hoặc mạng internet với giá chỉ bằng 1/10.

Không chỉ lằn ranh giới tính và đẳng cấp bị xóa mờ, nhộn nhạo đánh lẫn, mà trào lưu những dòng hương nhẹ thơ lơ cũng đã báo động thoái trào khi mà những số tiền cực xa xỉ được trả cho những làn hương mỏng mảnh đến nỗi người ta phải áp mũi lên da mới cảm nhận được, và được quảng cáo là đỉnh cao của sự tinh tế mùi hương…da thịt vừa được tắm sạch trong bồn jacuzzi thả hoa tươi. Tất cả tan biến chỉ trong vòng 15 phút đầu, với những khứu giác hụt hẫng trước cuộc thăng hoa xí hụt.

Đó là khi người ta nhớ da diết cái thời mà đàn ông và đàn bà tỏa mùi khác nhau, như những cá thể rừng già tỏa hương hormone đặc thù quyến rũ, khi mà đóa huệ duyên dáng của nghệ nhân nhà L’Artisan Parfumeur phải vượt trội về độ cầu kỳ so với note ylang ylang điền dã của những dòng hương giá mềm dân chủ. Những tầng, những lớp hương phức hợp trong một cấu trúc cầu kỳ đã trở thành điển lễ cũ kỹ, đậm đặc và dày vò đủ khiến người ta muốn quay trở lại để thưởng thức từ đầu. Những cú xịt đầu vòi với mỗi hạt bụi dung dịch màu hổ phách là một thiên diễm tình có lớp lang, biến cố được khứu giác kiên trì lần dở từng trang, từng cảnh cho đến khi mùi mẫn ngấm hẳn vào thịt da. Những mẫu vật cũ được săn lùng khắp nơi trên thế giới, các phiên bản trường phái chypre và fourège kinh điển được phục dựng trong những diện mạo và tên gọi mới.

006-M

Những “lỗ mũi” nổi khùng và những dấu chỉ phục hưng

Khi Le Parfum nhà Elie Saab bất thần thắng lớn tại mọi trung tâm mua sắm Sài Gòn, như một dấu chỉ cho một trào lưu tuy chậm chạp cẩn trọng nhưng hoàn toàn chắc chắn của những gu thưởng thức cầu kỳ nhưng không còn cũ kỹ. Le Parfum bắt đầu khôn khéo với việc dẫn dụ thói quen khứu giác bằng hương trái cây, hoa cam, khá thông dụng và hợp thời. Nhưng ngay lập tức là một cuộc chơi vi diệu của đặc tính đàn bà rõ nét với hương hoa hồng và nhài. Sự có mặt của các note tổng hợp mang tên aldehydes chính là yếu tố nhắc nhớ đến cái duyên phấn sáp quá tay của những dòng hương huyền thoại. Việc Le Parfum được ưu ái mạnh mẽ chính là dấu hiệu đáng ăn mừng cho các tín đồ perfumista phe bảo thủ về một cuộc đại chấn hưng.

L’artisan Parfumeur cũng táo bạo xuất hiện tại các thương xá Sài Gòn với hợp hương khá dị biệt do được tạo ra bởi quái kiệt Duchaufour, người đã tiễu trừ vị kem sữa (creamy) đặc thù của hương huệ và tạo ra một cấu trúc kì cục nhất xưa giờ với lối dẫn dụ đặc tả từ…gốc đến ngọn, như thể người ta chào hỏi một quý bà bắt đầu bằng việc hôn vào chân vậy.

Những cú chấn động liên tiếp của các “lãnh chúa” haute couture trong thế giới thời trang từ 2008 theo chuỗi domino đã tác động bạo liệt lên thị trường nước hoa, mỹ phẩm và phụ trang – những rường cột chống đỡ tài lực cho các thành trì xa xỉ cuối cùng, khiến cả kỹ nghệ bào chế phải đi qua sự thỏa hiệp với mãi lực bằng những cấu trúc mùi hương thân thiện bên trong những lọ chai bắt mắt. Đó chính là thời điểm quật khởi bạo liệt của những “tân minh chủ” bất ngờ và bất trị nhất: những phù thủy ẩn danh phía sau những huyền thoại mùi hương, các nhà bào chế thượng hạng, và những chiếc mũi phù thủy nổi loạn.

Những nhãn hiệu độc lập được ra đời, mang danh tánh cá nhân của các nhà bào chế, báo hiệu một sự chấn hưng rầm rộ của những hợp hương cầu kỳ bất hủ, những cảm hứng dị biệt nhất nằm ngoài mọi khuôn mẫu của nguyên tắc hòa hương. Thị trường đang quay sang tôn sùng những dòng nước hoa thượng thặng thoát khỏi hệ nô dịch thương hiệu, mang những tên tuổi cá nhân xa lạ nghiễm nhiên trị vì ngôi vị đắt đỏ nhất trên thị trường. Bond No.9 bỏ cả Nữu Ước vào lọ, quái kiệt Francis Kurkdjian thao túng tín đồ sành sỏi bằng bộ sưu tập trầm hương hừng hực sâu thẳm như những cơn sốt nhục cảm, đế vương đến tận từng con số trên tag giá. Tất thảy, mùi mồ hôi, đồng thau han rỉ trong ngôi cabin gỗ hoang phế, những drap đệm tình nhân, cả những chiếc váy slip dress bằng tơ chưa giặt, và có lẽ cả Nữu Ước lẫn Sài Gòn đều có thể được thần thánh hóa dưới dạng dung dịch, và đựng đầy vào những cái chai.

Cùng lúc, giới chuộng mùi hương tại Việt Nam, dù chưa phải là một cộng đồng to lớn, một khi thói quen và điều kiện mua sắm tại nước ngoài đã trở lại như thời hoàng kim gần nửa thế kỷ trước, lập tức hình thành nhu cầu tìm đến những mùi hương cá biệt và thoát khỏi ảnh hưởng nô dịch thương hiệu hay sự quyến rũ thị giác của thiết kế vỏ chai. Tính cá nhân lại được tôn thờ mãnh liệt hơn bao giờ hết sau gần hai thập kỷ của những dòng hương chung chạ. Sự xuất hiện dù chỉ mới duy nhất một cửa tiệm có dịch vụ tạo hương bespoke tại Sài Gòn để làm ra những lọ nước hoa độc bản cho thân chủ cũng đủ để người sành hương nhìn nhận dấu chỉ đáng mừng cho một nền văn minh pefumista hậu nô dịch.

Bởi tất cả, trên cả hương thơm, đó là thế giới tuyệt xảo của những bản ngã được tôn thờ, của mùi hormone nhân tạo được thần thánh hóa, những tuyệt phẩm nghệ thuật mong manh nhất, tan biến bằng tốc độ tản hương nhưng có khả năng gây nghiện đến ám ảnh lâu dài, món trang sức lịch duyệt nhất của nếp sống phong lưu, kiêu ngạo vượt xa khỏi mọi trưng trổ ồn ào của tầng thị trường nhãn mác.

6a00d83451ccbc69e2017615997dd6970c-400wi

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí L’Officiel)

MÙI THỊ DÂN

Tình cờ trong một bài nghiên cứu về những dòng nước hoa phong vị Đông Phương đã ngưng sản xuất, tôi bắt buộc phải săn lùng những mẫu vật đã hoàn toàn tuyệt tích khỏi thị trường. Duyên kỳ ngộ đến với tôi từ tay một phụ nữ trung niên, gửi gắm món kỷ vật trong ve nước hoa bằng thứ thủy tinh đã trở nên đục mờ, bên trong chỉ còn chứa không quá 10ml đáy cặn. Sắc hổ phách huyền thoại của thứ dung dịch xa xỉ đã chuyển sang thứ nước màu thắng quá lửa với mùi hương khét ngằn ngặt như những bông hồng chết trên giàn hỏa thiêu. 40 năm về trước, chị là cô con gái gia đình “tiếp quản” một ngôi nhà mà gia chủ đã ra hải ngoại. Trong tất thảy những cuốn album gia đình cùng tư trang để lại, cô gái nhỏ đã lén giữ lại chiếc lọ cầu kỳ như một kỷ vật của một thứ tàn dư diễm lệ mà cô hụt tay sờ chạm. 40 năm, chưa một lần chị dám phí phạm dù chỉ một làn bụi hương sót lại nơi đáy chai. Tôi hứa với chị sẽ hoàn trả mẫu vật sau khi trích lục để phân tích một phần hương bên trong.

Cái cảm giác ấn chạm vào đầu chiếc ve nhỏ, phóng thích một tia bụi nước đó trở nên thiêng liêng kỳ lạ, vượt xa chuyện sửa soạn xức thoa thường tình. Như thứ thanh âm cũ mòn thốt bật từ lòng đĩa vinyl cổ đại còn đính chiếc tem giá, những thước phim nhị sắc run rẩy trên phông bạc sau hàng thập niên trong phòng lưu trữ, tôi nhận ra mình vừa phóng thích khỏi chiếc lọ cũ kỹ cả một nền văn minh thời cuộc, hiển hiện ngay trên cườm tay, với đầy đủ biến cố cầu kì của một tuyệt tác mỹ phẩm, biến dạng nặng nề bởi ngần ấy thập niên đợi chờ được phóng thích.

Vị thần tai ác chui ra khỏi chiếc ve được thiết kế cầu kỳ, và trước khi tôi kịp chọn cho mình một điều ước, tôi bị quăng không thương tiếc lên chuyến tàu ngược thời gian và nhắm mắt lại để thấy mình, không phải ở thị trấn Provence với bạt ngàn đồng hoa lanvande tím, hay kinh thành Ba Lê thánh địa của kỹ nghệ bào chế nước hoa, mà giữa vẹn nguyên thập thành đô thị Sài Gòn gần ba mươi năm về trước: mùi Sài Gòn!

Hương phấn sáp khỏa lấp kỷ điêu tàn

Tại sao những dòng mỹ phẩm đặc trưng được sản xuất vào những năm 20 của Kỷ Ngây Thơ (Age of Innocence) và thập niên 70 diêm dúa luôn khơi dậy trong tôi chỉ cùng một tiềm thức?

Sài Gòn có mùi gì?

Tôi không tin người ta có thể ngay lập tức trả lời câu hỏi này. Bởi Sài Gòn là một đô thị…nặng mùi. Một tạp âm hổ lốn, đa tầng được cảm nhận bởi khứu giác đã mỏi mòn từ quá lâu đủ để chậm chạp bóc tách từng lớp, từng nốt trầm tích mùi hương ấy ra mà phân tích một thứ “hương Sài Gòn” chuẩn xác.

40 năm sống trong lòng Sài Gòn, tôi dõi theo kí ức của chính mình, nhắm mắt lại, hít thở và để mặc những note mùi hương làm công việc của nhà điêu khắc, tạc vóc chân dung Sài Gòn. 40 năm của một hành trình thoái hương đầy biến cố, cho đến khi bất cứ dòng nước hoa xưa cũ nào với trường phái đặc thù của mỹ cảm 1920 và 1970 cũng có thể lập tức phục dựng sinh động một kỳ đoạn nối dài từ giữa những năm 1970 đến cuối thập niên 80 của Sài Gòn, trở mình giữa lệ và hoa.

Đó chính là khoảng thời gian chuyển tiêp giữa nếp sùng bái thẩm mỹ Francophile còn lại của lớp thị dân elite, cùng những tinh hoa Bắc và Trung kỳ hội tụ về đây giữa những năm 50, pha trộn với trào lưu tân kỳ của những dòng hương “drugstore” Hoa Kỳ đầy tinh thần thực dụng và tag giá dân chủ hơn rất nhiều. Thập niên 20 và 70 tiền-disco gặp nhau trong vẻ hào nhoáng cảnh vẻ: những cô đào trang điểm quá tay, những tiến bộ vị lai của khoa học và những nỗi sầu chính trị hợp thời. Chypre và aldehydes, xạ hương đầy nhục cảm và thứ mùi phấn sáp trang kim của trường phái powdery.

Một chuyên viên tâm lý có thể dễ dàng lý giải điều này bởi sự can thiệp của vốn liếng tiềm thức hạn hẹp bó tròn trong đời sống thị dân, bởi những khái niệm đầu đời về thế giới mùi hương đã gắn liền với mọi kí ức của Sài Gòn giữa thập niên 80, bởi những chuyến du hành thần thánh từ những quầy lộng kiếng nhà lồng Bến Thành, đâm xuyên lối chợ trời Tạ Thu Thâu nực nồng xa xỉ phẩm, bước ra lối vào thương xá Tam Đa cũ chỉ còn là những ngách nhỏ sáng lòa giữa ban ngày bởi vải vóc, trang sức và “đồ Mỹ” được bán tống tháo lại từ những gia đình tư sản trước cuộc lưu vong quáng quíu, hay từ những chuyến hàng hải ngoại cứu rỗi nếp tàn dư còn cầm cự lại của thị dân đất ngọc Viễn Đông.

Sài Gòn đã bắt đầu trong tiềm thức khứu giác của tôi như vậy, như những vệt mùi đài các sa cơ, trưng trổ những nếp vàng son phồn thịnh giả cách, xoa dịu và khỏa lấp những phân hủy điêu tàn.

mùi thị dân

Xá-xị, hồng tiêu, hắc quế và nhang trầm Chợ Lớn

Sài Gòn, những năm giữa thập niên 80, người ta ồ ạt săn đuổi những dòng hương có những cái tên phù phiếm độc địa như Poison (độc dược), Mon Pèche (tội đồ) hay Tabu (điều cấm kỵ). Cùng lúc, trào lưu Oriental do Shalimar nhà Guerlain khởi xướng từ đầu thập niên 30 cũng phả làn hơi “hương xa” nồng nàn lên các dòng hương được ưa chuộng bởi sự gần gũi về tiềm thức văn hóa. Các dòng cologne thân thiện Bien Etre trở nên lỗi thời vì âm hưởng Francophile, không ít những chai lọ của thời này còn tìm thấy trong các hiệu bán đồ cổ ngoạn, bên cạnh những xấp dĩa vinyl và những mề đay mỹ kí hoen rỉ của một gia đình tư sản cũ nào đó, ghi dấu gu thẩm mỹ thời cuộc tuốt từ những năm 50 đầu 60.

Oriental, hay còn gọi là trường phái hương Đông-Phương với mùi xạ hương cùng những thứ gia vị nóng như quế, hồi đầy nhục cảm, đã làm nên cả một không khí của giáo đồ thụ hưởng Sài Gòn ngay giữa lằn ranh những tháng năm đầy biến động, nơi hoa và lệ cộng sinh san sát.

Cơn sốt đầy note hương bạo động với huệ, xạ cầy hương, nhục đậu khấu và hổ phách được bào chế vung tay này đã kéo dài đại dịch Tabu và Poison đến tận thập niên 90, và chỉ thật sự giảm nhẹ chút đỉnh trước cơn lụt xa xỉ phẩm tân kỳ thời mở cửa. Những buổi dạ vũ ball famille, những vũ trường chỉ vừa mới được mở cửa lại, những rạp cine mini ở khu trung tâm lại bật lên hơi lạnh lưu cữu của những máy điều hòa đã bất động suốt một thập niên.

Từ khu nhà lồng chợ Bến Thành, băng qua chợ trời xa xỉ Tạ Thu Thâu, kéo dài tới thương xá Tam Đa cũ, về sau là tòa nhà Intershop (đã không còn), xứng đáng được coi là thú bát bộ mới, thay thế cho passage thương xá Eden cũ dù kém hẳn phần lịch duyệt dành cho các bà các cô điệu nghệ. Những lọ nước hoa được bày bán ngay dưới ánh sáng trực tiếp của nắng, hay trong những tủ lộng kiếng chưng đèn nóng hổi – điều hoàn toàn bậy bạ trong nguyên tắc bảo quản mỹ phẩm, với những mức hét giá trên trời, nhưng thời đó còn chưa có vấn nạn hàng nhái, do phần lớn được thân nhân mua từ chính quốc, hoặc do các thủy thủ tàu viễn dương mang về.

Chính thời điểm này đã làm nên dấu mốc thú vị trong gu khứu giác của đàn bà Sài Gòn, hổ lốn và vô nguyên tắc như mọi thứ đặc sản của thị thành tạp chủng này, như bánh mì kẹp chả lụa Bắc Kỳ với pepperoni Ý Đại Lợi xịt xì dầu Chợ Lớn, chiêu trôi cùng ly café B’lao chánh hiệu.

Cũng là một đô thị phương Đông, nhưng người ta đổ xô vào những dòng nước hoa Oriental, khởi phát vào thập niên 20, và tái phát dữ dội trong văn hóa Âu Mỹ vào những năm 60, lây lan tới trào lưu hiện sinh của những năm 70. Đối với dân Sài Gòn, phong vị này vẫn toàn vẹn sự kì thú huyền bí của yếu tố “hương xa”, với hoa hồi và nhục đậu khấu, trầm hương và hồng tiêu, nhưng vẫn đủ gần gụi để nhắc nhớ từ trong tiềm thức những bánh savon trầm thượng hảo hạng được coi là món quà lịch sự dành cho nữ giới, những hiệu thuốc bắc đường Hải Thượng Lãn Ông, như một thứ mùi hương cửa ngõ mở vào lãnh địa phồn thịnh sầm uất Chợ Lớn.

Trong tất thảy những cam bergamot và hồng tiêu, húng quế ấy, cái khứu giác của đứa con nít Sài Gòn háo hức căng phồng đón nhận về hơi hướm phảng phất mùi tinh dầu lá xá-xị đã làm nên huyền thoại thương  mại cho hãng giải khát Con Cọp lúc bấy giờ, thứ mùi nhang khói mỏng mảnh đã đượm lẫn trong không khí từ bao đời, một khi mỗi căn phố đều có cửa tiệm và một bàn thờ ông Địa, mỗi nếp gia cũng leo lét khói nhang đêm, cho đến đình chùa miếu mạo xen kẽ trong khu dân cư. Tôi tin rằng Chợ Lớn sẽ khác lắm, nếu giả như một ngày người Hoa và tập tục cúng kiến không còn nữa, nếu giả như một ngày, đồng loạt những que nhang tắt ngấm. Đó mới thật sự là ngày Chợ Lớn không còn.

2046

Hương bá tánh trên bức chân dung người đẹp Viễn Đông

Nếu gia vị có xuất xứ Đông phương và những ngành quý mộc đã làm nên phong vị ẩm thực gourmand cho Sài Gòn, thì những hương hoa phù phiếm, hương vanilla, hương huệ đậm đà vị phấn sáp kem sữa chính là bức chân dung trọn vẹn nhất của vẻ đẹp đàn bà miệt Ngọc Viễn Đông. Thứ hợp hương tổng hợp gay gắt của những siêu phẩm được bào chế bởi nền kỹ nghệ tân kỳ những năm 70 này khiến những cái mũi thanh lịch đương thời sẽ phải nhăn nhúm khổ sở bởi trò tán tỉnh sấn sổ ồn ào không khoan nhượng, trong khi hương phấn sáp powdery khiến người ta lập tức liên tưởng đến những giá trị lỗi thời gắn liền với nữ hoàng phấn sáp Coco No.5 từng một thời được ưu ái ồ ạt bởi các bà các cô giới thượng lưu.

Tất thảy đều giả tạo và phồn thực, hào phóng như những bờ ngực phồng vun cao phía sau tà áo dài siết eo đúng điệu Sài Gòn. Những người đẹp “cao su” hồn nhiên và hào phóng ban phát cảm giác mềm mại cứu rỗi của nhục thể lồ lộ dưới hai vạt áo hoa. Hương vanilla đặc thù của tiệm Givral với những ổ bông lan ngập ngụa phẩm màu, dày mịn mỡ màng những lớp kem đỏm dáng phủ ngập những chiếc gateaux còi cọc thiếu sữa của thời bao cấp, như những đắp bù xoa dịu thị giác và khẩu vị con nít háu ăn. Những đầu móng tỉa tót cầu kỳ sơn bôi đỏ thắm, những gót hoa nghễu nghện chênh vênh khỏi mặt đường, và thứ mùi da thịt bị tẩm ướp đến biến dạng bởi hương mỹ phẩm, mùi thuốc uốn tóc và ít nhiều những vệt khói ám muội lẫn trong mái tóc, xống áo, tới hơi thở đàn bà, khỏa lấp cả những giọt mồ hôi nhễ nhại của tiệm nước đầu ngõ cuốc xe cuối ngày nhặt nhạnh lối mưu sinh bên vỉa hè phố thị.

Chỉ có sống ở Sài Gòn mới hiểu thứ hợp hương quái đản này, khi mà người ta đi nhảy đầm và ăn tiệm bất kể công việc lao động phổ thông cóp nhặt hàng ngày. Không hề hiếm những huyền thoại vỉa hè về những người ăn xin cuối ngày ngoắc xích lô đi ăn tiệm. Lằn ranh phân biệt được đặt ra rõ ràng giữa những địa vị và lợi tức khác nhau, nhưng quyền hưởng thụ được chia đều cho tất cả. Một nữ hoàng sàn nhảy hoàn toàn có thể kết thúc một ngày của nàng trong chiếc chòi ốp tôn chênh vênh trên mép dòng kênh nước đen, phó mặc ngày hôm sau cho một canh bạc hoàn toàn mới.

Kết hợp hương hoa với xạ hương, trộn với những mùi gia vị hương xa nồng gắt, người ta có được một hợp thể dễ gây say, gây nghiện của mồ hôi dân nhiệt đới nhễ nhại, thứ nhựa sống thật thà tiết rỉ quanh năm, hong khô dưới nắng và phát tán trong gió, hay đượm quện với những cơn mưa đồng bóng bất thần, trộn hòa chuếnh choáng trong ngăn thang máy, rạp cine, những hộp đêm kín gió đông người, nơi xống áo và người ta ma sát vào nhau, tóc trộn tóc, tay đan tay, và tất cả ướp đượm với đồ ăn và thức uống, champagne và bia hơi, đàn ông và đàn bà. Thứ hương “bá tánh” đó đã là một mùi đặc trưng của Sài Gòn, như những ám ảnh kinh hoàng kéo dài dằng dặc lên tận giường ngủ và lụi tàn giữa chăn nệm vào sáng hôm sau. Có lẽ bởi vậy, ở Sài Gòn, người ta bén mùi nhau, ghiền mùi nhau rất dễ. Mỗi cá thể ném mình vào đời sống cộng sinh nơi đây trở thành một phân tử mùi hương cực nhỏ làm nên cả một hợp chất nồng nực, khó chịu, sực nức, giả tạo nhưng gây nghiện và ám ảnh khôn cùng.

Như người đàn bà đồng bóng nhất, hào nhoáng và phù phiếm nhất đã một lần qua trong đời, Sài Gòn không bao giờ cho phép mình bị lãng quên, ngay cả khi người ta nhắm mắt.

02230939a

Mùi Hương Hoa Lệ

Như mọi cấu trúc cơ bản nhất của một dòng nước hoa, mọi kịch tính của mùi hương đều lắng dịu, thẩm thấu vào cơ thể và dâng lên những nốt cuối cùng, như một đoạn kết đẹp, tròn trĩnh, hoặc như những dấu chấm lửng vẫn mãi kéo dài tận trong tiềm thức.

Sài Gòn nông cạn, ô tạp, xô bồ và sống sượng trong cái thói rù quến bằng kẹo ngọt và những phần thưởng “ăn liền”, thói chiêu đãi hậu hĩ tới mức dại khờ và phóng đãng của ả gái hư không chuyên. Nếu ví Sài Gòn như một hợp hương mỹ phẩm, thì có lẽ những note dư hương day dứt cuối cùng ấy, chỉ có kẻ xa Sài Gòn mới thật sự được hưởng trong những mặc niệm hoài hương, hoặc những ai thương tưởng si mê Sài Gòn ngay khi sống giữa lòng đô thị, đủ để nhìn ngắm nhâm nhi những trầm mặc đằng sau phấn sáp trang kim, đủ để kiên nhẫn chờ đợi khoảnh khắc thật thà sau cuối của ả đàn bà đa chiêu.

Khi những mẫu nước hoa cũ khô dần vào da thịt, sự tài tình của nhà bào chế lại một lần nữa vén lộ những phong vị Đông Phương từ lớp hương đầu, đã được lọc qua những biến cố ồn ào nhất của thời cuộc, để lắng mình, vẹn nguyên mảnh khói nhang trầm mặc trong hơi thở về khuya của phố thị.

Một thời gian tôi mướn trọ trên căn gác xép giữa một hẻm bình dân đúng nghĩa điện câu đèn vàng. Cứ khoảng gần nửa đêm, tiếng lóc bóc của thằng nhỏ bán mì gõ lại vang lên, len lỏi vào mê trận không lối ra của những đường ngoặt bất thần chi chít. Thằng nhỏ quê tận đàng ngoài, trôi dạt vô đây phụ việc xe hủ tíu mì như một vạn kiếp di dân mỗi ngày tấp về đây. Nó sẽ chẳng bao giờ nhớ nổi đường ra giữa những lối ngoặt ngoằn ngoèo ác địa của những hẻm bàn cờ đặc trưng phố thị phương Nam này. Ông chú người Tiều sẽ cắm vài cọng nhang vô góc đường gần đó, thằng nhỏ Bắc Kỳ cứ theo mùi nhang, như cọng khói cứu sinh len lỏi hẻm đêm mà lần đường về. Thi thoảng, tiếng lốc cốc leng keng của nó vọng ra cũng đủ khiến ông chú Ba Tàu biết thằng nhỏ liệu đã rong ruổi lỡ bộ quá xa. Họ làm nên một cặp đôi kì lạ giữa cái thành phố này, bắt kết vào nhau trong cuộc sinh nhai đôi khi chỉ bằng làn khói hương mỏng mảnh mà không gian ô tạp của ban ngày sẽ nuốt chửng, quậy loãng và làm đứt bể tan tành chỉ bằng một cú đạp máy xe.

Tôi cũng từng có những đêm như thằng nhỏ Bắc Kỳ đó, ngơ ngác lêu bêu một góc hẻm lạ quơ chỉ bởi một chậu nhài, một nhánh ngọc lan, hay một bụi dành dành nhà ai lén nở đêm. Những trận du miên kì quái đó đôi khi dẫn tôi dừng lại trước một cổng ngôi gia, lập lòe ánh đèn trái nhót trên bàn thờ, nơi chân nhang đã nguội, và một bình huệ trắng đang phập phồng hơi thở vô hình rất sâu. Cũng như bao dân tứ chiếng đất này, tôi từng hôn Sài Gòn thật sâu để hít thở căng lồng ngực ủ ê làn hương bắp rang bơ quá lửa từ lớp váng ly café tréo ngoe trên ghế bố vỉa hè lúc quá nửa đêm chờ sáng, mà thấy thơm phưng phức những bình minh đục ngầu ảo ảnh, văng vẳng tiếng chuông lễ sớm.

Hoắc hương và đàn hương, hổ phách, hồng tiêu và vạn triệu những thành phần xa xỉ trong một dòng hương Đông Phương cũ kỹ cũng có thể gợi nhớ mùi triều dâng ngoài bến Bạch Đằng. Tôi cùng tụi bạn sống tuốt bên Thủ Thiêm, 3 giờ sáng í ới ngoắc con đò gắn máy phành phạc rẽ làn nước đục ngầu về bên kia mảnh lập thể còn lại của Sài Gòn, khi những lương dân tử tế mệt nhoài đã ngủ rất sâu, và những đôi chân có móng sơn kim tuyến vừa kịp rón rén nhịp gõ gót cao qua những hành lang cư xá. Những phấn sáp được tẩy trôi hay vội vàng xóa bôi nhoe nhoét bởi môi hôn vồ vập, những món trang sức mỹ kí cuối cùng được gỡ bỏ, những vệt nước hoa đã lồ lộ mùi hormone thật thà mệt mỏi. Người ta nghỉ ngơi, trong những căn hộ tân kỳ, thành lớp trong những căn phòng giành cho dân lao động nhập cư, buông tuồng thân ái trong những dãy nhà trọ tồi tàn lòe loẹt, nơi mà khoảng cách bán-mua cuối cùng cũng đã bay hơi.

Nếu Sài Gòn là một loại nước hoa, ở tầng hương cuối, điều khiến người ta luyến lưu dày vò dai dẳng nhất, đó là bởi thứ mùi hương mệt nhoài, giữa những ẩn ức và trưng phô thường nhật: người ta ngửi thấy Chính Mình, trước khi thiêm thiếp bằng an sau thêm một canh ngả nghiêng nữa của Lệ và của Hoa.

017-L

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí Người Đô Thị tháng 06/2015)

bên dưới sớ vải Windowpane

suits4

Nhớ thời áo may guốc thửa…

Tôi vẫn còn nhớ khoái lạc thiêng liêng nho nhỏ rất Sài gòn của tụi học trò, như việc cắc củm xin tiền bỏ heo để trịnh trọng thỉnh về cây bút máy Hero và chơi sang mang cái vật thể vi diệu đó ra cho ông thợ trước cổng trường để khắc lên đó tên mình và một cái hình gì đó nhỏ xíu, thật sến để tâm đắc tận hưởng cảm giác sở hữu hoàn toàn khi tên họ đã được đường hoàng khắc lên thân cây viết máy, tô bằng một lớp nạm nhũ kim óng ánh.
Đó là cái khắc khoải của cảm nhận sự vô tận đến sốt ruột của thời gian khi khấp khởi cầm xấp vải ra tiệm may đặt thửa bộ đồ Tết hay tấm áo dài đi học. Đó là cái hoang mang của những lần chạy ra tiệm để ướm những mảnh vải lên người, cố lờ mờ hình dung ra tấm áo hoàn thiện sẽ ra sao và cái khấp khởi huy hoàng của ngày hẹn cuối cùng khi chiếc áo ấy, nghiêm chuẩn đến từng li, được ốp vừa khít trên đường lượn sống lưng con gái, đôi vai raglan nuột tròn không tì vết.
Tất cả mọi thức khi ấy đều được đặt, thửa ngoài tiệm và phải trải qua những đợi chờ hành hạ như vậy cho đến ngưỡng cuối cùng của khoái cảm sở hữu. Chúng tôi đã chọn những cặp guốc vẽ bông ngoài chợ, chọn riêng cặp quai rồi khấp khởi ngồi ướm chân chờ đo, chờ đóng từng chiếc đinh đồng ngập vào thân gỗ, cho đến khi chiếc gót cao su được gọt mài tinh xảo êm chân, nâng niu tới độ phải e dè bước chân sáo trẻ nít được quà. Chúng tôi, những đứa nhỏ lớn lên từ đống bầy nhí nhố hồi hộp bu quanh chiếc xe ông bán tò he, đứa có tiền mặc lòng vòi vĩnh mọi thức tham lam trong trí tưởng tượng trẻ con, từ con heo hồng cài bông xanh, con gà trống có 7 màu sặc sỡ hay ông Tề Thiên tay cầm thiết bảng thiệt oai. Tất thảy đều có thể được đáp ứng chỉ sau vài phút, dưới ngón tay nhoay nhoáy ngắt bột, nặn hình của người đàn ông mà khi ấy, với chúng tôi như một vị anh hùng.
Những chiếc giỏ xách lục bình, những chiếc nón vải mềm, hay thậm chí cả cặp bông hay chiếc lắc vàng “làm của” đầu đời của con gái mới lớn cũng được thửa đặt ngoài tiệm kim hoàn. Tôi xin cho mình một chiếc lắc, và ông thợ bạc hạ cặp mục kỉnh nghe tôi kể lể về những món tòn teng diêm dúa tôi muốn đính treo vào đó. Đúng ngày hẹn, tôi đến cửa tiệm, ông thợ bạc long trọng lau sạch đôi bàn tay chai sần rồi kéo ngăn tủ gỗ, nhón ra cho tôi một tia nắng vàng quý báu, lóng lánh những chiếc chuông, trái tim, những con mèo con vịt bằng vàng nhỏ xíu tòn teng được đính trên cọng xích đã được đo vừa cườm tay con gái, cùng chiếc thẻ bài khắc hoa mỹ tên tôi.
Và khi mùa Giáng sinh sắp tới, trước những chuyến nghỉ mát lên Đà lạt là những chiếc áo len được đặt đan từ vài tháng trước, tăng bội vạn các thi vị khấp khởi đợi chờ.

Bên dưới sớ vải Windowpane
Trong khi má con tôi sắm sửa quanh năm như vậy thì ba tôi mỗi năm cùng lắm ông chỉ có một hai bận ra tiệm may đồ mới. Những cửa tiệm của những ông thợ già đeo suspenders ngang vai, tay chemise nhàu nhĩ xắn cao quá khuỷu và sợi thước dây màu xác pháo vướt choàng qua cổ. Tôi đứng bần thần trước chiếc kệ lộng kiếng đã ố bụi, xếp san sát nghiêm mặc những súc vải dài từ đen, chàm, beige, và cả màu trắng creme, xanh bleu cho phụ nữ. Tôi hiếu kì chú mục vô bộ khuy manchette và kẹp cravatte mạ vàng đã ố, vài ba chiếc nơ đen bằng satin hồ cứng đã sờn toe hai mép như những hiện vật về thế giới bí mật của đồ tế nhuyễn đàn ông.
Ông bác chủ tiệm ngoắt tay gọi mua cho tôi cái bánh cam làm quà trước sự cự tuyệt của ba, rồi mới yên tâm quay qua đo đo đạc đạc. Tôi leo lên chiếc ghế phó may, đặt chiếc bánh gói trong giấy dầu lên đùi, ngắm nghía cái nghi thức long trọng ấy, hồi hộp tưởng tượng ba trong bộ lễ phục bảnh bao, như kép cine, với bông cẩm chướng đỏ cài trên ve áo.
Tôi đã đếm ngược từng ngày để được cùng ba đi “thỉnh” bộ đồ vía. Ông bác chủ tiệm dường như vẫn chưa hề thay chiếc chemise nhàu nhĩ với cặp suspenders vắt hai vai, hãnh diện hai tay rước bộ comple nặng trịch ra khỏi tủ đứng, nhanh tay gạt mớ nhật trình khỏi bàn cắt rồi long trọng trải tác phẩm màu chàm sẫm trước mắt tôi.
Như một nhà ảo thuật ranh mãnh, ông luồn tay vô ve áo rồi lật ra cho tôi ngắm lớp lót bằng thứ lụa mà theo ông là thượng hảo hạng chằn lót bên dưới lớp vải tweed loại Windowpane mà sau này tôi biết ra đời từ cuối thế kỷ 19 và đã từng tái thịnh vào thập niên 70, trước khi tôi sinh ra.
Tôi thất vọng: nó không hề bóng bẩy như bộ áo đuôi tôm của kép Gable hay mấy vị nhạc trưởng. Ông chủ tiệm cười xuề xòa bảo rằng hàng cổ sam bọc satin đó chỉ hợp với nghệ sĩ hay đại lễ, chớ thương nhân, trí thức bận bóng bẩy coi kì. Ba tôi gật gù tấm tắc khen lớp lụa lót trong thiệt khéo, không lệch nhăn luộm thuộm, không bắt điện với lớp áo chemise kêu rẹt rẹt như mấy hàng vải tổng hợp rẻ tiền.
Đó là lần đầu tiên tôi học bài học của mình về kỹ nghệ dệt may, khi ngỡ ngàng nhận ra cái căn nguyên cốt cách của một món may đo hàng thượng phẩm, ấy chính là cái chiều chuộng khéo léo tỉ mỉ với chính cái thân thể con người bên trong lớp áo, chứ không phải chỉ phụng sự ánh mắt người ngoài ở mặt vải trên cùng, và rằng cái đẹp của một bộ comple đo thửa đó chính là cái bộ khung cốt bởi những coup cắt được tính toán như thể một công trình kiến trúc, làm nên phong thái tôn nghiêm cao quý cho người mặc, phong lưu nhưng khiêm nhường nhã nhặn.
Ở đó, trong căn tiệm của thứ hào hoa ố vàng xộc xệch ấy, tôi tưởng tượng ra những ông hoàng…
Tôi lớn lên như vậy, từ những bữa cơm nhà, những bộ cánh áo đo guốc đóng, những cửa tiệm tàn dư bespoke và giữa những ông hoàng.

savile row

Bản ngã Bespoke và sự khiêm nhượng của tao nhân
Nói tới Bespoke, người ta nghĩ ngay đến con lộ của nếp phong nhã Savile Row, nơi những quí ông Âu châu, những chính khách, thương gia, học giả tìm đến để tôn thờ nghiêm cẩn cái nguyên tắc cốt lõi đặc thù của những bộ Âu phục chuẩn mực, với ni tấc được đo đạc riêng cho từng thân chủ, của những cuộc hẹn tới lui ướm thử những mảnh pattern được ghim đính cho đến khi vừa khít cơ thể, đính lược bởi những chiếc đanh ghim phó thợ, và điển lễ long trọng của ngày hẹn cuối cùng, bộ vía thành phẩm đã được hoàn tất trọn vẹn, chi li tới từng mũi khâu, những panel ngực, lưng, vai ốp mĩ miều hoàn hảo trên cơ thể như một bộ da thứ hai hào nhoáng, thứ mà không một cá thể thứ hai nào trên toàn địa cầu có thể xỏ tay ướm mình hoàn toàn vừa vặn như thế. Trên cả một bộ vía hoàn hảo, đó là dấu ấn cá nhân của cả phong cách, gout thẩm mỹ cá nhân của thân chủ, và dấu ấn tài hoa như chữ ký nét thủ tự của tay thợ đã nắn nót từ đường khâu tay cẩn trọng, nét thửa vải tuyệt tài.
Chính từ cung lộ ấy, phong cách hình thức nam nhân Tây phương được định hình nghiêm ngặt, những yếu nhân hàng đầu cho đến vị giáo sư, những thầy ký thượng lưu được phủ đắp lên một lớp giáp trụ không chỉ che khuất những yếu nhược trong thần thái phong mạo, mà còn thị uy tư chất tôn nghiêm của trang quân tử chuẩn mực Âu châu, những bờ vai rộng, dáng ngực vươn kiêu hãnh và những khống chế tế nhị khiến kẻ khoác bộ vía không thể mặc lòng khoa tay múa chân hay buông thõng tư thế trong giao thiệp.
Cũng từ những ngôi tiệm trên lối lộ lừng danh của những tay kéo già cự phách, những thế hệ làm nên huyền thoại đã gia nhập nền công nghệ thời trang đa sắc toàn cầu với một tinh thần haute couture tôn thờ cá nhân tính, những tuyệt phẩm độc bản cầu kì và lòng hãnh tiến cốt cách quân chủ.
Những đợt đại khủng hoảng toàn cầu khiến những đế chế couture liên tiếp rùng rùng sụp đổ, vụ phế truất ô nhục của Galliano, Lacroix bị bức tử, Saint Laurent đã ra người thiên cổ nơi vườn Majorelle, Versace mất Gianni, đành cam hạ cố đặt mình vào thị trường bình dân xa cạ bằng những phiên bản công nghiệp mang tag giá sặc sụa tinh thần dân chủ… Phe quân chủ của thế giới thời trang đã ngậm ngùi đón nhận cuộc thoái trào bi thảm của những giá trị được tôn thờ và những đại lễ haute couture trở thành những bữa tiệc carnival buồn bã của bữa chợ chiều, khi mà thuộc tính thương mại đã khuất phục nét hoa mỹ của những tuyệt tác may mặc và biến chúng thành những mẹt hàng cháy chợ khi được hạ cố sản xuất rập khuôn dưới hình hài thân thiện hơn, cho một địa cầu của những bộ da được tạo hình hàng loạt.

Đây có phải là bờ vực sau cuối của tôn giáo cá nhân?

Người ta không còn bị thống trị bởi những trường phái coup của những tay kéo thuần chủng Ý Đại Lợi hay Ăng lê nữa, đại dịch globalization xóa nhòa lằn ranh trường phái của những nét dị biệt của những dấu vân tay tài hoa và đặc chủng. Người ta mua những bộ suits được may hàng loạt, những mũi kim dây chuyền số hóa không tì vết, không cả dấu vân tay, và nhân loại được chia thành các nhóm size đánh số hoặc từ S đến XXL,…
Những thương hiệu lên ngôi, người ta đồng loạt khoác lên mình những mẫu tự và tên gọi hàng loạt, những phong cách được định đoạt bởi tính nhất thời của trào lưu và đó là sự kết liễu của những trường phái đã thành bất hủ, và những cặp manchette trắng chỉ còn là nét tàn dư giành cho những buổi hòa nhạc, và để thỏa mãn nhu cầu cá nhân hóa ở mức tối thiểu của thị trường, người ta có những lon nước ngọt in tên riêng và quyền tùy chọn trang trí màn hình điện thoại thông minh.
Và, như một kẻ lạc thời còn lại, giữa lòng Sài gòn, giữa những cuộc đổ bộ mời chào những trào lưu hình thức của màn hình điện thoại được cá nhân hóa, những bao ốp lưng tablet và những nhóm người được phân loại theo size ngoại hình, tôi chợt nhận ra sự giàu có vô biên của những kẻ vẫn có thể chọn thửa một vuông vải ngoài chợ mang ra tiệm, đủ cầu kì đến từng phân li thước thợ và thừa xông xênh dư dả để khấp khởi đợi chờ một lớp vỏ ngoài vừa vặn cho riêng mình, chọn cho mình một cốt lõi yêu chiều ve vuốt trên từng lớp da thân thể hơn cả việc khoa trương cho sự trọng vọng ngoại thân qua sắc hoa nhãn hiệu bên ngoài, chọn tôn thờ châu thân Bản Ngã bằng thứ hàng tơ lụa xa xỉ nhất, những form coup cho một Tư Phong tự tôn kiêu hãnh, và chọn lớp vỏ bọc ngoài cùng bằng những sớ vải thô của thứ hàng tweed kinh điển, phong lưu, nhưng nhã nhặn khiêm nhường.
Bản ngã cuối cùng của bespoke đã nằm lại đó, bên dưới lớp vải lót trong cùng, tự do khỏi ánh nhìn và mọi lời đánh giá, để phụng sự suy tôn điều duy nhất giữ người ta đứng thẳng thớm bên ngoài guồng quay trào lưu đồng hóa, nơi mỗi cá thể được tôn trọng và phụng sự như những ông hoàng đích thực.

suits

huyền sử tài nữ Paris

Trác Thúy Miêu

reutlinger-studio-postcard-depicting-the-dancer-cleo-de-merode-1875-1966

Nàng là gái Paris chánh hiệu, dù có một số tư liệu cho rằng nàng tên thật là Hortense Gervais sinh trưởng tại vùng Bordeaux hay Biarritz. Sinh ra dưới cung Thiên Bình, Cleopatra Diane de Merode còn là ‘con gái Vệ-nữ thần’ dựa trên tín ngưỡng chiêm tinh phương Tây, khiến nàng được bảo đảm đủ mọi ưu chất tài hoa, phong tư kiều mị, nhưng trên hết là tư duy sùng bái Cái Đẹp cùng lòng kiêu hãnh của một trang anh thư dòng dõi trâm anh thứ thiệt, con gái họa sĩ phong cảnh và một cựu diễn viên người Áo. Cha cô, Karl von Merode tự nhận mình là nam tước Freiherr von Merode đến từ một dòng dõi cổ kính tại Bỉ.

Và đây chỉ mới là lần đầu tiên số mệnh lắm khuất tất của nàng liên quan đến vương quốc này.

images (5)

Scandal đầu tiên: Màn thoát y bất đắc dĩ 

Bé Lulu, theo cách gọi âu yếm của song thân dành cho nàng, sớm hé lộ thiên hướng nghệ thuật, được gửi đến học viện Paris Opera Ballet từ lúc 7 tuổi. Và khi mới 11 tuổi, cô bé có mớ tóc mây xoăn tít đã có buổi ra mắt đầu đời trên sàn diễn danh giá của kinh đô hoa lệ.

Tất cả đã hứa hẹn một nghiệp lộ lẫy lừng cho một tượng đài nghệ thuật chuyên chính – nếu như nhan sắc ma mị của nàng đã không mê hoặc cả châu Âu, làm mụ mị mọi họa sĩ, nhiếp ảnh gia, lẫn giới truyền thông lúc bấy giờ, vượt xa tài hoa của đôi chân vũ nữ.

Người ta định danh nàng chính là hình mẫu đầu tiên của khái niệm celebrity trên thế giới – nơi mà phong mạo trội bật, thị hiếu thẩm mỹ cầu kỳ và những cuộc tình lâm ly có thể mang thứ hào quang lấn át cả tinh hoa tài khí.

13 tuổi, tiểu thần nữ Cleo đã là nàng thơ phía sau những họa phẩm bậc thầy của Jean-louis Forain và Edgar Degas. Ba năm sau, nàng đã vang danh khắp kinh đô Paris với mái tóc sơn nữ rối bồng bềnh, chẻ chuẩn chu giữa vầng trán Đồng Trinh, viền bằng những vành xuyến đính đá óng ánh, xổ tràn xuống tận vòng eo không tưởng, dệt thành một chiếc khăn shawl đầy đặn lăn tăn sóng tóc. Người ta ghi dấu dung nhan nàng trên mọi tấm bưu thiếp, cỗ bài và các bích chương quảng cáo. Mái tóc sơn nữ và đôi mắt yêu tinh trong như ngọc của Cleo trở thành một mẫu mực về nhan sắc đàn bà đầu thế kỷ 20, dẫn lối cho những nếp tóc xoăn, mắt mơ viền chì và những đôi môi bé xíu như đinh ghim của Kỷ Ngây Thơ 20’s, với các dải băng trang kim trên tóc, điệu vũ chanson phóng đãng và những chuỗi cườm tung tẩy trên váy flapper.

14cd606ffe2997d6bb58b37f0a020bb6

Nàng được cưng chiều, săn đón, ái mộ khắp nơi, và nghiễm nhiên trở thành giai nhân được chụp và họa hình nhiều nhất trên toàn nước Pháp, mà người ta còn cho là trên cả châu Âu.  Cleo trở thành nàng thơ hiển hiện qua rất nhiều tuyệt phẩm của các danh họa bậc thầy cùng thời cho đến nay vẫn được lưu truyền, làm nên một định hình bất hủ của “thẩm mỹ tiền showbiz” đầu thế kỷ trước.

1d3a0b449b4bcad1e4f7021e22f261d6Alfredo Muller, 1869-1939, cleo de m etching c.903Boldini cleobab59a8a7d7bc63c49eca18d3d2fcdb4

Portrait of Cléo de Mérode Georges Jules Victor Clairin (Fr843-919)

Danh họa người Áo Gustav Klimt cũng từng là một nạn nhân chung của cơn sốt Cleo. Nàng xuất hiện rất nhiều trong các tuyệt phẩm ma mị của ông, và về sau, bộ phim mang tên Klimt năm 2006 còn hiển hiện ít nhiều câu chuyện của danh họa và nàng vũ nữ Pháp qua nhân vật “Lea de Castro”.

Năm 1895, Toulouse-Lautrec vẽ chân dung Cleo. Năm tiếp theo, đến lượt nhà điêu khắc Alexandre Falguière rơi vào cơn sốt Cleo, làm nên cả một cuộc náo loạn nhỏ tại Paris Salon khi ông vén tấm trướng che trên tác phẩm mới của mình, phô bày bức tượng Cleo khỏa thân đầy mê đắm. Bản thân nàng thơ yêu kiều cũng bị chấn động trước phiên bản trần truồng mỹ diệu của mình. Trong bức thơ gửi chủ biên tờ Le Gaulois, nàng tha thiết phủ nhận mọi tin đồn rằng Falguiere đã sáng tác dựa trên mẫu thật: “Rất mong ông vui lòng đính chánh lại cùng độc giả của quý báo rằng tôi không hề là người mẫu nguyên bản cho bức tượng của ông M.Falguiere, sự khác biệt có thể được minh chứng nếu lưu ý quan sát đầu của bức tượng”.

họa phẩm Cleo in the Salon của Carlos Vasquez y Obeda minh thuật lại scandal đầu tiên của nàng với bức tượng khỏa thân

Nhưng hẳn nhiên, không ai quan tâm đến cái đầu của bức tượng Cleo khỏa thân cả!

Sau biến cố đình đám này, nàng rút lui khỏi vùng hào quang danh vọng lẫn ánh đèn sân khấu, với lời giải thích là do nỗi lúng túng khổ sở khi chịu đựng những ánh nhìn lia khắp châu thân nàng và liên tưởng đến “bức tượng trần trụi kì khôi nọ”.

Bức tượng định mệnh The Dancer của Alexander Falguiere hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Musée d’Orsay.

garv_07b

Người đẹp bịt tai và lịch sử mốt tóc chignon

Sau vụ “bảo vệ môi trường” bất đắc dĩ, thị dân Paris háu tin vẫn có cách xoay sở để sản sinh thêm những tin đồn khi nàng vắng mặt, và ‘tác phẩm’ tin đồn mới nhất của họ khi này là nhưng lời xì xầm độc mồm rằng người đẹp de Merode trên thực tế không có… tai! Sự thể bắt đầu từ mốt tóc chignon của Cleo, với mái tóc dày che phủ hai bên khuôn mặt búi lại phía sau.

images (1)

Quả là một mánh khóe thần sầu, vì ngay sau đó nàng Cleo tội nghiệp buộc lòng phải tái xuất trở lại hòng minh chứng sự tồn tại đầy đủ của các cơ quan nghe nhìn trên cơ thể mình. Cuống quýt đối đầu với tin đồn quái gở, nàng xuất hiện ở khắp mọi nơi, tại nhà hát, đi dạo miệt mài trên các phố lớn trung tâm, ngược xuống Bois, tóc xõa được vén cao, lộ rõ một đôi tai đăng đối bình thường như hàng vạn đôi tai thị dân háu chuyện khác. Và từ đó, mọi quý bà quý cô Paris hoa lệ đều nhất loạt bới đầu theo kiểu tóc chignon. Mốt này về sau kéo dài đến cực thịnh vào những năm 1920.

images (8)

Tình lang phiền toái và kỳ tích ballet bị lãng quên

Tuyệt nhiên, những biến cố ngoạn mục này không hề làm phương hại đến danh tiếng Cleo, mà trái lại, như hệ quả tất yếu của mọi cơn sóng của sắc màu dư luận, Cleo càng sở hữu một hấp lực khó cưỡng đối với sự hiếu kỳ của công chúng. Nói ngắn gọn lại là nàng nổi như cồn.

Vào cuối năm 1895, một sự kiện lẫy lừng đã xảy ra, kết thúc đầy cao trào cho một năm đầy ngoạn mục và ám ảnh phần số Cleo mãi về sau. Vua nước Bỉ, hoàng đế Leopold Đệ Nhị, vốn là một tay hào hoa khét tiếng, tuyên bố mượn dịp công du thương lượng về quyền lợi thuộc địa để đến kinh đô hoa lệ và thân chinh khám phá sự thật về tiếng tăm tài sắc giai nhân trứ danh Cleo de Merode trong một buổi diễn của nàng. Nhiều tư liệu lẫn tin đồn thị dân thời bấy giờ cho rằng vũ đoàn nhà hát nhạc vũ kịch Paris chính là đại bản doanh thanh lâu hạng sang trên đỉnh thượng lưu của một Paris phóng đãng. Giới săn tin mau mắn đúc kết một mối tương quan giữa thói hào hoa của vị quân vương ngoại quốc và nhan sắc của nàng vũ công đang gây sốt toàn thành.

images (9)

Khắp kinh thành Paris, trong mọi phòng trà lẫn phòng the, người ta hau háu truyền tụng những tình tiết lâm li lẫn dung tục về mối dan díu giữa nàng kỹ nữ vang danh 22 tuổi và vị khách làng chơi vương giả hơn nàng ngót nghét 40 niên. Người ta nói rằng Cleo chính thức trở thành gái bao hạng sang, món đồ chơi ưa thích mới của vị quân vương phong tình, người ta trầm trồ truyền tụng về những món quà sang trọng nàng được dâng tặng, về toa riêng đặc biệt được thiết kế riêng cho Cleo và lắp thêm vào đoàn hỏa xa hoàng gia Bỉ để nàng tháp tùng nhà vua trên đường kinh lý. Họ, rất rất lâu trước khi Brat Pitt và Jolie trở thành Bragelina, được gọi chung bằng một cái tên sặc mùi showbiz: Cleopold!

Kin Leopold and Cleo De Merode taken from the Taschen book Art Nouveau

Trên thực tế, cho đến tận thời điểm này, Cleo vẫn chịu sự giám sát khắc nghiệt của thân mẫu. Bà cựu minh tinh cùng con gái kiên quyết phủ lập mọi tin đồn liên quan đến vị vua hoang đàng, khẳng định rằng thứ duy nhất nàng từng nhận của vị khán giả trứ danh này là những bó hoa hồng chúc mừng vào sau các buổi diễn. Các tòa báo vẫn nhiệt tình loan tiếp thông tin tỉ mỉ đến từng chi tiết về chuỗi ngọc trai trắng muốt được vị quân vương gửi tặng Cleo, và về căn hộ huy hoàng ngài dùng để cất giữ nhân tình. Trong khi đó, Cleo vẫn ngày ngày lên xuống 5 tầng lầu để đi về căn hộ nơi cô vẫn sống cùng mẹ như một con chiên Công giáo ngoan đạo. Tuy vậy, những lời quy buộc vẫn hấp dẫn đám đông hơn. Trò tiêu khiển lỗ nhĩ của đám thị dân háu chuyện đã đến hồi tai quái, Cleo đào tẩu khỏi Paris để đến St.Petersburg, nơi nàng rơi tiếp vào những tin đồn truyền khẩu về lòng ái mộ bất thường của các bậc vương tôn dưới thời Sa Đế. Những lời xì xầm truyền tụng, những tình tiết li kỳ và phóng túng đã trở nên ồn ào lấn lướt cả kỳ tích của lịch sử nghệ thuật múa ballet: nàng đã trở thành nữ vũ công ballet đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật múa diễn cùng bạn diễn nam là Rupert Doone tại nước Nga.

Cleo de Merode-10

Cleo lại trở về Paris để chứng kiến tiếng tăm của nàng đã lẫy lừng hơn gấp bội, tỉ lệ thuận với mức thù lao cho mỗi lần xuất hiện trên sân khấu. Khôn ngoan và chai sạn hơn rất nhiều sau những biến cố vừa trải, Cleo quyết xem đó là một cơ hội vàng. Nàng nhận một khoản thù lao khổng lồ để xuất hiện tại nhà hát hí kịch Folies Bergere – điều mà chưa vũ công ballet nào từng làm trước đây. Cleo ngạo nghễ xuất hiện và yêu kiều bước qua mọi đàm tiếu bằng đôi chân vũ nữ, điều này mang lại cho nàng một lượng khán giả ái mộ khổng lồ chưa từng có. Vài tháng sau, tờ The Éclair phát động cuộc bầu chọn ra người đàn bà đẹp nhất Paris. 130 tấm ảnh được trưng bày trong một gian phòng của bản doanh tờ báo cho mọi thị dân đến thưởng lãm và bình bầu. Cleo đoạt danh hiệu tuyệt sắc giai nhân với số phiếu bầu gần một nửa trên 7000 phiếu bầu.

cleo11_2

Cho đến tận bây giờ, mối dan díu với hoàng đế Leopold vẫn là scandal được nhiều người truyền tụng nhất, làm nên vầng hào quang về tiếng tăm bậc nhan sắc đã ra người thiên cổ. Thám tử đặc vụ Xavier Paoli đã gặp gỡ với Cleo sau khi tin về mối tình vụng trộm đã kịp lan truyền khắp nơi. Ông ghi chép lại trong hồi ký mình, chứng thực lời tạ lỗi của đích thân nhà vua Bỉ: “Cho phép tôi thể hiện lòng thành tâm ân hận, bởi những quy buộc nhân gian dành cho tôi đã làm thương tổn danh phẩm quý cô. Than ôi, chúng ta đã không còn được sống trong thời cuộc nơi mà lòng ái mộ của một vị quân vương không hề là một tai họa! Cuối cùng, tôi chỉ là một ông vua quèn” (nguyên văn: I am only a little king)

Kỹ nghệ lancée của thần nữ Nam Vang trên giọng đờn Gia Định

2 năm sau biến cố bức tượng khỏa thân và tin đồn… không tai, cùng mẹ và người quản lí tiệm hí kịch Folies Bergere, khi này cũng là người đại diện của nàng, cùng 9 rương tư trang và một chú chó cưng, Cleo đến Tân Thế Giới lưu diễn trong suốt một tháng tại Nữu Ước.

Mặc dù trước đó, cả một chiến dịch lót đường cho người đẹp Pháp đã được tiến hành, với những bưu thiếp mang hình ảnh của nàng được bày bán khắp mọi quầy báo, nhưng chuyến lưu diễn đã không thành công như kì vọng. Giới truyền thông ghẻ lạnh trong những bài bình luận hờ hững đầy mai mỉa, ca tụng nhan sắc người đẹp Paris nhưng miệt thị vũ đạo cũng như diễn xuất của nàng. Vào ngày Cleo ngán ngẩm rời Hoa Kỳ, tờ Boston Globe bồi thêm một cú tiễn biệt bằng việc gọi nàng với hỗn danh “The Frost” theo lối chơi chữ quái ác, vừa có nghĩa là “đóng băng”, vừa mang nghĩa lóng lối Mỹ là “thất trận”. Mặc nhiên, Cleo tái xuất Paris, rủng rỉnh 9,000 Mỹ kim thù lao từ chuyến lưu diễn, tức là gấp 40 lần thu nhập hàng tháng của chính nàng tại Paris.

Năm 1899, thân mẫu Cleo qua đời, cũng là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành hoàn toàn cho bản lãnh Cleo. Nàng trở thành một nữ thương gia thực thụ biết khai thác hình ảnh và tiếng tăm bản thân ở mức tuyệt nghệ. Nàng tỏ ra nhã nhặn và lịch lãm trong mọi cuộc phỏng vấn, và khéo léo điều khiển báo giới lẫn dư luận và tình cảm công chúng theo hướng có lợi nhất. Các phóng viên được vời tới có mặt tại các cuộc họp giữa nàng và ban giám đốc nhà hát, cho phép họ tiến sâu vào quan sát hậu đài kì thú của công nghệ giải trí Paris,  nơi nàng thi triển mọi tinh hoa tài khí ở cả tư cách diễn viên lẫn trong mưu lược cổ xúy danh tiếng cá nhân. Những lúc nhàn rỗi, Cleo chơi dương cầm (nàng được biết là một cầm thủ hàng cự phách dù không bao giờ chơi đàn trước công chúng) hoặc đạp xe rong ruổi những ngõ đường vắng vẻ ở ngoại ô Paris.

be0d5f7d3ea49aca71cae05a3025f96a

Trong những năm tiếp theo, Cleo thật sự trở nên một danh tiếng minh tinh ca vũ tầm quốc tế, nàng lưu diễn xuyên lục địa và nhiều lần danh giá tái xuất Hoa Kỳ. Vua Xiêm Chulalenghorn khi đến Paris đã được nàng ưu ái dàn dựng riêng một chương trình nghênh đón, bản thân Cleo xuất hiện trong bộ phục trang diễm lệ theo lối hương xa, mình dát vàng, kim miện có chóp nhọn như các thần nữ trong tín ngưỡng Đông phương. Nàng uyển chuyển múa theo lối truyền thống của vương quốc Xiêm nhưng được thêm thắt cải tân bằng phong cách Parisian chánh hiệu.

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Buổi diễn được hoan nghênh rầm rộ, công chúng Âu châu nức lòng trước vẻ đẹp hương xa khi được thể hiện trên trang tuyệt sắc Paris, sự pha trộn kì diệu giữa đôi mắt như cặp ngọc lưu ly đặc thù của người phương Tây, mớ tóc digan dầy dặn xõa dài trong phục trang Đông phương lạ mắt. Từ đó, Cleo liên tiếp ra mắt công chúng trong những màn múa mang âm hưởng Á đông, trong các bộ trang phục từ Cao miên đến Chà và và luôn được nức lòng ái mộ như một sứ thần thân thiện sau cách sách lược chánh trị hảo hữu của chánh quyền Phú Lang Sa.

60cf680627cf61368e153e7a4c60f3c0

Năm 1900, người ta cho vời ban đờn An nam đến Paris phô diễn nét văn hóa của quốc gia thuộc địa. Để thu hút công chúng và sự quan tâm của truyền thông, nữ hoàng nhảy múa de Merode được mời xuất hiện biểu diễn trên nền nhạc tài tử An Nam. Nàng xuất hiện trong những món trang sức theo lối cung đình Nam Vang và diễn tấu một vũ kịch truyền thuyết được cho là của người Chà Và, khi này được người chánh quốc lờ mờ coi là một nền văn minh Đông Dương nhất thống. Màn diễn tấu được đặt tên là Vũ Khúc Đông Dương dù sai trệch với tinh thần văn hóa An Nam nhưng lại tình cờ phối hợp mượt mà hơi hướm Cao Miên trên giọng đờn của ban tài tử Gia Định, và sự xuất hiện của Cleo đã khiến buổi diễn nổi tiếng đến mức nhà nước Phú Lang Sa chọn in hình trên con tem lưu hành khi ấy. Đây cũng là cơ duyên cho các nhà nghiên cứu về sau tìm lại bản ký âm thất truyền của bài đờn huyền thoại.

play-it-again

1 franc cho thanh danh thần nữ chốn hoàng tuyền

Tháng Sáu 1902, trên đỉnh vinh quang của các tiết mục múa mang màu sắc phương Đông, Cleo đến Anh quốc lần đầu, với trình mục gồm toàn bộ các bài diễn đa chủng đình đám của mình trong đợt lưu diễn kéo dài 2 tuần liền tại nhà hát Alhambra Luân-đôn gồm các điệu vũ âm hưởng Boheme, Hi lạp, Y pha nho và Cao miên. Năm 1904, khi lưu diễn tại Thụy điển, Nam tư, Đan mạch, và đặc biệt ghi điểm lẫy lừng tại Stockholm với những đám đông ái mộ nô nức tụ tập trước rạp diễn phong tỏa mọi con đường chỉ để nhìn tận mặt giai nhân. Hồi hương sau chuyến lưu diễn ngây ngất, Cleo tung cho chủ biên tờ Figaro tất thảy 3000 bức thơ tình thu thập được từ chuyến đi. Rất nhiều trong số đó được chọn đăng tải dài kì trên nhật báo.

images (13)

Nhưng về sau, Cleo giảm dần mật độ lịch trình diễn. Mặc cho lợi nhuận và lòng ái mộ vẫn ngày lên cao, Cleo dần tỏ ra đặc biệt thích thú với điêu khắc – chính bộ môn nghệ thuật đã oái oăm ghi dấu ba đào vào số phận và sự nghiệp của nàng năm 1895. Nàng thư thái và tĩnh tại khi say sưa với những bức tượng nhỏ hình các vũ công, đàn chiên, con giống ngộ nghĩnh… Những món thủ công này đều được rao bán với giá khá đắt và mang lại cho Cleo một khoản thu nhập đáng kể.

Cleo vẫn thi thoảng tái xuất sàn diễn cho đến tận sau tuổi 50. Bà chuyển về sống trong một biệt thự ven biển vùng Biarritz mà nhiều tư liệu cho là cố hương của bà. Nơi đây, bà dạy múa cho trẻ em để khuây khỏa nỗi nhớ nghề cho đến tận tuổi 80.

Cleo 4

Ngay cả sau khi lui về ẩn dật, nghiệp mệnh nữ chúa tin đồn vẫn không buông bỏ Cleo. Năm 1950, nữ văn sĩ Simone de Beauvois, phu nhân nhà biên kịch và phê bình Jean-Paul Sartre tung ra cuốn Le Deuxieme Sexe viết về gái bao hạng sang, trong đó, bà Beauvois có nhắc lại những sủng ái đặc biệt của vua Leopold giành cho ‘ả điếm hoàng gia’ Cleo de Merode. Cuốn sách cũng nhắc lại giả thuyết xuất thân thôn dã của Cleo và gợi ý rằng rất có thể Cleo đã tự nhận theo dòng dõi thế phiệt de Merode để cổ xúy danh giá bản thân. Tức nước vỡ bờ, Cleo khởi kiện, đòi bà văn sĩ phải bồi thường 5 triệu franc mới nghe. Nàng vẻ vang thắng kiện, nhưng cũng chính trong quá trình nghị án, người ta nhận ra rằng nàng cũng chính là bàn tay đạo diễn phía sau rất nhiều tin đồn về bản thân mình trước đây. Do đó, tuy thắng kiện, nhưng Cleo chỉ được hưởng một franc cho các tổn thất tinh thần và quy định dỡ bỏ mọi thông tin thiếu cơ sở có thể gây phương hại đến nàng trong mọi ấn bản về sau của cuốn sách đình đám nọ.

Như những ngày đầu sự nghiệp đầy tăm tiếng, cuối cùng, Cleo de Merode trong cuộc ẩn dật cuối cùng vẫn là người đàn bà chạy đuổi theo những cuộc phân bua vô tận, nàng vẫn là cô vũ nữ viết lá thơ thanh minh với tòa báo, hoặc mỏi mòn trong những cuộc bát phố xuôi ngược phố lớn Paris để xõa tóc trưng bày một đôi tai trọn vẹn. Sau biến cố với vụ kiện bà Beauvois, năm 1955, Cleo phát hành tự truyện Le Ballet de mavie (tạm dịch Vũ Điệu Đời Tôi), như một lần cuối cùng giành quyền lên tiếng cho chính bản thân mình, để nói những gì nàng cho phép thế giới lắng nghe.

069fc4e06792e02ebddec797ae471d05

Cleo qua đời ngày 17 tháng 10 năm 1966, yên nghỉ tại nghĩa trang Père Lachaise. Phía trên mộ phần Cleo là bức tượng chính nàng đang khóc than thân mẫu.

Lúc còn sống, de Merode đã kết hôn nhưng không có con. Theo tin tức trên các báo chí trong suốt cuộc đời sự nghiệp của nàng, thì de Merode còn đính hôn trước đó vài lần, trong đó có một bá tước Nga, một triệu phú Hoa kỳ, công tước vùng Manchester (vì sau bị ngăn chận bởi bà ngoại của ông này), một điền chủ Pháp, M.Reldoyen, một quý tộc Ba lan, Sigismund Malensky, và bản thân hoàng đế Leopold đệ nhị, sau khi hoàng hậu Marie Henriette qua đời. Hẳn nhiên, các nguồn tin của báo chí thời đó vẫn hoàn toàn không có cơ sở chính xác, dựa trên các tiểu tiết mờ nhạt làm căn cứ. Từ phía bản thân, lúc sinh thời, Cleo chỉ thừa nhận 2 cuộc tình lâu bền nhưng thê lương, một người mắc bệnh thương hàn qua đời, và người thứ hai là một học giả và điêu khắc gia Y Pha Nho đã bỏ rơi nàng theo một người đàn bà khác. Nhưng danh tánh và chi tiết về 2 mối tình này cho đến nay vẫn là những bí mật nàng mang theo xuống tuyền đài.

Cleo_de_Merode_by_SUDOR

Tổ nghiệp Celebrity và sự im lặng cuối cùng

Năm 2012, 46 năm sau khi Cleo cuối cùng cũng về tới chốn ẩn dật sau cuối chốn hoàng tuyền, khi thế giới nàng bỏ lại sau lưng đã hoàn toàn bị chi phối bởi quyền lực truyền thông và thảm đỏ, Michael Garval trở thành nhà “showbiz học” khi xuất bản công trình chuyên khảo đầu tiên bằng Anh ngữ về hiện tượng ghi dấu sự trở mình của thị phi toàn nhân loại vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 qua hiện thân nữ thủy thần kiều mị, cuốn sách mang tên Cleo de Merode and the Rise of Modern Celebrity Culture (tạm dịch Cleo de Merode và Sự Trỗi Dậy Của Văn Hóa Người Nổi Tiếng). Garval đã ghi chép lại công trình nghiên cứu, phân tích của ông đến từng ngóc ngách xảo thuật lancée phía sau ánh hào quang của nhan sắc và phần số tài hoa, đánh dấu sự bắt đầu cho một nền kỹ nghệ thực thụ về sau của thế giới, nơi các nghệ sĩ chân chính trở thành các minh tinh.

Sẽ không ngoa nếu lịch sử nghệ thuật trình diễn và công nghệ lancée được chia ra thành giai kỳ tiền và hậu Cleo, một khi tiếng tăm của nàng làm nên một cú chuyển dòng toàn phần về khái niệm nổi tiếng, giá trị của hiệu ứng hình ảnh, yếu huyệt của truyền thông và quyền lực của những tin đồn. Công trình nghiên cứu của Gavral đi sâu vào phân tích những cuộc canh tân mang tính xã hội và công nghệ đã khiến thế giới đi đến hình thành một xã hội hiện đại được dẫn dắt bởi các vị lãnh tụ đỏng đảnh đầy thói tật của chính trường thảm đỏ. Trong đó, Merode chính là một trong các tượng đài tiên phong đầu tiên, giữa tâm bão ái mộ và trải thảm đỏ huy hoàng dưới những trận mưa đá được ném ra từ công luận trong suốt cuộc đời nàng.

74c8a6b3140b1ea2322f2760b4557310

Mặc dù trước Merode, nhân loại vẫn luôn có những trang nhan sắc khuynh thành, những cuộc dan díu vụng trộm éo le đi vào huyền thoại, nhưng bước ngoặt lịch sử khi loài người phát minh ra kỹ thuật in ấn và nhiếp ảnh đã tạo nên hình thái thô sơ nhưng đầy quyền lực của truyền thông và báo chí.

Chính những tấm bưu thiếp ghi lại nhan sắc Cleo trong các bộ phục trang hương xa hoang đường của các vở múa Đông phương đã ghi dấu ấn và lưu giữ minh chứng cho vẻ đẹp bá mị vượt thời gian của một Cleo de Merode danh bất hư truyền. Nhưng với kỹ nghệ in ấn và truyền thông, vẻ đẹp vô ngôn trên các tấm bưu thiếp đã trở nên sống động với những chi tiết riêng tư đầy khuất tất, những thói tật phóng đãng li kỳ đã cho công luận một câu chuyện giật gân đằng sau nhan sắc thiên tinh. Chân dung truyền thông hình thành, cô ả đẹp đến vô thực với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ vừa được nhiếp ảnh đặt lên bệ thờ nhan sắc, vừa được hả hê lôi tuột xuống tận đáy của án đa dâm hạ tiện và những cuộc trác táng phong lưu. Công chúng có cả một màn bi hài sống động li kỳ hơn bất cứ vở diễn nào trên sân khấu đại hí trường, bởi Merode tồn tại, hiển hiện, chiều chiều bát phố khắp kinh đô với mái tóc vén cao, tuyệt vọng phô trình đôi tai nguyên vẹn.

Sự phối hợp của hai nền kỹ nghệ này tôn vinh người đẹp, nhưng không cho phép nàng hóa thánh, hả hê độc địa phơi lộ chuyện riêng tư của nàng, nhưng lại cùng lúc đặt lên vầng trán nàng ánh hào quang nóng bỏng của mọi sự chú ý hiếu kỳ. Ngôi nữ hoàng thị dân tự lập đã được hình thành nên như vậy, công chúng hoặc yêu nàng, hoặc nghiện ngập trong những câu chuyện đầy ác ý về nàng. Truyền thông trao cho họ một quyền lực mới, nơi họ xộc thẳng vào phòng ngủ của người đàn bà đẹp, khoái trá tốc từng lớp xiêm y hào nhoáng của tiết hạnh và nhan sắc để lần mò vào từng chi tiết sống động nhất, để hả hê tiếp cận thịt da có thật của hình hài diễm ảo in trên bưu thiếp: “Nàng cũng như ta, tham dục, đa mưu và đầy khiếm khuyết”

cleo merode006_2

Với thói háu tin theo từng tờ nhật trình, lần đầu tiên thị dân nếm mùi quyền lực và thưởng thức màn bi hài kịch lâm li nhất do chính họ đạo diễn và tham gia, kéo dài đến hàng chục năm, ngay cả sau khi Cleo đã già nua, mệt mỏi và trốn lánh vào tuổi già cô tịch.

Màn kịch vẫn quá chừng hấp dẫn ngay cả khi cô đào chánh đã toan về già và nhan sắc thanh xuân cùng các phiêu lưu tình ái chỉ là những tro cốt cũ kỹ được tái hồi khai quật mua vui cho hậu thế. Như thể một kịch sĩ tài ba đã đi khuất vào cánh gà, thì những tiếng vỗ tay reo hò phấn khích vẫn hồi hồi điệp điệp vang lên, róng riết đòi hỏi thêm một đôi lượt tái xuất của bóng vía tài tình, níu dài âm hưởng giật gân kì thú.

Nhiều thập niên qua đi sau nhiếp ảnh và truyền thông, chính bước ngoặt kỳ vĩ của nhân loại bước vào nền văn minh internet đã khai quật lại đại dịch Belle Epoque trong một diện mạo hoàn toàn mới: những đoạn ghi hình phòng the gây cấn của các minh tinh tài tử, những phát ngôn thường nhật ngô nghê hay xốc nổi, những chi tiết li kỳ đầy mùi thịt da sống sượng… Trong đó, huyền thoại Cleo được lưu truyền với tốc độ mãnh liệt hơn như những di tích của những ánh hào quang celebrity đầu tiên của nhân loại. Những tin đồn cũ được nhặt nhạnh và tổng hợp lại, những tấm bưu thiếp của hơn một thế kỷ về trước được tái bản và số hóa – Cleo de Merode trở thành một thứ di sản chung chạ của những tín đồ Mỹ giáo và những con nghiện tôn thờ bái vật celebrity xuyên thế kỷ.

il_570xN.550085435_qp97

Chính qua Merode, Michael Garval đã tài tình tái hiện thời cuộc văn minh Belle Epoque trong bức biếm họa của ngôn từ, với những cơn sốt của văn hóa thị dân đã bồng bế tô vẽ cho de Merode và đẩy nàng lên đài hiến tế như một con cừu làm cống lễ thần linh. Vì sao nàng trở thành Kẻ Được Chọn? Cơn sốt thẩm mỹ thuộc địa hương xa trong thời cuộc chánh trị của các mẫu quốc thực dân, kết hợp cùng các phát kiến khoa học, sự phát triển của công nghệ nhiếp ảnh, in ấn và truyền thông đã hợp nhất tại khúc quanh định mệnh có Nàng, để cùng làm nên một trong những quả bom truyền thông giải trí đầu tiên trên thế giới. Và từ đó, người ta có Monroe chết cô độc trong cuộc tình với đệ nhất chính khách, James Dean không toàn thây giữa xác xe vặn vẹo, một linh hồn Presley mãi không siêu thoát, Lennon gục ngã trước họng súng tín đồ bái vật celebrity và Diana không toàn thây trong chuyến xe tử thần đào thoát bão flash paparazzi.

Giới yếu nhân thảm đỏ trở thành bàn cờ người với các quân cờ là những hình nhân tuyệt mĩ bị lột trần sống sượng như soi chiếu dưới ống kính truyền thông, thỏa mãn giấc mơ hoang đường của đời sống thị dân đang nhàm mòn dần đi dưới tốc độ kỷ nguyên công nghiệp: giấc mơ của khả năng nhìn xuyên qua những bức tường tư dinh tráng lệ và mọi lớp xống áo hào hoa, và truyền thông như vị thánh cứu rỗi, xoa dịu nỗi khốn cùng bằng lời an ủi “Tất cả họ, những kẻ đội hào quang, phía sau cánh cửa khép kín, đều trần tục như tất thảy chúng ta”.

Các ngôi sao giải trí mua vui cho công chúng của mình ngay cả bên ngoài màn bạc, trên các bãi biển cá nhân, và ngay cả sau khi chết.

Và Nàng, cho đến ngày nay, xuyên thế kỷ và màn hình máy tính, với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ, vẫn là hiện thân của cơn sốt khởi thủy niềm si mê bái vật với những huyền thoại ồn ào.

Ở miền ẩn dật sau cùng, nơi những tiếng ồn thị phi không còn nghe thấy được, lần đầu tiên và duy nhất, Cleo được trả về, thanh thản và bằng an với những sự thật của riêng nàng, nằm sâu dưới nấm đất Père Lachaise và một bức tượng câm.

402dcd1e30024381f227313a83cf2f88

BOX:

Ngày 27 tháng 09, 2013, nhân dịp kỷ niệm 138 năm ngày sinh Cleo de Merode, buổi ra mắt cuốn sách khảo cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và Cải lương của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp tại Việt Nam đã là lần đầu tiên bản múa huyền thoại của Cleo được tái dựng, qua trích đoạn Vũ Khúc Đông Dương trên nền nhạc bản kí âm cổ xưa nhất tìm thấy được trong lịch. Cơ sở dữ liệu đầu tiên của hai nhà nghiên cứu chính là con tem của nhà nước Pháp lúc bấy giờ in hình Cleo de Merode trong trang phục cung đình Nam Vang cùng ban đờn của nghệ nhân Nguyễn Tống Triều tại buổi trình diễn đờn ca tại tử ở Nhà Hát Đông Dương năm 1900.

Tình cờ, tác giả đã chính là người mà nhạc sư Nguyễn Lê Tuyên nhờ thực hiện phần phục dựng bài múa, tái hiện hình ảnh Cleo de Merode vào ngày ra mắt cuốn khảo cứu, cũng chính là vào sinh nhật lần thứ 138 của bà. Trong một sự tình cờ, hậu duệ của bài múa này, tức tác giả, là người sinh sau bà đúng 100 lẻ một đêm. 

DSC_5609

Không đầy 3 tháng sau đó, vào 15 giờ ngày 5 tháng 12 2013, đờn ca tài tử chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đoạn phim tư liệu của nhà làm phim Huy Moeller ghi lại quá trình tái dựng vũ khúc đầu tiên của nhân loại trên nền nhạc đờn ca tài tử sẽ được công chiếu tại Việt Nam vào tháng Giêng 2014 tại trường Điện ảnh Quốc tế Sài gòn và Viện Trao đổi Văn hóa Pháp IDECAF.

Dự án phim Việt Nam đầu tiên về Cleo de Merode và đờn ca tài tử cũng đã được nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh hoàn tất khâu kịch bản và trong quá trình kêu gọi đầu tư. Đây cũng là dự án điện ảnh đầu tiên của Việt Nam về di sản đờn ca tài tử, và cũng là phim điện ảnh đầu tiên trên tái hiện lại hình ảnh bà chúa tin đồn đầu tiên trong lịch sử nền công nghệ giải trí thế giới. 

cleo_de_merode_60

tay tài-tử Đông-dương

Trác Thúy Miêu

“Hoa Kỳ, hay châu Úc, là những quân thể xã hội đa chủng. Nền văn minh đa chủng dựa trên sự tôn trọng giành cho những nét văn hóa du nhập vào quần thể văn hóa bản xứ. Trước khi kịp phẳng hóa bề mặt thế giới và hô hào hội nhập, tốt hơn hết hãy giữ cho Phở được là Phở, Áo Dài vẫn cứ là Áo Dài, và spagetti không hề là món “nui xào kiểu Ý !”

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Vị giáo sư mấp mé bên đường biên giải trí

Người ta biết đến ông qua hai đêm diễn song tấu với nhạc sĩ – giáo sư âm nhạc Salil Sachdev tại thành phố Hồ Chí Minh trong buổi triển lãm phối hợp hội họa-âm nhạc về động vật hoang dã mang tên Giấc Mơ Tây Nguyên. Chỉ sau cuộc hành trình với cồng chiêng Tây Nguyên của năm 2012, mới đây, giảng viên trường Đại học Quốc gia Australia Nguyễn Lê Tuyên lại trở về với một cuộc chơi hoàn toàn mới mẻ cùng bản kí âm cổ xưa nhất lịch sử âm nhạc tài tử Việt Nam do nhà dân tộc học Julien Tiersot ghi chép vào năm 1900.

Dường như người đàn ông ấy vẫn còn miên man vong thân liên tiếp vào những cuộc chơi đình đám của âm thanh và nhạc cụ, tuần tự trình bày lên bàn tiệc văn hóa của lớp thính giả cầu kỳ những món công phu nằm ngoài vòng hào quang của mảng âm nhạc giải trí đã đến hồi nhạt miệng.

“Đối với tôi, không có thứ âm nhạc không có tính giải trí. Giới trẻ nghe đến vọng cổ hay đờn ca tài tử, chèo, quan họ, là họ rùng mình nhăn mặt trước khi dám đủ liều, đủ phóng khoáng để tự chiêm nghiệm lấy. Tôi thấy tôi, với sở học về âm nhạc cổ điển Tây phương, hóa ra lại ‘trẻ’ hơn những thanh niên hiện đại”

Giáo sư Lê Tuyên theo học và giảng dạy về âm nhạc cổ điển phương Tây, nhưng chính sự trọng thị âm nhạc cho ông một điều kiện cơ bản để đòi hỏi tìm đến những sự thú vị và xa lạ. Ngay trong quá trình nghiên cứu, ông lại bắt gặp câu chuyện về một vũ điệu Đông phương của cô đào tuyệt sắc người Pháp – yếu tố giải trí hiếm hoi đã thu hút sự chú ý của công luận thời bấy giờ, là điều kiện duy nhất khiến ngày nay vẫn tìm thấy những tư liệu ghi chép lại buổi công diễn huyền thoại ấy. “Người Pháp đã mời cô Cleo de Merode múa trên giọng đờn Nam Bộ không nằm ngoài mục đích gắn liền tính giải trí hấp dẫn với một mảng nghệ thuật hương xa khi ấy còn quá xa lạ với công chúng phương Tây. Cô đào Merode đã hoàn thiện sứ mệnh cầu nối giữa giải trí và nghệ thuật ấy, và chúng ta ngày nay có được những tư liệu vô giá về bản kí âm cổ xưa, đặc biệt có ý nghĩa khi hồ sơ về đờn ca tài tử đang chờ được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể không phải chỉ của Việt Nam mà của toàn nhân loại.

Chúng ta nói rất nhiều về thế giới phẳng. Trên thực tế, ta không làm nên điều đó, bản chất của thế giới trong ngôn ngữ của âm nhạc, đã phẳng từ rất lâu”.

Chính sự xuất hiện của nữ vũ công tài sắc nước Pháp hơn 100 năm về trước đã vô tình gợi ý cho vị giáo sư đạo mạo một dự án liều lĩnh để đưa đờn ca tài tử vào lãnh địa giải trí mà chính ông chưa từng sờ chạm tới: điện ảnh. Ông muốn truyền tải câu chuyện của đờn ca tài tử xứ An Nam giữa bối cảnh nước Pháp và chuyện tình xuyên lục địa. Một hơi hám L’amant nội địa.

Một dự án điện ảnh được hình thành, một nhà biên kịch và một đạo diễn được lắp vào như những mảnh ghép phù hợp, và trang web indochinatheatre.com được thành hình chỉ trong vài ngày với tất cả sự phấn khích đầy máu liều nghệ sĩ lẫn cái đầu nhiệt thành của một gã đàn ông ham vui.

“Bên trong tôi vẫn luôn là đứa trẻ nít, và có lẽ trong mọi đàn ông đều vậy. Các nhà nghiên cứu, các học giả, những vị nghệ sĩ,…tất cả chỉ cần được bắt đầu với sự tò mò, kích thích, hay thậm chí là một lời khích nhằm vào yếu huyệt sĩ diện tự tôn là đã đủ để vận hành cỗ máy năng lượng vô tận bên trong mỗi người đàn ông. Một khi khai thác theo cách cực đoan nhất, ngần ấy năng lượng đủ để xoay vần thời cuộc và làm nên những cuộc chơi đẹp mắt, giàu ý nghĩa, cho cuộc đời một người đàn ông”.

 DSC_5544

Kimono, mojito, và vị học giả bị chọc tức

Tất cả đã bắt đầu như thế, trong lộ trình của giáo sư họ Nguyễn với đờn ca tài tử, đã bắt đầu từ một vụ khích tướng vô tình.

Mồi lửa đầu tiên khởi động cả một cỗ máy cầu kỳ đã được khai hỏa bởi lòng tự tôn ăn sâu trong tiềm thức ông thầy đờn Tây học khi nghe luận cứ có ít nhiều bài bác của một học giả người Hương Cảng, khi chuyển ngữ cụm từ “đờn ca tài tử” là “amateur music”.

“Khi nghe điều này, dù người đồng nghiệp nọ chỉ chuyển ngữ mà không hề mang ý kỳ thị, nhưng đó là một thái độ nghiên cứu nông cạn và sự thiếu tôn trọng khi chuyển ngữ tên gọi các nét văn hóa quốc gia trước khi đưa ra thế giới. Cả thế giới mặc kimono làm áo khoác tắm, gọi món pizza qua điện thoại và uống mojito mà không cần chuyển ngữ.

Hoa Kỳ, hay châu Úc, là những quân thể xã hội đa chủng. Nền văn minh đa chủng dựa trên sự tôn trọng giành cho những nét văn hóa du nhập vào quần thể văn hóa bản xứ. Trước khi kịp phẳng hóa bề mặt thế giới và hô hào hội nhập, tốt hơn hết hãy giữ cho Phở được là Phở, Áo Dài vẫn cứ là Áo Dài, và spagetti không hề là món “nui xào kiểu Ý”.

Cả một lộ trình nghiên cứu miệt mài lôi cuốn theo nhiều bằng hữu từ các lãnh vực khác để tạo nên một bệ đỡ hoàn hảo để đặt âm nhạc tài tử trở về đúng vị trí của nó trong kho tàng di sản của nhân loại,… tất cả được bắt đầu từ một thứ ai cũng có: lòng tự ái.

Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng với hàng loạt các phiên bản truyền khẩu của thời khẩn hoang lập thành Gia Định, đờn ca tài tử đã từ xuất xứ cung đình mà trở thành một sinh hoạt văn hóa làng xã chung của khắp miền sông nước Nam Bộ. Đó là nền văn hóa nghệ nhân dân gian, hơn là một nghệ thuật đầy tính hàn lâm học thuật.

“Các nghệ nhân cung đình, các sử gia và nhà nghiên cứu âm nhạc trở thành những tay chơi nửa mùa ‘amateur’ chỉ vì cách hiểu từ ‘tài tử’ theo kiểu biến dạng khẩu ngữ. Điều đáng coi là đau lòng là khi đa phần người Việt cũng không biết rằng nhạc tài tử có nguồn gốc từ nhạc cung đình Huế, du nhập vào miền Nam cùng các đợt lưu dân hồi đầu thế kỷ 19, các phiên bản ứng tác truyền khẩu được phát thịnh qua lễ hội và đời sống dân gian làng xã vùng Gia Định.

Theo quyển tự điển “Đai nam quốc âm tự vị” (1895) của Huỳnh Tịnh Paulus Của thì chữ tài tử có ghi chép lại nghĩa của từ này nguyên văn là ‘bọn chuyên nghề cổ nhạc’.

Đến bản tự điển của nhà sách Vĩnh Bảo năm 1951 mới ghi nhận chữ tài tử đã có thêm một nghĩa mới như là ‘amateur’: “Chỉ người chuyện về một nghệ thuật nào, chỉ vì thích nghệ thuật đó, chứ không phải dùng tài để mưu sinh.

Nếu nói như vậy, thử hỏi ở khắp Âu châu, người ta vẫn bắt gặp những nghệ sĩ đường phố chơi nhạc Bach, Mozart hay Schubert, nhưng như thế đâu có nghĩa là âm nhạc của Bach, Mozart và Schubert là âm nhạc đường phố?”

 bush

Nàng thơ 138 tuổi và cơn say tình xuyên thế kỷ

Lòng hãnh tiến đã khai hỏa cuộc chơi, nhưng chính tình yêu đã nuôi và duy trì cho một cuộc đeo đuổi dài hơi đầy tính chuyên nghiệp.

Cũng chính trong những cuộc viễn chinh ngược thời gian, lần theo dấu vết những đoàn nhạc công tài tử đầu thế kỷ 20 sang Pháp để trình tấu trong hội đấu xảo Marseille, vị giáo sư An Nam gặp trận “say nắng học thuật” với nàng thơ Cleo de Merode – giai nhân Phú Lang Sa cách ông gần 2 thế kỷ.

“Việc nhà tổ chức người Pháp muốn cô Cleo de Merode xuất hiện tại buổi biểu diễn hoàn toàn không khác gì sự có mặt của một minh tinh showbiz trong một cuộc triển lãm hội họa vậy – nhằm mục đích lôi kéo sự chú ý của công chúng và tăng tính giải trí cho sự kiện, mà họ e ngại rằng dù lạ lẫm thú vị, nhưng còn xa lạ với công chúng Pháp. Cleo de Merode là một vũ công nổi tiếng thời bấy giờ, nhan sắc hơn người, cô đẹp và kiêu hãnh đến độ đã khẳng khái chối từ lời cầu hôn của một bậc quân vương là vua nước Bỉ lúc bấy giờ, để vĩnh viễn sống tự do với nghệ thuật mà cô yêu thích. Khi được yêu cầu múa tại buổi diễn đờn ca tài tử, cô Cleo đã sử dụng một vũ kịch ngắn mang cốt truyện của người Chà Và, nhưng phục trang và động tác múa lại mang hơi hướm văn hóa Nam Vang. Nhiều nhà nghiên cứu về sau cho rằng điều này xuất phát từ việc mù mờ của người Pháp thời bấy giờ đối với các bản sắc văn hóa Đông Dương, nhưng riêng với tôi, Cleo đã tình cờ minh chứng cho sự hài hòa văn hóa không tì vết giữa các quốc gia, vượt qua lằn ranh biên giới địa lý. Bản chất thông điệp cảm xúc vô ngôn của âm nhạc đã là một tài sản chung giữa các sắc tộc, và ngôn ngữ hình thể của múa cũng vậy, không thuộc về ai, không dành cho riêng ai. Nó thừa sức thuyết phục mạnh mẽ hơn cả ngôn ngữ và ca từ. Điều này, với tôi, giải thích lí do vì sao trong đoàn lưu diễn đầu thế kỷ 20 ấy có cả những cô đào có giọng ca vào hàng thượng thừa ở Nam Bộ khi đó đi cùng, nhưng không có tài liệu nào ghi nhận sự xuất hiện của họ tại hội đấu xảo Marseille”.

Mang mối tương tư nàng vũ công đầu tiên từng múa trên làn điệu tài tử, bên cạnh các cuộc tiếp xúc và các buổi trình tấu tại Việt Nam, vị giáo sư say nắng còn ôm giấc mơ tìm kiếm hậu duệ của nàng Cleo để tái dựng Vũ Khúc Đông Dương tại Việt Nam “Tại Việt Nam, những làn điệu quen thuộc được dùng trong nghệ thuật múa hầu như chỉ tìm thấy trong giai điệu dân gian Bắc Bộ, hay các vũ điệu của người dân tộc. Khái niệm múa trên giai điệu đờn ca tài tử là điều khá mới mẻ ngay cả đối với các vũ công chuyên nghiệp. Nhưng đó lại chính là cuộc giao hoan thần thánh giữa ngôn ngữ cơ thể trong tương tác hồn nhiên với cảm xúc âm nhạc. Đó là khi người ta không chỉ thụ động thụ hưởng cảm xúc, mà tương tác, phản hồi với âm nhạc bằng cơ thể, và truyền đạt câu chuyện tương tác đó bằng ngôn ngữ hình thể. Tôi tin rằng nếu hơn một thế kỷ trước, Cleo de Merode đã làm điều không người Việt nào làm với âm nhạc của chính họ, thì chỉ cần một vũ công đủ tự do trong cảm nhận, sẽ tương tác nhuần nhuyễn được với âm nhạc tài tử, dù với hệ ngôn ngữ nào của nghệ thuật múa đi chăng nữa, cảm xúc sẽ là điều duy nhất. Tôi tin tôi sẽ tìm được hiện thân của Cleo de Merode ngay tại Việt Nam”.

 DSC_5250

Thứ tài sản không-là-của-ai-cả và sứ mệnh của Kẻ Đưa Tin

Nhiều người cho rằng việc đặt ý tưởng từ trong phôi thai lên thế giới phẳng của truyền thông quá sớm là sự bồng bột cả tin đầy nghệ sĩ tính và tỏ mối e ngại những rủi ro về tác quyền và sự đối trọng giữa các tình tiết hư cấu và tính xác thực dựa trên tài liệu nghiên cứu khi ý tưởng bị chia sẻ tự do. Giáo sư đáp trả bằng một niềm ung dung tự tại của một tay chơi sành sỏi:

“Làm sao người ta có thể ăn cắp được một tài sản không-là-của-ai-cả? Thậm chí nếu gọi nôm na đờn ca tài tử là di sản của Việt Nam, phải được lưu truyền tồn giữ bởi con cháu người Việt cũng là một quan điểm sai. Những mẫu trống đồng Đông Sơn nguyên vẹn được lưu trữ và trưng bày tốt nhất không phải tại Việt Nam, những họa phẩm bậc thầy hay những hiện vật quý đến từ lãnh thổ Việt Nam đang được đặt vào sự bảo vệ chuyên nghiệp của những bảo tàng viện lừng danh tại châu Âu. Trên hết, ngôn ngữ của âm nhạc, thứ ngôn ngữ phải được cảm thụ và trân trọng vượt rào cản chữ viết hay khẩu ngôn, một khi được thừa nhận là di sản phi vật thể, nó đã mang trong mình một sức thuyết phục rộng lớn, được coi là di sản của tinh hoa nhân loại nói chung, và được đặt dưới sự bảo trợ, nghiên cứu và phát triển không chỉ của người Việt, mà của các học giả, các nhà nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Di sản văn hóa không thể là một thứ của cải cục bộ, như nguồn cội văn hóa quốc gia, tộc người, có thể tự cô lập khỏi sự ảnh hưởng tương tác giữa các vùng văn hóa và toàn nhân loại nói chung. Nếu không gõ cửa, sẽ không nghe thấy tiếng trả lời. Chúng tôi là những nhạc sĩ, nhà nghiên cứu, đạo diễn, nhà biên kịch, chúng tôi cần một nhà sản xuất. Trên con đường tìm kiếm những mảnh ghép còn thiếu, có cả những xác suất rủi ro mà tôi buộc lòng chấp nhận đánh cược. Mọi động thái pháp lý đã được thực hiện để bảo đảm bộ phim sẽ được kiểm soát tối ưu về tính xác thực lẫn mỹ cảm điện ảnh mà không ai khác, ngoại trừ chính tôi, có thể bảo đảm với những tư liệu tìm được trong quá trình nghiên cứu. Ngay cả với trường hợp xấu nhất của trò may rủi, tôi sẽ không gọi đó là ‘ăn cắp’ mà chỉ coi đó như thêm một cánh tay đưa ra với di sản đờn ca tài tử, và lấy làm mừng khi hấp lực của một mảng nghệ thuật âm nhạc gần như bị lãng quên đã có được hấp lực cần thiết đối với một nhà sản xuất nào đó. Thiết nghĩ người ta sẽ thanh thản và dễ tập trung hơn rất nhiều một khi không bị chi phối bởi phép tính lợi nhuận hoặc tiếng tăm cá nhân. Và tôi cũng không làm tất cả những điều này để dẫm chân lên tấm thảm đỏ đông đúc của giới giải trí”.

Có lẽ đó là lằn ranh rõ rệt nhất giữa một nghệ sĩ và một ngôi sao – lằn ranh của sự lựa chọn giữa tâm điểm ánh sáng và bóng tối hậu đài. Nguyễn Lê Tuyên vẫn giữ cho mình cái ngô nghê hồn nhiên kẻ sĩ khi phải đích thân ủy lạo cho dự án Nhà Hát Đông Dương. Sự ngô nghê ấy nằm trong thái độ lúng túng của vị giáo sư khi bị tấn công bởi các câu hỏi cơ bản mang tính cá nhân về tiểu sử và học hàm học vị của bản thân: “Tôi không lí giải nổi vì sao tôi mang về Việt Nam một thông tin kì thú đến vậy về chuyến hải hành của thứ di sản bản địa cách đây hơn 100 năm, và người ta lại quan tâm đến việc tôi đến Úc được bao lâu và sở thích cá nhân của tôi là gì? Tôi coi mình là kẻ đưa tin, đó là sứ mệnh và tôi cố làm tốt nhất công việc của mình. Thông thường, khi nhận bưu phẩm, bạn sẽ háo hức mở gói bưu phẩm, hay tò mò hỏi han gia thế của người đưa thư?”

Vong thân là thuộc tính của đam mê thực thụ. Đó là khi thứ đam mê đó trở nên to tát hơn chính bản thân chủ thể, kẻ đam mê thỏa mãn trong vai trò phụng sự đam mê của chính mình. Nhưng công luận còn cần một cái tên và một học hàm để vẽ chân dung kẻ chịu trách nhiệm cho thứ di sản được tìm thấy. “Điều đó có thể hiểu được. Nhưng những thứ tôi tìm thấy hay hơn cái học vị của tôi rất nhiều, hãy để tôi trình bày và thuyết phục, tôi giỏi việc này hơn! Giá trị nằm ở thông tin chứ không ở kẻ đưa tin”

 DSC_5300

Nhà Hát Đông Dương của những Kẻ Chịu Chơi

Với sự ám ảnh của câu chuyện về “con sáo không sang sông” Cleo de Merode, người nữ vũ công đầu tiên và duy nhất múa trên nền nhạc tài tử, vị giáo sư người An Nam đã quyết học theo sự thông minh của người Pháp để bắc chiếc cầu giải trí, đưa một món ăn tinh thần lạ miệng đến với quảng đại quần chúng. Lời khước từ cuộc hôn nhân vương giả với vị vua nước Bỉ được lí giải bởi sự dan díu của Cleo với tay đờn kìm tài hoa Nguyễn Tống Triều trong đoàn tài nhân sang Pháp lúc ấy, người đàn ông phía sau bản đàn hương xa mà nàng kiều nữ Paris đã hiểu và yêu theo một bản năng nghệ sĩ. Câu chuyện không thành của họ được tiếp nối vào hiện tại, với giọt máu lai của kỳ nữ Cleo tái hiện vũ khúc Đông Dương tại cố hương của đờn ca tài tử hơn một thế kỷ sau.

Đó là một lối tư duy không phải hoàn toàn quá mới mẻ đến từ giới nghiên cứu học thuật. Nhưng tại Việt Nam, khi những buổi trình tấu hòa nhạc, nghệ thuật múa cổ điển hay dân gian còn phân định rạch ròi tầng lớp khán thính giả với những sân khấu, rạp cine sầm uất sáng đèn hàng đêm, khi mà sự ghẻ lạnh của khán giả nội địa đối với các tác phẩm điện ảnh thể loại “gà chọi dự thi” với thực chất sinh hoạt màn bạc và truyền hình trong nước còn là hai hành tinh biệt lập, thì các hoạt động giải trí hóa nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật hàn lâm vẫn giữ nguyên giá trị tiên phong và thuộc tính liều mạng của nó.

Cũng với suy nghĩ đó, Lê Tuyên mang theo về Việt Nam lần này một tham vọng lớn cho đờn ca tài tử: một kịch bản điện ảnh xây dựng xung quanh bản kí âm cổ xưa, lần đầu đưa đờn ca tài tử đến với công chúng Việt Nam qua chiếc cầu màn bạc. Ông “phải lòng” đạo diễn Huy Moeller hầu như ngay lập tức, mối duyên giữa âm nhạc và điện ảnh đã giúp ông tìm thấy đúng vị đạo diễn từng có các nghiên cứu âm nhạc và mối quan tâm tương tự đối với âm nhạc dân gian.

Website chính thức của dự án điện ảnh indochinatheatre.com, lấy tên Nhà Hát Đông Dương cũng đã được công khai đăng tải ngay sau cuộc gặp gỡ đầu tiên với đạo diễn Huy Moeller và nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh.

Vị giáo sư dư adrenaline đã tự đặt bản thân trước hai mối nguy cơ nhỡn tiền: hoặc ông đang có trong tay một dự án phi thực tế mang giá trị hài hước, hoặc ông đang phát ngôn đầy khinh suất về dự án hãy còn trong trứng nước trước công luận, không khác lắm so với việc tự tay vẽ ra một con cọp vằn vện dữ dằn và tự ép mình leo lên lưng nó mà cưỡi.

“(cười) Tôi hoàn toàn tự tin vào trực giác của mình khi phôi thai ý tưởng này từ trong quá trình nghiên cứu. Việc gặp gỡ các đối tác để hình thành ê-kíp dự án cũng hoàn toàn là một lực hấp dẫn tự nhiên giữa những người tâm huyết. Tôi tin vào duyên số và hấp lực tự nhiên sẽ gắn kết những ‘tay chơi’ thực thụ lại với nhau. Phần việc còn lại là lên tiếng để tăng hấp lực thu hút ấy, chúng tôi cần một công ty truyền thông và những người muốn cùng lao vào cuộc để thật sự khai hỏa cho cuộc chơi lớn, với máu ‘chịu chơi’ của dân nghệ sĩ, và cái đầu tỉnh táo của những kẻ chưa bao giờ biết thua”.

 DSC_5332

BOX: Vu khuc dong duong

Chỉ vài giờ sau cuộc nói chuyện với tôi, GS.Nguyễn Lê Tuyên đã được thỏa sức làm điều mà ông cho rằng mình có thể làm tốt nhất: thuyết phục và bảo vệ cho giá trị của đờn ca tài tử trước hàng trăm học giả tại Hội nghị Quốc tế Về Âm nhạc Truyền thống tại Thượng Hải, đi cùng là những nhạc công của ban đờn tài tử, như một cuộc viễn chinh lần thứ hai của tiếng đàn Gia Định hơn 100 năm sau ban đờn của thầy Nguyễn Tống Triều, dùng thứ ngôn ngữ thuyết phục nhất để bảo vệ và tôn vinh cho một niềm kiêu hãnh lâu đời từ những miệt sông nước thuở khẩn hoang.

Chính xác đờn ca tài tử ở góc độ văn hóa và lịch sử, vượt trên tầm nghệ thuật cổ nhạc, đó là một lối sống! Hơn mọi tư liệu dẫn chứng, tự thân âm nhạc đã mang sự thuyết phục của lối hòa đàn ngẫu hứng, tính tự sự và những phiên bản đa diện khi được lưu truyền theo hình thức dân gian. Trong tất cả những phiên bản lưu truyền đó, thì bản đàn Vũ khúc Đông Dương là một mảnh ghép trội bật mang nhiều ý niệm có giá trị về tính học thuật lẫn tinh thần văn hóa giao thoa của Đông Dương thời thuộc địa. Sắp tới, tôi còn tham vọng kêu gọi sự hỗ trợ từ chính phủ Pháp trong việc lần tìm danh tánh từng vị nhạc công trong ban đờn đã thực hiện chuyến lưu diễn xuyên lục địa cách đây gần 2 thế kỷ”.

Vào cùng thời điểm, trang web chính thức của dự án phim Nhà Hát Đông Dương tại indochinatheatre.com cũng bắt đầu đi vào hoạt động, khai hỏa cho một cuộc chơi liều lĩnh khác của vị giáo sư đầy lắm mộng.

Sau cuộc viễn chinh đến Thượng Hải, cuốn sách nghiên cứu của ông về đờn ca tài tử cũng được nhà xuất bản Phương Nam cho ra mắt vào tháng Chín 2013, với tham vọng tái hiện lại một phần Vũ Khúc Đông Dương huyền thoại tại Marseille hơn 100 năm về trước ngay trong buổi ra mắt sách.

Có vẻ cuộc viễn chinh của vị giáo sư họ Nguyễn ngược thời gian theo dấu giọt đàn tài tử vẫn chưa tới hồi ngơi nghỉ.

“Cuộc đời nên là cuộc chơi không biết tới hồi tàn cuộc, chính những tư liệu, những con người và những cơ hội tình cờ tìm thấy trong quá trình rong ruổi ngược đời với đờn ca tài tử sẽ dẫn lối tôi đến những dự án khác, những mê lộ mới. Chỉ cần giữ được sự tò mò và liên tục đặt ra những câu hỏi đòi được trả lời, bánh xe năng lượng sẽ tiếp tục vận động. Tất cả chúng ta rồi sẽ nghỉ ngơi, nhưng chưa phải là ngày hôm nay!”lê tuyên thúy miêu

cuối nẻo cuồng phong

Trác Thúy Miêu

Nàng là loại đàn bà thụ hưởng không khoan nhượng. Đặt nàng vào khánh tận, tước mất của nàng những gã trai si tình, nàng sẽ lôi giật tấm màn cửa xuống đẻ làm nên một bộ váy trứ danh, và có bằng được mọi ngưỡng mộ phù hoa mà nàng xứng đáng. Nàng cần được khiêu vũ, tán tỉnh, sùng mộ, và nàng cần được hôn thật say đắm, đôi khi là bởi bất cứ ai.

Với Nàng, tất cả những điều đó không hề phi nghĩa khi nó đại diện cho danh dự giai nhân. Nàng bọc điều, hư hỏng, vô ơn, khốn cùng và luôn túng thiếu.

Nhưng nếu mỗi người đàn bà đều tìm thấy lối về thánh địa Tara của riêng mình, họ đều đã phải bỏ lại rất nhiều dọc đường thiên lý những gì thừa thãi để đủ nhẹ mà ngược chiều gió tìm thấy Bằng An.

19_6128_Scrltt_on_Log__Ta

Bạn là cô nàng phù phiếm, bạn thông minh mẫn tiệp, độc lập, cự phách trong kỹ thuật chăn dắt đàn ông, bạn vừa thực tế, vừa tham lam không buông bỏ dù một giấc mộng điên khùng phi nghĩa nhất? Người ta có thể cho rằng bạn là hiện thân của thái độ sống tân kỳ hiện đại, cho đến khi ngược dòng lịch sử, tìm về cuộc nội chiến xứ cờ hoa và gặp lại tiểu thư Scarlett mặc váy dạ hội may từ rèm cửa, băng biển lửa, điên cuồng tung roi trên cỗ độc mã kiệt quệ, bạn sẽ hiểu – chưa có gì thay đổi quá nhiều trong thế giới của đàn bà, từ những trận gió hoang dại thời Scarlett O’Hara.

Và ngày nào những cơn gió hoang của thời cuộc còn đổi chiều bạo liệt, thì vẫn chưa có gì thay đổi quá nhiều trên những chuyến đời quanh quẩn của những cô gái trở thành đàn bà nơi xứ lạ, bước qua những người đàn ông và những vết thương chỉ để trở về nhà – nơi họ tìm thấy điều phải mất một quãng đường quá xa để trở về và tìm thấy: Cõi Bình Yên.

Mọi cô gái luôn bắt đầu với một Ashley Nào Đó

Đã bao thập niên qua, người ta vẫn không thể quên hình ảnh nàng chỉ sau một lần ngự giá màn bạc cine, với mái tóc đen huyền, khuôn dung nhỏ nhắn, đôi mắt to ướt át và khuôn miệng bé như đầu đinh ghim, đôi khi mím lại thành một đường chỉ mỏng uốn cong ngạo mạn nơi khóe mép – một vai chánh toàn diện cho một thiên tiểu thuyết trên cả lãng mạn và bi tráng.

Nàng ngạo nghễ trình diện thế giới trong hình hài 16 tuổi như vậy – một trái táo xanh dốt, ngọt chua đồng bóng, cô nàng tiểu thư miệt vườn sôi nổi và dễ gây say của thái ấp Tara. Trong cuộc ra mắt đầu tiên với văn học và điện ảnh, Katie Scarlett chưa-hẳn-đàn-bà chỉ là một tiểu thần nữ thôn trang đỏm dáng, đa chiêu, ích kỷ và xinh xẻo như đúng mẫu những cô nàng con cưng của phần số. Tệ hơn nữa là cô nàng hoàn toàn ý thức được điều đó. Người ta có thể bắt gặp cô nàng ở bất cứ đâu bên ngoài điền trang Tara, dù là Mã Nhật Tân cận đại, hay lang thang đâu đó trong các department store thời thượng giữa Sài-gòn tạp chủng.

Bạn – cô gái tân thời, cũng có thể tìm thấy mình trong đó, khi mà người ta trẻ với mọi quyền ưu tiên của thanh xuân và nhan sắc, cũng chính là khi người ta vật nài thiếu thốn nhất bởi ô trống cuối cùng còn chưa kịp đong đầy. Cả bạn nữa, cũng là cô nàng bọc điều tội nghiệp.

scarlett

Nhưng chớ nhẫm lẫn Scarlett với những cô em tóc vàng hoe nhạt chuyện. Nàng uyên bác, láu lỉnh và hiếu kỳ như một con cún con. Nàng trội bật hơn cả bởi phía trên đôi mắt búp bê là một vầng trán đĩnh ngộ và khóe mép luôn sẵn sàng uốn cong đầy miệt thị – một dấu hiệu rõ rệt của một nền giáo dục vô nhiễm và cầu kì. Người ta sẽ nghĩ nàng sinh ra chỉ để làm lệnh bà hay nữ tướng cướp, cho đến khi nàng ngớ ngẩn si tình như bất kì gái non nào, trước một con gà trống bảnh chọe và hời hợt của nhà Wilkes lập dị – những người chỉ kết hôn giữa anh chị em cùng dòng tộc.

Tuổi trẻ không thể hoàn thiện được nếu người ta không thiếu thốn một điều gì đó, và có thể là bất cứ điều gì. Anh chàng khó gần nhất sẽ là anh chàng ám ảnh nhất, mọi cô gái trẻ đều cần một bi kịch nhỏ của riêng mình để mặc sức cài đính lên đó một vầng hào quang nhân tạo.

G

Khi người ta còn trẻ, người ta cần phải thấy thiếu bất cứ một Ashley Wilkes nào đó, hững hờ và ẻo lả đúng điệu một thanh niên quý phái miệt vườn, để cô nàng đỏng đảnh biến thành như một chú cún bất an, tuyệt vọng và hoàn toàn bất lực. Cô ả “thạch sùng còn thiếu mẻ kho” sẽ thấy khánh tận và tuyệt vọng khi cả thế giới chỉ thiếu mất đúng một nam thần miền Nam có mái tóc vàng. Nàng vùng vằng hờn dỗi một nỗi sầu không bao giờ lỗi mốt, và nàng vô ơn với tất thảy đặc ân của số phần, khinh bạc dù chỉ cần vài năm sau, những hồi ức về anh chàng nhạt vía cũng đủ khiến cô nàng phá ra cười lăn lộn.

Nhưng lúc này, nàng, và bất kì cô nàng nào khác, những nữ hoàng bi kịch và những nữ chiến binh bất bại, hẵng còn quá trẻ trung, mê đắm và hung hăng để hiểu một chân lí rất tầm thường: Ashley, cũng như mọi anh em từ đồng tuế đến hậu duệ của chàng, vẫn chọn khép chặt cửa khuê phòng cùng với một người bạn phối ngẫu nhàn nhạt và an toàn. Họ có thể tán thưởng vẻ nũng nịu yêu kiều của một O’Hara kiêu hãnh, nhưng không dại dột hoặc không đủ bản lãnh để chọn nhốt chung chuồng với con mèo cái bốc đồng và diễm lệ ấy – một tạo vật vượt quá tầm thống trị của họ, những gã Ashley An Toàn.

Góa phụ thiếu niên và gã hoang đàng sáng giá

Lòng tự trọng bị tổn thương đến cuồng nộ dấy lên cùng lúc với cuộc đại chính biến Bắc Nam của lịch sử Hoa Kỳ. Sĩ quan kiêu hùng Ashley dìu nàng Melanie, mà so với Scarlett là quá đỗi mờ nhạt vô vị, của mình vào căn phòng chồng vợ, bỏ lại phía sau cánh cửa khóa chặt một tiểu nữ thần căng phồng tía tái trong cơn đại thịnh nộ của ghen tuôn, tổn thương và kiêu hãnh. Cơn thịnh nộ được trút lên đầu bất kì tay dớ dẩn nhất cầu hôn với nàng lúc đó bằng sự chấp thuận. Nghiễm nhiên, Scarlett trở thành phu nhân của cậu Charles đang phát cuồng vì lòng biết ơn vô hạn trước sự hào phóng bất ngờ của thần Tình Ái.

189743_1239927343310_400_300

Cùng đợt sóng hàng loạt thanh niên từ những điền trang hòa lành nhập ngũ, cuộc nội chiến tước khỏi vầng hào quang của nàng những kẻ ái mộ trung thành, và Ashley – lí tưởng sống của nàng, sao khuê của nàng, con mồi điên cuồng của cơn háu tình về si đắm, vừa sặc mùi ăn thua đủ của nàng. Cú trả thù vặt bằng cuộc hôn nhân hờ đã chẳng thể làm Ashley ghen tuông đau khổ như mong đợi. Chàng ra đi, cùng tất cả mọi gã trai miền Nam, những kẻ hàng ngày vẫn tắm tưới nàng bằng mọi đón đưa êm ái, để mặc tiểu nữ thần ê chệ trước nụ cười vạch rãnh chân chim của tay thương nhân gian hùng lắm điều tiếng miền Charleston, Rhett Butler. Gã vô hiệu hóa lòng kiêu hãnh trẻ nít của nàng, xuyên thấu cả lớp váy phu nhân cùng những điểm tô phấn sáp mỏi mòn của nàng để che khuất cuộc tình tẽn tò và nỗi khánh tận ê chề về sau.

tumblr_liqomsbEAY1qbgi86o1_500

Cuộc hôn nhân hời hợt kết thúc như bắt đầu, Scarlett nghiễm nhiên trở thành góa phụ bởi một trận sởi của đức ông chồng tội nghiệp. Từ điền trang an hòa miền Nam nước Mỹ, tiểu thư O’Hara trưởng thành, chưa kịp làm đàn bà đã thành quả phụ, dấu đôi bàn chân nhỏ thoăn thoắt bước vũ cồn cào bên dưới lớp váy tang đen khả kính: “Than ôi, mạt vận rồi! Rồi sẽ chẳng còn điều gì xảy ra với cuộc đời tôi nữa!”

Chúng ta đã bao nhiêu lần thốt lên như vậy sau một cuộc tình hỏng kiểu? Nôn nóng háu đói trước những mời mọc còn quá ê hề của cuộc sống mà tưởng như vĩnh viễn không còn dành cho cô nàng xúi quẩy đáng thương duy nhất. Chúng ta thật đã ngô nghê biết bao!

Không buông bỏ hình bóng Ashley một cách đầy tuyệt vọng và phi lý, Scarlett giang tay cưu mang cả người vợ đang mang thai của tình quân trong mộng, cùng đối mặt với cuộc sống giữa lòng cuộc chiến. Không chỉ một lần, nàng tuyệt vọng đón nhận sự hào phóng từ gã Rhett tinh quái nọ, dù là một bản khiêu vũ trong chiếc váy tang đen, chiếc mũ hoa cẩm tú “còn thơm mùi Paris” đỏm dáng,… Nhưng gã chỉ từ chối nàng điều duy nhất mà nàng quá sẵn lòng ban phát: “Mở mắt ra đi cô em, tôi không định hôn cô đâu, bởi cô chỉ đang thèm được hôn quá thôi đó mà!”

tumblr_m7scdkmq3u1ra2wj7o1_400

Và chỉ với một cử chỉ khước từ trịch thượng như vậy từ gã hoang đàng trắc nết, đã khiến Ngài Butler trở nên bội phần kích thích, sáng giá, và đáng chiếm hữu biết chừng nào.

Tông đồ, quỷ dữ và người đàn ông được chọn lựa bất kì

Mọi mối quan hệ với một Rhett Butler đều đáng được coi là món trang sức sáng giá cho một người đàn bà. Ít nhất là một khi Ashley Wilkes vẫn còn bặt dạng giữa cuộc hỗn chiến. Cùng lúc, dẫu sao thì nàng vẫn giữ chặt vợ chàng bên cạnh trong vòng tay bảo bọc cao thượng của mình, cũng là để giữ trong tầm tay mối dây duy nhất giữa nàng với cuộc tình dai dẳng tuyệt vọng của mình.

G

Ả tiểu yêu đỏng đảnh và đa chiêu vẫn tiếp tục cuộc chơi tinh quái. Trong cử chỉ tưởng như thoát ra từ lòng trắc ẩn, bản năng bao bọc của người đàn bà vĩ đại, và ở tư thế gia ơn với người trong mộng, nàng ẩn chứa trong lòng một khoái cảm độc địa khi đặt gia đình Ashley vào vòng tay bảo trợ của mình. Nhưng chính bên trong cái trù hoạch độc địa ấy, Scarlett lại nảy sinh một bản năng bảo vệ vợ con của người mình yêu một cách mãnh liệt. Bản ngã hào hiệp và thói ích kỷ độc địa của đàn bà đang yêu đã kiến tạo nên nàng như thế, nửa tiên nữ, nửa ác thần. Cái trách nhiệm cao thượng vừa phi nghĩa ngông cuồng biến tiểu thần nữ thái ấp Tara thành người đàn bà thực tế, quyết đoán, thủ đoạn, và không khoan nhượng một cách thật thà, như mọi người đàn bà sinh ra để sống sót. Nàng có thể cưu mang vợ của người tình, và cũng có thể kết hôn với hôn phu của em gái. Nàng có một lý trí nhạy bén, một bản lãnh phi thường và một thanh danh hạng bét.

Giữa cao trào chính biến, Scarlett băng bể lửa tìm thoát tâm bão cuộc chiến tìm đường sống. Nàng điên cuồng và cô độc trên cỗ mã xa mang theo người mẹ nhợt nhạt và đứa hài nhi vừa sinh hạ dọc đường. Một thứ lí tưởng điên rồ, phi lý, nhưng cao thượng và bi hùng một cách lộng lẫy rất đàn bà trên cái phông nền bối cảnh của cuộc nội chiến đẫm máu.

gwtw-silloette

Nàng khiến người ta nghĩ đến vị tông đồ hộ giá Mẹ Đồng Trinh trong đêm tìm về máng cỏ Bethleem.

Người ta, hay nói đúng hơn là đàn bà có thể trở thành những siêu anh hùng và những vị thánh khi có một cái cớ, đôi khi là cái cớ phù phiếm và vị kỷ nhất do họ tự tô điểm nên đầy diễm ảo.

Hãy cho người đàn bà một người đàn ông, cô ta sẽ tự lo liệu phần còn lại của thiên tiểu thuyết đàn bà.

Ngày tàn của những nam thần tráng men

Có hai loại phụ nữ trên đời: loại thứ nhất coi “thụ hưởng” là một từ xấu. Và loại còn lại.

Họ tham lam, họ ham sống và phải sống sung sướng, họ thậm chí có thể có tất cả điều mình muốn đến cùng cuộc hôn nhân với người đàn ông biết hôn nụ hôn đình đám nhất lịch sử điện ảnh. Giá như Rhett Butler không có một bản lĩnh tài chính vững vàng của tay buôn súng thời chiến, có thể nàng đã yêu người chồng thứ 3 này của mình nhiều hơn chăng? Scarlett tội nghiệp, nàng vẫn thiếu thốn cùng cực trong cuộc sống xa hoa hậu chiến của mình.

scarlett-ohara--large-msg-13185297937

Nàng luôn luôn thiếu thốn một điều gì đó, và việc này khiến nó trở nên hệ trọng quá mức bình thường. Ashley, vẫn là Ashley, là một hình mẫu thích hợp cho bức tượng thánh thiêng liêng lóng lánh đã được vay mượn để người đàn bà sống, yêu, mơ mộng, và đạp bằng mọi chướng ngại. Chính quãng thời gian quá dài mà nàng đầu tư cho mối tình đơn phương ấy đã khiến nó trở nên hào nhoáng và thiêng liêng, bao bọc vòng hào quang xung quanh mái tóc hoe vàng và khuôn diện thanh tú nhợt nhạt của quý ngài Ashley Wilkes…cho đến khi Melanie qua đời, bỏ lại Scarlett không đối thủ và một nam thần ủ dột lỗi thời và nhạt vía. Cái cốt lõi háo thắng và phù phiếm của người đàn bà tiu nghỉu lụi tàn, không đủ khiến nàng đánh đổi vòng tay kẻ mạnh của Rhett Butler để chiếm hữu một bức tượng được tô màu sặc sỡ.

Chúng ta, những chiến binh háo thắng trong cuộc mưu cầu hạnh phúc, đôi khi si mê chính cuộc chinh chiến lẫy lừng lẫm liệt hơn cả phần thưởng cuối cùng. Bạch mã hoàng tử một thời hiện nguyên hình thật thà một sĩ quan thất trận, một nhà quý tộc thất thế, và một người đàn ông góa bụa, đặt lời tỏ tình muộn mằn lên đầu gối người đàn bà đã đi qua một cuộc chiến trong vai trò thánh nữ, mẹ, và đàn bà.

Lớp tráng men mỡ màng tróc vảy, trớ trêu đặt dưới chân nàng nguyên vẹn một Ashley Wilkes vô can, thất hồn và xa lạ – kẻ xứng đáng được để yên trong nỗi muộn phiền góa bụa sau một vòng tay an ủi muộn màng.

212216-gone-with-the-wind

Sự mất mát cuối cùng và miền bằng an bất biến

Sự thương hại và lòng từ tâm mà Ashley tội nghiệp còn có được từ Scarlett lại, oái oăm thay, chính là thứ duy nhất nàng còn có được từ người đàn ông duy nhất biết về nàng và từng thật sự yêu nàng.

Mọi cố gắng của Scarlett đã quá muộn, Rhett đã cho đi sự kiên nhẫn cuối cùng trước ngưỡng tự trọng tôn nghiêm của đàn ông tính. Cuộc ái ân cay nghiệt cuối cùng, một đứa trẻ chết yểu trên lưng ngựa và một cuộc sẩy thai đã là quá đủ để hoàn toàn phá hủy cuộc hôn nhân thứ ba. Trong nỗi đau đầy cáo buộc của Rhett, Scarlett soi mình để nhìn thấy sự thất bại ê chề qua người chồng kiên nhẫn và những đứa trẻ bị bỏ rơi bên lề chinh chiến của người đàn bà lắm cuồng vọng “Làm mẹ à? Một con mèo còn biết làm mẹ hơn cô!”

Lần thứ hai trong đời, nàng có tất cả. Và cũng như mọi lần, nàng khánh kiệt, túng thiếu, cô độc đến khốn cùng. Rhett sập lại cánh cửa trước mọi cố gắng tuyệt vọng của Scarlett để được yêu chồng như một người vợ tôn ngưỡng và ăn năn.

the-infamous-scene-of-gone-with-the-wind

Người ta cần đến hơn quá nhiều lần mất mát để đặt xuống những phù phiếm thừa thãi, và những muộn màng không thể nào sửa chữa.

Người ta cần đến hơn quá nhiều lần mất mát những điều sinh ra để mất mát: những người đàn ông và những đứa trẻ mong manh như nhau, chỉ để nhận chân điều thiêng liêng, an toàn, và chung thủy cuối cùng.

Có thể Thượng Đế luôn biết Ngài đang làm gì trong bức đại đồ phần số, trong khi những đứa con cưng của Ngài mù lòa trong quá nhiều nhu cầu, và những thiếu hụt tưởng như quá chừng to tát. Ta luôn ngoái lại sau lưng và xót tiếc những điều bất khả vãn hồi, để tiếp tục tạo ra những phần phước bị lãng quên ngay trước mắt. Phải mất mát và đau đớn lắm để nhìn ra miền bình yên được đặt để sẵn cho mỗi người.

Điều đến cùng ta khi đến với cuộc đời này, và bất biến cho đến ngày cuối – như một mảnh đất để ở và mảnh đất để nằm lại.

Và nút thắt huyền vi của tác phẩm được cởi ra, điềm nhiên như sự thức tỉnh sau cú rơi chạm đáy:

–       Rhett, đừng bỏ em, rồi em sẽ đi đâu?

–       Thật tình, cưng ạ, anh mặc xác!

Rhett3

Không lí giải, không biện luận, và không còn cần quá nhiều dữ kiện để trong sự mất mát cuối cùng, người ta mới có thể nhận ra điều không-thể-mất.

Nàng trở về không vì mệt mỏi, bởi người ta đâu thể tìm về Bằng An như một chặng nghỉ chân.

Nàng trở về mà như lần đầu đi đến. Cuối cùng thì mỗi người đàn bà đều có cho riêng mình một Tara, tự tại, an nhiên, và bất biến, trước và sau tất cả những chặng viễn du. Rhett Butler bước ra khỏi đời nàng, giúp nàng đặt xuống ảo mộng thừa thãi cuối cùng.

Đoạn đời của giai nhân điền dã bị cuốn theo cơn lốc thời cuộc như thế: đúng một vòng bão tố, để an nhiên khép lại đúng gốc cây định mệnh để, như ngài Gerald O’Hara đã từng, nhìn bao quát mảnh đất máu huyết thiêng liêng “Tara! Nhà! Tôi về nhà thôi. Và sẽ nghĩ ra một cách nào đó để có lại được chàng. Cuối cùng thì…ngày mai sẽ luôn là một ngày mới!”

gone-with-the-wind-tara2

Cơn gió thời cuộc của đại chiến Bắc-Nam đã cuốn bông hoa miền Georgia đi đúng một vòng lốc xoáy, để đặt nàng lại chính nơi cuộc viễn du bắt đầu, trong hình hài người thiếu phụ ba chuyến đò hai lần góa bụa. Nhưng kẻ sống sót sau cuộc chiến vẫn chưa thể ngừng tồn tại, vòng miên viễn còn xoay theo chiều gió, và rất có thể, bình yên chưa hẳn sẽ đến vào ngày mai.

Nhưng rồi mỗi Tara của mọi Scarlett vẫn luôn ở đấy, nơi để tìm về, xoa dịu và chữa lành, an nhiên và tự tại, như điều duy nhất có thật để xứng đáng cho mọi cuộc chiến sinh tồn, mỗi giá trị bản ngã chí tôn và lòng kiêu hãnh cùng tình yêu thiêng liêng bất biến.

Hollywood's Greatest Year: The Best Picture Nominees of 1939

mật mã Christian Dior

 

Trác Thúy Miêu

Không dưới 300,000 bông hoa tươi tại buổi diễn haute couture trong mùa Thu Đông 2012 mới đây tại Paris, nhắc nhớ đến những đóa hoa lộn ngược đã từng đảo lộn cả cục diện thời trang thế giới vào mùa Xuân năm 1947, cũng tại buổi diễn nhà Dior.

Vượt qua cơn chao đảo sau sự ra đi ô nhục của Galliano, chưa bao giờ những sáng tạo của tổ nghiệp Christian Dior lại được nhắc tới nhiều đến thế. Nhưng không mấy ai biết, không chỉ khai sinh ra trường phái New Look, cải mệnh cho cả nền thời trang haute couture hãnh tiến của Pháp, bên dưới những chiếc chân váy xòe phù phiếm của thiết kế New Look, Christian Dior đã cài cắm cả một đại đồ công nghệ ready-to-wear cho thị trường thời trang dân chủ, tiên phong cho chiến lược license và chiêu bài phụ trang – mà ngày nay vẫn đóng vai trò vũ khí tối thượng trong bài toán tồn vong của mọi thế lực thời trang trên thế giới.

Raf Simons đã phục chế và cải biên mỗi 20 yard vải xa xỉ của New Look, nhưng liệu gã có là người thật sự nắm giữ chìa khóa mật mã Dior?

Tay quân nhân đa cảm

Ngược chiều lịch sử thời trang couture Pháp, người ta không thể không nhắc đến thanh danh một thời lừng lẫy Lucien Lelong – người hầu như không bao giờ trực tiếp thiết kế, mà chỉ khai triển các ý tưởng sáng tạo qua các thiết kế riêng của mình. Đó cũng là lí do vì sao ông còn được biết đến như một lò tôi luyện mát tay cho nhiều tên tuổi couturier Pháp về sau

Năm 1942, một lần nữa, Lelong lại minh chứng cho sự sáng suốt trong thuật dụng nhân khi tiếp nhận tay quân nhân phục viên trẻ tuổi Christian Dior vào vị trí thiết kế chính bên cạnh Pierre Balmain. Kinh nghiệm duy nhất của cậu Christian lúc này là những bức vẽ thời trang được bán trên vỉa hè với giá 10 xu, một gallery hội họa bị sập tiệm, và một quãng thời gian học việc tại tiệm Robert Piguet trước khi nhập ngũ.

Vào thời kỳ này, Paris đang trải qua kỳ nô dịch của các tông đồ, trong cuộc vị kỷ đặc trưng của tính phù phiếm thời trang, khi không chỉ Christian Dior, mà các tên tuổi sáng giá như Jean Patou, Jeanne Lanvin và Nina Ricci, cũng phải thân chinh nghênh đón sự ưu ái đến từ kẻ thắng trận – họ trở thành những nhà thiết kế và bạn thâm giao của các phu nhân của sĩ quan Quốc xã cao cấp đồn trú tại Paris. Trong khi đó, người em gái của Dior là Catherine lại gia nhập quân kháng chiến Pháp. Cô bị Gestapo bắt và đưa và trại tập trung Ravensbruck, nhưng may mắn thoát chết và được trả tự do vào 1945. Về sau, với lòng tự hổ thẹn của bản thân, và sự tự hào về người em gái, ông đã dành tặng dòng nước hoa đầu tiên Miss Dior để vinh danh Catherine.

Khía cạnh xúc cảm đầy cá nhân tính này của Dior cũng thể hiện thuộc tính mẫn cảm và lãng mạn của các couturier Pháp. Mỗi bộ sưu tập của ông luôn đi kèm với mẫu áo khoác được đặt tên theo thị trấn sinh trưởng của Dior – ‘Granville’, và ít nhất luôn có một người mẫu trình diễn với loại hoa mà ông yêu thích: lilly of the valley.

Corolle – vòng hoa lập quốc

Năm 1946, chững chạc bước khỏi chiếc nôi tiệm Lucien Lelong, Dior chính thức đặt viên gạch đầu tiên cho đế chế haute couture lẫy lừng mang tên mình, với thủ phủ đặt tại trái tim của Paris – nhà số 30 đại lộ Montaigne, cùng sự hậu thuẫn của tài phiệt Pháp Marcel Boussac. Họ đã cùng nhau thiết lập cả một tiểu vương quốc với 6 triệu franc và 80 nhân công tinh nhuệ được chắt lọc khắt khe nhất.

Tiệm Christian Dior tại nhà só 30 Avenue Montaigne là một đế chế hơn là một tiệm thời trang thượng lưu, bởi ngay từ cuộc trình diễn ra mắt đầu tiên, Dior đã đơn phương tung ra cả một cuộc cách mạng không tiền khoáng hậu, vĩnh viễn trở thành dấu ấn trứ danh của không chỉ đế chế Dior, mà còn là tiền đề cho bộ mặt lịch sử thời trang nhân loại về sau: huyền thoại New Look.

Thoạt tiên, bộ sưu tập độc lập đầu tay của Dior được đặt tên là Corolle (Vòng Hoa), chính Carmel Snow – tổng biên Harper’s Bazaar khi ấy, đã mệnh danh New Look cho bộ sưu tập, khi thốt lên “Đây quả là một cái nhìn mới (new look) của thời trang!” Còn với Dior, khi nhận xét về form dáng chủ đạo của cú tung đòn chào sân này, ông chỉ sung sướng thốt lên “Tôi đã thiết kế nên những nữ thần hoa!”. Nhưng đó không hề là những bộ giả trang biết người mặc thành những bông hoa lộn ngược, mà cho họ một vẻ yêu kiều phù phiếm nhưng tinh tế với vòng eo mong manh và vòng hông phồn thực.

Bộ sưu tập được tung ra ngày 12 tháng Hai, 1947, như đòn chiến lược phủ đầu của tân đế chế dưới hình hài bộ sưu tập Xuân hè 1947. Về sau, các mô tả còn nhắc lại hình ảnh 90 người mẫu được tuyển chọn cầu kì, khoan thai diễu hành tại đại bản doanh 30 đại lộ Montaigne với hai dòng thiết kế được đặt tên ngộ nghĩnh “Mèo và Chó” và “Huit”.

Nhắc về ảnh hưởng New Look trong tư duy thiết kế của mình, Dior giải trình trong hồi ký: “Tôi muốn những thiết kế của mình được xây dựng đúc khuôn trên chính sự tuyệt mỹ trong cấu trúc thân thể quý bà – những người điệu đàng trong cả lúc quét nhà”.

Ông tin rằng các nữ thân chủ đáng thương của mình đã quá ngột ngạt sau thời chiến tranh kiêng khem tằn tiện, và ngấy đến tận cổ những bộ váy tuềnh toàng kiệm vải như những bộ đồng phục khắc khổ. Cũng như những quý ngài quân nhân, những người đàn bà của họ cũng cần được xoa dịu, hồi sức, và đặt về đúng vị trí được cưng chiều của mình sau cơn bĩ cực của Âu châu trong chiến cuộc. Ông quyết định chào mời họ một hình thái mới của sự yêu kiều đỏm dáng đến cùng cực, được nhiệt tình lăng-xê bởi những minh tinh diễm kiều nhất.

Giới thượng lưu Âu châu thở phào hân hoan chào mừng sự trở lại của những bộ cánh xa xỉ hào huê, các nhà thiết kế cùng thời cũng không khỏi bị ảnh hưởng bởi sức thuyết phục hoàn chỉnh của New Look. Hiệu ứng cải mệnh được minh chứng hoàn hảo, Dior chính thức khoác bộ cánh mới cho toàn thảy giới thượng lưu châu Âu và Hoa Kỳ trong cơn sốt rần rật lan truyền từ mọi tủ quần áo của các nữ lưu hàng đầu xã hội.

Những bà hàng xén cục tính và các quý bà mau quên

Nhưng New Look đã không dễ dàng thuyết phục toàn xã hội Âu châu, khi này còn phân tầng giai cấp rõ rệt. Người ta gay gắt lên án thú chơi ngông của Dior khi thẳng tay cổ súy cho việc dùng 20 yard vải thượng hạng cho mỗi chiếc váy, khi mà các nữ thị dân trung lưu đáng kính vẫn còn o ép thói làm đỏm thuần chủng Paris của mình trong những chiếc váy cộc kiệm vải như một tàn dư khắc khổ của kinh tế thời hậu chiến. Trong hình hài một cuộc cách tân táo bạo, New Look lại dư dả yếu tố hoài cổ để thắng lớn khi nhắm vào ký ức vàng son của thời trang tiền chiến, thậm chí lui về các trào lưu hoàng kim đầu thế kỷ, với vòng eo siết chặt sắc màu trưởng giả, những chiếc bustier lồng gọng xương, táo tợn phô phang bờ ngực đẫy đà ngổ ngáo. Tất cả là một hình hài mới của những madame Bovary, các cô gái nhà Gibson của một thời văn chương lẳng lơ khuê các.

Trong một buổi chụp ảnh lăng-xê New Look, các người mẫu nhà Dior đã bị tấn công bởi đám đông các bà nội trợ phát cáu trước những chiếc váy trưởng giả ngoài tầm ngân quỹ đám đông. Các couturier phái thủ cựu khinh miệt những cặp găng tay, kiểu giày và nón lích kích lang cang của New Look, và coi Dior như một gã hàng xén kiếm lời từ những món quà vặt bán kèm hơn là tôn vinh giá trị tối cao và duy nhất của thiết kế couture.

Nhưng cuộc phản kích không kéo dài quá lâu, cùng dòng hồi hương ồ ạt của giới thượng lưu, New Look trở thành một liệu pháp xoa dịu tinh thần và khiến người ta mau chóng quên lãng dư chấn kinh hoàng của cuộc đại chiến. Paris vụt trở về hình hài huy hoàng, ít ra là về hình thức của một kinh đô hoa lệ, tâm điểm hành hương của những quý bà vẫn ôm lòng nuối tiếc những cửa tiệm thời trang cầu kỳ và phù phiếm trong cơn lốc New Look.

Sau khi minh tinh Rita Hayworth và Margot Fonteyn xỏ thân hoa vào những yard vải yêu kiều của New Look, thì Dior chính thức chinh phục cả các bậc nữ lưu quyền quý của hoàng gia Anh quốc. Ông được vời đến biệt điện để thực hiện catwalk show vương giả đặc biệt dành riêng cho hoàng tộc, khiến vua George V âu lo cấm tiệt hai vị công chúa trẻ là Elizabeth và Margeret mặc bất cứ mẫu New Look nào, để nêu gương giản dị cho con dân Anh-quốc, khi này vẫn lao đao thắt lưng buộc bụng trên đống hoang tàn hậu chiến, dù chính New Look cũng ủy lạo form dáng “thắt lưng buộc bụng”, thậm chí có phần cực đoan triệt để (!)

Mặc tình, các công nương hoàng gia lại tiếp tục gia nhập câu lạc bộ thượng khách nhà Dior, kéo theo toàn thể các nữ yếu nhân Anh quốc. Cùng lúc, với ảnh hưởng của cô đào vương giả Grace Kelly, New Look chính thức chinh phục cả hai phe tân cựu, và báo hiệu hoành hành Hollywood trước tiên, như để khai pháo cuộc tấn công bạo liệt nhất vào thị trường thời trang Tân Thế Giới.

New Look: Chiến lược thiên tài ẩn trong tầng váy couture

Dior chào mời cho Paris một khái niệm nữ tính mới, với những đường cong cơ thể được tạo khối mạnh mẽ với thân trên bó sát, gia cố khung gọng, các miếng đệm ở hông càng đường bệ tôn vinh thân dáng như những chiếc đồng hồ cát của các nàng vệ nữ Paris. Cũng như trong trường hợp của chiếc váy mini huyền thoại Chanel, form dáng của New Look được ghi nhận đã xuất hiện từ trước thế chiến, và nhanh chóng bị thui chột do đột biến kinh tế khi cuộc đại chiến nổ ra. Cũng vào thời điểm ra đời của New Look nhà Dior, Christóbal Balenciaga, Jacques Fath và Charles James cũng tung ra form váy tương tự cho dạ phục. Nhưng chỉ có Ngài Dior mới can đảm đẩy New Look vào cả dòng thời trang mặc cho ban ngày – nơi nội lực tồn tại của nó được phổ cập mạnh mẽ nhất.

Cũng từ bước bành trướng sang tủ quần áo mặc ban ngày của quý bà quý cô mà New Look vững vàng trên vị trí khống chế mọi kiểu dáng trào lưu của thời trang thế giới cho đến tận thập niên 1960 và vĩnh viễn ghi dấu ấn không chỉ như một trào lưu, mà trở thành một trường phái mang tên Dior. Chỉ tính trong năm 1949, chỉ riêng dòng hàng mang âm hưởng New Look đã mang lại cho nhà Dior một khoản lợi nhuận 12.7 triệu franc.

Mỗi nửa năm một lần, Dior tung ra một tuyên ngôn mới, diễn dịch bằng cấu trúc, form dáng, và trực tiếp quyết định tốc độ vòng xoay của trào lưu thời trang thế giới, cùng áp lực lên các kỹ nghệ tân kì của kỹ thuật may thêu thủ công của làng nghệ nhân couture Pháp, thành hình các bước ngoặt tiền đề cho sự phát triển của haute couture Paris ngày nay.

Những sáng tạo đều đặn ấy của “kỷ Dior” còn mang ý nghĩa thương mại khi thúc ép các tín đồ vào cơn sốt đổi thay diện mạo tủ trang phục với một mật độ đều đặn theo mùa, vĩnh viễn xóa bỏ thói quen của hững chiếc váy “gia truyền” hằn nếp xếp và thơm mùi long não được tận dụng qua hàng thập niên, thậm chí hàng đời nữ chủ.

Ông cũng là nhà thiết kế đầu tiên đặt trọng sự phối hợp của tổng thể diện mạo, với trang phục chỉ là một trong các yếu tố cấu thành. Các thiết kế dòng New Look cho mãi đến về sau, đều đòi hỏi một sự phối hợp hoàn chỉnh của giày, găng và mũ, để có thể thành hình một tác phong chuẩn mực và toàn mỹ. Cũng chính từ tư tưởng này, Dior cùng đồng sự là Jacques Rouet tiếp tục tung ra dòng phụ trang xa xỉ, lúc này bị lên án kịch liệt bởi French Chamber of Couture. Phái bảo thủ cho rằng việc giá trị của couture bị quyết định bởi những món “quà vặt” ấy là một điều xúc phạm ghê gớm, và là một chiêu thuật mang màu sắc con buôn. Chỉ vài thập niên sau đó, chính chiêu thuật con buôn cùng những dòng sản phẩm phụ trợ như nước hoa, mỹ phẩm, túi xách và mắt kính đã trở thành những vị cứu tinh thần kì và bền bỉ của ngành công nghệ thời trang toàn thế giới nói chung, và haute couture nói riêng.

Được biết đến như ông hoàng couture của nước Pháp, nhưng chính Chrisian Dior cũng được phái ready-to-wear âm thầm thờ phượng như một vị tổ nghiệp, khi đã là nhà thiết kế đầu tiên thiết lập trường phái ready-to-wear với các cửa tiệm sang trọng ở đại lộ số 5 và 57, New York, vào tháng Mười Một, 1948.

Cũng trong năm ấy, như một nhà chiến lược khôn ngoan và sự hậu thuẫn sáng suốt của Boussac, Dior tiếp tục khai trương dòng nước hoa Dior Parfums và quả bomb thương mại chào sân mang tên Miss Dior, như một sự tưởng nhớ ưu ái đến người em gái Christina, và một năm sau là nước hoa Diorama, khiến cái tên Dior chính thức trở thành đại diện cho một phong cách thời trang hoàn chỉnh cho quý bà, từ lụa là xống váy đến mùi hương.

Năm 1949, một lần nữa, giới kinh doanh thời trang ngả nón tôn vinh nhà Dior là bậc thầy chiêu thức khi tiên phong trong việc phát hành license phụ trang, như một chiến lược đi cùng tư duy thiết kế của New Look, đòi hỏi sự đồng nhất của các món phụ trang giày, găng, nón,… đi kèm, để thật sự có được một lệ bộ New Look hoàn chỉnh và sành điệu. Từ New Look, các phụ trang thật sự được coi là những thành tố cấu thành của một mẫu thiết kế, và sự am hiểu hoàn mỹ của tư cách một tín đồ thượng lưu chân chính. Cùng với cộng sự khi này là Jacques Rouet, Dior phát hành các license, củng cố đế chế bởi một lực lượng đồng minh khét tiếng của các dòng phụ trang, từ vớ dài, khăn lụa, đến mỹ phẩm. Quyền lực các hội sở lan rộng toàn cầu, Dior trở thành thế lực bất bại và thành chiến lược mẫu mực cho các nhãn hàng thời trang cao cấp về sau.

Ẩn chứa phía sau những tán hoa cầu kỳ của New Look là một công thức thẩm mỹ và văn hóa hoàn chỉnh của bộ óc thiên tài Dior. Nhưng vì tính xa xỉ trong những tầng vải hào phóng, cùng sự bất tiện của vẻ cầu kỳ trong cấu trúc đã khiến New Look lu mờ ngay sau cái chết của cha đẻ Dior. Ông đã không kịp viết nốt những chương khai triển cho mệnh đề tuyệt hảo của mình.

Xương cá, ván bài định mệnh, hay ái tình cho cái chết của Vua?

Dior tiếp tục khuynh đảo thị trường thế giới vào những năm 1950, nhưng chưa lần nào lặp lại sự hiển hách của cú chào sân lẫy lừng New Look. Vào lễ kỷ niệm 10 năm thành lập, năm 1957, nhà Dior đã bán ra 100,000 bộ trang phục, còn bản thân nhà thiết kế thì nghiễm nhiên xuất hiện trên trang bìa tạp chí Time tháng Ba cùng năm.

Cậu Yves Saint Laurent trẻ tuổi – khi này mới 19, được Dior nhận vào vị trí trợ lí thân cận của nhà thiết kế. Hai năm sau đó, Christian Dior gặp bà Lucienne Mathieu Saint Laurent – thân mẫu của Yves, và thổ lộ quyết định chọn con trai bà làm kẻ kế vị về sau. Khi này, Dior mới 52 tuổi và đang kỳ sung mãn. Vào ngày 23 tháng Mười năm 1957 đáng nhớ đó, sau đúng 1 thập niên lập quốc lẫy lừng, Christian Dior – bậc thầy couture và chiến lược ready-to-wear của thời trang thế giới vĩnh viễn trút hơi thở cuối cùng tại Montecatini, Ý.

Cho đến nay, những lời đồn đại xoay quanh cái chết của ông vẫn phủ điểm thêm cho hào quang tên tuổi thiên tài một tấm màn bí ẩn sành điệu. Trong số những lời xì xầm của nội giới có cả một cuộc ái ân quá bạo liệt dẫn đến suy tim, một tai nạn hóc xương cá, và một ván bài gay cấn khiến trái tim đang suy yếu của thiên tài của thời trang thế giới ngừng đập.

Một số tờ báo lúc bấy giờ cho rằng nguyên nhân cái chết là do suy tim khi bị hóc xương cá trong bữa ăn. Tờ Thời Báo, vừa đăng ảnh Dior lên trang bìa 7 tháng trước đó, thông cáo về nguyên nhân cái chết là do suy tim bởi hưng phấn trong một van bài gay cấn. Nhưng chỉ riêng nhà quý tộc và thâm giao tri kỷ của Dior là Alexis von Rosenberg, Baron de Rédé, trong cuốn hồi ký của mình, là nhắc đến một tin đồn hành lang khác của giới nhạy tin, cho rằng trái tim thiên tài đã ngưng đập sau một trân mây mưa lừng lẫy – như một cái chết huy hoàng và đáng mơ tưởng nhất xứng đáng với một vị vua.

Cho đến nay, người ta vẫn tranh cãi dữ dội về các nguyên nhân này. Sự thật hiển nhiên duy nhất về Dior đó là cục diện thời trang thế giới đã vĩnh viễn ghi dấu ấn chóng vánh nhưng sâu sắc của ông.

Đế chế bị thôn tính và những kẻ kế vị

Ngai vàng bỏ trống của Dior khiến vương triều của ông trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Dường như không một ai trước và sau Dior có thể xứng tầm để lấp vào hố đen không đáy mà thiên tài quá cố đã để lại sau lưng. Rouet bộc lộ ý định khai tử đế chế Dior, nhưng gặp phải sự phản đối dữ dội từ các đối tác nhượng quyền license của nhà Dior, và toàn thảy nội giới của thời trang Pháp. Quyền lực, vai trò và cuộc tồn vong đại mệnh của House of Dior khi này đã trở nên quá quan trọng cho cả nền kinh tế của nước Pháp lúc ấy. Rouet buộc lòng phải chỉ định kẻ kế vị, và cánh tay phải của Dior lúc sinh thời – vị á thần ẻo lả Yves Saint-Laurent lên ngôi nhiếp chính khi chỉ mới 21 tuổi. Cuộc đăng quang thuận tình tất thảy tín đồ thời trang Pháp và thế giới, những đoàn hoa tươi một lần nữa được tấp nập gửi đến nhà số 30 đại lộ Montaigne, nhưng lần này là để chúc tụng vị tân vương.

Sau 4 mùa phụng sự, Yves từ bỏ lốt á thần nhà Dior để khai lập đế chế riêng. Vị trí của ông được thay thế bởi Marc Bohan, với một cuộc cách mạng nho nhỏ mang tên Slim Look, nhưng chưa bao giờ trở thành cơn lốc huyền thoại như dấu ấn New Look của vị tiền nhiệm lẫy lừng. Nhưng Slim Look, cùng những sáng tạo làm nên lịch sử của Yves Saint Laurent về sau với váy Mondrian và tuxedo nữ, hay đại tiệc hoa tươi gần đây nhất của tay người Bỉ Raf Simons vẫn cho thấy kể từ khi con tim Dior ngừng đập, các triều đại kế vị vẫn là những hậu bối của một sức ảnh hưởng trường tồn của dấu ấn Pháp mang tên Christian Dior.

Cuộc khai tử đáng lẽ đã diễn ra sau cái chết của Dior cuối cùng lại xảy đến năm 1978, với tuyên bố phá sản của tập đoàn Boussac. Nhưng điều này đã không còn xâm hại được đến sự tồn vong của đế chế Dior, với uy quyền và vị thế đã được rỡ ràng khẳng định – nhà Dior chính thức thuộc về tập đoàn Willot. Năm 1994, Bernard Arnault không hổ danh trùm cá mập thời trang, đã khôn ngoan dang vòng tay hào phóng mua lại tập đoàn Willot, mà ở đây, món hàng sáng giá nhất chính là nhà Dior, như viên ngọc sáng giá nhất trên đỉnh chiếc vương miện thời trang Pháp hào hoa.

Phiên bản Ăng-lê ấm đầu và vòng hoa tang 300,000 đóa

Và đó là khi nhà Dior bắt đầu một triều đại vàng son và ồn ào với vị tân vương Ăng-lê do Arnault chỉ định – John Galliano.

Giới bảo thủ Pháp gầm lên phẫn nộ trước gã Ăng-lê nhỏ thó và xấc xược, Arnault được dịp minh chứng cho tư duy tân kỳ cởi mở của bản thân với lời tuyên bố “Bản thân tôi đã hi vọng tìm được một giám đốc sáng tạo người bản xứ, nhưng tài năng không có quốc tịch, và tôi tìm được John. Y có thể nói tiếng Anh, nhưng thiết kế nên thời trang Pháp. Ngôn ngữ sáng tạo của John chính là thứ mà Monsieur Dior từng dùng để viết nên bản tuyên ngôn thời trang của mình: một sự pha trộn giữa trường phái lãng mạn, thói đỏm dáng lẳng lơ nồng nặc đàn bà tính, sự lịch lãm cổ điển bất hủ, và tính thời thượng táo tợn nhưng vô cùng chặt chẽ.”

Quả nhiên, Galliano khai mở cho kì đại thịnh của đế chế Dior, gã không là Christian Dior khi khôn ngoan không chọn lặp lại hào quang của vị tông đồ người Pháp. Galliano bành trướng Paris với chiêu trò “porn chic” đầy nhục cảm, dẫn đầu một trận sốt sặc mùi tính dục ảnh hưởng lên cả thiết kế của các nhãn hàng khác. Nhưng bằng một cách nào đó, Galliano nhắc người ta nhớ trận “sốt” kinh hoàng của hiện tượng New Look. Thay vì cần mẫn cách tân các thiết kế của Christian Dior, người ta nhận ra sự tương đồng giữa 2 nhà thiết kế cách nhau vài thế hệ qua tư duy thẩm mỹ ẩn sau các chiến dịch quảng cáo ngông cuồng và bạo ngược chỉ thuộc về những thiên tài mang mệnh đế vương.

Không là kẻ trực tiếp chăm sóc dung nhan cho các phu nhân Quốc xã như nghiệp tổ Dior, nhưng hậu bối Galliano đã chạm đến ngưỡng cuối cùng của sự ngạo mạn khi dây vào vụ vạ miệng mạt sát người Do Thái. Như một cái cớ hoàn hảo, nhà Dior thải hồi vị tông đồ lẫy lừng nhất của huyền sử triều đại couture này.

Một lần nữa, mệnh tồn vong nhà Dior chao đảo với ngai vàng bỏ trống sau lưng tên ngạo vương lưu vong. Lặp lại phương kế của Rouet năm xưa, sau cái chết của Dior, Arnault buộc lòng chỉ định cánh tay phải của Galliano là Bill Gayten vào vai nhiếp chính, trong khi ngai sáng tạo chính thức được rao tìm người kế vị.

Đó lại đã là một giai đoạn chông chênh đáng nhớ của cục diện thời trang toàn thế giới.

Cho đến khi gã người Bỉ Raf Simons – vốn là một designer theo trường phái tối giản, bất ngờ đăng quang vào chiếc ghế tối cao của quyền lực haute couture toàn thế giới.

Điều đầu tiên gã đã có thể làm, là nhắc nhớ thế giới đến một Christian Dior phía sau những năm dài đầy hào quang điên rồ của gã hiệp sĩ râu kẽm Galliano. Khôn ngoan tránh né ảnh hưởng của Kỷ Hoàng Kim mang dấu ấn tay người Anh, Raf bỏ ra 4 tháng trong kho lưu trữ nhà Dior và 300,000 bông hoa tươi phủ ngập gian khánh tiết vào tuần lễ thời trang haute couture Pháp mới đây, như một sự nhắc nhớ đến quyền năng trường tồn bất bại của New Look, vừa như một tang lễ buồn thảm cho một huyền thoại bất khả tái hồi.

 

mẹ cả Cosmo

Túy Ca

Khi mà các cô các mợ diva thành thị tân thời ngày nay còn đang mải mê chạy theo thái độ sống lẫn tủ quần áo của Carrie Bradshaw trong Sex And The City, không mấy ai còn nhớ đến vụ chấn động New York hồi thập niên 1960 mang tên Sex and the Single Girl, cho đến gần đây, khi phiên bản gốc của Carrie Bradshaw thời ấy – bà đại tổng biên tờ Cosmopolita qua đời, ngày 13 tháng 08, chỉ 2 tuần sau khi bước khỏi chiếc ngai Mẹ Cả Cosmo.

Theo kinh Cựu ước Cosmo của các cô nàng phố lớn (bigtown-girls), tình dục là điều tuyệt vời nhất, bên cạnh ăn và thở. Helen yêu mến bà Hillary Rodham Clinton, trò buôn nhảm và những chuyện ly kì, bà là tín đồ của Donna Karan và Calvin Klein, yêu chồng, mê đàn ông cho vui, và nghiện sự nghiệp.

Nói một cách vắn tắt, bà đã là một Cosmo girl chánh hiệu.

Năm 1962, Helen Gurley chào đón tuổi 40 của mình với cuốn sách Sex and the Single Girl. Cuốn sách được xuất bản tại 28 quốc gia và giữ vững vị trí bestseller trong suốt năm đó. 3 năm sau, Helen Gurley đường hoàng đăng quang ghế tổng biên tờ Cosmopolitan đang hồi xuống dốc và cải mệnh cho tạp chí này ngay từ những ngày đầu nhậm chức. Trải qua suốt thập niên 1960 ấy, bà đã vào vai nữ tuyên giáo bạo miệng nhất cho ý niệm tự do tình dục trong đời sống nữ giới với những bài phỏng vấn, đặt các nữ nghệ sĩ tân thế hệ vào vai trò dẫn dắt, cùng những loạt bài tư vấn cho một phong cách sống đầy rủi ro nhưng gay cấn cho các nữ độc giả nhà Cosmo. Bà trang bị cho các nữ độc giả của mình ý thức về quyền năng nội lực mạnh mẽ của họ để sở hữu tất cả: ái tình, khoái lạc và tài chính – một cái nhìn mà ngay cả các nhà hoạt động nữ quyền mạnh mẽ nhất thời ấy là Betty Friedan và Germaine Greer, trong cuộc đấu tranh chung chung đại diện các bà nội trợ toàn tâm toàn ý tề gia, vẫn chưa dám công nhiên nhìn nhận. Với binh đoàn tinh nhuệ của mình, gồm những nữ nhân sành sỏi, có gout, diễm tình và táo tợn được lôi vào cuộc thánh chiến, Helen Gurley hình thành một chân dung đa sắc nóng hổi của thuộc tính “Cosmo girls”, về sau trở thành hình thái điển hình của sự văn minh và tiến bộ thật sự của nữ giới.

Nhưng những năm oanh liệt của vị công thần nhà Cosmo nhanh chóng bị lãng quên. Năm 1997, bà bị dời khỏi vị trí tổng biên Cosmo U.S. bởi sự xuất hiện của Bonnie Fuller. Vào thời điểm này, Cosmopolitan đứng hàng thứ 6 trong cuộc đua cháy sạp của các tạp chí Mỹ, và trong suốt 16 năm liên tiếp, giữ vị trí hàng đầu tại các hiệu sách của các trường đại học toàn nước Mỹ. Nhưng bà vẫn được trọng dụng tại hãng xuất bản Hearst và duy trì vai trò đại tổng biên cấp cao của toàn thảy 59 ấn bản Cosmo trên toàn thế giới cho đến ngày cuối đời – ngày 13 tháng Tám 2012 vừa qua.

Cẩm nang thụ hưởng của gái thành thị đơn thân

Nhìn lại những năm tháng với Cosmo Mỹ, bà đại tổng biên thở phào nhẹ nhõm và tự hào: “Đó là tờ tạp chí tuyệt vời. Nếu có một điều gì tôi muốn họ ghi nhận khi nhớ về tôi, đó sẽ là: bà ta đã tạo ra một thứ hữu ích. Các nữ độc giả của chúng tôi, họ luôn cần một cuốn cẩm nang để bước vào thế giới bản ngã của chính mình.”

Suy nghĩ đó đã được hình thành từ những ngày mới nhậm chức tổng lãnh tờ Cosmo Mỹ, bà đã thiết lập và cài cắm hệ thống ngôn ngữ riêng của một tộc người mới: các “Cosmo girl” – ngổ ngáo, gợi tình, thông minh lẫn ranh mãnh. Bà tự mô tả mình là một “mouseburger” (bánh mì kẹp chuột) – hàm ý môt phụ nữ không có lợi thế của nhan sắc thiên phú, nhưng có khả năng buộc bản thân phải học và làm việc cật lực để trở nên quyến rũ và thành công. Trên trang bìa Cosmo, Helen dàn trải những tấm dung nhan với những mái tóc kiểu sư tử cuồng nộ, những khe ngực sâu đắm đuối của nhiếp ảnh gia Francesco Scavullo, rồi thượng lên phía trên dòng tít “Không Gì Mau Mỏi Mòn Như Tình Dục – Sự Thật Về Nhu Cầu Tình Dục”. Hoàn toàn không hướng độc giả của mình vào một xu hướng lãnh cảm có kiểm soát, nhưng cho họ một quyền năng tự chiều chuộng và đặt bản thân lên chiếc ngai nữ hoàng tối thượng của riêng mình.

Hẳn nhiên, trong cái công thức tự chiều chuộng ấy, Helen hào phóng dành mấy trang ảnh thơm phức của thập niên 1970 cho quý ông, với bức ảnh kép Burt Reynold e ấp khỏa thân gây sóng gió rần rần suốt năm 1972 khói lửa.

Helen và lối ngôn luận ngả ngớn của Cosmo trở thành một cái gai cho không ít người, mà oái oăm phần nhiều là nữ giới, những cô gái trói cuộc đời nghiêm cẩn của mình trên những dãy bàn công sở. Cosmo đầy thái độ, nhưng thật thà đến sống sượng, đặc biệt là các chuyên đề “săn trai” đôi khi táo tợn đến mức nó khiến người ta nghĩ đến một cuốn cẩm nang dạy các cô gái quyến rũ sếp mình rồi nằng nặc đòi kết hôn.

Một phản ứng dữ dội khác đến từ nhà hoạt động xã hội Betty Friedan, với lời phán xét rằng các bài viết của Cosmo thuần túy là “sự vẽ vời viển vông về tình dục cấp độ tuổi teen”, nhưng về sau, chính bà đã thay đổi quan điểm và tôn vinh Helen rằng “bàn tay biên tập tài hoa đã trở thành nguồn cảm hứng mẫu mực cổ xúy cho tiến trình giải phóng phụ nữ.”

Song song với quyền năng của một nhà nữ cách mạng hợp thời, hẳn nhiên thái độ lộng ngôn của gái hư Cosmo đã mang lại hiệu quả kinh doanh ngoạn mục cho tờ báo. Chỉ trong vòng 4 số tạp chí, giá một tờ Cosmo trên sạp đã nâng từ 35 xu đến 50, và nhanh chóng đạt mức 60, song song với cuộc chạy đua quảng cáo của các nhãn hàng thời trang, mỹ phẩm và sản phẩm tiêu dùng. Đỉnh cao phát hành vào năm 1983 là 3 triệu bản in, rồi duy trì ở 2.5 triệu với giá 2,95USD mỗi tờ vào thời điểm Helen rời vị trí tổng biên tập ấn bản Cosmopolitan Mỹ.

Cosmo Girl tự làm luật và những phần thưởng dọc nẻo đường “hành pháp”

Các độc giả của Cosmopolitan không nghĩ rằng Cosmo-girls là mấy ả lẳng lơ rẻ thối. Nàng là cô người mẫu nõn nường ngoài bìa, nàng hoạt kê và thay đổi đề tài câu chuyện liên tục, sành sỏi mọi tin đồn hành lang, mau quên, chóng chán, có khả năng bắt chước mọi minh tinh với mức giá shopper ranh mãnh, và biết cách tự pha chế hỗn hợp mặt nạ cho công thức spa tại gia. Mẹ cả Cosmo tin mãnh liệt rằng một Cosmo-girl đích thực sẽ luôn có cách để trở thành một ai đó.

Vì đối với bà, “một ai đó” đồng nghĩa với danh tiếng, tài sản, sự trọng vọng, những người đàn ông. Nó còn đồng nghĩa với văn phòng riêng trải thảm giả da beo mềm lút chân, hoa dán tường đồng màu với ghế dựa, gương trang điểm và lỉnh kỉnh chai lọ mỹ phẩm, cùng một chiếc gối dựa thêu dòng chữ “Gái ngoan lên thiên đàng, gái hư đi tứ xứ”.

Đó còn đồng nghĩa với thứ quyền lực thừa đủ để chủ tọa một cuộc họp nội bộ với các tổng biên các tờ sở hội mặc bất cứ cái gì Mẹ Cả muốn, nó còn là chiếc đồng hồ Cartier mua năm 1967 với giá 400USD, sợi lắc vàng trên cánh tay của tập đoàn Hearst tặng nhân kỷ niệm 30 năm thành lập, và bốn sợi khác được giải thích là quà từ “mấy tràng bảnh trai, nhưng không phải nhân tình.”

Nó đồng nghĩa với đàn ông, tình dục không tình yêu, ái tình không hôn nhân, và hôn nhân không con cái. Helen dồn tụ mọi bản năng thiên chức và tờ báo của mình, chăm bẵm và điên cuồng bảo vệ, dồn cho nó mọi sự ưu tiên mà chính bản thân bà chưa bao giờ có được cho mình trước đây. Helen trở thành vị nữ thần hộ mạng của các Cosmo-girl, theo đúng kiểu một bà tiên đỡ đầu mà chính Helen thời xuân trẻ chưa bao giờ có.

“Tôi tin rằng hầu hết các cô tuổi đôi mươi cho rằng mình không đủ đẹp, đủ thông minh hay gợi tình. Họ không có thứ công việc đáng mơ ước, và một tỉ rắc rối nội gia. Nhưng họ cần nhìn thấy, đó là tất cả những nguyên liệu tự nhiên để có thể chuyển hóa thành những điều tuyệt diệu nhất. Và tôi thì kể họ nghe câu chuyện cuộc đời mình, cùng họ ham hố khai thác, vắt kiệt những chào mời của cuộc sống, và cầu khiến số phận chiều chuộng lại mình cho đến kỳ phỉ mãn.”

Bà “bánh mì kẹp chuột” đại diện cho những điều không nằm trong bất cứ tiểu thuyết nào: những cô gái không quá đẹp, không quá thông minh, nhưng làm việc ra trò nhất, dai sức và lì đòn nhất, để trở thành một tạo vật ưu tú, đồng tác giả với Thượng Đế để tự đạo diễn cuộc đời của chính mình – nơi họ thủ vai nữ chính hoàn hảo như mong muốn.

“Tất cả nằm ở khả năng tự tuân thủ cam kết. Tôi chỉ không bao giờ có thể hiểu những ai không làm được điều này. Mỗi người là một nhà làm luật, vậy hãy làm luật, và phần việc còn lại tùy thuộc vào sự tự trọng. Hãy chỉ làm những việc có lợi cho mình, và cho lí tưởng đã chọn lựa, và phần thưởng không cần đợi ở cuối con đường, bạn sẽ nhặt được những món quà kì diệu nhất dọc nẻo đường ‘hành pháp’ ấy của chính mình.”

Trước danh xưng là nhà hoạt động xã hội, Helen nhún vai xa lạ “Đối với các nhà hoạt động kiểu ấy, đàn ông là kẻ thù. Với tộc người Cosmo, ờ thì cũng có thù một số đàn ông đấy, nhưng ân ái với họ thì lại là điều cực hay ho, tuyệt diệu. Vậy thì nếu bạn là đàn bà dị tính, ắt nhiên, đối tượng tình dục của bạn phải là đàn ông. Vậy nếu tôi là một nhà hoạt động kiểu đó và bảo các cô gái Cosmo của mình rằng ‘Chúng ta sẽ không thèm làm tình nữa, bởi như vậy sẽ cần đàn ông, mà phụ nữ tiến bộ không cần đàn ông!’, trời ơi, tôi điên à?”

18 cuộc phiêu lưu của Helen Công Sở

Đường bệ trên chiếc ghế uy quyền và áp lực, Helen vẫn duy trì thân hình mỏng tang với chiều cao 5.4 feet và dao động cân nặng xê dịch trên dưới 100 pounds được duy trì hoàn hảo với chương trình tập luyện hợp lí và thực đơn ăn kiêng được tuân thủ với một sự cam kết sắt đá. “Chớ bao giờ mơ rằng bạn sẽ là một bà béo 60 tuổi gợi tình, và hi vọng những shot ảnh chụp tại một sự kiện từ thiện sẽ khiến bạn đẹp hơn là một ca sửa mũi hoặc căng da”, Helen thật thà thừa nhận mọi xảo thuật thẩm mỹ mà bà đã không hề dại dột chối từ để duy trì một hình mạo quý bà thanh tú từ trước ngưỡng oan nghiệt 60.

Helen Gurley đã không sinh ra như một nàng thiên nga nhan sắc. Sinh năm 1922 để lớn lên giữa lòng thời kỳ đại khủng hoảng, Helen Gurley đã biết tự xoay sở kiếm tiền tiêu vặt bằng chính những gì được trang bị từ nhỏ – cô đi dạy nhảy cho bọn trẻ con. Cha mất khi Helen lên 10, và thân mẫu, một bà giáo, quyết định chuyển đến Los Angeles, nơi mà nàng vịt con xấu xí Helen lấm tấm mụn đọc bài phát biểu đầu đời của mình ở tư cách học sinh tốt nghiệp xuất sắc của trường trung học John H. Francis Polytechnic năm 1939.

Với mảnh bằng tốt nghiệp, tương lai của vịt Helen xấu xí được hứa hẹn trước một đời nữ nhi công sở văn thư. Với kỹ năng đánh máy chữ và tốc ký được học ở trường kinh nghệ, trong chỉ 7 năm, Helen tham gia vào hội chứng chung của thanh nữ văn phòng, tức là nhảy cóc việc làm 18 lần, và một trong những trạm dừng bất kể ấy, khi dừng chân tại hãng đại diện quảng cáo Foote, Cone & Belding, khả năng viết lách của Helen mới được khám phá. Cô được giao thêm công việc của một copywriter. Sau một thời gian củng cố profile, Helen tiếp tục được Kenyon & Eckhardt rước về và trở thành copywriter sáng giá nhất ngành quảng cáo vùng bờ Đông Hoa Kỳ.

Nhưng chính những đồng nghiệp của Helen lúc này cũng không hay biết đây chính là quãng thời gian cô âm thầm tự trang bị những kinh nghiệm và mối quan hệ cần thiết cho một văn sĩ, một biên tập, và một người dẫn chương trình truyền hình về sau. Năm 1982, bà thật thà thú nhận với tờ New York: “Thế này nhé, tôi không nhớ nổi một nơi nào mình đã từng làm việc mà không có dan díu ái tình công sở với ít nhất một ai đó cùng chỗ làm”. Khi được hỏi điều đó có tính cả những vị sếp, bà trả lời: “Tại sao lại phân biệt đối xử với họ?”

“Không có sex, đời coi như bế mạc!”

Cùng với cuộc nhảy cóc sự nghiệp theo kiểu thời thượng của các city girl cả thèm chóng chán, giữa các phiêu lưu ái tình công sở, cuối cùng thì ở tuổi 37 – khi ấy được coi là muộn mằn, Helen bước vào cuộc phiêu lưu dài hơi hơn, được gọi là hôn nhân, với David Brown, vốn cũng từng nắm cương vị quản lý tại Cosmo, và về sau trở thành nhà sản xuất phim.

Chính ông là người khích lệ Helen viết sách, tạo điều kiện cho vợ tranh thủ viết lách vào những dịp cuối tuần, và giúp vợ đặt tên cho cuốn sách đầu tay “Sex an the Single Girl” – một đại cẩm nang lối sống gái độc thân phố lớn. Cuốn sách lập tức lọt bảng top sellers 1962, và cặp đôi bất bại chuyển tổ ấm lẫy lừng của họ đến New York. Các nhà làm phim mời chào Helen món 200,000 Mỹ kim hậu hĩ, nhưng không phải là cho cốt truyện mà cho cái tít quá chừng ngon tai, với Natalie Wood vào vai nhân vật mang tên Helen Gurley Brown nhưng hầu như chẳng thể hiện nét tính cách nào của phiên bản Helen gốc.

Ba năm sau đó, cuốn sách thứ hai được tung ra, với cái tên “Sex in the Office” (Tình Công Sở). Cũng trên đà thắng thế, cặp đôi đề xuất một ý tưởng tạp chí với hãng phát hành Hearst nhưng không thành. Bù lại, Helen gây ấn tượng mạnh mẽ và được Hearst mời về chăn dắt tờ Cosmopolitan khi này đang ngắc ngoải trên các sạp báo.

Sau khi về nhà Cosmo, khi này còn là ấn bản phổ cập thuần túy thời hậu chiến, với những mẹo chăm trẻ và công thức nấu ăn. Bà thẳng tay khai trừ hầu hết các chuyên mục và chỉ giữ lại phần cẩm nang ăn kiêng.

Không cần doanh số để chứng minh, ngay sau cuộc cải tổ này, người ta có “Chiếm lấy anh ta! Những chiêu thức quyến rũ thật sự hiệu quả” trên tờ YM, tờ Madamoiselle có “Hãy làm tình khi đèn sáng!”, Glamour thì giật tít “29 mẹo cho cuộc làm tình nhớ đời.”,  cùng “Khảo sát trải nghiệm tình dục” trên Marie Claire, trong khi Shape trịnh trọng đăng tít “Khoa học rù quến”.


Vị trí tổng biên của tờ Cosmo không dễ dọa Helen, bà tiếp tục dấn bước sâu hơn vào lãnh địa truyền thông, và làm host cho talk show “Outrageous Opinions” năm 1967, phủ sóng 19 thành phố với danh mục khách mời celeb sẵn sàng khai tất tật quan điểm cá nhân về tình dục lẫn những phạm trù mẫn cảm khác.

Nhưng đợt dội bom thị trường xuất bản chưa ngừng lại ở đó, với cùng lúc hai cương vị ở lãnh địa báo chí và truyền hình, bằng một cách nào đó, Helen tiếp tục tung ra 5 đầu sách: Having It All năm 1982 và 1993, vào tuổi 71, bà viết The Late Show, với tít phụ loằng ngoằng nhưng vẫn rất ngon tai: “Chiến Lược Tồn Tại Điên-Rồ-Một-Chút Nhưng Thiết Thực Cho Quý Bà Trên 50”.


Trong một cuộc phỏng vấn, bà thản nhiên đúc kết tinh thần tư tưởng của cuộc cách mạng riêng của mình bằng câu nói “Nếu bạn không làm tình, đời coi như bế mạc. Nó là thứ phân cách giữa các cô gái và các cụ cao niên”.

Trong suốt đời sống hôn nhân, cặp đôi bất bại nhà Brown vẫn chọn không có con. Helen không cam đánh đổi, và David ủng hộ bà.

Tạp chí, truyền hình, và “Having It All”

Nữ đại tổng biên Cosmopolitan Helen Gurley Brown, một trong những nhà hoạt động bình đẳng giới ồn ào và quyết liệt nhất, lại dường như tỏ ra tự mâu thuẫn trong lời tuyên bố “Nếu bạn không phải là đối tượng tình dục, bạn nguy to rồi!”, và gây ồn ào hơn nữa là câu nói trứ danh “gái ngoan lên thiên đàng, gái hư đi tứ xứ”.

Sự mâu thuẫn cực đoan trong hai vế ý thức hệ này cũng hiển hiện trong đời sống riêng tư của Helen, nơi mà từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế của thời ấu thơ, bà bước vào vị trí nữ quyền tân tiến, ủy lạo cho hình ảnh những cô gái vừa hoạt kê vừa gan góc nhan nhản trên toàn thế giới. Vậy mà trong suốt 32 năm tại vị nhà Cosmo, đương khi hô hào đàn bà con gái làm tình và thụ hưởng sự trâng tráo hợp thời trang ấy khi vén váy sải bước qua cửa miệng dư luận, bản thân Helen lại là một vị phu nhân rất mực thủy chung của duy nhất một người đàn ông, cùng lúc tự cho phép mình duy trì các thói xấu vô hại, trong đó có cả thói phù phiếm của thuật thẩm mỹ.

Trong khi Helen vẫn an toàn trong pháo đài hôn nhân lý tưởng của bản thân, thì ngoài kia, xã hội Mỹ sản sinh ra một thế hệ nữ công dân hoang đàng chi địa, mốt ái tình “chơi cho vui” lên ngôi, và tỉ lệ li hôn lẫn hội chứng trầm cảm, bệnh lây qua đường tình dục ở các ‘Cosmo girls’, và các ca nạo phá thai tăng điên đảo. Người ta quy buộc cho Helen dấu ấn tội đồ.

Nhưng cuối cùng, đã không ai nghĩ đến hàng loạt những tạp chí khiêu dâm dành cho quý ông như Penthouse và Hustler cũng đang tung bay như bướm trên mọi sạp báo Mỹ. Và, lời tự bào chữa của Helen lúc sinh thời: “Cuối cùng thì đàn bà đâu có làm tình một mình?”

Thẳng thừng qua tiêu chí của Cosmo, Helen công nhiên đề cao yếu tố tiền bạc, sự nghiệp và tình dục trong đời sống phụ nữ, dù không nhất thiết theo trình tự trên. Các “mục tiêu sống” này được hô hào ủy lạo trong suốt hàng thập niên các chuyên mục bài viết và cẩm nang hướng các Cosmo girl đến ngưỡng cảnh giới cao nhất của các kỹ năng sống rập khuôn: rù quến, làm đẹp, phô diễn năng lực, cạnh tranh, và giải trí nhẹ. Theo bà, “Cách mạng nữ quyền có chăng là một nhu cầu hướng đến sự sòng phẳng, hơn là khái niệm công bằng. Tôi là người làm truyền thông, và tôi chọn thực hiện cuộc cách mạng của mình một cách thực tế nhất, bởi thực tế nên là chất liệu duy nhất của tạp chí và truyền hình.”

Nhưng nếu thuần túy nhìn nhận Helen Gurley ở thông điệp của người đàn bà muốn có tất cả, và làm tất cả để có điều mình muốn, lại là một sai lầm lớn. Trong khi các nhà hoạt động khác khuyến dụ phụ nữ mạnh mẽ hơn trước các nhu cầu của thuộc tính đàn bà, thì Helen khuyến khích họ khai thác và thụ hưởng nó. Nếu việc bị coi là đối tượng tình dục là nỗi sỉ nhục với trào lưu bình quyền chung, thì Helen khuyên độc giả của mình kiêu hãnh và tận dụng thế mạnh đó. Những tiêu đề giật gân của Cosmo về “50 cách chiều chuộng đàn ông” là những thông điệp ngầm của Helen với một nửa còn lại của thực tế phòng the “…để có điều mình muốn”.

Nhưng phụ nữ thật sự muốn gì? Freud không trả lời được, và Helen lẫn các tín đồ Cosmo của mình cũng vậy. Như lão già gân Hefner và đế chế Playboy của lão, Helen tạo nên một đế chế đối lập, và còn là phiên bản giống cái của Thỏ Cột Nơ. Bà lột truồng cả Burt Reynolds lẫn Arnold Schwarzenegger lên trang bìa ruột cho chị em rửa mắt, xếp bên cạnh trang rao bán đồ trang sức rẻ tiền, vài chiêu giường chiếu kinh điển cùng các bài tư vấn về bệnh xã hội. Chủ nghĩa vật dục được hô hào to và rõ, và ngôn ngữ thân thiện xoa dịu cảm giác sống sượng của phiên bản Playboy có chữ.

Cosmo trở thành chân kinh của những phiên bản tiểu Helen – những cô gái với nhan sắc nhàn nhạt, trình độ tầm tầm để văn hóa đọc dừng lại ở một tạp chí lối sống với ngôn văn thân thiện và vài cuốn tiểu thuyết thời danh. Helen không khích lệ họ tự nâng cấp bản thân để gia nhập một thượng tầng xã hội hay tri thức. Bà xoa dịu họ, và cung cấp cho họ những cẩm nang khai thác thú vui thụ hưởng từ chính nhan sắc vừa chừng, mức thu nhập trung bình, và tất cả đàn ông trong mọi quán xá lẫn công sở Hoa Kỳ.

Helen mặc nhiên trở thành phần tử phiến loạn của chính cuộc cách mạng bình đẳng giới. Bà đã đạp lên lằn ranh tuyệt kỵ cuối cùng khi tự chọn cho mình việc không làm mẹ: “Tôi không muốn từ bỏ ngần ấy thời gian, yêu đương, và tiền bạc”.

Năm 1982, khi xuất bản cuốn Having It All, Helen đã viết cho chính những cô gái Cosmo của mình, những cô gái trẻ, độc thân, xứng đáng thụ hưởng mọi điều như bất kì người phụ nữ có chồng nào khác: tiền tài, sự nghiệp, và tình ái. Trong khi các tạp chí tiến bộ khác cân chỉnh cho người phụ nữ khả năng điều tiết giữa công việc xã hội và đại nghiệp tề gia, thì Helen cho rằng các cô nàng Cosmo cũng hoàn toàn xứng đáng tự dành cho mình những điều đó, có hay không có người đàn ông bên cạnh, như chính Helen đã từng làm, với những buổi dạy nhảy của mình trong tuổi thơ bĩ cực mà không có người cha bên cạnh. Hãy yêu đương, phiêu lưu, và cho phép người đàn bà được vuốt ve âu yếm, và khi người bạch mã hoàng tử xuất hiện, nàng sẽ đủ am hiểu để biết cách nhận ra nhà vô địch cuối cùng của cuộc đời mình.

Và như thế, Helen đã dành nửa thế kỷ lửa hương cho nhà vô địch mà bà mất 37 năm cuộc đời để tìm thấy, cho đến khi ông qua đời vào năm 2010.

Tình dục ngoài 50 dưới cơn mưa đá

Helen bảo thủ trong chính cuộc cách mạng của mình. Dẫu về sau, một chút cải tiến cho font chữ các hàng tít sinh động hơn, dàn trang hình ảnh phóng khoáng hơn, nhưng trong suốt hàng thập niên tại vị, bà kiên định với đường lối đã được lựa chọn và minh chứng. Đã từng có những tin đồn về một cuộc cải cách, thậm chí số hóa một số chuyên mục cho phiên bản điện tử, nhưng rồi Helen trấn an tất cả: “Đây là lần đầu chúng tôi thử làm một điều gì khác lạ và táo bạo. Tôi đã cố thỏa hiệp, cũng thử tự cải thiện cho tươi mới hay táo bạo gì đó. Kết quả là tôi thề sẽ không bao giờ thử trò này nữa.”

Bị “nhắc khéo” về sự bảo thủ của tuổi già, Helen nhún vai lờ phắt: “Tôi chẳng thấy mình giống một trưởng lão đáng kính và vô dụng chút nào cả. Tôi là vụ ngoại lệ. Tôi thường nổi khùng với một số người lớn tuổi, đặc biệt những người có cân nặng trên 195 pounds. Họ làm tôi phát cáu và phát ghê!”

Mặc dù với thân hình mỏng tang lá lúa, khi bị Page Six của New York Post liệt vào danh sách thảm họa ngoại hình, Helen sốc chao đảo: “Cả đời tôi đã phải thật sự lao động để cải thiện hình thức mình, làm tất cả những gì có thể. Cuối cùng là bị lên án bởi gầy quá, và như thể tôi ủy lạo cho việc phân biệt đối xử với mấy người bị béo phì vậy. Tôi không làm điều đó bằng việc tự gầy đi, chính họ tự  khinh bỉ thân thể họ bằng cách để mặc cho nó trương lên”.

Ngay cả cuốn sách cuối cùng của bà, cuốn cẩm nang tồn tại cho phụ nữ trên 50 tuổi, tuy không vào hạng bestseller nhưng cũng kịp làm không ít người khó chịu. Trong cuốn này, bà viết rằng phụ nữ không thể có chất lượng cuộc sống cao nếu không làm việc. “Còn chương viết về tình dục ngoài 50 tuổi nữa chứ, chương ưa thích của tôi, vậy mà là chương bị ném đá dữ nhất. Tóm cho gọn, chỉ là suy nghĩ: nếu bạn ngưng làm tình, bạn không còn là đàn bà. Thế là tất cả đồng loạt ném đá vào tôi.”

Ngay cả một số bạn bè của Helen cũng tỏ ra bị xúc phạm và thấy nhột nhạt khi cuốn “cẩm nang bà già ham vui” này cho rằng họ có thể ngủ với bạn của chồng cũng được, chỉ là sex thôi mà. Đâu có đi nghe hòa nhạc, thắp đèn cầy ăn tối, chỉ là sex thôi mà.

“Tôi đặt trọng vai trò của tình dục. Thủ dâm cũng được, nhưng làm tình với con người thật thì vẫn tốt hơn”. Ngay cả với bạn của chồng? Bà ngập ngừng một thoáng rồi cả quyết: “Tôi cho rằng không nên phân biệt đối xử thái quá với bất kì đối tượng nào.”

Tự nhận mình đã nếm khá đủ mùi cuộc chơi trước khi lấy chồng, Helen dành lời nhắn nhủ cho các Cosmo độc thân: “nếu bạn không thể tìm thấy cái gã cưỡi ngựa trắng trên trán có đánh dấu dành sẵn cho bạn, thì đừng có lấy chồng, trừ khi bạn học được cách hài lòng với tình yêu của một anh chàng kha khá, rồi tự tay dạy chàng cưỡi ngựa trắng, uốn nắn hành xử cho chàng cho đến khi bạn có thể hầu như tự hài lòng.”

Chính bà là người ủng hộ việc tung chi chít lên trang bìa những rãnh ngực sâu hoắm năm 1965, một cuộc cách mạng hẳn hoi vào thời kì ấy. Nguyên tắc cơ bản về nội dung thì không khác mấy so với mấy cuốn sách dạy nữ công gia chánh, với phương châm: cứ tuân thủ theo công thức và hướng dẫn, rồi bạn cũng sẽ trông như thế này!

Và chỉ với sự thân thiện hào phóng như thế, các Cosmo girls thật sự đã đi tứ xứ, như Coca Cola có thêm bộ ngực nóng bỏng vậy! Sự khác biệt giữa Helen và một nhà hoạt động bình đẳng giới chính chuyên, đó là nhà hoạt động tin rằng phụ nữ bình đẳng với nam giới, còn Helen tin rằng gái độc thân bình đẳng với gái có chồng.

Vĩnh biệt Mẹ Cả

Hai tuần trước khi Helen qua đời, các nguồn tin kên kên bên ngoài cổng tập đoàn truyền thông Hearst bắt đầu hỉ hả rúng động với tin bà sẽ rời vị trí đại tổng biên sau những thập niên lẫy lừng tại vị. Người ta lại nhớ đến một cuộc sa thải dịu dàng với danh dự tổng biên Cosmo Mỹ để dẹp chỗ cho kẻ kế vị Bonnie Fuller 39 tuổi. Helen lịch thiệp cho rằng đây là lẽ tất nhiên “Sẽ chẳng hay ho gì khi để một lão yêu tinh già như tôi ngồi biên tập những trang báo cho mấy nàng gái phố lớn 23 tuổi. Họ đã làm điều đúng đắn, và thực thi nó một cách nhã nhặn.”

Những ai biết rõ hơn về Helen sẽ hiểu rằng đây không phải là một cuộc từ nhiệm êm ái. Cosmo-girl lâu năm ấy chưa bao giờ tự chuẩn bị cho mình để trở thành một cụ bà cao niên lẩn khuất thư nhàn và bị lãng quên, bà chưa bao giờ sẵn sàng để ngừng làm việc, cũng như việc Helen ở tuổi 90 vẫn đều đặn tập thể hình, và cầu viện đến thủ pháp căng da mặt – bà thậm chí chưa sẵn sàng để ngừng yêu đương. Các độc giả của số Cosmo đầu tiên giới thời Helen, giờ cũng đã chí ít tầm 50 tuổi, và khẩu khí của Helen, từ số tạp chí năm 1965 đến nay, vẫn không hề thay đổi.

Năm 1988, Helen bị công kích dữ dội khi cho phép đăng bài viết về AIDS, trong đó viết rằng quan hệ tình dục dị tính không mang lại nguy cơ lây nhiễm cho phụ nữ, ngoại trừ một số tư thế nhất định. Helen bị lên án đã hồ đồ, thiếu kiến thức và vô trách nhiệm. Kể từ đó, tờ Cosmo hầu như không còn đề cập đến đề tài căn bệnh thế kỷ, nhưng bản thân Helen lì lợm thì vẫn không có vẻ gì là thay đổi quan điểm cá nhân.

Đã có cả một cuộc cân nhắc chuyên nghiệp nhất để tính toán cho sự thay đổi của tờ báo sau những thập niên dưới tôn chỉ tuyên giáo của Mẹ Cả Cosmo, và tập đoàn Hearst đã có điều họ cần – một thực tế duy nhất để thải hồi vị nữ thần vệ quốc sớm 18 tháng trước hạn định của hợp đồng trách nhiệm. Mẹ Cả kiêu hãnh trả lời “Tất cả vụ om sòm này đến tai tôi sau cùng, và tôi là người hết hồn khi biết tin. Đơn giản là tôi chả đang rời đi đâu cả.”

Hai tuần sau khi tin đồn phát tán, tin tức nóng hổi được xác thực duy nhất từ nhà Cosmo là cái chết của Helen.

Frank A. Bennack Jr., CEO của tập đoàn Hearst bùi ngùi vĩnh biệt vị nữ đại công thần quá cố: “Helen Gurley Brown đã là một biểu tượng. Nguyên tắc trung thực và thẳng thắn mà bà vẫn luôn cổ xúy độc giả cùng áp dụng vào cuộc sống, các mối quan hệ, sự nghiệp, và cả vẻ đẹp đã cải mệnh cả nền công nghệ báo chí. Bà đã sống dày và giàu từng ngày trong cuộc đời ấy, và bà sẽ vĩnh viễn được tưởng nhớ như một Cosmo Girl đúng nghĩa. Chúng tôi sẽ rất nhớ bà!

Vâng, và chúng tôi sẽ rất nhớ bà, Helen!

bạch mao nương

Túy Ca

Là tàn dư sống sót từ “kỷ haute couture” hoàng huê kiều mị, Nàng sở hữu một nhan sắc của loài hồ ly thành tinh mà hóa thánh – vừa gợi tình, u mặc, vừa ngạo mạn tôn nghiêm. Nàng là nhân chứng hoàn hảo cho tinh túy nhan sắc Đàn Bà.

Như chính dòng nước hoa trứ danh Nàng từng đại diện, Carmen Dell’Orefice đã có những note hương đầu tươi tắn của tuổi 15 hoàng hoa hiển hiện sắc hương dậy thì trang bìa nhà Vogue, một tầng hương giữa vừa nồng nàn mùi hormon đàn bà, vừa u thảm những chuyến đò bến đục, của xa hoa, khánh tận, và đam mê. Nhưng nhan sắc madame Carmen mới thật sự lộng lẫy ở những note cuối cùng, quý phái dư sắc trầm hương của giai nhân 80 tuổi – người mẫu cao niên nhất của lịch sử catwalk thời trang.

Cuối thập niên 1950, cả thế giới mắc chứng ngứa ngáy hàng loạt bởi câu nói của đào Monroe rằng nàng chỉ ‘khoác’ vài giọt Chanel No.5 lên người khi đi ngủ. Người ta coi người đẹp tóc vàng này là một đại sứ vinh hiển cho danh tiếng nước hoa No.5 nhà Chanel. Trong khi đó, ngược chiều đám đông, bà Coco lại chọn một người đàn bà khác cho những shot ảnh quảng cáo lọ nước hoa bất hủ kia: Nàng có một khuôn mặt thanh tú, đôi gò má bén ngót, chiếc cổ của loài linh dương, nụ cười mệnh phụ quý phái và đôi mắt yêu tinh. Shot ảnh, cũng như dòng nước hoa và chính người đàn bà trong ảnh, trở thành những chuẩn mực trường tồn.

Nửa thế kỷ sau, No.5 vẫn ngự ngai chí tôn của dòng mùi hương xa xỉ, và mệnh phụ tóc trắng Carmen Dell’Orefice lại vừa sải bước hồng hạc trên catwalk mùa SS2012 vừa qua, sau khi mừng sinh nhật tròn 80 tuổi và học hàm tiến sĩ danh dự của trường Đại học Nghệ thuật London.

Như những note cuối của dòng hương tuyệt tác, nhan sắc của người đàn bà khi lắng xuống như note trầm đằm thắm trong sự quý phái đến mức tôn nghiêm, đó là khi dung nhan trở thành khí chất, và hóa thánh cho người đàn bà sặc sụa vẻ quý phái được giới hậu đài mọi sàn diễn couture kính cẩn gọi bằng hỗn danh The Countess (Bà Bá Tước).

Nàng ballerina của Dalí

Là kết quả cuộc dan díu tồi tệ đủ để nảy mầm một nhan sắc mặn mòi nhất nhì trong lịch sử loài người, sự kết hợp hoàn hảo giữa cái ngạo mạn hoang dã của tay nghệ sĩ violin Ý, với vẻ thanh tú uy nghiêm của một vũ nữ ballet Hungary, Carmen đã trải qua tuổi thơ vạ vật ở viện tế bần, trải qua cơn bệnh thập tử nhất sinh ở tuổi 12, được phát hiện trên một tuyến xe bus ở tuổi 13 và xuất hiện trên bìa Vogue chỉ 2 năm sau đó; 3 đức ông chồng, 3 bận phá thai và 2 lần phá sản, nàng vẫn lộng lẫy xuất hiện tại mọi tuần lễ thời trang từ Paris đến New York, nàng đốt nóng sàn diễn của những thiên tài đương đại từ Thierry Mugler, Jean Paul Gaultier đến John Galliano bằng ngọn lửa bạch kim trên mái tóc bồng, khuôn mặt của yêu nữ thành tinh với cặp lưỡng quyền có thể dùng để cắt bánh mì.

Cách đây 67 năm, sau shot ảnh đầu đời do Herman Landschoff chụp thử, mẹ nàng nhận được lá thư từ chối khéo léo rằng “cô Carmen Dell’Orefice tuy rất khả ái, nhưng đáng tiếc, không mấy ăn ảnh”. Carmen lại tiếp tục cam chịu sự chê bai chì chiết từ bà mẹ nghèo nhưng cầu toàn đến khắc nghiệt. Cho đến nay, đã là cụ bà cao niên hiếm có, Carmen vẫn rùng mình khi nhớ lại “Tôi bị phũ phàng tước sạch mọi sự tự tin, đến đôi tai của mình cũng khiến tôi ngượng ngùng vì xấu hổ”. Chỉ có người cha đỡ đầu của cô đã không tin vào điều đó. Ông âm thầm gửi bức ảnh đến tòa soạn nhà Vogue. Một năm sau đó, hình ảnh của Carmen đã xuất hiện lẫy lừng trên trang bìa tạp chí này.

Ngày ấy, nàng chỉ là cô gái nhỏ còi xương đang chơi trò tình yêu với cậu con trai nhà bán tạp hóa trong xóm, và thoắt trở thành nhan sắc trang bìa của một trong những tờ tạp chí thời trang hùng mạnh nhất toàn cầu, nhưng vẫn trượt patin đến studio để tiết kiệm tiền đi xe bus.

Chính trong thế giới thời trang, Carmen tìm được cho mình người mà nàng coi như người mẹ thứ hai – người mẫu thượng hạng Dorian Leigh. Nàng hay gọi bà là “má”, còn Dorian trở thành thân chủ của những chiếc váy do nàng và mẹ nàng may.

Dorian Leigh

Má Dorian cho nàng một ít tiền để đi taxi đến nơi làm việc, còn nàng dùng tiền đó để mua thức ăn mang về nhà. Năm 1947, với sự can thiệp của “má Dorian”, khoản thu nhập còm cõi của cô gái trẻ được nâng lên mức 10 dollar mỗi giờ và thậm chí đến 25 dollar với các shot hình quảng cáo.

Ở tuổi 16, Carmen trở thành một trong những người mẫu trang bìa trẻ tuổi nhất của Vogue, là cục cưng của các nhiếp ảnh gia khét tiếng nhất cùng thời. Shot ảnh bìa cho Harper’s Bazaar năm 1960 do Melvin Sokolsky chụp mang tên Carmen Las Meninas đã trở thành bức ảnh huyền thoại được phổ biến và săn lùng khắp thế giới.

Với một sự xanh xao, dáng điệu kiêu kỳ, và khả năng tạo dáng siêu phàm với đôi cánh tay như cặp chân loài hồng hạc, Carmen chính thức trở thành nàng thơ của danh họa thiên tài Salvador Dalí.

Quyền lực của hormon đàn bà và gã bần tiện tốt số

Đến thời điểm này, trái với sự chờ đợi của hãng đại diện người mẫu và tờ Vogue, nàng thiên nga con vẫn chưa chịu thật sự bung nở vào vẻ đẹp thiếu nữ đến thì. Thất vọng với cô nhỏ còi cọc, hãng Eileen Ford từ chối tiếp tục đại diện cho Carmen, trong khi nhà Vogue cũng tỏ ra thờ ơ nhạt nhẽo, còn các photographer cũng đã chán ngấy việc phải chờ stylist nhồi khăn giấy vào áo ngực của cô thiên nga chậm lớn.

Đó là khi Carmen phải cầu cứu đến y học và những mũi tiêm để kích hoạt các dấu hiệu dậy thì. Như một lối thoát sự nghiệp hơn là một đòn trả đũa, Carmen bắt đầu nhận lời chụp catalog và nội y, với đôi bàn tay dài muốt che khuất gương mặt và mức lương vọt lên đến 300 dollar mỗi giờ.

Với lượng hormon đàn bà được kích phát bởi sự can thiệp của y học, Carmen một lần nữa ngự thế thượng phong làng mẫu với những đường cong ngốt người và sự già dặn bắt đầu nhuốm màu trên khuôn diện tiểu nữ thần.

“Khi này tôi mới 17 nhưng trông như một bà 35”. Cả một dạ tiệc đã được tổ chức long trọng để giới thiệu tiểu thần nữ vừa chín tới với các quý ngài trẻ của New York. Nàng nhanh chóng thu hút được sự ngưỡng mộ của các công tử hoang đàng phố lớn, từ tay chơi De Cicco, Igor Cassini cho đến Joseph P.Kennedy.

Nhưng tầm ngắm của giai nhân lại dừng lại ở ngài William Miles chững chạc, hơn nàng những 10 tuổi và là một doanh nhân. Nàng thuận ý kết hôn, và nhận ra mình chỉ đơn giản đã gia nhập một hãng đại diện tồi tàn và keo bẩn nhất trong lịch sử. Đức lang quân cương quyết bắt nàng phá thai, thâu tóm mọi món thu nhập của nàng, hàng tuần đích thân đến hãng nhận tiền lương của vợ và chi cho carmen 50 dollar mỗi tuần dằn túi. Nàng ly dị chồng ngay sau khi bé gái Laura ra đời, như nghiệp mệnh để lại từ mẹ nàng. Tóc nàng bắt đầu trổ bạc từ đấy. Đến tuổi 43, Carmen quyết định chấm dứt việc nhuộm tóc khi toàn bộ đã chuyển sang màu trắng bạc, cho nàng một vẻ uy nghiêm nửa như một nữ thần, nửa xa lạ như một loài linh thú diễm kiều, chính thức vĩnh biệt hình ảnh đằm thắm của nàng ballerina tóc mun.

Nhiếp ảnh gia cơ hội, một gã nghiện, và một xác chết

Không phải mất quá lâu để nàng lại khép cánh tình hồng hạc vào vòng tay nhiếp ảnh gia Richard Heimann sau chỉ 6 tháng quen biết. Thiếu phụ ngờ nghệch say sưa với cuộc hôn nhân mới và rắp tâm nghỉ hưu non để chuyên chú nghiệp tòng phu, và gã nhiếp ảnh gia cơ hội bỏ rơi nàng ngay tức khắc.

Chuyến sang sông lần thứ ba của nàng cũng diễn ra không lâu sau đó, với kiến trúc sư Richard Kaplan. Lời thề “cho đến khi nhắm mắt” trên thực tế kéo dài chưa đến 10 năm. Chàng hóa ra là một con nghiện hạng nặng, và họ chia tay khi Carmen khám phá ra việc đức phu quân lôi kéo cả cô con gái riêng của nàng là Laura vào vũng lầy ma túy. Về sau, Laura trở thành chuyên gia tư vấn cai nghiện có tiếng tại California.

Sau cuộc ly dị cuối cùng, giai nhân tuyệt vọng thất thểu trở về sàn diễn, và từ đó đến nay, dù vẫn dập dìu lên xuống vài chuyến đò tình tròng trành và chóng vánh, Carmen không còn rời bỏ sự nghiệp lần nào nữa – nàng dành sự chung thủy duy nhất cho điều sẽ không rời bỏ nàng. Và quả tình, sàn catwalk chưa thủy chung bền bỉ với bất cứ người mẫu nào như với Carmen.

Điều kì lạ là Bạch Mao Nương vị tình vẫn tiếp tục giúp đỡ các ông chồng của nàng ngay cả sau này. Nàng khuyên Ông Ba trở thành tay máy điện ảnh, chi trả mọi khoản để ông này trở thành đạo diễn, và cuối cùng thì phim Godspell cũng ra đời. Carmen xoa tay tâm đắc “Ít ra, có một số khoản đầu tư của tôi cũng có ích đấy chứ!”

Mãi đến cuối thập niên 1980, nàng rón rén thử thời vận một lần nữa với David Susskind – một host truyền hình lịch lãm. Nhưng quý ngài talkshow lăn ra chết trước ngày cưới, tưởng như chấm dứt mọi cố gắng cuối cùng của madame đa tình Carmen.

Nhan sắc lưu vong trong vòng tay tài phiệt

Cuộc đời người đàn bà có nhan sắc của mụ phù thủy hoạt hình ấy hẳn không hề là một chuyện thần thoại màu hồng. Nhưng tư chất kiêu hãnh tự tại, sự vô ưu khoáng đạt trong triết lý sống, mặc nhiên với mọi biến cố của số phận và con người ném về phía mình khiến người đàn bà trở thành một thánh mẫu uy nghiêm và vô nhiễm.

Không hẳn nàng là thể loại “lạc quan không khoan nhượng” với một niềm đam mê và tham vọng cào cấu bên trong để dằng dai bám trụ trong giới phồn hoa của thời trang cao cấp. Điềm tĩnh và thăng bằng hoàn hảo như một tư chất tối ưu của một vũ công ballet, nàng đào luyện cho riêng mình một nụ cười mềm mại, bí ẩn, nửa vị tha nửa mai mỉa vào mọi cú đá của số phận, nhưng vẫn ủy mị đàn bà đủ để thốt lên đầy sầu thảm “Than ôi, tôi biết làm gì khác đâu nào!”, rồi giang đôi cánh tay yêu kiều với những ngón dài hoa mỹ trong một dáng vẻ vừa bất lực, vừa sang cả đến cầu kỳ.

Nàng là nàng thơ của những cái tên khắc dưới chân mọi tượng đài, từ Horst, Avedon, Penn và Parkinson, cho đến thiên tài cổ quái Salvadore Dalí. Và nàng hẹn hò dan díu cũng với không ít trong số đó, mà nổi tiếng và ồn ào nhất là nhiếp ảnh gia Norman Parkinson. 41 tuổi, họ gặp nhau tại một bữa tiệc, ông khen rằng nàng “trông không đến nỗi nào so với một cái túi xương cũ nát” và khuyên nàng quay trở lại sự nghiệp người mẫu. Dalí tôn thờ nàng, còn “người đàn bà mặc quần và nhảy múa” Dietrich thì có lần lau dọn bếp cho nàng. Đó là một cuộc đời mà ký ức được nạm óng ánh bởi kỷ niệm, khuôn mặt và dấu ấn tài hoa của những siêu sao, thiên tài và huyền thoại.

Nhưng ánh hào quang của các tinh hoa thiên tài chỉ là thứ tài sản quá trừu tượng cho đời sống một bậc nhan sắc, còn những quý ngài trẻ tuổi si mê bộ môn tình ái với các quý bà độ tuổi mặn mòi lại không đam mê chiến tích cưu mang một nữ hoàng thất thế.

Nàng chọn đặt mình vào vòng tay tài phiệt. Trong những năm 80 và 90, Carmen thua toàn bộ tài sản vào thị trường chứng khoán, khánh tận đến mức phải đấu giá toàn bộ những bức ảnh quý từ thập niên 40, trao tất cả cho nhân tình là Norman Levy để đầu tư cho Madoff trong canh bạc chết người của thị trường tài chính. Trong suốt 12 năm, vợ chồng nhà Madoff cùng cặp đôi Carmen – Norman luôn thân thiết cặp kè cùng nhau như một gia đình hảo hữu tầng thượng lưu.

Có vẻ cuối cùng, Bạch Mao Nương đã tìm được chiếc áo vừa vặn, ấm áp và thừa lộng lẫy xa hoa để xứng hợp với mình: một người tình, và một nhà tư vấn đầu tư ngoại hạng.

Vụ lừa thế kỷ, và thứ tài sản không thể tịch biên

Levy mất năm 2005 khi 93 tuổi, để lại cho người tình cuối đời của ông là Carmen toàn bộ tài sản trị giá 244 triệu Mỹ kim, nhưng dưới quyền thừa hành và cai quản của hảo hữu Madoff.

Carmen khép cánh phù dung, sống an nhàn và vô ưu thụ hưởng trong sự tin cẩn tuyệt đối mà Levy dành cho Madoff – kẻ nắm trong tay vận mệnh tài chính của người đàn bà phù phiếm. Nàng Carmen âu sầu và đơn độc đều đặn đi ăn tối cùng người bảo trợ khôn ngoan và ân cần, nhưng những lần này không còn sự hiện diện của phu nhân Madoff.

Cùng lúc, thâu tóm quyền quản lý và đầu tư tài sản của Levy, Madoff dùng con số mê hoặc 244 triệu để thu hút hàng loạt nhà đầu tư thiêu thân khác vào vụ lừa lịch sử. Tháng 12 năm 2008, một nhà đầu tư khác, cũng là một quý bà đã gửi trọn tài sản tiết kiệm cả đời cho Madoff, gọi điện cho Carmen và cho nàng hay rằng Madoff đã thua đến đồng xu cuối cùng số tài sản khổng lồ của nàng cùng hàng loạt nạn nhân khác vào sàn chứng khoán. Yêu kiều, nàng thốt lên rền rĩ “Vậy là tôi khánh kiệt những 2 lần trong đời rồi đấy!”

Trắng tay, Bạch Mao Nương lại quay về với thế giới của những shot hình và catwalk, nơi nàng luôn được tôn thờ và chào đón, dù đang ở độ tuổi nào: “Tôi biết làm gì khác đây, khi những người đàn ông bỏ ra đi hoặc trở nên bất lực, hoặc chết? Làm mẫu là điều duy nhất tôi biết làm để tự nuôi mình, là lãnh vực duy nhất tôi am hiểu, và là thứ duy nhất khiến tôi hứng thú, nơi tôi yêu và được yêu lại”. Và cũng là thứ duy nhất thủy chung bề bỉ với nàng từ thập niên này sang thập niên khác.

Liệu tổn thương mà người tình quá cố để lại cho nàng – tay Madoff lừa đảo, có khiến trái tim già nua mệt nhừ của Bạch Mao Đại Nữ vĩnh viễn đóng cửa trước ái tình (dẫu chỉ trong tròm trèm 20 năm còn lại). Bạch Mao Nương lại lim dim khóe mắt bén ngọt viền chân chim “Nhà ngân hàng chắc sẽ lấy mất của tôi nhiều thứ. Nhưng không phải Tình Yêu”.

Tuy nhiên, lúc này có vẻ như Bạch Mao Nương đang không thuộc về vòng tay gã đàn ông nào cụ thể cả, nhưng chớ vội cho rằng đó là bởi dòng hormon hiếm hoi của tuổi dậy thì đã cạn kiệt trong cơ thể người đàn bà ấy. Khi được hỏi liệu dục tình đối với nàng khi này có còn là điều quan trọng, nàng hỏi lại “Thế thở có quan trọng không?”

Gần đây không lâu, khi được hỏi về một trong những bí quyết giữ vững chiếc vương miện nhan sắc trên đỉnh đầu kiêu hãnh, cụ bà kiều mị 80 tuổi đã hồn nhiên liệt kê ngoài những hãng kem thoa mặt và thực đơn chay tịnh là những buổi đánh golf cùng nhân tình trẻ, với tuổi đời chưa bằng một nửa của mình. Nàng đã học được thứ kiến thức ái tình khôn ngoan nhất của người đàn bà: si mê nhưng không tôn thờ, thụ hưởng nhưng không phụng sự.

Note lưu hương lộng lẫy tuổi 80

Áp lực nặng nề nhất cho một nữ cao niên 80 tuổi trong thế giới người mẫu “Đó là khi mấy tay designer đời mới cứ nằng nặc bắt tôi xỏ vào mấy cái quần da mà cả đời tôi không bao giờ mặc tới”

Nàng không than vãn, chỉ là “Bạn biết đấy, khi bạn ngấp nghé ngưỡng 80, áp lực không chỉ là nhan sắc, mà trên hết, đó là lòng tự tôn và danh dự – những note cuối cùng tinh túy nhất của nhan sắc đàn bà để dung nhan vào huyền thoại. Dẫu sao thì bản thân tôi cũng đã là một di tích sống rồi”. Thái độ thăng bằng và tuyệt đối quý phái của madame Carmen trong tình trạng khánh kiệt không khỏi nhắc người ta nghĩ đến một Marie Antoinette trên đường đến đoạn đầu đài, nhưng với Carmen, nàng tiến bước lên sàn catwalk.

Từ thời thủy tổ của nghề người mẫu, việc tuổi thọ các công dân catwalk vượt quá 24 đã là điều hiếm. “Thì tôi cũng nghĩ vậy. Tôi nghỉ hưu lần đầu năm 1959, hồi mới lấy ông chồng thứ hai được hai tuần. Ông ấy liền bỏ tôi vì điều đó, thế là tôi lại quay về với thời trang.”

Sẽ là sai lầm trầm trọng nếu cho rằng ẩn sau cốt cách quý phái ấy là một Carmen đầy tuyên ngôn bình quyền của thế hệ các nhà hoạt động đội đá vá trời và thô kệch. “Giải phóng phụ nữ hả? Làm ơn đừng giải phóng tôi được không? Tôi đã phải làm việc thật sự cật lực để đàn bà được như thế này. Tôi hết mình tôn trọng các bà các chị dũng cảm và giỏi giang ấy, nhưng làm ơn lắng nghe này, một khi bạn đã ở một độ tuổi nào đó như của tôi đây, làm ơn giữ lại cặp nịt ngực trên người. Năng động, tự do, với cặp nhũ thõng thệu thì cũng vẫn khó coi như thường”

Và nàng vẫn nghiễm nhiên là tượng đài sống của giới thời trang, từ các designer đến mọi siêu mẫu hàng thượng thặng. Nàng lộng lẫy, hào nhoáng, phù phiếm và tinh tế đến từng chiếc móng tay, nhưng đài các và tôn nghiêm như một nữ bá tước thời phong kiến trong bộ cánh thời thượng cầu kì, một chứng nhân sống sót của “kỷ haute couture” hoàng kim lừng lẫy.

Tất cả những điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với xuất thân bần hàn của cô bé còi cọc trượt patin đi làm thêm và tự may váy cho mình từ những tấm vải thừa. Vào những ngày đó, nàng và cô bạn chí thân là Suzy Parker – người mẫu cục cưng của Chanel, thường tha theo mình chiếc máy may trong những lần lưu diễn đến Paris. Họ say sưa ngắm nghía những vật phẩm xa xỉ của thời trang trong mọi buổi diễn, rồi về phòng khách sạn và tự may lấy cho mình những bộ váy tương tự, theo kiểu Paris, để mặc đến các buổi tiếp tân, dạ hội.

Hẳn nhiên, ngày nay, Carmen không còn phải tự cắt may xống váy cho mình nữa, nhưng có tới 5 chiếc máy may: “Bạn bè cũ, cứ chết đi là di chúc tặng lại cho tôi chiếc máy may cũ thuở cơ hàn của họ. Mà biết đâu đấy, nhà ngân hàng cứ gửi thư đòi tiền, lại dọa tịch biên căn hộ này của tôi bất cứ lúc nào. Có thể tôi sẽ lại cần đến chúng, quan trọng là sẽ vẫn có những buổi dạ tiệc cần xuất hiện cho tươm tất đàng hoàng. Có những thứ nhan sắc chỉ hoàng hoa vào cao trào của thanh xuân và phần số, rồi lụi tàn trong một thứ hương thừa héo hắt. Nếu là một loại nước hoa tỏa hương bền bỉ, bạn sẽ muốn những note cuối chỉn chu.”.

Chat với Carmen

Trí tuệ, nhan sắc, hay tài sản?

Tất cả. Nhưng theo thứ tự như trong câu hỏi.

Mơ ước thời thơ ấu của bà?

Hạnh phúc! Không đói. Và tự do.

Hầu như bà đã gặp, làm việc cùng, quen biết tất cả những tượng đài, vĩ nhân làng thời trang thế giới. Còn sót ai mà bà chưa gặp?

Madame Curie và Pierre Teilhard de Chardin

Hãy mô tả bản thân trong 3 từ.

Cao, bất hủ, khôn ngoan.

Vật gì bà luôn mang theo người?

Bằng lái, trong đó có ghi rõ tôi là người hiến xác, địa chỉ nhà mình, và chìa khóa.

Ai là người ảnh hưởng đến bà nhiều nhất?

1.     Mẹ tôi, nay đã mất

2.     Người bạn và chỗ dựa tinh thần suốt 64 năm là Eileen Ford, giờ đã 90 tuổi rồi

3.     Bạn gái thân suốt 58 năm Margaret Hoffman, giờ 95 tuổi và tinh thần minh mẫn hơn bao giờ.

4.     Sau đó là mọi quý ngài đã từng yêu tôi (sau cha tôi)

Nỗi sợ lớn nhất của bà?

Đạp vỏ chuối, trượt té.

Lần cuối bà nói yêu một ai đó là khi nào?

Cỡ 20 phút trước.

Lời khuyên tuyệt vời nhất bà từng được trao?

Hồi đó mẹ tôi nói “Thiên hạ đều có thể sai bét, và con luôn đúng!”

Trời ơi, bà mới chí lý làm sao!

đàn bà như hương…

by f.

Sự khác biệt giữa một dòng hương siêu phẩm và phiên bản tội lỗi của hàng nhái, dẫu trí trá tinh xảo đến mấy, vẫn  nằm ở cuộc đan xen ngoạn mục của những note hương trong một bản tổng phổ hòa hương vi diệu.

Với một dòng nước hoa siêu phẩm, mỗi tia bụi nước là cả một bản giao hưởng tài tình, một câu chuyện được “lắng nghe” bằng khứu giác và tiềm thức. Nó là âm nhạc, là hình ảnh, nó có những biến cố, những nút thắt oái oăm dẫn đến những cao trào đậm đặc huy hoàng.

Mỗi một loại nước hoa là một câu chuyện khác nhau, mà giá trị chắt lọc lại trong những note dư hương cuối cùng với ma lực ám ảnh dằng dai.

Khi dàn giao hưởng đã tấu hết note cuối cùng, sợi vĩ vẫn còn rung lên dư chấn khoái cảm, như chính sự run rẩy cuối cùng của từng tế bào khứu giác, ngân nga thứ âm nhạc vô ngôn của da thịt.


Người ta nói đến những thiên tài âm nhạc và văn chương, những kẻ đã tác tạo nên cho nhân loại những phần đời hoang tưởng để sống giàu hơn một số phần hữu hạn, để đi nhiều hơn đôi chân có thể, trải rộng hơn không gian đời người, phá mọi quy luật logic để thả mình vào một thế giới hoang đường trong vài trống canh thụ hưởng.

Nhưng không mấy ai biết đến những thiên tài về mùi hương – các perfumer, những sinh vật thượng tầng với khứu giác siêu phàm và gout hưởng thụ duy mỹ. Họ là những tay phù thủy biết tiêu khiển với tiềm thức, tái hiện những cảm xúc xa xỉ nhất của tinh thần lãng mạn và ký ức. Họ xâu chuỗi và sắp đặt các note hương vào những bản tổng phổ kỳ vĩ trong kết cấu 3 chương, được tấu lên vào khoảnh khắc chạm đến làn da, rồi thăng trầm những biến cố, li điệu suốt hàng giờ sau đó, để rồi lắng đọng, nhường chỗ cho những note cao quý sau cùng.


Một dòng hương thứ phẩm sẽ chỉ còn hăng hắc lớp hương bề mặt của loại nước tẩy mùi, chông chênh lấp liếm bụm che những dấu vết tố cáo thứ mùi bài tiết thật thà sống sượng. Cả hai sẽ trộn lại, trấn áp và tố cáo lẫn nhau trên cùng một bản thể.

Chỉ với một hợp thể kiêu hãnh của văn minh thời trang, người ta mới thụ hưởng được những note hương thượng hạng cho khứu giác – những điều đọng lại cuối cùng, tôn nghiêm và đầy ám ảnh.

Đối với một mùi hương, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài tối đa 8 tiếng.

Đối với một tuyệt phẩm đàn bà, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài hơn cả 80 năm.

Có lẽ khi gã Maurice rậm râu, cha đẻ của dòng hương sến cách tân nhà Lolita Lempicka đã nghĩ về nàng thơ của danh họa Salvador Dalí khi thốt lên lòng ngưỡng mộ dành cho những người “đàn bà Hungary với sự kiểu cách của người Pháp”.

Bởi Nàng là một thứ xa xỉ phẩm của lịch sử catwalk thời trang, một tạo vật hiếm hoi mà Chúa trời ắt đã thiết kế nên trong tình trạng lâng lâng phê thuốc.

Với những cấu thành tinh túy nhất của xuất thân, nàng mang dáng dấp nữ hoàng của một vũ công Hungary và nét hoang dã bạo tàn của một tay hoang đàng người Ý.

Nhưng những thành phần tuyệt hảo đó đã không ủ nồng dậy men, nếu không có những thăng hoa và thống khổ đến tận đỉnh lẫn đấy, nếu không có những chê bai bỉ báng, những bận khánh kiệt khốn cùng để thấy tài sản duy nhất còn lại để làm nên một danh dự đàn bà – khả năng Yêu.

Và lịch sử thời trang đã cho nhân loại một người đàn bà như vậy – người mẫu 80 tuổi Carmen Dell’Orefice.

Mỗi người đàn bà là một mùi hương riêng biệt.

Mọi tầng hương đầu đều khoa trương, kiều mỵ hay diêm dúa.

Nhưng thời gian qua đi, vài giờ, hoặc vài thập niên,…

điều còn lại cho những note nhan sắc cuối cùng là danh dự, sự kiêu kỳ của tư chất tự tại, thanh tao và vô nhiễm.

 

Người ta sẽ thảng thốt nghiêng mình khi lặng người nhận ra note hương cuối mà Maurice nghiêm cẩn tác thành nên Fleur de Corail diêm dúa lại là những note trầm hương, với những ưu chất mà ông gán cho khái niệm đàn bà thượng đẳng: tôn nghiêm, xa cách, và gợi dục đến cầu kì.

 

Đàn bà như hương, sự suồng sã cuối đời sẽ bóp méo hình mạo đến nhăn nhúm mà rỉ ra thứ hương bài tiết.

Còn những quý bà chân chính – họ trải qua tuổi trẻ để tạc nên những khắc vạch tuổi già lên những phiến trầm hương.

dân Anglais thứ thiệt

Trác Thúy Miêu

Alice Temperley coi trọng những điển lễ, những dịp hội hè, và nhất là các đám cưới. Đó chính là người phụ nữ mà các nữ nhân hoàng tộc Anh quốc tìm đến để tham vấn chuyện sắc phục hội hè, và cả các fashionista trung lưu. Dù đó là đám cưới thôn trang vùng Glastonbury ảm đạm, hay các tân nương da nâu đến từ trảng nắng sóng sánh mật ong ở miền địa đàng Tuscany, nữ tông đồ người Anh sẽ vẫn phủ lên họ một lớp kem màu ngà như truyện cổ tích, biến họ thành những nàng Lolita vừa chín tới trong bộ cổ trang thời thượng, phóng khoáng và hoang đàng, hòa quyện oái oăm với duyên trầm mặc của một Jane Eyre thanh đạm nhưng kiêu kỳ dòng máu Anglais.


Chiếc váy màu cẩm thạch cho em gái công nương

Cách đây không lâu, ngày mà Sarah Burton đăng quang bằng bộ váy cưới hoàn hảo cho công nương Kate Middleton, nhưng cô em gái Pippa lại xuất hiện với chiếc váy màu xanh ít nhiều làm lu mờ cả cô chị trên đỉnh hôn nhân vương giả, thì cả nước Anh và châu Âu đã hướng sự ưu ái đặc biệt đến Alice Temperley – người đàn bà làm nên bộ váy màu cẩm thạch trứ danh nọ. Nàng lập tức được cả hoàng tộc vồ vập, bắt đầu với chính tân công nương Kate Middleton cho đến bà mẹ kế nhà chồng Camilla.

“Điều thú vị nhất với tôi là hình ảnh Pippa rời bữa dạ tiệc trong chiếc váy xanh, nó đã lan xa tới tận những đâu đâu.” Ngay buổi sáng sau ngày Sarah Burton lẫn Kate Middleton đăng quang với chiếc váy cưới hoàn hảo, trong khi cô em đăng quang thần tượng thời trang trong lòng mọi con dân tín đồ Anh quốc, thì tại Notting Hill, Alice Temperley bị tấn công bởi những yêu cầu mua các phiên bản của chiếc váy màu ngọc trứ danh ấy. Nhưng nàng từ chối “Pippa xứng đáng được sở hữu riêng chiếc váy ấy cho mình. Và tôi cũng không định làm rùm beng lên chỉ vì một chiếc váy, chỉ là một chiếc váy.”

Với giải Designer of the Year tại sự kiện 2011 Hollywood Syle Awards, cuối cùng thì bà trùm áo cưới Ăng-lê Alice Temperley nghiễm nhiên trở thành cục cưng của cộng đồng sao Mỹ, nhưng không ít nữ yếu nhân danh tiếng xứ cờ hoa, những cô đào Mỹ thượng hạng tìm đến tiệm Temperley và được khéo léo chối từ, thường là với lí do “chỉ còn hàng bày mẫu”. Các ngôi sao bước ra khỏi cửa tiệm nhà Temperley kiêu ngạo, nhún vai ngán ngẩm trước sự bảo thủ lì lợm của người đàn bà Anglais cuồng tín.

Alice cùng nhãn hàng vốn xưa nay khiêm tốn Temperley London bắt đầu thật sự được đặc biệt ưu ái bởi những nữ thân chủ hạng yếu nhân hoàng tộc, hoặc xoàng xĩnh ra cũng tầm minh tinh màn bạc, từ đào mụ đến đào tơ, và đặc biệt là những cô dâu tinh tế thừa đủ may mắn để đặt chiếc váy cưới Temperley London vào tầm ngắm. Lọt thỏm giữa cuộc tung hô quy mô rầm rộ ấy, bản thân Alice Temperley vẫn thu nhỏ, lặng lẽ, với một sự ngạo mạn của bản chất thuần chủng phớt tỉnh Ăng-lê.

Sự kiện đích thân Pippa – giờ đã vượt mặt cô chị trong vai trò thần tượng phong cách của giới fashionista Anh, xuất hiện thân mật ngay hàng ghế đầu trong show diễn tại New York của Temperley London, đủ khiến dân tình khiếp vía, báo chí râm ran những hàng tít lẫy lừng. Người ta sốt sắng muốn biết bằng cách nào Alice đã kéo được về phía mình một vị thân chủ thân thiết vương giả cỡ vậy, nàng chỉ ngơ ngác “Cô ấy lại mua đồ suốt, nhất là từ hồi đám cưới cô Kate. Rồi tôi rủ: ‘nè, Chủ Nhật tôi diễn show đó, cô thích coi không tôi để vé?’ và cô ấy đồng ý. Tôi không hề biết rằng nó sẽ được coi là một vụ tầm cỡ rộn ràng đến thế này, và tôi cũng không hiểu vì sao nó nên thế. Có lẽ rằng nếu cả tôi cũng nhảy cẫng lên vì cô Pippa, thì đó chẳng giống tôi chút nào, chẳng nằm trong sợi gene nào trong cấu tạo bản chất của tôi cả.

Pippa khả ái, tôi mến người khách hàng ấy và mời cô ấy đến show diễn của mình. Khái niệm này thì hiểu được, chứ còn bắt tôi cố nghĩ ra một điều gì phức tạp hơn thế thì không thể. Những điều đó với tôi xa lạ lắm.”

Người đàn bà thủ cựu và an nhiên ấy của lục địa già cuối cùng cũng nhẹ tâng đặt dấu ấn như đóng mộc hoàng gia Anh quốc lên thảm đỏ danh dự của những danh nhân dữ dằn nhất của làng thời trang thế giới, khi mà tầm cỡ quy mô của Tempeley London – cái tên cục bộ và kiêu hãnh, chưa thể gọi là một đế chế dàn trải đại đồng và hùng mạnh.

Tiểu quỷ vùng Somerset

Lớn lên ở điền trang Somerset, là trưởng nữ trong gia đình có 4 chị em, Alice luôn được cha khuyến khích nên trở thành một nhà nghiên cứu, hay một bác sĩ thú y, hoặc bất cứ thứ gì đại loại thế. Nhưng thừa hưởng từ chính cha mẹ mình niềm hứng khởi trong việc kiến tạo, cô gái dại dột lại thích cắt phăng những cái chụp đèn thời 1920 của bà thân sinh để làm nữ trang, nơ và xắc tay cầm chơi. “Mẹ tôi hay túm được tôi trong phòng ngủ của bà, bay thủ cái kéo to, lăm le quanh tủ quần áo của bà để cắt xén mọi thứ thành từng rẻo vải thảm hại, những chiếc khăn shawl, những chiếc váy, lồng chụp đèn, tất tật, một cách tàn nhẫn.”

Quả tình, cô trưởng nữ nhà Temperley có cho mình một vẻ hung hăng từ nhỏ “Tôi hung hăng cắt xén tóc mình tơi bời, rồi nhuộm lòe loẹt. Gần nhà tôi có bà hippie, hay tự nhuộm tóc bằng lá ngón cho đến khi nó đỏ rực rỡ lên. Tôi ấn tượng ghê gớm và học làm theo, nhưng tóc tôi lại ra màu cam chóe. Ở trường thì tôi bị coi là phần tử phiến loạn bởi những món tôi treo máng lên mình, tôi xé cụt vớ dài, cắt cao váy ngắn, đại loại thế, và cắt xén tả tơi cả những nội quy nhà trường. Tôi tuyệt vọng, tuyệt vọng, tuyệt vọng chực chờ cái ngày rời xa nơi ấy.”

“Tôi mê London. Có thể đi bộ ở mọi nơi, lang thang xuống mấy khu chợ cũ, vòng quanh Brick Lane, Covent Garden, lại ngược lối Soho sầm uất. Khi đó, tôi học chăm hẳn, bởi cho đến khi này, tôi thật sự được học cách kiến tạo thay cho cắt xé, xây thay vì phá. Trước đó tôi thích làm ra những thứ cầu kì chỉ để trưng bày là đẹp, và rồi tôi đã học được cách làm nên những thứ để trưng bày những gì lẽ ra nó che đậy, đó là cơ thể, rồi hơn nữa, đó là lối sống và tâm hồn.”

Với một tư tưởng duy mỹ hơn là một đầu óc chiến lược, Alice trở thành một quái tính được thời trang chính thống thuần dưỡng trong ngôi trường kì cựu của nước Anh. Cô bé Alice từ nhỏ đã biết đường loay hoay bán đi những đôi hoa tai thủ công trong trang trại trồng táo của gia đình, đã từng làm những món đồ thêu thủ công, những chiếc váy dạ tiệc đơn giản, bán cho các cửa hiệu dọc King’s Road và Covent Garden để tự trang trải tiền ăn học. “Điều này giúp tôi cân chỉnh kỹ năng sống và cả thái độ sáng tạo rất nhiều. Khi vào trường Royal College of Art, tôi đã biết làm mẫu và kinh doanh. Tôi nhận ra điều mình phải làm để bắt giấc mơ đi làm nuôi mình, và mình được trả tiền để sống trong mơ.”

Người đàn bà làm nghề may váy cưới

Nhưng chính sự thận trọng đó đã khiến một Alice Temperley không là một McQueen hay Gaultier phá chùa, bán trời không văn tự. Nàng kiến tạo nên những món xinh xắn, quý báu, và bất hủ tới mức an toàn. Khi mà các ngôi sao lẫn tín đồ đua nhau noi gương bạo ngược của Emilia Fox và Liberty Ross, và ít nhiều e dè với dòng góc cạnh của Kate Moss. Alice không chọn đạp đổ các thanh barrier, nàng chọn lòng tôn ngưỡng và tính công phu kỳ xảo, nâng tầm từng thiết kế lên hàng nghệ phẩm. “Tôi đang không cố chứng tỏ điều gì hay trở thành một hiện tượng mới nổi liều mồm. Tôi thuần túy thích tạo ra một cái gì đó mặc được, và mặc vào là đẹp. Không làm cách mạng, tôi làm đàn bà làm nghề may váy cưới, những bộ váy hoàn hảo.”

Temperley London đã ra đời như thế, ngay khi Alice tốt nghiệp vào năm 2000, với sự trợ lực hoàn hảo của tri kỷ Lars von Bennigsen.

Chỉ sáu năm sau đó, tờ Vogue Mỹ tung hô Alice là “nhà thiết kế gây sốt giữa đại cục thời trang Anh”, với những thiết kế mỏng manh màu ngà và trắng, những tảng đăng-ten thêu tinh xảo và dấu ấn những nghệ nhân thủ công siêu hạng của truyền thống may mặc đượm màu quân chủ.

Alice đã mang mình đi trên một đoạn đường xa là vậy, từ vùng thôn trang Somerset đến ngôi hội sở yêu kiều ở giữa khu Notting Hill thời thượng, với 5 nhãn hiệu độc lập, chiều chuộng những tín đồ vintage thượng hạng trên khắp 37 quốc gia, với từng thiết kế xứng đáng đượi coi là siêu phẩm tuyệt đỉnh của lối sống hoài cổ, lại hiển hiện một thái độ sống của mọi tiểu thư Ăng-lê đương đại.

Cho đến nay, chẵn một thập niên sau hôn lễ với Lars, những thiết kế váy cưới của Alice vẫn là một phiên bản hiển hiện buổi lễ thành hôn cầu kỳ nhưng tham đạm của họ, với chủ đề thẩm mỹ 1920, nơi nàng Alice Temperley chọn khoác cho mình bộ váy bằng chiffon nhàu, những mảnh ren tinh xảo nhất mà nàng cất công sưu tầm, được đính với những vảy cườm li ti chỉ 2mm rải rác, và tấm lưng trần đính chuỗi ngọc trân châu thanh nhã nhưng đầy khí chất công tằng tôn nữ kiêu sa.

Hầu như ngay lập tức, Alice, với tất cả đàn bà tính được thấm nhuần từ nền giáo dục cổ điển từ thời điền trang Somerset, đã ao ước thu gọn cuộc sống và mọi hoài bão vào một khuôn bếp gia đình. Khi này, chính Lars, với vai trò cái đầu tỉnh táo của Temperley London, và ngọn đại phong nâng đỡ cho sự nghiệp sáng tạo của vợ, đã không hề muốn có con. Mãi 6 năm sau, Alice mới được thỏa nguyện với đứa con đầu lòng.

Cũng cùng trong năm khai hoa, Alice chứng tỏ với vị quân phu CEO của mình một sự thăng bằng đáng nể mà nàng có thể dành cho hạnh phúc lẫn cơ đồ. Tháng Chín năm 2008, Alice tung ra sàn diễn bộ sưu tập xuân hè đình đám, và 5 ngày sau đó, nàng “tung” ra đời bé trai Fox London Temperley von Bennigsen Mackiewicz.

Giờ đây, gia đình họ lại tìm về sống ở Somerset 3 ngày mỗi tuần. Cô con gái vị trang chủ đã đi rất xa, chỉ để thong thả trở về, nhưng vẹn tròn và viên mãn. Chỉ với danh phận, các giải thưởng, những thân chủ có tên là Kate Middleton, Halle Berry, Scarlett Johansson và Sarah Jessica Parker, cùng tước hiệp sĩ hoàng gia MBE được phong tặng năm 2011 vì những cống hiến cho ngành thời trang Anh quốc, người ta mới hiểu được người mẹ trẻ chốn điền dã ấy đã đi bao xa.

Người đàn bà ngồi trong quả bóng thủy tinh

Đằng sau những thiết kế trầm mặc cổ điển, Alice Temperley đã từng được biết đến như một nữ hoàng tiệc tùng và tửu lượng đáng gờm. Đến giờ, người ta vẫn còn nhắc đến hồi sinh nhật tròn 30 vui nổ trời của nàng, cả một buổi dạ vũ Ả-rập với 400 vị khách mời ăn vận hào nhoáng khùng điên, với champagne chảy tràn như suối. Nhưng rồi nàng cùng chồng mua ngôi nhà ở Somerset, nơi Alice như một nữ sĩ miền quê, rút vào cái âu thủy tinh cách ly của mình, quẩn quanh với chồng con và những bản vẽ. “Tuyệt đối không một tiếng ồn, không tạp âm, dị vật nào được chào đón ở đây. Tôi khoanh vùng cuộc sống ở Somerset chỉ vừa đủ để sống vừa với chồng con – những người yêu thương nhất của tôi. Không điện thoại, internet, không gì cả, 3 ngày mỗi tuần. Chỉ có tôi, tình yêu, và những ý tưởng được hình thành trong bầu không khí vô nhiễm ấy. Chỉ ở một bầu không khí như vậy, tôi mới có thể toàn tâm nghĩ đến những chiếc váy cô dâu tinh khiết, một dòng nước hoa được chắt lọc tinh chất từ trong tư tưởng thanh tịnh toàn phần.”

Cùng lúc, ở nửa đầu cán cân đa nhân cách ấy, Alice ngả theo xu hướng internet hóa các hoạt động PR của nhãn hàng. Temperley London đang dần loại bỏ những buổi diễn để trưng bày hình ảnh trên internet, và Alice còn đang tìm nhiều phương tiện khác để thay thế một buổi diễn theo kiểu catwalk truyền thống. Chính tinh thần này giúp nàng vượt qua giai kỳ khủng hoảng kinh tế một cách tự tại và khôn ngoan nhất.

“Tôi có thể sống được trong một cái bong bóng, hay một cái âu bằng kính. Tôi cần một người đồng sự đủ tâm tri kỷ để bảo bọc mình khỏi mọi cọ xát với khía cạnh tài chính hay hành chính gì đó của công việc, và cả đời sống nữa. Tất cả mọi thứ diễn ra quá nhanh, và tự nhiên, như cách một quả bóng tuyết lăn lăn và to phình ra vậy. Khi cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra, tôi bần thần ngồi trong cái âu bằng thủy tinh của mình ngó ra, không ý thức được gì ngoài việc một đại gia bán lẻ nào đó đang nợ ngập đầu sa lầy phá sản. Tôi không tìm thấy trong cấu tạo gene của mình một mảnh nào cho phép tôi hiểu biết chút gì về cuộc đại chấn thê thảm này. Những cửa hàng nhỏ bắt đầu mất khả năng thanh toán, một số đóng cửa. Tôi chỉ còn cách từ chối bán hàng cho bất cứ ai không trả tiền ngay lập tức. Nhưng chính Lars mới là người đã đi qua hỏa ngục ấy thay tôi.”

Và ngay giữa cuộc suy thoái, như một động thái sáng suốt cho Temperley kết nối với thị trường trung tầm rộng lớn hơn, nàng tung ra dòng nhãn Alice by Temperley “Luôn là một cảm giác tích cực khi bắt tay làm một cái mới, trong khi mọi thứ xung quanh đang sụp đổ. Sẽ còn là một năm bão tố, và con thuyền mới này, dưới bàn tay hoa tiêu của Lars, sẽ đưa chúng tôi an toàn vượt khỏi vùng tâm bão.”

Câu chuyện cổ tích màu ivory

Mỗi thứ Bảy, Alice tiếp đến khoảng 15 cuộc hẹn với các nữ thân chủ đang mấp mé ngưỡng hôn nhân. Các cô dâu tương lai tìm đến với Temperley luôn tìm kiếm một cái gì đó “không như kiểu váy cưới thông dụng hoặc truyền thống, nhưng vẫn mang nét thiêng liêng, hơi bất thường, nhưng không giống một cái bánh kem nhân cô dâu.”

Và đó cũng chính là công thức ma thuật của những bộ váy cưới Temperley. Mặc nhiên với dàn thân chủ hoàng thân quốc thích, sự ưu ái của giới thảm đỏ showbiz, hay những ngợi ca của báo chí, Alice Temperley vẫn không lớn lắm khỏi cô bé tay cầm kéo to cắt xoẹt vào chụp đèn thập niên 20 và nhuộm tóc như trái bí đao – cô nhỏ bất toàn. “Tôi không cho rằng có nhiều người ngoài kia nhìn nhận tôi như một nhà thiết kế. Tôi hành xử khác lắm. Cứ nhìn vào những chiếc váy cưới như phục chế từ đầu thế kỷ trước, người ta cho rằng tôi lãng mạn vô cùng. Thật ra, so với tất cả những gì bềnh bồng lô xô và lóng lánh của giới thời trang áo cưới, thì tôi chỉ là một bà giáo khắc khổ dạy môn lịch sử, với đôi chân đặt vững dưới đất chớ không bay bổng giữa mây đăng-ten.”

Bước vào thế giới thời trang, như chính phong cách Thanh giáo khổ hạnh nhị sắc trắng đen của mình, Alice thật ra vẫn là cô nhóc 11 tuổi ở vườn táo Somerset, nghiện phim đen trắng, nhảy waltz trong bếp, giả đò mình là Marlene Dietrich hay Ginger Rogers. “Tôi ngán tận họng việc người ta dán mác cho thiết kế của tôi là trường phái bohemien, chỉ vì những nét váy flapper và tinh thần 1920 trong những chiếc váy cưới. Được thôi, thế là tôi dấn thân sâu hơn nữa, với hình hài Victoria, hay dòng hippie 1970 cho mùa hè 2011. Rồi xem, tôi sẽ minh chứng, những vẻ đẹp đó đã bất hủ đến nay, và rồi chúng sẽ không bao giờ lỗi thời. Những con số thập niên đi cùng chỉ có tác dụng gợi nhắc một thời kỳ, nhưng trường phái thẩm mỹ ấy là bất biến và vô hạn. Đó, theo tôi là điều quan trọng nhất cho một chiếc váy cưới. Chúng không nên cổ lỗ, nhưng sẽ không là những món vật quá hợp thời chỉ để vài năm sau đó, người ta phải ngượng ngùng vì vẻ quê mùa lạc mốt khi xem lại những tấm ảnh cưới.”

Thế là cô thôn nữ nước Anh chơi cuộc chơi của mình, từ Lolita đến Cleopatra, từ Grace Kelly sang Marie Antoinette, hay Jane Eyre đến ả mèo giống Gaulois bé bỏng Vanessa Paradis.

Giữa cuộc du hành vượt thời gian nhoay nhoáy như vậy, váy cưới nhà Temperley còn lại cho mình một dấu ấn gì đặc biệt? “Tôi thích làm ra những chiếc váy xinh, tinh xảo, màu trắng hoặc ivory kinh điển. Chúng trông yêu kiều nhưng thiêng liêng như một món hồi môn xưa cũ, nhưng không bệ vệ, trịnh trọng và dọa nạt bất cứ ai về gia thế hay độ kệch cỡm của nữ chủ nhân. Quan trọng hơn hết, nó giống như một bức tranh minh họa cho một câu chuyện cổ tích trang nhã với kết thúc có hậu, dù cô dâu có là nàng thủ thư khắc khổ, hay một nữ tài phiệt lang sói dữ dằn đến cỡ nào. Hôn lễ chính là ngày họ hoàn thiện tròn đâỳ câu chuyện cổ tích của riêng họ. Vậy, hãy hồn nhiên chọn mặc vào một chiếc váy trắng.

Alice lạc vào xứ sở khùng điên

Với tất cả những nỗi ám ảnh đầy màu sắc văn chương và sử học ấy, khó có thể hình dung tinh thần Temperley giữa một tuần lễ thời trang, và Alice tuyệt vọng vào vai của mình giữa khung cảnh nháo nhào mộng mị của một Wonderland. “Quả là nền công nghệ thời trang thế giới đã cho ra đời một đám đông hoảng loạn. Tôi có lạc lối thật, giữa cuộc đại hội phù hoa ấy. Như cô Alice lạc vào xứ sở khùng điên, tôi gặp không ít ả phù du ngạo mạn, những tay lập dị tham ái và loạn ngôn. Trời ơi, làm ơn thức tỉnh, chúng ta thiết kế ra thời trang, và đó không phải là một bộ môn khoa học. Chúng ta không bào chế thuốc cứu người, và càng không đang bảo vệ trái đất.”

Temperley không là một thế lực thương mại khét tiếng, nhưng bằng một tinh thần rất riêng, nàng hồn nhiên như một nhà truyền giáo tuẫn tiết, thiết lập cả một đế chế âm thầm. Tròn 1 thập niên sau sự ra đời của Temperley London, người ta nhận thấy làn sóng các nhà thiết kế trẻ và độc lập của nước Anh, lẳng lặng phục chế lại một tinh thần đế vương thuần chủng, ngạo mạn trên cả lối sống nô dịch thương hiệu, tác tạo ngay trên những chiếc máy may cổ lỗ trong mọi gian bếp, phòng ngủ, hay studio tự tạo dưới gầm garage. “Ngày nay, các celebrity trở thành các tông đồ khai sáng, và các nhãn mác thời trang là một thứ tôn giáo mê cuồng. Rập khuôn theo các tên tuổi lẫy lừng nhất, thật khó cho một nhà thiết kế trẻ để độc lập khởi sự mà không thúc thủ đầu quân cho một thánh đường lừng danh nào đó.”

Trào lưu nô dịch hàng hiệu có thể được nhìn thấy ở bất kì đâu, đặc biệt tại những thị phần chú trọng vào giới trẻ – những kẻ nông nổi, nhạy cảm với mọi trò khích tướng của các đấng cường quyền thời trang, từ tạp chí đến nhãn hàng. “Các phu nhân Anh quốc ở tầm tuổi tôi lại may mắn coi mix-and-match là một lối chơi tao nhã. Trong khi các tín đồ mới nhập môn say sưa rập khuôn theo hình mẫu celebrity, và đồng loạt nhuộm highlight, mặc jegging, dẫm bừa lên slimheel và hô hào thông điệp toàn dân cùng cá tính. Đâu đâu cũng thấy môi và ngực, thật thiểu não làm sao.”

Một người Anh chuyên chính và chủ thuyết của Temperley

Ngay từ khi mới thành lập, giữa những catwalk lẫy lừng của thời trang Anh, Alice điềm nhiên tung ra bộ sưu tập ngô nghê tự tại như một bài đồng dao cổ, với những chiếc váy thôn nữ thời thượng, tươi tắn lẫn uẩn mặc hương xưa.

So với bây giờ, có lẽ các tín đồ nhà Temperley đã có phần trưởng giả trang đài hơn hình hài đầu tiên ấy. Một phần do cuộc tấn công dồn dập của các tiểu thư nhà Middleton, và cũng bởi những tháng ngày Alice trải qua các cuộc chọn lọc đến hơn 300,000 hình ảnh đậm chất hoài cổ cho cuốn sách True British: Alice Temperley: “Sau một thập niên, người ta sẽ nghĩ nhiều hơn đến tủ quần áo của khách hàng, hơn là những ám ảnh vị kỷ sắc màu thẩm mỹ cá nhân. Thực hiện cuốn sách cũng là dịp để tôi đường hoàng nhìn lại 10 năm, những nơi đã đi qua, những trạng thái cảm xúc, cái cách mà tất cả hiển hiện như một biểu đồ khúc chiết, từ đó mà biết mình sẽ còn làm những gì về sau.” Và hẳn nhiên, ở đoạn cuối bảng biểu đồ thời cuộc ấy, người ta thấy hiển hiện tinh thần vương giả cầu kì trong tình hữu hảo của nhà thiết kế quân phiệt và hai tiểu thư nhà Middleton.

Cuốn Alice Temperley: Người Anh Chính Thống, đã có cho mình một tựa để chuẩn xác chân phương, đầy cao ngạo cục bộ như chính tên gọi Temperley London: tôi, và tinh thần nơi tôi sống, tất cả đã quá đủ cho một thái độ thời trang. Alice Temperley công nhiên tỏ lòng tôn ngưỡng các thẩm mỹ và lối sống truyền thống. Và như bản năng của đàn bà tính, nàng ưa nhìn về quá khứ để bói toán tương lai: “Làm một dân Ăng-lê đòi hỏi một sự can trường thực thụ, và tôi là một người ái quốc chuyên chính.”

Nhưng giữa một đại cục thời trang Anh quốc đương đại, với trào lưu chiết trung và cuộc tiêu khiển với họa tiết của những người Anh-mới, Alice vẫn không lạc lõng mà khôn ngoan ngồi vào chiếc ngai vintage chí tôn, quây quanh mình là những tín đồ thượng lưu hoài cổ. “Công nương và tiểu thư thứ nữ nhà Middleton, cả hai đều duyên dáng và khả ái – một dòng dõi Ăng-lê ưu tú hẳn hòi. Họ cho tôi một làn hơi trong mát giữa cuộc khuynh đảo làng thời trang của những diva showbiz từ nước Mỹ. Đây là các cô gái Anh chính tông, những vị đại diện tuyệt hảo cho thời trang và đẳng cấp nước Anh.”

Cuốn True British thoạt tiên đã là một dự án cá nhân, khi mà Alice và Lars cùng muốn nhìn lại một quãng đường dài tròn 1 thập niên của Temperley London, họ lôi ra những tư liệu, các phác thảo, và những hình ảnh cũ. Quá trình sắp xếp tích nhặt đã xâu chuỗi thành một cuốn sách hoàn chỉnh, một chủ thuyết hoàn hảo cho mệnh đề quân chủ của người đàn bà mang họ Temperley.

Vậy chủ thuyết đó là gì? Alice trả lời: “Đàn bà tính thuần túy, những giá trị thẩm mỹ bất hủ, trường phái chiết trung, không phải ngượng ngùng chùn tay trước mọi tiểu tiết cầu kì, hoa văn thêu, nền văn minh của nghệ thuật trang trí, và những gì mềm mại nhất. Với dòng hàng chủ lực, đó là những thiết kế cho dạ tiệc của quý bà, dòng thường nhật điệu đàng cho các tiểu thư son rỗi, và dòng cưới cho các tân nương kiểu cách sành điệu, tất cả được quy đồng thống nhất về một chủ thuyết đó, qua mọi mùa và mọi trào lưu.”

“Tôi chưa bao giờ cố để hợp thời hay gây sốt trào lưu. Không hẳn bởi bất cần, mà vì kết cục duy nhất của hợp thời là lỗi thời.”

Đó cũng là một thứ di sản mà cô Temperley ở Notting Hill muốn gửi lại cho thế hệ designer hậu duệ của nước Anh “Cứ thật thà với bản chất, đam mê hay thông điệp sẽ tự khắc hiển hiện trong tinh thần của thiết kế, hay bất cứ tạo vật gì bạn làm ra. Đây là một quá trình đòi hỏi cô lập, độc lập để được thuần khiết hoàn toàn. Đừng lắng nghe bất cứ ai.”

Quả vậy, với Alice, và với F, nếu thời trang là tôn giáo, thì thiết kế là lời xưng tội thật thà nhất. Người ta không thể đọc thuộc lòng lời xưng tội do kẻ khác viết nên.

Cũng chính với chủ thuyết này, Temperley London trở thành thánh đường của mọi tín đồ thấu đáo tinh thần vintage.

Bản tân cổ giao duyên của smartphone và Filofax

Đầu năm nay, Alice lại đường hoàng bắt tay với hãng văn phòng phẩm Filofax tung ra một bộ sưu tập không thể “Temperley” hơn, tôn vinh một lối sống tưởng như lạc thời giữa thế giới như một tổ ong lầm than rào rào tiếng bàn phím, nhoay nhoáy smartphone và tablet. Bộ sưu tập “Your Life in Your Hands” nhắc nhớ người ta đến một thế hệ của chị em nhà Bronte, những trang viết tay, các món văn phòng phẩm tinh tế – một dấu ấn đặc thù của Alice Temperley.

“Tôi ưng hợp tác với các hiệu truyền thống Anh quốc, như nhà Filofax, và cả nhà làm khăn lụa nổi tiếng Twinings nữa. Tôi bị mê hoặc bởi lối sống của những bữa tiệc trà thanh nhã, huyền thoại Earl Grey từ Trung Hoa vượt biển đến Âu châu. Vậy là tôi chọn các họa tiết in trên khăn lụa là những thành phần của món trà Earl Grey: cam bergamot, tinh dầu, những cái lọ sứ đời Minh, v.v… Thế là tôi có món trà thượng hảo hạng Twinings Tea!”

Như một nhãn hàng tri kỷ, những cuốn sổ tay của Filofax kết hợp với thiết kế của Temperley trở thành một món cocktail hoàn hảo giữa tính chức năng, lối sống công danh xưa cũ đầy thi vị, và thẩm mỹ cầu kỳ nhưng tuyệt nhiên tinh tế của một vật phẩm xa xỉ hương xưa. Chúng được kết đính trang trí với ren, những đồng xu cổ và loại da bọc thượng hạng. Thiết kế The Guinea (đồng ghi-nê cổ) là một món vật hữu dụng và tinh xảo đủ để mang từ văn phòng đến dạ tiệc. Trong khi đó, thiết kế The Affair (cuộc tình) là tuyệt phẩm dành riêng cho các quý cô làm công việc sáng tạo, lấy từ kinh nghiệm sử dụng của chính Alice – cũng là một thân chủ trung thành của Filofax, để lấy cảm hứng từ tư duy thiết kế nội thất, một tiểu thư phòng tuyệt mỹ chứa đựng các bản giấy khổ A5, lí tưởng cho việc ghi chép lẫn kí họa phác thảo. Các phiên bản hạn chế của những cuốn sổ tay này, ngoài các món văn phòng phẩm được đính kèm bên trong, còn có những công thức nấu ăn của vua bếp Ăng-lê Mark Hix, một mảnh thư nhỏ kiểu rỉ tai mách lẻo về những hội chợ, các quán café, tiệm sách, điểm đến ưa thích, và thậm chí cả bài tập yoga của chính Alice Temperley!

Và như thế, mỗi nữ chủ nhân đủ duy mỹ để sở hữu một phiên bản Temperley for Filofax sẽ nghiễm nhiên được chào đón vào một phong cách sống tao nhã, như một tri kỷ của Alice Temperley.

Ai nói người Anh chuyên chính không dân chủ và thân thiện, đương nhiên, ở mức giá 400 bảng Anh?

Lời cuối cùng từ nhà sáng tạo “Sự nghiệp, đó cũng là một khía cạnh của cảm xúc, nếu không là nơi mà cảm xúc được dung dưỡng mãnh liệt nhất. Nó cần những sản phẩm có cảm tính và mang dấu ấn cá nhân hơn. Những dòng thủ bút, những nét phác thảo tay, cảm giác của làn giấy thượng hạng trượt bên dưới ngòi viết, đó là tầng tối cao của thú xa xỉ thượng lưu.

Smartphone có thể có chức năng notebook, thế thì một cuốn sổ tay sẽ có ngăn đựng smartphone. Dung hòa hoàn hảo, phải không nào?”

TIPS BOX

Chiếc váy cưới hoàn hảo:

Chồng tôi muốn lấy tôi làm vợ từ hồi chưa nhìn thấy cái váy cưới. Tôi tin chắc các vị hôn phu khác đều vậy. Đương nhiên nên là chiếc váy biết ca tụng tối đa mọi lợi điểm hình thể của tân nương. Một chiếc váy cưới hoàn hảo nên cho cảm giác rằng cô dâu đang thư giãn và hưởng thụ hạnh phúc.

Chiếc váy cưới đáng nhớ nhất:

Là váy cưới của chính tôi! Tôi đã thử tự vẽ 3 phác thảo khác nhau, rồi chọn ra chiếc mình ưng ý nhất. Chúng đều điểm những tảng ren thêu kiểu thời Victoria, những mảnh cườm mang hơi hướm flapper thập niên 1920s, và đính những hạt trân châu tôi túc tắc gom nhặt giữ gìn như báu vật từ hồi còn nhỏ.

Chiếc váy cưới của bà thân mẫu:

Mẹ tôi lấy cha tôi, mặc chiếc váy hoa, làm lễ trong khu vườn miền nông trang.

Lời khuyên cho những đôi uyên ương trẻ?

Cười, thật thoải mái. Bảo bọc cho nhau. Và luôn thành thật.

Bài hát lí tưởng nhất cho một đám cưới:

Bản “Smile” của Shirley Bassey.

 

ả di-gan xuyên thế kỷ

Túy Ca

Nếu chỉ là một diva với vẻ đẹp phù thủy và mái tóc huyền, có lẽ ngôi sao sự nghiệp của Cher đã tàn lụi từ sau cuộc chia tay với người tình huyền thoại Sonny. Nhưng ngay cả khi những diva hậu duệ lần lượt rời bỏ bầu trời sao trong hình hài suy kiệt, thì người đàn bà 66 tuổi ấy vẫn đều đặn dậy sóng showbiz: “Sự nghiệp tôi giống như trò xe điện đụng trong công viên. Tông vô bức tường thì tôi lại trở lui quẹo sang lối khác, ôi, tôi tông cả tá bức tường đủ loại. Nhưng tôi chưa bao giờ ngừng lại. Có lẽ đó là thứ chìa khóa quyền năng duy nhất của tôi: không bao giờ dừng lại”

Sonny & Cher – cặp đôi du mục

Có thể nói chàng tài tử điển trai Warren Beatty đã “mở hàng” tình ái khá mát tay cho cả cuộc đời hồng nhan lừng lẫy của Cher sau này, từ khi nàng mới 16 tuổi.

Cho đến giờ, nhìn ngắm nàng trên sân khấu, diễm lệ hay lòe loẹt với những bộ thiết kế quá trớn kiểu Bob Mackie, người ta vẫn không khỏi nhắc nhớ đến bản I Got You Babe mùa hè 1965 đã làm nên danh tiếng của nàng chỉ qua một đêm, ca khúc mà từ đó, sàn nhạc thế giới đã có cho mình một cặp song ca hippy hàng đầu Sonny-and-Cher. Họ gặp nhau khi nàng 16, chàng 27 và còn có tên là Salvatore Bono, và cùng nhau họ dẫm chân lên mọi nẻo đường thiên lý của showbiz, đầy đủ mọi cú hit lẫn những cú thất bại nên thân.

Họ cùng nhau hát vòng quanh thế giới, liên tiếp ghi điểm các cú hit để đời và xuất hiện trên mọi Tvshow đắt rate nhất của thập kỷ. Thoát khỏi hình ảnh một-nửa-kém-vía của cặp đôi huyền thoại, Cher làm mọi cách để trở nên trội bật hơn bên cạnh người tình-bạn diễn của mình. Nàng trở nên hoạt bát với những lời tuyên bố táo bạo rất chiều lòng công chúng trẻ chỉ chực làm loạn cuối thập niên 60. Với mái tóc mây đen thẫm, cặp mắt huyền luôn được tô đen, và chất giọng thổ khàn khàn, Cher có vẻ đẹp hương xa, nửa Đông phương huyền bí, nửa gypsy tiến bộ, khiến nàng được xem như một biểu tượng phong cách của thời kỳ dành cho các cô nàng choai choai bụi bặm, mắt quầng thâm hanh hao sau những đêm đi hoang “đốt cỏ”.

Cũng chính vào thời kỳ này, Cher trở thành vị đại sứ lăng-xê mốt quần palazzo ống loe về sau làm nên sóng gió thời trang toàn cầu đến mãi tận cuối thập niên 1970, cùng nững chiếc váy maxi hoa văn Mường Mán – thủy tổ của trường phái boho đến nay đã hình thành một dòng phong cách thời trang riêng biệt của những tín đồ thế kỷ 21.

Đó cũng là khi Sonny rút vào vị trí nhà sản xuất bên ngoài vùng sáng và Cher độc chiếm tầm ngắm spotlight với những album solo đặt nàng lên vị trí một trong những nghệ sĩ solo sáng giá nhất Hoa Kỳ thập niên 60, dẫn lối cho sự nghiệp truyền hình và điện ảnh của nàng.

Người đàn bà không mang họ

Sau vài cú tung bomb màn ảnh cine, Sonny and Cher bắt đầu tỏ ra lạc thời với dòng nhạc dễ nghe, trữ tình và quá đỗi lành mạnh cho những trào lưu đen tối, phù hợp hơn cho lối sống đốt cỏ đập đá liên miên của giới trẻ lúc bấy giờ. Các bộ phim Sonny sản xuất cho Cher cũng liên tiếp bồi thêm cho họ những cú thất bại thảm thương về tài chính.

Họ cùng nhau du canh đến lãnh địa truyền hình và ra mắt show truyền hình đầu tiên mang tên The Sonny and Cher Nitty Gritty Hour – một món cocktail lộn xộn vui tai vui mắt của thoại hài, tiểu phẩm trào phúng và ca nhạc. Với chương trình này, họ trở thành ứng viên cho 15 giải Emmy Awards. Ở tư cách hiện tượng truyền hình Mỹ, Sonny và Cher tái xuất sàn nhạc và lại ghi điểm hit oanh liệt với All I Ever Need Is You năm 1971 và A Cowboy’s Work Is Never Done năm 1972.

Lượng người xem rầm rộ khẳng định cú đánh bạc ăn may với lãnh địa truyền hình của họ đã nhắm trúng hướng. Bé gái Chastity Bono ra đời, như viên kẹo long lanh trang trí trên đỉnh một chiếc bánh kem ái tình viên mãn.

Năm 1975, sự nghiệp hoàng kim được đẩy lên đến đỉnh điểm bằng một thứ đòn bẩy mang tính nguyên tắc, chiến lược và quy luật của showbiz: scandal lộ hàng. Cher trong bộ cánh hơi hướm nữ hoàng Ai Cập do Bob Mackie thiết kế, với phần váy tụt trễ quanh xương chậu, khiến mỗi cú chuyển hông của kiều nữ mắt khói đều mang một nỗi đe dọa hân hoan với chiếc váy luôn sẵn sàng trượt khỏi vùng bụng phẳng để rơi không kìm hãm xuống tận cổ chân.

Chưa bao giờ trước đó trong sự nghiệp, một album hay một show truyền hình có thể mang lại cho Cher nhiều hàng tít trên các thể loại báo chí đến vậy. Được đà thắng thế, Cher liên tiếp xuất hiện với những bộ cánh ngày càng khiêu khích hơn. Những năm tháng tiếp theo đó là sự bành trước tuyệt đối của danh tiếng và phong cách Cher, cùng lúc với cuộc hôn nhân vào hồi rời rã với Sonny.

Nàng nghiễm nhiên trở thành ngôi sao sáng giá, trong khi chàng lu mờ trên màn ảnh, và lại bấp bênh trong vai trò nhà chiến lược gia đình.

Sonny và Cher chính thức ly dị. Chỉ 3 ngày sau, Cher kết hôn với tay nhạc sĩ Gregg Allman. Đây cũng là khi nàng giã từ những tình khúc hiện sinh trong sáng lãng mạn bao năm song ca cùng chồng cũ và quăng mình vào dòng nhạc rock, khi này đang được giới trẻ hoan nghênh hồ hởi hơn hẳn so với những bản tình ca. Ngoài bé trai Elijah ra đời một năm sau đó, họ còn cùng nhau cho ra đời album Two the Hard Way không mấy thành công. Một đứa trẻ, một album ế và 2 năm sau, Cher lại ly dị.

Năm 1978, nàng chính thức “biên tập” tên mình, thẳng tay ngắt bỏ mọi thứ thừa hưởng từ người cha tài xế xe tải, cha dượng và hai ông chồng. Thế là từ Cherilyn Sarkisian La Piere Bono Allman, nàng chỉ còn vỏn vẹn độc một tiếng Cher để định danh.

Disco, Rock, và cánh bướm tội lỗi

Năm 1979, Sonny and Cher hát bên nhau lần cuối trong The Mike Douglas Show với hai bản United We Stand và Without You. Về sau này, họ còn gặp lại nhau một lần nữa trong TV show đình đám của Letterman năm 1987.

Sau cuộc tái ngộ đáng nhớ ấy, Cher giã từ những tình khúc đầy màu sắc trữ tình thôn dã của một thời với Sonny và những bản rock lạc thời của ông chồng sau, nàng lập tức buông mình vào đại dịch disco và lại ghi điểm lẫy lừng, với bộ phục trang Viking thiếu vải trong shot ảnh bìa single Take Me Home. Ngay sau đó, album Prisoner, Cher lại xuất hiện hầu như hoàn toàn khỏa thân, mình quấn xủng xoảng xích nhợ. Cú ghi bàn trúng đích, các hội đoàn quyền phụ nữ la ó nàng ủy lạo thứ hình ảnh phụ nữ trong hình hài nô dịch, điều này đồng nghĩa với việc Cher trở thành celebrity ồn ào, đa sự và thành công nhất của thời kỳ.

Thoăn thoắt đón lỏng gout nghe nhạc thất thường của đám thanh niên hoang mang của nước Mỹ, Cher chỉ lưu chân lại lãnh địa disco không lâu. Với bản Bad Love như nụ hôn tạm biệt disco, Cher quay sang với rock, cùng cả một bộ sậu ban nhạc lấy tên Black Rose, cặp bồ với tay guitar Les Dudek và ra mắt một album thua bét nhè ngoài thị trường băng đĩa. Nhóm nhạc và cuộc tình tan vỡ vào năm sau đó.

Không đủ thời gian để thậm chí biến mất hay tỏ ra trầm cảm, Cher lập tức trở tay lái trực chỉ miền đất đã từng không chào nón nàng nồng hậu cho lắm – điện ảnh. Liên tiếp sau đó là 5 năm của sự nghiệp màn bạc rực rỡ, những vai diễn sáng giá và các giải thưởng danh giá, cho đến khi Cher tái xuất sàn nhạc vào cuối thập niên 80’s cùng album Heart of Stone, thân mình khoác tấm lưới trong veo, khoe hình xăm con bươm bướm thật oai trên mông. Khi này, việc xăm mình là một việc hoàn toàn xa lạ ngay cả đối với các ngôi sao chịu chơi nhất xứ Hoa Kỳ. Các kênh truyền hình ngán ngẩm từ chối phát hình video ca nhạc này của nàng, MTV lưỡng lự mãi mới dám rụt rè phát sóng vào sau 9 giờ tối. Nhưng 11 triệu bản album Heart of Stone được lập tức bán hết vèo trên toàn thế giới, và được mang ra ngắm nghía vào bất cứ giờ nào trong ngày.

Ngôi sao danh vọng muộn màng cho ông nghị Bono

Một ngày tháng Giêng 1988, khi đang ở London, Chastity đánh thức Cher dậy với một câu nói “Ba chết rồi!” Sau này cô con gái duy nhất của cặp đôi huyền thoại còn kể lại rằng “chưa bao giờ thấy mẹ tôi ngã quỵ và khóc thảm thiết như vậy”. Khi này Sonny và Cher đã ly dị được gần 23 năm.

Cher tức tốc trở về Mỹ, hình ảnh nàng nức nở mụ mẫm được tải đi trên sóng truyền hình khắp thế giới “đây là một điều tôi không cho rằng một ngày sẽ nguôi khuây”. Mãi 10 năm sau đó, vào 1988, cặp đôi huyền thoại Sonny & Cher được đặt ngôi sao mang tên họ lên hành lang danh vọng Hollywood Walk of Fame. Cher đến cùng phu nhân cuối của Sonny là Mary Bono, người thay mặt phu quân quá cố đón nhận ngôi sao danh vọng.

Không lâu sau cái chết của ông nghị Bono, FBI có chứng cứ cho rằng thật ra, Sonny đã bị đánh bằng gậy đến chết do nắm giữ các thông tin có liên quan đến đường dây buôn bán ma túy và vũ khí.

Tâm sự với tờ Vanity Fair, Cher cho biết chính Sonny đã nhìn thấy trước cuộc chia tay một khi tình nhân bé bỏng đã đủ đầy lông cánh “Một ngày rồi em sẽ bỏ anh ra đi. Em sẽ sống tiếp ngon lành và làm nên những điều vĩ đại.”

“Giá như anh ấy đừng quản lý tôi một cách chặt chẽ đến khắc nghiệt như thế, có lẽ tôi đã không ra đi”, Cher hơi tỏ ra hối tiếc khi nhắc lại chuyện cũ. “Với anh ấy, tôi như con ngỗng đẻ trứng vàng hơn là một cô vợ… Tôi tha thứ cho anh ấy, tôi nghĩ vậy. Anh luôn làm đau tôi, anh hơn là một người chồng – anh là một người chồng tồi, nhưng một người dẫn dắt tuyệt vời, một người thầy!”

Kiện tướng môn lái phi công

Tuy được biết đến như nàng thơ của chuyện tình bất diệt Sonny&Cher, Cher cũng có cho riêng mình một tình sử lẫy lừng với những người đàn ông, những vị vua, và nhất là các chàng trai kém tuổi – điển hình cho gout tình vị thất thường của nàng.

Dẫu khoảng cách pháp lý giữa 2 cuộc hôn nhân trong đời nàng chỉ là 3 ngày, nhưng về sau, Cher còn tiết lộ rằng giữa khoảng thời gian của 2 người chồng, nàng còn tranh thủ được một cuộc phong nguyệt chóng vánh xí hụt với Elvis Presley khi biểu diễn tại Las Vegas. Dẫu sao thì đó cũng chỉ là trò tán tỉnh vô hại (theo lời kể của Cher) đã được dừng lại đúng lúc khi nàng từ chối theo Elvis lên phòng.

Trong cuộc nói chuyện với chương trình Good Morning America, quý bà đa tình này đã tống tộc kể không chỉ về vụ đòng đưa với vua rock ‘n’ roll, mà cả với Marlon Brando, mà thời lượng lẫn phạm vi hoạt động của cái gọi là mối tình chỉ được giới hạn trong một chuyến bay. Danh sách nhân ngãi của những năm 80 hoang đàng còn có thêm Tom Cruise lẫn Val Kilmer, nhà sản xuất phim Josh Donen, Rob Camilletti – chàng thợ làm bánh 22 tuổi mà nàng gặp gỡ vào sinh nhật 40 của mình, họ sống bên nhau suốt 3 năm sau đó “Các mối tình của tôi thường kéo dài được vài năm. Cứ hễ tôi dính dấp tới một người đàn ông nào thì những anh chàng khác cứ vây lấy tôi, và ngay khi tôi độc thân trở lại thì hơn một nửa trong đám đó biến mất không sủi tăm. Đàn ông mê đàn bà đa tình thì là chuyện đương nhiên, nhưng bạn thấy đấy, không phải tay gà mái nào cũng có gan sở hữu một người đàn bà như vậy.”

Sang đầu hập niên 90, Cher giã từ phi công nướng bánh và lại dậy sóng tình với tay guitar của Bon Jovi là Richie Sambora trong hai năm. Trong suốt cuộc dan díu này, nàng vẫn đều đặn đánh đu tiên với Eric Clapton, Mark Hudson và tài tử Ray Liotta. Năm 2009 lắng dịu với độc một tay đua 38 tuổi là Tim Medvetz, và 2010 nổi bật nhất là mối quan hệ với nhà biên kịch Ron Zimmerman.

Ngoài một vài điểm nhấn sáng giá trong chiều dài tình sử, phần số đào hoa của Cher vẫn ứng nghiệm với các chàng phi công trẻ bị hút như thiêu thân vào sức rù quyến của quý bà có vẻ đẹp của một nữ phù thủy hoạt hình. Khi tham gia thủ vai chính mình trong Stuck On You, Cher đã thích thú với trò đùa của kịch bản khi mô tả nhân tình của nàng là một cậu nhóc trung học do Frankie Muniz thủ diễn. Quý bà lẳng lơ hôn người tình trẻ, nhắc chàng ngủ sớm “vì còn bài kiểm tra môn Vật Lý sáng mai”. Nàng nhún vai “có thể có một chút cường điệu về độ tuổi, chỉ để vui thôi. Nhưng những chàng trai trẻ, họ cố gắng nhiều hơn để tỏ ra xứng đáng với một quý bà, và lòng quả cảm đó khiến họ xứng đáng được đối xử như những người đàn ông trưởng thành hoàn hảo. Cuối cùng thì tôi không đi tìm độ tuổi của người đàn ông để yêu đương cho phù hợp. Điều quan trọng là độ tuổi của chính tôi mà họ cho tôi cảm nhận khi ở bên họ. Những chàng trai khiến tôi thấy mình trẻ trung hơn, thay vì phải trịnh trọng như một quý bà. Tôi không quan trọng họ là ai, làm nghề gì, danh giá cỡ nào hay bao nhiêu tuổi, tôi chỉ quan tâm đến việc tôi cảm thấy gì khi ở bên anh ta.”

Barbie Vĩnh Cửu và những cuộc hành xác li kỳ

Cher được các tín đồ tán tụng ngưỡng mộ không chỉ bởi khả năng biến hóa để “bao sân” trọn gói mọi hoạt động trong lãnh vực giải trí, khẩu khí nửa hài hước nửa bất cần, vị trí tiên phong của mọi trào lưu ăn mặc, tình sử rối rắm lâm li, mà còn bởi vẻ trẻ trung thách thức thời gian của nàng.

Có thể nói, Cher và Dolly Parton chính là hai tín đồ tuẫn tiết nổi tiếng nhất của ngành dịch vụ giải phẩu thẩm mỹ. Nhưng trong khi Dolly Parton ngày càng giống một cô búp bê cổ đại bằng vải nhàu nhĩ nhưng diêm dúa, thì Cher thành công hơn với việc duy trì phong độ nhan sắc trong những lần xuất hiện “bằng xương bằng thịt” trên sân khấu, trước ống kính theo dõi khắt khe của báo giới.

Cuối thập niên 90, tờ National Enquirer tung ra chùm ảnh của Cher chụp trong suốt hai thập kỷ, với một chuyên gia giải phẫu thẩm mỹ chỉ ra mọi phương pháp phẫu thuật đã được áp dụng chỉ riêng trên khuôn mặt nàng trong suốt thời gian này. Kết quả có được là một danh sách dài ngoằng các kỹ thuật cấy ghép từ lạc hậu đế tiên tiến nhất của y khoa, từ chất collagen trên đôi môi mượt mà căng mọng, những lần nâng căng da mặt để triệt tiêu nếp nhăn, kỹ thuật lột da để có được làn da trẻ con, và vô số những từ chuyên môn dễ làm rùng mình dân ngoại đạo. Nhìn vào loạt ảnh, người ta nhận ra việc Cher đã khéo léo thay đổi khuôn diện của mình trong suốt một thời gian dài với các bước được thực hiện rải rác cách quãng để xóa nhòa thành công vẻ đẹp sơn cước man dại hồi thập niên 60, thay vào đó là một khuôn mặt sắc sảo, kiêu kỳ theo lối Anglo-Saxon, đôi mắt mèo xếch ngược ma quái, cặp cánh mũi được cắt gọn, hàm răng được chỉnh sửa hoàn hảo tăm tắp như hàng quân danh dự Hoàng gia, và đôi vòm cong chân mày cao vổng tưởng như sắp chạm tận chân tóc.

Nhưng đó chỉ mới tính đến khuôn mặt, bên dưới chiếc cổ thiên nga cũng kinh qua vài lần nâng căng kéo duỗi là bộ ngực phồng xẹp thất thường theo từng gout thời trang của nàng qua mỗi thời kỳ. Thân hình tuyệt mỹ đến bất thường của Cher là một biểu tượng sống động nhất của sức chịu đựng phi thường của phụ nữ. Nàng có sơ sơ vài lần tháo lắp túi ngực mỗi khi có một kỹ thuật mới được tung ra, từ túi muối sinh lý đến túi silicon dẻo, từ mốt mổ rạch nhũ hoa cho đến trào lưu nội soi thẩm mỹ. Ngoài ra, Cher trải qua cả sự đau đớn của người đàn ông đầu tiên của nhân loại là ngài Adam, bởi nàng cũng từng bẻ đi một dẻ xương sườn của mình vì một mục đích cao cả và thiêng liêng hơn không kém, là có một vòng eo cao và nhỏ hơn. Và hẳn nhiên, cặp mông cũng chia phần trải nghiệm không ít lần tái chỉnh gia cố cho cái sự nõn nường căng mẩy.

Sau một thời gian dài mỏi mòn phủ nhận mọi thông tin về các cuộc phẫu thuật thẩ mỹ, cuối cùng, Cher cáu kỉnh đáp trả: “Láo toét hết, nhưng nếu tôi muốn cắm một cặp nhũ lên lưng mình thì cuối cùng, đó cũng là bộ nhũ của tôi và lưng của tôi!”

Trên tòa thân thể trứ danh ấy, nàng còn tiên phong với những hình xăm từ khi mốt xăm mình còn được xem là đặc quyền của các phạm nhân. Không hổ danh tín đồ phá luật, Cher trở thành nữ minh tinh Hoa Kỳ đầu tiên đam mê nghệ thuật xăm mình, và đối xử cực kì cẩn trọng với mỗi hình xăm được cân nhắc ghi dấu lên thân thể.

Không như kẻ hậu duệ Angelina Jolie, Cher không mang vẻ huyền bí của một đại tẩu giang hồ nhiều tâm sự. Những hình xăm của nàng không bị cài cắm quá nhiều tư tưởng hiền triết cao siêu về tôn giáo hay tín ngưỡng. Chúng được đối xử như những món trang sức tinh xảo điệu đà được chọn đeo vĩnh viễn lên làn da người đẹp – một thái độ xăm mình mà theo nàng, là một tâm thế nữ tính nhất để đưa mốt xăm mình vào thế giới thời trang một cách thuyết phục và đầy “thời trang tính” nhất: tức là không quá nhiều ý nghĩa nhân văn hay thần chú phương Đông, chỉ cần đẹp!

Trong lệ bộ xăm trổ của Cher, trứ danh nhất vẫn là hình bướm hoa khá to trên mông, một sợi dây mảnh tinh xảo quanh bắp tay trái, treo tòn teng ba món bùa hỏ: chữ thập Ai Cập cổ, thánh giá và trái tim, chữ kanji mang ý nghĩa quyền lực trên vai phải, một cụm họa tiết Art Deco trên cánh tay phải, bông hoa lan đen gần chỗ kín, và một bông cúc Nhật trên cổ chân trái.

Vài năm gần đây, thông tin báo chí lại cho biết rằng Cher đang lên quyết tâm… tẩy cho bằng hết các hình xăm trên cơ thể. Một số hình ảnh trong các show diễn gần đây của Cher cho thấy nàng đã thành công tẩy xóa một vài hình xăm cỡ nhỏ. Cher giải thích “hồi tôi xăm mình, chuyện đó còn được coi là ngầu lắm, chỉ có các cô gái hư thứ thiệt dám xăm mình là Janis Joplin, đám gái đua xe, và tôi. Còn giờ thì nó chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Ngày trước, đối với tôi, khi xăm mình lần đầu sau khi chia tay Sonny, điều đó cho tôi cảm giác thật sự giải thoát, một dấu ấn thật sự. Còn bây giờ, xăm mình thành trò trẻ ranh.”

Đàn-bà-hơn-cả-đàn-bà và thần nữ của tín đồ đồng tính

Nhắc đến diva của dân đồng tính, dân nghe nhạc thế hệ 80’s trở về sau thường nói đến ngôi Đồng nữ Madonna. Nhưng từ rất lâu trước đó, và bền bỉ cai trị cho đến tận bây giờ, thần nữ của thánh đường đồng tính thật sự vẫn luôn thuộc về Cher – người mà các thủ pháp phẫu thuật thẩm mỹ đã mang lại cho nàng một sự hào nhoáng kiểu cách, những điệu đàng phù phiếm quá tay cho phép nàng đàn-bà-hơn-cả-đàn-bà với chất giọng thổ trầm đục của đàn ông, và một thân thể gần như nhân tạo, đến mức không ít thế hệ fan âm nhạc lớ ngớ về sau nhầm tưởng nàng là một ca chuyển giới.

Nàng được fan âm nhạc đắm say, các giáo dân thời trang ưa chuộng, nhưng cộng đồng thật sự tôn ngưỡng Cher một cách tha thiết và ồn ào nhất là cộng đồng gay. Cũng chính họ là nhân tố tôn vinh nàng lên mọi ngai vàng ‘dân lập’ của giới showbiz, bên cạnh những giải thưởng danh giá về điện ảnh hay âm nhạc. Trước cả Đồng nữ Madonna, Cher đã và mãi đến tận bây giờ vẫn là người đàn bà hiếm hoi được yêu bởi những nam nhân cầu kì này.

Để được một xã hội gồm toàn những giám khảo khắc nghiệt với khiếu thẩm mỹ cầu kỳ đến vậy đồng lòng yêu quí tôn vinh trên toàn thế giới, đó chính là ngai vàng nhan sắc và phong cách tối cao mà không phải minh tinh làng giải trí nào cũng đạt được.

Trong suốt 4 thập niên, giữa những rừng sao non rồi sao tàn sao rụng, Cher tồn tại và tỏa sáng như thách thức mọi quy luật đào thải cay nghiệt của ngành công nghệ giải trí. Không chỉ với sự trợ giúp của dao kéo thẩm mỹ, mà còn là một sự vận động đáng nể của con thiêu thân tuẫn tiết nhất của ánh đèn sân khấu. Nàng luôn thoăn thoắt đổi thay, nàng di chuyển liên tục, thắng và bại, nàng hippie và rồi nàng lại rock, nàng tấu hài trên sóng truyền hình và nàng đắm đuối với tình ca Mễ Tây Cơ, nàng lập dị gothic rồi có lúc đỏm dáng với pinup phục hưng,… nhưng nàng luôn vận động, thoăn thoắt, và dòng vận động ấy bảo vệ nàng khỏi mọi cú trượt chân khỏi bầu trời showbiz đã sẵn dư thừa sao sáng. Mỗi dòng nhạc, lãnh địa hay phong cách thời trang của Cher là một tuyên ngôn khác của sự tự do tận cùng vô ưu nhất, nàng tham lam ham hố với mọi cuộc thử sức xa lạ, không chùn chân trước mọi nguy cơ của cơn mưa đá dư luận sẵn sàng xả vào bất cứ bộ hình hài quá tay nào, hay một bộ phim thất bại, một album không bán nổi vài ngàn bản. Và với chính sự an nhiên trước dư luận ấy, cùng với phong cách đàn-bà-trên-cả-đàn-bà, Cher trở thành hình mẫu hóa thân của một lực lượng đông đảo các tín đồ chuyển giới.Sự xuất hiện của Cher trong vai người đàn bà đồng tính trong phim Silkwood, cuộc hạ cánh vào lãnh địa nhạc dance và các hoạt động xã hội về nhân quyền của nàng trong những năm gần đây lại càng khiến cái tên Cher khắc sâu hơn trên đài vinh danh tối cao của cộng đồng gay thế giới.


Đòn chơi khăm của nghiệp mệnh giáng xuống giai nhân mắt huyền khi đứa con gái đầu lòng là Chastity Bono trở thành một trong các tín đồ của nàng, tuyên bố đồng tính và đổi tên thành Chaz Bono khi mới 17 tuổi. Cher thú nhận với báo giới sự đau đớn, nỗi sợ hãi và cảm giác tội lỗi như thể chính con gái mình đang trở thành hậu quả bởi hình tượng của người mẹ không-biết-đánh-vần-từ-sợ. Nhưng mất không quá lâu để nữ hoàng đồng bóng lấy lại tinh thần, chấp nhận lựa chọn của Chaz, và tuẫn tiết hơn nữa trong những tuyên ngôn, hành vi đấu tranh cho quyền bình đẳng của dân đồng tính. Nàng trở thành diễn giả cuồng nhiệt và sáng giá nhất tại cuộc hội nghị Phụ Huynh, Gia Đình và Bằng Hữu của Người Đồng Tính toàn nước Mỹ.

Năm 1998, Cher được vinh danh với giải thưởng GLAAD Media Award dành cho cuộc đấu tranh chống kỳ thị giới tính của bà, năm 1999, Cher vẫn nghiễm nhiên đứng vào danh sách 25 quý bà sành điệu nhất thế giới do The Advocate bình chọn. William J.Mann, tác giả cuốn Gay Pride: A Celebration of All Things Gay and Lesbian ca tụng rằng “Chúng ta rồi sẽ vẫn điên cuồng nhảy nhót với nhạc của Cher tại những hộp đêm thời thượng nhất ngay cả khi nàng 90 và chúng ta 60 tuổi. Cứ chờ mà xem!”

Trong cuộc bình chọn top 10 Thần Tượng Đồng Tính, dù đa tình và vẫn giữ ngôi vị kiện tướng môn thể thao chăn phi công trẻ, Cher vẫn bảo toàn ngôi vị nữ vương. Jimmy James tuyên bố “sau đại thảm họa toàn cầu, tất cả những gì còn lại sẽ là lũ gián và Cher.” Nhân vật Jack McFarland của serie truyền hình nổi tiếng về đồng tính giới Will & Grace cũng chọn Cher là thần tượng, và nàng được mời thủ diễn chính mình trong serie bất hủ này. Lần đầu vào năm 2000, Cher xuất hiện và Jack tưởng nàng là một trong những tín đồ đồng tính của Cher, và lần xuất hiện năm 2002, Cher trở thành Chúa trong giấc mơ về Thiên Đàng của chàng gay nổi tiếng McFarland.

Nghiệp mệnh của thần nữ Gay Diva

Trong khi bà mẹ trứ danh còn đang mải ca múa trước triệu triệu tín đồ đồng tính, hô hào cho khái niệm bình đẳng giới cho giới tính thứ ba, vinh danh niềm kiêu hãnh đồng tính, thì chính cô con gái đầu lòng Chastity, kết quả mối tình lớn với Sony Bono, đã không thể đối mặt với những kỳ thị xã hội Hoa Kỳ đương đại vẫn giành cho một người đồng tính nữ. Mọi thứ trở nên nặng nề hơn sau khi cô tuyên bố công khai xu hướng tình dục của mình khi mới 17 tuổi. Chastity quyết định đã quá đủ cho sự chịu đựng của mặt trái niềm kiêu hãnh đồng tính, và quyết định trải qua cuộc đại phẫu đau đớn để chuyển đổi giới tính hoàn toàn và trở thành chàng trai Chaz Bono.

Tưởng như những va chạm của quan niệm xã hội nhạy cảm ấy sẽ đầu độc mối quan hệ mẫu tử của Cher và Chaz, nhưng điều kì diệu đã xảy ra. Chính khi nằm bất động trên giường hậu phẫu, lích kích lang cang những ống truyền dịch và những vết rạch xẻ khắp cơ thể, Chaz cho biết anh đã như cảm thấy gần gũi hơn với những trải nghiệm của mẹ ruột qua những cuộc giải phẫu thẩm mỹ. Dẫu với nhu cầu níu kéo thanh xuân để trở thành người đàn-bà-hơn-cả-đàn-bà, hay để một người đàn bà trở thành đàn ông, không chỉ đơn giản là một cuộc thiếp đi trong phòng mổ. Ở tư cách người mẹ, người đồng hành, và Mẹ Cả Vĩ Đại của dân đồng tính toàn cầu, Cher tuyên bố “Chaz đã chọn một con đường khó khăn nhất, nhưng là một lựa chọn mà tôi ủng hộ. Tôi tôn trọng sự dũng cảm của con tôi, bước xuyên qua mọi sự mỉa mai đàm tiếu của dư luận, và dù không thể thấu hiểu, tôi sẽ đấu tranh để thông cảm. Giới tính và ngoại hình, tất cả rồi đều trở thành những thứ có thể bị can thiệp và đổi thay, ngoại trừ tình yêu của người mẹ.”

Nhưng sóng gió của bà mẹ Mỹ điển hình chưa dừng lại ở đó. Ngay khi Chaz đang say sưa thụ hưởng đời sống của người đàn ông thực thụ cùng hôn thê Jennifer Elia và tham gia chương trình Dancing With The Stars 2011, bác sĩ hân hoan báo tin vui – Cher làm bà nội-ngoại!

Đúng thế, cuộc đại phẫu chuyển giới đã không thay đổi “tất cả”, Chaz vẫn âm thầm giữ cho mình chức năng mang thai. Khi quyết định có con, Jennifer được cho là có thể trạng yếu hơn vị hôn phu nổi tiếng nên trách nhiệm được giao cho trụ cột gia đình.

Chaz hạnh phúc tuyên bố trước rằng nếu là một bé trai, đó sẽ lại là một Sony Bono. Cher hoàn toàn thích thú với sự kiện này, với điều kiện duy nhất là không được gọi nàng là “bà”, dù là “nội” hay “ngoại”.

“Nếu sáng mai mà tôi thức dậy trong cơ thể hình mạo một người đàn ông, tôi sẽ chỉ dãy đạp khóc la và cướp ngân hàng kiếm tiền làm lại, bởi tôi sẽ chẳng thể hình dung chính mình là bất cái gì khác – tôi là con gái!”, nàng thậm chí không hay gọi mình là đàn bà.

“Chaz giỏi hơn mẹ nhiều lắm. Tôi sẽ không bao giờ can đảm như con tôi. Đó là một cô gái, à không, chàng trai thông minh. Trời ơi, tôi vẫn lẫn lộn như vậy khi nhắc đến con mình.”

Cuộc chơi chưa đến lúc tàn

Album thứ 23 của Cher mang tên Believe vẻ vang nhận giải Grammy và trở thành dấu son trong sự nghiệp ca hát của nàng. Tháng Ba 1999, bản Believe ghi điểm tuyệt đối trên khắp 23 quốc gia, trở thành album bán chạy nhất trong năm và biến Cher thành người phụ nữ lớn tuổi nhất (khi này 52) ghi điểm tuyệt đối trong lịch sử Hot 100 rock era. Cher trở thành nữ nghệ sĩ duy nhất đoạt solo Top 10 trong suốt các thập niên 60s, 70s, 80s, 90s, và 2000s.

Từ dư chấn Believe, Cher tung ra Living Proof và ngay lập tức lọt Billboard 200 ở vị trí thứ 9 nhưng không vượt qua được sự thành công của Believe trước đó, dù được nghênh tiếp nồng hậu hơn tại Âu châu. Tháng Sáu cùng năm, không nản lòng với kết quả “tạm được” của Living Proof, Cher tuyên bố chọn Living Proof để thực hiện tour diễn giã từ sự nghiệp. Các tín đồ của nữ hoàng tóc mây mắt khói lặng người chờ đợi dấu chấm hết huy hoàng của một sự nghiệp 40 năm không tiền khoáng hậu.

Show diễn gồm cả những đoạn clip từ thập niên 1960s về sau, ghi dấu những bước thăng trầm của Cher trong mọi lĩnh vực, từ âm nhạc, điện ảnh đến truyền hình, loang loáng những diện mạo thay đổi xoành xoạch theo thời cuộc của lệnh bà không tuổi. Từ thời giai nhân sơn cước mắt khói, quần ống loe hippie và mái tóc mây rối, đến hình mạo khôi hài của những clip truyền hình nơi nàng vào vai Cleopatra diêm dúa, thời disco của những mái tóc xịt keo dựng đứng, áo da quần bó, hay những bộ trang phục trong suốt và bó sát của thời kỳ hoàn thiện thẩm mỹ, phô phang thân hình Barbie hồi xuân trong những bộ cánh bị ném đá.

Tour diễn đã thật sự trở thành lời giã từ… dần lân nhất lịch sử showbiz, sau khi ròng rã lưu diễn từ Mỹ đến Mễ, vòng quanh Canada đến châu Âu sang châu Úc. Đến đây, tour diễn được chính thức đổi tên thành Never Can Say Goodbye (Không Thể Nói Lời Từ Biệt). Sự thành công của lời từ giã ồn ào dài hơi ấy khiến Cher lại say máu chiến chinh. Đài NBC phát sóng liên tục chương trình Cher: The Farewell Tour Live và trở thành chương trình đắt view nhất 2003 với 17,3 triệu lượt xem, ẵm về cho nữ hoàng về hưu hụt một giải Emmy Outstanding Variety, Music or Comedy Special.

Album Live: The Farewell Tour được theo đà tung ra, cùng album The Best ăm 2004. Nữ Hoàng Hưu Trí, như mọi dự đoán, như con nghiện sân khấu khó cai, lại tái xuất năm 2008 với hợp đồng 200 buổi diễn trị giá 60 triệu Mỹ kim ký với đại gia Ceasars Palace ở Las Vegas và chấm dứt vào ngày 5 tháng Hai, 2011.

Người ta lại được nhìn ngắm lệnh bà tái xuất trong những bộ phục trang trứ danh của Bob Mackie. Tay viết phê bình thời trang Booth Moore của Los Angeles Times phải thốt lên “thế giới không còn sản sinh những style icon như thế này nữa!” Ngay từ đầu sự nghiệp, Cher đã có cho mình một tư duy giải trí hoàn hảo, khi mà hình ảnh luôn thay đổi đủ bạo tay để dẫn dắt trào lưu. Nàng không leo bảng phong thần top hit chỉ dựa vào số đĩa được ban ra. Nàng là cô Barbie sống, một giấc mơ thời trang sinh động thoăn thoắt dao động giữa danh hiệu đẹp nhất đến tận đáy danh sách những bộ cánh lố lăng nhất từng thấy trên thảm đỏ. Yêu hay ghét Cher, mặc kệ, người ta vẫn phải bất ngờ trước mỗi lần xuất hiện của nàng trong ngót nửa thế kỷ.

Năm 2010, Cher tái xuất màn bạc, rực rỡ trong bomb cine Burlesque cùng bản thu riêng cho bộ phim “Welcome to Burlesque” và ca khúc đầy thái độ “You Haven’t Seen the Last of Me” (Chưa Phải Là Lần Cuối Bạn Thấy Tôi Đâu). Chính ca khúc này một lần nữa ghi điểm tuyệt đối trong US Dance Charts, biến Cher thành nữ nghệ sĩ duy nhất liên tiếp ghi điểm tuyệt đối bảng xếp hạng Billboard trong suốt 6 thập niên. Tháng 10 cùng năm, nàng vĩnh viễn ghi dấu bàn tay trên nền cement trước nhà hát Grauman’s Chinese Theatre ở Hollywood. Hai tháng sau, tờ Glamour trao nàng Woman of the Year Lifetime Achievement.

Năm 2011, khi tin đồn Cher qua đời được tung ra, nàng mau mắn nhờ Diane Warren viết cho mình một ca khúc lấy tên RIP (ngàn thu an nghỉ), rồi tuyên bố trên mạng Twitter sẽ tiếp tục thực hiện một tour diễn vào tháng Chín 2012, mặc nhiên với lời giã biệt thống thiết và dài dằng dặc trước đó của mình.

Chỉ đơn giản là cô nàng hippie 66 tuổi ấy chưa thể dừng chân.

thăng trầm hai mảnh bikini

Hoa Nhài Đen

Giáo sư danh dự khoa kinh tế trường đại học Baruch, Aaron Levenstein khả kính, là tác giả cuốn “Escape to Freedom: The Story of the International Rescue Committee”.

Không nhiều người biết điều này.

Nhưng câu nói của ông: “Các con số thống kê, chúng như những bộ bikini vậy – phô diễn ồn ào những thứ đầy thi vị, nhưng luôn bảo đảm che đậy những yếu tố nền tảng quan trọng nhất” đã khiến ông nổi tiếng trên toàn thế giới

Cuộc chiến hạt nhân chống nguyên tử trên không phận Riviera

Từ năm đầu tiên uể oải đứng lên sau Đệ Nhị Thế Chiến, toàn châu Âu đặt lên vai giới thời trang Paris trách nhiệm cứu rỗi và chữa lành, vốn dĩ là quyền năng lợi hại muôn thuở của thời trang, nhằm tô điểm cho bức tranh thời hậu chiến khi này còn quá đỗi thê lương u ám. Nhưng không ai ngờ, khi mà madame Coco còn lưu vong với nghi án phản quốc, thì vận mệnh phục hưng lại nằm trong tay những tông đồ ngoại đạo: một chủ tiệm chạp-phô và một tay kỹ sư cơ khí vùng Riviera.

Đầu hè năm ấy, khi mà giới thượng lưu Âu châu đổ xô về bãi biển Cannes nhằm bù đắp những tháng ngày u tối, Jacques Heim – một nhà thiết kế kiêm chủ một cửa hiệu đồ tắm ở Cannes đã trở thành người hùng bất đắc dĩ khi liều mạng tung ra mẫu áo tắm Atome với nghĩa tên gọi “nguyên tử” đầy mùi ca tụng đòn tung bom chí mạng của quân đồng minh tại Nhật, và cũng nhằm hàm chỉ diện tích vải eo hẹp đến ngộp thở của món thời trang này.

Thoạt tiên chỉ với mục đích bán trong cửa tiệm riêng của mình, nhà thiết kế kiêm doanh nhân ranh mãnh đã thuê tàu bay viết quảng cáo bằng khói trắng lên nền trời thừa nắng của miền Nam nước Pháp, xưng tụng Atome là “bộ đồ tắm nhỏ nhất thế giới”.

Nhưng tay chủ tiệm có lời công bố mau mắn nọ đã không ngờ rằng ông không hề là người hùng đơn độc. Cùng lúc, cũng tại Pháp, một nhà thiết kế tài tử khác cũng đã nỗ lực tung ra một mẫu tương tự cho mùa hè phục hưng hậu chiến 1946. Chỉ 3 tuần sau khi lời công bố của Heim được tải bay phấp phới trên trời, Louis Reard – một kỹ sư cơ khí đột nhiên chiêu hồi vào lĩnh vực đồ tắm đồ bơi, cũng tung lên nền trời vùng Riviera thông điệp quảng cáo đầy màu sắc hào hùng và láu cá “Bikini – còn nhỏ hơn cả loại đồ tắm nhỏ nhất thế giới.” Trò “ranh mãnh hơn cả kẻ ranh mãnh nhất nước Pháp” ấy đã khiến Reard khéo léo ăn theo luôn cả hiệu ứng marketing của gã chủ tiệm tội nghiệp. Cái tên bikini ngộ nghĩnh dễ nhớ chính thức trở thành tên gọi của kiểu áo tắm hai mảnh cho đến nay vẫn đảo điên khuấy động sóng biển lẫn sóng tình hơn 70 năm sau.

Khi dự định công diễn bikini tại Paris, Reard đã không thể tìm ra một cô người mẫu nào chịu mặc thiết kế kiệm vải này, cho đến khi ông may mắn gặp người mẫu Micheline Bernardini, vốn mang trái tim quả cảm của một vũ nữ khỏa thân chuyên nghiệp. Cô trở thành vị nữ đại sứ chính thức đầu tiên của cách mạng bikini ghi dấu xâm lăng lên sàn diễn thời trang Paris năm ấy.

Không ai biết được liệu gã chủ tiệm hay anh kỹ sư cơ khí của mùa hè 1946 ấy đã tiên liệu trước cuộc cách mạng dài hơi, với tầm ảnh hưởng xuyên thế kỷ, đã vĩnh viễn thay đổi bộ mặt các bãi biển và can thiệp khó lường vào khái niệm đạo đức xã hội lẫn giá trị hôn nhân của hậu duệ hơn nửa thế kỷ về sau.

Người ta cho rằng bàn thắng của tay kỹ sư cơ khí hơn 60 năm về trước được quyết định không chỉ bởi dòng slogan láu cá, mà chính tên gọi bikini đã khiến trào lưu bùng nổ như chính những vụ thử bom hạt nhân xuất phát cùng năm trên hòn đảo cùng tên. Cả hai vụ nổ trên quần đảo Marshall và bãi tắm Cannes đều để lại cho nhân loại thứ quyền năng hủy diệt và những đống hoang tàn gớm ghê.

Tiết hạnh Hoa Kỳ và người đàn bà Gaulois bé bỏng

Như một lộ trình ngẫu nhiên, bikini vượt bể dội bomb tổng lực lên thị trường thời trang Hoa Kỳ chỉ sau một năm liên tiếp càn quét Âu châu. Vụ bùng nổ bikini tại Cannes đã không thực hiện cuộc càn quét dễ dàng qua những vùng duyên hải nước Mỹ, nơi kiểu áo tắm tiết hạnh khả phong vẫn kiên cường bám trụ trên thân thể quý bà công dân Hợp Chủng Quốc.

Dân Hoa Kỳ thủ cựu mỏi mòn níu giữ những giá trị cực đoan của Âu châu cũ nên tỏ ra câu nệ hơn với những mảnh trang phục giật gân gay cấn này.

Tài phiệt dòng thời trang biển Fred Cole, chủ nhân ông của Cole of California tỏ ra dè bỉu với ít nhiều kì thị đối với cơn sốt bikini của người Pháp, rằng chúng được thiết kế cho “những thân hình dí dị thiệt thòi của đàn bà giống Gaulois”. Ông giải thích rằng các cô gái Pháp sở hữu những cặp chân ngắn đụt nên cần cậy nhờ vào bikini, với hai bên chiếc quần bơi được giảm thiểu cho chân có vẻ dài hơn, và điều đó, cộng với sự lõa thể sỗ sàng của người Pháp, khiến bikini là bộ đồ tắm “để lộ tất cả mọi sự thật về người phụ nữ, ngoại trừ tên thời con gái của bà thân mẫu.”

Nhưng sự mỉa mai huỵch toẹt ấy không làm nản lòng một người phụ nữ Gaulois. Con mèo cái nhỏ của nước Pháp Brigitte Bardot tung tẩy khối thịt da hừng hực trong shot ảnh chụp vào liên hoan phim năm Cannes 1953 đã là một đòn chí mạng giáng lên những mảnh swimsuits thủ cựu.

Tiếp bước theo cô là giai nhân nước Mỹ Marilyn Monroe, dẫn lối cho Esther Williams cho đến Betty Garble trong trào lưu bơm căng danh vọng bằng những đường cong được che đậy hững hờ.

Khi ấy, liên hoan phim Cannes và đào BB đã hình thành một mối liên hệ cộng sinh. Cannes nâng đỡ bước nàng vào hàng danh vọng màn bạc, ngược lại, nàng đặt Cannes lên bờ ngực đẫy đà chỉ chực nhảy xổ khỏi coup áo bikini, và trở thành đại diện quan hệ cộng đồng hùng mạnh nhất của Cannes (cả sự kiện và thành phố diễn ra sự kiện).

Trong khi Mỹ vẫn tỏ ra lãnh đạm, thì ở lục địa già Âu châu, với sự ủy lạo nhiệt tình bằng ngọc thể của những thần nữ ái tình màn bạc như BB, Anita Ekberg và Sophia Loren, bikini vào thượng tầng cao trào. Nhưng những quốc gia lân bang của Pháp là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ý Đại Lợi vẫn cùng một số tiểu bang Hoa Kỳ, kiên cường ôm ghì nền đức hạnh chuyên chính, cấm triệt để bikini.

 

Chiếc vương miện hoa hậu bị nguyền rủa và những nhà cách mạng không có rốn

Năm 1951, cuộc thi Miss World đầu tiên, tiền thân là Festival Bikini Contest đánh dấu cuộc chiến du kích của bikini vào mặt trận thời trang chính thống, do Eric Morley tổ chức, với tư duy đả cựu nghinh tân hiếm hoi của xứ Ăng-lê. Báo giới ồ ạt hoan nghênh sự tiến bộ này và mặc nhiên gọi tên cuộc thi là Miss World, từ đó mà Morley đăng kí cái tên này như tên gọi chính thức của sự kiện. Hoa hậu đầu tiên, Kiki Hakansson từ xứ Thụy Điển đã tài tình người đẹp nhất trong bộ bikini mà ở xứ cô hiếm hoi mới có dịp diện đến, một phần bởi quá nhiều các đối thủ hạng nặng đến từ các nơi dư dả đường duyên hải đã rút tên khỏi cuộc thi dưới áp lực của đạo đức ăn bận của nước nhà. Thế là về sau, chính cuộc thi người đẹp bikini toàn cầu đầu tiên rơi vào cái bẫy danh dự Miss World của chính mình. Bikini bị phế truất khỏi chính sự kiện của nó, và được thay thế bởi những bộ váy dạ hội sang cả, Hakansson là hoa hậu Miss World đầu tiên và duy nhất đầu đội vương miện, mình vận đồ bơi, và người đàn ông duy nhất trên cõi nhân gian nguyền rủa vương miện của nàng là đức Giáo Hoàng.

Từ đó về sau, các cuộc thi nhan sắc cũng lần lượt công khai cấm vận bikini. Các nhóm nữ quyền tung rải tuyên ngôn bài bác bikini tại các cuộc thi đầu thập niên 70, các đoàn thể xã hội tạo sức ép lên kinh đô điện ảnh Hồ Ly Vọng, đòi hỏi các đạo diễn tiễu trừ những mảnh vải không-hề-nhỏ-nhít ấy ra khỏi màn bạc, dù những bộ phim về nam thần hoang dã Tarzan từ thập niên 30 đã sớm trưng trổ tòa thiên nhiên hùng vĩ của đào Maureen O’Sullivan trong bộ bikini sơn nữ với một lí do hiển nhiên là chuyên nghiệp nhất: tôn trọng bối cảnh kịch bản. Nhà nghiên cứu điện ảnh Bruce Goldstein mô tả nôm na bộ cách Sơn Nữ Tên Jane này là “một loại khố để hở một bên sườn, và người ta có thể nhìn thấy nhiều hơn là một mảng sườn”.

Thế là các nhà đạo đức hè nhau dựng tạm một liếp rào phẩm hạnh, với một định chế nôm na là cứ hở rốn như bikini là dâm ô một rọ.

Ranh mãnh như chính cha đẻ người Pháp của bikini, các tạp chí vẫn đăng ảnh chụp bikini, nhưng tinh ma hiệu chỉnh mờ phần rốn, hoặc với những tư thế khôn ngoan vờ vịt che chắn bộ phận vô tội này, chiều theo quan điểm định hình kích thước phẩm giá trên.

Mọi trang bìa phần phật những phần bụng dưới được lập lờ bào nhẵn, những lỗ rốn vô tội được chắn che cẩn thận, và những chiếc quần tắm nhỏ xíu tuột trễ thật sâu dưới xương hông vẫn như có thể bị rơi tuột xuống tận cổ chân bất cứ lúc nào.

Và như vậy, chiếc bikini của người Pháp đã thâm nhập thị trường Hoa Kỳ qua con đường những vị nữ đại diện vẫn đầy đủ phẩm hạnh và không có rốn.

 

Cuộc chinh phục những cô đào Hồ Ly Vọng

Năm 1962, tiêu chuẩn nhan sắc Mỹ Bond Girl, khi này do Ursula Andress thủ diễn, chói chang diễm lệ đi lên từ biển, tái hiện hoàn hảo một bức tranh Vệ Nữ mình bận bikini trắng toát mồ hôi. Scene này lập tức đi vào huyền thoại những pha bất hủ của chuỗi dài phim James Bond mọi thời kỳ, được coi là scene bikini nổi tiếng nhất thời đại đã đưa đào Ursula lên đài cao danh vọng. Theo mô tả lại, đó là một dẫn dụ bằng hình ảnh tuyệt vời nhất của cuộc cách mạng tình dục trên màn ảnh Mỹ những năm 60, và cũng là cái cớ để phái thủ cựu chế giễu gọi trại tên nàng thành Ursula “Undress”.

40 năm sau, Halle Berry, trong một phim khác về James Bond là Die Another Day, tái hiện hình ảnh Ursula Andress trong bộ bikini giống hệt.

Năm 2001 bộ bikini trắng nổi danh ấy được mua lại trong một cuộc bán đấu giá với 61,500USD

Tiếp nối thành công hiển nhiên của bikini với màn bạc Mỹ, các siêu phẩm cine, ca nhạc và truyền hình Hoa Kỳ tiếp tục tung ra những quả bom gây ngộp khác trong Dr.Stragelove, Beach Party, và ca khúc ngộ nghĩnh Itsy Bitsy Teenie Weenie Yellow Polka Dot Bikini trở thành bản pop “bikini ca” của tín đồ thời trang toàn thế giới, với giai điệu ngộ nghĩnh về cô nàng cả thẹn lần đầu mặc bikini đã trở thành ca khúc nổi tiếng nhất về bikini và nâng món trang phục ồn ào này vượt tầm thời trang chức năng để trở thành một hiện tượng xã hội và một đại diện của lối sống thanh niên thành thị mới.

Nương theo đợt sóng thần của cuộc đại cách mạng tình dục và pop culture, bikini trở thành thứ thời thượng nóng rẫy nhan nhản khắp các hồ bơi bãi tắm của Hợp Chủng Quốc. Tờ Playboy của ông lão chăn thỏ Hefner cũng lập tức căng phơi bikini lên trang bìa vào 1962, hai năm sau, tờ thể thao đứng đắn Sports Illustrated cũng nối gót Playboy. Bà hoàng pin-up Marilyn Monroe tung tẩy những khối thân thể tròn căng như muốn nẩy vọt khỏi bộ bikini trên những tấm poster quảng cáo phim và mọi bìa tạp chí. Cùng với nàng là hàng loạt các cô đào thứ dữ, Jayne Masfield, Gina Lollobrigida đến Hayworth và Raquel Welch cùng đắm chìm trong làn sóng bikini.

Chính từ giai kỳ bikini này, lịch sử điện ảnh ghi nhận hàng loạt truyện phim được xây dựng trên bối cảnh bãi biển với yếu tố kịch bản không nhất thiết quá cầu kì. Đây chính là bệ phóng của siêu hình tượng nhan sắc nước Pháp Brigitte Bardot thập niên 60, và về sau này là kiều nữ truyền hình Mỹ Pamela Anderson với những màn chạy nhảy leo trèo mải miết trong series bỏng con ngươi Bay Watch cuối 80.

Cơn đại dịch dai dẳng và những biến chứng li kỳ

Sau hồi hưng thịnh lẫy lừng, những năm cuối 1980 và đầu 1990 đã chứng kiến sự hắt hủi của giới thời trang và các tín đồ dành cho bikini, với màn tái xuất gay cấn của áo tắm một mảnh, lần này với đường hông khoét cao ngặt nghèo đến tận eo, mô phỏng trang phục aerobic khi này đang gây sốt khắp địa cầu qua các video hướng dẫn của minh tinh Jane Fonda và siêu mẫu Cindy Crawford.

Cộng thêm vào đó là những phát hiện mới đầy đe dọa về căn bệnh ung thư da do nắng khiến bikini trở thành kẻ tội đồ khủng khiếp. Năm 1988, hãng bikini của ông tổ Louis Reard phá sản chấm dứt cuộc vinh hoa của anh kỹ sư cơ khí số đỏ, khi mà những mảnh bikini khi này chỉ có mãi lực bằng 30% mãi lực áo tắm một mảnh.

Ông đã không phải chứng kiến ngày lụi tàn của cơ đồ, bởi ông đã viên mãn yên nghỉ 4 năm trước khi phải chứng kiến sản nghiệp một đời vào cơn khánh tận.

Đã phải mất gần một thập niên để bikini chờ đợi những công thức kem chống nắng hiệu quả hơn.

Với chiêu bài cũ là mượn lực từ đối phương, sau thời kì thập niên 90 đen tối, bikini tái xuất lẫy lừng trong một thái độ hoàn toàn mới, mượn ý tưởng từ phần eo được vén cao quá độ khiến những cặp mông bị phơi lộ hầu như hoàn toàn của swimsuit một mảnh. Cánh mày râu lại được phen tối tăm mặt mũi trước những chiếc quần bikini mà cấu trúc phía sau chỉ còn là một dải chất liệu mỏng manh ngặt nghèo, hoặc thậm chí chỉ còn là một sợi dây mảnh mai đến khó chịu, nằm lọt thỏm ngoạn mục giữa đôi gò mộng, dễ bề khiêu gợi lắm sự nhiễu nhương.

Viện thời trang Met đưa ra nhận định về cuộc tái xuất vẻ vang này của bikini là một “hiện tượng xã hội về ý thức thẩm mỹ cơ thể, quan niệm đạo đức, và thái độ giới tính.” Phái PETA thức thời cũng không bỏ qua cơ hội và biến bikini thành vũ khí tối thượng trong chiến dịch sao khỏa thân “I’d Rather Go Naked”. Các siêu bom tình Pamela Anderson, Traci Bingham và Alicia Mayer đường hoàng xuất hiện trưng phô thân thể tươi rau ráu trong những bộ bikini kết bằng rau xanh, cũng tươi xanh ngon lành không kém, nhằm ủy lạo thực đơn ăn chay và hạn chế giết mổ.

Từ đây, con cháu hậu duệ của huyền thoại bikini cũng sinh đẻ đề huề. Từ dòng họ -kini đến các chị em họ -ini đã cho ra đời những dòng mẫu đa dạng, hình thành cả một hệ thống thuật ngữ cực vui tai mà tín đồ nào cũng phải bảo đảm thuộc nằm lòng. Từ monokini, numokini (không có phần áo), seekini trong suốt, tanikini với phần áo theo kiểu tanktop, camikini với áo có gọng như corset, hikini, thong, sling shot, minimini, teardrop, micro, v.v… và v.v…

Bikini vượt tầm thời trang hay một món đồ bơi thực dụng để trở thành một lối sống đầy thái độ và, oái oăm thay, đáng dùng để là cờ hiệu hay linh vật của mọi tổ chức nữ quyền cách đó không lâu còn tẩy chay và kì thị. Một cuộc điều tra cho thấy 85% bộ bikini được mua chưa bao giờ thật sự nhúng nước một lần lấy lệ, nhưng đến những năm đầu thế kỷ 21 đã mang lại nguồn niên lợi 811 tỉ Mỹ kim. Đương nhiên, đó là chưa kể nguồn lợi kinh tế đi kèm từ dịch vụ bikini waxing và công nghệ sản xuất kem chống nắng và nhuộm da.

vintage: hoài cổ & thức thời

 

Hoa Nhài Đen

Mùa thời trang vừa qua, từ Spring-Summer với cú ghi điểm lẫy lừng nhà Gucci qua màn tái hiện mốt flapper 20’s, mọi tuần lễ thời trang đều ngập trong đăng-ten, hơi hướm những chiếc quần ống loe và những cặp mắt kính màu trà nhạt to như mắt chuồn chuồn hồi 70’s cũng đã được dự báo ngoài thị trường, cùng lúc catwalk nhà LV biến thành một thứ công viên Disney với mọi nét hoa mộng của một câu chuyện cổ tích trong mơ, dệt bằng đăng-ten trên silhouette vintage 60’s không thể nhầm lẫn… Người ta nôm na gọi đó là mùa của vintage!

 

Vintage Không Hề Là Thời Trang Chính Thống!

Các tín đồ vintage bĩu môi: “Vintage ư? Từ đời nào rồi, Diễm!”

Phải chăng chúng ta luôn là vòng quay ngớ ngẩn tự lặp lại mình như vòng ngựa gỗ của Marc Jacobs?

Phải chăng thời trang vẫn luôn là sự cũ kỹ luân hồi?

Phải chăng cả thế giới là tín đồ vintage?

Trên thực tế, đôi khi chúng ta quên đi một thế giới ngầm vẫn luôn tồn tại song song với những trào lưu luôn thay đổi của thời trang đương đại.

Nhưng vintage chưa hề là thời trang, hay một dòng thời trang chính thống, cho đến khi những John Galliano, Marc Jacobs hay Miuccia Prada quyết định lôi chúng ra khỏi bảo tàng hay những phiên chợ flea market, đặt chúng lên runway đương đại một lần nữa, sau khi tài tình thổi phà vào đó mọi giá trị thẩm mỹ tân thời, và biến chúng thành những tuyệt phẩm thương mại, hay những phiên bản cổ vật dư thừa tiềm năng cháy chợ.

Vintage chưa hề là thời trang, vì khi nó trở thành thời trang, nó buộc phải bước ra khỏi mảnh sân sau vintage

Ralph Lauren SS-2012

Vương quốc cổ đại của những sơn nữ điên tình

Nguồn gốc thời trang vintage, vốn là một uyển ngữ mỹ miều cho những món trang phục cũ, thậm chí đã qua vài đời chủ nhân, vốn là một chiêu thức cổ xưa của các nữ tiền nhân tằn tiện. Cho đến nay, vintage đại diện nhiều hơn cho việc tái hiện, phục chế những trào lưu thời trang quá vãng, gồm cả retro và antique, với yếu tố sáng tạo hầu như không có, hoặc rất thấp.

Vintage tồn tại song song với vòng quay trào lưu của thời trang đương đại, và trở thành một góc khuất phía sau bề mặt sôi nổi của các biến chuyển của thời trang chính thống, nằm ngoài mọi quy luật đào thải luân hồi. Vintage không chỉ là phép cứu rỗi cho những diva cổ điển với tinh thần thủ cựu bài tân nặng nghiệp, những con nghiện hương xưa chính hiệu, mà đây còn là vùng đất dung dưỡng thú sưu tầm của shopper mỏng thẻ bởi cơ hội cho những món săn chính hãng với tag giá bình dân. Còn đối với các fashionista trí thức, vintage là một lựa chọn cho thông điệp văn hóa. Người ta có thể đoán được dòng văn học, triết lý sống hay trường phái mỹ thuật ưa thích của nữ chủ nhân, dẫu đó là văn học cổ điển, thuyết hiện sinh, hoặc dark-art.

Đó là một nền văn minh thời trang tự trị, nơi các nữ công dân của nó nhắc nhớ đến những tinh thần hoàng kim quá vãng của lịch sử thời trang, hoặc đơn giản chỉ tạo nên cảnh tượng một cuộc oanh tạc của các cô gái nhỏ vào rương quần áo cũ của ngoại. Đôi khi, sự cầu kì và tinh tế được thay thế bằng hình hài nhàu nhĩ của boho 70’s, bị ép duyên với cặp hoa tai disco 80’s, và mắt khói rock chic, để kết thúc bằng một hình mạo vui nhộn diêm dúa của sơn nữ điên tình.

Mặc tình, vintage vẫn tồn tại, ngộ nghĩnh và an nhiên, nơi những hồn vía retro thoát khỏi vòng xoay đào thải nghiệt ngã của những mùa thời trang thương mại. Từ đó, vintage khoác vào mình một giá trị vượt tầm những món vật cũ xưa, vintage trở thành một thông điệp và lối sống, được gìn giữ và tôn vinh bởi những tín đồ riêng của nó, trong khoảng sân sau của trường phái bất hủ và mọi giá trị văn hóa đi kèm.

 

Lãng mạn phục hưng hay chiến lược thương mại Déjà Vu

Cuộc dịch chuyển các mùa trào lưu của thời trang đương đại, và những thế lực thời trang thay nhau tung lên catwalk những sắc màu cạnh tranh gay gắt nhất, như một sự cố gắng tuyệt vọng tìm kiếm những cuộc thay hình đổi dạng mới mẻ, thậm chí quái dị, với mục đích duy nhất là khác biệt và trội bật. Các mùa haute couture biến thành những lễ hội giả trang với giá trị giải trí tối đa và hiệu ứng thương mại tối thiểu.

Như điều tất yếu phải làm khi đi lạc, khi những điều mới mẻ đã trở thành kỳ dị và lệch lạc, người ta sẽ tìm lối quay đầu, nhưng với một tâm thế mới của kẻ đã qua một chặng đường dài.

Louis Vuitton SS-2012

Đó là khi khoảng sân sau, hay thế giới ngầm vintage trở thành nguồn tư liệu sống động của chính các thế lực thời trang đương đại. Sự ảnh hưởng của nó được thể hiện mạnh mẽ và trực tiếp nhất vào runway thượng đỉnh haute couture.

Khi chạm đến ngưỡng tối thượng của trào lưu, người ta sẽ chạm đến những điều đã cũ, và như vậy, biểu đồ vận động của thời trang là một đường xoắn ốc theo chiều đi lên. Vòng xoay lặp lại tại điểm xuất phát, nhưng tại một tầm độ cao hơn.

Như Stefano Pelati xông pha vào các phiên chợ flea market ải mốc để tìm đến chính chiếc váy mang chữ ký của người tiền nhiệm Yves Saint Laurent.

Như chính Chú K. cổ quái nhà Chanel đến tận mùa haute couture vừa rồi vẫn hú hồn hiển hiện trên catwalk một phong mạo madame Coco của đầu thế kỷ trước.

Hoặc như kẻ hậu sinh Sarah Burton, tuân thủ trung thành những giá trị cổ điển trên từng tảng đăng-ten để hoàn thiện chiếc váy cưới trứ danh cho Kate Middleton, hơn là liều lĩnh với một thiết kế tân cổ giao duyên gượng ép và cái tôi phi nghĩa.

Những mảng diềm ren cổ lỗ sĩ lại lên ngôi nữ hoàng catwalk, và khối màu lập thể Mondrian vẫn vẹn nguyên một tinh thần Yves tái sinh, qua bộ lọc cẩn trọng của những tên tuổi mới của làng thời trang.

Cuộc thăng hoa của thời trang vẫn là những chuyến đi ngược, trong khi tự thân những vẻ đẹp xưa cũ, đi lên từ thế giới ngầm vintage, cũng tự vận động cuộc cải biên cho một thẩm mỹ thanh tân cho những tín đồ đương đại.

Temperley London

Không chỉ là một giải pháp mang màu sắc lãng mạn, nguồn cảm hứng vintage còn là một thế đòn bẩy tuyệt vời cho vị thế thương mại đang hồi chao đảo của dòng thời trang cao cấp, khi mà yếu tố chiến lược đằng sau mỗi thiết kế cầu kỳ biết tìm về đúng lợi thế thương mại vô song của dòng vintage: tiềm thức – thủ thuật tâm lí có thể ngay lập tức làm xiêu lòng mọi tín đồ điệu nghệ. Nói một cách khác, họ tung lên catwalk những ảo ảnh thân thuộc déjà vu.

Cùng với cuộc tái hiện rầm rộ tinh thần vintage trong những phiên bản tân kỳ, thông minh và dư thừa mãi lực, những kẻ đang nắm trong tay vận mệnh sống còn của thời trang cao cấp đã chọn dẫn dắt một cuộc hành hương tìm về những bản ngã của thời trang từ những giai kỳ hoàng kim cực thịnh.

Đôi khi người ta không cần phải đi quá xa để tìm thấy những điều mới mẻ.

Ralph Lauren SS-2012

 

Phạm Duy – hoàng đế Nhục Tình Ca

Jasmine nOir

Khi mà ngoài những con lộ trung tâm, những quả châu mừng đêm sao sáng đang được trưng lên cùng lúc với những dãy mai vàng tòe loe phồn thực, thứ hoa nhựa không tàn của thanh tân vĩnh cửu, như một điệp khúc hoan ca lặp lại 12 tháng một lần: Xuân!

Khi mà xen kẽ một cách tài tình vào guồng quay thít chặt của những tuần cuối cùng trong năm là những tấm thiệp hồng như cũng róng riết đầy xách mé: Mùa Tìm Bạn!

Một đáy mắt màu trà, một vạt nắng hanh hao hắt trên khuôn diện người đàn ông cuối chiều, dư vị cuối cùng của những cuộc sờ chạm 12 tháng qua cũng đã kịp tiêu hóa vào từng tế bào xúc cảm và tan biến, bất khả vãn hồi.

Như tuổi.

Như thời gian.

Những hò hẹn lướt qua chưa đủ chậm.

Người ta chỉ đủ thời gian để ghé qua nhau trong đời.

Bạn – diva thế hệ tân nữ nhi tiến bộ, như cô nhỏ xỏ chân vô đôi giày đỏ không thể ngừng những bước nhún nhảy, chợt hiếm hoi một lần ước cho mùa dừng lại.

Chớ vội Hạ thắm Thu vàng, tại sao lại không là một Xuân Hoàng kim Vĩnh hằng Vạn vạn tuế?

Hãy lắng nghe lời khuyên chân thành nhất từ dater của F.: nếu một Xuân dài hơi là thứ bạn đang tìm kiếm, điều dại dột nhất bạn có thể làm là hẹn hò với một chàng trai nhỏ hơn mình.

Hãy tìm đến với người đàn ông có trên mình hơn nửa thế kỷ yêu đương miên man mê khoái, hãy chọn cho mình một con đực đầu đàn với vẻ phương phi phỉ mãn, đôi mắt tinh anh và nụ cười Di Lặc.

Hãy chọn cho mình người đàn ông có mái tóc bạch kim hoàn hảo, khuôn diện hồng hào, và chiếc áo dạ màu bordeaux hàn lâm kiểu cách.

Hãy vận dụng đến từng giọt hormon đàn bà tính để tiết ra thứ thiện chí hợp mùa mà làm cuộc sờ chạm đầu năm với kẻ được mệnh danh là Hoàng Đế Nhục Tình Ca.

photo by DaiNgo

Quý cô F. và phiên chợ tình trung cổ

Điều quan trọng đầu tiên là bạn phải không được quên là dater đầu năm của bạn đã sống gần 1 thế kỷ, và bạn sẽ bình thản hơn khi đương nhiên là cuộc hẹn sẽ không thể diễn ra tại một tiệm café thời thượng nào dưới phố.

Vĩ nhân tóc trắng, cây đại thụ của lịch sử tân nhạc Việt Nam, sẽ chờ bạn trên một chiếc sofa khổng lồ màu tía. Từ khối thân thể ngót nghét 100 năm tuổi phát ra thứ giọng nói vang ấm như chuông đồng và chuẩn mực đến từng nguyên âm phụ.

Ông kể về những cuộc tình, và không về một cuộc tình nào cả:

Những tình nhân trẻ cách đây hàng thập niên cũng hoang mang phi lý đâu kém những nhân tình trẻ bây giờ. Họ hoang mang mò mẫm nhau đòi tìm hạnh phúc, rồi thả rông năng lượng vào những mối tình gầy, những ả vai gầy mi thưa, tình mỏng đến đến vô phương ôm nắm, rồi lại hoang mang tìm nắm những thứ mong manh. Họ cứ ngồi đó, nắm tay nhau rồi về thở than cho cái sự dở dang. Họ như những đứa trẻ nhỏ thơm vào má người tình mẫu giáo rồi bảo rằng dẫu sao đời cũng vá vào được lên vai một mảnh tình.

Ai bảo họ si tình và đa tình? Tôi cho đó là húy tình. Bởi thứ ái tình thật thà trần trụi nhất sẽ nuốt tọng, nhai rau ráu, sẽ đốt trụi những tâm hồn và thân hình mai hạc ấy. Ái Tình là hân hoan xác thịt như nó vẫn hằng, là thăng hoa nhục thể mà “lên đồi hẹn với bình minh”. Ái tình đâu phải vốn dĩ mong manh, bởi trong mắt nhìn của tôi, nó phồn thực ngạo nghễ và mê muội thật thà lắm lắm.

 

Bởi chăng cái thứ ái tình mỡ màng và thật thà trần trụi ấy đã nuôi đến phun trào phỉ khoái nguồn thi hứng tưởng như không cạn của người đàn ông tuổi đời ngót nghét non thế kỷ, giờ đây đang dãn nở thênh thang trên chiếc sofa đỏ thắm, thấp thoáng từ đôi mắt tinh anh tia thép sắc lạnh nghiệt ngã của kẻ đi đi về về đã mòn lối cuộc đong đưa.

Người đàn bà tưởng đã rành tám câu hò hẹn rồi cũng sẽ có lúc run rẩy cảm nhận đôi tia thép ấy lướt nhanh, rất nhanh xuôi chiều dài khiêm tốn của chiếc váy little-black-dress size XS của người đối diện.

Bạn – tín đồ trường phái vị lai của thập niên 1960 với thẩm mỹ Twiggy sẽ thấy mình lạc vào bữa đại tiệc ái tình phồn hoa của những mỹ nhân phồn thực thời 1940, thậm chí xa hơn về phía trước, nơi những người đẹp Phục Hưng tươi tắn khỏa thân ngồn ngộn, đôi má ngây hồng và da thịt tràn trề căng mẩy.

Hay đơn giản hơn, bạn, và tất cả những lý tưởng tình ái lãng mạn tân thế hệ của mình, sẽ thấy bản thân đứng lạc lõng trong một chợ phiên thời trung cổ, lúng túng thẹn thùa trước ánh mắt dửng dưng của tay đại phú hào tài hoa và quyền lực.

Điều này thật tệ nhưng cũng thật thú vị và kích động khôn lường.

Quý cô, hãy giữ nguyên đôi chân an ổn trên đôi gót mảnh, bắt chéo cặp đùi, bởi cuộc hàn huyên chỉ mới bắt đầu!

Người Việt lãng mạn và người Việt giả dối

Người nhạc sĩ tài hoa đã bước qua ngưỡng ngại ngần che đậy mà thơ thới phong phanh trước nhục cảm và ái tình. Thì bạn, cô nhỏ táo tợn, cũng chẳng can cớ gì mà dè dặt khi tung ra một cố gắng yếu ớt thử bao biện cho trường phái lãng-mạn-phi-dục-tình.

Nói rằng Ái là Dục thì hăn hẳn là sai. Vả chăng nếu bảo đấy là Dục, e rằng sẽ sinh nhiều nhầm lẫn tai hại. Tôi gọi đó là Nhục. Ái tình nào mà không thể có cái râm ran Nhục Thể? Dẫu cầm được bàn tay nhau cũng lâng lâng mụ mị tâm thần, ấy là hạnh phúc. Mà dẫu là Ái của cuộc vầy vò trên giường tình, đó cũng là hạnh phúc. Đẹp không nào “anh cuốn lưng cong em ưỡn lưng ong cho sét âm dương nổ tung”. Cái thăng hoa này lại nảy nở từ tình ái, chứ đâu phải chỉ suồng sã dục tình. Nó phải cuống quýt thèm thuồng, phải hau háu tưởng như không bao giờ no đủ. Chứ một cuộc trơ trẽn nguyệt hoa chỉ tổ tanh lạnh lúc nguội trò.

Bạn thở dài, sườn sượt tiếc nuối những cuốn tiểu thuyết diễm tình học đường của Tôi Thương Mà Em Đâu Có Hay và Bong Bóng Lên Trời.

Người Việt Nam quả là tổ sư lãng mạn. Không chỉ từ thời người Pháp mang vào đây những tư tưởng huê tình trưởng giả Tây phương, mà từ thời liền anh liền chị đong đưa lúng liếng đò tình Quan Họ, nào mắt lá răm nào yếm thắm, hay trò tán tỉnh thô bạo ngô nghê Nam bộ “ban ngày mắc cỡ tối ở quên về”, cũng táo tợn, cũng đầy nhục cảm, cũng lẳng, cũng tình lắm đó chứ.

Đến thời trào lưu văn minh Tây học, anh thi sĩ nào mà chẳng tơ vương vài dáng gầy nàng thơ, chỉ ngửi mùi giai nhân đi ngang đã lâng xiêu trời đất, thừa sức tự biên cả một cuộc tình lẫy hoa lệ. Từ các ông Đặng Thế Phong cho chí Văn Cao, ông nào ông nấy cũng ảnh hưởng nhiệt tình trường phái ‘romantisme Francaise’, làm gì có chỗ cho chuyện vầy vò mây mưa.

Nhưng rồi thời nào cũng rách trời rơi xuống một Hồ Xuân Hương táo tợn, một Phạm Duy Tốn phong tình bạo ngược, rồi lại sản sinh ra một Phạm Duy ngạo nghễ với những bản Tục Ca hay tôn vinh ái tình nhục thể qua những bản Nhục Tình ca.

Tình, phải đi với Tục, là thế. Bà thi sĩ họ Hồ có lãng mạn đa tình đấy, nhưng đọc thơ bà toàn nhựa mít với trôi nước trắng trắng tròn tròn, có ai nghĩ đến cái chất Tình ngay đâu, mà đã hừng hực lồ lộ cái điều tế nhị ấy ngay tắp lự.

Tình mà không có Tục, thì dở lắm!

Thế nên mới ra cớ sự, đang viết Tâm Ca, tôi để đấy, viết Tục Ca. Tôi đưa cho các anh Tuấn Ngọc với Duy Quang bảo hát, anh nào cũng hồn nhiên nho nhã, le lưỡi lắc đầu, bảo rằng “bố các anh ấy cũng không dám hát”. Thế là tôi phải minh chứng rằng các anh ấy sai: bố các anh ấy dám viết, thì dám hát.

Lạ nhỉ, tại sao người ta rất sợ phải sờ vào cái nơi vốn dĩ rất thích thú khi được chạm đến?

Vì người Việt ta giả dối lắm, cô ạ, đặc biệt là trong chuyện ái tình. Người ta cần xã hội và lề thói của xã hội, bằng không, chúng ta tất thảy đã thành một bầy đàn hoang dã thác loạn bốn mùa. Thích lắm chứ, thênh thang lắm chứ!

Nhưng thôi, cô đừng nghe tôi. Tôi vẫn là kẻ ngạo ngược xưa giờ, và những kẻ như tôi mỗi thời cuộc không có nhiều, nên ơn Trời, thế gian bình ổn!

Huyền thoại trai lơ và hôn nhân bảo toàn bát đĩa

Đối diện một người đàn ông mà tự thân kho tàng âm nhạc đồ sộ và những huyền thoại ái tình cũng toát ra một thứ hào quang khiến kẻ đối diện choáng mờ. Sự pha trộn kì lạ giữa tính hàn lâm và thông tục, với những nhấn nhá đồng bằng Bắc Bộ trên tiết tấu Tây phương, đã khắc tên ông vào tượng đài vĩ nhân huyền thoại. Nhưng chính thứ ái lực rần rật trong từng ca từ được nhả trau chuốt, và những ẩn dụ nửa ý nhị, nửa buông tuồng trai lơ mới khiến tên tuổi Phạm Duy gắn liền với hình ảnh một tình lang không tuổi.

Dường như ông yêu đàn bà quá, đến chẳng bao giờ là cạn cùng no đủ.

Người ta cứ bảo tôi đào hoa đa mang lắm, ừ đành rằng cũng có, bởi đương nhiên là vậy, nhưng không nhiều đến như họ đồn đại đâu. Nếu tôi nhớ không lầm thì độ vài trăm. Có lẽ nhờ được trời phú cho âm nhạc, hóa ra lại là ngón “câu khách” rất thành công. Thậm chí cách đây không lâu, vẫn còn có những bà thính giả chân thành lắm, nguyện về nâng khăn sửa túi. Chết thật, mà khi ấy tôi trả lời bà ấy ra sao tôi cũng quên rồi.

Người ta ngoài kia thương tôi nhiều lắm, nhưng rồi thời ham hố qua đi, có khi ngồi lại tôi lại tham lam hỏi người mà như tự vấn “Yêu tôi, hay yêu đàn?”

Rồi bà nào cũng thế, đàn thì có thể nghe được từ xa, chứ người đàn ông sống gần mới ê chề nhìn ra bao nhiêu là thói xấu. Chả mấy ai mà chịu nổi tôi, thế là họ ra đi, tôi lại vào vai anh thất tình ngồi viết nhạc để tán kẻ đến sau.

Thế rồi cũng có một người đàn bà chịu ở lại và sinh nở cho ông những đứa trẻ, bây giờ là những tài hoa lừng lẫy. Nửa đời kề cận vợ chồng, Phạm Duy vẫn chỉ gặp một người đàn bà theo ông là đủ hoàn hảo để làm được điều đó.

Bà cho ông mặc tình làm đứa trẻ tài năng và trái thói, mặc lòng, bà ấy vẫn dung dưỡng cả những thói tật của đức ông chồng vĩ nhân.

Một người đàn bà đẹp đến mấy, rành đường phong nguyệt đến mấy, lúc xa có tiếc, cũng chẳng tiếc là bao. Nhưng người nhạc sĩ già ngẩn người, hụt hẫng như đứa trẻ say vòi

Nếu có điều gì để tiếc, tôi chỉ tiếc rằng người vợ quá dễ thương, bà ấy mất sớm quá!

Nửa thế kỷ làm vợ, bà ấy đánh đổi để có được trong tôi một vị trí chưa hồng nhan nào có được, và độc tôn vĩnh viễn về sau. Tròn 50 năm sống với nhau, đến khi bà ấy mất đi, tôi vẫn không tin được rằng chưa hề có một cái bát cái đĩa nào bị vỡ.

Người đàn bà lí tưởng nên hiểu và yêu, hay chỉ nên khéo chịu đựng?

Chịu đựng chứ, không thì loạn gia cang lên mất!

 

Dater ngô nghê của F. sẽ gật gù chiêm nghiệm một chân lí hồn nhiên mới về cuộc hẹn hò lớn và lâu nhất đời người: cuộc tình viên mãn và một cuộc hôn nhân hoàn hảo là khi người ta chịu đựng nhau một nửa thế kỷ mà vẫn bảo toàn bát đĩa!

Một và một vạn

Như một tín đồ trường phái hưởng thụ chuyên chính, khuôn diện ông lại giãn nở hài lòng:

Ai bảo hôn nhân là khổ lụy thì tôi thương họ lắm, bởi mỗi ngày trong hôn nhân của tôi đều tựa thiên đàng. Hay bởi tôi tham lam tôi đòi nên được đáp? Tôi như đứa trẻ được cưng chiều suốt 50 năm. Tôi như trong một cuộc tình dài.

Rồi người ta cũng chỉ ghé qua đời nhau, cuộc tình tàn cuộc không có nghĩa là cuộc tình tạm bợ. Tôi không tin vào ái tình tạm bợ, cuộc duyên phần có thể chóng vánh, thậm chí dẫu chỉ vừa đủ cho một lần hoan lạc, nhưng nếu ta đói khát cho cạn cùng, cho nhận cho phỉ mãn, với tôi, đó vẫn là một cuộc tình trọn vẹn. Ấy huống hồ chi 50 năm phu phụ, những chuyến nhận-cho mang về những kiếp người mới, những đứa con. Cuộc tình ấy, với tôi là thiêng liêng trân quý lắm. Đến nỗi ngay những ngày gần đây, tôi vẫn thẫn thờ nhận ra bà ấy vẫn đang ở nhà, ra vào trông nom kề cận bên tôi. Thế mới hay, mới gọi là sống lâu biết đâu chưa đi trọn hết một cuộc tình. Tôi giàu có lắm, bà vợ tôi quả là người đàn bà vô giá: “yêu một người như yêu một vạn người”

Rồi ngay lập tức, như để đánh tan sự thất vọng của kẻ đối diện, ông cũng không thể ở lâu trong vai trai góa mồ côi:

Còn những cuộc tình. Lại nữa, ai bảo ái tình là khổ lụy, tôi cũng thương cho họ lắm. Dẫu có lúc bị phụ, ấy nhưng trong ái tình tôi “phởn” lắm, nên lúc nào cũng thơ thới. Khi yêu đương thì tôi mê muội quên đời, nhưng khi chuyện không thành, tôi hầu như chẳng chút dằn vặt. Cứ thế, nước trôi qua cầu thì dòng mới trong, mới thoát. Tù đọng làm chi cho ngầu đục dòng đời. Tôi chẳng nhớ gì, chẳng mong nhắc lại gì. Những gì đáng giữ thì đều ở lại cả trong tôi làm của nả mang về Tuyền Đài. Còn giờ đây, tôi còn bận giang tay ôm sự sống, chẳng còn tay nào để cắc cớ lần dở chuyện đã lắng sâu, trôi xa.

Những cuộc tình… Dường như Phạm Duy chỉ có một cuộc tình thủy chung duy nhất với Ái Tình ở nghĩa yêu đương rộng nhất, mà trong đó, những người đàn bà đến và đi, thay phiên nhau ngồi vào ghế nàng thơ, những nàng thơ thật ngoan.

Một người đàn ông, bận rộn lắm, và phải tự tạo cho mình một cái thế kiềng 3 chân vững chãi để làm nên cuộc sống: một sự nghiệp, một vợ, một người tình. Vợ tôi, bà ấy biết hết, hiểu hết, mà chẳng bao giờ một tiếng trách hờn. Bởi tôi là kẻ quá đỗi chung tình, nếu không thì tội gì tôi đã nói “nhiều người tình” chứ đâu chỉ là một.

Tôi thành danh về sự nghiệp, với vợ tôi là một cuộc hôn nhân trọn vẹn đề huề, và với người tình, tôi đoan chắc ngay giờ đây bà ấy vẫn đang nghĩ về tôi nhiều nhất. Có 3 điều ấy được bảo toàn, tôi thấy mình trọn vẹn, sung sức và phỉ mãn nhất, ở tư cách một người đàn ông.

Chẳng phải thế cân bằng của vạn vật chỉ cần là sự đối trọng hai yếu tố Âm-Dương? Tại sao ở đây, người đàn ông lại đòi hỏi có đến 2 người đàn bà?

Ô kìa, mỗi người đàn ông cần một vạn người đàn bà ấy chứ có phải 2 đâu. Nếu chỉ xét theo những gì Tạo Hóa ban tặng, từ xác thịt cơ thể, đàn ông đàn bà đã chẳng được tác tạo nên là vậy, việc của kẻ đi gieo giống, việc của kẻ ủ mầm,… Nhưng rồi có xã hội, có văn minh, có lề thói và trật tự. Người ta vẫn luôn cần những người có đạo đức, hoặc quyền lực, để đứng ra thiết lập đạo lý và lề thói cho an ổn mọi bề. Những cái người ấy, rất cần thiết là vậy!

Vậy ra đạo lý không đi cùng với tự nhiên sao?

Đạo lí phải đi cùng với tự nhiên, để kiểm soát và ngăn loạn. Nếu không thì tôi ở tù từ lâu rồi!

Những người đàn bà tuyệt vời!

Đàn ông, thật là những đứa trẻ hư hỏng quá đỗi! Chúng hư hỏng vì được nuông chiều.

Những đứa trẻ như thế, thường chỉ biết yêu chính bản thân và những cơn say vòi vô độ.

Thú thật, người đàn ông có những lúc yêu vì tự ái. Đàn ông tự ái ghê lắm, cần chăm sóc mơn trớn cái góc tự ái đó. Thế là họ dan díu yêu đương, và mỗi người huênh hoang theo một cách, anh phàm phu có cách của anh ấy, tôi thì khoe tình vào nhạc.

Nhưng không hiểu sao, những người đàn bà trong đời tôi, chẳng có bà nào phàn nàn về điều đó cả. Chẳng có ai bảo tôi phải bỏ vợ vì họ cả, mà vợ tôi cũng chả hờn ghen xem chuyện yêu đương ngoài chồng vợ của tôi là điều khuất tất. Những người đàn bà tuyệt vời!

Nhạc sĩ đánh giá sự phục tòng ấy là một phẩm hạnh của giống cái?

Hẳn nhiên, nếu không muốn nói là một trong những phẩm hạnh cao giá nhất.

Ông có e đây là ngôn luận phong kiến – một dấu hiệu đáng buồn của thời gian?

Lạc hậu à? Chẳng biết các chị phụ nữ của những anh khác thế nào, ngay trong thời đại văn minh này, những người đàn bà tuyệt vời của tôi, xưa nay họ vẫn nằm dưới.

An-nam woman smoking opium. Photo by Albert Kahn

Một thoáng văn minh thụ hưởng từ tư duy đồng đẳng tân thời khiến bạn khẽ rùng mình trước một sự khiếm nhã thản nhiên tênh hênh đến vậy.

Và không có gì qua mắt được sự tinh anh quái quỷ của người đàn ông đối diện

Nhưng chớ nghĩ tôi hàm ý điều chi khinh thị. Họ là Mẹ nhân loại, và khi an nhiên đặt mình bên dưới người đàn ông, họ hào phóng ban bố khoái lạc và Sự Sống. Nhân loại u mê trụy lạc, hay thông mẫn phồn vinh cũng từ đấy mà ra.

Thói trăng hoa ham hố phải chăng là một cách tán tụng nâng niu những người đàn bà đẻ ra sự sống ấy? Hay đó chỉ là nhu cầu vô độ của lạc thú ái tình hoặc thuần túy bản năng gây giống?

Đó là bản năng, thuần túy và thật thà nhất. Và người đàn bà hạnh phúc là người đàn bà hiểu rõ điều này.

con gái An Nam từ góc máy Pierre Dieulefils

Hồn nhiên là thế, đến trần trụi sỗ sàng nhưng hiển nhiên tự tại.

Cứ hồn nhiên đi, hồn nhiên là đàn ông đàn bà, rồi sẽ tìm thấy nhau mà hồn nhiên yêu. Adam yêu Eva đâu phải bởi quá nhiều tán tỉnh tương tư hay chiêu dụ mồi chài rù quến. Một đàn ông một đàn bà, mà từ đó những tội tình kì thú sinh ra.

Xuân Vĩnh Cửu trong cõi hoa màu thiền

Những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc hẹn, người đàn ông thả mình vào lưng ghế màu tía, vẫn cái giọng chuẩn chu đến từng nguyên âm phụ, nhưng đã không còn âm sắc ngạo tình tinh quái:

Chung quy ra Đạo Ca, Bé Ca hay Tục Ca, tất cả đối với tôi, đều là những cái Tri, cái Ngộ. Giữa cuộc u u minh minh của số phận và thời cuộc mà tôi gọi ấy là cái “thành vách sương mù”, tôi viết nên Đạo Ca như một nẻo đường sáng để vin vào và hướng tới. “Đạo” ở đây là “con đường”, chớ không hề là tôn giáo. Giữa những ái tình hời hợt thoảng qua, giữa những vai gầy mi rối tóc tơ, tôi lại ngộ ra chân lí của ái tình thăng hoa trong cạn cùng mãn nguyện, tuyệt đối của cuộc Nhận-Cho, và buông tuồng đến thật thà.

Cuối cùng, sau cuộc hành lạc hân hoan, “châm một điếu thuốc trầm ngâm lõa thể”, tiếng thốt lên tấm tắc của tình nhân “em thơm như cỏ hồng, em ơi!” chẳng phải là thiên đàng hạ giới đó sao?

Những kẻ như tôi không nhiều. Trong cuộc u u minh minh như kể ở trên, mấy ai thoát nỗi hoang mang đến trốn chui vào cái “động hoa vàng” mà an đời yếm thế. Còn tôi, yêu đời như tình nhân, phải ôm chầm lấy mới hả, dù điều đó sẽ gây đau vì cuộc sống không mấy khi tròn trịa. Mà hề gì, được Sống, cứ vồ vập lấy đi, “động hoa vàng” ai về sau mà chẳng có riêng cho mình một cõi hoa màu thiền.

Bạn sẽ đứng lên, giã từ cuộc hẹn hò khai Xuân với tình lang không tuổi.

Hãy thanh thản ra về, ngân nga cho chính mình một nguyện cầu chưa bao giờ xưa cũ

Xuân tôi ơi ! Sức Xuân tôi còn khát khao
Dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu
Xuân muôn năm, có ta Xuân còn hơi Xuân
Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần…

Ngoài kia, xuôi những con lộ trung tâm, như vẫn hằng 12 tháng một lần, người ta lại đang một lần nữa rộn ràng chăng kết thứ hoa Xuân Vĩnh Cửu kì khôi bằng nhựa, một cõi hoa màu thiền.

Thỏ Cột Nơ – “Dân Chơi” Xuyên Thế Kỷ

Túy Ca

Không phải người đàn ông nào lang thang trên bề mặt địa cầu cũng được dịp tận hưởng cảm giác trở thành huyền thoại ngay khi còn sống và vẫn vận hành khá trơn tru. Nhưng thực tế của một huyền thoại cũng là một thứ hoàn toàn không như trí tưởng tượng hào phóng bởi ánh hào quang.

The legendary man…

Trai tân 22 tuổi và cơ đồ đại nghiệp Thỏ Cột Nơ

Ông bà giáo Grace Caroline và Glenn Lucius Hefner ắt chẳng bao giờ ngờ rằng đứa con trai đầu lòng sẽ một ngày trở thành tay ma cô hùng mạnh nhất của hai thế kỷ. Hugh Hefner đã bắt đầu sự nghiệp báo chí từ nền nếp gia huấn thủ cựu ấy, không có phụ huynh ly dị, mẹ độc thân, hay những vụ lạm dụng tình dục – một môi trường vô nhiễm hoàn toàn với những điều cấm kỵ hay ho.

Một cách khôi hài, Hefner tự nhận mình là trường hợp “hoa tình muộn nở” khi thú nhận không hề thủ dâm trước 18 tuổi, và đến 4 năm sau mới chính thức nếm trái cấm lần đầu.

Cuộc phiêu lưu đầu đời đã đột ngột phá bung cánh cửa dẫn ra thế giới của cậu trai 22 tuổi. Say sưa, đầy ám ảnh lẫn hiếu kỳ, cậu cả nhà Hefner lao vào trang bị cho mình kiến thức từ những ấn bản được coi là đệ nhất dâm thư của Kinsey và những cuốn cẩm nang ái tình chuyên chỉ dạy mách nước các mánh khóe phòng the. Không chỉ với lòng đam mê dục tình, mà cả tham vọng của một ông trùm tương lai đã khiến Hefner hình thành những nét phác đầu tiên cho cơ đồ quyền lực mang biểu tượng Thỏ Cột Nơ.

Năm 1953, anh chàng Hugh kì cục bắt đầu cầm cố tống tháo đống đồ gỗ trong nhà được 600$ (hoặc là 800$ mà mãi về sau này, Hefner vẫn không nhớ được), thuyết phục thành công 45 nhà đầu tư để gom về thêm một khoản tiền 8000$, trong đó có 1000$ của bà giáo Grace đáng kính (tuy không mặn mà với ý tưởng Playboy của ông con cho lắm, nhưng bà thân mẫu lại tuyệt đối tin tưởng vào chính cậu trai cả ngông cuồng của mình). Với chưa tròn 10,000USD trong tay, Hugh Hefner đặt viên gạch đầu tiên cho đế chế Thỏ Cột Nơ.

Quả bom bìa huyền thoại & cách mạng đồng tính tiên phong

Thoạt đầu, Hugh Hefner muốn đặt tên cho tờ tạp chí của mình là Stag Party (tạm dịch: Đại Tiệc Trai Lơ), nhưng ngặt nỗi cái tên đó đã có người sử dụng, từ đó Playboy (Dân Chơi) được ấn định trở thành tên gọi của cả một thế lực truyền thông sau này.

Số đầu tiên xuất bản tháng 12 năm 1953, với hơn 50,000 bản cháy sạp với ảnh bìa hình cô đào Marilyn Monroe khỏa thân hơ hớ, bỏng rẫy trên tay các cậu bé bán báo và thiêu đốt khắc khoải dưới gối các gã thiếu niên khắp nước Mỹ.

Cho đến nay, đó vẫn được xem là một trong những shot ảnh bìa gợi cảm và lộng lẫy nhất của lịch sử Playboy. Nếu về sau này, lịch sử ảnh bìa tạp chí khiêu dâm chỉ cho người ta những vận động viên phòng gym, lõng bõng những túi dung dịch dưới da, với tinh thần như thể vừa bước ra từ phòng xông hơi của câu lạc bộ thể hình, thì quả bom vàng hoe Marilyn của ngày ấy, mây mẩy phồn thực, khóe mắt nhễ nhại tình, lại có cái đẹp của người đàn bà thật thà vừa bước ra khỏi cơn cực khoái.

Trong suốt hai năm sau đó, Playboy nghiễm nhiên trở thành một ấn phẩm được cánh tu mi nam tử nô nức đón xem hàng kỳ, với những trang báo tràn trề da thịt được hau háu lần dở, và xuất hiện tại mọi phòng tắm của nam nhân trai tráng khắp nơi. Năm 1955, tờ Playboy đăng tác phẩm The Crooked Man của Charles Beaumont, một thứ văn chương viễn tưởng dặt dẹo về một người đàn ông dị tính bị ngược đãi và lạm dụng tả tơi trong một thế giới đồng tính, với hàng loạt những chi tiết rùng rợn hay ho được đặc tả huỵch toẹt. Đây quả là một truyện kinh dị đối với những người đàn ông khỏe mạnh và thẳng tưng của nước Mỹ. Thư phản đối từ khắp nơi gửi về, các nhà phê bình lên tiếng cự nự. Hugh Hefner – vẫn thẳng tưng, khỏe mạnh và mê gái đẹp, điềm tĩnh đáp trả “Thật là một truyện bậy bạ quá lắm, ngược đãi và chà đạp dân dị tính trong thế giới đồng tính. Vậy thì ngược lại, ngược đãi dân đồng tính trong thế giới tưởng mình là dị tính, cũng thật là sai quấy không kém vậy!” Từ đó, tay ma cô vĩ đại của nước Mỹ chính thức trở thành người hùng thẳng thớm (straight) đấu tranh cho quyền bình đẳng của dân đồng tính, thậm chí có cả một bộ phim tư liệu về việc này, mang tên “Hugh Hefner: Playboy, Activist and Rebel” (Dân chơi, nhà hoạt động, và phần tử phiến loạn)

Mối tình, cuộc hôn nhân và cơn đột quỵ đầu đời

Tuy là cục cưng trẻ tuổi tài cao của sân chơi gái gú thừa mứa những cuộc tình cho không biếu không, một ngày đẹp trời năm 1949, gã ma đầu Dân Chơi cũng đĩnh đạc thắt chiếc nơ chú rể vào dưới cằm và hỏi cưới người tình từ thời hoa mộng là cô sinh viên nền nã Mildred Williams về làm vợ.

Họ đã nối dài cuộc tình từ thời kì Hefner phục vụ trong quân đội, sau khi chàng hồi hương, cô sinh viên thú nhận đã ngoại tình trong suốt những tháng ngày xa cách. Về sau Hefner vẫn còn nhức nhối nhớ về vết thương cũ: “Đó đã là khoảnh khắc khủng hoảng nhất đời tôi!” Nhưng điều này không dễ làm nản lòng Dân Chơi, một hôn lễ truyền thống trắng muốt và tiếp nối là 2 đứa con xinh đẹp, người vợ, với lòng thống hối, sẵn lòng cho phép chồng ngủ với nhiều phụ nữ khác, và kết thúc bằng cuộc li dị năm 1959.

Bước ra khỏi cuộc hôn nhân kiểu Mỹ, Hefner, như mọi người đàn ông thẳng thớm và khỏe mạnh khác, dấn thân vào cuộc tận hưởng mùi đời một cách triệt để. Hai chương trình truyền hình Playboy’s Penthouse (1959-1960) và Playboy After Dark (1969-1970) của ông cũng ủy lạo tích cực cho lối sống hưởng thụ của quý ông độc thân thành thị. Vừa háu tình vừa kén chọn, mỗi tháng Playboy có một Playmate (Bạn Tình) thì mỗi năm, Hefner cặp kè với 11/12 cô nàng Playmates mỡ màng ấy với chu kỳ thay mới, đương nhiên, là vào mỗi 4 tuần.

Rồi điều phải đến đã đến. Năm 1971, Hefner lần đầu trải nghiệm tình dục đồng tính, chuyển từ Chicago đến Los Angeles và tiếp tục trải nghiệm cơn đột quỵ đầu tiên vào năm 1985, ở tuổi 59.

Xuân đi Xuân đến rồi Xuân lại về…

Cú cảnh tỉnh có hiệu lực, Hefner giảm bớt nồng độ “Dân chơi”, kết hôn lần nữa với Kimberley Conrad và đặt vương triều Playboy vào tay con gái là Christie. Cũng từ đó, Playboy Mansion được chuyển thể từ một tòa đại hí viện ái tình để trở thành một siêu dinh thự thân thiện, vui nhộn nhưng ấm áp không khí gia đình văn hóa.

Đây không hẳn là điều giai nhân Conrad trông đợi ở đức ông chồng đã khét tiếng làng chơi. Họ quyết định ly thân trong tình trạng cả hai đều đã ngán tận cổ trò gia đình văn hóa và sinh hoạt điều độ. Hefner lại ngay lập tức xoành xoạch thay đổi các người tình cư ngụ tại Mansion, thậm chí ông có thể cùng lúc công khai có mối quan hệ với một loạt bảy người đẹp, đại diện cho các thứ trong tuần.

Một cách ngang nhiên trước mũi dư luận, các hội đoàn đấu tranh vì bình đẳng giới, và những quý ông thiệt thòi còn lại trên cõi văn minh, Hefner gây dựng cho riêng mình cả một hậu cung ngồn ngộn phập phồng những cô khối da thịt mắt tóc măng tơ, vui nhộn mà ông yêu quý đồng đều như một vị quân vương hào phóng, sung mãn và thấu đáo lẽ đời.

Từ đó, Playboy Mansion một lần nữa trở thành cõi địa đàng lạc thú của không chỉ các quý ông mà còn là viễn mộng của tột đỉnh xa hoa, phù phiếm và một thế giới vô lo trên đỉnh nhan sắc khiến không ít phụ nữ, thậm chí các cô gái nhỏ, ngấm ngầm thèm muốn. Dĩ nhiên, trong mọi hình dung tưởng tượng của họ, những vết nhăn trên khuôn mặt Ngài Hefner đều được xóa mờ tài tình và mái tóc bạc của Ngài, cùng chiếc áo choàng smoking jacket đỏ tía lại có một sức quyến rũ lạ kì của bá tước Dracula điệu nghệ, uy quyền của những ly rượu lâu năm và những bản tango cổ lỗ cầu kì.

Bí mật chuyện tình điệp vụ Playboy

Trong các thiên tình sử ngắn dài đủ kiểu của Mr.Playboy, với hàng trăn hồ sơ “đăng ký yêu” vẫn được tới tấp gửi về hàng tuần, thì cánh cổng Playboy Mansion và đôi vòng tay Hugh Hefner hẳn nhiên đã có lần đón vào lòng những con sói đội lốt thỏ.

Không phải là câu chuyện cổ lỗ về một cô nàng hám lợi, bởi bản thân hậu cung Playboy đã là nghiệp đoàn nữ công nhân khai thác mỏ.

Đây là câu chuyện của Gloria Steinem – con thỏ cảm tử. Là một nhà hoạt động đấu tranh vì nữ quyền, từ khi còn rất trẻ và sở hữu một vẻ hấp dẫn “đàn bà-trẻ con” rất thịnh dưới thời người đẹp BB, Gloria từng ngụy trang dưới…bộ da và những đường cong của chính mình để đến sống tại Lâu đài Khoái lạc một thời gian, dưới tư cách Playmate được sủng ái của Hef, và về sau công bố mọi sự thật về lối sống của Trùm Tình Dục ra công luận như một bản tố cáo giật gân và điệu nghệ.

Trong những tiết lộ về đời sống một Playmate, cô để lại cho giới truyền thông Mỹ thời lạm phát tình dục “Một phụ nữ  đọc tờ PLayboy sẽ thấy chẳng khác gì một người Do Thái đọc tạp chí Quốc xã vậy.”

Mãi về sau, trùm Dân Chơi già lão còn nhắc về cô – khi này đã là một nhà hoạt động bình quyền nổi tiếng, một cách vừa vị tha, vừa vị nể, như về một hồng nhan tri kỷ đặc biệt “đã có lúc tôi cho rằng đã có thể nảy sinh những điều thật đặc biệt giữa chúng tôi. Đó là kiểu một cô gái có thể trị đàn ông như huấn luyện thú nhỏ”.

Sở hữu quyền lực của lòng tự tại và một sĩ diện duy mỹ khắc nghiệt, Hef thừa tư chất mã thượng và vị tha để biến những lời lên án và đòn công kích mãnh liệt từ nữ điệp viên xã hội này trở thành trò vật nẩy màu mè thường tình nữ nhi.

Chỉ đến gần đây, bà úp mở với báo giới một tình cảm lưu luyến đặc biệt dành cho “con yêu râu xanh” Hefner.

Nhưng, không rõ với lòng kiêu hãnh hay với một sự mỉa mai cao thượng, ngoài những lời ca tụng và những cái xoa đầu đầy vị tha dành cho giai nhân ngày cũ, Hefner chọn chôn dấu bí mật giữa hai người vĩnh viễn đằng sau những bức tường, đáng tiếc là không biết nói, của tòa biệt điện Dân Chơi.

Hai bà vợ rưỡi và một chú chó

Cuộc đời một người đàn ông tốt số không phải là những chuyến phiêu lưu gieo giống hoàng tộc như nam nhân thiên hạ vẫn nghĩ. Bản thân Hefner, với phần số đào hoa đậm đặc của mình, lại là một bờ bến mỡ màng phù sa nơi những người đàn bà đến và đi, không chỉ là các bà vợ.

Chuyện động trời xảy ra khi 3 trong số 7 nàng Bunny rời tòa mộng lâu, Hefner không tỏ ra hụt hẫng quá lâu và lập tức tự bù đắp bằng cục cưng mới được sủng ái nhất là Crystal Harris và cặp song sinh đôi mươi xinh như mộng Kristina và Karissa Shannon. Chỉ riêng “Mối tình” với cặp song sinh tóc vàng đủ để Hefner trở nên đáng ganh tị hơn James Bond và Casanova cộng lại đối với mọi quý ông lão ấu trên địa cầu.

Hefner chính thức ly dị với Conrad sau 11 năm ly thân, khi người con út của họ vừa tròn 18 tuổi. Ngay sau vụ ly dị và cuộc chia tay với cả hai chị em nhà Shannon, vị hoàng đế đa tình quay qua trân trọng những gì còn lại – người tình được sủng ái nhất Mansion là Crystal Harris.

Mọi động thái phòng vệ nghiêm ngặt lập tức được áp đặt cho lâu đài lạc thú để ngăn chặn làn sóng “thỏ chiêu hồi”. Ông thú nhận điều này với tờ New York Times trong khi phàn nàn về thói lẳng lơ của bà phu nhân tiền nhiệm: “Tôi chung thủy tuyệt đối với Kimberly Conrad, trong khi bà ấy ăn vụng bất kể bữa. Điều này khiến tôi luôn bị ám ảnh bởi cảm giác già khọm và cô độc trong suốt cuộc hôn nhân.” Hef coi đây là nguyên nhân khiến ông rơi vào phản ứng cực đoan và lao vào những cuộc tình tay ba tay tư cùng lúc với nhiều cô gái khác, kết thúc bằng luật giới nghiêm lúc 9 giờ tối, áp dụng trong phạm vi Playboy Mansion cho cả 7 cô bồ. “Cho chắc ăn!” ông nói vậy.

Sự bồng bột ngây thơ không đáng có của chúa tể lâu đài Playboy đã trả giá rõ ràng, ngay cả với luật giới nghiêm 9 giờ tối: nàng Crystal từ hôn khi chỉ còn 5 ngày trước lễ cưới, mang theo mình chiếc nhẫn đính hôn trị giá 90,000USD, con xe Bentley xa xỉ, nhưng đau đớn nhất, là cả chú chó cưng Charlie.

Ngay vào ngày đáng ra đã được ấn định cho hôn lễ, tân nương hụt tung hê tiệc tùng be bét ở Vegas và tồng tộc vạch chuyện phòng the trên đài phát thanh “Thân thể Hef không hề làm tôi bị tụt hứng, bởi ổng có bao giờ dám cởi đồ trước mặt tôi đâu. Tôi thề chưa một lần nhìn thấy ổng khỏa thân!”

Ở nhà, vị hôn phu u sầu post lên Twitter “Sau tất cả thăng trầm vinh nhục, cái gì làm được đã làm, những điều có thể nói cũng đã nói hết, cuối cùng thì độc thân có lẽ là điều tốt nhất.” Phía dưới, ông cũng đã kịp thông báo thêm với các follower về việc tự bù đắp sự trống rỗng trong tim bằng 2 giai nhân mới là Anna Sophia Berglund và Shera Bechard vừa dọn đến hậu cung Playboy.

Ngày 26 tháng Bảy, trong cuộc phỏng vấn truyền hình với Howad Stern, Crystal Harris, non nớt và sống sượng với tuổi 25 của mình, ngô nghê bôi tro trát trấu lên vị cựu hôn phu đáng kính, tồng tộc kể về cuộc ân ái mà theo nàng là lần duy nhất và kéo dài chỉ 2 giây.

Quá nhiều cho một người đàn ông vừa bị phản bội và bị lột truồng trước công luận bởi chính người đàn bà mà chút nữa đã trở thành phu nhân.

Người ta hể hả cho rằng đây chỉ là một phần rất nhỏ hệ quả dành cho Hugh Hefner, sau ngần ấy thập niên lột truồng các cô gái trẻ trên bìa tạp chí.

Crystal say sưa với danh hiệu “cô gái bỏ rơi Hef”, lại tiếp tục sa đà “Lúc đó tôi hơi xỉn và nghĩ: Ờ thì thử chút có sao đâu? Đằng nào thì ông ta cũng từng làm tình đến ngán ngẩm ngập ngụa rồi. Cuối cùng thì hóa ra ổng trụ được đúng 2 giây, trước khi kịp ghi bàn vào vùng cấm địa”

Hefner đón nhận đòn tro trấu của cô vợ hụt với một thái độ nhẫn nhịn, khả kính và kẻ cả. Ông thậm chí còn tỏ ra thú vị với những gì đang diễn ra. Quả tình, Crystal đã làm rất nhiều để Hefner không phải cảm thấy quá tiếc nuối nàng cùng ý nghĩ gắn kết trọn đời.

Đoàn luật sư tóc vàng và đức tính trung thành của loài thỏ

Đến đây, người ta lại tìm đến cuốn tự truyện Sliding Into Home của cựu nhân tình Kendra với những chi tiết thâm cung giật gân về cuộc sống của nàng tại Playboy Mansion và bản thân vị chủ nhân tôn quý của nó. Bỏ qua những chi tiết về ma túy, nghiện ngập, nghề người mẫu khỏa thân và các hộp đêm thoát y mà người ta có thể tìm thấy trong bất cứ hồ sơ của diễn viên phim đen hạng xoàng nào, thì những chi tiết mô tả cái “lần đâu xao xuyến ấy” với Hefner đủ làm ngứa mắt các nhà mô phạm.

Kendra Wilkinson mô tả tỉ mỉ cuộc làm tình tập thể mà các cô gái xếp hàng chờ đến lượt, mỗi người được ân ái trong khoảng một phút và lại thay ca “Lúc đó tôi chẳng buồn quan tâm đến việc ông ấy bao nhiêu tuổi, cuối cùng thì các bộ phận cũng vận động đúng chức năng cơ học của nó mà thôi. Buổi sáng hôm sau, đích thân Hef xuống tận phòng để hỏi thăm tôi ‘Hello, my darlin’. Và tôi cảm thấy được ưu ái đặc biệt, thấy mình được yêu, và thấy mình xinh đẹp. Chẳng phải đó là điều mọi cô gái muốn cảm nhận từ người tình của mình?” Và Kendra quyết định dọn vào Mansion sống như một trong những tình nhân lâm thời của Hugh Hefner, khi mới 18 tuổi, một cách tự nguyện hoàn toàn.

Cùng lúc, phản ứng trước sự mạo phạm của con chiên ghẻ Crystal, các bạn tình mới cũ của Hef đồng loạt lên tiếng bênh vực và tụng ca khả năng thụ hưởng ái tình của hoàng đế Dân Chơi. Bạn Tình xứ Phù Tang Hiromi Oshima nói “Chỉ có một luật được áp dụng trong phòng ngủ của Hef – đó là không có luật lệ lề lối gì ráo!”

Còn Dani Mathers ở đài truyền hình Playboy TV thì khẳng định như đinh đóng cột “Hef là một bạn tình hoàn hảo! Mấy người may mắn ở Playboy Mansion thật sự ham vui như bầy thỏ háu tình, và Hef có một đời sống phòng the cực kì bận rộn.”

Kiều nữ Shanna McLaughlin vô tình vạch ra rất rõ sự cảm kích từ các người tình của Hef không liên quan lắm đến khả năng tình dục của Đức Ngài “Tôi thấy tất cả những chuyện này về Crystal thật đáng buồn. Hef là một quý ngài cực kì dễ thương. Ông hào phóng và chu đáo bảo bọc tất cả mọi người quanh mình, đặc biệt là những nàng Playmates. Ít nhất là vì lòng biết ơn, một số bí mật nên được giữ riêng chỉ giữa hai người trong cuộc.”

Sau đợt sóng chỉ trích của dư luận và các chị em thỏ, cuối cùng thì nàng Crystal vạ miệng lại tất tưởi lên sóng truyền hình ấp úng lời xin lỗi đại loại “ý tôi không thật sự chỉ là 2 giây…”

Điều an ủi cuối cùng cho Hef là rồi thì phu nhân hụt cũng thuận ý trao lại cho ông quyền nuôi dưỡng chú chó Charlie “Có lẽ Charlie hạnh phúc hơn khi sống ở đó, còn tôi thì an ổn ở ngoài này. Hef cũng rất nhớ Charlie, điều này tốt cho tất cả.”

 …and the Man

Bất kể mọi thứ vây quanh cuộc đời Hugh Hefner có biến ông trở thành “lão già dơ” bậc nhất của thế kỷ, thì sự sành sỏi ngầm của tay chơi trải đời và tinh thần ngạo mạn đến tĩnh tại và lịch lãm của một quý ông vẫn bao phủ quanh Mr.Playboy một ma lực quyến rũ say sưa mê hoặc, sần nhám nhưng nhưng đê mê thách thức như hàm ria của tài tử Clark Gable vậy.

Sau cùng, nhân cách ưu việt nhất của trùm Thỏ Cột Nơ vẫn là sự trung thành tuyệt đối với tư tưởng hưởng thụ duy mỹ và, trên hết, cho một trùm truyền thông, đó là Sự Thật – toàn phần không che đậy.

Tất cả những điều đó quá đủ để biến một ông lão thành một huyền thoại sống.

Ông già Hef đáng mến và sự quyến rũ của loài thỏ

Những người đàn ông khác vẫn thường cảm thấy khó hiểu trước lòng ưu ái mến mộ của nữ giới dành cho “cha già khú đế” Hefner. Một số sử dụng liệu pháp AQ tinh thần khi thuần túy cho rằng đó không khác gì là những cuộc bán chác sòng phẳng. Hẳn nhiên, Hef có thể là một người tri kỷ hào sảng, một người cha sành điệu để chiều chuộng, chăm dưỡng và bảo bọc hợp tác xã gái tơ cơ nhỡ, chứ không hẳn họ lao vào Hef với những hứa hẹn về một bạn tình cao siêu tuyệt xảo.

Một cách thông tục nhất, một cô nàng tóc vàng hoe mẫu mực phải ngay lập tức liệt kê được những quyền lợi của một thỏ cưng nhà Playboy: giá chót 1000USD tiền mặt dằn túi do chính ngài Hef đưa cho vào thứ Sáu hàng tuần, dịch vụ làm tóc chuyên nghiệp nhất và hoàn toàn miễn phí, xe hơi đưa rước, được chi trả toàn phần cho các ca bơm ngực, làm răng và trang phục dạ hội cho các dịp tiệc tùng quan trọng.

Và nếu đó là tất cả, thì Hefner không là người đàn ông duy nhất.

“Vậy thì đó là cái gì, cái hấp lực gì từ lão già tốt số ấy?” – những người đàn ông còn lại trên đời và các phóng viên tự hỏi.

Không chỉ những nàng thỏ non tóc vàng của vương quốc Playboy, những ả nhan sắc công khai si tình sùng mộ lão quái già khoác áo choàng đỏ tía ấy, mà lão còn tài tình quyến rũ luôn mọi đại diện đầy lý trí của báo giới. Các cuộc tiếp cận đều bị chinh phục hoàn toàn, dẫu đó là lòng ngưỡng mộ quyền lực tổng lãnh Playboy hay khoái cảm vị tha trước sự nhã nhặn của một quí ông đáng mến phía sau lớp áo phong lưu.

So với những hình tượng “bô lão trác táng” nổi tiếng của thế giới, tính cả những nhân vật điện ảnh và văn học, người ta ngỡ ngàng khi không tìm thấy ở Hef khuôn mặt bóng dầu nhớp nháp của Bob Guccione, hay mùi tục tĩu mỉa mai của Larry Flynt. Bù lại, Hefner sở hữu vẻ lịch thiệp nguy hiểm của Robert De Niro, dã tâm và trí tuệ của Anthony Hopkins, và sự dịu dàng hàn lâm của Al Pacino. Nói chung là một loại tội phạm huyền thoại, điều mà người đàn ông nào cũng muốn tiếp cận và người đàn bà nào cũng mong sở hữu.

Biến thái tiên phong và khiêu dâm kiểu bảo thủ

Hefner tỉnh rụi và hòa nhã đến mức không một đại diện báo chí nào bị nhắc nhở về sự khiếm nhã và lố bịch khi cật vấn một vị cao niên về năng lực tình dục của ông ta.

Ông Dân Chơi không có gì để trách cứ, ở cương vị làm chủ cả hai yếu tố truyền thông và tình dục để hợp nhất lại dưới hình hài một tờ tạp chí hàng đầu trong công cuộc tôn vinh ca tụng khoái cảm dục tình. Và ắt nhiên, đó là hệ quả mà Hef vui lòng đón nhận sau gần một thế kỷ xây dựng đế chế quyền lực và hình ảnh cá nhân trên thứ bản năng cơ bản và tối thiết của con người: SEX!

Mặc nhiên với mọi sự đánh giá về vị trí và vai trò của ông trong lịch sử thượng lưu, Hugh Hefner vẫn là một thể thống nhất của hai khía cạnh mâu thuẫn cùng cực nhất: kẻ bệnh hoạn tiên phong, nghiện dục một cách thật thà và lây lan rộng khắp, nhưng lại cũng là người đàn ông kiên định đến khắc nghiệt với truyền thống của bản năng con đực, cùng lúc tự nhận mình là lão già đa tình ủy mị dòng sướt mướt, luôn ngô nghê đau đáu tìm kiếm ái tình chính thống toàn ở những nơi rõ ràng là sai lè lè. Đó vừa là vị tổng lãnh khôn ngoan đầy mưu mẹo của một huyền thoại về quyền năng lá cải, lại cũng chính là vị gia chủ thiệp liệp của lâu đài khoái lạc, tông đồ duy mỹ chánh tông của mọi lạc thú cuộc đời, từ gái non cho đến điện ảnh Hollywood dòng kinh điển.

Ông hoang đàng, trác táng và khinh mạn chà đạp lên thuyết bình đẳng giới một cách hào phóng và khả kính. Cùng lúc, bằng từng cuộc ái ân, hay mỗi chiếc đĩa than cổ lỗ, điếu cigar được thưởng thức đúng điệu, Hefner lại dường như là con chiên sùng đạo và tri ân mọi món quà của Thượng Đế một cách tận lực nhất.

Hefner là một người đàn ông hiếm hoi trở thành một mật mã khó giải đối với nhân loại, và rất có thể, với chính bản thân ông. Suốt hơn một thập niên, Hefner kiên trì theo đuổi việc thực hiện hồi ký và cuối cùng quyết định vứt bỏ tất cả và nhún vai một cách hài hước: “Tốt hơn hết câu chuyện đời tôi chỉ nên được kể ra khi tôi không còn ở quanh đây, bởi rồi sẽ có lắm người cáu với tôi lắm, nếu phải một lần nữa nghe rằng thật ra đến tận tuổi này tôi vẫn yêu đương phấn khởi đều đều.”

Người đàn ông phía sau chiếc mặt nạ tai dài

Khó có một nam nữ minh tinh nào dám mơ đến việc đứng đầu tần suất quan tâm của truyền thông đương đại khi đã sống và nổi tiếng mỏi mòn gần trọn thế kỷ. Ngày 19 tháng Chín, đài NBC tung đòn The Playboy Club – serie truyền hình xoay quanh thánh đường khoái lạc của giới thượng lưu Mỹ, đã tồn tại từ 29 tháng Hai 1960. Ngay lập tức, chương trình lọt hạng 3 với 5 triệu lượt người xem.

Các hội đoàn giáo dục và xã hội lên tiếng, các bậc phụ huynh đầy quan ngại gửi thư cự nự đến tận hai nhà tài trợ Unilever và Chrysler yêu cầu ngưng phát sóng, hay chí ít là chấm dứt việc “hân hạnh tài trợ cho chương trình này”, còn chi sở của NBC ở Utah là KSL-TV thì thẳng thừng từ chối phát sóng. Quý Ngài chỉ nhã nhặn đáp trả “Nói thật nhé, thư quý vị, chiến dịch Chống Tình Dục của quý vị mới chính là thứ phủ nhận quyền năng nữ giới một cách mạnh mẽ và vô tri nhất!” Mặc cho những bà cô mãn thì của các hiệp hội ngoài kia có thương xót và phẫn nộ khi phải chứng kiến các nàng Thỏ bị cư xử theo chế độ đa thê và xem như thú cưng ra sao, thì đằng sau những bức tường hoa mỹ của Playboy Mansion vẫn tồn tại một thực tế: họ xinh đẹp, vô ưu, mỡ màng và no đủ.

Nội dung serie phim truyền hình Playboy Club xoay quanh vị luật sư do Eddi Cibrian thủ diễn và vụ một nàng thỏ lỡ tay giết chết một tay trùm mafia, với Hefner úp mở cho biết rằng kịch bản dựa ít nhiều trên chuyện đời có thật của ông lại càng khiến lượng view tăng rần rật.

Với tinh thần thắng thế lia lịa như vậy, từ một tạp chí khiêu dâm thuần túy, Playboy cùng logo thỏ cột nơ trứ danh lại lần lượt bán license cho các hộp đêm thời thượng trải dài từ Chicago, Lodon, Cancun, Las Vegas, cho đến tận sòng bạc Đông phương Macao. Người ta còn bắt gặp license thương hiệu nóng bỏng này trên tất thảy những gì muốn khoác vào mình sắc màu “sành điệu kiểu Mỹ”, từ kem nhuộm da, hộp quẹt gas, thảm chùi chân, ghế bành, cho đến các loại nước giải khát đáng lẽ ra chỉ là thứ nước đường có gas hiền lành chân chất. Với chỉ một cặp tai dài dựng đứng và chiếc nơ diêm dúa, tất cả đều lập tức được đeo vào một hấp lực sặc mùi nồng nặc hormon giới tính và một vẻ nhâng nháo trai lơ không bao giờ lỗi mốt.

Người ta thậm chí còn cân nhắc đến việc đưa kịch bản Playboy Club lên sân khấu Broadway, điều này đồng nghĩa với việc ngần ấy thịt da sống sượng sẽ được trình bày trong thánh đường kịch thuật hẳn hòi, hơn hẳn Victoria’s Secret Show một tầm với.

Trùm Dân Chơi Hefner vẫn khiêm nhường trước những cuộc bành trướng của quyền lực Thỏ Thắt Nơ: “Tôi chỉ giữ mình lại ở vai trò cố vấn và tham gia một số công việc có liên quan trực tiếp đến tờ tạp chí mà thôi.”
Hàng tháng, ông vẫn là người đích thân quyết định shot ảnh bìa, chọn Bạn Tình Của Tháng, quyết định về hình ảnh, biên tập một số chuyên mục định kỳ và duyệt các trang layout.

Chỉ vậy mà thôi, xuyên qua hai thế kỷ.

Ông già Hef tội nghiệp!

Vương triều (hay ít nhất 73% của nó) trên vai và một hậu cung bận rộn trên đùi, Hefner cho rằng mình đang ở vào thời kỳ sung mãn nhất trong đời “Liệu tôi có thể tưởng tượng bản thân mình ở bất kì nơi đâu, bất kì hoàn cảnh nào trong đời tốt hơn như thế này? Hồi nhỏ, ngay cả trong những hoài bão điên khùng nhất, tôi cũng chưa hề tưởng tượng được điều gì ngọt lịm đến thế này.”

Mọi thứ có thật sự ngọt lịm hoàn hảo đến vậy không? Câu hỏi đó vang lên trong đầu bất cứ người đàn ông nào khi nhìn vào những tấm ảnh ông lão Hefner lặn ngụp giữa bể đường cong nóng hổi. Hay phải chăng ông già Hef tội nghiệp cũng chỉ đang gân cổ huýt sáo yêu đời và thầm kín nuốt ngược vào lòng vài cục đắng cay?

Trong tòa biệt đài 21,000 feet vuông, với những bãi cỏ xanh mướt được tỉa tót công phu, những món nội thất xa xỉ đế vương đúng gout một nhà quý tộc Ăng-lê bảo thủ, là căn phòng ngủ khổng lồ ốp gỗ, một lối cầu thang xoắn ốc dẫn lên một thư phòng bừa bộn. Để nhìn vào đời sâu thẳm đời sống riêng tư của một người đàn ông, không gì trung thực hơn nơi phòng ngủ. Trong trường hợp của Hef, đó là một chân dung Hugh Hefner không đánh bóng mỹ miều bởi những hào quang và truyền thuyết. Và đó là đây – tâm bão khoái lạc, vùng riêng tư của Lãnh Chúa Ái Tình, là một đống bừa bộn hàng trăm con gấu bông, lò sưởi chạm phù điêu đầu Frankenstein dị hợm và một khẩu súng đồ chơi ưa thích hồi nhỏ của ông được phục chế, đóng khung treo trang trọng trên tường. Tứ bề là những kỷ vật nửa quái gở, nửa buồn cười, những mảnh cuộc đời của huyền thoại Mr.Playboy, được vứt bừa bãi khắp nơi, ở giữa là một ông già gần trăm tuổi, nhỏ thó, và vẫn vẹn nguyên là cậu bé được nuông chiều giữa đống đồ chơi của mình, ngô nghê thốt lên một cách thành tâm nhất “Tôi có thật nhiều bạn tình để tìm thấy một bạn lòng đích thực!”

Những mảnh ghép vương vãi khắp nơi ấy nhắc về một tuổi thơ phi-sóng-gió, không có phụ huynh li dị hay lạm dụng tình dục trẻ em, đó còn là những bài báo, những tấm ảnh các đời Bạn Tình nhà Playboy qua bao thế hệ được ưu ái cất giữ như những mảnh lá cải có giá trị tinh thần, và dấu vết của cả những giai nhân hảo hớn đã từng là thượng khách của vương quốc khoái lạc Playboy.

Những năm 1970 trôi qua hoang tàn với những cuộc viếng thăm thường xuyên của Warren Beatty, Jack Nicholson và James Caan, những cuộc làm tình tập thể thường nhật, da thịt, hơi nóng và trạng thái mụ mị trở nên thường xuyên đến thừa thãi, nhưng cũng không bao giờ là đủ.

Mỗi tuần, ông chủ lâu đài Playboy vẫn nhận được thư từ khắp nơi trên thế giới, không phải những lá thư tình, mà những bộ hồ sơ thực thụ, kèm hình ảnh, của những cô gái trẻ muốn đăng ký làm nhân tình của Ông Playboy. Hugh Hefner không hoàn toàn u mê lờ đi việc “nghi ngờ” rằng điều mà họ nhắm đến có chút liên quan đến hào quang quyền lực và cuộc sống vương giả nhàn hạ tại lâu đài Playboy: “Đương nhiên, nhưng cuối cùng thì người ta ngoài kia thật sự bị quyến rũ bởi điều gì?”

Hefner đọc qua từng hồ sơ được gửi hàng tuần, xem xét các bức ảnh và nếu thích, ông sẽ hồi đáp và mời họ đến chơi vài hôm. Như một phiên bản thu nhỏ của America’s Next Top Model, những cô gái giành được lòng sủng ái của ngài Hef sẽ được mời chính thức dọn đến đây sống.

Ngụp lặn trong hàng tấn da thịt đàn bà, Hef nhìn quanh và nhận ra ông hầu như không còn một người bạn đồng niên nào. Như gã Từ Thức tốt số vẫn tắm suối với tiên chợt nhận ra đã gần một thế kỷ trôi qua “Sống lâu đến thế này, đương nhiên, người ta phải mất mát nhiều lắm. Hơn nửa thế kỷ qua, tôi là chứng nhân có thể duy nhất còn lại lần lượt chứng kiến sự ra đi của những người đàn ông kiệt xuất nhất, những bạn bè đồng niên thân thiết nhất trong đời…”

Đó đã là lời nói buồn hiếm hoi của Hef với báo chí. Người ta bảo ông tránh được cái chết và sự già lão một phần bởi việc ngoảnh mặt quay lưng với thứ thực tế đáng buồn và hiển nhiên ấy của quy luật sinh-lão-bệnh-tử. “Không, sự sống sau cái chết đối với tôi hiển nhiên là điều bất khả tri. Tôi chỉ biết một thực tế là bà thân mẫu của tôi thọ tới 101 tuổi, và tôi thì không muốn phí thời gian vào việc lo lắng cho chuyện còn xa mới đến”

Thậm chí Hef hoàn toàn không có một sự chuẩn bị nào về người thừa kế đế chế Thỏ Cột Nơ. Cả hai người con trai còn quá trẻ tuổi và không có tí kinh nghiệm đáng kể gì về truyền thông lẫn tình dục, trong khi người ái nữ Christie đã từng có thời thay cha cầm vương trượng lại không hề tỏ ra thú vị với lãnh vực này và đã rời ghế CEO từ 2009, sau 27 năm kế vị.

Dân chơi lão thành và suối nguồn tươi trẻ

Bên cạnh những vụ lật đổ uy tín ái ân của Hugh Hefner, một điều khác mà không ít người khao khát rằng tuổi tác sẽ mang lại cho ông chính là… cái chết. 86 tuổi, được số phần ưu ái và đương nhiên là một playboy vô độ hạng tiên phong, Hefner dường như là một ca nằm ngoài luật bù trừ của Tạo Hóa. Hefner phạm luật, và như thế, ông ta cần bất hạnh trong tâm hồn, kém cỏi về sinh lý hoặc hấp hối, hoặc cả ba, và như thế thì những quý ông còn lại trên đời mới có thể tin vào sự công bằng của Thượng Đế.

Do đó, phát triển nhanh như nấm, dịch bệnh và các tin đồn, trung bình cứ khoảng 1 đến 2 năm một lần, người ta lại xôn xao tin Hefner sắp, hoặc thậm chí đã chết.

Lần cuối cùng là vào tháng Bảy năm ngoái, bắt đầu vào một ngày thứ Hai với những lời tường thuật cụ thể về cái chết thê thảm của Phú Hộ Ái Tình Hugh Hefner. Cụ Hef tức tốc lật đật xuất hiện trên Twitter trấn an các followers: “Những tin đồn về cái chết của tôi, như Mark Twain từng nói trong trường hợp tương tự, là một sự cường điệu sống sượng. Tôi đang nằm cạnh Shera (bé cưng mới của nhà Playboy), chính thức còn cục cựa và sống nhăn.”

Mới đây, ngoài 28 quốc gia phủ sóng phát hành, Playboy lại chính thức xuất hiện phiên bản Nam Phi, Moldova và Mongollia. Internet và đại dịch đồng tính nam đã khiến chú thỏ đeo nơ của Hef trở thành lão già cổ lỗ đối với một thị phần Mỹ đáng kể, nhưng ngoài kia, vẫn còn đó những quý ông thẳng tưng và khỏe mạnh.

Và với lời tuyên bố đó, giữa thế giới đại đồng phi giới tính, Hugh Hefner trở thành một bô lão đáng kính của làng dân chơi thủ cựu bài tân, đại diện của trường phái tình dục cải lương chuyên chính.

Nhiều người cho rằng sự thủ cựu kiên trinh ấy chính là nguyên nhân khiến ngài Hef, dù thời gian qua đi, nhưng độ tuổi của những người tình của Hef không hề thay đổi. Chỉ là những cô gái được thay mới để vẫn luôn là những cô nàng tóc vàng hoe, ngớ ngẩn, với độ tuổi dưới đôi mươi và vòng ngực sánh bằng tuổi tác của tình quân. Việc này không là ngoại lệ, như thể những chiếc áo choàng màu đỏ tía hoặc pajamas bằng satin đen thẫm, những bộ phim thời hoàng kim đen trắng, nghe chanson và các dàn big band thời 1930 – thú vui mà ông tìm được sự đồng cảm vô điều kiện từ chú chó cưng hơn là từ những nàng tình nhân trẻ tuổi.

Ông lão chăn thỏ may mắn đã tìm ra bí kíp của suối nguồn tươi trẻ, nằm thâm sâu bên trong thói tật thường tình: “trong quan hệ nhận-cho với một cô gái trẻ, nhất là những nàng tóc vàng hoe vô tư lự, tôi học rất nhiều. Tôi tái khám phá thế giới một lần nữa qua góc nhìn ngô nghê nhẹ tênh của họ, thấy vui thú và thanh tân lại từ đầu. Những cô nhỏ dễ thương ấy, họ là những thiên thần lẳng lơ, vui nhộn, và đáng chiều chuộng là vì vậy!”

Kha khá thập niên đã đi qua và Hefner trở thành một cụ già lẫm liệt, và những cô bồ vẫn ở tuổi đôi mươi. Nhưng họ, những tình nhân mãi mãi tuổi 20 ấy, 55 năm về sau có thật sự vẫn không khác gì thế hệ thỏ tiền phong: “Họ vẫn vậy, tức là không ai như ai, luôn luôn là vậy. Các Bunny sẽ luôn là những dấu ấn riêng biệt, từng người một và tất cả. Ngày nay, họ to cao mạnh khỏe hơn, chăm tập thể thao, sành sỏi cách tự chăm sóc bản thân, nhu cầu về dung tích silicone có vẻ cũng cao hơn, nhưng nhìn chung thì đó chỉ là những thay đổi của trào lưu thời cuộc. Về bản ngã, Pamela Anderson hay Marilyn Monroe quả tình không có quá nhiều khác biệt. Rất có thể bởi “khẩu vị” của đàn ông Mỹ, và cả thế giới nói chung, cũng không phát triển hay đổi thay chi lắm.”

Chính trị, lối sống và thời trang thì vẫn xoay vần đấy, nhưng đi vào cái cốt lõi của thẩm mỹ hưởng thụ, khi chúng ta tự do và trung thực hoàn toàn, thì cũng vẫn vậy thôi, ngày nào người ta còn khoan khoái khi cắm ngập răng vào quả táo hườm hườm mọng nước: “Những quả táo, được yêu thích bởi tất cả những lí do xưa cũ, chúng không nhất thiết phải quá khác biệt, tiến bộ và giàu cá tính. Bạn nghĩ thế nào, khi cắn phải một quả táo đầy thái độ? Hay một quả táo thông minh?”

Đối thoại với Mr.Playboy

Sau hơn nửa thế kỷ yêu đương, bài học lớn lao nào mà ông rút ra được cho lỗi lầm thường mắc phải nhất của đàn ông là gì?

– Không lắng nghe. Chúng tôi luôn tưởng rằng những gì mình đem lại cho họ đã là đủ: sự chiều chuộng, bảo bọc chở che và bất cứ món thứ phù phiếm nào làm họ thích thú, và vào cuối ngày, họ vẫn không hạnh phúc. Người đàn ông sẽ không bao giờ có thể tự nhận rằng mình đủ quan tâm đến người đàn bà của mình, hoặc những người đàn bà của mình.

Ông có hối tiếc gì, sau một cuộc đời lẫy lừng tiếng tăm như vậy?

– Tôi nghĩ quyết định cưới vợ của tôi đã là sai lầm đầu tiên, nhưng nếu không như vậy, tôi đã chẳng có những đứa trẻ. Nhưng mà ân hận tiếc nuối gì, khi thực tế cuối cùng, tôi vẫn đang thụ hưởng một số phận mà bao người khác sẵn sàng làm tất cả để có được. Vậy nên tôi biết ơn phần số, đôi khi tất cả cái gọi là Vận Mệnh chỉ nằm trong một cú tung con xúc xắc. Bởi quá ý thức ân phúc của mình nên tôi không thật sự muốn hối tiếc hay làm lại điều gì. Tất cả đều đã diễn ra trong quá khứ để tôi có được điều tốt nhất – Hiện Tại!

Vậy nghĩ theo một cách khác, nếu không là sự nuối tiếc cho chính mình, thì lời khuyên của ông với các cậu nhà về hôn nhân sẽ là gì?

– Tôi sẽ bảo chúng rằng đấy là cách tốt nhất để có những đứa trẻ và nuôi dạy chúng khôn lớn. Tôi cũng sẽ bảo chúng rằng nếu gặp được một người xứng đáng để chia sẻ suốt phần đời còn lại, thì đám cưới là một ý hay. Nhưng ngày nay, người ta sống lâu hơn nên những lí tưởng lãng mạn sẽ cần có nhiều cơ sở hơn để tồn tại ngần ấy năm dài.

Than ôi, chẳng lẽ trong 100 năm nữa, khái niệm thủy chung sẽ tuyệt chủng?

– Không, nó sẽ chỉ trở thành một trong những lựa chọn. Mà hình như ngay bây giờ thời thế đã là như vậy rồi.

Đối với Mr.Playboy, liệu còn có món lạ nào, mánh khóe ái tình nào mà ông chưa biết tới?

– Tôi nghĩ vậy. Xưa nay tôi vốn cầu thị và tò mò mà.

Ông có nghĩ đến cái chết?

– Có chứ, nhưng thường là không quá lâu.

Ông nghĩ sao nếu người ta bảo rằng đúng ra ông nên hành xử đúng cương vị một cụ già cao tuổi đáng kính hơn là tiếp tục chơi búp-bê và chăn thỏ?

– Bộ mấy người đó mới nghe tên tôi hay sao? Từ đầu tôi đã quen với việc bước qua những hạn chế của chủng tộc, giới tính, đẳng tầng hay tuổi tác rồi. Mặc nhiên với con số đại diện cho số lượng năm tồn tại của bạn, nếu như bạn còn khỏe mạnh thì tại sao lại phải cân nhắc? Dục tình không phải là cách tụng ca và tận hưởng đặc ân cuộc sống đó sao? Hơn ai hết, những bậc cao niên nên hiểu rõ điều này.

Ông có những khoảng lặng trong lịch trình hội hè miên man của mình?

– Ngoài những gì người ta thường tưởng tượng và đồn đại, thì cuối cùng tô vẫn là một nhà báo và biên tập. Đương nhiên, tôi luôn bố trí cho mình những khoảng lặng của cuộc sống, khi tôi ở một mình để viết lách và làm việc.

Vào những đêm không phải ghi hình cho các TV series, hay những bữa dạ tiệc trên giường, tôi vẫn tuân thủ một lịch sinh hoạt khoa học và chặt chẽ, lặp lại mỗi đêm trong tuần. Tối thứ tư chơi bài với em trai và bạn bè, thứ Sáu thứ Bảy là đêm của các tác phẩm điện ảnh kinh điển, còn các tối Chủ Nhật để dành xem những phim mới.

Hơn nửa thế kỷ của ái tình miên man và hàng trăm bạn tình, người tình và cuộc tình, cuối cùng thì điều mà Mr.Playboy vẫn không thể hiểu được về đàn bà là gì?

– Điều mà quý bà quý cô nào cũng thường nói mà đàn ông vạn đời vẫn không bao giờ hiểu đúng được, đó là “khiếu hài hước”. Có vẻ điều đó quan trọng với nữ giới lắm, bạn thấy đấy, 90% đàn bà đặt đó vào những tiêu chuẩn đầu tiên để chọn người tình. Và một điều khác không được họ thường xuyên nói ra, ít ra là trong buổi hẹn đầu, nhưng cực kì cực kì quan trọng, đó là “sạch sẽ”. Đáng tiếc, dù việc giữ vệ sinh cá nhân và phân biệt được những màn pha trò tục tĩu hoặc nhạt thếch hoàn toàn không phải là khoa học phân tử, nhưng có vẻ bao thế hệ đàn ông vẫn đang tiếp tục đi từ sai đến sai bét. Cuối cùng, và trên hết, đó là sự quan tâm, thật sự Quan Tâm đến người đàn bà.

Vó Chinh-phạt Kỵ-sĩ Prorsum

Hoa Nhài Đen

Thông thường, trong danh sách nhận diện cơ bản mà một fashionista vỡ lòng phải biết, đó là dấu hiệu của họa tiết kẻ sọc màu đỏ và đen trên nền crème ngả vàng. Ngày nay, kỹ năng nhận biết ấy không chỉ thuộc về các tín đồ thời trang, mà sự phổ biến đã lan rộng đến cả những quí ông vốn thờ ơ với sự phù phiếm của thời trang, bởi sự xuất hiện bền bỉ của họa tiết ấy ở khắp nơi, như một dấu hiệu của quyền lực, đẳng cấp và một sự xa hoa đầy tính thực dụng thuần chất quí phái Ăng-lê – người ta biết đó là Burberry.

Không cần phải là một tín đồ thời trang để biết đến Madonna, Kate Moss, hay David Beckham. Nhưng một tín đồ am hiểu sẽ biết thấu đáo rằng tên tuổi của các nhân vật ưu tú và lộng lẫy này nằm trong danh sách thân chủ của nhà Burberry.

Đối với nhiều người, sự xuất hiện của dấu ấn kẻ sọc trên “bộ da thứ 2” của một người được coi là dấu hiệu nhận biết của vị trí xã hội, cá tính thẩm mỹ và đẳng cấp hưởng thụ thuộc hàng thượng lưu.

Ngôi sao nhi đồng Emma Watson xuất hiện ở mọi nơi, với tóc pixie, mặt mộc, mình khoác trench coat Burberry đã khiến các thiết kế của Burberry không còn bị coi là những “thẩm mỹ di sản” của một nhà thời trang Ăng-lê bảo thủ.

Burberry còn tung ra bên lề những dòng nước hoa, giày và cả bikini với một phong cách kinh điển bất biến, bên cạnh dòng áo khoác và túi xách đã làm nên danh tiếng.

Hơn lúc nào hết, vẫn chỉ với những họa tiết sọc, nhà Burberry đang trở nên sành điệu và tân kì hơn trên thị trường thời trang, đặc biệt vào mùa Thu-Đông, khi mà mặc nhiên với vòng xoay của mốt, những kiểu trench coat vẫn nguyên vẹn một sức quyến rũ thời thượng như mới. Và một khi một fashion diva nghĩ đến trench coat, đương nhiên, họ nghĩ đến Burberry.

Dã ngoại Hampshire, chinh phục Nam Cực, và bi kịch Everest

Câu chuyện bắt đầu năm 1856, từ tiệm vải của ông chủ mới 21 tuổi – Thomas Burberry ở Hampshire. Cho đến năm 1870, mặt hàng kinh doanh chủ yếu của Burberry vẫn là những món vật dụng và trang phục đi đường, dã ngoại.

Burberry sẽ vẫn chỉ là một cửa hiệu hiền lành phục vụ nhu cầu thiết thực của con dân Ăng-lê trong vùng khí hậu quanh năm sương mù và ẩm ướt, nếu vào 1880, Thomas Burberry đã không phát minh ra loại vải gabardine dầy dặn với 2 tính năng cải tiến là chống thấm nhưng vẫn thoáng khí, nhờ phương pháp xử lí chống thấm nước cho từng sợi vải trước khi đưa vào dệt.

Phát minh này đã cho phép ông mở cửa tiệm thứ hai hoành tráng ngay tại London, nơi Burberry vinh dự nhận được đơn đặt hàng quan trọng đầu tiên của lịch sử nhãn hàng, với số lượng vải được đặt may cho quân phục sĩ quan Anh. Đệ Nhất Thế Chiến diễn ra, cùng với hình ảnh những người hùng Ăng-lê là hình ảnh quen thuộc của những kiểu trench coat quân phục được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi, không chỉ bởi ưu thế chức năng của loại vải gabardine nhà Burberry, mà còn bởi hình ảnh thuần chất Ăng-lê vừa thực dụng, vừa kiểu cách.

Logo hình kỵ sĩ được thiết kế năm 1901 với hàng chữ tiếng Latin Prorsum (Tiên phong) và được đăng kí nhãn hiệu. Một năm sau, bộ trang phục mang hình kỵ mã đã cùng Roald Amundsen lần đầu trong lịch sử nhân loại chinh phục Nam cực, và Ernest Shackleton cùng đoàn thám hiểm băng qua Nam Cực năm 1914. Từ đó, với danh hiệu “áo giáp của những nhà mạo hiểm”, bước chinh phạt của Kỵ sĩ Tiên phong không chỉ ghi dấu vẻ vang, mà cũng đã cùng nếm mùi chiến bại. Năm 1924, George Mallory, cũng như mọi nhà thám hiểm vĩ đại, chọn Burberry cho trang phục của mình khi thử sức trong cuộc chinh phục bi thảm cuối cùng trên triền băng tuyết của đỉnh cao Everest. Bộ trang phục Burberry đã cùng Mallory mất tích suốt 75 năm cho đến khi được tìm thấy năm 1999. Người ta đã không thể xác định đó là George Mallory, nếu không bởi chiếc áo còn nguyên vẹn, và thẻ tên thêu trên ngực với dòng chữ “G.Mallory”.

Cú kích PR lên đỉnh điểm khi trench coat nhà Burberry xuất hiện cùng người hùng cine Humphrey Bogart lãnh đạm nhưng nghĩa hiệp khôn lường trong siêu phẩm Casablanca, cho đến giai nhân hương sắc Audrey Hepburn trong bộ phim kinh điển của fashionista nhiều thế hệ là Breakfast at Tiffany’s, và cả Peter Sellers cũng khoác trench coat nhà Burberry trong bộ phim đặc sệt chất tình báo Anh điệu nghệ Pink Panther.

tài tử Humphrey Bogart trong Casablanca

Audrey Hepburn

Từ đó, vượt ra khỏi khuôn khổ hình ảnh người hùng quân phục, những chiếc áo khoác nhà Burberry chính thức trở thành một tiệm thời trang với đối tượng từ các tiểu thư, phu nhân sành điệu, cho đến các bậc quân tử hào hoa của phong vị châu Âu lãng mạn. Nhưng chỉ cho đến đầu những năm 1920, Burberry mới chính thức hình thành thương hiệu, và mất thêm 4 thập niên nữa để họa tiết kẻ sọc trở thành một dấu hiệu nhận diện trong giới thời trang, khi này chỉ áp dụng cho túi du lịch, khăn quàng và những chiếc ô – ba món vật cũng đậm chất kinh điển Ăng-lê.

Cũng với hình ảnh thuần chủng ấy, Burberry dễ dàng được chào đón rầm rộ tại Hoa Kỳ và châu Á bởi nét bản sắc đặc trưng.

Thập niên 1960, ngoài pop culture, váy ngắn, tóc pageboy và mắt khói, đã sản sinh cho lịch sử thời trang một cuộc bành trướng nghiễm nhiên của phong vị thẩm mỹ thuần Âu mới.

Từ hỏa tuyến Đại Chiến đến sàn diễn thoát y

Những tên tuổi huyền thoại đa lãnh vực ghi dấu vẻ vang trên lịch sử thương hiệu nhà Burberry đã gắn lên logo kỵ sĩ những tấm mề đay cao quý, khiến hình ảnh thương hiệu không chỉ mang vẻ thanh lịch xa xỉ, mà cả một lòng kiêu hãnh vương tôn thuần chủng.

Nhưng vượt trên tất cả, là hai vết son sáng tạo với vải gabardine thoáng hơi và trench coat. Khái niệm trench coat vốn ngay lập tức khiến người ta liên tưởng đến những bộ quân phục sần sùi, bùn, bụi, những vách đá gồ ghề,… Một hình ảnh mang tính “quân sự”, và sâu xa hơn, hình ảnh của những kẻ mạnh. Và như vậy, nhà Burberry ngay từ đầu đã có cho mình một hạt giống tốt.

Vào thời đó, trench coat được coi là sự thay thế hoàn hảo cho những chiếc áo khoác nhà binh bằng serge nặng nề của quân đội Anh và Pháp thời Đệ nhất thế chiến. Những chiếc trench coat quân đội đầu tiên luôn có cầu vai, và các khóa móc D-ring dùng để treo lựu đạn, túi đựng bản đồ hay những loại dao lê nhỏ. Như vậy, những kiểu trench coat đầu tiên đã được thiết kế hoàn toàn như một trang phục chức năng, và cái tên ‘trench coat’ cũng ra đời từ đó, xuất phát từ nghĩa “chiến hào” của từ “trench”.

Như những chiếc mũ cối của thời chiến tranh đã trở thành món phụ trang dân dụng phổ biến của Hà thành thời hậu chiến, những người hùng trở về từ mặt trận trong những chiếc trench coat, đặc biệt khi mà ngành công nghệ dệt may đã kiệt quệ hoàn toàn sau thời kì đầu tư tổng lực cho mặt trận, trở thành một thứ áo khoác phổ biến cho cư dân thành thị Âu châu, cả nam lẫn nữ, đặc biệt trong thời tiết lạnh và ẩm ướt quanh năm của nước Anh.

Trench coat vào thời kì này được thiết kế với 10 nút áo, vạt trước đắp chéo thường có các màu nâu khaki nhạt, xám beige hoặc đen, vai áo raglan với cầu vai và dây cài ống tay (cuff strap).

Khi những móc khóa D-ring không còn dùng để treo lựu đạn, trench coat trở lại đúng chức năng với xuất xứ của nó – hoàn hảo trong việc chắn gió, giữ ấm cơ thể, chống thấm sương và mưa.

Câu chuyện về những huyền thoại quân đội đã cài cắm vào cái tên Burberry và những chiếc trench coat đầu tiên không chỉ như một trào lưu kiểu dáng mới, mà một giá trị văn hóa và lịch sự thực thụ. Burberry và trench coat mặc nhiên đại diện cho những hình ảnh đầy tính phiêu lưu, các siêu anh hùng phản gián, những tính cách được che phủ qua lớp vạt chéo lãnh đạm, những thân hình bốc lửa được che kín, chỉ lộ vòng eo thắt đáy qua chiếc nịt thít chặt, vạt dưới đủ xô lệch theo bước chân để lộ những cặp chân thon thả tuyệt trần. Sau thời kì hoành hành màn bạc cine, trench coat mặc nhiên được coi là một trong những trang phục gợi cảm nhất của nữ giới và trở thành phục trang ưa chuộng của các vũ nữ thoát y khi mở màn vì nét gợi tình và chức năng…dễ cởi.

Mọi sự thật trần trụi được khéo léo che phủ, những uốn lượn kì thú được vẽ vời thống thiết hoàn toàn bởi sự hiếu kì và óc tưởng tượng. Hình ảnh một quí bà khoác lên chiếc trench coat, với dây lưng siết chặt quanh eo, luôn khiến người ta ý thức rõ rệt rằng bên dưới những lớp vải dầy luôn là những thân hình lõa thể.

Nét hấp dẫn giới tính của trench coat đều mang hiệu ứng ma mị đối với cả hai giới. Trong thời kì Đệ Nhị Thế Chiến, các diva thành thị đua nhau đắm chìm trong những cuộc tình chóng vánh sặc mùi tiểu thuyết lãng mạn. Họ rỉ tai nhau và khai thác trench coat theo một công năng đắc dụng mà Thomas Burberry đã không thể nào ngờ tới. Chiếc thắt lưng siết chặt giữ 2 vạt áo trước khiến quí bà thậm chí không phải bận tâm cài nút áo. Trench coat trở thành “đồng phục đi hoang” của lối sống thành thị thời chiến. Họ tìm đến với tình nhân, lõa thể hoàn toàn bên trong chiếc trench coat.

Ngược lại, hình ảnh nam nhân trong trench coat, sau những người hùng chiến trận, là một hơi hướm phản gián đào hoa tràn ngập màn ảnh cine. Từ gã Dick Tracy bảnh bao đến chàng Rick Blaine của huyền thoại tình yêu Casablanca, thậm chí đến mãi về sau này còn ghi dấu vẻ đẹp lạnh lẽo vị lai của những nam thần máu lạnh trong Matrix.

Trench coat, từ một câu chuyện người hùng chiến trận, đã vượt lên trên tầm thời trang xống áo mà hình thành cả một diện mạo lối sống qua nhiều thế hệ. Người ta có thể gán ghép sự liên tưởng những tính cách mạnh màu nhất tới cá tính nhân vật phía sau lớp trench coat, từ những quí ông “ngầu đời”, tới những quí cô phóng túng. Từ đẳng cấp và đài các đến ý nhị và hào hoa.

Chiến dịch mang tên “Hoa Hồng”

Logo mang hình kỵ sĩ đã cứ thế thẳng tiến chinh phạt suốt một thời gian dài, cho đến khi, người ta chợt nhận ra nét kinh điển đã nhuốm màu bảo thủ.

Những năm 1990, vó ngựa tiên phong nhà Burberry đã trở nên lạc nhịp vòng xoay trôn ốc của trào lưu, và giới phê bình thời trang bắt đầu tỏ ý lo ngại cho tinh thần Prorsum tiên tiến, một khi Burberry, kể từ Casablanca, vẫn chỉ là những ô vuông đỏ và đen.

Đại cuộc hồi sinh của Kỵ sĩ Bất bại được quyết định giao vào tay Rose Marie Bravo năm 1997. Bản thân quyết định táo bạo này cho thấy sự quyết tâm của nhà Burberry khi lần đầu pha máu đế vương bằng việc mời một nữ tổng quản người Mỹ.

Và đó đã là một nước cờ hoàn hảo.

Rose Marie Bravo mang về cho Burberry những thiết kế tân tiến thật sự mang hơi thở trào lưu, những sản phẩm ngắm trúng hồng tâm thị trường toàn cầu, và những chiến dịch quảng cáo hào nhoáng với gương mặt non choẹt của siêu mẫu Kate Moss làm tâm điểm.

Một cuộc cải lão hoàn đồng thật sự. Bản thân Burberry, từ một tên tuổi thủ cựu sắp được tôn vào hàng di sản bỗng nghiễm nhiên trở thành thương hiệu có niên lợi thuộc hàng phú vượng nhất làng thời trang, thậm chí ngay trong thời điểm kinh tế bị tổn thương trầm tr