MÙI THỊ DÂN

Tình cờ trong một bài nghiên cứu về những dòng nước hoa phong vị Đông Phương đã ngưng sản xuất, tôi bắt buộc phải săn lùng những mẫu vật đã hoàn toàn tuyệt tích khỏi thị trường. Duyên kỳ ngộ đến với tôi từ tay một phụ nữ trung niên, gửi gắm món kỷ vật trong ve nước hoa bằng thứ thủy tinh đã trở nên đục mờ, bên trong chỉ còn chứa không quá 10ml đáy cặn. Sắc hổ phách huyền thoại của thứ dung dịch xa xỉ đã chuyển sang thứ nước màu thắng quá lửa với mùi hương khét ngằn ngặt như những bông hồng chết trên giàn hỏa thiêu. 40 năm về trước, chị là cô con gái gia đình “tiếp quản” một ngôi nhà mà gia chủ đã ra hải ngoại. Trong tất thảy những cuốn album gia đình cùng tư trang để lại, cô gái nhỏ đã lén giữ lại chiếc lọ cầu kỳ như một kỷ vật của một thứ tàn dư diễm lệ mà cô hụt tay sờ chạm. 40 năm, chưa một lần chị dám phí phạm dù chỉ một làn bụi hương sót lại nơi đáy chai. Tôi hứa với chị sẽ hoàn trả mẫu vật sau khi trích lục để phân tích một phần hương bên trong.

Cái cảm giác ấn chạm vào đầu chiếc ve nhỏ, phóng thích một tia bụi nước đó trở nên thiêng liêng kỳ lạ, vượt xa chuyện sửa soạn xức thoa thường tình. Như thứ thanh âm cũ mòn thốt bật từ lòng đĩa vinyl cổ đại còn đính chiếc tem giá, những thước phim nhị sắc run rẩy trên phông bạc sau hàng thập niên trong phòng lưu trữ, tôi nhận ra mình vừa phóng thích khỏi chiếc lọ cũ kỹ cả một nền văn minh thời cuộc, hiển hiện ngay trên cườm tay, với đầy đủ biến cố cầu kì của một tuyệt tác mỹ phẩm, biến dạng nặng nề bởi ngần ấy thập niên đợi chờ được phóng thích.

Vị thần tai ác chui ra khỏi chiếc ve được thiết kế cầu kỳ, và trước khi tôi kịp chọn cho mình một điều ước, tôi bị quăng không thương tiếc lên chuyến tàu ngược thời gian và nhắm mắt lại để thấy mình, không phải ở thị trấn Provence với bạt ngàn đồng hoa lanvande tím, hay kinh thành Ba Lê thánh địa của kỹ nghệ bào chế nước hoa, mà giữa vẹn nguyên thập thành đô thị Sài Gòn gần ba mươi năm về trước: mùi Sài Gòn!

Hương phấn sáp khỏa lấp kỷ điêu tàn

Tại sao những dòng mỹ phẩm đặc trưng được sản xuất vào những năm 20 của Kỷ Ngây Thơ (Age of Innocence) và thập niên 70 diêm dúa luôn khơi dậy trong tôi chỉ cùng một tiềm thức?

Sài Gòn có mùi gì?

Tôi không tin người ta có thể ngay lập tức trả lời câu hỏi này. Bởi Sài Gòn là một đô thị…nặng mùi. Một tạp âm hổ lốn, đa tầng được cảm nhận bởi khứu giác đã mỏi mòn từ quá lâu đủ để chậm chạp bóc tách từng lớp, từng nốt trầm tích mùi hương ấy ra mà phân tích một thứ “hương Sài Gòn” chuẩn xác.

40 năm sống trong lòng Sài Gòn, tôi dõi theo kí ức của chính mình, nhắm mắt lại, hít thở và để mặc những note mùi hương làm công việc của nhà điêu khắc, tạc vóc chân dung Sài Gòn. 40 năm của một hành trình thoái hương đầy biến cố, cho đến khi bất cứ dòng nước hoa xưa cũ nào với trường phái đặc thù của mỹ cảm 1920 và 1970 cũng có thể lập tức phục dựng sinh động một kỳ đoạn nối dài từ giữa những năm 1970 đến cuối thập niên 80 của Sài Gòn, trở mình giữa lệ và hoa.

Đó chính là khoảng thời gian chuyển tiêp giữa nếp sùng bái thẩm mỹ Francophile còn lại của lớp thị dân elite, cùng những tinh hoa Bắc và Trung kỳ hội tụ về đây giữa những năm 50, pha trộn với trào lưu tân kỳ của những dòng hương “drugstore” Hoa Kỳ đầy tinh thần thực dụng và tag giá dân chủ hơn rất nhiều. Thập niên 20 và 70 tiền-disco gặp nhau trong vẻ hào nhoáng cảnh vẻ: những cô đào trang điểm quá tay, những tiến bộ vị lai của khoa học và những nỗi sầu chính trị hợp thời. Chypre và aldehydes, xạ hương đầy nhục cảm và thứ mùi phấn sáp trang kim của trường phái powdery.

Một chuyên viên tâm lý có thể dễ dàng lý giải điều này bởi sự can thiệp của vốn liếng tiềm thức hạn hẹp bó tròn trong đời sống thị dân, bởi những khái niệm đầu đời về thế giới mùi hương đã gắn liền với mọi kí ức của Sài Gòn giữa thập niên 80, bởi những chuyến du hành thần thánh từ những quầy lộng kiếng nhà lồng Bến Thành, đâm xuyên lối chợ trời Tạ Thu Thâu nực nồng xa xỉ phẩm, bước ra lối vào thương xá Tam Đa cũ chỉ còn là những ngách nhỏ sáng lòa giữa ban ngày bởi vải vóc, trang sức và “đồ Mỹ” được bán tống tháo lại từ những gia đình tư sản trước cuộc lưu vong quáng quíu, hay từ những chuyến hàng hải ngoại cứu rỗi nếp tàn dư còn cầm cự lại của thị dân đất ngọc Viễn Đông.

Sài Gòn đã bắt đầu trong tiềm thức khứu giác của tôi như vậy, như những vệt mùi đài các sa cơ, trưng trổ những nếp vàng son phồn thịnh giả cách, xoa dịu và khỏa lấp những phân hủy điêu tàn.

mùi thị dân

Xá-xị, hồng tiêu, hắc quế và nhang trầm Chợ Lớn

Sài Gòn, những năm giữa thập niên 80, người ta ồ ạt săn đuổi những dòng hương có những cái tên phù phiếm độc địa như Poison (độc dược), Mon Pèche (tội đồ) hay Tabu (điều cấm kỵ). Cùng lúc, trào lưu Oriental do Shalimar nhà Guerlain khởi xướng từ đầu thập niên 30 cũng phả làn hơi “hương xa” nồng nàn lên các dòng hương được ưa chuộng bởi sự gần gũi về tiềm thức văn hóa. Các dòng cologne thân thiện Bien Etre trở nên lỗi thời vì âm hưởng Francophile, không ít những chai lọ của thời này còn tìm thấy trong các hiệu bán đồ cổ ngoạn, bên cạnh những xấp dĩa vinyl và những mề đay mỹ kí hoen rỉ của một gia đình tư sản cũ nào đó, ghi dấu gu thẩm mỹ thời cuộc tuốt từ những năm 50 đầu 60.

Oriental, hay còn gọi là trường phái hương Đông-Phương với mùi xạ hương cùng những thứ gia vị nóng như quế, hồi đầy nhục cảm, đã làm nên cả một không khí của giáo đồ thụ hưởng Sài Gòn ngay giữa lằn ranh những tháng năm đầy biến động, nơi hoa và lệ cộng sinh san sát.

Cơn sốt đầy note hương bạo động với huệ, xạ cầy hương, nhục đậu khấu và hổ phách được bào chế vung tay này đã kéo dài đại dịch Tabu và Poison đến tận thập niên 90, và chỉ thật sự giảm nhẹ chút đỉnh trước cơn lụt xa xỉ phẩm tân kỳ thời mở cửa. Những buổi dạ vũ ball famille, những vũ trường chỉ vừa mới được mở cửa lại, những rạp cine mini ở khu trung tâm lại bật lên hơi lạnh lưu cữu của những máy điều hòa đã bất động suốt một thập niên.

Từ khu nhà lồng chợ Bến Thành, băng qua chợ trời xa xỉ Tạ Thu Thâu, kéo dài tới thương xá Tam Đa cũ, về sau là tòa nhà Intershop (đã không còn), xứng đáng được coi là thú bát bộ mới, thay thế cho passage thương xá Eden cũ dù kém hẳn phần lịch duyệt dành cho các bà các cô điệu nghệ. Những lọ nước hoa được bày bán ngay dưới ánh sáng trực tiếp của nắng, hay trong những tủ lộng kiếng chưng đèn nóng hổi – điều hoàn toàn bậy bạ trong nguyên tắc bảo quản mỹ phẩm, với những mức hét giá trên trời, nhưng thời đó còn chưa có vấn nạn hàng nhái, do phần lớn được thân nhân mua từ chính quốc, hoặc do các thủy thủ tàu viễn dương mang về.

Chính thời điểm này đã làm nên dấu mốc thú vị trong gu khứu giác của đàn bà Sài Gòn, hổ lốn và vô nguyên tắc như mọi thứ đặc sản của thị thành tạp chủng này, như bánh mì kẹp chả lụa Bắc Kỳ với pepperoni Ý Đại Lợi xịt xì dầu Chợ Lớn, chiêu trôi cùng ly café B’lao chánh hiệu.

Cũng là một đô thị phương Đông, nhưng người ta đổ xô vào những dòng nước hoa Oriental, khởi phát vào thập niên 20, và tái phát dữ dội trong văn hóa Âu Mỹ vào những năm 60, lây lan tới trào lưu hiện sinh của những năm 70. Đối với dân Sài Gòn, phong vị này vẫn toàn vẹn sự kì thú huyền bí của yếu tố “hương xa”, với hoa hồi và nhục đậu khấu, trầm hương và hồng tiêu, nhưng vẫn đủ gần gụi để nhắc nhớ từ trong tiềm thức những bánh savon trầm thượng hảo hạng được coi là món quà lịch sự dành cho nữ giới, những hiệu thuốc bắc đường Hải Thượng Lãn Ông, như một thứ mùi hương cửa ngõ mở vào lãnh địa phồn thịnh sầm uất Chợ Lớn.

Trong tất thảy những cam bergamot và hồng tiêu, húng quế ấy, cái khứu giác của đứa con nít Sài Gòn háo hức căng phồng đón nhận về hơi hướm phảng phất mùi tinh dầu lá xá-xị đã làm nên huyền thoại thương  mại cho hãng giải khát Con Cọp lúc bấy giờ, thứ mùi nhang khói mỏng mảnh đã đượm lẫn trong không khí từ bao đời, một khi mỗi căn phố đều có cửa tiệm và một bàn thờ ông Địa, mỗi nếp gia cũng leo lét khói nhang đêm, cho đến đình chùa miếu mạo xen kẽ trong khu dân cư. Tôi tin rằng Chợ Lớn sẽ khác lắm, nếu giả như một ngày người Hoa và tập tục cúng kiến không còn nữa, nếu giả như một ngày, đồng loạt những que nhang tắt ngấm. Đó mới thật sự là ngày Chợ Lớn không còn.

2046

Hương bá tánh trên bức chân dung người đẹp Viễn Đông

Nếu gia vị có xuất xứ Đông phương và những ngành quý mộc đã làm nên phong vị ẩm thực gourmand cho Sài Gòn, thì những hương hoa phù phiếm, hương vanilla, hương huệ đậm đà vị phấn sáp kem sữa chính là bức chân dung trọn vẹn nhất của vẻ đẹp đàn bà miệt Ngọc Viễn Đông. Thứ hợp hương tổng hợp gay gắt của những siêu phẩm được bào chế bởi nền kỹ nghệ tân kỳ những năm 70 này khiến những cái mũi thanh lịch đương thời sẽ phải nhăn nhúm khổ sở bởi trò tán tỉnh sấn sổ ồn ào không khoan nhượng, trong khi hương phấn sáp powdery khiến người ta lập tức liên tưởng đến những giá trị lỗi thời gắn liền với nữ hoàng phấn sáp Coco No.5 từng một thời được ưu ái ồ ạt bởi các bà các cô giới thượng lưu.

Tất thảy đều giả tạo và phồn thực, hào phóng như những bờ ngực phồng vun cao phía sau tà áo dài siết eo đúng điệu Sài Gòn. Những người đẹp “cao su” hồn nhiên và hào phóng ban phát cảm giác mềm mại cứu rỗi của nhục thể lồ lộ dưới hai vạt áo hoa. Hương vanilla đặc thù của tiệm Givral với những ổ bông lan ngập ngụa phẩm màu, dày mịn mỡ màng những lớp kem đỏm dáng phủ ngập những chiếc gateaux còi cọc thiếu sữa của thời bao cấp, như những đắp bù xoa dịu thị giác và khẩu vị con nít háu ăn. Những đầu móng tỉa tót cầu kỳ sơn bôi đỏ thắm, những gót hoa nghễu nghện chênh vênh khỏi mặt đường, và thứ mùi da thịt bị tẩm ướp đến biến dạng bởi hương mỹ phẩm, mùi thuốc uốn tóc và ít nhiều những vệt khói ám muội lẫn trong mái tóc, xống áo, tới hơi thở đàn bà, khỏa lấp cả những giọt mồ hôi nhễ nhại của tiệm nước đầu ngõ cuốc xe cuối ngày nhặt nhạnh lối mưu sinh bên vỉa hè phố thị.

Chỉ có sống ở Sài Gòn mới hiểu thứ hợp hương quái đản này, khi mà người ta đi nhảy đầm và ăn tiệm bất kể công việc lao động phổ thông cóp nhặt hàng ngày. Không hề hiếm những huyền thoại vỉa hè về những người ăn xin cuối ngày ngoắc xích lô đi ăn tiệm. Lằn ranh phân biệt được đặt ra rõ ràng giữa những địa vị và lợi tức khác nhau, nhưng quyền hưởng thụ được chia đều cho tất cả. Một nữ hoàng sàn nhảy hoàn toàn có thể kết thúc một ngày của nàng trong chiếc chòi ốp tôn chênh vênh trên mép dòng kênh nước đen, phó mặc ngày hôm sau cho một canh bạc hoàn toàn mới.

Kết hợp hương hoa với xạ hương, trộn với những mùi gia vị hương xa nồng gắt, người ta có được một hợp thể dễ gây say, gây nghiện của mồ hôi dân nhiệt đới nhễ nhại, thứ nhựa sống thật thà tiết rỉ quanh năm, hong khô dưới nắng và phát tán trong gió, hay đượm quện với những cơn mưa đồng bóng bất thần, trộn hòa chuếnh choáng trong ngăn thang máy, rạp cine, những hộp đêm kín gió đông người, nơi xống áo và người ta ma sát vào nhau, tóc trộn tóc, tay đan tay, và tất cả ướp đượm với đồ ăn và thức uống, champagne và bia hơi, đàn ông và đàn bà. Thứ hương “bá tánh” đó đã là một mùi đặc trưng của Sài Gòn, như những ám ảnh kinh hoàng kéo dài dằng dặc lên tận giường ngủ và lụi tàn giữa chăn nệm vào sáng hôm sau. Có lẽ bởi vậy, ở Sài Gòn, người ta bén mùi nhau, ghiền mùi nhau rất dễ. Mỗi cá thể ném mình vào đời sống cộng sinh nơi đây trở thành một phân tử mùi hương cực nhỏ làm nên cả một hợp chất nồng nực, khó chịu, sực nức, giả tạo nhưng gây nghiện và ám ảnh khôn cùng.

Như người đàn bà đồng bóng nhất, hào nhoáng và phù phiếm nhất đã một lần qua trong đời, Sài Gòn không bao giờ cho phép mình bị lãng quên, ngay cả khi người ta nhắm mắt.

02230939a

Mùi Hương Hoa Lệ

Như mọi cấu trúc cơ bản nhất của một dòng nước hoa, mọi kịch tính của mùi hương đều lắng dịu, thẩm thấu vào cơ thể và dâng lên những nốt cuối cùng, như một đoạn kết đẹp, tròn trĩnh, hoặc như những dấu chấm lửng vẫn mãi kéo dài tận trong tiềm thức.

Sài Gòn nông cạn, ô tạp, xô bồ và sống sượng trong cái thói rù quến bằng kẹo ngọt và những phần thưởng “ăn liền”, thói chiêu đãi hậu hĩ tới mức dại khờ và phóng đãng của ả gái hư không chuyên. Nếu ví Sài Gòn như một hợp hương mỹ phẩm, thì có lẽ những note dư hương day dứt cuối cùng ấy, chỉ có kẻ xa Sài Gòn mới thật sự được hưởng trong những mặc niệm hoài hương, hoặc những ai thương tưởng si mê Sài Gòn ngay khi sống giữa lòng đô thị, đủ để nhìn ngắm nhâm nhi những trầm mặc đằng sau phấn sáp trang kim, đủ để kiên nhẫn chờ đợi khoảnh khắc thật thà sau cuối của ả đàn bà đa chiêu.

Khi những mẫu nước hoa cũ khô dần vào da thịt, sự tài tình của nhà bào chế lại một lần nữa vén lộ những phong vị Đông Phương từ lớp hương đầu, đã được lọc qua những biến cố ồn ào nhất của thời cuộc, để lắng mình, vẹn nguyên mảnh khói nhang trầm mặc trong hơi thở về khuya của phố thị.

Một thời gian tôi mướn trọ trên căn gác xép giữa một hẻm bình dân đúng nghĩa điện câu đèn vàng. Cứ khoảng gần nửa đêm, tiếng lóc bóc của thằng nhỏ bán mì gõ lại vang lên, len lỏi vào mê trận không lối ra của những đường ngoặt bất thần chi chít. Thằng nhỏ quê tận đàng ngoài, trôi dạt vô đây phụ việc xe hủ tíu mì như một vạn kiếp di dân mỗi ngày tấp về đây. Nó sẽ chẳng bao giờ nhớ nổi đường ra giữa những lối ngoặt ngoằn ngoèo ác địa của những hẻm bàn cờ đặc trưng phố thị phương Nam này. Ông chú người Tiều sẽ cắm vài cọng nhang vô góc đường gần đó, thằng nhỏ Bắc Kỳ cứ theo mùi nhang, như cọng khói cứu sinh len lỏi hẻm đêm mà lần đường về. Thi thoảng, tiếng lốc cốc leng keng của nó vọng ra cũng đủ khiến ông chú Ba Tàu biết thằng nhỏ liệu đã rong ruổi lỡ bộ quá xa. Họ làm nên một cặp đôi kì lạ giữa cái thành phố này, bắt kết vào nhau trong cuộc sinh nhai đôi khi chỉ bằng làn khói hương mỏng mảnh mà không gian ô tạp của ban ngày sẽ nuốt chửng, quậy loãng và làm đứt bể tan tành chỉ bằng một cú đạp máy xe.

Tôi cũng từng có những đêm như thằng nhỏ Bắc Kỳ đó, ngơ ngác lêu bêu một góc hẻm lạ quơ chỉ bởi một chậu nhài, một nhánh ngọc lan, hay một bụi dành dành nhà ai lén nở đêm. Những trận du miên kì quái đó đôi khi dẫn tôi dừng lại trước một cổng ngôi gia, lập lòe ánh đèn trái nhót trên bàn thờ, nơi chân nhang đã nguội, và một bình huệ trắng đang phập phồng hơi thở vô hình rất sâu. Cũng như bao dân tứ chiếng đất này, tôi từng hôn Sài Gòn thật sâu để hít thở căng lồng ngực ủ ê làn hương bắp rang bơ quá lửa từ lớp váng ly café tréo ngoe trên ghế bố vỉa hè lúc quá nửa đêm chờ sáng, mà thấy thơm phưng phức những bình minh đục ngầu ảo ảnh, văng vẳng tiếng chuông lễ sớm.

Hoắc hương và đàn hương, hổ phách, hồng tiêu và vạn triệu những thành phần xa xỉ trong một dòng hương Đông Phương cũ kỹ cũng có thể gợi nhớ mùi triều dâng ngoài bến Bạch Đằng. Tôi cùng tụi bạn sống tuốt bên Thủ Thiêm, 3 giờ sáng í ới ngoắc con đò gắn máy phành phạc rẽ làn nước đục ngầu về bên kia mảnh lập thể còn lại của Sài Gòn, khi những lương dân tử tế mệt nhoài đã ngủ rất sâu, và những đôi chân có móng sơn kim tuyến vừa kịp rón rén nhịp gõ gót cao qua những hành lang cư xá. Những phấn sáp được tẩy trôi hay vội vàng xóa bôi nhoe nhoét bởi môi hôn vồ vập, những món trang sức mỹ kí cuối cùng được gỡ bỏ, những vệt nước hoa đã lồ lộ mùi hormone thật thà mệt mỏi. Người ta nghỉ ngơi, trong những căn hộ tân kỳ, thành lớp trong những căn phòng giành cho dân lao động nhập cư, buông tuồng thân ái trong những dãy nhà trọ tồi tàn lòe loẹt, nơi mà khoảng cách bán-mua cuối cùng cũng đã bay hơi.

Nếu Sài Gòn là một loại nước hoa, ở tầng hương cuối, điều khiến người ta luyến lưu dày vò dai dẳng nhất, đó là bởi thứ mùi hương mệt nhoài, giữa những ẩn ức và trưng phô thường nhật: người ta ngửi thấy Chính Mình, trước khi thiêm thiếp bằng an sau thêm một canh ngả nghiêng nữa của Lệ và của Hoa.

017-L

(bài viết đã được sử dụng bởi tạp chí Người Đô Thị tháng 06/2015)

huyền sử tài nữ Paris

Trác Thúy Miêu

reutlinger-studio-postcard-depicting-the-dancer-cleo-de-merode-1875-1966

Nàng là gái Paris chánh hiệu, dù có một số tư liệu cho rằng nàng tên thật là Hortense Gervais sinh trưởng tại vùng Bordeaux hay Biarritz. Sinh ra dưới cung Thiên Bình, Cleopatra Diane de Merode còn là ‘con gái Vệ-nữ thần’ dựa trên tín ngưỡng chiêm tinh phương Tây, khiến nàng được bảo đảm đủ mọi ưu chất tài hoa, phong tư kiều mị, nhưng trên hết là tư duy sùng bái Cái Đẹp cùng lòng kiêu hãnh của một trang anh thư dòng dõi trâm anh thứ thiệt, con gái họa sĩ phong cảnh và một cựu diễn viên người Áo. Cha cô, Karl von Merode tự nhận mình là nam tước Freiherr von Merode đến từ một dòng dõi cổ kính tại Bỉ.

Và đây chỉ mới là lần đầu tiên số mệnh lắm khuất tất của nàng liên quan đến vương quốc này.

images (5)

Scandal đầu tiên: Màn thoát y bất đắc dĩ 

Bé Lulu, theo cách gọi âu yếm của song thân dành cho nàng, sớm hé lộ thiên hướng nghệ thuật, được gửi đến học viện Paris Opera Ballet từ lúc 7 tuổi. Và khi mới 11 tuổi, cô bé có mớ tóc mây xoăn tít đã có buổi ra mắt đầu đời trên sàn diễn danh giá của kinh đô hoa lệ.

Tất cả đã hứa hẹn một nghiệp lộ lẫy lừng cho một tượng đài nghệ thuật chuyên chính – nếu như nhan sắc ma mị của nàng đã không mê hoặc cả châu Âu, làm mụ mị mọi họa sĩ, nhiếp ảnh gia, lẫn giới truyền thông lúc bấy giờ, vượt xa tài hoa của đôi chân vũ nữ.

Người ta định danh nàng chính là hình mẫu đầu tiên của khái niệm celebrity trên thế giới – nơi mà phong mạo trội bật, thị hiếu thẩm mỹ cầu kỳ và những cuộc tình lâm ly có thể mang thứ hào quang lấn át cả tinh hoa tài khí.

13 tuổi, tiểu thần nữ Cleo đã là nàng thơ phía sau những họa phẩm bậc thầy của Jean-louis Forain và Edgar Degas. Ba năm sau, nàng đã vang danh khắp kinh đô Paris với mái tóc sơn nữ rối bồng bềnh, chẻ chuẩn chu giữa vầng trán Đồng Trinh, viền bằng những vành xuyến đính đá óng ánh, xổ tràn xuống tận vòng eo không tưởng, dệt thành một chiếc khăn shawl đầy đặn lăn tăn sóng tóc. Người ta ghi dấu dung nhan nàng trên mọi tấm bưu thiếp, cỗ bài và các bích chương quảng cáo. Mái tóc sơn nữ và đôi mắt yêu tinh trong như ngọc của Cleo trở thành một mẫu mực về nhan sắc đàn bà đầu thế kỷ 20, dẫn lối cho những nếp tóc xoăn, mắt mơ viền chì và những đôi môi bé xíu như đinh ghim của Kỷ Ngây Thơ 20’s, với các dải băng trang kim trên tóc, điệu vũ chanson phóng đãng và những chuỗi cườm tung tẩy trên váy flapper.

14cd606ffe2997d6bb58b37f0a020bb6

Nàng được cưng chiều, săn đón, ái mộ khắp nơi, và nghiễm nhiên trở thành giai nhân được chụp và họa hình nhiều nhất trên toàn nước Pháp, mà người ta còn cho là trên cả châu Âu.  Cleo trở thành nàng thơ hiển hiện qua rất nhiều tuyệt phẩm của các danh họa bậc thầy cùng thời cho đến nay vẫn được lưu truyền, làm nên một định hình bất hủ của “thẩm mỹ tiền showbiz” đầu thế kỷ trước.

1d3a0b449b4bcad1e4f7021e22f261d6Alfredo Muller, 1869-1939, cleo de m etching c.903Boldini cleobab59a8a7d7bc63c49eca18d3d2fcdb4

Portrait of Cléo de Mérode Georges Jules Victor Clairin (Fr843-919)

Danh họa người Áo Gustav Klimt cũng từng là một nạn nhân chung của cơn sốt Cleo. Nàng xuất hiện rất nhiều trong các tuyệt phẩm ma mị của ông, và về sau, bộ phim mang tên Klimt năm 2006 còn hiển hiện ít nhiều câu chuyện của danh họa và nàng vũ nữ Pháp qua nhân vật “Lea de Castro”.

Năm 1895, Toulouse-Lautrec vẽ chân dung Cleo. Năm tiếp theo, đến lượt nhà điêu khắc Alexandre Falguière rơi vào cơn sốt Cleo, làm nên cả một cuộc náo loạn nhỏ tại Paris Salon khi ông vén tấm trướng che trên tác phẩm mới của mình, phô bày bức tượng Cleo khỏa thân đầy mê đắm. Bản thân nàng thơ yêu kiều cũng bị chấn động trước phiên bản trần truồng mỹ diệu của mình. Trong bức thơ gửi chủ biên tờ Le Gaulois, nàng tha thiết phủ nhận mọi tin đồn rằng Falguiere đã sáng tác dựa trên mẫu thật: “Rất mong ông vui lòng đính chánh lại cùng độc giả của quý báo rằng tôi không hề là người mẫu nguyên bản cho bức tượng của ông M.Falguiere, sự khác biệt có thể được minh chứng nếu lưu ý quan sát đầu của bức tượng”.

họa phẩm Cleo in the Salon của Carlos Vasquez y Obeda minh thuật lại scandal đầu tiên của nàng với bức tượng khỏa thân

Nhưng hẳn nhiên, không ai quan tâm đến cái đầu của bức tượng Cleo khỏa thân cả!

Sau biến cố đình đám này, nàng rút lui khỏi vùng hào quang danh vọng lẫn ánh đèn sân khấu, với lời giải thích là do nỗi lúng túng khổ sở khi chịu đựng những ánh nhìn lia khắp châu thân nàng và liên tưởng đến “bức tượng trần trụi kì khôi nọ”.

Bức tượng định mệnh The Dancer của Alexander Falguiere hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Musée d’Orsay.

garv_07b

Người đẹp bịt tai và lịch sử mốt tóc chignon

Sau vụ “bảo vệ môi trường” bất đắc dĩ, thị dân Paris háu tin vẫn có cách xoay sở để sản sinh thêm những tin đồn khi nàng vắng mặt, và ‘tác phẩm’ tin đồn mới nhất của họ khi này là nhưng lời xì xầm độc mồm rằng người đẹp de Merode trên thực tế không có… tai! Sự thể bắt đầu từ mốt tóc chignon của Cleo, với mái tóc dày che phủ hai bên khuôn mặt búi lại phía sau.

images (1)

Quả là một mánh khóe thần sầu, vì ngay sau đó nàng Cleo tội nghiệp buộc lòng phải tái xuất trở lại hòng minh chứng sự tồn tại đầy đủ của các cơ quan nghe nhìn trên cơ thể mình. Cuống quýt đối đầu với tin đồn quái gở, nàng xuất hiện ở khắp mọi nơi, tại nhà hát, đi dạo miệt mài trên các phố lớn trung tâm, ngược xuống Bois, tóc xõa được vén cao, lộ rõ một đôi tai đăng đối bình thường như hàng vạn đôi tai thị dân háu chuyện khác. Và từ đó, mọi quý bà quý cô Paris hoa lệ đều nhất loạt bới đầu theo kiểu tóc chignon. Mốt này về sau kéo dài đến cực thịnh vào những năm 1920.

images (8)

Tình lang phiền toái và kỳ tích ballet bị lãng quên

Tuyệt nhiên, những biến cố ngoạn mục này không hề làm phương hại đến danh tiếng Cleo, mà trái lại, như hệ quả tất yếu của mọi cơn sóng của sắc màu dư luận, Cleo càng sở hữu một hấp lực khó cưỡng đối với sự hiếu kỳ của công chúng. Nói ngắn gọn lại là nàng nổi như cồn.

Vào cuối năm 1895, một sự kiện lẫy lừng đã xảy ra, kết thúc đầy cao trào cho một năm đầy ngoạn mục và ám ảnh phần số Cleo mãi về sau. Vua nước Bỉ, hoàng đế Leopold Đệ Nhị, vốn là một tay hào hoa khét tiếng, tuyên bố mượn dịp công du thương lượng về quyền lợi thuộc địa để đến kinh đô hoa lệ và thân chinh khám phá sự thật về tiếng tăm tài sắc giai nhân trứ danh Cleo de Merode trong một buổi diễn của nàng. Nhiều tư liệu lẫn tin đồn thị dân thời bấy giờ cho rằng vũ đoàn nhà hát nhạc vũ kịch Paris chính là đại bản doanh thanh lâu hạng sang trên đỉnh thượng lưu của một Paris phóng đãng. Giới săn tin mau mắn đúc kết một mối tương quan giữa thói hào hoa của vị quân vương ngoại quốc và nhan sắc của nàng vũ công đang gây sốt toàn thành.

images (9)

Khắp kinh thành Paris, trong mọi phòng trà lẫn phòng the, người ta hau háu truyền tụng những tình tiết lâm li lẫn dung tục về mối dan díu giữa nàng kỹ nữ vang danh 22 tuổi và vị khách làng chơi vương giả hơn nàng ngót nghét 40 niên. Người ta nói rằng Cleo chính thức trở thành gái bao hạng sang, món đồ chơi ưa thích mới của vị quân vương phong tình, người ta trầm trồ truyền tụng về những món quà sang trọng nàng được dâng tặng, về toa riêng đặc biệt được thiết kế riêng cho Cleo và lắp thêm vào đoàn hỏa xa hoàng gia Bỉ để nàng tháp tùng nhà vua trên đường kinh lý. Họ, rất rất lâu trước khi Brat Pitt và Jolie trở thành Bragelina, được gọi chung bằng một cái tên sặc mùi showbiz: Cleopold!

Kin Leopold and Cleo De Merode taken from the Taschen book Art Nouveau

Trên thực tế, cho đến tận thời điểm này, Cleo vẫn chịu sự giám sát khắc nghiệt của thân mẫu. Bà cựu minh tinh cùng con gái kiên quyết phủ lập mọi tin đồn liên quan đến vị vua hoang đàng, khẳng định rằng thứ duy nhất nàng từng nhận của vị khán giả trứ danh này là những bó hoa hồng chúc mừng vào sau các buổi diễn. Các tòa báo vẫn nhiệt tình loan tiếp thông tin tỉ mỉ đến từng chi tiết về chuỗi ngọc trai trắng muốt được vị quân vương gửi tặng Cleo, và về căn hộ huy hoàng ngài dùng để cất giữ nhân tình. Trong khi đó, Cleo vẫn ngày ngày lên xuống 5 tầng lầu để đi về căn hộ nơi cô vẫn sống cùng mẹ như một con chiên Công giáo ngoan đạo. Tuy vậy, những lời quy buộc vẫn hấp dẫn đám đông hơn. Trò tiêu khiển lỗ nhĩ của đám thị dân háu chuyện đã đến hồi tai quái, Cleo đào tẩu khỏi Paris để đến St.Petersburg, nơi nàng rơi tiếp vào những tin đồn truyền khẩu về lòng ái mộ bất thường của các bậc vương tôn dưới thời Sa Đế. Những lời xì xầm truyền tụng, những tình tiết li kỳ và phóng túng đã trở nên ồn ào lấn lướt cả kỳ tích của lịch sử nghệ thuật múa ballet: nàng đã trở thành nữ vũ công ballet đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật múa diễn cùng bạn diễn nam là Rupert Doone tại nước Nga.

Cleo de Merode-10

Cleo lại trở về Paris để chứng kiến tiếng tăm của nàng đã lẫy lừng hơn gấp bội, tỉ lệ thuận với mức thù lao cho mỗi lần xuất hiện trên sân khấu. Khôn ngoan và chai sạn hơn rất nhiều sau những biến cố vừa trải, Cleo quyết xem đó là một cơ hội vàng. Nàng nhận một khoản thù lao khổng lồ để xuất hiện tại nhà hát hí kịch Folies Bergere – điều mà chưa vũ công ballet nào từng làm trước đây. Cleo ngạo nghễ xuất hiện và yêu kiều bước qua mọi đàm tiếu bằng đôi chân vũ nữ, điều này mang lại cho nàng một lượng khán giả ái mộ khổng lồ chưa từng có. Vài tháng sau, tờ The Éclair phát động cuộc bầu chọn ra người đàn bà đẹp nhất Paris. 130 tấm ảnh được trưng bày trong một gian phòng của bản doanh tờ báo cho mọi thị dân đến thưởng lãm và bình bầu. Cleo đoạt danh hiệu tuyệt sắc giai nhân với số phiếu bầu gần một nửa trên 7000 phiếu bầu.

cleo11_2

Cho đến tận bây giờ, mối dan díu với hoàng đế Leopold vẫn là scandal được nhiều người truyền tụng nhất, làm nên vầng hào quang về tiếng tăm bậc nhan sắc đã ra người thiên cổ. Thám tử đặc vụ Xavier Paoli đã gặp gỡ với Cleo sau khi tin về mối tình vụng trộm đã kịp lan truyền khắp nơi. Ông ghi chép lại trong hồi ký mình, chứng thực lời tạ lỗi của đích thân nhà vua Bỉ: “Cho phép tôi thể hiện lòng thành tâm ân hận, bởi những quy buộc nhân gian dành cho tôi đã làm thương tổn danh phẩm quý cô. Than ôi, chúng ta đã không còn được sống trong thời cuộc nơi mà lòng ái mộ của một vị quân vương không hề là một tai họa! Cuối cùng, tôi chỉ là một ông vua quèn” (nguyên văn: I am only a little king)

Kỹ nghệ lancée của thần nữ Nam Vang trên giọng đờn Gia Định

2 năm sau biến cố bức tượng khỏa thân và tin đồn… không tai, cùng mẹ và người quản lí tiệm hí kịch Folies Bergere, khi này cũng là người đại diện của nàng, cùng 9 rương tư trang và một chú chó cưng, Cleo đến Tân Thế Giới lưu diễn trong suốt một tháng tại Nữu Ước.

Mặc dù trước đó, cả một chiến dịch lót đường cho người đẹp Pháp đã được tiến hành, với những bưu thiếp mang hình ảnh của nàng được bày bán khắp mọi quầy báo, nhưng chuyến lưu diễn đã không thành công như kì vọng. Giới truyền thông ghẻ lạnh trong những bài bình luận hờ hững đầy mai mỉa, ca tụng nhan sắc người đẹp Paris nhưng miệt thị vũ đạo cũng như diễn xuất của nàng. Vào ngày Cleo ngán ngẩm rời Hoa Kỳ, tờ Boston Globe bồi thêm một cú tiễn biệt bằng việc gọi nàng với hỗn danh “The Frost” theo lối chơi chữ quái ác, vừa có nghĩa là “đóng băng”, vừa mang nghĩa lóng lối Mỹ là “thất trận”. Mặc nhiên, Cleo tái xuất Paris, rủng rỉnh 9,000 Mỹ kim thù lao từ chuyến lưu diễn, tức là gấp 40 lần thu nhập hàng tháng của chính nàng tại Paris.

Năm 1899, thân mẫu Cleo qua đời, cũng là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành hoàn toàn cho bản lãnh Cleo. Nàng trở thành một nữ thương gia thực thụ biết khai thác hình ảnh và tiếng tăm bản thân ở mức tuyệt nghệ. Nàng tỏ ra nhã nhặn và lịch lãm trong mọi cuộc phỏng vấn, và khéo léo điều khiển báo giới lẫn dư luận và tình cảm công chúng theo hướng có lợi nhất. Các phóng viên được vời tới có mặt tại các cuộc họp giữa nàng và ban giám đốc nhà hát, cho phép họ tiến sâu vào quan sát hậu đài kì thú của công nghệ giải trí Paris,  nơi nàng thi triển mọi tinh hoa tài khí ở cả tư cách diễn viên lẫn trong mưu lược cổ xúy danh tiếng cá nhân. Những lúc nhàn rỗi, Cleo chơi dương cầm (nàng được biết là một cầm thủ hàng cự phách dù không bao giờ chơi đàn trước công chúng) hoặc đạp xe rong ruổi những ngõ đường vắng vẻ ở ngoại ô Paris.

be0d5f7d3ea49aca71cae05a3025f96a

Trong những năm tiếp theo, Cleo thật sự trở nên một danh tiếng minh tinh ca vũ tầm quốc tế, nàng lưu diễn xuyên lục địa và nhiều lần danh giá tái xuất Hoa Kỳ. Vua Xiêm Chulalenghorn khi đến Paris đã được nàng ưu ái dàn dựng riêng một chương trình nghênh đón, bản thân Cleo xuất hiện trong bộ phục trang diễm lệ theo lối hương xa, mình dát vàng, kim miện có chóp nhọn như các thần nữ trong tín ngưỡng Đông phương. Nàng uyển chuyển múa theo lối truyền thống của vương quốc Xiêm nhưng được thêm thắt cải tân bằng phong cách Parisian chánh hiệu.

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Buổi diễn được hoan nghênh rầm rộ, công chúng Âu châu nức lòng trước vẻ đẹp hương xa khi được thể hiện trên trang tuyệt sắc Paris, sự pha trộn kì diệu giữa đôi mắt như cặp ngọc lưu ly đặc thù của người phương Tây, mớ tóc digan dầy dặn xõa dài trong phục trang Đông phương lạ mắt. Từ đó, Cleo liên tiếp ra mắt công chúng trong những màn múa mang âm hưởng Á đông, trong các bộ trang phục từ Cao miên đến Chà và và luôn được nức lòng ái mộ như một sứ thần thân thiện sau cách sách lược chánh trị hảo hữu của chánh quyền Phú Lang Sa.

60cf680627cf61368e153e7a4c60f3c0

Năm 1900, người ta cho vời ban đờn An nam đến Paris phô diễn nét văn hóa của quốc gia thuộc địa. Để thu hút công chúng và sự quan tâm của truyền thông, nữ hoàng nhảy múa de Merode được mời xuất hiện biểu diễn trên nền nhạc tài tử An Nam. Nàng xuất hiện trong những món trang sức theo lối cung đình Nam Vang và diễn tấu một vũ kịch truyền thuyết được cho là của người Chà Và, khi này được người chánh quốc lờ mờ coi là một nền văn minh Đông Dương nhất thống. Màn diễn tấu được đặt tên là Vũ Khúc Đông Dương dù sai trệch với tinh thần văn hóa An Nam nhưng lại tình cờ phối hợp mượt mà hơi hướm Cao Miên trên giọng đờn của ban tài tử Gia Định, và sự xuất hiện của Cleo đã khiến buổi diễn nổi tiếng đến mức nhà nước Phú Lang Sa chọn in hình trên con tem lưu hành khi ấy. Đây cũng là cơ duyên cho các nhà nghiên cứu về sau tìm lại bản ký âm thất truyền của bài đờn huyền thoại.

play-it-again

1 franc cho thanh danh thần nữ chốn hoàng tuyền

Tháng Sáu 1902, trên đỉnh vinh quang của các tiết mục múa mang màu sắc phương Đông, Cleo đến Anh quốc lần đầu, với trình mục gồm toàn bộ các bài diễn đa chủng đình đám của mình trong đợt lưu diễn kéo dài 2 tuần liền tại nhà hát Alhambra Luân-đôn gồm các điệu vũ âm hưởng Boheme, Hi lạp, Y pha nho và Cao miên. Năm 1904, khi lưu diễn tại Thụy điển, Nam tư, Đan mạch, và đặc biệt ghi điểm lẫy lừng tại Stockholm với những đám đông ái mộ nô nức tụ tập trước rạp diễn phong tỏa mọi con đường chỉ để nhìn tận mặt giai nhân. Hồi hương sau chuyến lưu diễn ngây ngất, Cleo tung cho chủ biên tờ Figaro tất thảy 3000 bức thơ tình thu thập được từ chuyến đi. Rất nhiều trong số đó được chọn đăng tải dài kì trên nhật báo.

images (13)

Nhưng về sau, Cleo giảm dần mật độ lịch trình diễn. Mặc cho lợi nhuận và lòng ái mộ vẫn ngày lên cao, Cleo dần tỏ ra đặc biệt thích thú với điêu khắc – chính bộ môn nghệ thuật đã oái oăm ghi dấu ba đào vào số phận và sự nghiệp của nàng năm 1895. Nàng thư thái và tĩnh tại khi say sưa với những bức tượng nhỏ hình các vũ công, đàn chiên, con giống ngộ nghĩnh… Những món thủ công này đều được rao bán với giá khá đắt và mang lại cho Cleo một khoản thu nhập đáng kể.

Cleo vẫn thi thoảng tái xuất sàn diễn cho đến tận sau tuổi 50. Bà chuyển về sống trong một biệt thự ven biển vùng Biarritz mà nhiều tư liệu cho là cố hương của bà. Nơi đây, bà dạy múa cho trẻ em để khuây khỏa nỗi nhớ nghề cho đến tận tuổi 80.

Cleo 4

Ngay cả sau khi lui về ẩn dật, nghiệp mệnh nữ chúa tin đồn vẫn không buông bỏ Cleo. Năm 1950, nữ văn sĩ Simone de Beauvois, phu nhân nhà biên kịch và phê bình Jean-Paul Sartre tung ra cuốn Le Deuxieme Sexe viết về gái bao hạng sang, trong đó, bà Beauvois có nhắc lại những sủng ái đặc biệt của vua Leopold giành cho ‘ả điếm hoàng gia’ Cleo de Merode. Cuốn sách cũng nhắc lại giả thuyết xuất thân thôn dã của Cleo và gợi ý rằng rất có thể Cleo đã tự nhận theo dòng dõi thế phiệt de Merode để cổ xúy danh giá bản thân. Tức nước vỡ bờ, Cleo khởi kiện, đòi bà văn sĩ phải bồi thường 5 triệu franc mới nghe. Nàng vẻ vang thắng kiện, nhưng cũng chính trong quá trình nghị án, người ta nhận ra rằng nàng cũng chính là bàn tay đạo diễn phía sau rất nhiều tin đồn về bản thân mình trước đây. Do đó, tuy thắng kiện, nhưng Cleo chỉ được hưởng một franc cho các tổn thất tinh thần và quy định dỡ bỏ mọi thông tin thiếu cơ sở có thể gây phương hại đến nàng trong mọi ấn bản về sau của cuốn sách đình đám nọ.

Như những ngày đầu sự nghiệp đầy tăm tiếng, cuối cùng, Cleo de Merode trong cuộc ẩn dật cuối cùng vẫn là người đàn bà chạy đuổi theo những cuộc phân bua vô tận, nàng vẫn là cô vũ nữ viết lá thơ thanh minh với tòa báo, hoặc mỏi mòn trong những cuộc bát phố xuôi ngược phố lớn Paris để xõa tóc trưng bày một đôi tai trọn vẹn. Sau biến cố với vụ kiện bà Beauvois, năm 1955, Cleo phát hành tự truyện Le Ballet de mavie (tạm dịch Vũ Điệu Đời Tôi), như một lần cuối cùng giành quyền lên tiếng cho chính bản thân mình, để nói những gì nàng cho phép thế giới lắng nghe.

069fc4e06792e02ebddec797ae471d05

Cleo qua đời ngày 17 tháng 10 năm 1966, yên nghỉ tại nghĩa trang Père Lachaise. Phía trên mộ phần Cleo là bức tượng chính nàng đang khóc than thân mẫu.

Lúc còn sống, de Merode đã kết hôn nhưng không có con. Theo tin tức trên các báo chí trong suốt cuộc đời sự nghiệp của nàng, thì de Merode còn đính hôn trước đó vài lần, trong đó có một bá tước Nga, một triệu phú Hoa kỳ, công tước vùng Manchester (vì sau bị ngăn chận bởi bà ngoại của ông này), một điền chủ Pháp, M.Reldoyen, một quý tộc Ba lan, Sigismund Malensky, và bản thân hoàng đế Leopold đệ nhị, sau khi hoàng hậu Marie Henriette qua đời. Hẳn nhiên, các nguồn tin của báo chí thời đó vẫn hoàn toàn không có cơ sở chính xác, dựa trên các tiểu tiết mờ nhạt làm căn cứ. Từ phía bản thân, lúc sinh thời, Cleo chỉ thừa nhận 2 cuộc tình lâu bền nhưng thê lương, một người mắc bệnh thương hàn qua đời, và người thứ hai là một học giả và điêu khắc gia Y Pha Nho đã bỏ rơi nàng theo một người đàn bà khác. Nhưng danh tánh và chi tiết về 2 mối tình này cho đến nay vẫn là những bí mật nàng mang theo xuống tuyền đài.

Cleo_de_Merode_by_SUDOR

Tổ nghiệp Celebrity và sự im lặng cuối cùng

Năm 2012, 46 năm sau khi Cleo cuối cùng cũng về tới chốn ẩn dật sau cuối chốn hoàng tuyền, khi thế giới nàng bỏ lại sau lưng đã hoàn toàn bị chi phối bởi quyền lực truyền thông và thảm đỏ, Michael Garval trở thành nhà “showbiz học” khi xuất bản công trình chuyên khảo đầu tiên bằng Anh ngữ về hiện tượng ghi dấu sự trở mình của thị phi toàn nhân loại vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 qua hiện thân nữ thủy thần kiều mị, cuốn sách mang tên Cleo de Merode and the Rise of Modern Celebrity Culture (tạm dịch Cleo de Merode và Sự Trỗi Dậy Của Văn Hóa Người Nổi Tiếng). Garval đã ghi chép lại công trình nghiên cứu, phân tích của ông đến từng ngóc ngách xảo thuật lancée phía sau ánh hào quang của nhan sắc và phần số tài hoa, đánh dấu sự bắt đầu cho một nền kỹ nghệ thực thụ về sau của thế giới, nơi các nghệ sĩ chân chính trở thành các minh tinh.

Sẽ không ngoa nếu lịch sử nghệ thuật trình diễn và công nghệ lancée được chia ra thành giai kỳ tiền và hậu Cleo, một khi tiếng tăm của nàng làm nên một cú chuyển dòng toàn phần về khái niệm nổi tiếng, giá trị của hiệu ứng hình ảnh, yếu huyệt của truyền thông và quyền lực của những tin đồn. Công trình nghiên cứu của Gavral đi sâu vào phân tích những cuộc canh tân mang tính xã hội và công nghệ đã khiến thế giới đi đến hình thành một xã hội hiện đại được dẫn dắt bởi các vị lãnh tụ đỏng đảnh đầy thói tật của chính trường thảm đỏ. Trong đó, Merode chính là một trong các tượng đài tiên phong đầu tiên, giữa tâm bão ái mộ và trải thảm đỏ huy hoàng dưới những trận mưa đá được ném ra từ công luận trong suốt cuộc đời nàng.

74c8a6b3140b1ea2322f2760b4557310

Mặc dù trước Merode, nhân loại vẫn luôn có những trang nhan sắc khuynh thành, những cuộc dan díu vụng trộm éo le đi vào huyền thoại, nhưng bước ngoặt lịch sử khi loài người phát minh ra kỹ thuật in ấn và nhiếp ảnh đã tạo nên hình thái thô sơ nhưng đầy quyền lực của truyền thông và báo chí.

Chính những tấm bưu thiếp ghi lại nhan sắc Cleo trong các bộ phục trang hương xa hoang đường của các vở múa Đông phương đã ghi dấu ấn và lưu giữ minh chứng cho vẻ đẹp bá mị vượt thời gian của một Cleo de Merode danh bất hư truyền. Nhưng với kỹ nghệ in ấn và truyền thông, vẻ đẹp vô ngôn trên các tấm bưu thiếp đã trở nên sống động với những chi tiết riêng tư đầy khuất tất, những thói tật phóng đãng li kỳ đã cho công luận một câu chuyện giật gân đằng sau nhan sắc thiên tinh. Chân dung truyền thông hình thành, cô ả đẹp đến vô thực với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ vừa được nhiếp ảnh đặt lên bệ thờ nhan sắc, vừa được hả hê lôi tuột xuống tận đáy của án đa dâm hạ tiện và những cuộc trác táng phong lưu. Công chúng có cả một màn bi hài sống động li kỳ hơn bất cứ vở diễn nào trên sân khấu đại hí trường, bởi Merode tồn tại, hiển hiện, chiều chiều bát phố khắp kinh đô với mái tóc vén cao, tuyệt vọng phô trình đôi tai nguyên vẹn.

Sự phối hợp của hai nền kỹ nghệ này tôn vinh người đẹp, nhưng không cho phép nàng hóa thánh, hả hê độc địa phơi lộ chuyện riêng tư của nàng, nhưng lại cùng lúc đặt lên vầng trán nàng ánh hào quang nóng bỏng của mọi sự chú ý hiếu kỳ. Ngôi nữ hoàng thị dân tự lập đã được hình thành nên như vậy, công chúng hoặc yêu nàng, hoặc nghiện ngập trong những câu chuyện đầy ác ý về nàng. Truyền thông trao cho họ một quyền lực mới, nơi họ xộc thẳng vào phòng ngủ của người đàn bà đẹp, khoái trá tốc từng lớp xiêm y hào nhoáng của tiết hạnh và nhan sắc để lần mò vào từng chi tiết sống động nhất, để hả hê tiếp cận thịt da có thật của hình hài diễm ảo in trên bưu thiếp: “Nàng cũng như ta, tham dục, đa mưu và đầy khiếm khuyết”

cleo merode006_2

Với thói háu tin theo từng tờ nhật trình, lần đầu tiên thị dân nếm mùi quyền lực và thưởng thức màn bi hài kịch lâm li nhất do chính họ đạo diễn và tham gia, kéo dài đến hàng chục năm, ngay cả sau khi Cleo đã già nua, mệt mỏi và trốn lánh vào tuổi già cô tịch.

Màn kịch vẫn quá chừng hấp dẫn ngay cả khi cô đào chánh đã toan về già và nhan sắc thanh xuân cùng các phiêu lưu tình ái chỉ là những tro cốt cũ kỹ được tái hồi khai quật mua vui cho hậu thế. Như thể một kịch sĩ tài ba đã đi khuất vào cánh gà, thì những tiếng vỗ tay reo hò phấn khích vẫn hồi hồi điệp điệp vang lên, róng riết đòi hỏi thêm một đôi lượt tái xuất của bóng vía tài tình, níu dài âm hưởng giật gân kì thú.

Nhiều thập niên qua đi sau nhiếp ảnh và truyền thông, chính bước ngoặt kỳ vĩ của nhân loại bước vào nền văn minh internet đã khai quật lại đại dịch Belle Epoque trong một diện mạo hoàn toàn mới: những đoạn ghi hình phòng the gây cấn của các minh tinh tài tử, những phát ngôn thường nhật ngô nghê hay xốc nổi, những chi tiết li kỳ đầy mùi thịt da sống sượng… Trong đó, huyền thoại Cleo được lưu truyền với tốc độ mãnh liệt hơn như những di tích của những ánh hào quang celebrity đầu tiên của nhân loại. Những tin đồn cũ được nhặt nhạnh và tổng hợp lại, những tấm bưu thiếp của hơn một thế kỷ về trước được tái bản và số hóa – Cleo de Merode trở thành một thứ di sản chung chạ của những tín đồ Mỹ giáo và những con nghiện tôn thờ bái vật celebrity xuyên thế kỷ.

il_570xN.550085435_qp97

Chính qua Merode, Michael Garval đã tài tình tái hiện thời cuộc văn minh Belle Epoque trong bức biếm họa của ngôn từ, với những cơn sốt của văn hóa thị dân đã bồng bế tô vẽ cho de Merode và đẩy nàng lên đài hiến tế như một con cừu làm cống lễ thần linh. Vì sao nàng trở thành Kẻ Được Chọn? Cơn sốt thẩm mỹ thuộc địa hương xa trong thời cuộc chánh trị của các mẫu quốc thực dân, kết hợp cùng các phát kiến khoa học, sự phát triển của công nghệ nhiếp ảnh, in ấn và truyền thông đã hợp nhất tại khúc quanh định mệnh có Nàng, để cùng làm nên một trong những quả bom truyền thông giải trí đầu tiên trên thế giới. Và từ đó, người ta có Monroe chết cô độc trong cuộc tình với đệ nhất chính khách, James Dean không toàn thây giữa xác xe vặn vẹo, một linh hồn Presley mãi không siêu thoát, Lennon gục ngã trước họng súng tín đồ bái vật celebrity và Diana không toàn thây trong chuyến xe tử thần đào thoát bão flash paparazzi.

Giới yếu nhân thảm đỏ trở thành bàn cờ người với các quân cờ là những hình nhân tuyệt mĩ bị lột trần sống sượng như soi chiếu dưới ống kính truyền thông, thỏa mãn giấc mơ hoang đường của đời sống thị dân đang nhàm mòn dần đi dưới tốc độ kỷ nguyên công nghiệp: giấc mơ của khả năng nhìn xuyên qua những bức tường tư dinh tráng lệ và mọi lớp xống áo hào hoa, và truyền thông như vị thánh cứu rỗi, xoa dịu nỗi khốn cùng bằng lời an ủi “Tất cả họ, những kẻ đội hào quang, phía sau cánh cửa khép kín, đều trần tục như tất thảy chúng ta”.

Các ngôi sao giải trí mua vui cho công chúng của mình ngay cả bên ngoài màn bạc, trên các bãi biển cá nhân, và ngay cả sau khi chết.

Và Nàng, cho đến ngày nay, xuyên thế kỷ và màn hình máy tính, với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ, vẫn là hiện thân của cơn sốt khởi thủy niềm si mê bái vật với những huyền thoại ồn ào.

Ở miền ẩn dật sau cùng, nơi những tiếng ồn thị phi không còn nghe thấy được, lần đầu tiên và duy nhất, Cleo được trả về, thanh thản và bằng an với những sự thật của riêng nàng, nằm sâu dưới nấm đất Père Lachaise và một bức tượng câm.

402dcd1e30024381f227313a83cf2f88

BOX:

Ngày 27 tháng 09, 2013, nhân dịp kỷ niệm 138 năm ngày sinh Cleo de Merode, buổi ra mắt cuốn sách khảo cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và Cải lương của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp tại Việt Nam đã là lần đầu tiên bản múa huyền thoại của Cleo được tái dựng, qua trích đoạn Vũ Khúc Đông Dương trên nền nhạc bản kí âm cổ xưa nhất tìm thấy được trong lịch. Cơ sở dữ liệu đầu tiên của hai nhà nghiên cứu chính là con tem của nhà nước Pháp lúc bấy giờ in hình Cleo de Merode trong trang phục cung đình Nam Vang cùng ban đờn của nghệ nhân Nguyễn Tống Triều tại buổi trình diễn đờn ca tại tử ở Nhà Hát Đông Dương năm 1900.

Tình cờ, tác giả đã chính là người mà nhạc sư Nguyễn Lê Tuyên nhờ thực hiện phần phục dựng bài múa, tái hiện hình ảnh Cleo de Merode vào ngày ra mắt cuốn khảo cứu, cũng chính là vào sinh nhật lần thứ 138 của bà. Trong một sự tình cờ, hậu duệ của bài múa này, tức tác giả, là người sinh sau bà đúng 100 lẻ một đêm. 

DSC_5609

Không đầy 3 tháng sau đó, vào 15 giờ ngày 5 tháng 12 2013, đờn ca tài tử chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đoạn phim tư liệu của nhà làm phim Huy Moeller ghi lại quá trình tái dựng vũ khúc đầu tiên của nhân loại trên nền nhạc đờn ca tài tử sẽ được công chiếu tại Việt Nam vào tháng Giêng 2014 tại trường Điện ảnh Quốc tế Sài gòn và Viện Trao đổi Văn hóa Pháp IDECAF.

Dự án phim Việt Nam đầu tiên về Cleo de Merode và đờn ca tài tử cũng đã được nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh hoàn tất khâu kịch bản và trong quá trình kêu gọi đầu tư. Đây cũng là dự án điện ảnh đầu tiên của Việt Nam về di sản đờn ca tài tử, và cũng là phim điện ảnh đầu tiên trên tái hiện lại hình ảnh bà chúa tin đồn đầu tiên trong lịch sử nền công nghệ giải trí thế giới. 

cleo_de_merode_60

bạch mao nương

Túy Ca

Là tàn dư sống sót từ “kỷ haute couture” hoàng huê kiều mị, Nàng sở hữu một nhan sắc của loài hồ ly thành tinh mà hóa thánh – vừa gợi tình, u mặc, vừa ngạo mạn tôn nghiêm. Nàng là nhân chứng hoàn hảo cho tinh túy nhan sắc Đàn Bà.

Như chính dòng nước hoa trứ danh Nàng từng đại diện, Carmen Dell’Orefice đã có những note hương đầu tươi tắn của tuổi 15 hoàng hoa hiển hiện sắc hương dậy thì trang bìa nhà Vogue, một tầng hương giữa vừa nồng nàn mùi hormon đàn bà, vừa u thảm những chuyến đò bến đục, của xa hoa, khánh tận, và đam mê. Nhưng nhan sắc madame Carmen mới thật sự lộng lẫy ở những note cuối cùng, quý phái dư sắc trầm hương của giai nhân 80 tuổi – người mẫu cao niên nhất của lịch sử catwalk thời trang.

Cuối thập niên 1950, cả thế giới mắc chứng ngứa ngáy hàng loạt bởi câu nói của đào Monroe rằng nàng chỉ ‘khoác’ vài giọt Chanel No.5 lên người khi đi ngủ. Người ta coi người đẹp tóc vàng này là một đại sứ vinh hiển cho danh tiếng nước hoa No.5 nhà Chanel. Trong khi đó, ngược chiều đám đông, bà Coco lại chọn một người đàn bà khác cho những shot ảnh quảng cáo lọ nước hoa bất hủ kia: Nàng có một khuôn mặt thanh tú, đôi gò má bén ngót, chiếc cổ của loài linh dương, nụ cười mệnh phụ quý phái và đôi mắt yêu tinh. Shot ảnh, cũng như dòng nước hoa và chính người đàn bà trong ảnh, trở thành những chuẩn mực trường tồn.

Nửa thế kỷ sau, No.5 vẫn ngự ngai chí tôn của dòng mùi hương xa xỉ, và mệnh phụ tóc trắng Carmen Dell’Orefice lại vừa sải bước hồng hạc trên catwalk mùa SS2012 vừa qua, sau khi mừng sinh nhật tròn 80 tuổi và học hàm tiến sĩ danh dự của trường Đại học Nghệ thuật London.

Như những note cuối của dòng hương tuyệt tác, nhan sắc của người đàn bà khi lắng xuống như note trầm đằm thắm trong sự quý phái đến mức tôn nghiêm, đó là khi dung nhan trở thành khí chất, và hóa thánh cho người đàn bà sặc sụa vẻ quý phái được giới hậu đài mọi sàn diễn couture kính cẩn gọi bằng hỗn danh The Countess (Bà Bá Tước).

Nàng ballerina của Dalí

Là kết quả cuộc dan díu tồi tệ đủ để nảy mầm một nhan sắc mặn mòi nhất nhì trong lịch sử loài người, sự kết hợp hoàn hảo giữa cái ngạo mạn hoang dã của tay nghệ sĩ violin Ý, với vẻ thanh tú uy nghiêm của một vũ nữ ballet Hungary, Carmen đã trải qua tuổi thơ vạ vật ở viện tế bần, trải qua cơn bệnh thập tử nhất sinh ở tuổi 12, được phát hiện trên một tuyến xe bus ở tuổi 13 và xuất hiện trên bìa Vogue chỉ 2 năm sau đó; 3 đức ông chồng, 3 bận phá thai và 2 lần phá sản, nàng vẫn lộng lẫy xuất hiện tại mọi tuần lễ thời trang từ Paris đến New York, nàng đốt nóng sàn diễn của những thiên tài đương đại từ Thierry Mugler, Jean Paul Gaultier đến John Galliano bằng ngọn lửa bạch kim trên mái tóc bồng, khuôn mặt của yêu nữ thành tinh với cặp lưỡng quyền có thể dùng để cắt bánh mì.

Cách đây 67 năm, sau shot ảnh đầu đời do Herman Landschoff chụp thử, mẹ nàng nhận được lá thư từ chối khéo léo rằng “cô Carmen Dell’Orefice tuy rất khả ái, nhưng đáng tiếc, không mấy ăn ảnh”. Carmen lại tiếp tục cam chịu sự chê bai chì chiết từ bà mẹ nghèo nhưng cầu toàn đến khắc nghiệt. Cho đến nay, đã là cụ bà cao niên hiếm có, Carmen vẫn rùng mình khi nhớ lại “Tôi bị phũ phàng tước sạch mọi sự tự tin, đến đôi tai của mình cũng khiến tôi ngượng ngùng vì xấu hổ”. Chỉ có người cha đỡ đầu của cô đã không tin vào điều đó. Ông âm thầm gửi bức ảnh đến tòa soạn nhà Vogue. Một năm sau đó, hình ảnh của Carmen đã xuất hiện lẫy lừng trên trang bìa tạp chí này.

Ngày ấy, nàng chỉ là cô gái nhỏ còi xương đang chơi trò tình yêu với cậu con trai nhà bán tạp hóa trong xóm, và thoắt trở thành nhan sắc trang bìa của một trong những tờ tạp chí thời trang hùng mạnh nhất toàn cầu, nhưng vẫn trượt patin đến studio để tiết kiệm tiền đi xe bus.

Chính trong thế giới thời trang, Carmen tìm được cho mình người mà nàng coi như người mẹ thứ hai – người mẫu thượng hạng Dorian Leigh. Nàng hay gọi bà là “má”, còn Dorian trở thành thân chủ của những chiếc váy do nàng và mẹ nàng may.

Dorian Leigh

Má Dorian cho nàng một ít tiền để đi taxi đến nơi làm việc, còn nàng dùng tiền đó để mua thức ăn mang về nhà. Năm 1947, với sự can thiệp của “má Dorian”, khoản thu nhập còm cõi của cô gái trẻ được nâng lên mức 10 dollar mỗi giờ và thậm chí đến 25 dollar với các shot hình quảng cáo.

Ở tuổi 16, Carmen trở thành một trong những người mẫu trang bìa trẻ tuổi nhất của Vogue, là cục cưng của các nhiếp ảnh gia khét tiếng nhất cùng thời. Shot ảnh bìa cho Harper’s Bazaar năm 1960 do Melvin Sokolsky chụp mang tên Carmen Las Meninas đã trở thành bức ảnh huyền thoại được phổ biến và săn lùng khắp thế giới.

Với một sự xanh xao, dáng điệu kiêu kỳ, và khả năng tạo dáng siêu phàm với đôi cánh tay như cặp chân loài hồng hạc, Carmen chính thức trở thành nàng thơ của danh họa thiên tài Salvador Dalí.

Quyền lực của hormon đàn bà và gã bần tiện tốt số

Đến thời điểm này, trái với sự chờ đợi của hãng đại diện người mẫu và tờ Vogue, nàng thiên nga con vẫn chưa chịu thật sự bung nở vào vẻ đẹp thiếu nữ đến thì. Thất vọng với cô nhỏ còi cọc, hãng Eileen Ford từ chối tiếp tục đại diện cho Carmen, trong khi nhà Vogue cũng tỏ ra thờ ơ nhạt nhẽo, còn các photographer cũng đã chán ngấy việc phải chờ stylist nhồi khăn giấy vào áo ngực của cô thiên nga chậm lớn.

Đó là khi Carmen phải cầu cứu đến y học và những mũi tiêm để kích hoạt các dấu hiệu dậy thì. Như một lối thoát sự nghiệp hơn là một đòn trả đũa, Carmen bắt đầu nhận lời chụp catalog và nội y, với đôi bàn tay dài muốt che khuất gương mặt và mức lương vọt lên đến 300 dollar mỗi giờ.

Với lượng hormon đàn bà được kích phát bởi sự can thiệp của y học, Carmen một lần nữa ngự thế thượng phong làng mẫu với những đường cong ngốt người và sự già dặn bắt đầu nhuốm màu trên khuôn diện tiểu nữ thần.

“Khi này tôi mới 17 nhưng trông như một bà 35”. Cả một dạ tiệc đã được tổ chức long trọng để giới thiệu tiểu thần nữ vừa chín tới với các quý ngài trẻ của New York. Nàng nhanh chóng thu hút được sự ngưỡng mộ của các công tử hoang đàng phố lớn, từ tay chơi De Cicco, Igor Cassini cho đến Joseph P.Kennedy.

Nhưng tầm ngắm của giai nhân lại dừng lại ở ngài William Miles chững chạc, hơn nàng những 10 tuổi và là một doanh nhân. Nàng thuận ý kết hôn, và nhận ra mình chỉ đơn giản đã gia nhập một hãng đại diện tồi tàn và keo bẩn nhất trong lịch sử. Đức lang quân cương quyết bắt nàng phá thai, thâu tóm mọi món thu nhập của nàng, hàng tuần đích thân đến hãng nhận tiền lương của vợ và chi cho carmen 50 dollar mỗi tuần dằn túi. Nàng ly dị chồng ngay sau khi bé gái Laura ra đời, như nghiệp mệnh để lại từ mẹ nàng. Tóc nàng bắt đầu trổ bạc từ đấy. Đến tuổi 43, Carmen quyết định chấm dứt việc nhuộm tóc khi toàn bộ đã chuyển sang màu trắng bạc, cho nàng một vẻ uy nghiêm nửa như một nữ thần, nửa xa lạ như một loài linh thú diễm kiều, chính thức vĩnh biệt hình ảnh đằm thắm của nàng ballerina tóc mun.

Nhiếp ảnh gia cơ hội, một gã nghiện, và một xác chết

Không phải mất quá lâu để nàng lại khép cánh tình hồng hạc vào vòng tay nhiếp ảnh gia Richard Heimann sau chỉ 6 tháng quen biết. Thiếu phụ ngờ nghệch say sưa với cuộc hôn nhân mới và rắp tâm nghỉ hưu non để chuyên chú nghiệp tòng phu, và gã nhiếp ảnh gia cơ hội bỏ rơi nàng ngay tức khắc.

Chuyến sang sông lần thứ ba của nàng cũng diễn ra không lâu sau đó, với kiến trúc sư Richard Kaplan. Lời thề “cho đến khi nhắm mắt” trên thực tế kéo dài chưa đến 10 năm. Chàng hóa ra là một con nghiện hạng nặng, và họ chia tay khi Carmen khám phá ra việc đức phu quân lôi kéo cả cô con gái riêng của nàng là Laura vào vũng lầy ma túy. Về sau, Laura trở thành chuyên gia tư vấn cai nghiện có tiếng tại California.

Sau cuộc ly dị cuối cùng, giai nhân tuyệt vọng thất thểu trở về sàn diễn, và từ đó đến nay, dù vẫn dập dìu lên xuống vài chuyến đò tình tròng trành và chóng vánh, Carmen không còn rời bỏ sự nghiệp lần nào nữa – nàng dành sự chung thủy duy nhất cho điều sẽ không rời bỏ nàng. Và quả tình, sàn catwalk chưa thủy chung bền bỉ với bất cứ người mẫu nào như với Carmen.

Điều kì lạ là Bạch Mao Nương vị tình vẫn tiếp tục giúp đỡ các ông chồng của nàng ngay cả sau này. Nàng khuyên Ông Ba trở thành tay máy điện ảnh, chi trả mọi khoản để ông này trở thành đạo diễn, và cuối cùng thì phim Godspell cũng ra đời. Carmen xoa tay tâm đắc “Ít ra, có một số khoản đầu tư của tôi cũng có ích đấy chứ!”

Mãi đến cuối thập niên 1980, nàng rón rén thử thời vận một lần nữa với David Susskind – một host truyền hình lịch lãm. Nhưng quý ngài talkshow lăn ra chết trước ngày cưới, tưởng như chấm dứt mọi cố gắng cuối cùng của madame đa tình Carmen.

Nhan sắc lưu vong trong vòng tay tài phiệt

Cuộc đời người đàn bà có nhan sắc của mụ phù thủy hoạt hình ấy hẳn không hề là một chuyện thần thoại màu hồng. Nhưng tư chất kiêu hãnh tự tại, sự vô ưu khoáng đạt trong triết lý sống, mặc nhiên với mọi biến cố của số phận và con người ném về phía mình khiến người đàn bà trở thành một thánh mẫu uy nghiêm và vô nhiễm.

Không hẳn nàng là thể loại “lạc quan không khoan nhượng” với một niềm đam mê và tham vọng cào cấu bên trong để dằng dai bám trụ trong giới phồn hoa của thời trang cao cấp. Điềm tĩnh và thăng bằng hoàn hảo như một tư chất tối ưu của một vũ công ballet, nàng đào luyện cho riêng mình một nụ cười mềm mại, bí ẩn, nửa vị tha nửa mai mỉa vào mọi cú đá của số phận, nhưng vẫn ủy mị đàn bà đủ để thốt lên đầy sầu thảm “Than ôi, tôi biết làm gì khác đâu nào!”, rồi giang đôi cánh tay yêu kiều với những ngón dài hoa mỹ trong một dáng vẻ vừa bất lực, vừa sang cả đến cầu kỳ.

Nàng là nàng thơ của những cái tên khắc dưới chân mọi tượng đài, từ Horst, Avedon, Penn và Parkinson, cho đến thiên tài cổ quái Salvadore Dalí. Và nàng hẹn hò dan díu cũng với không ít trong số đó, mà nổi tiếng và ồn ào nhất là nhiếp ảnh gia Norman Parkinson. 41 tuổi, họ gặp nhau tại một bữa tiệc, ông khen rằng nàng “trông không đến nỗi nào so với một cái túi xương cũ nát” và khuyên nàng quay trở lại sự nghiệp người mẫu. Dalí tôn thờ nàng, còn “người đàn bà mặc quần và nhảy múa” Dietrich thì có lần lau dọn bếp cho nàng. Đó là một cuộc đời mà ký ức được nạm óng ánh bởi kỷ niệm, khuôn mặt và dấu ấn tài hoa của những siêu sao, thiên tài và huyền thoại.

Nhưng ánh hào quang của các tinh hoa thiên tài chỉ là thứ tài sản quá trừu tượng cho đời sống một bậc nhan sắc, còn những quý ngài trẻ tuổi si mê bộ môn tình ái với các quý bà độ tuổi mặn mòi lại không đam mê chiến tích cưu mang một nữ hoàng thất thế.

Nàng chọn đặt mình vào vòng tay tài phiệt. Trong những năm 80 và 90, Carmen thua toàn bộ tài sản vào thị trường chứng khoán, khánh tận đến mức phải đấu giá toàn bộ những bức ảnh quý từ thập niên 40, trao tất cả cho nhân tình là Norman Levy để đầu tư cho Madoff trong canh bạc chết người của thị trường tài chính. Trong suốt 12 năm, vợ chồng nhà Madoff cùng cặp đôi Carmen – Norman luôn thân thiết cặp kè cùng nhau như một gia đình hảo hữu tầng thượng lưu.

Có vẻ cuối cùng, Bạch Mao Nương đã tìm được chiếc áo vừa vặn, ấm áp và thừa lộng lẫy xa hoa để xứng hợp với mình: một người tình, và một nhà tư vấn đầu tư ngoại hạng.

Vụ lừa thế kỷ, và thứ tài sản không thể tịch biên

Levy mất năm 2005 khi 93 tuổi, để lại cho người tình cuối đời của ông là Carmen toàn bộ tài sản trị giá 244 triệu Mỹ kim, nhưng dưới quyền thừa hành và cai quản của hảo hữu Madoff.

Carmen khép cánh phù dung, sống an nhàn và vô ưu thụ hưởng trong sự tin cẩn tuyệt đối mà Levy dành cho Madoff – kẻ nắm trong tay vận mệnh tài chính của người đàn bà phù phiếm. Nàng Carmen âu sầu và đơn độc đều đặn đi ăn tối cùng người bảo trợ khôn ngoan và ân cần, nhưng những lần này không còn sự hiện diện của phu nhân Madoff.

Cùng lúc, thâu tóm quyền quản lý và đầu tư tài sản của Levy, Madoff dùng con số mê hoặc 244 triệu để thu hút hàng loạt nhà đầu tư thiêu thân khác vào vụ lừa lịch sử. Tháng 12 năm 2008, một nhà đầu tư khác, cũng là một quý bà đã gửi trọn tài sản tiết kiệm cả đời cho Madoff, gọi điện cho Carmen và cho nàng hay rằng Madoff đã thua đến đồng xu cuối cùng số tài sản khổng lồ của nàng cùng hàng loạt nạn nhân khác vào sàn chứng khoán. Yêu kiều, nàng thốt lên rền rĩ “Vậy là tôi khánh kiệt những 2 lần trong đời rồi đấy!”

Trắng tay, Bạch Mao Nương lại quay về với thế giới của những shot hình và catwalk, nơi nàng luôn được tôn thờ và chào đón, dù đang ở độ tuổi nào: “Tôi biết làm gì khác đây, khi những người đàn ông bỏ ra đi hoặc trở nên bất lực, hoặc chết? Làm mẫu là điều duy nhất tôi biết làm để tự nuôi mình, là lãnh vực duy nhất tôi am hiểu, và là thứ duy nhất khiến tôi hứng thú, nơi tôi yêu và được yêu lại”. Và cũng là thứ duy nhất thủy chung bề bỉ với nàng từ thập niên này sang thập niên khác.

Liệu tổn thương mà người tình quá cố để lại cho nàng – tay Madoff lừa đảo, có khiến trái tim già nua mệt nhừ của Bạch Mao Đại Nữ vĩnh viễn đóng cửa trước ái tình (dẫu chỉ trong tròm trèm 20 năm còn lại). Bạch Mao Nương lại lim dim khóe mắt bén ngọt viền chân chim “Nhà ngân hàng chắc sẽ lấy mất của tôi nhiều thứ. Nhưng không phải Tình Yêu”.

Tuy nhiên, lúc này có vẻ như Bạch Mao Nương đang không thuộc về vòng tay gã đàn ông nào cụ thể cả, nhưng chớ vội cho rằng đó là bởi dòng hormon hiếm hoi của tuổi dậy thì đã cạn kiệt trong cơ thể người đàn bà ấy. Khi được hỏi liệu dục tình đối với nàng khi này có còn là điều quan trọng, nàng hỏi lại “Thế thở có quan trọng không?”

Gần đây không lâu, khi được hỏi về một trong những bí quyết giữ vững chiếc vương miện nhan sắc trên đỉnh đầu kiêu hãnh, cụ bà kiều mị 80 tuổi đã hồn nhiên liệt kê ngoài những hãng kem thoa mặt và thực đơn chay tịnh là những buổi đánh golf cùng nhân tình trẻ, với tuổi đời chưa bằng một nửa của mình. Nàng đã học được thứ kiến thức ái tình khôn ngoan nhất của người đàn bà: si mê nhưng không tôn thờ, thụ hưởng nhưng không phụng sự.

Note lưu hương lộng lẫy tuổi 80

Áp lực nặng nề nhất cho một nữ cao niên 80 tuổi trong thế giới người mẫu “Đó là khi mấy tay designer đời mới cứ nằng nặc bắt tôi xỏ vào mấy cái quần da mà cả đời tôi không bao giờ mặc tới”

Nàng không than vãn, chỉ là “Bạn biết đấy, khi bạn ngấp nghé ngưỡng 80, áp lực không chỉ là nhan sắc, mà trên hết, đó là lòng tự tôn và danh dự – những note cuối cùng tinh túy nhất của nhan sắc đàn bà để dung nhan vào huyền thoại. Dẫu sao thì bản thân tôi cũng đã là một di tích sống rồi”. Thái độ thăng bằng và tuyệt đối quý phái của madame Carmen trong tình trạng khánh kiệt không khỏi nhắc người ta nghĩ đến một Marie Antoinette trên đường đến đoạn đầu đài, nhưng với Carmen, nàng tiến bước lên sàn catwalk.

Từ thời thủy tổ của nghề người mẫu, việc tuổi thọ các công dân catwalk vượt quá 24 đã là điều hiếm. “Thì tôi cũng nghĩ vậy. Tôi nghỉ hưu lần đầu năm 1959, hồi mới lấy ông chồng thứ hai được hai tuần. Ông ấy liền bỏ tôi vì điều đó, thế là tôi lại quay về với thời trang.”

Sẽ là sai lầm trầm trọng nếu cho rằng ẩn sau cốt cách quý phái ấy là một Carmen đầy tuyên ngôn bình quyền của thế hệ các nhà hoạt động đội đá vá trời và thô kệch. “Giải phóng phụ nữ hả? Làm ơn đừng giải phóng tôi được không? Tôi đã phải làm việc thật sự cật lực để đàn bà được như thế này. Tôi hết mình tôn trọng các bà các chị dũng cảm và giỏi giang ấy, nhưng làm ơn lắng nghe này, một khi bạn đã ở một độ tuổi nào đó như của tôi đây, làm ơn giữ lại cặp nịt ngực trên người. Năng động, tự do, với cặp nhũ thõng thệu thì cũng vẫn khó coi như thường”

Và nàng vẫn nghiễm nhiên là tượng đài sống của giới thời trang, từ các designer đến mọi siêu mẫu hàng thượng thặng. Nàng lộng lẫy, hào nhoáng, phù phiếm và tinh tế đến từng chiếc móng tay, nhưng đài các và tôn nghiêm như một nữ bá tước thời phong kiến trong bộ cánh thời thượng cầu kì, một chứng nhân sống sót của “kỷ haute couture” hoàng kim lừng lẫy.

Tất cả những điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với xuất thân bần hàn của cô bé còi cọc trượt patin đi làm thêm và tự may váy cho mình từ những tấm vải thừa. Vào những ngày đó, nàng và cô bạn chí thân là Suzy Parker – người mẫu cục cưng của Chanel, thường tha theo mình chiếc máy may trong những lần lưu diễn đến Paris. Họ say sưa ngắm nghía những vật phẩm xa xỉ của thời trang trong mọi buổi diễn, rồi về phòng khách sạn và tự may lấy cho mình những bộ váy tương tự, theo kiểu Paris, để mặc đến các buổi tiếp tân, dạ hội.

Hẳn nhiên, ngày nay, Carmen không còn phải tự cắt may xống váy cho mình nữa, nhưng có tới 5 chiếc máy may: “Bạn bè cũ, cứ chết đi là di chúc tặng lại cho tôi chiếc máy may cũ thuở cơ hàn của họ. Mà biết đâu đấy, nhà ngân hàng cứ gửi thư đòi tiền, lại dọa tịch biên căn hộ này của tôi bất cứ lúc nào. Có thể tôi sẽ lại cần đến chúng, quan trọng là sẽ vẫn có những buổi dạ tiệc cần xuất hiện cho tươm tất đàng hoàng. Có những thứ nhan sắc chỉ hoàng hoa vào cao trào của thanh xuân và phần số, rồi lụi tàn trong một thứ hương thừa héo hắt. Nếu là một loại nước hoa tỏa hương bền bỉ, bạn sẽ muốn những note cuối chỉn chu.”.

Chat với Carmen

Trí tuệ, nhan sắc, hay tài sản?

Tất cả. Nhưng theo thứ tự như trong câu hỏi.

Mơ ước thời thơ ấu của bà?

Hạnh phúc! Không đói. Và tự do.

Hầu như bà đã gặp, làm việc cùng, quen biết tất cả những tượng đài, vĩ nhân làng thời trang thế giới. Còn sót ai mà bà chưa gặp?

Madame Curie và Pierre Teilhard de Chardin

Hãy mô tả bản thân trong 3 từ.

Cao, bất hủ, khôn ngoan.

Vật gì bà luôn mang theo người?

Bằng lái, trong đó có ghi rõ tôi là người hiến xác, địa chỉ nhà mình, và chìa khóa.

Ai là người ảnh hưởng đến bà nhiều nhất?

1.     Mẹ tôi, nay đã mất

2.     Người bạn và chỗ dựa tinh thần suốt 64 năm là Eileen Ford, giờ đã 90 tuổi rồi

3.     Bạn gái thân suốt 58 năm Margaret Hoffman, giờ 95 tuổi và tinh thần minh mẫn hơn bao giờ.

4.     Sau đó là mọi quý ngài đã từng yêu tôi (sau cha tôi)

Nỗi sợ lớn nhất của bà?

Đạp vỏ chuối, trượt té.

Lần cuối bà nói yêu một ai đó là khi nào?

Cỡ 20 phút trước.

Lời khuyên tuyệt vời nhất bà từng được trao?

Hồi đó mẹ tôi nói “Thiên hạ đều có thể sai bét, và con luôn đúng!”

Trời ơi, bà mới chí lý làm sao!

đàn bà như hương…

by f.

Sự khác biệt giữa một dòng hương siêu phẩm và phiên bản tội lỗi của hàng nhái, dẫu trí trá tinh xảo đến mấy, vẫn  nằm ở cuộc đan xen ngoạn mục của những note hương trong một bản tổng phổ hòa hương vi diệu.

Với một dòng nước hoa siêu phẩm, mỗi tia bụi nước là cả một bản giao hưởng tài tình, một câu chuyện được “lắng nghe” bằng khứu giác và tiềm thức. Nó là âm nhạc, là hình ảnh, nó có những biến cố, những nút thắt oái oăm dẫn đến những cao trào đậm đặc huy hoàng.

Mỗi một loại nước hoa là một câu chuyện khác nhau, mà giá trị chắt lọc lại trong những note dư hương cuối cùng với ma lực ám ảnh dằng dai.

Khi dàn giao hưởng đã tấu hết note cuối cùng, sợi vĩ vẫn còn rung lên dư chấn khoái cảm, như chính sự run rẩy cuối cùng của từng tế bào khứu giác, ngân nga thứ âm nhạc vô ngôn của da thịt.


Người ta nói đến những thiên tài âm nhạc và văn chương, những kẻ đã tác tạo nên cho nhân loại những phần đời hoang tưởng để sống giàu hơn một số phần hữu hạn, để đi nhiều hơn đôi chân có thể, trải rộng hơn không gian đời người, phá mọi quy luật logic để thả mình vào một thế giới hoang đường trong vài trống canh thụ hưởng.

Nhưng không mấy ai biết đến những thiên tài về mùi hương – các perfumer, những sinh vật thượng tầng với khứu giác siêu phàm và gout hưởng thụ duy mỹ. Họ là những tay phù thủy biết tiêu khiển với tiềm thức, tái hiện những cảm xúc xa xỉ nhất của tinh thần lãng mạn và ký ức. Họ xâu chuỗi và sắp đặt các note hương vào những bản tổng phổ kỳ vĩ trong kết cấu 3 chương, được tấu lên vào khoảnh khắc chạm đến làn da, rồi thăng trầm những biến cố, li điệu suốt hàng giờ sau đó, để rồi lắng đọng, nhường chỗ cho những note cao quý sau cùng.


Một dòng hương thứ phẩm sẽ chỉ còn hăng hắc lớp hương bề mặt của loại nước tẩy mùi, chông chênh lấp liếm bụm che những dấu vết tố cáo thứ mùi bài tiết thật thà sống sượng. Cả hai sẽ trộn lại, trấn áp và tố cáo lẫn nhau trên cùng một bản thể.

Chỉ với một hợp thể kiêu hãnh của văn minh thời trang, người ta mới thụ hưởng được những note hương thượng hạng cho khứu giác – những điều đọng lại cuối cùng, tôn nghiêm và đầy ám ảnh.

Đối với một mùi hương, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài tối đa 8 tiếng.

Đối với một tuyệt phẩm đàn bà, sự ám ảnh ấy có thể kéo dài hơn cả 80 năm.

Có lẽ khi gã Maurice rậm râu, cha đẻ của dòng hương sến cách tân nhà Lolita Lempicka đã nghĩ về nàng thơ của danh họa Salvador Dalí khi thốt lên lòng ngưỡng mộ dành cho những người “đàn bà Hungary với sự kiểu cách của người Pháp”.

Bởi Nàng là một thứ xa xỉ phẩm của lịch sử catwalk thời trang, một tạo vật hiếm hoi mà Chúa trời ắt đã thiết kế nên trong tình trạng lâng lâng phê thuốc.

Với những cấu thành tinh túy nhất của xuất thân, nàng mang dáng dấp nữ hoàng của một vũ công Hungary và nét hoang dã bạo tàn của một tay hoang đàng người Ý.

Nhưng những thành phần tuyệt hảo đó đã không ủ nồng dậy men, nếu không có những thăng hoa và thống khổ đến tận đỉnh lẫn đấy, nếu không có những chê bai bỉ báng, những bận khánh kiệt khốn cùng để thấy tài sản duy nhất còn lại để làm nên một danh dự đàn bà – khả năng Yêu.

Và lịch sử thời trang đã cho nhân loại một người đàn bà như vậy – người mẫu 80 tuổi Carmen Dell’Orefice.

Mỗi người đàn bà là một mùi hương riêng biệt.

Mọi tầng hương đầu đều khoa trương, kiều mỵ hay diêm dúa.

Nhưng thời gian qua đi, vài giờ, hoặc vài thập niên,…

điều còn lại cho những note nhan sắc cuối cùng là danh dự, sự kiêu kỳ của tư chất tự tại, thanh tao và vô nhiễm.

 

Người ta sẽ thảng thốt nghiêng mình khi lặng người nhận ra note hương cuối mà Maurice nghiêm cẩn tác thành nên Fleur de Corail diêm dúa lại là những note trầm hương, với những ưu chất mà ông gán cho khái niệm đàn bà thượng đẳng: tôn nghiêm, xa cách, và gợi dục đến cầu kì.

 

Đàn bà như hương, sự suồng sã cuối đời sẽ bóp méo hình mạo đến nhăn nhúm mà rỉ ra thứ hương bài tiết.

Còn những quý bà chân chính – họ trải qua tuổi trẻ để tạc nên những khắc vạch tuổi già lên những phiến trầm hương.

ả di-gan xuyên thế kỷ

Túy Ca

Nếu chỉ là một diva với vẻ đẹp phù thủy và mái tóc huyền, có lẽ ngôi sao sự nghiệp của Cher đã tàn lụi từ sau cuộc chia tay với người tình huyền thoại Sonny. Nhưng ngay cả khi những diva hậu duệ lần lượt rời bỏ bầu trời sao trong hình hài suy kiệt, thì người đàn bà 66 tuổi ấy vẫn đều đặn dậy sóng showbiz: “Sự nghiệp tôi giống như trò xe điện đụng trong công viên. Tông vô bức tường thì tôi lại trở lui quẹo sang lối khác, ôi, tôi tông cả tá bức tường đủ loại. Nhưng tôi chưa bao giờ ngừng lại. Có lẽ đó là thứ chìa khóa quyền năng duy nhất của tôi: không bao giờ dừng lại”

Sonny & Cher – cặp đôi du mục

Có thể nói chàng tài tử điển trai Warren Beatty đã “mở hàng” tình ái khá mát tay cho cả cuộc đời hồng nhan lừng lẫy của Cher sau này, từ khi nàng mới 16 tuổi.

Cho đến giờ, nhìn ngắm nàng trên sân khấu, diễm lệ hay lòe loẹt với những bộ thiết kế quá trớn kiểu Bob Mackie, người ta vẫn không khỏi nhắc nhớ đến bản I Got You Babe mùa hè 1965 đã làm nên danh tiếng của nàng chỉ qua một đêm, ca khúc mà từ đó, sàn nhạc thế giới đã có cho mình một cặp song ca hippy hàng đầu Sonny-and-Cher. Họ gặp nhau khi nàng 16, chàng 27 và còn có tên là Salvatore Bono, và cùng nhau họ dẫm chân lên mọi nẻo đường thiên lý của showbiz, đầy đủ mọi cú hit lẫn những cú thất bại nên thân.

Họ cùng nhau hát vòng quanh thế giới, liên tiếp ghi điểm các cú hit để đời và xuất hiện trên mọi Tvshow đắt rate nhất của thập kỷ. Thoát khỏi hình ảnh một-nửa-kém-vía của cặp đôi huyền thoại, Cher làm mọi cách để trở nên trội bật hơn bên cạnh người tình-bạn diễn của mình. Nàng trở nên hoạt bát với những lời tuyên bố táo bạo rất chiều lòng công chúng trẻ chỉ chực làm loạn cuối thập niên 60. Với mái tóc mây đen thẫm, cặp mắt huyền luôn được tô đen, và chất giọng thổ khàn khàn, Cher có vẻ đẹp hương xa, nửa Đông phương huyền bí, nửa gypsy tiến bộ, khiến nàng được xem như một biểu tượng phong cách của thời kỳ dành cho các cô nàng choai choai bụi bặm, mắt quầng thâm hanh hao sau những đêm đi hoang “đốt cỏ”.

Cũng chính vào thời kỳ này, Cher trở thành vị đại sứ lăng-xê mốt quần palazzo ống loe về sau làm nên sóng gió thời trang toàn cầu đến mãi tận cuối thập niên 1970, cùng nững chiếc váy maxi hoa văn Mường Mán – thủy tổ của trường phái boho đến nay đã hình thành một dòng phong cách thời trang riêng biệt của những tín đồ thế kỷ 21.

Đó cũng là khi Sonny rút vào vị trí nhà sản xuất bên ngoài vùng sáng và Cher độc chiếm tầm ngắm spotlight với những album solo đặt nàng lên vị trí một trong những nghệ sĩ solo sáng giá nhất Hoa Kỳ thập niên 60, dẫn lối cho sự nghiệp truyền hình và điện ảnh của nàng.

Người đàn bà không mang họ

Sau vài cú tung bomb màn ảnh cine, Sonny and Cher bắt đầu tỏ ra lạc thời với dòng nhạc dễ nghe, trữ tình và quá đỗi lành mạnh cho những trào lưu đen tối, phù hợp hơn cho lối sống đốt cỏ đập đá liên miên của giới trẻ lúc bấy giờ. Các bộ phim Sonny sản xuất cho Cher cũng liên tiếp bồi thêm cho họ những cú thất bại thảm thương về tài chính.

Họ cùng nhau du canh đến lãnh địa truyền hình và ra mắt show truyền hình đầu tiên mang tên The Sonny and Cher Nitty Gritty Hour – một món cocktail lộn xộn vui tai vui mắt của thoại hài, tiểu phẩm trào phúng và ca nhạc. Với chương trình này, họ trở thành ứng viên cho 15 giải Emmy Awards. Ở tư cách hiện tượng truyền hình Mỹ, Sonny và Cher tái xuất sàn nhạc và lại ghi điểm hit oanh liệt với All I Ever Need Is You năm 1971 và A Cowboy’s Work Is Never Done năm 1972.

Lượng người xem rầm rộ khẳng định cú đánh bạc ăn may với lãnh địa truyền hình của họ đã nhắm trúng hướng. Bé gái Chastity Bono ra đời, như viên kẹo long lanh trang trí trên đỉnh một chiếc bánh kem ái tình viên mãn.

Năm 1975, sự nghiệp hoàng kim được đẩy lên đến đỉnh điểm bằng một thứ đòn bẩy mang tính nguyên tắc, chiến lược và quy luật của showbiz: scandal lộ hàng. Cher trong bộ cánh hơi hướm nữ hoàng Ai Cập do Bob Mackie thiết kế, với phần váy tụt trễ quanh xương chậu, khiến mỗi cú chuyển hông của kiều nữ mắt khói đều mang một nỗi đe dọa hân hoan với chiếc váy luôn sẵn sàng trượt khỏi vùng bụng phẳng để rơi không kìm hãm xuống tận cổ chân.

Chưa bao giờ trước đó trong sự nghiệp, một album hay một show truyền hình có thể mang lại cho Cher nhiều hàng tít trên các thể loại báo chí đến vậy. Được đà thắng thế, Cher liên tiếp xuất hiện với những bộ cánh ngày càng khiêu khích hơn. Những năm tháng tiếp theo đó là sự bành trước tuyệt đối của danh tiếng và phong cách Cher, cùng lúc với cuộc hôn nhân vào hồi rời rã với Sonny.

Nàng nghiễm nhiên trở thành ngôi sao sáng giá, trong khi chàng lu mờ trên màn ảnh, và lại bấp bênh trong vai trò nhà chiến lược gia đình.

Sonny và Cher chính thức ly dị. Chỉ 3 ngày sau, Cher kết hôn với tay nhạc sĩ Gregg Allman. Đây cũng là khi nàng giã từ những tình khúc hiện sinh trong sáng lãng mạn bao năm song ca cùng chồng cũ và quăng mình vào dòng nhạc rock, khi này đang được giới trẻ hoan nghênh hồ hởi hơn hẳn so với những bản tình ca. Ngoài bé trai Elijah ra đời một năm sau đó, họ còn cùng nhau cho ra đời album Two the Hard Way không mấy thành công. Một đứa trẻ, một album ế và 2 năm sau, Cher lại ly dị.

Năm 1978, nàng chính thức “biên tập” tên mình, thẳng tay ngắt bỏ mọi thứ thừa hưởng từ người cha tài xế xe tải, cha dượng và hai ông chồng. Thế là từ Cherilyn Sarkisian La Piere Bono Allman, nàng chỉ còn vỏn vẹn độc một tiếng Cher để định danh.

Disco, Rock, và cánh bướm tội lỗi

Năm 1979, Sonny and Cher hát bên nhau lần cuối trong The Mike Douglas Show với hai bản United We Stand và Without You. Về sau này, họ còn gặp lại nhau một lần nữa trong TV show đình đám của Letterman năm 1987.

Sau cuộc tái ngộ đáng nhớ ấy, Cher giã từ những tình khúc đầy màu sắc trữ tình thôn dã của một thời với Sonny và những bản rock lạc thời của ông chồng sau, nàng lập tức buông mình vào đại dịch disco và lại ghi điểm lẫy lừng, với bộ phục trang Viking thiếu vải trong shot ảnh bìa single Take Me Home. Ngay sau đó, album Prisoner, Cher lại xuất hiện hầu như hoàn toàn khỏa thân, mình quấn xủng xoảng xích nhợ. Cú ghi bàn trúng đích, các hội đoàn quyền phụ nữ la ó nàng ủy lạo thứ hình ảnh phụ nữ trong hình hài nô dịch, điều này đồng nghĩa với việc Cher trở thành celebrity ồn ào, đa sự và thành công nhất của thời kỳ.

Thoăn thoắt đón lỏng gout nghe nhạc thất thường của đám thanh niên hoang mang của nước Mỹ, Cher chỉ lưu chân lại lãnh địa disco không lâu. Với bản Bad Love như nụ hôn tạm biệt disco, Cher quay sang với rock, cùng cả một bộ sậu ban nhạc lấy tên Black Rose, cặp bồ với tay guitar Les Dudek và ra mắt một album thua bét nhè ngoài thị trường băng đĩa. Nhóm nhạc và cuộc tình tan vỡ vào năm sau đó.

Không đủ thời gian để thậm chí biến mất hay tỏ ra trầm cảm, Cher lập tức trở tay lái trực chỉ miền đất đã từng không chào nón nàng nồng hậu cho lắm – điện ảnh. Liên tiếp sau đó là 5 năm của sự nghiệp màn bạc rực rỡ, những vai diễn sáng giá và các giải thưởng danh giá, cho đến khi Cher tái xuất sàn nhạc vào cuối thập niên 80’s cùng album Heart of Stone, thân mình khoác tấm lưới trong veo, khoe hình xăm con bươm bướm thật oai trên mông. Khi này, việc xăm mình là một việc hoàn toàn xa lạ ngay cả đối với các ngôi sao chịu chơi nhất xứ Hoa Kỳ. Các kênh truyền hình ngán ngẩm từ chối phát hình video ca nhạc này của nàng, MTV lưỡng lự mãi mới dám rụt rè phát sóng vào sau 9 giờ tối. Nhưng 11 triệu bản album Heart of Stone được lập tức bán hết vèo trên toàn thế giới, và được mang ra ngắm nghía vào bất cứ giờ nào trong ngày.

Ngôi sao danh vọng muộn màng cho ông nghị Bono

Một ngày tháng Giêng 1988, khi đang ở London, Chastity đánh thức Cher dậy với một câu nói “Ba chết rồi!” Sau này cô con gái duy nhất của cặp đôi huyền thoại còn kể lại rằng “chưa bao giờ thấy mẹ tôi ngã quỵ và khóc thảm thiết như vậy”. Khi này Sonny và Cher đã ly dị được gần 23 năm.

Cher tức tốc trở về Mỹ, hình ảnh nàng nức nở mụ mẫm được tải đi trên sóng truyền hình khắp thế giới “đây là một điều tôi không cho rằng một ngày sẽ nguôi khuây”. Mãi 10 năm sau đó, vào 1988, cặp đôi huyền thoại Sonny & Cher được đặt ngôi sao mang tên họ lên hành lang danh vọng Hollywood Walk of Fame. Cher đến cùng phu nhân cuối của Sonny là Mary Bono, người thay mặt phu quân quá cố đón nhận ngôi sao danh vọng.

Không lâu sau cái chết của ông nghị Bono, FBI có chứng cứ cho rằng thật ra, Sonny đã bị đánh bằng gậy đến chết do nắm giữ các thông tin có liên quan đến đường dây buôn bán ma túy và vũ khí.

Tâm sự với tờ Vanity Fair, Cher cho biết chính Sonny đã nhìn thấy trước cuộc chia tay một khi tình nhân bé bỏng đã đủ đầy lông cánh “Một ngày rồi em sẽ bỏ anh ra đi. Em sẽ sống tiếp ngon lành và làm nên những điều vĩ đại.”

“Giá như anh ấy đừng quản lý tôi một cách chặt chẽ đến khắc nghiệt như thế, có lẽ tôi đã không ra đi”, Cher hơi tỏ ra hối tiếc khi nhắc lại chuyện cũ. “Với anh ấy, tôi như con ngỗng đẻ trứng vàng hơn là một cô vợ… Tôi tha thứ cho anh ấy, tôi nghĩ vậy. Anh luôn làm đau tôi, anh hơn là một người chồng – anh là một người chồng tồi, nhưng một người dẫn dắt tuyệt vời, một người thầy!”

Kiện tướng môn lái phi công

Tuy được biết đến như nàng thơ của chuyện tình bất diệt Sonny&Cher, Cher cũng có cho riêng mình một tình sử lẫy lừng với những người đàn ông, những vị vua, và nhất là các chàng trai kém tuổi – điển hình cho gout tình vị thất thường của nàng.

Dẫu khoảng cách pháp lý giữa 2 cuộc hôn nhân trong đời nàng chỉ là 3 ngày, nhưng về sau, Cher còn tiết lộ rằng giữa khoảng thời gian của 2 người chồng, nàng còn tranh thủ được một cuộc phong nguyệt chóng vánh xí hụt với Elvis Presley khi biểu diễn tại Las Vegas. Dẫu sao thì đó cũng chỉ là trò tán tỉnh vô hại (theo lời kể của Cher) đã được dừng lại đúng lúc khi nàng từ chối theo Elvis lên phòng.

Trong cuộc nói chuyện với chương trình Good Morning America, quý bà đa tình này đã tống tộc kể không chỉ về vụ đòng đưa với vua rock ‘n’ roll, mà cả với Marlon Brando, mà thời lượng lẫn phạm vi hoạt động của cái gọi là mối tình chỉ được giới hạn trong một chuyến bay. Danh sách nhân ngãi của những năm 80 hoang đàng còn có thêm Tom Cruise lẫn Val Kilmer, nhà sản xuất phim Josh Donen, Rob Camilletti – chàng thợ làm bánh 22 tuổi mà nàng gặp gỡ vào sinh nhật 40 của mình, họ sống bên nhau suốt 3 năm sau đó “Các mối tình của tôi thường kéo dài được vài năm. Cứ hễ tôi dính dấp tới một người đàn ông nào thì những anh chàng khác cứ vây lấy tôi, và ngay khi tôi độc thân trở lại thì hơn một nửa trong đám đó biến mất không sủi tăm. Đàn ông mê đàn bà đa tình thì là chuyện đương nhiên, nhưng bạn thấy đấy, không phải tay gà mái nào cũng có gan sở hữu một người đàn bà như vậy.”

Sang đầu hập niên 90, Cher giã từ phi công nướng bánh và lại dậy sóng tình với tay guitar của Bon Jovi là Richie Sambora trong hai năm. Trong suốt cuộc dan díu này, nàng vẫn đều đặn đánh đu tiên với Eric Clapton, Mark Hudson và tài tử Ray Liotta. Năm 2009 lắng dịu với độc một tay đua 38 tuổi là Tim Medvetz, và 2010 nổi bật nhất là mối quan hệ với nhà biên kịch Ron Zimmerman.

Ngoài một vài điểm nhấn sáng giá trong chiều dài tình sử, phần số đào hoa của Cher vẫn ứng nghiệm với các chàng phi công trẻ bị hút như thiêu thân vào sức rù quyến của quý bà có vẻ đẹp của một nữ phù thủy hoạt hình. Khi tham gia thủ vai chính mình trong Stuck On You, Cher đã thích thú với trò đùa của kịch bản khi mô tả nhân tình của nàng là một cậu nhóc trung học do Frankie Muniz thủ diễn. Quý bà lẳng lơ hôn người tình trẻ, nhắc chàng ngủ sớm “vì còn bài kiểm tra môn Vật Lý sáng mai”. Nàng nhún vai “có thể có một chút cường điệu về độ tuổi, chỉ để vui thôi. Nhưng những chàng trai trẻ, họ cố gắng nhiều hơn để tỏ ra xứng đáng với một quý bà, và lòng quả cảm đó khiến họ xứng đáng được đối xử như những người đàn ông trưởng thành hoàn hảo. Cuối cùng thì tôi không đi tìm độ tuổi của người đàn ông để yêu đương cho phù hợp. Điều quan trọng là độ tuổi của chính tôi mà họ cho tôi cảm nhận khi ở bên họ. Những chàng trai khiến tôi thấy mình trẻ trung hơn, thay vì phải trịnh trọng như một quý bà. Tôi không quan trọng họ là ai, làm nghề gì, danh giá cỡ nào hay bao nhiêu tuổi, tôi chỉ quan tâm đến việc tôi cảm thấy gì khi ở bên anh ta.”

Barbie Vĩnh Cửu và những cuộc hành xác li kỳ

Cher được các tín đồ tán tụng ngưỡng mộ không chỉ bởi khả năng biến hóa để “bao sân” trọn gói mọi hoạt động trong lãnh vực giải trí, khẩu khí nửa hài hước nửa bất cần, vị trí tiên phong của mọi trào lưu ăn mặc, tình sử rối rắm lâm li, mà còn bởi vẻ trẻ trung thách thức thời gian của nàng.

Có thể nói, Cher và Dolly Parton chính là hai tín đồ tuẫn tiết nổi tiếng nhất của ngành dịch vụ giải phẩu thẩm mỹ. Nhưng trong khi Dolly Parton ngày càng giống một cô búp bê cổ đại bằng vải nhàu nhĩ nhưng diêm dúa, thì Cher thành công hơn với việc duy trì phong độ nhan sắc trong những lần xuất hiện “bằng xương bằng thịt” trên sân khấu, trước ống kính theo dõi khắt khe của báo giới.

Cuối thập niên 90, tờ National Enquirer tung ra chùm ảnh của Cher chụp trong suốt hai thập kỷ, với một chuyên gia giải phẫu thẩm mỹ chỉ ra mọi phương pháp phẫu thuật đã được áp dụng chỉ riêng trên khuôn mặt nàng trong suốt thời gian này. Kết quả có được là một danh sách dài ngoằng các kỹ thuật cấy ghép từ lạc hậu đế tiên tiến nhất của y khoa, từ chất collagen trên đôi môi mượt mà căng mọng, những lần nâng căng da mặt để triệt tiêu nếp nhăn, kỹ thuật lột da để có được làn da trẻ con, và vô số những từ chuyên môn dễ làm rùng mình dân ngoại đạo. Nhìn vào loạt ảnh, người ta nhận ra việc Cher đã khéo léo thay đổi khuôn diện của mình trong suốt một thời gian dài với các bước được thực hiện rải rác cách quãng để xóa nhòa thành công vẻ đẹp sơn cước man dại hồi thập niên 60, thay vào đó là một khuôn mặt sắc sảo, kiêu kỳ theo lối Anglo-Saxon, đôi mắt mèo xếch ngược ma quái, cặp cánh mũi được cắt gọn, hàm răng được chỉnh sửa hoàn hảo tăm tắp như hàng quân danh dự Hoàng gia, và đôi vòm cong chân mày cao vổng tưởng như sắp chạm tận chân tóc.

Nhưng đó chỉ mới tính đến khuôn mặt, bên dưới chiếc cổ thiên nga cũng kinh qua vài lần nâng căng kéo duỗi là bộ ngực phồng xẹp thất thường theo từng gout thời trang của nàng qua mỗi thời kỳ. Thân hình tuyệt mỹ đến bất thường của Cher là một biểu tượng sống động nhất của sức chịu đựng phi thường của phụ nữ. Nàng có sơ sơ vài lần tháo lắp túi ngực mỗi khi có một kỹ thuật mới được tung ra, từ túi muối sinh lý đến túi silicon dẻo, từ mốt mổ rạch nhũ hoa cho đến trào lưu nội soi thẩm mỹ. Ngoài ra, Cher trải qua cả sự đau đớn của người đàn ông đầu tiên của nhân loại là ngài Adam, bởi nàng cũng từng bẻ đi một dẻ xương sườn của mình vì một mục đích cao cả và thiêng liêng hơn không kém, là có một vòng eo cao và nhỏ hơn. Và hẳn nhiên, cặp mông cũng chia phần trải nghiệm không ít lần tái chỉnh gia cố cho cái sự nõn nường căng mẩy.

Sau một thời gian dài mỏi mòn phủ nhận mọi thông tin về các cuộc phẫu thuật thẩ mỹ, cuối cùng, Cher cáu kỉnh đáp trả: “Láo toét hết, nhưng nếu tôi muốn cắm một cặp nhũ lên lưng mình thì cuối cùng, đó cũng là bộ nhũ của tôi và lưng của tôi!”

Trên tòa thân thể trứ danh ấy, nàng còn tiên phong với những hình xăm từ khi mốt xăm mình còn được xem là đặc quyền của các phạm nhân. Không hổ danh tín đồ phá luật, Cher trở thành nữ minh tinh Hoa Kỳ đầu tiên đam mê nghệ thuật xăm mình, và đối xử cực kì cẩn trọng với mỗi hình xăm được cân nhắc ghi dấu lên thân thể.

Không như kẻ hậu duệ Angelina Jolie, Cher không mang vẻ huyền bí của một đại tẩu giang hồ nhiều tâm sự. Những hình xăm của nàng không bị cài cắm quá nhiều tư tưởng hiền triết cao siêu về tôn giáo hay tín ngưỡng. Chúng được đối xử như những món trang sức tinh xảo điệu đà được chọn đeo vĩnh viễn lên làn da người đẹp – một thái độ xăm mình mà theo nàng, là một tâm thế nữ tính nhất để đưa mốt xăm mình vào thế giới thời trang một cách thuyết phục và đầy “thời trang tính” nhất: tức là không quá nhiều ý nghĩa nhân văn hay thần chú phương Đông, chỉ cần đẹp!

Trong lệ bộ xăm trổ của Cher, trứ danh nhất vẫn là hình bướm hoa khá to trên mông, một sợi dây mảnh tinh xảo quanh bắp tay trái, treo tòn teng ba món bùa hỏ: chữ thập Ai Cập cổ, thánh giá và trái tim, chữ kanji mang ý nghĩa quyền lực trên vai phải, một cụm họa tiết Art Deco trên cánh tay phải, bông hoa lan đen gần chỗ kín, và một bông cúc Nhật trên cổ chân trái.

Vài năm gần đây, thông tin báo chí lại cho biết rằng Cher đang lên quyết tâm… tẩy cho bằng hết các hình xăm trên cơ thể. Một số hình ảnh trong các show diễn gần đây của Cher cho thấy nàng đã thành công tẩy xóa một vài hình xăm cỡ nhỏ. Cher giải thích “hồi tôi xăm mình, chuyện đó còn được coi là ngầu lắm, chỉ có các cô gái hư thứ thiệt dám xăm mình là Janis Joplin, đám gái đua xe, và tôi. Còn giờ thì nó chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Ngày trước, đối với tôi, khi xăm mình lần đầu sau khi chia tay Sonny, điều đó cho tôi cảm giác thật sự giải thoát, một dấu ấn thật sự. Còn bây giờ, xăm mình thành trò trẻ ranh.”

Đàn-bà-hơn-cả-đàn-bà và thần nữ của tín đồ đồng tính

Nhắc đến diva của dân đồng tính, dân nghe nhạc thế hệ 80’s trở về sau thường nói đến ngôi Đồng nữ Madonna. Nhưng từ rất lâu trước đó, và bền bỉ cai trị cho đến tận bây giờ, thần nữ của thánh đường đồng tính thật sự vẫn luôn thuộc về Cher – người mà các thủ pháp phẫu thuật thẩm mỹ đã mang lại cho nàng một sự hào nhoáng kiểu cách, những điệu đàng phù phiếm quá tay cho phép nàng đàn-bà-hơn-cả-đàn-bà với chất giọng thổ trầm đục của đàn ông, và một thân thể gần như nhân tạo, đến mức không ít thế hệ fan âm nhạc lớ ngớ về sau nhầm tưởng nàng là một ca chuyển giới.

Nàng được fan âm nhạc đắm say, các giáo dân thời trang ưa chuộng, nhưng cộng đồng thật sự tôn ngưỡng Cher một cách tha thiết và ồn ào nhất là cộng đồng gay. Cũng chính họ là nhân tố tôn vinh nàng lên mọi ngai vàng ‘dân lập’ của giới showbiz, bên cạnh những giải thưởng danh giá về điện ảnh hay âm nhạc. Trước cả Đồng nữ Madonna, Cher đã và mãi đến tận bây giờ vẫn là người đàn bà hiếm hoi được yêu bởi những nam nhân cầu kì này.

Để được một xã hội gồm toàn những giám khảo khắc nghiệt với khiếu thẩm mỹ cầu kỳ đến vậy đồng lòng yêu quí tôn vinh trên toàn thế giới, đó chính là ngai vàng nhan sắc và phong cách tối cao mà không phải minh tinh làng giải trí nào cũng đạt được.

Trong suốt 4 thập niên, giữa những rừng sao non rồi sao tàn sao rụng, Cher tồn tại và tỏa sáng như thách thức mọi quy luật đào thải cay nghiệt của ngành công nghệ giải trí. Không chỉ với sự trợ giúp của dao kéo thẩm mỹ, mà còn là một sự vận động đáng nể của con thiêu thân tuẫn tiết nhất của ánh đèn sân khấu. Nàng luôn thoăn thoắt đổi thay, nàng di chuyển liên tục, thắng và bại, nàng hippie và rồi nàng lại rock, nàng tấu hài trên sóng truyền hình và nàng đắm đuối với tình ca Mễ Tây Cơ, nàng lập dị gothic rồi có lúc đỏm dáng với pinup phục hưng,… nhưng nàng luôn vận động, thoăn thoắt, và dòng vận động ấy bảo vệ nàng khỏi mọi cú trượt chân khỏi bầu trời showbiz đã sẵn dư thừa sao sáng. Mỗi dòng nhạc, lãnh địa hay phong cách thời trang của Cher là một tuyên ngôn khác của sự tự do tận cùng vô ưu nhất, nàng tham lam ham hố với mọi cuộc thử sức xa lạ, không chùn chân trước mọi nguy cơ của cơn mưa đá dư luận sẵn sàng xả vào bất cứ bộ hình hài quá tay nào, hay một bộ phim thất bại, một album không bán nổi vài ngàn bản. Và với chính sự an nhiên trước dư luận ấy, cùng với phong cách đàn-bà-trên-cả-đàn-bà, Cher trở thành hình mẫu hóa thân của một lực lượng đông đảo các tín đồ chuyển giới.Sự xuất hiện của Cher trong vai người đàn bà đồng tính trong phim Silkwood, cuộc hạ cánh vào lãnh địa nhạc dance và các hoạt động xã hội về nhân quyền của nàng trong những năm gần đây lại càng khiến cái tên Cher khắc sâu hơn trên đài vinh danh tối cao của cộng đồng gay thế giới.


Đòn chơi khăm của nghiệp mệnh giáng xuống giai nhân mắt huyền khi đứa con gái đầu lòng là Chastity Bono trở thành một trong các tín đồ của nàng, tuyên bố đồng tính và đổi tên thành Chaz Bono khi mới 17 tuổi. Cher thú nhận với báo giới sự đau đớn, nỗi sợ hãi và cảm giác tội lỗi như thể chính con gái mình đang trở thành hậu quả bởi hình tượng của người mẹ không-biết-đánh-vần-từ-sợ. Nhưng mất không quá lâu để nữ hoàng đồng bóng lấy lại tinh thần, chấp nhận lựa chọn của Chaz, và tuẫn tiết hơn nữa trong những tuyên ngôn, hành vi đấu tranh cho quyền bình đẳng của dân đồng tính. Nàng trở thành diễn giả cuồng nhiệt và sáng giá nhất tại cuộc hội nghị Phụ Huynh, Gia Đình và Bằng Hữu của Người Đồng Tính toàn nước Mỹ.

Năm 1998, Cher được vinh danh với giải thưởng GLAAD Media Award dành cho cuộc đấu tranh chống kỳ thị giới tính của bà, năm 1999, Cher vẫn nghiễm nhiên đứng vào danh sách 25 quý bà sành điệu nhất thế giới do The Advocate bình chọn. William J.Mann, tác giả cuốn Gay Pride: A Celebration of All Things Gay and Lesbian ca tụng rằng “Chúng ta rồi sẽ vẫn điên cuồng nhảy nhót với nhạc của Cher tại những hộp đêm thời thượng nhất ngay cả khi nàng 90 và chúng ta 60 tuổi. Cứ chờ mà xem!”

Trong cuộc bình chọn top 10 Thần Tượng Đồng Tính, dù đa tình và vẫn giữ ngôi vị kiện tướng môn thể thao chăn phi công trẻ, Cher vẫn bảo toàn ngôi vị nữ vương. Jimmy James tuyên bố “sau đại thảm họa toàn cầu, tất cả những gì còn lại sẽ là lũ gián và Cher.” Nhân vật Jack McFarland của serie truyền hình nổi tiếng về đồng tính giới Will & Grace cũng chọn Cher là thần tượng, và nàng được mời thủ diễn chính mình trong serie bất hủ này. Lần đầu vào năm 2000, Cher xuất hiện và Jack tưởng nàng là một trong những tín đồ đồng tính của Cher, và lần xuất hiện năm 2002, Cher trở thành Chúa trong giấc mơ về Thiên Đàng của chàng gay nổi tiếng McFarland.

Nghiệp mệnh của thần nữ Gay Diva

Trong khi bà mẹ trứ danh còn đang mải ca múa trước triệu triệu tín đồ đồng tính, hô hào cho khái niệm bình đẳng giới cho giới tính thứ ba, vinh danh niềm kiêu hãnh đồng tính, thì chính cô con gái đầu lòng Chastity, kết quả mối tình lớn với Sony Bono, đã không thể đối mặt với những kỳ thị xã hội Hoa Kỳ đương đại vẫn giành cho một người đồng tính nữ. Mọi thứ trở nên nặng nề hơn sau khi cô tuyên bố công khai xu hướng tình dục của mình khi mới 17 tuổi. Chastity quyết định đã quá đủ cho sự chịu đựng của mặt trái niềm kiêu hãnh đồng tính, và quyết định trải qua cuộc đại phẫu đau đớn để chuyển đổi giới tính hoàn toàn và trở thành chàng trai Chaz Bono.

Tưởng như những va chạm của quan niệm xã hội nhạy cảm ấy sẽ đầu độc mối quan hệ mẫu tử của Cher và Chaz, nhưng điều kì diệu đã xảy ra. Chính khi nằm bất động trên giường hậu phẫu, lích kích lang cang những ống truyền dịch và những vết rạch xẻ khắp cơ thể, Chaz cho biết anh đã như cảm thấy gần gũi hơn với những trải nghiệm của mẹ ruột qua những cuộc giải phẫu thẩm mỹ. Dẫu với nhu cầu níu kéo thanh xuân để trở thành người đàn-bà-hơn-cả-đàn-bà, hay để một người đàn bà trở thành đàn ông, không chỉ đơn giản là một cuộc thiếp đi trong phòng mổ. Ở tư cách người mẹ, người đồng hành, và Mẹ Cả Vĩ Đại của dân đồng tính toàn cầu, Cher tuyên bố “Chaz đã chọn một con đường khó khăn nhất, nhưng là một lựa chọn mà tôi ủng hộ. Tôi tôn trọng sự dũng cảm của con tôi, bước xuyên qua mọi sự mỉa mai đàm tiếu của dư luận, và dù không thể thấu hiểu, tôi sẽ đấu tranh để thông cảm. Giới tính và ngoại hình, tất cả rồi đều trở thành những thứ có thể bị can thiệp và đổi thay, ngoại trừ tình yêu của người mẹ.”

Nhưng sóng gió của bà mẹ Mỹ điển hình chưa dừng lại ở đó. Ngay khi Chaz đang say sưa thụ hưởng đời sống của người đàn ông thực thụ cùng hôn thê Jennifer Elia và tham gia chương trình Dancing With The Stars 2011, bác sĩ hân hoan báo tin vui – Cher làm bà nội-ngoại!

Đúng thế, cuộc đại phẫu chuyển giới đã không thay đổi “tất cả”, Chaz vẫn âm thầm giữ cho mình chức năng mang thai. Khi quyết định có con, Jennifer được cho là có thể trạng yếu hơn vị hôn phu nổi tiếng nên trách nhiệm được giao cho trụ cột gia đình.

Chaz hạnh phúc tuyên bố trước rằng nếu là một bé trai, đó sẽ lại là một Sony Bono. Cher hoàn toàn thích thú với sự kiện này, với điều kiện duy nhất là không được gọi nàng là “bà”, dù là “nội” hay “ngoại”.

“Nếu sáng mai mà tôi thức dậy trong cơ thể hình mạo một người đàn ông, tôi sẽ chỉ dãy đạp khóc la và cướp ngân hàng kiếm tiền làm lại, bởi tôi sẽ chẳng thể hình dung chính mình là bất cái gì khác – tôi là con gái!”, nàng thậm chí không hay gọi mình là đàn bà.

“Chaz giỏi hơn mẹ nhiều lắm. Tôi sẽ không bao giờ can đảm như con tôi. Đó là một cô gái, à không, chàng trai thông minh. Trời ơi, tôi vẫn lẫn lộn như vậy khi nhắc đến con mình.”

Cuộc chơi chưa đến lúc tàn

Album thứ 23 của Cher mang tên Believe vẻ vang nhận giải Grammy và trở thành dấu son trong sự nghiệp ca hát của nàng. Tháng Ba 1999, bản Believe ghi điểm tuyệt đối trên khắp 23 quốc gia, trở thành album bán chạy nhất trong năm và biến Cher thành người phụ nữ lớn tuổi nhất (khi này 52) ghi điểm tuyệt đối trong lịch sử Hot 100 rock era. Cher trở thành nữ nghệ sĩ duy nhất đoạt solo Top 10 trong suốt các thập niên 60s, 70s, 80s, 90s, và 2000s.

Từ dư chấn Believe, Cher tung ra Living Proof và ngay lập tức lọt Billboard 200 ở vị trí thứ 9 nhưng không vượt qua được sự thành công của Believe trước đó, dù được nghênh tiếp nồng hậu hơn tại Âu châu. Tháng Sáu cùng năm, không nản lòng với kết quả “tạm được” của Living Proof, Cher tuyên bố chọn Living Proof để thực hiện tour diễn giã từ sự nghiệp. Các tín đồ của nữ hoàng tóc mây mắt khói lặng người chờ đợi dấu chấm hết huy hoàng của một sự nghiệp 40 năm không tiền khoáng hậu.

Show diễn gồm cả những đoạn clip từ thập niên 1960s về sau, ghi dấu những bước thăng trầm của Cher trong mọi lĩnh vực, từ âm nhạc, điện ảnh đến truyền hình, loang loáng những diện mạo thay đổi xoành xoạch theo thời cuộc của lệnh bà không tuổi. Từ thời giai nhân sơn cước mắt khói, quần ống loe hippie và mái tóc mây rối, đến hình mạo khôi hài của những clip truyền hình nơi nàng vào vai Cleopatra diêm dúa, thời disco của những mái tóc xịt keo dựng đứng, áo da quần bó, hay những bộ trang phục trong suốt và bó sát của thời kỳ hoàn thiện thẩm mỹ, phô phang thân hình Barbie hồi xuân trong những bộ cánh bị ném đá.

Tour diễn đã thật sự trở thành lời giã từ… dần lân nhất lịch sử showbiz, sau khi ròng rã lưu diễn từ Mỹ đến Mễ, vòng quanh Canada đến châu Âu sang châu Úc. Đến đây, tour diễn được chính thức đổi tên thành Never Can Say Goodbye (Không Thể Nói Lời Từ Biệt). Sự thành công của lời từ giã ồn ào dài hơi ấy khiến Cher lại say máu chiến chinh. Đài NBC phát sóng liên tục chương trình Cher: The Farewell Tour Live và trở thành chương trình đắt view nhất 2003 với 17,3 triệu lượt xem, ẵm về cho nữ hoàng về hưu hụt một giải Emmy Outstanding Variety, Music or Comedy Special.

Album Live: The Farewell Tour được theo đà tung ra, cùng album The Best ăm 2004. Nữ Hoàng Hưu Trí, như mọi dự đoán, như con nghiện sân khấu khó cai, lại tái xuất năm 2008 với hợp đồng 200 buổi diễn trị giá 60 triệu Mỹ kim ký với đại gia Ceasars Palace ở Las Vegas và chấm dứt vào ngày 5 tháng Hai, 2011.

Người ta lại được nhìn ngắm lệnh bà tái xuất trong những bộ phục trang trứ danh của Bob Mackie. Tay viết phê bình thời trang Booth Moore của Los Angeles Times phải thốt lên “thế giới không còn sản sinh những style icon như thế này nữa!” Ngay từ đầu sự nghiệp, Cher đã có cho mình một tư duy giải trí hoàn hảo, khi mà hình ảnh luôn thay đổi đủ bạo tay để dẫn dắt trào lưu. Nàng không leo bảng phong thần top hit chỉ dựa vào số đĩa được ban ra. Nàng là cô Barbie sống, một giấc mơ thời trang sinh động thoăn thoắt dao động giữa danh hiệu đẹp nhất đến tận đáy danh sách những bộ cánh lố lăng nhất từng thấy trên thảm đỏ. Yêu hay ghét Cher, mặc kệ, người ta vẫn phải bất ngờ trước mỗi lần xuất hiện của nàng trong ngót nửa thế kỷ.

Năm 2010, Cher tái xuất màn bạc, rực rỡ trong bomb cine Burlesque cùng bản thu riêng cho bộ phim “Welcome to Burlesque” và ca khúc đầy thái độ “You Haven’t Seen the Last of Me” (Chưa Phải Là Lần Cuối Bạn Thấy Tôi Đâu). Chính ca khúc này một lần nữa ghi điểm tuyệt đối trong US Dance Charts, biến Cher thành nữ nghệ sĩ duy nhất liên tiếp ghi điểm tuyệt đối bảng xếp hạng Billboard trong suốt 6 thập niên. Tháng 10 cùng năm, nàng vĩnh viễn ghi dấu bàn tay trên nền cement trước nhà hát Grauman’s Chinese Theatre ở Hollywood. Hai tháng sau, tờ Glamour trao nàng Woman of the Year Lifetime Achievement.

Năm 2011, khi tin đồn Cher qua đời được tung ra, nàng mau mắn nhờ Diane Warren viết cho mình một ca khúc lấy tên RIP (ngàn thu an nghỉ), rồi tuyên bố trên mạng Twitter sẽ tiếp tục thực hiện một tour diễn vào tháng Chín 2012, mặc nhiên với lời giã biệt thống thiết và dài dằng dặc trước đó của mình.

Chỉ đơn giản là cô nàng hippie 66 tuổi ấy chưa thể dừng chân.

Thỏ Cột Nơ – “Dân Chơi” Xuyên Thế Kỷ

Túy Ca

Không phải người đàn ông nào lang thang trên bề mặt địa cầu cũng được dịp tận hưởng cảm giác trở thành huyền thoại ngay khi còn sống và vẫn vận hành khá trơn tru. Nhưng thực tế của một huyền thoại cũng là một thứ hoàn toàn không như trí tưởng tượng hào phóng bởi ánh hào quang.

The legendary man…

Trai tân 22 tuổi và cơ đồ đại nghiệp Thỏ Cột Nơ

Ông bà giáo Grace Caroline và Glenn Lucius Hefner ắt chẳng bao giờ ngờ rằng đứa con trai đầu lòng sẽ một ngày trở thành tay ma cô hùng mạnh nhất của hai thế kỷ. Hugh Hefner đã bắt đầu sự nghiệp báo chí từ nền nếp gia huấn thủ cựu ấy, không có phụ huynh ly dị, mẹ độc thân, hay những vụ lạm dụng tình dục – một môi trường vô nhiễm hoàn toàn với những điều cấm kỵ hay ho.

Một cách khôi hài, Hefner tự nhận mình là trường hợp “hoa tình muộn nở” khi thú nhận không hề thủ dâm trước 18 tuổi, và đến 4 năm sau mới chính thức nếm trái cấm lần đầu.

Cuộc phiêu lưu đầu đời đã đột ngột phá bung cánh cửa dẫn ra thế giới của cậu trai 22 tuổi. Say sưa, đầy ám ảnh lẫn hiếu kỳ, cậu cả nhà Hefner lao vào trang bị cho mình kiến thức từ những ấn bản được coi là đệ nhất dâm thư của Kinsey và những cuốn cẩm nang ái tình chuyên chỉ dạy mách nước các mánh khóe phòng the. Không chỉ với lòng đam mê dục tình, mà cả tham vọng của một ông trùm tương lai đã khiến Hefner hình thành những nét phác đầu tiên cho cơ đồ quyền lực mang biểu tượng Thỏ Cột Nơ.

Năm 1953, anh chàng Hugh kì cục bắt đầu cầm cố tống tháo đống đồ gỗ trong nhà được 600$ (hoặc là 800$ mà mãi về sau này, Hefner vẫn không nhớ được), thuyết phục thành công 45 nhà đầu tư để gom về thêm một khoản tiền 8000$, trong đó có 1000$ của bà giáo Grace đáng kính (tuy không mặn mà với ý tưởng Playboy của ông con cho lắm, nhưng bà thân mẫu lại tuyệt đối tin tưởng vào chính cậu trai cả ngông cuồng của mình). Với chưa tròn 10,000USD trong tay, Hugh Hefner đặt viên gạch đầu tiên cho đế chế Thỏ Cột Nơ.

Quả bom bìa huyền thoại & cách mạng đồng tính tiên phong

Thoạt đầu, Hugh Hefner muốn đặt tên cho tờ tạp chí của mình là Stag Party (tạm dịch: Đại Tiệc Trai Lơ), nhưng ngặt nỗi cái tên đó đã có người sử dụng, từ đó Playboy (Dân Chơi) được ấn định trở thành tên gọi của cả một thế lực truyền thông sau này.

Số đầu tiên xuất bản tháng 12 năm 1953, với hơn 50,000 bản cháy sạp với ảnh bìa hình cô đào Marilyn Monroe khỏa thân hơ hớ, bỏng rẫy trên tay các cậu bé bán báo và thiêu đốt khắc khoải dưới gối các gã thiếu niên khắp nước Mỹ.

Cho đến nay, đó vẫn được xem là một trong những shot ảnh bìa gợi cảm và lộng lẫy nhất của lịch sử Playboy. Nếu về sau này, lịch sử ảnh bìa tạp chí khiêu dâm chỉ cho người ta những vận động viên phòng gym, lõng bõng những túi dung dịch dưới da, với tinh thần như thể vừa bước ra từ phòng xông hơi của câu lạc bộ thể hình, thì quả bom vàng hoe Marilyn của ngày ấy, mây mẩy phồn thực, khóe mắt nhễ nhại tình, lại có cái đẹp của người đàn bà thật thà vừa bước ra khỏi cơn cực khoái.

Trong suốt hai năm sau đó, Playboy nghiễm nhiên trở thành một ấn phẩm được cánh tu mi nam tử nô nức đón xem hàng kỳ, với những trang báo tràn trề da thịt được hau háu lần dở, và xuất hiện tại mọi phòng tắm của nam nhân trai tráng khắp nơi. Năm 1955, tờ Playboy đăng tác phẩm The Crooked Man của Charles Beaumont, một thứ văn chương viễn tưởng dặt dẹo về một người đàn ông dị tính bị ngược đãi và lạm dụng tả tơi trong một thế giới đồng tính, với hàng loạt những chi tiết rùng rợn hay ho được đặc tả huỵch toẹt. Đây quả là một truyện kinh dị đối với những người đàn ông khỏe mạnh và thẳng tưng của nước Mỹ. Thư phản đối từ khắp nơi gửi về, các nhà phê bình lên tiếng cự nự. Hugh Hefner – vẫn thẳng tưng, khỏe mạnh và mê gái đẹp, điềm tĩnh đáp trả “Thật là một truyện bậy bạ quá lắm, ngược đãi và chà đạp dân dị tính trong thế giới đồng tính. Vậy thì ngược lại, ngược đãi dân đồng tính trong thế giới tưởng mình là dị tính, cũng thật là sai quấy không kém vậy!” Từ đó, tay ma cô vĩ đại của nước Mỹ chính thức trở thành người hùng thẳng thớm (straight) đấu tranh cho quyền bình đẳng của dân đồng tính, thậm chí có cả một bộ phim tư liệu về việc này, mang tên “Hugh Hefner: Playboy, Activist and Rebel” (Dân chơi, nhà hoạt động, và phần tử phiến loạn)

Mối tình, cuộc hôn nhân và cơn đột quỵ đầu đời

Tuy là cục cưng trẻ tuổi tài cao của sân chơi gái gú thừa mứa những cuộc tình cho không biếu không, một ngày đẹp trời năm 1949, gã ma đầu Dân Chơi cũng đĩnh đạc thắt chiếc nơ chú rể vào dưới cằm và hỏi cưới người tình từ thời hoa mộng là cô sinh viên nền nã Mildred Williams về làm vợ.

Họ đã nối dài cuộc tình từ thời kì Hefner phục vụ trong quân đội, sau khi chàng hồi hương, cô sinh viên thú nhận đã ngoại tình trong suốt những tháng ngày xa cách. Về sau Hefner vẫn còn nhức nhối nhớ về vết thương cũ: “Đó đã là khoảnh khắc khủng hoảng nhất đời tôi!” Nhưng điều này không dễ làm nản lòng Dân Chơi, một hôn lễ truyền thống trắng muốt và tiếp nối là 2 đứa con xinh đẹp, người vợ, với lòng thống hối, sẵn lòng cho phép chồng ngủ với nhiều phụ nữ khác, và kết thúc bằng cuộc li dị năm 1959.

Bước ra khỏi cuộc hôn nhân kiểu Mỹ, Hefner, như mọi người đàn ông thẳng thớm và khỏe mạnh khác, dấn thân vào cuộc tận hưởng mùi đời một cách triệt để. Hai chương trình truyền hình Playboy’s Penthouse (1959-1960) và Playboy After Dark (1969-1970) của ông cũng ủy lạo tích cực cho lối sống hưởng thụ của quý ông độc thân thành thị. Vừa háu tình vừa kén chọn, mỗi tháng Playboy có một Playmate (Bạn Tình) thì mỗi năm, Hefner cặp kè với 11/12 cô nàng Playmates mỡ màng ấy với chu kỳ thay mới, đương nhiên, là vào mỗi 4 tuần.

Rồi điều phải đến đã đến. Năm 1971, Hefner lần đầu trải nghiệm tình dục đồng tính, chuyển từ Chicago đến Los Angeles và tiếp tục trải nghiệm cơn đột quỵ đầu tiên vào năm 1985, ở tuổi 59.

Xuân đi Xuân đến rồi Xuân lại về…

Cú cảnh tỉnh có hiệu lực, Hefner giảm bớt nồng độ “Dân chơi”, kết hôn lần nữa với Kimberley Conrad và đặt vương triều Playboy vào tay con gái là Christie. Cũng từ đó, Playboy Mansion được chuyển thể từ một tòa đại hí viện ái tình để trở thành một siêu dinh thự thân thiện, vui nhộn nhưng ấm áp không khí gia đình văn hóa.

Đây không hẳn là điều giai nhân Conrad trông đợi ở đức ông chồng đã khét tiếng làng chơi. Họ quyết định ly thân trong tình trạng cả hai đều đã ngán tận cổ trò gia đình văn hóa và sinh hoạt điều độ. Hefner lại ngay lập tức xoành xoạch thay đổi các người tình cư ngụ tại Mansion, thậm chí ông có thể cùng lúc công khai có mối quan hệ với một loạt bảy người đẹp, đại diện cho các thứ trong tuần.

Một cách ngang nhiên trước mũi dư luận, các hội đoàn đấu tranh vì bình đẳng giới, và những quý ông thiệt thòi còn lại trên cõi văn minh, Hefner gây dựng cho riêng mình cả một hậu cung ngồn ngộn phập phồng những cô khối da thịt mắt tóc măng tơ, vui nhộn mà ông yêu quý đồng đều như một vị quân vương hào phóng, sung mãn và thấu đáo lẽ đời.

Từ đó, Playboy Mansion một lần nữa trở thành cõi địa đàng lạc thú của không chỉ các quý ông mà còn là viễn mộng của tột đỉnh xa hoa, phù phiếm và một thế giới vô lo trên đỉnh nhan sắc khiến không ít phụ nữ, thậm chí các cô gái nhỏ, ngấm ngầm thèm muốn. Dĩ nhiên, trong mọi hình dung tưởng tượng của họ, những vết nhăn trên khuôn mặt Ngài Hefner đều được xóa mờ tài tình và mái tóc bạc của Ngài, cùng chiếc áo choàng smoking jacket đỏ tía lại có một sức quyến rũ lạ kì của bá tước Dracula điệu nghệ, uy quyền của những ly rượu lâu năm và những bản tango cổ lỗ cầu kì.

Bí mật chuyện tình điệp vụ Playboy

Trong các thiên tình sử ngắn dài đủ kiểu của Mr.Playboy, với hàng trăn hồ sơ “đăng ký yêu” vẫn được tới tấp gửi về hàng tuần, thì cánh cổng Playboy Mansion và đôi vòng tay Hugh Hefner hẳn nhiên đã có lần đón vào lòng những con sói đội lốt thỏ.

Không phải là câu chuyện cổ lỗ về một cô nàng hám lợi, bởi bản thân hậu cung Playboy đã là nghiệp đoàn nữ công nhân khai thác mỏ.

Đây là câu chuyện của Gloria Steinem – con thỏ cảm tử. Là một nhà hoạt động đấu tranh vì nữ quyền, từ khi còn rất trẻ và sở hữu một vẻ hấp dẫn “đàn bà-trẻ con” rất thịnh dưới thời người đẹp BB, Gloria từng ngụy trang dưới…bộ da và những đường cong của chính mình để đến sống tại Lâu đài Khoái lạc một thời gian, dưới tư cách Playmate được sủng ái của Hef, và về sau công bố mọi sự thật về lối sống của Trùm Tình Dục ra công luận như một bản tố cáo giật gân và điệu nghệ.

Trong những tiết lộ về đời sống một Playmate, cô để lại cho giới truyền thông Mỹ thời lạm phát tình dục “Một phụ nữ  đọc tờ PLayboy sẽ thấy chẳng khác gì một người Do Thái đọc tạp chí Quốc xã vậy.”

Mãi về sau, trùm Dân Chơi già lão còn nhắc về cô – khi này đã là một nhà hoạt động bình quyền nổi tiếng, một cách vừa vị tha, vừa vị nể, như về một hồng nhan tri kỷ đặc biệt “đã có lúc tôi cho rằng đã có thể nảy sinh những điều thật đặc biệt giữa chúng tôi. Đó là kiểu một cô gái có thể trị đàn ông như huấn luyện thú nhỏ”.

Sở hữu quyền lực của lòng tự tại và một sĩ diện duy mỹ khắc nghiệt, Hef thừa tư chất mã thượng và vị tha để biến những lời lên án và đòn công kích mãnh liệt từ nữ điệp viên xã hội này trở thành trò vật nẩy màu mè thường tình nữ nhi.

Chỉ đến gần đây, bà úp mở với báo giới một tình cảm lưu luyến đặc biệt dành cho “con yêu râu xanh” Hefner.

Nhưng, không rõ với lòng kiêu hãnh hay với một sự mỉa mai cao thượng, ngoài những lời ca tụng và những cái xoa đầu đầy vị tha dành cho giai nhân ngày cũ, Hefner chọn chôn dấu bí mật giữa hai người vĩnh viễn đằng sau những bức tường, đáng tiếc là không biết nói, của tòa biệt điện Dân Chơi.

Hai bà vợ rưỡi và một chú chó

Cuộc đời một người đàn ông tốt số không phải là những chuyến phiêu lưu gieo giống hoàng tộc như nam nhân thiên hạ vẫn nghĩ. Bản thân Hefner, với phần số đào hoa đậm đặc của mình, lại là một bờ bến mỡ màng phù sa nơi những người đàn bà đến và đi, không chỉ là các bà vợ.

Chuyện động trời xảy ra khi 3 trong số 7 nàng Bunny rời tòa mộng lâu, Hefner không tỏ ra hụt hẫng quá lâu và lập tức tự bù đắp bằng cục cưng mới được sủng ái nhất là Crystal Harris và cặp song sinh đôi mươi xinh như mộng Kristina và Karissa Shannon. Chỉ riêng “Mối tình” với cặp song sinh tóc vàng đủ để Hefner trở nên đáng ganh tị hơn James Bond và Casanova cộng lại đối với mọi quý ông lão ấu trên địa cầu.

Hefner chính thức ly dị với Conrad sau 11 năm ly thân, khi người con út của họ vừa tròn 18 tuổi. Ngay sau vụ ly dị và cuộc chia tay với cả hai chị em nhà Shannon, vị hoàng đế đa tình quay qua trân trọng những gì còn lại – người tình được sủng ái nhất Mansion là Crystal Harris.

Mọi động thái phòng vệ nghiêm ngặt lập tức được áp đặt cho lâu đài lạc thú để ngăn chặn làn sóng “thỏ chiêu hồi”. Ông thú nhận điều này với tờ New York Times trong khi phàn nàn về thói lẳng lơ của bà phu nhân tiền nhiệm: “Tôi chung thủy tuyệt đối với Kimberly Conrad, trong khi bà ấy ăn vụng bất kể bữa. Điều này khiến tôi luôn bị ám ảnh bởi cảm giác già khọm và cô độc trong suốt cuộc hôn nhân.” Hef coi đây là nguyên nhân khiến ông rơi vào phản ứng cực đoan và lao vào những cuộc tình tay ba tay tư cùng lúc với nhiều cô gái khác, kết thúc bằng luật giới nghiêm lúc 9 giờ tối, áp dụng trong phạm vi Playboy Mansion cho cả 7 cô bồ. “Cho chắc ăn!” ông nói vậy.

Sự bồng bột ngây thơ không đáng có của chúa tể lâu đài Playboy đã trả giá rõ ràng, ngay cả với luật giới nghiêm 9 giờ tối: nàng Crystal từ hôn khi chỉ còn 5 ngày trước lễ cưới, mang theo mình chiếc nhẫn đính hôn trị giá 90,000USD, con xe Bentley xa xỉ, nhưng đau đớn nhất, là cả chú chó cưng Charlie.

Ngay vào ngày đáng ra đã được ấn định cho hôn lễ, tân nương hụt tung hê tiệc tùng be bét ở Vegas và tồng tộc vạch chuyện phòng the trên đài phát thanh “Thân thể Hef không hề làm tôi bị tụt hứng, bởi ổng có bao giờ dám cởi đồ trước mặt tôi đâu. Tôi thề chưa một lần nhìn thấy ổng khỏa thân!”

Ở nhà, vị hôn phu u sầu post lên Twitter “Sau tất cả thăng trầm vinh nhục, cái gì làm được đã làm, những điều có thể nói cũng đã nói hết, cuối cùng thì độc thân có lẽ là điều tốt nhất.” Phía dưới, ông cũng đã kịp thông báo thêm với các follower về việc tự bù đắp sự trống rỗng trong tim bằng 2 giai nhân mới là Anna Sophia Berglund và Shera Bechard vừa dọn đến hậu cung Playboy.

Ngày 26 tháng Bảy, trong cuộc phỏng vấn truyền hình với Howad Stern, Crystal Harris, non nớt và sống sượng với tuổi 25 của mình, ngô nghê bôi tro trát trấu lên vị cựu hôn phu đáng kính, tồng tộc kể về cuộc ân ái mà theo nàng là lần duy nhất và kéo dài chỉ 2 giây.

Quá nhiều cho một người đàn ông vừa bị phản bội và bị lột truồng trước công luận bởi chính người đàn bà mà chút nữa đã trở thành phu nhân.

Người ta hể hả cho rằng đây chỉ là một phần rất nhỏ hệ quả dành cho Hugh Hefner, sau ngần ấy thập niên lột truồng các cô gái trẻ trên bìa tạp chí.

Crystal say sưa với danh hiệu “cô gái bỏ rơi Hef”, lại tiếp tục sa đà “Lúc đó tôi hơi xỉn và nghĩ: Ờ thì thử chút có sao đâu? Đằng nào thì ông ta cũng từng làm tình đến ngán ngẩm ngập ngụa rồi. Cuối cùng thì hóa ra ổng trụ được đúng 2 giây, trước khi kịp ghi bàn vào vùng cấm địa”

Hefner đón nhận đòn tro trấu của cô vợ hụt với một thái độ nhẫn nhịn, khả kính và kẻ cả. Ông thậm chí còn tỏ ra thú vị với những gì đang diễn ra. Quả tình, Crystal đã làm rất nhiều để Hefner không phải cảm thấy quá tiếc nuối nàng cùng ý nghĩ gắn kết trọn đời.

Đoàn luật sư tóc vàng và đức tính trung thành của loài thỏ

Đến đây, người ta lại tìm đến cuốn tự truyện Sliding Into Home của cựu nhân tình Kendra với những chi tiết thâm cung giật gân về cuộc sống của nàng tại Playboy Mansion và bản thân vị chủ nhân tôn quý của nó. Bỏ qua những chi tiết về ma túy, nghiện ngập, nghề người mẫu khỏa thân và các hộp đêm thoát y mà người ta có thể tìm thấy trong bất cứ hồ sơ của diễn viên phim đen hạng xoàng nào, thì những chi tiết mô tả cái “lần đâu xao xuyến ấy” với Hefner đủ làm ngứa mắt các nhà mô phạm.

Kendra Wilkinson mô tả tỉ mỉ cuộc làm tình tập thể mà các cô gái xếp hàng chờ đến lượt, mỗi người được ân ái trong khoảng một phút và lại thay ca “Lúc đó tôi chẳng buồn quan tâm đến việc ông ấy bao nhiêu tuổi, cuối cùng thì các bộ phận cũng vận động đúng chức năng cơ học của nó mà thôi. Buổi sáng hôm sau, đích thân Hef xuống tận phòng để hỏi thăm tôi ‘Hello, my darlin’. Và tôi cảm thấy được ưu ái đặc biệt, thấy mình được yêu, và thấy mình xinh đẹp. Chẳng phải đó là điều mọi cô gái muốn cảm nhận từ người tình của mình?” Và Kendra quyết định dọn vào Mansion sống như một trong những tình nhân lâm thời của Hugh Hefner, khi mới 18 tuổi, một cách tự nguyện hoàn toàn.

Cùng lúc, phản ứng trước sự mạo phạm của con chiên ghẻ Crystal, các bạn tình mới cũ của Hef đồng loạt lên tiếng bênh vực và tụng ca khả năng thụ hưởng ái tình của hoàng đế Dân Chơi. Bạn Tình xứ Phù Tang Hiromi Oshima nói “Chỉ có một luật được áp dụng trong phòng ngủ của Hef – đó là không có luật lệ lề lối gì ráo!”

Còn Dani Mathers ở đài truyền hình Playboy TV thì khẳng định như đinh đóng cột “Hef là một bạn tình hoàn hảo! Mấy người may mắn ở Playboy Mansion thật sự ham vui như bầy thỏ háu tình, và Hef có một đời sống phòng the cực kì bận rộn.”

Kiều nữ Shanna McLaughlin vô tình vạch ra rất rõ sự cảm kích từ các người tình của Hef không liên quan lắm đến khả năng tình dục của Đức Ngài “Tôi thấy tất cả những chuyện này về Crystal thật đáng buồn. Hef là một quý ngài cực kì dễ thương. Ông hào phóng và chu đáo bảo bọc tất cả mọi người quanh mình, đặc biệt là những nàng Playmates. Ít nhất là vì lòng biết ơn, một số bí mật nên được giữ riêng chỉ giữa hai người trong cuộc.”

Sau đợt sóng chỉ trích của dư luận và các chị em thỏ, cuối cùng thì nàng Crystal vạ miệng lại tất tưởi lên sóng truyền hình ấp úng lời xin lỗi đại loại “ý tôi không thật sự chỉ là 2 giây…”

Điều an ủi cuối cùng cho Hef là rồi thì phu nhân hụt cũng thuận ý trao lại cho ông quyền nuôi dưỡng chú chó Charlie “Có lẽ Charlie hạnh phúc hơn khi sống ở đó, còn tôi thì an ổn ở ngoài này. Hef cũng rất nhớ Charlie, điều này tốt cho tất cả.”

 …and the Man

Bất kể mọi thứ vây quanh cuộc đời Hugh Hefner có biến ông trở thành “lão già dơ” bậc nhất của thế kỷ, thì sự sành sỏi ngầm của tay chơi trải đời và tinh thần ngạo mạn đến tĩnh tại và lịch lãm của một quý ông vẫn bao phủ quanh Mr.Playboy một ma lực quyến rũ say sưa mê hoặc, sần nhám nhưng nhưng đê mê thách thức như hàm ria của tài tử Clark Gable vậy.

Sau cùng, nhân cách ưu việt nhất của trùm Thỏ Cột Nơ vẫn là sự trung thành tuyệt đối với tư tưởng hưởng thụ duy mỹ và, trên hết, cho một trùm truyền thông, đó là Sự Thật – toàn phần không che đậy.

Tất cả những điều đó quá đủ để biến một ông lão thành một huyền thoại sống.

Ông già Hef đáng mến và sự quyến rũ của loài thỏ

Những người đàn ông khác vẫn thường cảm thấy khó hiểu trước lòng ưu ái mến mộ của nữ giới dành cho “cha già khú đế” Hefner. Một số sử dụng liệu pháp AQ tinh thần khi thuần túy cho rằng đó không khác gì là những cuộc bán chác sòng phẳng. Hẳn nhiên, Hef có thể là một người tri kỷ hào sảng, một người cha sành điệu để chiều chuộng, chăm dưỡng và bảo bọc hợp tác xã gái tơ cơ nhỡ, chứ không hẳn họ lao vào Hef với những hứa hẹn về một bạn tình cao siêu tuyệt xảo.

Một cách thông tục nhất, một cô nàng tóc vàng hoe mẫu mực phải ngay lập tức liệt kê được những quyền lợi của một thỏ cưng nhà Playboy: giá chót 1000USD tiền mặt dằn túi do chính ngài Hef đưa cho vào thứ Sáu hàng tuần, dịch vụ làm tóc chuyên nghiệp nhất và hoàn toàn miễn phí, xe hơi đưa rước, được chi trả toàn phần cho các ca bơm ngực, làm răng và trang phục dạ hội cho các dịp tiệc tùng quan trọng.

Và nếu đó là tất cả, thì Hefner không là người đàn ông duy nhất.

“Vậy thì đó là cái gì, cái hấp lực gì từ lão già tốt số ấy?” – những người đàn ông còn lại trên đời và các phóng viên tự hỏi.

Không chỉ những nàng thỏ non tóc vàng của vương quốc Playboy, những ả nhan sắc công khai si tình sùng mộ lão quái già khoác áo choàng đỏ tía ấy, mà lão còn tài tình quyến rũ luôn mọi đại diện đầy lý trí của báo giới. Các cuộc tiếp cận đều bị chinh phục hoàn toàn, dẫu đó là lòng ngưỡng mộ quyền lực tổng lãnh Playboy hay khoái cảm vị tha trước sự nhã nhặn của một quí ông đáng mến phía sau lớp áo phong lưu.

So với những hình tượng “bô lão trác táng” nổi tiếng của thế giới, tính cả những nhân vật điện ảnh và văn học, người ta ngỡ ngàng khi không tìm thấy ở Hef khuôn mặt bóng dầu nhớp nháp của Bob Guccione, hay mùi tục tĩu mỉa mai của Larry Flynt. Bù lại, Hefner sở hữu vẻ lịch thiệp nguy hiểm của Robert De Niro, dã tâm và trí tuệ của Anthony Hopkins, và sự dịu dàng hàn lâm của Al Pacino. Nói chung là một loại tội phạm huyền thoại, điều mà người đàn ông nào cũng muốn tiếp cận và người đàn bà nào cũng mong sở hữu.

Biến thái tiên phong và khiêu dâm kiểu bảo thủ

Hefner tỉnh rụi và hòa nhã đến mức không một đại diện báo chí nào bị nhắc nhở về sự khiếm nhã và lố bịch khi cật vấn một vị cao niên về năng lực tình dục của ông ta.

Ông Dân Chơi không có gì để trách cứ, ở cương vị làm chủ cả hai yếu tố truyền thông và tình dục để hợp nhất lại dưới hình hài một tờ tạp chí hàng đầu trong công cuộc tôn vinh ca tụng khoái cảm dục tình. Và ắt nhiên, đó là hệ quả mà Hef vui lòng đón nhận sau gần một thế kỷ xây dựng đế chế quyền lực và hình ảnh cá nhân trên thứ bản năng cơ bản và tối thiết của con người: SEX!

Mặc nhiên với mọi sự đánh giá về vị trí và vai trò của ông trong lịch sử thượng lưu, Hugh Hefner vẫn là một thể thống nhất của hai khía cạnh mâu thuẫn cùng cực nhất: kẻ bệnh hoạn tiên phong, nghiện dục một cách thật thà và lây lan rộng khắp, nhưng lại cũng là người đàn ông kiên định đến khắc nghiệt với truyền thống của bản năng con đực, cùng lúc tự nhận mình là lão già đa tình ủy mị dòng sướt mướt, luôn ngô nghê đau đáu tìm kiếm ái tình chính thống toàn ở những nơi rõ ràng là sai lè lè. Đó vừa là vị tổng lãnh khôn ngoan đầy mưu mẹo của một huyền thoại về quyền năng lá cải, lại cũng chính là vị gia chủ thiệp liệp của lâu đài khoái lạc, tông đồ duy mỹ chánh tông của mọi lạc thú cuộc đời, từ gái non cho đến điện ảnh Hollywood dòng kinh điển.

Ông hoang đàng, trác táng và khinh mạn chà đạp lên thuyết bình đẳng giới một cách hào phóng và khả kính. Cùng lúc, bằng từng cuộc ái ân, hay mỗi chiếc đĩa than cổ lỗ, điếu cigar được thưởng thức đúng điệu, Hefner lại dường như là con chiên sùng đạo và tri ân mọi món quà của Thượng Đế một cách tận lực nhất.

Hefner là một người đàn ông hiếm hoi trở thành một mật mã khó giải đối với nhân loại, và rất có thể, với chính bản thân ông. Suốt hơn một thập niên, Hefner kiên trì theo đuổi việc thực hiện hồi ký và cuối cùng quyết định vứt bỏ tất cả và nhún vai một cách hài hước: “Tốt hơn hết câu chuyện đời tôi chỉ nên được kể ra khi tôi không còn ở quanh đây, bởi rồi sẽ có lắm người cáu với tôi lắm, nếu phải một lần nữa nghe rằng thật ra đến tận tuổi này tôi vẫn yêu đương phấn khởi đều đều.”

Người đàn ông phía sau chiếc mặt nạ tai dài

Khó có một nam nữ minh tinh nào dám mơ đến việc đứng đầu tần suất quan tâm của truyền thông đương đại khi đã sống và nổi tiếng mỏi mòn gần trọn thế kỷ. Ngày 19 tháng Chín, đài NBC tung đòn The Playboy Club – serie truyền hình xoay quanh thánh đường khoái lạc của giới thượng lưu Mỹ, đã tồn tại từ 29 tháng Hai 1960. Ngay lập tức, chương trình lọt hạng 3 với 5 triệu lượt người xem.

Các hội đoàn giáo dục và xã hội lên tiếng, các bậc phụ huynh đầy quan ngại gửi thư cự nự đến tận hai nhà tài trợ Unilever và Chrysler yêu cầu ngưng phát sóng, hay chí ít là chấm dứt việc “hân hạnh tài trợ cho chương trình này”, còn chi sở của NBC ở Utah là KSL-TV thì thẳng thừng từ chối phát sóng. Quý Ngài chỉ nhã nhặn đáp trả “Nói thật nhé, thư quý vị, chiến dịch Chống Tình Dục của quý vị mới chính là thứ phủ nhận quyền năng nữ giới một cách mạnh mẽ và vô tri nhất!” Mặc cho những bà cô mãn thì của các hiệp hội ngoài kia có thương xót và phẫn nộ khi phải chứng kiến các nàng Thỏ bị cư xử theo chế độ đa thê và xem như thú cưng ra sao, thì đằng sau những bức tường hoa mỹ của Playboy Mansion vẫn tồn tại một thực tế: họ xinh đẹp, vô ưu, mỡ màng và no đủ.

Nội dung serie phim truyền hình Playboy Club xoay quanh vị luật sư do Eddi Cibrian thủ diễn và vụ một nàng thỏ lỡ tay giết chết một tay trùm mafia, với Hefner úp mở cho biết rằng kịch bản dựa ít nhiều trên chuyện đời có thật của ông lại càng khiến lượng view tăng rần rật.

Với tinh thần thắng thế lia lịa như vậy, từ một tạp chí khiêu dâm thuần túy, Playboy cùng logo thỏ cột nơ trứ danh lại lần lượt bán license cho các hộp đêm thời thượng trải dài từ Chicago, Lodon, Cancun, Las Vegas, cho đến tận sòng bạc Đông phương Macao. Người ta còn bắt gặp license thương hiệu nóng bỏng này trên tất thảy những gì muốn khoác vào mình sắc màu “sành điệu kiểu Mỹ”, từ kem nhuộm da, hộp quẹt gas, thảm chùi chân, ghế bành, cho đến các loại nước giải khát đáng lẽ ra chỉ là thứ nước đường có gas hiền lành chân chất. Với chỉ một cặp tai dài dựng đứng và chiếc nơ diêm dúa, tất cả đều lập tức được đeo vào một hấp lực sặc mùi nồng nặc hormon giới tính và một vẻ nhâng nháo trai lơ không bao giờ lỗi mốt.

Người ta thậm chí còn cân nhắc đến việc đưa kịch bản Playboy Club lên sân khấu Broadway, điều này đồng nghĩa với việc ngần ấy thịt da sống sượng sẽ được trình bày trong thánh đường kịch thuật hẳn hòi, hơn hẳn Victoria’s Secret Show một tầm với.

Trùm Dân Chơi Hefner vẫn khiêm nhường trước những cuộc bành trướng của quyền lực Thỏ Thắt Nơ: “Tôi chỉ giữ mình lại ở vai trò cố vấn và tham gia một số công việc có liên quan trực tiếp đến tờ tạp chí mà thôi.”
Hàng tháng, ông vẫn là người đích thân quyết định shot ảnh bìa, chọn Bạn Tình Của Tháng, quyết định về hình ảnh, biên tập một số chuyên mục định kỳ và duyệt các trang layout.

Chỉ vậy mà thôi, xuyên qua hai thế kỷ.

Ông già Hef tội nghiệp!

Vương triều (hay ít nhất 73% của nó) trên vai và một hậu cung bận rộn trên đùi, Hefner cho rằng mình đang ở vào thời kỳ sung mãn nhất trong đời “Liệu tôi có thể tưởng tượng bản thân mình ở bất kì nơi đâu, bất kì hoàn cảnh nào trong đời tốt hơn như thế này? Hồi nhỏ, ngay cả trong những hoài bão điên khùng nhất, tôi cũng chưa hề tưởng tượng được điều gì ngọt lịm đến thế này.”

Mọi thứ có thật sự ngọt lịm hoàn hảo đến vậy không? Câu hỏi đó vang lên trong đầu bất cứ người đàn ông nào khi nhìn vào những tấm ảnh ông lão Hefner lặn ngụp giữa bể đường cong nóng hổi. Hay phải chăng ông già Hef tội nghiệp cũng chỉ đang gân cổ huýt sáo yêu đời và thầm kín nuốt ngược vào lòng vài cục đắng cay?

Trong tòa biệt đài 21,000 feet vuông, với những bãi cỏ xanh mướt được tỉa tót công phu, những món nội thất xa xỉ đế vương đúng gout một nhà quý tộc Ăng-lê bảo thủ, là căn phòng ngủ khổng lồ ốp gỗ, một lối cầu thang xoắn ốc dẫn lên một thư phòng bừa bộn. Để nhìn vào đời sâu thẳm đời sống riêng tư của một người đàn ông, không gì trung thực hơn nơi phòng ngủ. Trong trường hợp của Hef, đó là một chân dung Hugh Hefner không đánh bóng mỹ miều bởi những hào quang và truyền thuyết. Và đó là đây – tâm bão khoái lạc, vùng riêng tư của Lãnh Chúa Ái Tình, là một đống bừa bộn hàng trăm con gấu bông, lò sưởi chạm phù điêu đầu Frankenstein dị hợm và một khẩu súng đồ chơi ưa thích hồi nhỏ của ông được phục chế, đóng khung treo trang trọng trên tường. Tứ bề là những kỷ vật nửa quái gở, nửa buồn cười, những mảnh cuộc đời của huyền thoại Mr.Playboy, được vứt bừa bãi khắp nơi, ở giữa là một ông già gần trăm tuổi, nhỏ thó, và vẫn vẹn nguyên là cậu bé được nuông chiều giữa đống đồ chơi của mình, ngô nghê thốt lên một cách thành tâm nhất “Tôi có thật nhiều bạn tình để tìm thấy một bạn lòng đích thực!”

Những mảnh ghép vương vãi khắp nơi ấy nhắc về một tuổi thơ phi-sóng-gió, không có phụ huynh li dị hay lạm dụng tình dục trẻ em, đó còn là những bài báo, những tấm ảnh các đời Bạn Tình nhà Playboy qua bao thế hệ được ưu ái cất giữ như những mảnh lá cải có giá trị tinh thần, và dấu vết của cả những giai nhân hảo hớn đã từng là thượng khách của vương quốc khoái lạc Playboy.

Những năm 1970 trôi qua hoang tàn với những cuộc viếng thăm thường xuyên của Warren Beatty, Jack Nicholson và James Caan, những cuộc làm tình tập thể thường nhật, da thịt, hơi nóng và trạng thái mụ mị trở nên thường xuyên đến thừa thãi, nhưng cũng không bao giờ là đủ.

Mỗi tuần, ông chủ lâu đài Playboy vẫn nhận được thư từ khắp nơi trên thế giới, không phải những lá thư tình, mà những bộ hồ sơ thực thụ, kèm hình ảnh, của những cô gái trẻ muốn đăng ký làm nhân tình của Ông Playboy. Hugh Hefner không hoàn toàn u mê lờ đi việc “nghi ngờ” rằng điều mà họ nhắm đến có chút liên quan đến hào quang quyền lực và cuộc sống vương giả nhàn hạ tại lâu đài Playboy: “Đương nhiên, nhưng cuối cùng thì người ta ngoài kia thật sự bị quyến rũ bởi điều gì?”

Hefner đọc qua từng hồ sơ được gửi hàng tuần, xem xét các bức ảnh và nếu thích, ông sẽ hồi đáp và mời họ đến chơi vài hôm. Như một phiên bản thu nhỏ của America’s Next Top Model, những cô gái giành được lòng sủng ái của ngài Hef sẽ được mời chính thức dọn đến đây sống.

Ngụp lặn trong hàng tấn da thịt đàn bà, Hef nhìn quanh và nhận ra ông hầu như không còn một người bạn đồng niên nào. Như gã Từ Thức tốt số vẫn tắm suối với tiên chợt nhận ra đã gần một thế kỷ trôi qua “Sống lâu đến thế này, đương nhiên, người ta phải mất mát nhiều lắm. Hơn nửa thế kỷ qua, tôi là chứng nhân có thể duy nhất còn lại lần lượt chứng kiến sự ra đi của những người đàn ông kiệt xuất nhất, những bạn bè đồng niên thân thiết nhất trong đời…”

Đó đã là lời nói buồn hiếm hoi của Hef với báo chí. Người ta bảo ông tránh được cái chết và sự già lão một phần bởi việc ngoảnh mặt quay lưng với thứ thực tế đáng buồn và hiển nhiên ấy của quy luật sinh-lão-bệnh-tử. “Không, sự sống sau cái chết đối với tôi hiển nhiên là điều bất khả tri. Tôi chỉ biết một thực tế là bà thân mẫu của tôi thọ tới 101 tuổi, và tôi thì không muốn phí thời gian vào việc lo lắng cho chuyện còn xa mới đến”

Thậm chí Hef hoàn toàn không có một sự chuẩn bị nào về người thừa kế đế chế Thỏ Cột Nơ. Cả hai người con trai còn quá trẻ tuổi và không có tí kinh nghiệm đáng kể gì về truyền thông lẫn tình dục, trong khi người ái nữ Christie đã từng có thời thay cha cầm vương trượng lại không hề tỏ ra thú vị với lãnh vực này và đã rời ghế CEO từ 2009, sau 27 năm kế vị.

Dân chơi lão thành và suối nguồn tươi trẻ

Bên cạnh những vụ lật đổ uy tín ái ân của Hugh Hefner, một điều khác mà không ít người khao khát rằng tuổi tác sẽ mang lại cho ông chính là… cái chết. 86 tuổi, được số phần ưu ái và đương nhiên là một playboy vô độ hạng tiên phong, Hefner dường như là một ca nằm ngoài luật bù trừ của Tạo Hóa. Hefner phạm luật, và như thế, ông ta cần bất hạnh trong tâm hồn, kém cỏi về sinh lý hoặc hấp hối, hoặc cả ba, và như thế thì những quý ông còn lại trên đời mới có thể tin vào sự công bằng của Thượng Đế.

Do đó, phát triển nhanh như nấm, dịch bệnh và các tin đồn, trung bình cứ khoảng 1 đến 2 năm một lần, người ta lại xôn xao tin Hefner sắp, hoặc thậm chí đã chết.

Lần cuối cùng là vào tháng Bảy năm ngoái, bắt đầu vào một ngày thứ Hai với những lời tường thuật cụ thể về cái chết thê thảm của Phú Hộ Ái Tình Hugh Hefner. Cụ Hef tức tốc lật đật xuất hiện trên Twitter trấn an các followers: “Những tin đồn về cái chết của tôi, như Mark Twain từng nói trong trường hợp tương tự, là một sự cường điệu sống sượng. Tôi đang nằm cạnh Shera (bé cưng mới của nhà Playboy), chính thức còn cục cựa và sống nhăn.”

Mới đây, ngoài 28 quốc gia phủ sóng phát hành, Playboy lại chính thức xuất hiện phiên bản Nam Phi, Moldova và Mongollia. Internet và đại dịch đồng tính nam đã khiến chú thỏ đeo nơ của Hef trở thành lão già cổ lỗ đối với một thị phần Mỹ đáng kể, nhưng ngoài kia, vẫn còn đó những quý ông thẳng tưng và khỏe mạnh.

Và với lời tuyên bố đó, giữa thế giới đại đồng phi giới tính, Hugh Hefner trở thành một bô lão đáng kính của làng dân chơi thủ cựu bài tân, đại diện của trường phái tình dục cải lương chuyên chính.

Nhiều người cho rằng sự thủ cựu kiên trinh ấy chính là nguyên nhân khiến ngài Hef, dù thời gian qua đi, nhưng độ tuổi của những người tình của Hef không hề thay đổi. Chỉ là những cô gái được thay mới để vẫn luôn là những cô nàng tóc vàng hoe, ngớ ngẩn, với độ tuổi dưới đôi mươi và vòng ngực sánh bằng tuổi tác của tình quân. Việc này không là ngoại lệ, như thể những chiếc áo choàng màu đỏ tía hoặc pajamas bằng satin đen thẫm, những bộ phim thời hoàng kim đen trắng, nghe chanson và các dàn big band thời 1930 – thú vui mà ông tìm được sự đồng cảm vô điều kiện từ chú chó cưng hơn là từ những nàng tình nhân trẻ tuổi.

Ông lão chăn thỏ may mắn đã tìm ra bí kíp của suối nguồn tươi trẻ, nằm thâm sâu bên trong thói tật thường tình: “trong quan hệ nhận-cho với một cô gái trẻ, nhất là những nàng tóc vàng hoe vô tư lự, tôi học rất nhiều. Tôi tái khám phá thế giới một lần nữa qua góc nhìn ngô nghê nhẹ tênh của họ, thấy vui thú và thanh tân lại từ đầu. Những cô nhỏ dễ thương ấy, họ là những thiên thần lẳng lơ, vui nhộn, và đáng chiều chuộng là vì vậy!”

Kha khá thập niên đã đi qua và Hefner trở thành một cụ già lẫm liệt, và những cô bồ vẫn ở tuổi đôi mươi. Nhưng họ, những tình nhân mãi mãi tuổi 20 ấy, 55 năm về sau có thật sự vẫn không khác gì thế hệ thỏ tiền phong: “Họ vẫn vậy, tức là không ai như ai, luôn luôn là vậy. Các Bunny sẽ luôn là những dấu ấn riêng biệt, từng người một và tất cả. Ngày nay, họ to cao mạnh khỏe hơn, chăm tập thể thao, sành sỏi cách tự chăm sóc bản thân, nhu cầu về dung tích silicone có vẻ cũng cao hơn, nhưng nhìn chung thì đó chỉ là những thay đổi của trào lưu thời cuộc. Về bản ngã, Pamela Anderson hay Marilyn Monroe quả tình không có quá nhiều khác biệt. Rất có thể bởi “khẩu vị” của đàn ông Mỹ, và cả thế giới nói chung, cũng không phát triển hay đổi thay chi lắm.”

Chính trị, lối sống và thời trang thì vẫn xoay vần đấy, nhưng đi vào cái cốt lõi của thẩm mỹ hưởng thụ, khi chúng ta tự do và trung thực hoàn toàn, thì cũng vẫn vậy thôi, ngày nào người ta còn khoan khoái khi cắm ngập răng vào quả táo hườm hườm mọng nước: “Những quả táo, được yêu thích bởi tất cả những lí do xưa cũ, chúng không nhất thiết phải quá khác biệt, tiến bộ và giàu cá tính. Bạn nghĩ thế nào, khi cắn phải một quả táo đầy thái độ? Hay một quả táo thông minh?”

Đối thoại với Mr.Playboy

Sau hơn nửa thế kỷ yêu đương, bài học lớn lao nào mà ông rút ra được cho lỗi lầm thường mắc phải nhất của đàn ông là gì?

– Không lắng nghe. Chúng tôi luôn tưởng rằng những gì mình đem lại cho họ đã là đủ: sự chiều chuộng, bảo bọc chở che và bất cứ món thứ phù phiếm nào làm họ thích thú, và vào cuối ngày, họ vẫn không hạnh phúc. Người đàn ông sẽ không bao giờ có thể tự nhận rằng mình đủ quan tâm đến người đàn bà của mình, hoặc những người đàn bà của mình.

Ông có hối tiếc gì, sau một cuộc đời lẫy lừng tiếng tăm như vậy?

– Tôi nghĩ quyết định cưới vợ của tôi đã là sai lầm đầu tiên, nhưng nếu không như vậy, tôi đã chẳng có những đứa trẻ. Nhưng mà ân hận tiếc nuối gì, khi thực tế cuối cùng, tôi vẫn đang thụ hưởng một số phận mà bao người khác sẵn sàng làm tất cả để có được. Vậy nên tôi biết ơn phần số, đôi khi tất cả cái gọi là Vận Mệnh chỉ nằm trong một cú tung con xúc xắc. Bởi quá ý thức ân phúc của mình nên tôi không thật sự muốn hối tiếc hay làm lại điều gì. Tất cả đều đã diễn ra trong quá khứ để tôi có được điều tốt nhất – Hiện Tại!

Vậy nghĩ theo một cách khác, nếu không là sự nuối tiếc cho chính mình, thì lời khuyên của ông với các cậu nhà về hôn nhân sẽ là gì?

– Tôi sẽ bảo chúng rằng đấy là cách tốt nhất để có những đứa trẻ và nuôi dạy chúng khôn lớn. Tôi cũng sẽ bảo chúng rằng nếu gặp được một người xứng đáng để chia sẻ suốt phần đời còn lại, thì đám cưới là một ý hay. Nhưng ngày nay, người ta sống lâu hơn nên những lí tưởng lãng mạn sẽ cần có nhiều cơ sở hơn để tồn tại ngần ấy năm dài.

Than ôi, chẳng lẽ trong 100 năm nữa, khái niệm thủy chung sẽ tuyệt chủng?

– Không, nó sẽ chỉ trở thành một trong những lựa chọn. Mà hình như ngay bây giờ thời thế đã là như vậy rồi.

Đối với Mr.Playboy, liệu còn có món lạ nào, mánh khóe ái tình nào mà ông chưa biết tới?

– Tôi nghĩ vậy. Xưa nay tôi vốn cầu thị và tò mò mà.

Ông có nghĩ đến cái chết?

– Có chứ, nhưng thường là không quá lâu.

Ông nghĩ sao nếu người ta bảo rằng đúng ra ông nên hành xử đúng cương vị một cụ già cao tuổi đáng kính hơn là tiếp tục chơi búp-bê và chăn thỏ?

– Bộ mấy người đó mới nghe tên tôi hay sao? Từ đầu tôi đã quen với việc bước qua những hạn chế của chủng tộc, giới tính, đẳng tầng hay tuổi tác rồi. Mặc nhiên với con số đại diện cho số lượng năm tồn tại của bạn, nếu như bạn còn khỏe mạnh thì tại sao lại phải cân nhắc? Dục tình không phải là cách tụng ca và tận hưởng đặc ân cuộc sống đó sao? Hơn ai hết, những bậc cao niên nên hiểu rõ điều này.

Ông có những khoảng lặng trong lịch trình hội hè miên man của mình?

– Ngoài những gì người ta thường tưởng tượng và đồn đại, thì cuối cùng tô vẫn là một nhà báo và biên tập. Đương nhiên, tôi luôn bố trí cho mình những khoảng lặng của cuộc sống, khi tôi ở một mình để viết lách và làm việc.

Vào những đêm không phải ghi hình cho các TV series, hay những bữa dạ tiệc trên giường, tôi vẫn tuân thủ một lịch sinh hoạt khoa học và chặt chẽ, lặp lại mỗi đêm trong tuần. Tối thứ tư chơi bài với em trai và bạn bè, thứ Sáu thứ Bảy là đêm của các tác phẩm điện ảnh kinh điển, còn các tối Chủ Nhật để dành xem những phim mới.

Hơn nửa thế kỷ của ái tình miên man và hàng trăm bạn tình, người tình và cuộc tình, cuối cùng thì điều mà Mr.Playboy vẫn không thể hiểu được về đàn bà là gì?

– Điều mà quý bà quý cô nào cũng thường nói mà đàn ông vạn đời vẫn không bao giờ hiểu đúng được, đó là “khiếu hài hước”. Có vẻ điều đó quan trọng với nữ giới lắm, bạn thấy đấy, 90% đàn bà đặt đó vào những tiêu chuẩn đầu tiên để chọn người tình. Và một điều khác không được họ thường xuyên nói ra, ít ra là trong buổi hẹn đầu, nhưng cực kì cực kì quan trọng, đó là “sạch sẽ”. Đáng tiếc, dù việc giữ vệ sinh cá nhân và phân biệt được những màn pha trò tục tĩu hoặc nhạt thếch hoàn toàn không phải là khoa học phân tử, nhưng có vẻ bao thế hệ đàn ông vẫn đang tiếp tục đi từ sai đến sai bét. Cuối cùng, và trên hết, đó là sự quan tâm, thật sự Quan Tâm đến người đàn bà.

người tô son lên gót đàn bà

Trác Thúy Miêu

“Một đôi giày hoàn hảo, một chiếc váy khéo cắt và một tình quân si mê – đó là tất cả những gì cần có để làm nên một người đàn bà đẹp.” Đó là một câu nói chỉ có thể được nói ra từ một vĩ nhân đã chết: Coco Chanel, Yves Saint Laurent hay Christian Lacroix hay ngài Dior.

Nhưng đó là một tông đồ… còn sống, nắm trong tay một đế chế phú vượng chỉ trong 21 năm. Mới đây, người ta lại vừa mới khai trương một boutique chánh hãng tại Việt Nam, để những cú nện gót điệu nghệ đóng dấu son mang chữ ký Louboutin có thể cùng lúc ghi dấu giữa lòng phố lớn Manhattan trải dài đến tận hòn ngọc Viễn Đông, hòa trong cơn sùng bái mê muội chung trên toàn thế giới.

Từ Những Đôi Giày Bị Cấm Đến Cô Gái Điếm Ở Paris

Cậu bé Christian sinh ra trong một gia đình với cha là thợ mộc, các chị em gái thích đi những đôi giày đế gỗ lóc cóc, và người mẹ hiền lành không hề là tín đồ của giày cao gót.

Những đôi giày với chức năng không chỉ để bảo vệ bàn chân chỉ bắt đầu đến với Christian Louboutin khi cậu 13 tuổi, cùng đám con trai cùng tuổi kéo nhau đến tiệm nhảy Le Palace. Trong khi những cậu trai hiếu kì ngắm thân hình các vũ nữ trên sân khấu, Christian ngơ ngẩn đắm đuối ngắm những đôi chân của họ: “Cho đến tận bây giờ, những đôi giày của tôi vẫn thấp thoáng dáng vẻ của Le Palace ngày ấy, cái thời của disco, với kim tuyến, và những mảnh kim loại”

“Việc lớn lên trong một gia đình mẫu hệ với mẹ và 4 chị em gái, tôi học về phụ nữ từ rất sớm: cách họ tự nhìn nhận bản thân, cách họ đưa tay chỉnh chiếc gương soi, v.v… Và tôi thấy bầu không khí, mọi thứ xung quanh họ – những người đàn bà, thật thân thuộc với tôi. Chẳng lạ gì, bởi họ sinh ra tôi và tạo dựng thẩm mỹ tiềm thức của tôi.

Như sáng nay chẳng hạn, chúng tôi kiểm định thiết kế một đôi biker’s boots. Tôi băn khoăn tự hỏi: Cái thể loại đàn bà nào lại muốn quấn quanh cổ chân mình hai miếng quai da dày cui như vậy chứ? Thế này nhé, nếu bạn có đôi chân mảnh dẻ, bạn sẽ muốn khoe nó ra. Còn nếu bạn có đôi cổ chân to như cổ lực sĩ, bạn lại càng không muốn nhân đôi thảm họa đó. Cả ê-kíp của tôi trầm trồ tiếc rẻ: ‘Nhưng đây quả là một thiết kế đẹp quá chừng!’ Rõ rồi, thiết kế đôi boots ấy quả là có đẹp, nhưng người đàn bà mới là thứ cần đẹp hơn đôi giày của cô ấy. Tôi là vậy đó, cái đẹp quyết định cho thời trang. Đôi giày không thể được coi là hoàn thiện chừng nào nó còn chưa được xỏ vào chân. Nếu khi đó, trông nó không còn đẹp đẽ như trên thiết kế, thì đó là một đôi giày tồi và một thiết kế thất bại.

Nhưng một trong những đôi giày hằn sâu vào ký ức Christian Louboutin lại được nhìn thấy ở một bảo tàng viện, nhưng không phải dưới dạng một mẫu vật được trưng bày, mà ở bảng nội quy treo ở cửa ra vào: “Cấm đi giày cao gót”. Cạnh đó người ta cẩn thận vẽ một đôi giày minh họa.

Bản vẽ và dòng chữ ám ảnh Louboutin, và ông bắt đầu vẽ những đôi giày. Ông vẽ đi vẽ lại đôi giày nhìn thấy trên bảng cấm nọ, rồi một ngày ông giật mình nhìn thấy chính đôi giày đó, hiện hữu hẳn hòi, dưới chân một người đàn bà đi dạo trong công viên ở Paris: “Tôi lẵng nhẵng bám theo chỉ để chăm chú nhìn vào đôi giày. Thật kì diệu: chúng đang ‘sống’, có thật, và chuyển động! Tôi như bị thôi miên và đi miết theo đôi giày (có người phụ nữ trên đó) cho đến khi bị người ta tống cổ ra khỏi công viên. Lúc đó tôi mới hay người đàn bà nọ là một cô gái điếm.”

Cuộc gặp gỡ ngoạn mục với đôi giày ấy đã ấn định rằng thời trang thế giới chuẩn bị đón chờ sự xuất hiện của một Christian Louboutin.

Không được trải qua việc đào luyện bài bản về mỹ thuật và thiết kế, thay vì như mọi nhà thiết kế cùng thời là chọn phụ việc cho một tiệm thời trang đương thịnh nào đó, Christian Louboutin, khi này 17 tuổi, xin được chân phụ việc trong phòng phục trang của tiệm nhảy Folies Bergère, giữa những nàng vũ công với những kiểu mũ cầu kì, những chiếc váy nóng bỏng, những lớp trang điểm công phu và những chuyển động yểu điệu được kiến tạo và nâng đỡ trên những đôi giày.

Christian Louboutin tiếp tục xin việc trợ lý với Charles Jourdan, Chanel và Yves Saint Laurent, và nhanh chóng nghỉ việc: “Tôi là một trợ lí tồi. Làm trợ lí là phải trợ lí, còn tôi chỉ muốn làm việc của mình theo cách riêng.” Và cửa hiệu nhỏ đầu tiên được mở ra ở một ngõ phố cổ của Paris, đến nay vẫn là sở hội chánh của nhà Louboutin, với niềm kiêu hãnh non nớt nhưng hùng mạnh “since 1991”.

Mật mã Louboutin: Pantone 18 Chinese Red

“Những bức vẽ đầu tay của tôi hồi đó luôn đầy màu sắc sặc sỡ, nhưng khi đưa đi thực hiện mẫu vật đầu tiên, tôi nhận chúng về, bên dưới là phần đế đen xì dày cộm. Ơn Trời, cô trợ lí của tôi lúc đó đang ngồi sơn móng tay. Tôi vơ lấy chai sơn, cô ta hét lên tru tréo: ‘cẩn thận, cái đó mắc lắm đó!’ Tôi phải hứa sẽ mua đền lọ khác, rồi sơn bừa màu đỏ thắm ấy lên đôi đế giày. Như một cú shock điện vậy, đôi giày như được hô hấp nhân tạo, chúng hồi sinh! Tôi đã nghĩ tiếp ra trò đổi màu đế theo từng mùa, nhưng cuối cùng, đỏ không chỉ là một màu. Nó là một thái độ!”

Theo nhiều cách diễn giải khác, màu đỏ là biểu tượng của máu, tình yêu, năng lượng cảm xúc. Nhưng với Louboutin, Đỏ là một thứ đèn xanh tâm lí, một sự mời gọi đầy cảnh báo. Nhưng sắc độ 18 trên bảng mã Pantone được mệnh danh là Đỏ Trung Hoa (Chinese Red), dưới tay Louboutin cũng là dấu hiệu của những bước chân đến và đi, hoàn toàn chủ động một cách quyến rũ. Như lời giã từ ngạo nghễ của các cuộc chia tay màu nữ quyền, trên nền ca khúc của Jennifer Lopez “Throwing on my Louboutins, watch these red bottoms, and the back of my jeans. Watch me go, bye baby” (Xỏ chân vô đôi Louboutin, dòm cặp đế đỏ nè, nhìn vào phía sau chiếc quần jeans. Coi em đi nè, chào cưng!)

Với ma lực và mãi lực của những cặp đế đỏ kì diệu, hẳn nhiên nhà Louboutin nhảy đùng đùng vác chiếu đâm đơn đòi kiện cho ra nhẽ nhà Yves Saint Laurent, vốn bấy lâu là hảo hữu, vì việc táy máy đưa cặp đế đỏ trứ danh nọ vào bộ sựu tập mới tung ra gần đây. Nhà Yves Saint Laurent cứng cựa vác bài bản ra cãi lại rằng đế đỏ có phải đâu riêng nhà nào, rằng thì là ai dùng chẳng thế, bởi thật sự ra chúng đã xuất hiện từ thời Christian Louboutin còn ở nơi xa lắm, cụ thể thời Louis XIV đâu đó những năm 1600, với chứng cớ rành rành là…bộ phục trang của nhân vật Dorothy trong phim The Wizard of Oz (sản xuất năm 1939).

Cả giới thời trang cự nự la ó trước viễn cảnh Christian Louboutin sẽ độc chiếm mã 18 bảng Pantone và thả sức phạt vạ bất cứ nhà nào sờ phải sắc đỏ này. Ít ra thì Picasso đã chẳng bao giờ đâm đơn kiện Monet tội xài màu chàm trứ danh “của” ông cho mấy bức tranh vẽ hoa súng, và thế giới vẫn được chiêm ngưỡng cả hai bức tuyệt phẩm hội họa.

Vụ kiện tụng đến nay chưa ngã ngũ, nhưng theo một cách nào đó, nhà Yves Saint Laurent cũng không tránh mối quan ngại rằng các sản phẩm của họ sẽ bị nhầm tưởng là mang nhãn nhà Louboutin. Trong giới thời trang đã có một sắc đỏ Valentino, phần số của “màu đỏ Trung Hoa” mã số 18 cũng mặc nhiên đã được định đoạt.

Phán xét cuối cùng không thuộc về tòa.

Điệu Tap Dance Ngộ Nghĩnh Của “Vua Đế Đỏ”

Christian Louboutin biến chuyện thường tình guốc dép thành tín ngưỡng bái vật, thành những siêu vật thể vượt chót vót trên tầm tính chức năng, rồi ông ghi luôn tên tuổi Lady Gaga cho đến Oprah Winfrey vào danh sách con nhang đệ tử, bản thân Christian Louboutin lại là một ông lão thủ cựu trong lối sống của riêng mình. Đồng nữ Madonna hay đả nữ Angelina Jolie có khiến cả thế giới trầm trồ khi họ trưng khoe những đôi Louboutin trước rừng flash cũng không khiến ông rung động bằng một phần khi biết rằng vợ của ca sĩ Johnny Halliday cũng ưng chọn hãng giày Louboutin. Ông tấm tắc khoe mãi “Bạn biết không, ở Pháp, Halliday nổi tiếng lắm đó!”

Ông dửng dưng cả với việc thứ tự và tần số xuất hiện của giày Louboutin so với Blahnik và Jimmy Choo trong siêu phẩm truyền hình Sex And The City. Khi được hỏi, ông chỉ lơ mơ trả lời “Tôi đồng ý tham gia vì người ta bảo điều này tốt cho việc kinh thương lắm. Tôi đâu có biết, bởi có khi nào tôi xem TV đâu!”

Điều này giải thích được sự dửng dưng của Christian cả với talkshow khét tiếng của Oprah Winfrey. Vốn là một tín đồ hạng nặng của Louboutin, Oprah xem đây là dịp để thể hiện lòng ngưỡng mộ đến bậc thầy đã làm nên phần rất quan trọng trong hình ảnh trang phục của Madame O’. Đối với mọi công dân Hoa Kỳ, việc làm khách mời của Oprah’s Show có giá trị tương đương với việc được phong tước hiệp sĩ nhân dân vậy, thế mà ông già hủ lậu người Pháp lại chối từ quầy quậy chỉ sau một lần quay vì “họ tới tận Paris bắt tôi ra quay ngoài trời. Lạnh quá, thế là tôi bị bệnh. Nên tới khi họ nghĩ tiếp ra trò tôi đến Chicago, tôi phát cáu: Bộ mấy người khùng hả? Tôi bệnh rồi đây này! Đừng hòng!”

Cách đây vài năm, khi được một nhà tên tuổi trong làng thời trang (ông từ chối tiết lộ danh tánh) mời về trong vai trò tổng lãnh sáng tạo dòng thời trang cao cấp, Louboutin gọi đó là một sự xúc phạm: “Bạn biết không, giày, chúng có nhạc, chúng có nhịp phách, thái độ, âm thanh, chuyển động,… như khiêu vũ vậy. Quần áo thì là chuyện khác. Nếu không làm giày, thì tôi còn bao nhiêu đam mê khác, làm vườn nè, tập nhảy, làm đạo diễn,… Còn thiết kế quần áo ấy hả?…” Ông làm một vẻ mặt đủ để trả lời câu hỏi tu từ đầy thái độ.

Sự khó chịu rất Parisian của Louboutin thật sự trở nên quá quắt khi chấp thuận việc cho ra đời búp bê Louboutin Barbie, với một điều kiện: nhà sản xuất phải bóp nhỏ lại đôi cổ chân thô kệch to tướng của Barbie.

Người ta rùng mình về sự táo tợn này đối với cô búp bê được coi là ốm nhom, dài ngoằng và hợp thời trang nhất trong lịch sử đồ chơi. “Làm ơn bình tĩnh đi, cứ như là cô ấy sẽ bị đau không bằng!”

Nhưng sự khả ái đầy tính dân chủ của Christian Louboutin lại được thể hiện một cách bất ngờ nhất. Trong khi nâng niu những cặp gót sen Vệ nữ, tình yêu của Louboutin dành cho Sarah Jessica Parker cũng trân trọng ngang ngửa với sự chiều chuộng chu đáo ông dành cho bất cứ người đàn bà nào khác.

Trong một lần xuất hiện tại đại lộ Saks Fifth ở New York, ông sẵn lòng hủy cả chuyến bay về Paris để bỏ hai tiếng đồng hồ hào phóng ký tặng lên những đôi giày cho khách hàng. Trong số những tín đồ chờ xin thủ bút của designer huyền thoại, có một người đàn bà thẹn thùa xưng với ông rằng bà “chỉ là một người bình thường làm nghề nội trợ”. Christian Louboutin đã trân trọng ghi tặng lên giày cho cô này dòng chữ “Tặng bà nội trợ quyến rũ thân mến của tôi”. Một cô dâu trẻ tìm đến xin chữ ký, Louboutin lém lỉnh và chu đáo chụp lấy cây viết màu xanh và ký tặng “Cái này là cho một món màu xanh” (theo tục lệ, mỗi cô dâu về nhà chồng phải có trong mình một món đồ cũ, một món đồ mới, một món đồ mượn và một món màu xanh)

Christian Louboutin, với niềm đam mê hạng nhì của mình là du lịch và làm vườn, chỉ cảm thấy an toàn và thoải mái nhất giữa cây kiểng các kiểu, mấy môn thể thao nhè nhẹ và một chút khiêu vũ, đặc biệt là thiết hài, đương nhiên, là với đôi giày nhảy hiệu Louboutin. Khi ông xuất hiện trong clip khiêu vũ của Fashionair với đôi giày nhảy dát đá óng ánh và lấp lóa cặp đế đỏ sau mỗi bước tap dance, khuôn mặt rũ bỏ vẻ lãnh đạm kiêu kỳ rất “dân thời trang Paris”, chỉ còn lại một người đàn ông trung niên hạnh phúc như đứa trẻ, nhẹ tênh và đáng yêu đến mủi lòng. Khó lòng mà tưởng tượng được rằng gã đàn ông với điệu nhảy cổ lỗ sĩ ấy lại chính là bộ óc kì tài của trùm thiết kế vũ khí dụ tình. “Tôi chưa bao giờ ôm mộng trở thành một phần của thế giới thời trang cả, tôi chỉ muốn thiết kế giày. Thậm chí đến khi lớn lên tôi mới biết Vogue là tên một tờ tạp chí”

Đế Bằng, Guốc Gỗ Và Những Cơn Khó Ở Của Christian

Trong nghệ thuật rù quến, giày là một khí cụ tối thượng không thể bỏ qua, Christian Louboutin, hơn ai hết, hiểu rõ điều này. Và đó là nguyên nhân vì sao phụ nữ rên lên trước những đôi giày đế đỏ của ông – bản năng chiến binh khiến họ có thể đánh giá được ngay lập tức món vũ khí đắc dụng. Và để sử dụng giày như những món vũ khí một cách điệu nghệ, người ta phải học. Một cơn rùng mình khủng khiếp sẽ giáng vào nhà Louboutin nếu một quý cô tìm đến với ông và than vãn sao giày quá cao, sao đường viền quá mảnh mai chênh vênh. Với Christian Louboutin, không đôi giày nào là quá cao.

Để giải thích một nỗi ám ảnh trứ danh về những cặp gót cao và lòng miệt thị với đế bằng, Louboutin cho rằng “Bản thân hình dáng và độ cao khác biệt của chiếc gót giày đã đại diện rất nhiều cho nữ chủ nhân của nó. Chỉ với sự nâng cao của gót chân, một động tác đơn giản đến vạy, đã là cả một cuộc tổng quy hoạch han thể, như một cuộc đại phẫu thẩm mỹ vậy. Những lòng bàn chân duỗi thẳng đến uốn cong, những múi cơ đùi bị giật căng, vòng mông vươn cao và gom chặt, cứ thế, những phần cơ thể được tuần tự đặt vào trạng thái của một con mèo vươn vai, dài muốt đến từng ngón tay, và tuyệt đẹp. Những cặp gót, chúng cũng có âm nhạc, những âm thanh rất riêng nói lên rất nhiều về thái độ của nữ chủ nhân, gợi ý về tất cả những chuyển động thân hình ly kì phía trên nó. Hãy nhắm mắt và lắng nghe những tiếng gót giày, chúng biết nói, rất nhịp nhàng và trung thực. Tôi có thể chỉ lắng nghe mà biết đó là pump, boots, gót cao hay gót kitten, gót cuban đặc hay slimheel mảnh dẻ. Tôi “nghe” được cả cái cách mà phần mũi giày ôm lấy các ngón chân ra sao… Cũng như âm nhạc, cũng có những thứ chói tai. Tôi đặc biệt ghét những đôi guốc. Tôi mà làm vua là tôi ban hành lệnh cấm ngay lập tức. Một thứ tạp âm lóc cóc, và roèn roẹt kéo lê khô khốc, lỏng lẻo buông bỏ khỏi những lòng bàn chân. Không dễ thương chút nào, như thể người đàn bà sắp bị tuột khỏi những cặp thiết bị đi bộ bằng gỗ ấy.”

Sexy và đế bệt? Không thành vấn đề. Bởi chiều cao của gót không định đoạt độ “hot” của quý bà! Nhưng đừng mong tìm được điều đó ở những đôi sneaker thân thiện. “Jane Birkin đã từng làm điều đó trở thành hiện thực hồi thập niên 1970, nhưng huyền sử không lặp lại với những đôi sneakers super-techno hiện đại. Những thứ đó nói lên rất nhiều thứ về cá tính, thái độ, tuổi trẻ, sự sung mãn, tính năng vận động,… nhưng tuyệt nhiên không có bất cứ nét nào sexy ở những thiết kế như vậy cả.”

Một trong những điều hành hạ Christian Louboutin còn là trường phái Total Look, với những diva vận nguyên con cùng thương hiệu “Cả hình hài họ như đang đồng loạt biểu tình, dương cao biểu ngữ hàng hiệu và thét lớn tên nhãn hàng. Khủng khiếp. Kinh tởm. Không có gì phản nhân văn hơn thế, đi ngược lại văn minh cá thể như thế! Một tội ác của sự ấu trĩ!”

“Đàn bà Pháp, đúng hơn là đàn bà Paris, là những quý bà kiểu cách và tao nhã. Điều này một phần nhờ vào lịch sử cả trăm năm trải dài những tiệm may, những nhà thời trang, những tên tuổi couturiers lẫy lừng điệu nghệ. Quý bà quý cô ở đây luôn có sự lựa chọn, họ không bao giờ cam chịu làm nạn nhân trung thành của một tiệm duy nhất giữa hàng vạn chào mời của những cung lộ mua sắm hào hoa nhất hành tinh. Nếu giữa Paris mà tôi va phải một bà vận nguyên cây Chanel thì đừng mong thuyết phục tôi rằng bà ta là một diva Paris ái quốc, bởi đó chắc chắn phải là một khách du lịch đến từ phương xa. Rất xa.”

Vậy liệu đối với Louboutin, có đôi giày nào là quá cao?

“Chắc là phải có chứ! Nhưng tôi không đi giày cao gót, tại sao lại phải quan tâm? Tôi ngắm, và kiến tạo nên thứ nhiều người thích ngắm, lựa chọn là của phụ nữ, còn ý kiến của bạn là gì?”

Cơn Cực Khoái Của Lòng Bàn Chân

Đã từng một thời, nước hoa và mỹ phẩm là vũ khí tài lực tối ưu của thế giới thời trang, giữ kiên cố thịnh vượng cho bao đế chế haute couture và các thiết kế phi-thân thiện. Rồi sau đó là thời của jeans và thời trang dân chủ để duy trì sức sống của thượng tầng thời trang. Còn bây giờ là thời của giày và túi xách – những quả bom tấn có thể định đoạt mãi lực sống còn cho mọi quyền lực thời trang xa xỉ. Christian Louboutin, song hành cùng Manolo Blahnik và Tamara Mellon của Jimmy Choo trở thành bộ tam đa hùng mạnh trấn giữ thị trường giày siêu thượng hạng, nơi những đôi giày có giá trị và ý nghĩa ngang tầm viên ngọc to nhất trên chiếc vương miện thẩm mỹ và đẳng cấp phải được đội kiêu hãnh trên đỉnh những cái đầu vương giả. Đứng giữa thái cực vừa cầu kì đến cực đoan, vừa đơn giản đến thô sơ của Blahnik, và vẻ diêm dúa đỏm dáng hoàng kim của Jimmy Choo, những đôi giày của Louboutin chỉ có một thông điệp duy nhất, thật thà và nặng ký: Sex!

Từ phong cách disco, những đường lượn thót tim nơi ức hỏm của lòng bàn chân nhạy cảm, cho đến sắc đỏ dập dồn ẩn hiện như một thứ mạch máu căng phồng lập lòe đâu đó sau mỗi bước sải diva, khiến người ta vẫn phải chiêm ngưỡng nàng từ phía sau với những uốn lượn vòng vèo muôn phần sinh động phía trên. Tất cả những thứ đó, không cần là một triết gia để thấy một chữ SEX đỏ chót được viết hoa.

Người ta có thể dễ dàng nhận ra một quý bà trong đôi giày Louboutin: nàng có dáng bộ yêu kiều chuẩn mực, và nàng hầu như không di chuyển quá nhiều.

Trên một đôi Louboutin, dù là dát cườm, quấn nơ hay đơn sơ một lượt da hảo hạng, người ta không có nhiều lựa chọn nào khác ngoài việc duỗi chân thẳng căng, ép sát các ngón chân đến ngặt nghèo với những bước chân được thực hiện theo điệu bộ một con linh dương bị thấp khớp và tuyệt đẹp. Một hiệu ứng phụ nữa là rất có thể, xác suất bị chuốc say và gạ tình rất rất cao.

Thứ gợi cảm nhất ở một đôi giày cao gót tuyệt nhiên không phải là chức năng tăng chiều cao. Do đó mà một diva hiểu biết phải biết rùng mình khó ở trước những đôi giày đế xuồng (một thứ giày bệt có đế thật dày). Như phần gáy, hay khoảng da thịt sau tai của người đàn bà, phần nhạy cảm và gợi tình nhất của giày cao gót nằm ở phần lõm của lòng bàn chân: “Nếu để ý, bạn sẽ thấy đây cũng là phần nhạy cảm trên cơ thể, và nó cũng co duỗi khi người đàn bà “lên đỉnh”. Một đôi giày cao gót đơn giản là một thứ khuôn đúc, khiến khi xỏ vào, đôi bàn chân phụ nữ lập tức bị uốn vào tư thế tự nhiên của nó trong cơn cực khoái.”

Thậm chí có rất nhiều người tin rằng lời giải thích trên của Christian Louboutin là một chứng cứ khoa học.

Bằng chứng chính là những vụ cầu hôn diễn ra liên tiếp tại cửa tiệm của ông, sánh ngang với tiệm nữ trang Tiffany hay nhà Cartier.

Những Cơn Đau Thời Trung Cổ

Giày đối với đàn ông chỉ mang hai ý nghĩa: phong cách lịch thiệp và mức độ giàu có. Còn đối với đàn bà, chúng là đại diện cho mọi khía cạnh đa diện, mâu thuẫn, kì cục và vi diệu bên trong tâm hồn họ. Tôi tin rằng họ sẵn lòng vui vẻ nhảy chân sáo dù đớn đau tím tái vì đôi giày dưới chân”

Và đó là những gì ông có thể say sưa diễn giải từ ngày này sang ngày khác, về cấu trúc cơ bản của một chiếc giày, về các hướng của lực trọng tâm, và coi khinh tất tật những tiếng rên rỉ của fashionista tuẫn tiết quằn quại âm thầm trên những đôi giày kiêu kỳ kén chủ. “Ừ thì phụ nữ chỉ có thể đẹp khi họ thoải mái và không đau. Nhưng thật lòng mà nói, tôi không cũng không thấy thoải mái chút nào khi người ta đến cửa tiệm của tôi và trầm trồ kiểu ‘Ôi, mấy đôi giày này trông tiện lợi quá!’”

Dẫu muốn phủ nhận thực tế của sự dã man mang sắc màu trung cổ này, thì người ta cũng khó lòng phủ nhận hơn 600,000 đôi dụng cụ tra tấn tự nguyện được bán ra trong chỉ 20 năm tồn tại của thương hiệu Christian Louboutin.

Cánh mày râu hoang mang tự hỏi rằng tìm đâu ra trong thế kỷ đàn bà trí thức không còn ưa thú trầm mình trong khổ hạnh, khi mà tục bó chân Trung Hoa và những chiếc đai tiết hạnh đã thành mẫu vật bảo tàng. Phụ nữ đi bar và từ chối các cơn đau tim si tình thống khổ. Và danh sách các khách hàng thân thuộc của nhà Louboutin tạo nên một thực tế đáng ngờ về quan niệm phụ nữ tân thời năng động, độc lập tự do.

Tuẫn tiết nhất là nữ văn sĩ “viện trưởng viện sến Hoa Kỳ” Danielle Steel. Bà ca tụng ái tình lãng mạn và đã tự hành quyết đôi chân mình trong thú đau thương với 6,000 đôi giày Louboutin, lập kỷ lục vô song trong danh sách thượng khách đặc biệt nhà Louboutin. Còn Blake Lively – cô đào nổi tiếng qua series phim truyền hình Hoa kỳ tân nữ Gossip Girl, sẵn sàng tậu một lèo 40 đôi Louboutin chỉ trong một chuyến săn.

Bà Vic nhà Beckham đang mang bầu cũng vong thân vận vào chân đôi Louboutins đến dự đám cưới hoàng gia vào tháng tư năm ngoái, và dài dài trong suốt thời kỳ mang bầu bé Harper, ngay cả với những dấu hiệu cảnh báo của chứng lệch đĩa đệm.

Và đó chỉ là một vài cái tên điển hình trong danh sách hơn 5,000 khách hàng thân thiết của nhà Louboutin, trong đó mỗi người sở hữu ít nhất 500 đôi giày đế đỏ.

Vậy đấy, như Germaine Greer từng viết “trong khi các nhà hoạt động nữ quyền vẫn vật lộn để giải phóng phụ nữ, thì giày cao gót đã kịp chinh phục nhân loại từ bao giờ.”

Louboutin hỏi lại “Con người tài ba đó là ai vậy?”

Một nữ học giả với những đầu sách vĩ đại thập niên 1970

“Vậy đó, thì ra bà ấy là một nhà cách mạng nữ quyền thập niên 70’s. Tôi thấy Madonna cũng là một phụ nữ khá độc lập đó chớ. Cổ là khách hàng ruột của tiệm tôi đó.”

 

Hồ sơ PeTA: Nỗi Kinh hoàng Của Những Con Nghiện Xác Thú

Trác Thúy  Miêu

Họ có mặt ở khắp nơi, đanh thép và không khoan nhượng như những chiến binh cảm tử, hay tinh nhuệ lão luyện như những nhân viên tình báo chuyên nghiệp. Họ có thể bất thình lình xuất hiện ở bất cứ đâu, trực diện tấn công vào những tượng đài thời trang và yếu nhân giải trí với vài vòng cảnh vệ bao quanh.

Họ hoàn toàn có thể là một kỳ nữ phim đen bất thần ngồn ngộn xuất hiện trên những tấm poster khổng lồ, mình không mảnh vải, hào phóng ban phát tòa thiên nhiên hùng vĩ cùng thông điệp ngạo nghễ “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!”.

Họ – những nhà hoạt động của PeTA – nỗi kinh hoàng của những tuần lễ thời trang, đặc biệt khi vào mùa của những bộ sưu tập mùa lễ hội – mùa của những tấm áo mĩ miều làm từ xác chết.

Các nhà khoa học hàng đầu lần lượt bị điệu ra trước tòa, bộ Quốc phòng Hoa kỳ đóng cửa vĩnh viễn một phòng thí nghiệm hóa học, hàng loạt nhân viên ngành thực phẩm bị mất việc, và các nhà thiết kế bị ép buộc ngậm ngùi kí vào bản cam kết vĩnh viễn từ bỏ thời trang lông thú.

Sự pha trộn giữa những trò vặt cay nghiệt, những chiêu thức đáo để đến trơ trẽn, thói độc tài ngang ngược, và một lòng trắc ẩn sâu sắc dữ dội đến vậy chỉ có thể đến từ một người đàn bà.

Nhưng không phải bất kì người đàn bà nào, nếu đó không là Ingrid Newkirk.

 

Nữ đồ tể bất đắc dĩ

Người đàn bà gốc Anh ấy đã rất có thể có cho mình một sự nghiệp an toàn vừa đủ với chiếc bằng chuyên viên chứng khoán, nếu vào một ngày năm 1969, Ingrid không tìm thấy những chú mèo lạc hay bị bỏ rơi và mang chúng đến các nhà tiếp nhận. Cô kinh hoàng trước điều kiện tồi tàn của các cơ sở này, và với những gì không chỉ đến từ nền giáo dục trường dòng, cô quyết tâm bẻ ngoặt định hướng sự nghiệp cuộc đời vào mục đích bảo vệ động vật – một công việc khi này còn chưa được xem là một “nghề”, trừ các bác sĩ thú y phục vụ nông nghiệp hoặc thú cưng của các gia đình thượng lưu.

Ingrid trở thành viên chức ban bảo vệ động vật tại Montgomery County, và về sau trở thành nữ chuyên viên đầu tiên tại cơ sở tiếp nhận động vật hoang đầu tiên tại quận Columbia. Cũng chính trong thời gian này, tự tay bà đã giết phải đến hàng ngàn con vật, có thời gian, trung bình hàng chục con mỗi ngày, những con vật bất hạnh đã từng được nuôi nấng như một thành viên gia đình và ruồng bỏ, thậm chí hành hạ, đánh đập, và không có đủ người với đủ lòng trắc ẩn để nhận chúng về nuôi, các cơ sở tiếp nhận, sau một thời gian, buộc lòng phải “tiêu hủy” chúng. Về sau, Ingrid còn thất thần cay đắng kể về thời gian này với tờ The New Yorker: “Những con người ngoài kia, có lẽ việc làm đau các con vật này khiến họ thích thú, hay thỏa mãn một điều gì đó trong họ. Còn tôi khi ấy, tôi khóc suốt trên đường chạy xe về nhà. Khi ấy, thâm sâu trong lương tri, tôi hiểu không thể gọi đây là một việc làm đúng.”

Thành viên đầu tiên của PeTA

Năm 1980, cũng là năm gieo xuống hạt mầm Peta, Ingrid bước ra khỏi cuộc hôn nhân kéo dài từ khi bà mới 19 tuổi. Ingrid gặp Alex Pacheco, khi này đang là một giáo chức truyền đạo và tình nguyện viên tại cơ sở tiếp nhận chó mèo lạc nơi Ingrid làm việc, nơi ông trở thành mối tình thật sự đầu tiên của Ingrid, với tất cả sự mê đắm của ái tình lãng mạn lẫn mối tương đồng khắng khít của hai kẻ chiến hữu, dù Ingrid lớn tuổi hơn rất nhiều, với tư duy thực tế, trong khi Pacheco vẫn còn là một cậu thanh niên mới lớn, nồng nhiệt và vô ưu.

Pacheco đã tặng Ingrid cuốn Animal Liberation của Peter Singer, và vào tháng Ba, bà thuyết phục người tình trở thành nhà đồng sáng lập của ý tưởng Peta, khi này chỉ gồm 5 nhân sự cùng làm việc dưới một tầng hầm, hầu hết là sinh viên, hoặc hội viên các hiệp hội, tổ chức môi trường tại địa phương.

Thoạt tiên, theo lời kể lại của Pacheco, lời đề nghị này không có vẻ thuyết phục đối với ông, “Tôi đã từng hoạt động tại Âu châu, và quá hiểu về tính rắc rối trong các nguyên tắc rối ren có liên quan đến chính trị của các tổ chức nhân đạo tương tự. Tôi chỉ muốn tự mình làm điều gì có thể. Nhưng bà ấy đã chinh phục tôi hoàn toàn khi đồng tình với tôi rằng các tổ chức hiện tại đang hoạt động yếu ớt, và hẳn nhiên là chính phủ, và nhân loại cần một tổ chức đúng nghĩa, hoàn toàn thiện nguyện và hiệu quả hơn để bảo vệ loài vật.”

Và Ingrid Newkirk có cho mình một chiến hữu, và PeTA có một thành viên đầu tiên.

Những con khỉ ở Silver Spring

Ingrid đã không nói suông với Pacheco. Một năm sau khi thành lập, Peta đã gây rúng động toàn thế giới với vụ 17 con khỉ tại Silver Spring. Vụ việc dấy lên sự phẫn nộ lớn trong công chúng, và trở thành đề tài tranh cãi kéo dài của các nhà đạo đức về các hành vi tra tấn với mục đích nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hành vi tại Silver Spring, Maryland. Vụ bê bối khai màn cho các cuộc ruồng bố của cảnh sát đến tận các phòng thí nghiệm khắp Liên bang Hoa kỳ, tạo áp lực lên quy định nghiêm ngặt đối với hoạt động thí nghiệm trên động vật tại Mỹ, và chiến dịch mang tên Animal Welfare Act năm 1985. Đây cũng được ghi nhận là vụ kiện về tính phi nhân trong việc thí nghiệm trên động vật đầu tiên được đệ trình lên tòa án tối cao Liên bang Hoa kỳ. Peta giành được quyền chăm sóc các chú khỉ dưới quyết định của toàn án bàng Louisiana.

Năm 1981, đích thân Pacheco đã vào làm việc tại phòng thí nghiệm nghiên cứu loài linh trưởng của Viện Nghiên cứu Hành vi Silver Spring, với mục đích trực tiếp điều tra các biện pháp tiến hành thí nghiệm trên động vật tại đây. Ông đã phải trực tiếp chứng kiến, và thậm chí tham gia vào các quy trình cắt bỏ các hạch thần kinh cảm nhận trên tay và chân khỉ, khiến chúng mất hoàn toàn các cảm nhận xúc giác. Một số con khác bị rút bỏ hoàn toàn các đốt sống lưng. Họ trói các con vật khốn khổ rồi cho chích điện, giơ cao thức ăn và nước uống để ép chúng phải sử dụng những phần đã bị tê liệt trên cơ thể.

Pacheco đã bằng cách đó đột nhập vào phòng thí nghiệm vào buổi tối, chụp lại hình ảnh các con vật bên trong phòng thí nghiệm và gửi các bằng chứng hình ảnh này đến cảnh sát và yêu cầu một cuộc lục soát hợp pháp, đồng thời bắt giữ giáo sư Taub – kẻ điều hành phòng thí nghiệm phi nhân nọ. Trong suốt vụ xử kéo dài 10, những hình ảnh bằng chứng này đã gây rúng động lương tri nhân loại khi được tung ra công khai qua mọi kênh truyền thông. Vụ kiện này nhắc nhớ đến chiến công của Henry Spira năm 1976, chống lại các thí nghiệm tàn ác trên loài mèo của Viện Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên Mỹ. Cả hai vụ kiện đã khiến chính phủ Hoa kỳ thức tỉnh và dành một sự lưu tâm đặc biệt đến hoạt động bảo vệ động vật một cách thiết thực tại Mỹ.

Cuộc đấu tranh quyết liệt 10 năm giành quyền bảo dưỡng các chú khỉ, theo mô tả của Washington Post, đã là một vụ vật lộn trong bãi lầy, với bên này cáo buộc bên kia là kẻ nói dối và bóp méo sự thật, và đưa Peta, không kém một trào lưu thời trang, trở thành một uy tín hoạt động tầm cỡ quốc tế.

Năm 1999, Pacheco rời khỏi hiệp hội, nhưng Ingrid không ở lại một mình, mà với hơn 2 triệu tình nguyện viên trên toàn thế giới, và nỗi kinh hoàng lớn mang tên PeTA.

Từ chiến công của điệp viên và thuyết khách…

Mỗi tuần, tại đại bản doanh Peta, một cuộc họp được tổ chức đều đặn với sự có mặt của hàng chục nhà chiến lược sừng sỏ nhất tề tựu quanh bàn vuông phòng khánh tiết hội sở Peta, và không có kế hoạch chiến thuật nào ở đây có tên là “quá khích” đối với nữ đầu lãnh Ingrid Newkirk. Thậm chí bà còn treo giải thưởng hằng niên với tên gọi Proggy Award dành cho các cá nhân, tổ chức có những chiến thuật và chiến dịch trội bật trong lãnh vực bảo vệ động vật hoặc đấu tranh chống hành hạ, giết hại động vật.

Các mục tiêu tối trọng của hội Peta nhắm vào các tập đoàn lớn, từ đại gia thực phẩm KFC, Wendy’s và Burger King. Trong lãnh vực thí nghiệm trên động vật, các thành viên Peta đặc biệt “ưu ái” bám sát nhất cử nhất động của các hãng thời trang và mỹ phẩm như Avon, Benetton, Bristol-Myers-Squibb, Chesebrough-Pond’s, v.v…

Cơn ác mộng PETA, đối với các tài phiệt thời trang, hơn cả những cuộc biểu tình và lằn đạn tàu hũ tương cà nhè vào mớ khách hàng thượng hạng, chính là các điều tra viên. Họ có thể là bất cứ ai, và tầm phủ sóng len lỏi của họ không dừng lại ở hậu trường các show diễn, mà luôn có thể lần ngược mối dây nhập khẩu nguyên liệu và thình lình xuất hiện ngay giữa lòng một trang trại ở tận Trung Hoa, hay một phòng nghiên cứu hóa học tận Thụy Sĩ, với mỗi cú bấm máy có thể tác động mãnh liệt đến lòng trắc ẩn của triệu triệu tín đồ thời trang văn minh.

Những điệp viên đặc vụ PETA thường phải bỏ hàng tháng, thậm chí hàng năm để theo đuổi điệp vụ. Phần lớn họ phải có một hồ sơ sạch bong, và thậm chí kinh nghiệm nghiệp vụ đủ để trở thành nhân viên chính thức tại những cơ sở đối tượng này. Họ được trang bị tận răng một cách kín đáo, hoàn toàn không thua kém các điệp viên cine chính hiệu, với nhiệm vụ thu thập chứng cứ, sao chép dữ liệu và chụp ảnh, ghi hình các hoạt động ngược đãi động vật tại đây. Cho đến 2007, tổng cộng 75 điệp vụ đã được đưa ra công luận, và thậm chí ra trước vành móng ngựa mà trong đó, bị cáo thường là các nhà nghiên cứu danh tiếng của các trường đại học, và các tài phiệt công nghệ, với phần thắng thường xuyên nghiêng về phía các nhà hoạt động PETA, khiến không ít phòng thí nghiệm đã phải đóng cửa vô thời hạn và gây khốn đốn đảo điên cho nhiều ngành công nghệ có liên quan.

Không hề trở nên khét tiếng chỉ bởi những điệp vụ gây chấn động toàn cầu, các thành viên giấu mặt của Peta thừa sức vung tay mua lại cổ phần của các tập đoàn bự sự kia cho đến khi nắm được quyền can thiệp vào công nghệ, thậm chí nắm khả năng dẫn đến nguy cơ lũng đoạn và phá sản. Chính nhờ biện pháp kinh tế táo bạo và sòng phẳng này, các đại gia cỡ McDonald và Wendy đã phải chấp nhận đầu tư tung ra những thực đơn chay, Petco ngưng kinh doanh thú quý hiếm, và Polo Ralph Lauren chấm dứt hoàn toàn việc sản xuất và thiết kế các sản phẩm từ lông thú. Trong khi đó, các trùm mỹ phẩm Avon, Estee Lauder, Benetton và Tonka Toy Co. đều nhất loạt chấm dứt việc thí nghiệm hóa học trên động vật, thậm chí trùm vũ khí Pentagon cũng quy phục mà chấm dứt hoàn toàn việc bắn thử lên heo và dê để kiểm tra sức công phá trên vết thương, và một lò sát sinh tại Texas bị đóng cửa vĩnh viễn.

…đến những màn khủng bố đa chiến thuật

Newkirk chính thức trở thành kẻ tử thù của không ít nền công nghệ, từ đại gia thực phẩm KFC, McDonald, cho đến các tông đồ thời trang xa xỉ cỡ bự như Karl Lagerfeld, John Galliano và Donna Karan. Nhưng hẳn nhiên điều này không dễ khiến nữ đại thủ lĩnh phái Peta chùn tay. Bà khẳng khái tuyên bố: “Lòng trắc ẩn có thể ủ mầm cho một sự đổi thay và lòng nhân ái. Nhưng một cuộc cách mạng chỉ có thể được đoạt lấy bằng hành động.”

Khẳng khái không kém gì khẩu khí ấy, Newkirk công khai ủy lạo cho những nhóm sử dụng hành vi tấn công và đột nhập, trực diện hay lén lút vào các đối tượng của Peta. Họ trắng trợn xâm nhập vào các phòng thí nghiệm và giải cứu các con vật, trực diện thóa mạ và hủy hoại mọi sản phẩm thời trang làm từ lông và da thú, với sự hung hăng khiến đau đầu cả những đội ngũ cảnh vệ tinh nhuệ nhất.

Nhưng thái độ của giới người mẫu đối với các chiến dịch của Peta lại có vẻ có thiện chí hơn rất nhiều, và con đường tiếp cận công nghệ thời trang qua các người mẫu của Peta trở nên có sức thuyết phục mạnh mẽ lạ thường đối với các tín đồ. Chiến dịch ủy lạo thực phẩm xanh và chế độ ăn kiêng bằng rau củ đã phủ sóng mãnh liệt lên thị trường fast-food khổng lồ nhất thế giới là nước Mỹ. Kết hợp với các vụ điều tra về hình thức giết mổ man rợ tại các lò mổ của đại gia McDonald và KFC, cùng với những cuộc biểu tình phong tỏa các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh, và cuối cùng là thân hình mảnh khảnh đáng thèm muốn của những model khét tiếng nhất đã khiến các hợp đồng nhân sự của những lò giết mổ phải có thêm điều khoản nhân đạo trong công nghệ xử lí động vật, và ông lớn McDonald cũng đã phải nhún nhường tung ra thực đơn hamgurger chay cho các thị phần người tiêu dùng văn minh.

Nhưng gây tiếng vang đáng kể nhất phải nói tới chiến dịch “I’d Rather Go Naked Than Wear Fur” (Tạm dịch: thà khỏa thân còn hơn mặc lông thú) với một lực lượng celebrity và người mẫu chưa bao giờ hùng hậu đến vậy. Cũng nhờ chiến dịch này. Công chúng và giới tín đồ thời trang được dịp nhìn ngắm thỏa thuê mãn nhãn những yếu nhân khả ái nhất hành tinh trong bộ dạng như trẻ sơ sinh kém bụ bẫm nhưng muôn phần kích động. Chưa bao giờ có một vụ scandal khoe hàng tập thể nào rầm rộ và gây tiếng vang đến vậy. Peta đại thắng về mặt truyền thông và chính thức trở thành lực lượng đối đầu đáng gờm của ngành công nghệ thời trang xa xỉ, cho đến tận các trang trại đồ tể Trung Hoa.

Tại hội chợ lông thú quốc tế ở Paris, các thành viên Peta bò lổm ngổm trên đường phố Paris, kéo lê những cái bẫy sập ngoạm vào chân, và hào phóng vứt ra tứ phía những tờ giấy bạc thấm bê bết máu.

Ngoài ra, trong các chiến thuật du kích nhỏ lẻ và dai dẳng nhưng là nỗi ám ảnh cao đối với giới thời trang và fashionista thượng lưu là đòn bánh pie, tàu hũ nát và tương cà. Những món này khi hạ cánh bẹt thèn lẹt lên một mẫu thiết kế bằng lông thú đắt tiền trông không khác gì một bãi máu me lầy nhầy và hoàn toàn có thể phá hủy hoàn toàn bộ vía. Tháng Giêng năm ngoái, chính bộ trưởng Gail Shea của Canada đã ăn phải đòn thù bánh pie, phản ứng với việc săn bắt hải cẩu bừa bãi tại vùng biển nước này. Khi bị chỉ trích là “đòn vặt”, Ingrid bình tĩnh giải thích: “Đối với đối tượng, nó có công dụng khiến họ lúng túng, bối rối, và trở về với ngoại hình nhơ bẩn như chính bản chất hành vi của họ. Còn đối với cái nhìn của công chúng, nó sẽ có tác dụng như một vụ tai nạn giao thông mà bạn buộc phải nhìn vào.”

Tuần lễ thời trang Melbourne Xuân Hè vừa qua đã lại là một minh chứng cho bàn tay phái Peta đã vươn dài đến tận úc châu. Các nhà hoạt động tấn công thẳng lên catwalk, giăng các tấm poster ghi dòng chữ “Fur is Dead” trước rừng ống kính báo giới, ngay khi các người mẫu vẫn đang tiếp tục tràn ra đường diễn. Dẫu chỉ là 5 phút rối ren – khá nhẹ nhàng với thời trang Úc, nhưng cũng đã đủ khiến cho các nhà tổ chức thức thời lập tức rà soát từng mẫu thiết kế của mọi hãng thời trang và hủy diễn bất kể thiết kế nào có sử dụng da hoặc lông thú. Mặc cho các nhà thiết kế la ó cự nự, cuộc bạo động nho nhỏ của chi sở Peta tại Úc đã đại thắng với một Melbourne Fashion Week 100% fur-free!

Mông cừu ở Úc châu, Yasser Arafat bị cảnh cáo, và tuyến tiền liệt của ngài thị trưởng

Ngay cả các nông trại chăn cừu khai thác len cũng không thoát khỏi tầm ngắm của các thành viên đảng Peta. Mặc dù không sát hại con vật để lấy bộ da, nhưng quy trình cắt một phần lớp da của con vật để lấy lông cũng khiến các tay chăn cừu tận Úc châu không nằm ngoài tầm bay của bánh pie Mỹ. Cả một chiến dịch tấn công trực diện đã được nhằm vào nền công nghệ len sợi của Úc, trong đó, các đại gia bán lẻ đã đồng loạt tẩy chay sản phẩm và chất liệu xuất xứ từ Úc. Các nhà công nghệ và cả các chủ trang trại Úc chất phác đã tỏ ra đáo để không kém cạnh, hì hụi vác đơn kiện đảng Peta, với luận điệu rằng việc lạng đi lớp da dưới mông cừu mang nhiều tác dụng tốt cho con vật và tránh các bệnh nhiễm trùng do ruồi mang lại, có thể gây đau đớn cho cừu còn hơn bị lạng da mông. Có lẽ bị thuyết phục bởi các lý lẽ có liên quan đến da mông cừu cụ thể và khoa học như vậy, Peta chấp thuận đình chiến. Để ứng đáp cho đúng kiểu thiệp liệp giữa chốn nông trang châu Úc và trùm khủng bố thời trang Mỹ, phía nguyên đơn hứa sẽ tìm tòi phương thức khai thác mới mà không lạng da mông cừu.

Thái độ không khoan nhượng của Newkirk lên cao vào năm 2003 khi bà đích thân gửi lá thư đến thủ tướng Yasser Arafat ngay sau việc một chú lừa vô tội bị nổ tung sau một cuộc đụng độ bạo lực tại Jerusalem, yêu cầu ông để yên cho các con vật.

Thiên hạ còn la ó kịch liệt với chiến dịch quảng cáo vận động của PETA mang tên “Your Mommy Kills Animals” (Má Cháu Giết Động Vật), với bức họa theo lối hoạt hình một bà nội trợ tay lăm lăm dao đang tấn công một chú thỏ. Triệt để hơn nữa, để tiết giảm lượng tiêu thụ sữa, tổ chức này còn tung ra chiến dịch “Got Beer?” (Có bia không?) như một đòn chơi khăm sát ván chiến dịch quảng cáo sữa nổi tiếng “Got Milk?” (Có sữa không?). Cho đến khi một số bằng chứng y khoa cho thấy các sản phẩm từ sữa có thể là nguyên nhân dẫn đến ung thư, vừa lúc thị trưởng New York là Rudolf Giuliani được chẩn đoán chứng ung thư tuyến tiền liệt vào năm 2000, PETA mau mắn chạy luôn bức ảnh của ông với hàng ria mép trắng và dòng chữ “Got prostate cancer?” (Có ung thư tiền liệt không?). Đến đây thì cả nước Mỹ la ó phản đối, dĩ nhiên là với các chủ trang trại và các hãng thực phẩm chế biến cự nự dữ dằn nhất.

Trong mọi kế sách chiến lược của mình, hẳn nhiên chiêu khỏa thân chưa bao giờ là cũ nhưng vẫn luôn phát huy tối đa hiệu quả truyền thông.

Tháng Tám 2011, PETA chính thức ra mắt website “người lớn nhẹ”. Phát ngôn viên của tổ chức là Lindsay Rajt tuyên bố với Huffington Post rằng họ “sẵn sàng tận dụng bất cứ chiến thuật và phương tiện nào tốt nhất, hiệu quả nhất cho quyền động vật”, cô còn trấn an rằng website nọ sẽ được xử lí “cẩn trọng và gắt gao với mọi thông tin, hình ảnh để đảm bảo không rời xa hiệu quả của thông điệp và mục đích chính”. Đến đây, các tổ chức bình quyền phụ nữ lại vào cuộc, cho rằng PETA đang vì quyền động vật mà đạp lên cả nhân phẩm phụ nữ.

Bản thân Newkirk, khi bị các nhà hoạt động bình quyền lên án về chiến dịch khỏa thân của các người mẫu, ngôi sao chống nạn sử dụng thời trang lông thú, đã điềm nhiên trả lời “Để đạt đến mục đích nhân đạo, chúng tôi buộc phải bón mớm cho công luận và giới truyền thông những điều họ luôn đói khát”.

Những cuộc săn lông thú và những “con thú” thượng lưu

Chính từ những vụ scandal phá rối sôi động của đảng Peta mà khắp các thánh địa thời trang và giải trí lớn trên thế giới đã dấy lên một môn “thể thao mạo hiểm” mới, hợp thời và là một phần của lối sống fashionista phố lớn: săn tội đồ!

Những cuộc săn này nhằm vào các tượng đài phong cách mới, các celeb danh tiếng. Bãi săn là mọi “vùng trũng” của giới thượng lưu, dập dìu tài tử minh tinh. Từ hộp đêm, nhà hàng, khu nghỉ mát, các đại lễ thảm đỏ, v.v… Những cuộc bố ráp lớn có cả một lực lượng paparazzi hùng hậu, súng ống nòng flash trang bị tận răng, các hội viên activist dấu kín những ổ tàu hũ, túi nilon đựng tương cà và cả bánh pie trong những túi đựng hàng của shopper, và chen chân trong đó là cả những tín đồ thời trang văn minh với diện mạo sành sõi điệu nghệ thừa sức trà trộn vào những đám đông vương giả.

Những “con mồi” được phát hiện thường được chờ dẫn dụ cho đến khi vô tình lọt vào giữa vòng vây bố ráp để lãnh trọn cơn mưa đậu hũ tương cà trong ánh flash lóe lên liên hồi kì trận, và ngay hôm sau, cùng với chiếc áo lông thú đã bị hủy hoại không thương tiếc là một loạt những hình ảnh toét nhoèn cà đậu của đêm trước được phơi bày thảm hại trên các cột báo chính luận cũng như lá cải. Trong số đó, Madonna, Kate Moss, Vic Beckham, J.Lo và Paris Hilton là những con mồi ưa thích của môn “thể thao mùa đông” kì thú này.

Thậm chí giới celeb còn cho rằng scandal “lộ hàng” hay bị phát hiện địa chỉ website khiêu dâm trên ổ cứng còn dễ chịu hơn rất nhiều so với việc bị phát hiện mặc thời trang lông thú.

“Con mồi” gây bẽ bàng nhất cho Peta phải kể đến trường hợp Heather Mills. Người ta tìm được những hình ảnh người phát ngôn danh tiếng của đảng Peta đã từng mặc áo lông chồn cách đó gần…20 năm. Dù Heather tự bào chữa rằng đó là chiếc áo của bà thân mẫu để lại, vết nhơ ngụy quân tử sẽ không bao giờ được gột sạch khỏi danh tiếng Heather Mills – vốn là một mạnh thường quân đắc lực của Peta.

Những chiến binh chân dài và trần trụi

Nằm trong các chiến thuật chống thời trang lông thú của Peta, các thành viên đã trà trộn vào hàng trăm show diễn từ Âu châu, Hoa kỳ cho đến Trung Hoa. Họ có thể bất cứ lúc nào bất thần phun sơn đỏ bê bết lên sàn catwalk, cùng lúc nhảy lên chiếm trung tâm sàn diễn, một số trong tình trạng khỏa thân, tay khư khư biểu ngữ, poster. Đôi khi, điều bất ngờ nhất đối với dàn nhân viên bảo vệ khi các tay khủng bố lại chính là các celebrity hàng đầu, hay thậm chí các người mẫu trong ê-kíp đột ngột thoát y án ngữ ngay trước khu vực báo chí, khỏa thân và che phía trước bằng biểu ngữ nổi tiếng “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!” (I’d rather go naked than wear fur)

Bản thân biểu ngữ này trở thành tên gọi của cả một chiến dịch lẫy lừng, với sự ủng hộ nhiệt tình của hàng loạt tên tuổi nổi tiếng trong làng người mẫu và các ngôi sao giải trí thượng thặng. Họ không ngại ngùng pose các kiểu ảnh, thậm chí xuất hiện nơi công cộng, trần trụi và tự tại, vật che thân duy nhất, nếu có, là tấm biểu ngữ không quá lớn. Chiến dịch này, hẳn nhiên, theo sự tính toán của hội Peta, đã gây được hiệu ứng sâu sắc, với sức lan truyền theo cấp số nhân của các ống kính truyền thông. Đó là khi chính hội Peta bị các tổ chức bình quyền cự nự kịch liệt.

Mới đây, phái Peta đã trân trọng gọi ngày sinh nhật của Boss Model Agency là Flashback Friday (Ngày Thứ Sáu Hồi Tưởng) và cho đăng tải rộng rãi bức ảnh chiến dịch I’d Rather Go Naked than Wear Fur đầu tiên được chụp với các model nam và nữ hàng đầu của agency này cách đó 15 năm trong trạng thái khỏa thân hoàn toàn. Boss Models là công ty đại diện người mẫu đầu tiên chống thời trang lông thú với nguyên tắc khước từ mọi hợp đồng với bất cứ buổi chụp ảnh hoặc sự kiện nào có liên quan đến thời trang lông thú. Một trong những top model hàng đầu của Boss khi này là Marcus Schenkenberg còn khẳng khái tuyên bố rằng anh sẽ tẩy chay triệt để bất cứ ngành công nghệ nào có dấu hiệu ngược đãi và tàn sát động vật, và cho dựng tại hộp đêm Tunnel, khi ấy là chốn lưu tới thịnh hành tại New York, tấm bảng ghi dòng chữ “Thứ Hoang Dã Duy Nhất Ở Đây Chính Là Con Người – Cấm Áo Khoác Lông Thú” (The Only Wildlife Here Is Human – No Fur Coats Allowed)

Trong làng người mẫu, nổi bật và tiên phong trong chiến dịch dài hơi Go Naked là siêu mẫu thế giới Christy Turlington, và mới gần đây là Khloe Kardashan. Sự xuất hiện bạo liệt và quyến rũ của họ trên các poster của chiến dịch Go Naked đã thu hút cả những tiếng tung hô lẫn  những lời phản đối cự nự rầm rĩ từ nhiều phía. Ngày nào cuộc tranh cãi chưa đi đến hồi kết, thì hiệu ứng truyền thông của chiến dịch còn được nuôi sống. Nắm vững chân lý đó, song các phía đối nghịch vẫn không thể kiểm soát được cấp độ đình đám của chiến dịch lẫy lừng nhất trong lịch sử hoạt động của Peta.

Trong khi đó, đồng nghiệp của Kardashian là Gisele Bundchen lại bị các nhà hoạt động tấn công và la ó ngay trên sàn diễn Victoria’s Secrets. Người đẹp Brazil đã là một trong những người mẫu nổi tiếng đã tích cực phô trương những mẫu thiết kế lông thú không chỉ trên sàn diễn, như một nỗ lực đưa thời trang lông thú trở về vị trí chính thống của giới thời trang.

Phát ngôn viên Dawn Carr của Peta cho biết “Gisele đã tự ghi tên mình vào danh sách đen của Peta. Đáng lý ra cô ta đã phải biết rằng mỗi khi mặc vào một chiếc áo lông thú, đồng nghĩa với việc tuyên án tử cho không chỉ một mà hàng ngàn con vật tội nghiệp với những hình thức giết hại man rợ khủng khiếp nhất”

Lá cờ PeTA trên đỉnh phù hoa – khai pháo chiến dịch khỏa thân

Bar Atlantic tại London – chốn lui tới quen mặt của nội giới thời trang tại Anh, còn được mệnh danh là pháo đài an ninh kiên cố nhất với hàng rào an ninh ngăn cách các vị yếu nhân thượng khách với hội fan cuồng, giới săn tin và cả những tay khủng bố quá khích phái PeTA. Các tay gác cửa lịch lãm nhưng lão luyện có thể chỉ cần liếc qua để phát hiện ra một phần tử ngoại giới hay một nhà hoạt động quá khích, và các phần tử này sẽ được đón tiếp trọng thể theo một cách rất riêng.

Không một điệp viên PeTA thiện nghệ nào có thể lọt vào nơi đây. Sự kiên cố của Atlantic đáng để các phòng thí nghiệm hóa học của quân đội Mỹ cũng phải lấy làm hổ thẹn. Mọi chiến thuật tấn công trực tiếp vào Atlantic của PeTA đều liên tiếp bị phá vỡ chỉ bằng một cú phẩy tay của hàng rào an ninh Atlantic.

Và điều này không làm Ingrid Newkirk hài lòng.

Nó khiến bà phải đích thân vạch chiến lược.

Và một khi có đại nữ thủ lĩnh nhúng tay, điều đó đồng nghĩa với sự kiện khai hỏa chiến dịch chống thời trang lông thú được tổ chức, một cách bất ngờ nhất, ngay tại “trái tim nhảy múa” của giới thời trang và showbiz London – bar Atlantic, đương nhiên là với sự xuất hiện của cả một đội quân trường túc lộng lẫy đến từ các hãng đại diện người mẫu sừng sỏ nhất làng thời trang thế giới.

Một tuần sau khi nữ hoàng nội y Janet Reger gang thép tuyên bố “Tôi yêu lông thú tự nhiên!” ( I love real fur) như một tiếng hô xung phong cho phái nghiện thời trang xác thú, PeTA không hề đợi quá lâu để trà đòn thích đáng, với sự hậu thuẫn của hãng đại diện Boss Models và danh sách siêu mẫu quốc tế gồm Christy, Naomi, Nadja, v.v…

Không chỉ có I’d Rather Go Naked, PeTA còn có các chiến dịch với những câu hiệu triệu chân phương hơn như “Turn Your Back on Fur”. Báo giới được mời đến sự kiện khai hỏa để là những người đầu tiên thưởng ngoạn tấm poster chụp tập thể các người mẫu nam và nữ sáng giá nhất của Boss Models, trong tình trạng hoàn toàn khỏa thân. Người ta có chính xác 60 giây để ghi nhận lại hình ảnh và thông điệp để ngay vào sáng hôm sau, hình ảnh nóng hôi hổi của chiến dịch đã được đăng phần phật trên mọi trang đầu từ nhật báo chính thống đến tuần san lá cải.

Sự kiện này đã lập tức cải thiện hoàn toàn hình dung của công chúng về các nhà hoạt động môi trường nói chung: luộm thuộm và nhếch nhác, béo phị và khắc khổ. Giới trẻ tung hô và ủy lạo rầm rộ với hình tượng văn minh thời trang mới này, trong khi giới thủ cựu Ăng-lê, từ London đến các tàn dư quí tộc miệt vườn tỉnh lẻ đều nhất loạt lên án PeTA dữ dội. Và điều này ngay lập tức khiến cái tên PeTA trở thành một từ đồng nghĩa với tính bạo động, hợp thời, và tiến bộ.

PeTA đã thành công trong việc gắn liền lòng trắc ẩn và quyền động vật với hai yếu tố đáng gọi là vật liệu làm nên bom truyền thông: khỏa thân và người mẫu. Nếu có thứ gì mạnh hơn hai “chất nổ” ấy, thì đó chính là người mẫu khỏa thân. PeTA có cả điều ấy, và hơn thế, đó là rất nhiều siêu mẫu khỏa thân, tham gia pose khỏa thân với tinh thần 100% thiện nguyện. Khi Claudia Schiffer từ chối cam kết tẩy chay các hợp đồng quảng cáo thời trang da và lông thú, hầu như ngay lập tức những tiếng xì xầm cả quan ngại lẫn kỳ thị lan nhanh đủ để cô nàng Barbie đỏng đảnh của nước Đức phải chịu khuất phục và kí vào bản cam kết nọ.

Chiến dịch Go Naked lan tràn dài hơi và quyết liệt. Song song với liên tiếp những siêu mẫu khỏa thân là những cuộc biểu tình nhỏ lẻ hay tập thể, với chính các nhà hoạt động khỏa thân đi long nhong ở bất cứ thành phố lớn nào trải dài từ Mỹ đến châu Âu, cũng như mọi cơn sốt về xống áo mà chính các siêu mẫu này thường tạo nên sau mỗi chiến dịch quảng cáo thời trang. 

Không chỉ các người mẫu mà giới showbiz cũng vào cuộc. Các siêu sao đương thịnh từ Patti Davis, vợ chồng Kim Basinger và Alec Baldwin, Frank Skinner cho đến David Baddiel đều đã từng xuất hiện khỏa thân trên các poster của chiến dịch.

Điều này ngay lập tức mang lại khoản thiệt hại trị giá 12 triêu Mỹ kim cho hãng nhập khẩu lông thú lớn nhất tại Hoa kỳ là Evans Inc, với mãi lực giảm 22%, và không lâu sau đó là một cú trượt dốc không gì cứu vãn nổi cho đến cái đáy phá sản với lời cuối ngậm ngùi: “Chúng tôi chưa bao giờ muốn thừa nhận tác động của những tay khủng bố PeTA lên công cuộc kinh doanh của mình, nhưng giờ thì khó tìm lời lí giải hợp lí nào khác cho những thất thoát và tình trạng khánh kiệt”

Liên tiếp những năm sau đó, tổng mãi lực lông thú trên toàn thế gới giảm hẳn 60%.

Nhưng chiến thắng chưa bao giờ là 100% tuyệt đối, ngày nào còn những con vật bị tàn sát, và ảnh hưởng của PeTA chưa xoay chuyển cục diện một cách nhanh chóng và triệt để hơn khi hàng ngày, còn quá nhiều động vật bị hành hạ và hiến tế cho sự man rợ của phái tín đồ nghiện xác thú.

BẢNG PHONG THẦN CHIẾN HỮU VÀ CỪU NHÂN

PeTa và các chiến hữu

Năm 2007, danh ca Paul McCartney trở thành “Nhân Vật Trong Năm” của PeTA, sau sự thành công của chiến dịch thuyết phục hãng British Airway ngưng sử dụng chất liệu da thật để bọc ghế hạng thương gia, và chiến dịch chống thời trang lông thú trên Internet mang tên Second Life. Chưa hết, Paul McCartney còn cống hiến cho PeTA một mạnh thường quân quý báu khác, chính là con gái ông – nhà thiết kế Stella McCartney – một trong những tên tuổi thời trang đầu tiên tẩy chay triệt để chất liệu lông và da thú tự nhiên với thông điệp rõ rệt “Bạn vẫn có thể ăn diện đẹp ‘muốn chết’ mà không cần phải thật sự giết một sinh vật nào.

Theo ghi nhận của website Furisdead.com, người hùng bóng rổ Mỹ Dennis Rodman là quý ông celeb đầu tiên can đảm xuất hiện khỏa thân trên poster chiến dịch của Peta na8m 2005, với thông điệp rằng cuối cùng thì nam tử hán đại trượng phu vẫn luôn nên là những kẻ có thể tự tại thoải mái nhất bên trong bộ da của chính mình. Từ đó đến nay, chàng người hùng da màu này vẫn không ngừng quyên góp tài chánh cho quỹ bảo vệ động vật của Peta.

Quả bomb tình dục này đã minh chứng rằng bên trong thân hình căng mẩy ấy không chỉ là các túi silicon mà còn có cả một trái tim vàng và lòng trắc ẩn thiên phú. Pamela là thế hệ celeb đầu tiên tình nguyện hoạt động cho Peta trong các chiến dịch chống thời trang lông thú năm 1999, và kéo dài hoạt động thường xuyên cho đến hiện tại. Mặc dù hình ảnh khỏa thân của Pamela không phải là thứ hiếm có khó tìm bên ngoài các poster của Peta, nhưng ý nghĩa và sức nặng tiếng tăm của Pam đã khiến con số những thành viên không chính thức của Peta tăng lên theo cấp số nhân, và trong đó có rất nhiều là nam giới.

Giai nhân trường phái hoài cổ này không chỉ nổi tiếng bởi những shot ảnh gây ngứa ngáy nhãn cầu trong phong cách pin-up nũng nịu đa tình, mà cô còn được tung hô ái mộ ở tư cách một nhà hoạt động đình đám của phái Peta. Dita bắt đầu hoạt động cho Peta từ 2007, trong chiến dịch kêu gọi ý thức chăm sóc y tế và triệt sản cho thú nuôi để chúng được hưởng một sự chăm sóc chu đáo hơn, và giảm thiểu trường hợp những con thú nhỏ mới sinh bị vứt bỏ. Mới gần đây, trên Twitter của mình, nàng còn hé lộ thông tin về một chiến dịch sắp tham gia cùng Peta cũng không kém phần vừa thiết thực vừa nóng bỏng ngoạn mục.

Nàng là gương mặt ngôi sao nữ đầu tiên tham gia chiến dịch ủy lạo thực phẩm xanh và chết độ ăn kiêng tẩy chay sản phẩm từ động vật năm 2004. Không chỉ ngừng lại ở đấy, Alicia vẫn đang tiếp tục tham gia các hoạt động tuyên truyền và gây quỹ cho Peta.

Việc pose khỏa thân cho một chiến dịch kêu gọi các fashionista và hội sex-addict chuyển sang sử dụng các sản phẩm thời trang bằng chất liệu da nhân tạo hoàn toàn không nằm ngoài nghiệp vụ của cô đào phim khiêu dâm trứ danh Jenna. Nàng đứng xoạc đôi chân nuột nà lừng lững trong bộ nội y bé xíu, đôi gò bồng đảo phập phồng ôm vừa xinh trong cặp áo bằng da đen, mái tóc đen mun, môi đỏ huyết đào và hàng chữ xấc xược đầy khiêu khích “Pleather Yourself”. Sản phẩm da nhân tạo được làm ra từ plastic cũng được ngành công nghệ đồ chơi tình dục ưa chuộng và được sử dụng triệt để trong các bộ phim có sự xuất hiện của Jenna.

Không chỉ với những talkshow lẫy lừng nhằm vào đề tài “Fur-free and Fabulous” (không lông mà vẫn lộng lẫy), tạp chí O của Winfrey còn dành hẳn nhiều tháng để tẩy chay hoàn toàn mọi sản phẩm sử dụng da và lông thú. Không chỉ vậy, PeTA còn nợ Winfrey một món nợ ân tình lớn khi đại tẩu truyền hình đã khiến tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía chính đạo khi dẫn dụ thành công bà đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ Obama liên tục ủy lạo cho các chiến dịch chống thời trang lông thú, bảo vệ và chăm sóc động vật của PeTA.

Nữ hiệp đồng tính của talkshow truyền hình Mỹ tỏ ra tuẫn tiết hơn cả Winfrey khi luôn trực tiếp ủy lạo cho mọi hoạt động bảo vệ và chăm sóc động vật, từ hoang dã đến thú nuôi. Bà là tên tuổi tiên phong và ồn ào nhất trong vụ kêu gọi chấm dứt phong tục thảm sát cá heo tại Đan Mạch, hay hải cẩu tại Canada với cả sự hóm hỉnh lẫn mỉa mai cay nghiệt dành cho cái gọi là sự trưởng thành của đàn ông thanh niên tại hai đất nước này. Mỗi buổi lên sóng của Ellen đều dành một thời lượng không nhỏ cho hình ảnh của các con vật đáng yêu, hoặc những bản tin kêu gọi nhận nuôi các con vật bị bỏ rơi và bạo hành. Mặc với điều tiếng cự nự của không ít người, Ellen còn đứng đầu phong trào kêu gọi hạn chế giết mổ gà tây vào ngày Lễ Tạ Ơn – một phong tục mà theo bà là hoang phí và vô nhân.

Giai nhân có đôi mắt sâu thẳm đã quyết định không chỉ để dành tòa ngọc thể mĩ miều cho người tình kép lịch George Clooney, mà công khai phô phang cho toàn thể nhân dân trong chiến dịch Go Naked của PeTA, đương nhiên là với sự ủng hộ, dù có hơi xót của, của người tình. Nàng còn tâm sự rằng “khoảnh khắc khỏa thân và cảm thấy dễ chịu nhất của tôi không chỉ là trong bồn nước ấm hay trên giường, mà khi đó là trước ống kính trong một chiến dịch như thế này.” Bản thân người đẹp cũng tham gia nhận nuôi những con vật bị bỏ rơi.

“Con nghiện xác” Lindsay Lohan đã tự xóa tên mình ra khỏi danh sách đối tượng đen của PeTA khi bắt đầu xuất hiện thường xuyên hơn với thời trang lông thú nhân tạo, và cả một huy hiệu tẩy chay lông thú đính trên mũ như một thứ bùa hiệu nghiệm chống tàu hũ bay.

Cô đào Yvonne Strahovski từng lẫy lừng danh tiếng qua bom cine Chuck cũng là một activist năng nổ của chiến dịch “Always Adopt, Never Buy” kêu gọi nhận nuôi những con vật bị bỏ rơi thay cho việc mua chúng từ các tiệm bán thú nuôi. Nàng xuất hiện trên tạp chí Modern Dog vốn rất được các diva yêu thú cưng ưa chuộng, kêu gọi độc giả chia sẻ lòng từ tâm với những chú chó mèo kém may mắn bị bỏ rơi và chất vấn các tín đồ thời trang về nguồn gốc của thời trang lông thú.

 …và danh sách không ngừng lại ở đây.

Cừu nhân của PeTA

Dù trong suốt một thời gian dài trở thành bia tập ném được ưa chuộng của các thành viên Peta, bộ sưu tập túi xách của Bà Beck lại một lần nữa thách thức trữ lượng tàu hũ tương cà của phái bạo động cực đoan này khi tung ra bộ sưu tập túi xách tuyền bằng da cá sấu và da bê. Một thành viên Peta tuyên bố thẳng thừng với tờ nhật báo Mirror rằng “có lẽ tàu hũ quá mềm và tương cà quá nhạt với gout Bà Beck, nên cô ta rất nên thận trọng với một xô máu bò thứ thiệt dội thẳng vào người bất cứ lúc nào khi cô ta bước chân ra ngoài.” Với những ai đã từng biết về Peta, đây hoàn toàn có khả năng chỉ là trò dọa suông, bởi vấn đề là liệu sự giận dữ có đủ khiến Peta sử dụng máu thật để làm vũ khí?

Người đại diện chính thức của chi sở Peta tại Anh quốc phủ nhận lời tuyên bố này, nhưng xác nhận rằng UK PeTA đang rất để mắt tới Victoria Beckham: “Chúng tôi không cho rằng Victoria cố tình lờ đi những bằng chứng thực tế về cách thức dã man dùng để giết hại những con vật để khai thác lông và da để phục vụ thời trang xa xỉ. Chúng tôi chỉ e rằng các thông tin, hình ảnh và các thư yêu cầu khẩn thiết từ phía tổ chức PeTA đã không lọt qua nổi hàng rào kiểm duyệt của các trợ lí của cô ta. Bởi không lí nào một người nào đó, dẫu chỉ còn một chút trắc ẩn trong người, lại có thể thản nhiên xem những hình ảnh tư liệu từ các cuộc điều tra của chúng tôi mà vẫn tiếp tục tiêu thụ và ủy lạo sản phẩm từ lông và da thú.”

Với sự cố gắng tuyệt vọng cho mỗi bộ trang phục và mỗi lần xuất hiện, đặc biệt bộ váy bằng những tảng thịt tươi đã khiến Lady Gaga nghiễm nhiên chiếm giữ vị trí thứ 3 trong danh sách đối tượng của PeTA. Sau đêm Gala và sự xuất hiện đáng nhớ đó, ngoài các nhà thết kế và các cây viết thời trang, lời bình phẩm được trông đợi nhiều nhất lại là từ kẻ ngoại đạo Ingrid: “Như bộ váy Lọ Lem vậy! Cô ta mà không nhanh chân về sớm thì bạn thậm chí còn có thể thấy dòi lúc nhúc trên chiếc váy ấy!”, rồi bà đột ngột trở nên sắc lạnh sau câu bông lơn: “Hẳn nhiên là cô ta rất cần còn được để ý tới, nhưng đó không nên là động cơ giết chóc.” Trong khi đó, Nữ Hoàng Làm Quá đang mỏi mòn chống chế cho “tính tư tưởng” trong bộ váy của mình bằng thông điệp “Tôi không phải là một miếng thịt”. Không ấn tượng lắm với cách bao biện lúng túng này, nhưng Ingrid vẫn tỏ nhã ý mời Lady Gaga xuất hiện tại dạ tiệc 30 năm thành lập PeTA, với hi vọng rằng Nữ Hoàng Làm Quá sẽ có cho mình cơ hội thứ hai để bình luận về thông điệp sâu xa của bộ váy nọ.


Cựu người mẫu, tổng biên Carine Roitfeld của Vogue Pháp bị PeTA tấn công ngay trước buổi diễn của Jean Paul Gaultier, Paris Fashion Week. Một tay quá khích xé rách ống tay chiếc váy nhà Balenciaga khi đang cố giằng chiếc áo khoác bằng lông dê màu tím mơ, trong khi những người khác tới tấp ném trứng vào người bà. Điều này không hề làm con nghiện xác thú nặng nghiệp người Pháp nao núng, nếu không nói là hãnh diện tự nhận mình là “kẻ tử vì đạo” sau vụ tấn công trên.

John Galliano, thời còn tại vị tổng lãnh sáng tạo nhà Dior, đã tiếp xúc trực tiếp với Ingrid và lu loa tố tội Bernard Arnault đã đặt lên ông áp lực đưa thời trang lông thú và phụ trang, áo khoác da vào bộ sưu tập để giữ tag giá xứng tầm xa xỉ. Nhưng không lâu sau đó, Petit John tung ra chiếc mũ không chỉ làm bằng lông thú mà từ hẳn da đầu và mặt một chú cáo tuyết bị lột da. Đôi mắt không còn tròng của con vật tội nghiệp khép lại ngay phía trên đôi lúng liếng được trau chuốt tỉ mẩn của người mẫu. Quả là vô giá!

Tay người Mỹ máu lạnh tuyên bố thẳng thừng với Ingri rằng “Có cầu thì có cung. Nếu còn có người mua, tôi sẽ thiết kế bất cứ thứ gì họ muốn!” Điều này cũng đồng nghĩa với hàng ngàn sản phẩm từ lông cừu karakul. Để bảo đảm chất lượng mềm mịn như tơ, những con cừu bị tế cho các diva khát máu phải là những con cừu mới sinh được khai thác bằng “phương pháp” gây sảy thai cho cừu mẹ, hoặc bị đập bằng dùi cui đến chết ngay khi chào đời. Không như mèo con, cừu con mở mắt ngay khi lọt lòng, và ắt hẳn Mẹ Thiên Nhiên không định tạo ra điều này với mục đích rằng hình ảnh một con người đang cố nện vào nó bằng dùi cui sẽ là hình ảnh duy nhất về hành tinh này mà sinh vật mong manh vắn số ấy chứng kiến được. Những con cừu non vô tội không hề biết rằng loài người, một loài người khác, đã có thể tự tạo ra những sợi tơ tổng hợp cho ra một chất lượng không hề kém cạnh bộ lông tơ mịn màng của chúng. Nhưng ắt hẳn Michael Kors phải có biết đến điều này.

Kors chỉ trả lời cụt lủn rằng “Lông cừu non có độ rũ tốt hơn”.

Ai bảo Tất Cả các nhà thiết kế đồng tính là những người mẫn cảm và tinh tế.

Naomi là một trong những gương mặt siêu mẫu tiên phong trên những poster lừng lẫy nhất của chiến dịch Go Naked, và hầu như ngay sau đó không lâu, khoác lên mình cả một chiếc áo lông thú to sù xuất hiện tại một show diễn ở Milan.

Show diễn của Julien Macdonald bị tấn công ngay tại London Fashion Week. Các nhà hoạt động tràn lên catwalk với biêủ ngữ “Fur Is Dead” và hàng vốc bột trắng ném thẳng vào mặt, ngay khi nhà thiết kế vẫn đang điềm nhiên tiến ra runway và cúi chào khán giả.

Không chỉ liên tục tảng lờ, thậm chí chế nhạo tối hậu thư yêu cầu chấm dứt sử dụng lông và da thú, gã đầu đinh mặt thẹo còn tỏ ra khoái trá khi cù nhầy với các nhà hoạt động của nỗi kinh hoàng PeTA

Năm 2003, các trợ lí của Jean-Paul Gaultier đã “phục kích” phái PeTA bằng một tảng lông thú được quăng trùm lên các nhà hoạt động khi họ tấn công show diễn của tay hooligan thời trang khét tiếng.

Trong khi các celeb cỡ bự và không thiếu cả các nhà thời trang thức thời tham gia ủy lạo chiến dịch chống thời trang lông thú, thì phái thủ cựu lại thể hiện sự chống đối yếu ớt và đuối trò. Nhà thiết kế Pháp Quentin Veron tung tràn lên catwalk tuần lễ thời trang Paris những bộ thiết kế với dòng chữ “I’d Rather Wear Fur than go Naked” (Thà mặc lông thú còn hơn ở truồng) như một phản đề đuối hơi với câu thiệu của chiến dịch “I’d Rather Go Naked than Wear Fur”.

Là bia ngắm ưa thích của các nhà hoạt động PeTA, đứng đầu danh sách ăn mặc tệ nhất năm 2005, được mệnh danh là nàng “đầu bong bóng” khi vẫn mạnh miệng gọi bản thân là kẻ yêu động vật, minh chứng bằng cục cưng chihuahua được chưng sắm xa xỉ, nhưng cô nàng “yêu động vật” cũng yêu luôn mặc da của chúng lên người

…và danh sách không ngừng lại tại đây

Đại-tẩu Truyền-thông Anna ‘Winter’

Túy Ca

Với trái tim băng giá và thanh quyền trượng bạo tàn, Lệnh Bà đã một tay nâng tầm tôn chỉ của Vogue từ một cuốn tạp chí hàng tháng của thời trang và lối sống, lên tầm một Nguyệt san Chân Kinh của nghệ thuật sáng tạo và tinh thần duy mỹ.

Và người ta không thể chạm được vào khối băng buốt giá khắc nghiệt ấy, chỉ trong khuôn khổ một cuốn phim ăn khách, dù có được đặt tên là The Devil Wears Prada.

Những cuộc chinh chiến đầu đời của tóc bob

Sinh năm 1949 tại London, trong một gia đình truyền thống văn chương và báo chí, bản thân Anna Wintour lộ rõ tư chất hoàn hảo của một nạn nhân thời trang với những cố gắng không mệt mỏi trong việc cắt ngắn những chiếc váy đồng phục, lê la cặp kè với đám văn nghệ sĩ bất hảo từ năm 14 tuổi. 15 tuổi, nàng cặp kè với Nigel Dempster – phóng viên lá cải khét tiếng và cả hai trở thành những gương mặt điểm danh hàng đêm tại các hộp đêm London.

Dẫu sao thì cha cô, ông Charles Wintour, tổng biên tờ Evening Standard, với mối e ngại về các mối quan hệ xã giao có phần phóng khoáng của ái nữ, đã muốn hướng cô thiên về thời trang hơn là không gian rối ren của báo chí. Ông đích thân lo liệu cho công việc đầu đời của Anna tại hiệu Biba boutique danh giá khi cô mới 15 tuổi. Một năm sau, Anna rời trường và theo học hướng nghiệp tại chuỗi cửa hiệu xa xỉ Harrods. Cũng dưới định hướng của song thân, Anna theo học ngành thời trang, nhưng sớm từ bỏ với lời tuyên bố “Bạn chỉ có thể biết hoặc không biết gì về thời trang, thế thôi!”. Chàng “hiệp sĩ lâm thời” của Anna lúc bấy giờ là tay văn sĩ vị lai Richard Neville đã kịp thời nối nhịp cho Anna với kinh nghiệm báo chí đầu tiên cùng tờ báo tự lập đình đám của chàng, mang cái tên cụt lủn nhưng ồn ào, đặc sệt mùi cao bồi Úc Đại Lợi – Oz.

Năm 1970, tờ Harper’s Bazaar UK sáp nhập với Queen và trở thành Harper’s & Queen, Anna lập tức được thu nhận vào vị trí trợ lí biên tập, cũng là cuộc tiếp cận đầu tiên của cô với khái niệm “truyền thông thời trang”. Ngay từ lúc này, các đồng nghiệp tại Harper’s & Queen đã nghe Anna bộc lộ tham vọng hướng về ghế tổng biên tờ Vogue. Tại đây, Wintour bắt đầu chứng tỏ rằng, những mối quan hệ phức tạp và bất hảo của mình hoàn toàn có thể trở nên có ích cho việc đưa những shot ảnh đình đám của Helmut Newton ra công chúng, theo sau là cuộc đổ bộ ồ ạt của hàng loạt các tay photographer vô danh, bất hảo và tài hoa khác đã chui nhủi dưới tầng nghệ sĩ underground trong suốt những năm 1960 đầy biến động nghệ thuật. Việc này dẫn đến kết quả dễ đoán là nàng bị đá văng khỏi tòa soạn sau một shot ảnh tái hiện họa phẩm của Renoir và Manet với những người mẫu mặc go-go boots.

Anna phẩy tay khinh thị, và cùng tình nhân lâm thời là nhà báo Jon Bradshaw trực chỉ Quả Táo Lớn New York, nơi một môi trường sáng tạo với tư duy thẩm mỹ cấp tiến hơn có thể đang chờ đợi cô.

Những cuộc bạo động thời trang & Mirabella khờ khạo

Năm 1975, Wintour làm biên tập viên thời trang cho Harper’s Bazaar New York, ghi dấu bằng những shot ảnh khiến cô bị đuổi việc chỉ sau 9 tháng. Đây cũng là thời điểm Wintour gặp gỡ Bob Marley qua Bradshaw, cặp đôi thời loạn cùng nhau biến mất suốt một tuần liền.

Một cách kiên trì đáng nể, Bradshaw vẫn sát cánh cùng cô nàng Ăng-lê bất trị, và một lần nữa dẫn dắt nàng đến với một cơ duyên khác với chức biên tập viên thời trang cho tờ Viva, một tạp chí người lớn dành cho quí bà, do Kathy Keeton, vợ của chủ xị tờ Penthouse Bob Guccione. Đây cũng là nơi lần đầu tiên, Anna Wintour nếm trải thú quyền lực của việc có một trợ lí riêng, cũng là nơi tăm tiếng về những trò nạt nộ độc tài của Bà Kẹ Wintour bắt đầu.

Cuối 1978, Guccione quyết định đóng cửa tờ báo, cùng lúc, Wintour quyết định đóng cửa một số thứ khác đã trở nên thừa thãi trong cuộc đời. Cô “thải hồi” tình nhân trung thành Bradshaw và cặp kè với tay sản xuất đĩa nhạc người Pháp Michel Esteban, bay vù vù tới lui giữa Paris và New York trong suốt 2 năm. Mãi đến năm 1980, Wintour tái xuất làng báo vào thời điểm thích hợp nhất, đó là khi biên tập thời trang Elsa Klensch nghỉ khỏi tờ Savvy khi này mới nổi. Với Savvy, Wintour trực tiếp tiếp cận với đối tượng độc giả là các diva sự nghiệp, tân kì văn minh, điệu đàng, và xài tiền do mình tự kiếm ra. Đó chính là đối tượng được thiết lập về sau cho định hướng của bà tại Vogue.

Một năm sau, Wintour nhảy sang tờ New York, nơi cô thật sự như cá gặp nước. Được tổng biên Edward Kosner hết mực cưng chiều dung túng, Wintour mặc sức phá vỡ các quy định nghiệp vụ truyền thống, bao trùm quyền lực thời trang lên mọi trang mục khác của tờ New York. Cũng chính từ đây, Wintour nghiệm ra hiệu ứng vô cùng của những khuôn mặt celeb trang bìa. Grace Coddington, 3 thập niên sau, nhắc lại: “Anna là người đã tiên liệu được thời đại quyền lực của các celebrity”. Người ta thu xếp cho Wintour một cuộc phỏng vấn với tổng biên tờ Vogue lúc bấy giờ là huyền thoại truyền thông Grace Mirabella. Cuộc trò chuyện chấm dứt khi Wintour nói với Mirabella rằng cô muốn vị trí của bà ta.

Đáng tiếc cho Mirabella, bà xem đây là một trò lố của ả biên tập nhập môn, và đã không đủ nhạy bén để cảm nhận tính đe dọa trong sự ngỗ ngược của Wintour để tiệt trừ hậu họa. Một năm sau, Wintour chính thức thâm nhập nhà Vogue, dưới quyền năng của trùm truyền thông-xuất bản Condé Nast. Cô nàng quá quắt chỉ nhận lời yên vị ghế tổng lãnh sáng tạo của Vogue sau một cuộc giằng co hoạnh họe để bảo đảm tăng lương gấp đôi. Nơi đây, các trò oái oăm quá quắt của bà được thực hiện qua mặt Mirabella, dấy lên những cuộc nội chiến phe phái khốc liệt cho cả dàn nhân sự Vogue.

Như một kịch bản hoàn hảo đến hồi dàn trải, Wintour quyết định lấy chồng, và chọn về cho mình vị tiến sĩ tâm lí nhi khoa David Shaffer – một lựa chọn hoàn hảo cho sức khỏe và trí tuệ cho những đứa trẻ về sau. Họ chính thức kết hôn năm 1984.

Từ Wintour đến Winter – Vogue vào Kỷ Băng Hà

Một năm sau, Wintour thẳng tiến vị trí biên tập, tiếp quản Vogue phiên bản Anh sau khi Beatris Miller nghỉ hưu. Ngay lập tức, với thanh quyền trượng mới trong tay, Wintour thực hiện một vụ thảm sát tập thể lẫy lừng chưa từng có trong lịch sử các phiên bản Vogue. Vogue UK thay máu toàn phần.

Những kẻ may mắn còn sống sót sau cuộc thanh trừng bắt đầu một kỷ nguyên khắc nghiệt nhất trong lịch sử nhà Vogue. Các thay đổi do Wintour chủ trương đã khiến tờ tạp chí xa rời hoàn toàn tiêu chí kinh điển, để trở thành một lực lượng xứng tầm cạnh tranh với môi trường báo chí Mỹ phù hoa và hỗn độn. Vào đúng thời điểm Wintour ghi tên mình vào danh sách thế lực truyền thông, bà đặt vào lồng ngực mình một trái tim bằng băng, và trở thành một sinh vật lịch lãm máu lạnh với cái tên có thể được đọc trại thành Anna Win-ter (Anna Mùa Đông)

Với kinh nghiệm chinh chiến từ thời làm cho tờ Savvy, Wintour thiết lập đối tượng độc giả mục tiêu của Vogue và đúng miếng bánh của Savvy: “Ngoài kia, một thế hệ đàn bà khác đang được sinh ra, họ lưu tâm tuyệt đối vào sự nghiệp và thu nhập. Họ không có thời gian cho trò mua sắm nhẩn nha. Họ muốn biết cái gì, tại sao, ở đâu, và bằng cách nào, ngay và luôn!”.

Đại bại ở New York & thảm sát tại Vogue

Năm 1987, đang đà hiếu thắng, Condé Nast biệt phái Wintour tái xuất Nữu Ước, với sứ mệnh thâu tóm luôn tờ House & Garden, khi này đang ngắc ngoải bởi thế lực cạnh tranh của Architectural Digest. Một lần nữa, Anna xuất hiện tại tòa soạn của tờ báo hiền hòa như hiện thân Tử Thần mặt thép, báo hiệu đại họa diệt vong nhân sự. Bà thẳng tay thay máu gần như toàn bộ tòa soạn, tống tờ báo lâu năm vào thẩm mỹ viện và cho xuất hiện một bộ mặt mông má hợp thời. Vị nữ tướng hiếu sát không tiếc thương quăng tất cả các bài viết và bộ ảnh trị giá hơn 2 triệu Mỹ kim vào thùng rác chỉ trong vòng một tuần đầu tiên, phủ đầy vào các trang tạp chí những shot ảnh sặc sụa diêm dúa chất thời trang, và biến House & Garden (Nhà & Vườn) thành House & Garment (Cửa Nhà & Xống Áo), với sự đổ bộ chi chít các khuôn mặt celebrities sáng giá, hợp thời và hứa hẹn cháy sạp.

Nhưng nữ hoàng băng giá đã không luôn là kẻ bất bại. Các thay đổi hồ đồ của Wintour chỉ khiến tình hình “con bệnh” House & Garden tồi tệ hơn. Với tên gọi được thu ngắn lại chỉ còn HG, Wintour đã đánh mất một lượng độc giả trung thành đáng kể. Cùng lúc, khi mà các khách hàng quảng cáo mới đổ ồ ạt các shot ảnh về thời trang và mỹ phẩm lên tờ báo, thì các khách hàng quảng cáo lâu năm lẳng lặng gạt HG ra khỏi chiến dịch quảng cáo của họ.

10 tháng sau, thất thểu bước ra khỏi trận thua trông thấy, Wintour tiếp tục mang chiến thuật của mình tấn công trực tiếp vào mảnh sân nhà – tờ Vogue, lần này với tư cách biên tập. Dưới thời Mirabella, Vogue đã nghiêng hẳn về xu hướng tạp chí lifestyle và giảm nhẹ mảng thời trang. Nội giới truyền thông và thời trang tỏ rõ mối e ngại cho tờ tạp chí lừng danh này sẽ mất dần chỗ đứng vốn đã chênh vênh trước thế lực mới nổi của Elle, khi này vừa tấn công thị trường báo chí Mỹ.

Vẫn với công thức và chiến thuật cũ, “Tử Thần Thực Tử” Wintour lập tức ráo riết và triệt để thảm sát nhân sự, cùng lúc đại trùng tu thẩm mỹ cho tờ tạp chí, từ bìa đến từng shot ảnh bên trong. Thời Mirabella, khuôn mặt trang bìa luôn là các headshot chặt chẽ được thực hiện hoa mỹ trong studio, với những gương mặt model hàng đầu. Ngay từ số đầu tiên cầm quyền, Wintour phà một hơi sinh động lên trang bìa, với những người mẫu vô danh, góc ảnh thoáng, bán thân hoặc toàn thân trên nền ngoại cảnh. Bà trực tiếp nhúng tay vào trang phục, phối trộn loạn xạ giữa hàng thời trang cao cấp với những món hàng rẻ tiền, tiên phong cho cuộc song tác kì thú mix-and-match. Tháng Mười Một, 1988, nàng Michaela Bercu khi này 19 tuổi và còn vô danh, leo thẳng lên bìa Vogue, chân xỏ cặp jeans bạc phếch giá 50 dollars, chiếc T-shirt công phu cầu kì của nhà Christian Lacroix giá sơ sơ 10,000 USD, vĩnh viễn đóng cột mốc shot ảnh bìa đầu tiên trong lịch sử nhà Vogue, jeans lên bìa!

Cuộc đại cải tổ tống mạnh quả bom tấn mới toanh vào thị trường tạp chí, nhắm thẳng thị phần mục tiêu. Wintour nắm vững cách chọn lựa và phối trộn thời trang của các fashionista có thật ngoài đời, và đưa điều đó lên trang bìa danh giá, với một sự cường điệu hóa oái oăm, ngẫu hứng và hoàn hảo của ống kính thời trang.

Trang bìa số tháng Mười 1989 đăng ảnh một model trẻ khác có tên Claudia Schiffer, tóc tơ hoe vàng, mình quấn một thứ nửa như drap trải giường hồ trắng, nửa như áo sơ-mi như tước từ tủ áo người tình, và trang điểm tự nhiên đến mức ngỡ như nàng để mặt mộc toàn phần. Một hình ảnh đời thường được các photographer, chuyên viên tóc và trang điểm trau chuốt đến trong veo và toàn mỹ. Tuyên ngôn của Wintour đã được hoàn thiện: tạp chí là phản ánh của một thứ thực tế được cường điệu một cách công phu và lâm li vi diệu. Các fashionista hẳn nhiên, ưa soi mình vào một trang báo để thấy chính hình ảnh bản thân, nhưng muôn phần hoàn mỹ, hơn là tuyệt vọng trước những shot ảnh bìa hào nhoáng của những tuyệt đỉnh giai nhân được tô vẽ như những huyễn mộng xa vời.

Những cuộc “đảo chính” không thành và những truyền nhân siêu hạng

Dưới trướng cai trị của vị tân tổng lãnh say máu chiến, Vogue chuyển hướng chú mục tuyệt đối vào thời trang, trở về nguyên trạng một tạp chí thời trang đúng nghĩa và chuyên chính cực đoan, hội đủ nội lực để ngang nhiên kèn cựa với các thế lực Elle lẫn Harper’s Bazaar. Nhưng, hơn ai hết, Wintour hạ tầm ngắm đối đầu vào một đối thủ duy nhất đáng gờm – Vanity Fair.

Nằm ngoài dự liệu của Wintour, một lực lượng nhân sự đáng kể của Vogue đồng loạt đào ngũ quy hàng nhà Harper’s Bazaar như một cuộc lánh nạn tập thể khỏi “mùa đông khắc nghiệt” tại tờ Vogue. Kate Betts – kẻ khi này được xem là một mối đe dọa cho vị trí của Wintour, xuất hiện, với những cuộc cách mạng mới ngay trước mũi Wintour. Kate thành công trong việc vươn xa tầm phủ sóng của Vogue với những câu chuyện về các nữ chính khách, những bài viết về trào lưu văn hóa đường phố, và các vấn đề thương mại, tài chính của các nhà thời trang hàng đầu. Betts cũng là người đề xuất việc thêm vào phần “Index” (mục lục) những trang bí quyết lượm lặt, thân thiện và hữu dụng. Các ý kiến đề xuất táo bạo của nhân vật trẻ tuổi này được nêu ra tại các buổi họp khiến cô chiếm được lòng nể gờm của Wintour khi công nhiên thách thức bà.

Lòng kiêu hãnh của một nữ vương khiến Wintour say máu quyết liệt và hung tàn đến lạnh lùng trong những cuộc đụng độ, khi cả hai bên đều muốn hướng mục tiêu tờ tạp chí về những hướng chiến lược đối lập. Betts cho rằng phong cách trang bìa của Vogue đang trở nên nhạt trò, Wintour thì khinh thị những bài viết về trào lưu đường phố của Betts là tầm thường, và nhún vai gọi Betts là loại “đầu rỗng thích làm trò uyên bác”.

Cuối cuộc chiến, Betts tháo chạy khỏi chiến địa tan hoang, kể lể với New York Times rằng ả độc tài tàn nhẫn ấy đã thậm chí không nương thói xã giao tối thiểu mà gửi tặng cô món quà cho đứa trẻ mới sinh. Đáp trả, Wintour, trong thư tòa soạn đăng tải trên Vogue, tỏ lời ghi nhận đóng góp của Betts đối với tòa soạn và chúc cô mọi điều may mắn.

Sau Betts, người được giả định là kẻ có đầy đủ tư cách và năng lực để  thế chỗ Wintour là Sykes, điều này đồng nghĩa với việc một ngày đẹp trời, cô tuyên bố nghỉ việc với lí do tập trung cho sự nghiệp văn chương. Sau đó, lần lượt các biên tập viên khác ra đi, phần lớn được chào đón ưu ái với các chức vị cao tại các tạp chí và hãng truyền thông danh tiếng khác.

Một số người cho rằng đó lại là trò thanh trừng của nữ vương hiếu sát.

Một số khác, vài năm sau, thảng thốt nhận ra Anna Wintour đã biến Vogue thành một môi trường đào luyện báo chí siêu hạng.

Trong khi đó, tại Vogue, một hệ thống biên tập mới được lẳng lặng hình thành, với hình hài một đế chế được kiện toàn hoàn hảo.

Chức sắc Hoàng gia và chiếc váy tệ nhất năm

Tháng Chín năm 2007, Wintour vĩnh viễn ghi dấu lịch sử Vogue với số tạp chí kỷ lục lên tới chính xác 832 trang. Sự kiện này được ghi dấu lại bởi bộ phim tài liệu tung ra cũng vào tháng Chín 2 năm sau đó do Cutler đạo diễn mang tên The September Issue. Đây cũng là thời điểm Wintour tiên liệu và thai nghén những đứa con của Vogue mang tên Teen Vogue, Vogue Living và Men’s Vogue. Teen Vogue thắng quảng cáo vượt mặt Elle Girl và Cosmo Girl, còn Men’s Vogue ngay từ số đầu tiên đã nghiễm nhiên ẵm trọn 164 trang quảng cáo cháy chợ, lập kỷ lục chiến tích trong lịch sử xuất bản truyền thông Condé Nast. Còn bản thân Nữ Hoàng Băng Giá nghiêng mình lịch lãm nhận từ Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị tước hiệu Officer of the Order of the British Empirer (OBE).

Nhưng cùng lúc, đó đã không hề là một năm yên ả thịnh vượng cho toàn cảnh kinh tế thế giới. Sau hình ảnh những tảng diềm bằng lông vũ vào tuần lễ thời trang Milan, đến shot bìa tháng Tư với hình ảnh LeBron James và Gisele Bundchen đã khiến Wintour rơi lọt thỏm vào tâm bão chỉ trích của công luận với tội danh kỳ thị chủng tộc. Một tháng sau, Wintour xuất hiện tại đêm Gala của Viện Met trong bộ váy lộng lẫy do Karl Lagerfeld thiết kế và lập tức được nội giới đồng loạt bình chọn là “Lỗi thời trang tệ lậu nhất năm 2008”

Vào mùa Thu cùng năm, tờ Vogue Living bị đình chỉ vô thời hạn, trong khi quý tử Men’s Vogue phải o ép lại còn 2 số mỗi năm, và chỉ dưới dạng phụ trương đính kèm. Vào cuối năm, bìa số tháng Mười Hai chạy rõ to lời miệt thị của Jennifer Aniston về Angelina Jolie khiến cả hai cô đào nổi trận lôi đình, Aniston trút mọi tội lỗi thất thố lên Vogue.

Người ta chờ đợi thấy Nữ Hoàng Băng Giá run rẩy giã từ cung điện bằng băng.

Thậm chí giới nhạy tin còn kháo nhau rằng vương miện tổng lãnh phen này chắc chắn rớt trúng cái đầu may mắn của tổng biên Vogue Pháp là Carine Roitfeld. Phe khác lại bỏ phiếu cho tổng biên Vogue Nga là Aliona Doletskaya để vào ghế tổng biên Vogue Mỹ.

Người ta chờ đợi một triều đại mới, chấm dứt kỷ băng hà của mùa Đông khắc nghiệt và những bộ lông thú xa xỉ mà Wintour vẫn thường vứt phũ phàng trên bàn trợ lí, trên đường “thượng triều” mỗi sáng.

Nhưng một lần nữa, Condé Nast minh chứng uy quyền và thế lực bảo kê khi đứng ra mua trắng cả trang trên The New York Times để trực tiếp lên tiếng tụng ca Nữ Oa nhà Vogue.

Nhưng đến 2009, Nữ Hoàng Băng Giá mới chịu ra tay. Bà xuất hiện khắp nơi, điềm nhiên ngạo mạn trước rừng flash. Xuất hiện trong bản tin truyền hình 60 Minutes, Wintour tuyên bố không hề có ý định ngừng lại: “Tôi cho rằng, đây chính là thời điểm thú vị nhất để tại vị và nắm quyền chủ động, đưa Vogue vào một thời kỳ mới”. Tháng Chín cùng năm, bộ phim tài liệu The September Issue của R.J.Cutler được tung ra, tường thuật quá trình chuẩn bị số tạp chí huyền thoại – Vogue tháng Chín 2007, và một chân dung tả thực hoàn hảo, đầy ấn tượng về Nữ Hoàng Băng Giá.

Wintour tiếp tục xuất hiện trên talkshow Late Show with David Letterman, ăn mặc chuẩn không chê vào đâu được, và nói về bộ phim, về hệ quả kinh tế toàn cầu lên toàn cảnh công nghệ thời trang thế giới. Hiệp hội Biên tập Tạp chí Hoa kỳ bình chọn Wintour vào Hành lang Danh vọng của huyền sử truyền thông Hoa Kỳ. Anna Wintour tại vị, lạnh lùng và bất bại hơn bao giờ hết.

“God mother”

Trong suốt những năm dài lừng lẫy chiến công và tai tiếng, Anna Wintour đã trở thành một cái tên đầy quyền lực trong làng thời trang thế giới. Nội giới thời trang biết đến Wintour còn như một “bà đỡ” hào phóng của các nhà thiết kế trẻ, một fashion diva với các cuộc chơi phong cách ngoạn mục. Trong giới, người ta thường nghe câu mắng mỏ dành cho các sinh viên thiết kế và biên tập viên tập sự: “Anh/chị có muốn tôi mang cái thứ này cho bà Anna coi không đấy?”. Tờ The Guardian gọi bà là “nữ thị trưởng không chính thức” của New York City. Các nhà thời trang khét tiếng nhất coi bà như một diva đáng trọng, và tìm đến sự khôn ngoan của bà để tham vấn. Wintour đã là người khuyến khích nhà Christian Dior tuyển mộ các tài hoa trẻ tuổi như John Galliano.

Ảnh hưởng và quyền lực Wintour còn vươn ra khỏi lãnh địa thời trang. Wintour đã dùng mối quan hệ và uy tín cá nhân để thuyết phục tỉ phú Donald Trump cho Jacobs mượn phòng khánh tiết Plaza Hotel để giới thiệu bộ sưu tập, khi tay thiên tài này đang lúc xính vính chuyện tiền nong. Gần đây hơn, anh em nhà Brooks cũng vị nể Wintour, thuê về một tay Thom Browne vô danh mà về sau đã tự tay gầy dựng cả một đế chế nhỏ cho riêng mình.

Thu nhập của bà năm 2005 là 2 triệu Mỹ kim, với những đặc quyền đặc lợi dành cho yếu nhân tối thượng, từ chiếc Mercedes S-Class kèm chauffeur (ở New York hay bất cứ đâu), đặc quyền mua sắm có giá trị lên tới 200,000 USD, một căn Coco Chanel Suite tại Ritz Paris khi đến Âu châu tham dự các show iễn. Chủ tịch Condé Nast là S.I.Newhouse còn dành riêng cho Wintour một khoản vay không tính lãi 1.6 triệu Mỹ kim để sắm căn nhà “con con” của bà tại khu Greenwich Village thượng đỉnh xa hoa.

Bữa trưa với protein ngoài vùng phủ sóng

Vào thời điểm Wintour ly dị với chồng, năm 1999, giới thợ đồn lại sôi sục các chi tiết về cuộc phiêu lưu ái tình của Bà Chúa Băng Giá với tay tài phiệt Shelby Bryan – điều nhiều người cho rằng là nguyên nhân chính của vụ ly dị. Wintour quyết không nhả một phản ứng nào qua làn môi mỏng và cặp kính đen, trong khi một số bạn bè thân tín của bà tiết lộ rằng Bryan chính là người đã làm tan chảy trái tim băng giá nọ, bởi những điều người ta có được, không phải là những nụ hôn nơi công cộng hay một cảnh nóng phòng the! Đương nhiên, đây là trường hợp một phù thủy truyền thông quá cáo già để làm nạn nhân cho trò cải vặt. Nhưng những chứng cứ hiển nhiên của một số nguồn tin của tờ Observer khi ấy cho biết, họ “bắt quả tang” những hiện tượng hiếm thấy: Wintour cười, và đôi khi còn cười phá lên.

Quả nhiên điều này đáng được xem là hiện tượng hiếm thấy, với mật độ ngang bằng việc quái vật hồ Loch Ness lên bờ sưởi nắng, và thậm chí thưa thớt hơn các cuộc tiếp xúc của con người với UFO.

Wintour tuân thủ một cách bình thản và khắc nghiệt những quy luật của chính mình. Bà thức dậy mỗi sáng vào lúc 6 giờ, có 2 giờ đồng hồ để chơi tennis, trang điểm và làm tóc trước khi thượng triều tại tòa soạn Vogue. Bà luôn có mặt sớm tại các show thời trang và tận dụng thời gian này để gọi điện thoại và ghi chép: “Không ít những ý tưởng sáng giá nhất của tôi đã được phác thảo ngay tại các show diễn”. Theo series truyền hình Boss Woman của đài BBC, Wintour không bao giờ ở tại một party quá 20 phút và luôn bảo đảm lên giường vào chính xác 10 giờ 15 phút hàng đêm.

Những giờ còn lại trong một ngày của Wintour, ngoài việc kiểm soát hoàn hảo bản thân, là một áp lực kiểm soát khắc nghiệt nhất có thể lên hình ảnh của tờ tạp chí. Từ những ngày đầu tiên ở vị trí biên tập, mọi photographer đều được lệnh tuyệt đối không bấm máy trước khi phông cảnh và trang phục được đích thân Lệnh Bà Tối Thượng phê chuẩn qua bản phim Polaroids. Sau đó, mọi shot ảnh đều phải được lập tức trao cho tòa soạn và trở thành tư liệu sở hữu của Vogue lập tức, không qua khâu chọn lựa của nhiếp ảnh gia.

Nhưng chế độ hà khắc của Bà Mùa Đông lại tỏ ra khá dễ dãi đối với phần nội dung chữ nghĩa, đến mức người ta gọi bà là “Tổng biên không cần biết đọc”. Các trợ lý của Wintour khẳng định Lệnh Bà vẫn thường xuyên duyệt nội dung bài mục, nhưng cựu biên tập Richard Story lại tiết lộ rằng hầu như Wintour chẳng bao giờ buồn ghé mắt đến các bài viết về nghệ thuật, hay thậm chí mục điểm sách của Vogue. Trước đây, Wintour thậm chí bỏ mặc việc soạn và biên tập các phần text cho các nhân viên. Các đồng nghiệp cũ của bà cũng thừa nhận văn chương báo chí là một trong những sở đoản của Lệnh Bà, và sự phấn đấu tự rèn luyện của Wintour đã cho phép bà tự tay thảo phần thư tòa soạn mỗi tháng.

Nếu gọi điện đến văn phòng riêng tại “cung điện Mùa Đông” của bà, người ta, nếu may mắn, sẽ được trả lời trực tiếp bởi 1 trong 3 trợ lý của Wintour. Nhưng đã không ít lần, một số người đã giật bắn mình khi tai nghe thốt nhiên lạnh cóng, và đầu dây bên kia vang lên đích thị chất giọng Ăng-lê với khẩu hình sát rìn rịt của Lệnh Bà Quyền Năng. Số điện thoại di động của bà, hẳn nhiên, chỉ dành cho những bạn bè và đối tác thuộc hàng yếu nhân kiệt xuất, nhưng cũng được tắt nguồn hoàn toàn khi Lệnh Bà dùng bữa trưa, thường là với một miếng thịt bò bự sự hay thi thoảng là hamburger. Những bữa ăn giàu protein là thứ duy nhất phản-thời-trang người ta có thể tìm thấy được trong hồ-sơ-Wintour.

Đừng nhìn qua “đôi mắt” của Anna!

Bản thân là một fashionista nặng nghiệp, cùng với đẳng cấp và hình ảnh xã hội cần có của một tổng lãnh Vogue chí tôn lừng lẫy, tủ quần áo riêng của Bà Chúa Băng Giá là một thế giới mẫu mực tuyệt đối và đầy tính toán trên từng chi tiết. Trước đây, người ta vẫn thấy một Wintour phối trộn T-shirt với áo gi-lê và designer jeans, nhưng từ thời cầm phương trượng tổng lãnh tờ Vogue, Wintour chạm đến sự chuẩn mực đẳng cấp thuần túy nhất của những bộ suits Chanel, đương nhiên là với váy ngắn, rất ngắn. Thậm chí trong suốt hai lần mang bầu, bà chỉ việc hơi nới lưng váy phía sau và che phủ bằng áo jacket, với đôi giày cao gót – biểu tượng của quyền lực và sự sành điệu, không bao giờ biến mất dưới chân.

Theo tay chuyên viết tiểu sử Jery Oppenheimer, cặp kính mát gọng to trứ danh của Bà Mùa Đông chính là những cặp tròng kính có độ, do Wintour có thị lực kém giống cha mình, một đồng nghiệp khác thú nhận một lần, do táy máy đeo thử cặp kính Wayfarers của Lệnh Bà, mà cô này vẫn nghĩ là kính mát, và thói nghịch dại lập tức bị “trừng phạt” với một trận chóng mặt quay cuồng bởi cặp tròng nặng nghiệp.

Trên bản tin 60 Minutes, Bà Mùa Đông tỏ ra mẫn cảm khi nói “Giờ đây, chúng (cặp kính) đã trở thành những cái khiên bảo vệ đối với tôi”. Trên thực tế, cánh phóng viên và bình luận thời trang đừng hòng tìm kiếm trong đôi mắt của bà bất cứ cảm xúc hay phản ứng nào trước các thiết kế trong những buổi diễn thời trang. Nhưng một cách vô thức, khoảnh khắc người ta nhìn thấy cặp kính đen dưới vành tóc bob ở hàng ghế đầu, đã đủ khiến không ít cái sống lưng kém chịu lạnh phải run lên. Nhưng người ta vẫn không thể không liếc tìm về cặp gọng to vô hồn ấy, để hứng vớt dẫu một chút dấu hiệu của sự tán thưởng hay bài bác chê bôi. Thản nhiên đúng chuẩn Ăng-lê, bên dưới cặp kính ấy, Lệnh Bà tỏ ra hoàn toàn lạnh lùng và vô cảm. Bà dấu sau cặp kính cú mèo và dưới mái tóc pageboy bob một bộ óc thép, cùng một khiếu thẩm mỹ khắc nghiệt đang vận hành hết tốc lực, nhưng hoàn toàn không có nhu cầu thể hiện hoặc sẻ chia.

Những lần hiếm hoi người ta nhìn thấy đôi mắt thật của Wintour, rất may đã không ai hóa đá. Có vẻ như sau cuộc ly hôn, Bà Mùa Đông cũng có nhu cầu cởi mở hơn, và đón về cho mình chút ánh sáng ấm áp ngoài bóng râm.

Phản đồ Weisberger và đòn bẩn best-seller

Mọi fashionista đều phải biết đến bộ phim Quỷ Cái Diện Prada (The Devil Wears Prada).

Nhưng không phải ai cũng biết đến cái tên Lauren Weisberger hay có nhu cầu quan tâm đến nhân vật này là ai.

Và mọi chuyện đều có lí do của nó.

Lauren là một trong những trợ lí cũ của Wintour, và viết nên tiểu thuyết The Devil Wears Prada sau khi rời bỏ Vogue. Cuốn tiểu thuyết lập tức được liệt vào hàng sản phẩm văn học hiếm hoi được các fashionista lùng mua ráo riết, không phải bởi tiếng tăm tác giả, mà vì thông tin về cốt truyện và nhân vật hầu như tái hiện trung thực các thâm cung bí sử của tòa soạn Vogue, với chân dung đặc tả của vị nữ chủ nhân lạnh lùng. Càng thú vị hơn nữa khi đây là trường tâm ca uất ức của một cựu trợ lí dám công nhiên tố oán diva thượng đỉnh chí tôn của giới thời trang.

Sau khi cuốn sách được tung ra, người ta đón đợi cơn lôi đình thịnh nộ của Bà Mùa Đông và những đòn giáng trả ngoạn mục của quyền năng bị xúc phạm. Nhưng Wintour, lạnh lẽo như vẫn hằng, điềm tĩnh trả lời với The New York Times rằng: “Tôi luôn có thể đọc một cuốn tiểu thuyết, nếu nó hấp dẫn. Với cuốn này, tôi không rõ liệu mình có muốn đọc hay không”, trong khi nữ văn sĩ mới nổi Weisberger tuyên bố rằng các tình tiết và mô tả trong cuốn truyện không chỉ là ý kiến của riêng cô, mà còn dựa trên chia sẻ của rất nhiều đồng nghiệp khác tại Vogue.

Miranda Priestly – nhân vật chính cũng là một quý bà Ăng-lê kiểu cách, với 2 đứa con, và một vai vế đáng kể với Viện Met. Đó là bức chân dung hoàn hảo của một tay quân phiệt độc tài mặc váy, luôn ngạo mạn khạc ra những mệnh lệnh trớ trêu, đặt nhân viên vào những tình thế khó khăn nhất và miệt thị họ một cách lạnh lùng, cay nghiệt khi, đương nhiên, họ thất bại. Kẻ có khả năng khiến tất cả những tạo vật còn lại của Thượng Đế thấy mình bé nhỏ, hèn kém và vụng về. Tuy vậy, nằm ngoài chủ đích của tác giả, đối với không ít fashionista, cuốn tiểu thuyết đã đặc tả một cuộc chạy đua tuyệt vọng của các nhân viên tòa soạn Vogue trên đường dành giật lấy một chút lòng sủng ái mưa móc của Lệnh Bà Quyền Năng.

Ngay trong từng tiểu tiết hành văn của Weisberger, cô vẫn không giấu được một nỗi khiếp sợ yếm thế toàn phần khi chính mình luôn tìm cách làm đẹp lòng Wintour, và luôn thất bại. Weisberger xây dựng cho mình một thế giới an ủi của các con chữ, nơi cô cho phép nàng trợ lý vụng về mờ nhạt được “chạm” đến đại nữ Miranda, và ra đi, trong an nhiên tự tại. Trên thực tế, chính những con chữ của Weisberger đã tố cáo chân dung tác giả qua những trang văn, hằn học và vẫn hoàn toàn thất thế.

Một người mà nội giới vẫn tin là một nạn nhân khác của Wintour, Betts – người đã từng bị sa thải khỏi Harper’s với lời đồn đại về xu hướng manh nha cạnh tranh và đảo chính vị thế của Wintour, đã bất ngờ nói với New York Times Book Review rằng “cô Weisberger lẽ ra nên nghĩ cho kỹ trước khi bán linh hồn cho “quỷ dữ” với giá 32,500USD. Cô ta có cho mình hàng ghế đầu lí tưởng để được kề cận Wintour, và thậm chí không rút ra được tí ti hiểu biết nào về những áp lực mà một đại nữ như Anna Wintour phải đối mặt. Như vậy, thử hỏi ở tư cách một tiểu thuyết gia, làm sao cô ta hiểu được một Miranda Priestly sẽ cần những gì để có thể tái hiện, dù một chút, một Anna Wintour?”.

Weisberger về sau chống chế “Chưa một giây phút nào tôi phủ nhận vinh dự từng được là một trợ lý của Anna.”

Dẫu sao thì cuốn sách vẫn bán rất chạy, không hẳn bởi tên tuổi Weisberger.

Cú phản đòn tuyệt hảo và “bà mụ” vắng mặt trong dạ tiệc premiere

Sự nhạy bén của Hollywood không bỏ qua cơn sốt mang bóng hình Quỷ Cái, mặc dù bộ phim The Devil Wears Prada không hề là lần đầu tiên hoặc duy nhất các nhà làm phim mượn màu tích cách Wintour. Từ kiểu tóc bob của nhân vật hoạt hình Edna Mode trong The Incredibles, cho đến cuộc sao chép tính cách Wintour của Johnny Depp khi nhập vai Willy Wonka trong Charlie and the Chocolate Factory. Và đương nhiên, không tín đồ nào không biết nhân vật Fey Sommers trong series truyền hình Ugly Betty là phiên bản hài hước của Đại Nữ Truyền Thông.

Nhưng phiên bản điện ảnh của The Devil Wears Prada lại là chuyện khác. Trong suốt quá trình thực hiện bộ phim, diva truyền thông thẳng thắn ‘nhắn nhủ’ với các nhà thiết kế hàng đầu rằng việc hợp tác, đóng góp hay xuất hiện của họ trong bộ phim (chuyện vẫn thường xảy ra với các bộ phim Hollywood mang đề tài thời trang) sẽ đồng nghĩa với việc các thiết kế và thông tin về họ sẽ bị tẩy chay khỏi mọi trang tạp chí Vogue. Nhưng người phát ngôn của Lệnh Bà bác bỏ tin đồn này, và khẳng định Lệnh Bà luôn ủng hộ mọi động thái úy lạo thời trang từ các nhà làm phim. Thật hư không rõ, nhưng kết quả là không một nhà thiết kế nào, dù được nhắc đến rất nhiều trong kịch bản, nhận lời xuất hiện trên phim, ngoại trừ Valentino Garavani – người mà ai cũng biết là đứng đầu phong trào “bài Wintour” của các nhà thời trang Ý.

Bộ phim ra mắt vào giữa 2006, cháy vé đảo điên. Wintour đường bệ xuất hiện tại lễ ra mắt, mình vận Prada. Miranda Priestly do Meryl Streep thủ diễn vẫn đầy tính nhân văn so với hình ảnh độc địa trong nguyên bản văn học. Các nhà phê bình ca tụng hình ảnh mới, các nhà thiết kế và nội giới thời trang tung hô nghĩa cử và gout thẩm mỹ cao siêu của bà tổng biên Vogue khi được cho biết, bà đã đích thân can thiệp và chăm chút cho phong cách thời trang của Meryl trong bộ phim cho giống với mình hơn. Chưa hết, Lệnh Bà hào hiệp nhân từ của bộ phim còn tuyên bố The Devil Wears Prada sẽ sớm được tung ra dưới dạng DVD. Bà khen tặng rằng đây là một cuốn phim “thú vị, giàu tính giải trí, và đưa thời trang về đúng hình hài lộng lẫy của nó”.

The Devil Wears Prada thu về 300 triệu Mỹ kim, và không còn ai nhắc đến nguyên tác văn học của nó, cùng nữ tác giả mới nổi đã kịp trở về vô danh. Một vài dòng tin có nhắc đến sự hiện diện của Weisberger tại buổi ra mắt phim đình đám, nhưng không thấy có hình ảnh nào ghi nhận điều này.

Điều này vẫn chưa đủ “tính giải trí” cho Lệnh Bà. Khi Weisberger, trong một cuộc gắng sức cuối cùng, định ấp ủ một cuốn tiểu thuyết mới, cô đã nhận được lời truyền đạt từ phát ngôn viên của Lệnh Bà, khuyên cô nên “tìm một công việc làm trợ lí cho một ai đó khác”.

Đừng làm phiền Anna!

Dư chấn của cú phản đòn tuyệt hảo và bộ phim vẫn tiếp tục ve vuốt hình ảnh và danh tiếng Wintour. Nhà viết tiểu sử Oppenheimer kể lại: “Giờ thì cái tên Anna được nhắc đến giữa những bữa trưa bình dân với Big Macs và khoai chiên, bởi những fashionista chanh cốm mình bận đồ Wal-Mart”.

Nhưng cuộc trả đũa của Bà Chúa Băng Giá chưa kết thúc. Ba năm sau đó, bộ phim tài liệu The September Issue ra mắt – một chân dung tả thực, công nhiên và hoàn hảo, biến Miranda Priestly trở thành một bản biếm họa thô sơ. Bộ phim tả thực mọi biến cố sự vụ xảy ra bên trong “cung điện mùa đông” Vogue, với sự xuất hiện hào phóng của những tình tiết đời thường, nhưng hào nhoáng và bạo liệt của một tòa soạn thời trang thực thụ trong áp lực hoàn thiện cuốn tạp chí thời trang dày hơn 800 trang. Nơi đó, Wintour xuất hiện, đầy quyền lực và thượng đỉnh chí tôn, không chỉ như một nữ chúa thiết triều, mà thật sự là một vị hoa tiêu điệu nghệ và không khoan nhượng.

Dẫu khác biệt về thể loại và chủ đích, cả The Devil Wears Prada lẫn The September Issue đều có chung một nét đặc tả về sự kiêu ngạo và xa cách của Wintour, thậm chí đối với cả những kẻ thân tín nhất. Mọi nhân viên tập sự của nhà Vogue đều được cảnh báo về điều này, một danh mục “Những điều Lệnh Bà không thích”, với điều đầu tiên và cơ bản nhất là việc bị làm phiền bởi những câu hỏi ngớ ngẩn và sự hiện diện thừa thãi. Văn phòng riêng của Lệnh Bà phải có không gian đủ rộng để khiến người ta phải đi bộ ít nhất một dặm trước khi đến được bàn làm việc của bà, và điều này là hoàn toàn có chủ đích. Họ có một dặm đi bộ để cân nhắc liệu việc tiếp cận bà có thật sự khôn ngoan và cần thiết.

Wintour vẫn thường nhắc đến hình ảnh thân phụ, người từng được các đồng nghiệp và nhân viên tại tờ Evening Standard London rùng mình gọi bằng hỗn danh “Chilly Charlie” (Charlie Lạnh Lẽo). Và sự rùng mình ấy lan tỏa đến tận New York nhiều thập niên sau đó, dành cho con gái của ông với biệt hiệu Anna Winter (Anna Mùa Đông). Nhưng điều này cũng đồng nghĩa với những cơn thịnh nộ bốc đồng, một thứ núi băng lạnh lẽo nhưng có thể phụt nham thạch rát mặt bất cứ kẻ xấu số nào trong phạm vi gây hại. Nhưng một điều khác trong bản liệt kê “Những điều Lệnh Bà không thích” còn là việc đặt biệt danh. Wintour ghét cái tên Nuclear đến mức giận dữ yêu cầu tờ The New York Times không được sử dụng, truyền bá cái tên này.

Wintour ngạo ngược, khắc nghiệt và hoàn toàn có thể rất, rất thô lỗ. Điều này đem lại cho bà một số lượng nạn nhân và cừu nhân đáng kể. Wintour không nói chuyện vòng vo hay cố tỏ ra tế nhị, và Wintour không có mặt ở tòa soạn với ý định kết bạn với các nhân viên của mình. Nói một cách khác, nếu bạn ngỡ rằng bạn vừa đứng chung thang máy với Anna Wintour thì quên ngay đi, đó chắc chắn không phải là Anna Wintour. Một luật bất thành văn khác tại nhà Vogue nghiêm cấm các nhân viên tập sự trao đổi trực tiếp với Lệnh Bà. Một biên tập viên đã từng bị trợ lí của bà quở trách thậm tệ vì việc đã lên tiếng chào hỏi bà khi gặp trong thang máy. Khi vụ việc được xác minh với Wintour, bà bảo đó chỉ là một cách nói cường điệu. Có lần, một vị khách của Wintour nhìn thấy một cô nhân viên tập sự rõ ràng là đã phát hoảng lên khi phát hiện ra mình đang đứng cùng Lệnh Bà trong thang máy. Một lần khác, một biên tập viên trông thấy Lệnh Bà tối cao trượt chân ngã trong hành lang, cô cắm mặt đi vội qua và thậm chí không dám ngừng lại để đỡ Đại Nữ. Ngay sau đó, cô gái tội nghiệp lại một phen bất ngờ khi được một trợ lí của Lệnh Bà khen rằng cô “đã làm một việc hoàn toàn đúng khi không làm phiền madamme Anna.”

Vụ ám sát bất thành và Mùa Đông được ủ ấm

Một nét đặc tả chuẩn xác nữa về Wintour là sự cầu toàn và duy mỹ cực đoan – nguyên nhân thường xuyên tạo khủng hoảng tâm lý cho mọi nhân viên quanh bà, nhưng lại khiến họ trở thành những tay sừng sỏ một khi bước ra khỏi tòa “cung điện mùa đông”. Họ gọi bà là “nữ đao phủ” của các nhiếp ảnh gia. Có lần Wintour đã bắt một nhân viên tập sự phải cắm mặt bới tung thùng rác của một photographer để tìm cho ra tấm ảnh mà ông này đã từ chối không trao cho Wintour. Bà muốn nhìn thấy tất cả, và đích thân phê chuẩn từng shot ảnh. Điều đó đồng nghĩa với việc ngay cả những shot ảnh hỏng cũng là tài sản của Vogue, và một shot ảnh bị bỏ đi khi chưa được chiếu rọi qua sự kiểm duyệt của đích thân Wintour sẽ là một tài sản bị đánh cắp. Trong một scene, sau này đã được loại bỏ, của The September Issue, người ta thấy Wintour rùng mình ghê rợn bởi “những cái xô bằng nhựa trắng tởm lợm” đựng đá sau quầy bar tại sự kiện CFDA’s 7th on Sale, và nằng nặc đòi “mang chúng đi đâu cho khuất mắt ngay lập tức”. Nếu Anna muốn một điều gì đó được thực hiện “ngay lập tức”, thì không có nghĩa là “một chút nữa”. Anna muốn điều Anna muốn, ngay và luôn, và mọi nhân viên của bà tốt hơn là thuộc nằm lòng điều ấy. Một trợ lý lâu năm của bà nói: “Bà ta sẽ quăng bạn xuống nước, hoặc là bạn phải quẫy hết mình để bơi, hoặc là chết”.

Hẳn nhiên, Wintour cũng có về cho mình, từ chế độ độc tài hà khắc ấy, những kẻ chỉ muốn cắt cổ bà. Peter Braustein – một phóng viên của Women’s Wear Daily là một trường hợp như vậy, và theo nghĩa đen. Nguyên nhân chỉ vì y đủ mẫn cảm để lãnh hội được sự khinh thị mà bà dành cho y, đó là trong trường hợp nếu bà có lưu tâm ghi nhận sự tồn tại của y trên cõi đời. Sau khi được nhận chỉ một chiếc vé để có mặt tại giải Vogue Fashion Awards 2002, mà đối với y là một sự sỉ nhục, Braustein nổi đóa và bị WWD đuổi việc. Trong buổi xét xử năm 2007, các ủy viên công tố đưa ra bằng chứng là những trang nhật ký điện tử của Braustein, trong đó ghi rõ ý định giết chết Anna Wintour. Trong đó, có đoạn “Bà ta chẳng bao giờ thèm nói chuyện với đám thợ đưa tin như chúng tôi”.

Nhưng từ những năm đầu thập niên 2000, khi mà thế giới thảng thốt về hiện tượng băng tan ở Nam Cực, thì tại New York, người ta cũng bắt đầu nhận thấy hiện tượng tương tự xảy ra với Wintour, tất nhiên là với một thái độ hân hoan hơn rất nhiều. Người ta gán công trạng này cho nhà tài phiệt Bryan, nhân tình mới sau hôn nhân của bà. Họ rỉ tai nhau “Ơn Chúa, Lệnh Bà lại được sưởi ấm đêm qua.”

Quái vật khoác lông thú và món quà Giáng sinh tàn độc

Dẫu hoàn hảo trong vai trò Nữ Oa nhà Vogue và Mẹ Nhân Từ của các designer lớn nhỏ nổi chìm các loại, Bà Mùa Đông lại là tội đồ hàng đầu trong danh sách công kích của các nhà hoạt động bảo vệ quyền động vật. Không chỉ ngang tàng xuất hiện khắp nơi ở tư cách trend-setter trong những kiểu áo bằng lông thú chánh hiệu xa xỉ, kích hoạt làn sóng noi gương của fashionista trên thế giới, những nơi may mắn có mùa Đông và còn động vật. Không chỉ thế, các trang tạp chí của Vogue cứ vào gần cuối năm lại phủ ngập những shot ảnh với những thiết kế bằng lông thú đẹp lẫy lừng, khiêu khích từng nơ-ron shopping của các tín đồ. Cuối cùng, việc Lệnh Bà thẳng thừng từ chối bán trang quảng cáo cho các chiến dịch bảo vệ môi trường đã kích hoạt trực tiếp vào bản năng quá khích của các nhà hoạt động xã hội.

Động thái này không khác gì một tuyên ngôn ngạo mạn, chiếc then kiên cố cuối cùng thả sập vào mũi Đảng Xanh, cô lập họ hoàn toàn bên ngoài thế giới thời trang. Bên trong Hàn Cung giá lạnh, Wintour vẫn tiếp tục lộng hành tung ra những shot ảnh tràn trề lông thú, với thông điệp cổ súy “Luôn luôn có cách để khoác một tấm lông thú lên người”, khiến thị trường thời trang rào rạt tiếng quẹt thẻ điên cuồng của các shopper hiếu sát.

Điều này cũng đồng nghĩa với việc Anna Wintour chính thức trở thành hồng tâm tập chọi tàu hũ, tương cà – hai vũ khí truyền thống và chiến lược của mọi thành viên Đảng Xanh. Tháng Mười năm 2005, nguyên một bánh tàu hũ đáp bét nhè lên người Lệnh Bà ngay bên ngoài cuộc diễn của nhà Chloé. Lần khác, một tay quá khích khác vứt toẹt một xác gấu trúc Mỹ lên đĩa ăn của Lệnh Bà ngay giữa nhà hàng. Bà Mùa Đông chỉ lạnh lùng yêu cầu nhân viên phục vụ thay đĩa mới cho mình, đương nhiên là “ngay và luôn”!

Thái độ đáp trả của Wintour không chỉ dừng ở sự bỉ bai hờ hững. Bà còn ngang ngược dành cho họ những cú đòn bẩn đầy mỉa mai tàn độc. Giữa buổi dạ tiệc Giáng sinh tại văn phòng, vị nữ vương ngạo nghễ đã cho người gửi một đĩa thịt bò ra cho các nhà hoạt động bảo vệ động vật, khi này đang biểu tình bao vây đại bản doanh Vogue.

Thái độ bất chấp và ngạo mạn của Wintour đã khiến cả những kẻ vốn ơ thờ với vấn đề nhân đạo và môi trường phải lên tiếng. Sát nhân hụt đã hằn học ghi lại trong bản tuyên ngôn điện tử của mình rằng Wintour sẽ bị đày xuống địa ngục, canh giữ bởi những con chuột khổng lồ, nơi ắt hẳn sẽ không quá lạnh để cần đến những kiểu áo lông. Cô đào ‘bom tấn đôi’ Pamela Anderson, trong một cuộc phỏng vấn đầu năm 2008, tuyên bố rằng Wintour là loại sinh vật mà nàng khinh bỉ tận cùng xương tủy nhất vì “mụ ta đã đàn áp các nhà thiết kế và người mẫu trẻ để ép họ sử dụng lông thú.”

Grunge tuyệt chủng và đẳng cấp của ung thư

Dấu ấn “tội đồ” thứ hai của Wintour chính là vị trí tiên phong hàng đầu của bà trong trào lưu “celebrity hóa” thời trang, với những trang bìa liên tiếp tràn ngập các ngôi sao giải trí thế chỗ cho các người mẫu chuyên nghiệp. Động thái này được duy trì với mật độ thường xuyên đến độ đã thiết lập một khái niệm được mặc nhận về tiêu chuẩn ‘rating’ cho khuôn mặt trang bìa. Wintour ngang nhiên bảo ban đại nữ truyền hình Oprah Winfrey rằng bà này cần giảm béo để lên “vừa” trang bìa Vogue, với cựu đệ nhất phu nhân Mỹ Hillary Clinton rằng bà này rất không nên mặc suit màu xanh dương. Trong một sự kiện năm 2005 của bà tại Viện Met, Wintour tự tay chọn trang phục cho từng vị yếu nhân được mời tham dự, từ J.Lo, Kate Moss, Donald Trump cho đến Diane von Furstenberg. Đến dự một sự kiện của Wintour, hay ở gần Wintour, người ta sẽ ăn bận như Wintour muốn. Dẫu đó là những tỉ phú, người mẫu, minh tinh, hay các quý bà thượng lưu sành điệu nhất bậc trên hành tinh, dường như đối Wintour, họ chưa bao giờ đủ chuẩn mực, đủ đẹp, và đủ tư cách thượng lưu. Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn, là tất thảy những nhân vật ưu tú xuất chúng này đều không phàn nàn cự nự gì khi cam tâm lấy thân mình ra cống hiến cho trò chơi búp bê vương giả của Lệnh Bà.

Wintour đã cùng lúc dùng quyền lực và mối quan hệ để vận động các nhà thiết kế hàng đầu cho các yếu nhân mặc những thiết kế xuất sắc nhất của họ, qua sự tuyển chọn gắt gao của đích thân Lệnh Bà tối thượng. Hẳn nhiên, lời kêu gọi được nhiệt tình hưởng ứng. Kết quả win-win cuối cùng là những hình ảnh xa hoa nhất về sự kiện được đăng tải trên Vogue và khắp các mạng lưới truyền thông trên thế giới, từ People đến Us, nơi những “vì sao” lấp lánh chói lòa trong những bộ trang phục tuyệt hảo nhất, với tên tuổi các đại danh thời trang được ghi cẩn thận trong dòng credit, định hướng trực tiếp cuộc đua lên đời của hàng hàng triệu triệu nạn nhân thời trang.

Không ít người cho rằng Wintour đã tự cho phép bản thân một quyền năng thao túng quá mức, đặc biệt đến độ bà trực tiếp can thiệp vào tư tưởng thiết kế và sản xuất của thời trang. Điều này bộc lộ rõ tham vọng điên cuồng của bà vượt ra ngoài những trang tạp chí, Bà Mùa Đông muốn bao trùm quyền lực của Kỷ Băng Hà lên cả nền công nghệ, ra đến tận sàn kinh doanh.

Người ta cáo buộc Wintour tội đã khiến trào lưu grunge tuyệt chủng toàn phần hồi đầu thập niên 1990, chỉ với một lời nhắn nhủ của bà tổng biên cao quí rằng nếu họ tiếp tục cào nát các ống quần jeans, xé tưa sợi vạt chemise, xịt nhựa đường lên áo thun và vò xù tóc các người mẫu thì thiết kế của họ sẽ khó lòng phù hợp với tiêu chí thẩm mỹ hào nhoáng của Vogue. Thế là chiến dịch tiễu trừ kết thúc, đại thành công!

Theo một nguồn tin nội bộ nhà Vogue, Lệnh Bà còn có động thái tẩy chay thẳng thừng các độc giả nhóm trung lưu, những cô nàng wannabe hệ công sở đua đòi, dẫu không ít trong số đó là những độc giả trung thành nhất của Vogue. Wintour tỏ ra khắt khe tuyệt đối về việc thể hiện uy tín tờ tạp chí qua đẳng cấp xã hội của đối tượng độc giả được chọn lọc một cách cầu kì. Trong loạt bài cổ súy cho chiến dịch chống ung thư, Wintour đã thẳng ta xổ toẹt bài viết bắt đầu với nhân vật là một nữ tiếp viên hàng không đã thành công chống lại căn bệnh quái ác. Vậy là cả nội cung nháo nhào vào cuộc săn lùng bằng được một nhân vật mới, với điều kiện đã từng mắc ung thư, và chắc chắn phải thuộc giới thượng lưu để thay vào bài viết.

Để làm được những điều này một cách thản nhiên và lạnh lùng, Wintour phải có khả năng sắm cho mình một trái tim bằng băng và một lồng ngực như cái tủ lạnh. Bà là một minh chứng khá hiếm hoi cho chân lý rằng tiểu thuyết không luôn luôn là sự cường điệu hóa của thực tế, trong trường hợp của The Devil Wears Prada, nếu không muốn nói sự kiêu ngạo, độc địa và lạnh lẽo của Miranda Priestly chỉ là bản sao ngớ ngẩn, một nét phác hời hợt của một chân dung Anna ‘Winter’ thật sự. Các nhà tổ chức show diễn thời trang phải luôn nắm nguyên tắc quan hệ hàng đầu: Wintour muốn chỗ ngồi của mình tách biệt khỏi khu vực của các ông bà tổng biên khác, bởi Lệnh Bà không có nhu cầu bàn tán, chia sẻ, hay kết bạn với đồng nghiệp. Bà đang làm việc.

Đại náo Milan và đàn áp mỡ thừa

Năm 2008, Bà Mùa Đông đã ngang ngược đòi dời lịch diễn của các nhà thời trang trọng yếu ra trước trong tuần lễ thời trang Milan 2008 chỉ để Lệnh Bà kịp về nhà thay…hành lý trước khi tham dự các show diễn ở Paris. Thế là cả Milan nháo nhào, mọi yếu nhân, minh tinh, tổng biên lẫn phóng viên các quyền lực truyền thông thời trang khác đều phải đảo lộn lịch trình theo, trong khi các nhà thiết kế trẻ mới nổi thì ngán ngẩm trình bày collection trong những show diễn lẻ loi giữa một fashion week hoang tàn sau khi các khách mời cỡ bự đã xem xong màn xuất sắc nhất và đã rời khỏi Milan. Điều này càng khiến sự căm ghét của các nhà thời trang Ý dành cho mụ phù thủy Ăng-lê tăng cao hơn bao giờ hết, trong khi các tín đồ Hoa kỳ của họ, than ôi, vẫn đều đặn dõi theo từng shot ảnh long lanh của Vogue, đương nhiên, dưới sự phê chuẩn tối cao của Lệnh Bà.

Dolce&Gabbana đồng thanh gọi tuần lễ thời trang đó là một hội chợ tỉnh, Giorgio Armani – kẻ đã trực tiếp kinh qua trải nghiệm cùng tổ chức triển lãm tại Met với Wintour, chỉ ý nhị lên tiếng “Thứ bà ta cho là một chiếc váy đẹp, chưa chắc đã là một chiếc váy đẹp trong mắt tôi.” Với một nỗ lực tỏ ra mã thượng một cách đáng khen, không ai tin rằng Giorgio đã thật sự hoàn toàn không để bụng lời tuyên bố phũ phàng của Wintour: “Kỷ nguyên Armani đã chấm dứt.” Bản thân Giorgio cho rằng Wintour có sự thiên vị đặc biệt cho các nhà thiết kế Pháp và Hoa Kỳ. Geoffrey Beene, người đã ngưng không mời Wintour đến các show diễn của mình sau khi nhận ra rằng bà sẽ chẳng bao giờ màng nhắc đến chúng trên tờ Vogue, đã cáo buộc tư cách biên tập thời trang của Wintour là “biến đẳng cấp thành trào lưu xa cạ, và thẩm mỹ thành rác rưởi” (class into mass, taste into waste)

Nhưng những trò thao túng oái oăm của Wintour đã hoành hành giới thời trang từ khá lâu trước đó. Hồi 2005, bà bị công kích dữ dội khi ngài đại tổng biên Andre Leon Talley than thở trên talkshow của Oprah Winfrey rằng đến cả ông cũng bị Bà Mùa Đông bắt phải ăn kiêng giảm ký. Ngài đại tổng biên tội nghiệp còn bị bà Oprah ranh mãnh moi thêm vài lời kể khổ nữa, rằng “các cô gái tại Vogue, cô nào cũng gầy nhom, bởi, bà biết đấy, Miss Anna không thích mấy người mập.” Năm 2009, cư dân Minneapolis cự nự ầm ĩ khi Wintour lên bản tin 60 Minutes và bỉ bai cái sự to béo của con dân thành phố này, dù đây là thành phố được xếp hạng thứ 3 với tỉ lệ cư dân khỏe mạnh cân đối nhất trong năm đó, theo thống kế của tờ Men’s Fitness, trong khi Quả Táo Lớn của bà đứng hạng năm trong danh sách nhóm có dân cư “lực lưỡng” nhất nước Mỹ.

Căm ghét và ngưỡng mộ vị tông đồ mẫn cán

Những ai có thâm niên quan sát các vụ đụng độ của Wintour với công luận sẽ nhanh chóng nắm vững chiến thuật vô chiêu của bà. Các phản hồi luôn bất ngờ, khó đoán và đẹp mắt. Wintour không bao giờ trực tiếp tự bao biện và bào chữa cho bản thân, và bà chưa bao giờ cần phải tự tay làm việc này. Mỗi khi làn sóng công kích Wintour trỗi dậy, người ta sẽ lập tức được nhắc cho nhớ rằng Wintour không chỉ có cừu nhân.

Những người đàn bà như vậy, người ta chỉ có thể căm ghét hoặc ngưỡng mộ họ, hoặc cùng lúc cả hai. Còn bản thân Wintour điềm nhiên quan sát những vụ cọ xát của cả hai phía, như một buổi diễn thời trang, không một cảm xúc lọt ra ngoài khỏi cặp kính đen.

Rất nhiều con dân của bà tại Vogue vẫn khẳng định rằng họ không thấy có gì đáng phàn nàn về thói độc tài của Wintour cũng như tinh thần trưởng giả của Vogue. Mọi thứ về bà, dẫu quá quắt, đều nằm trong bản chất cực đoan quá khích của thời trang và những tông đồ mẫn cán của nó.

Người ta đọc Vogue hoàn toàn không như tìm đến một cuốn catalogue để tìm xem những món hàng có thể chọn mua. Và Wintour hiểu thấu đáo điều này. Dưới trướng cai trị của bà, khái niệm tạp chí thời trang được đưa về đúng tinh thần bản chất của nó – một thiên mệnh mang tính giáo dục và dẫn dắt, qua phương tiện quảng cáo thương mại, hình ảnh, và văn chương báo chí. Vogue đào luyện và nâng cấp gout thẩm mỹ của người đọc. Người ta từ chối một trang layout lem nhem chắp vá một khi đã chọn cho đôi mắt mình những shot ảnh bóng bẩy đẳng cấp trên từng trang Vogue. Bà dần dà tiêm nhiễm vào độc giả của mình ý thức cầu kì trong gout hưởng thụ, và tái định hình tư duy thời trang, thẩm mỹ của các độc giả của mình.

Những điều này chỉ có thể được thực hiện bởi một kẻ cầu toàn khổ hạnh nhất, và một gout thẩm mỹ cầu kì, không khoan nhượng. Mọi mầm mống tư duy “thời trang dân chủ” đều bị Wintour nhận biết và tiễu trừ ngay trong trứng nước, bản thân Wintour và tờ Vogue từ chối cuốn theo trào lưu thân thiện, đang được xem là cứu cánh kinh tế đắc lực của các tạp chí cạnh tranh. Điều này đồng nghĩa với vị trí độc tôn của Vogue đối với các fashionista cầu kì muốn tìm đến với những hình ảnh toàn mỹ của tinh thần haute couture, được tôn thờ và ca tụng hiệu quả qua các hình ảnh, tên tuổi celeb hàng đầu và tôn chỉ độc đạo của Lệnh Bà hà khắc.

Quyền của Wintour

Với tất cả những sắc màu và trạng thái được tung tràn trề lên những trang tạp chí, người ta không cho rằng Wintour còn giữ lại bất cứ điều gì cho mình để thể hiện. Thái độ lãnh đạm và kiêu căng của bà được đơn thuần lí giải bởi dòng máu Ăng-lê, cùng thứ tinh thần chảy trong huyết quản người cha mang biệt danh “Chilly Charlie”. Cuối cùng, chỉ có một bàn tay bằng thép và trái tim băng mới khiến một người đàn bà ngự trị vững bền trên ngai tổng biên và bao trùm thế lực truyền thông ấy lên thời trang thế giới, trong khi các tay Đảng Xanh quá khích vẫn ngày ngày biểu tình, các nhà phê bình vẫn kêu gọi tẩy chay, và những bánh đậu hũ cùng những lời nguyền rủa bất cứ lúc nào, nơi đâu, vẫn có thể nhắm thẳng vào bà mà ném.

Ngoài cuộc sống xa hoa và một áp lực điên đảo, Wintour tự ban hành cho bản thân một thứ đặc quyền đặc lợi ưu tiên cuối cùng: quyền được cáu bẳn và thô lỗ. Bà không ngại ngần tận dụng tối đa đặc quyền này, và những kẻ xung quanh Wintour, một cách nào đó, ý thức được họ đang đối mặt với hiện thân của tinh thần thời trang vương giả, và điều này khiến những kẻ bé nhỏ trở nên bé nhỏ hơn. Họ kính cẩn tự đặt bản thân vào tâm thế cầu tài hay nô bộc, và đó chính là khi họ trao cho Wintour quyền lực của một nữ hoàng.

Bản thân Bà Mùa Đông vẫn tự nhận mình là một người cả thẹn, với sự đồng ý của không ít bạn bè thân thiết của bà. Khi được hỏi về điều không hài lòng nhất về bản thân, Wintour đã thừa nhận “Tôi là một mụ chó cái (such a bitch), và các đồng sự đã ở bên tôi từ 15, 20 năm nay có thể minh chứng điều này. Điều này khiến tôi thu hẹp đám đông quanh mình và cô đọng lại với những nhân vật ưu tú, cầu thị nhất. Đôi khi tôi ngỡ rằng cái đám người bệnh hoạn này phát nghiện những trận bốc hỏa và những trò trừng phạt của tôi mất rồi, vì họ vẫn còn đây. Mà nếu một khi bạn gặp phải ai đó lãnh đạm với bạn, thậm chí hung hăng thô bạo, đôi khi hãy chỉ đơn giản biết rằng họ đang cố gắng hết sức để làm điều tốt nhất.”

Bà cũng có cùng lời tự bào chữa, hay đúng hơn là giải thích về việc không thu nhận người mập vào làm việc tại Vogue: “Đối với tôi, những con người làm nên môi trường con người của Vogue, đặc biệt đối với ban thời trang, phải là chính những hiện thân của thời trang. Chính họ phải là những tín đồ mộ đạo và ý thức duy mỹ, điều này thuyết phục hơn bất cứ slogan hay tuyên ngôn nào về Vogue. Chúng tôi Biết về Thời Trang, vì chúng tôi Chính Là Thời Trang.”

Cách mạng nữ quyền bất đắc dĩ

Những người đứng về phía Lệnh Bà đáp trả bằng cách cáo buộc các lời chỉ trích nọ là tư duy thành kiến giới tính hủ lậu. Tờ The New York Times, ngay sau buổi ra mắt phim The Devil Wears Prada đã lên tiếng cho rằng “Những đại nữ truyền thông luôn bị soi chiếu khắt khe hơn các đại gia phái mạnh” Ngay từ khi mới nhậm chức tổng biên tờ Vogue, Wintour đã được Liz Smith – chuyên gia trồng cải nổi tiếng loan tin rằng bà có được thanh quyền trượng trong tay là nhờ dan díu với Si Newhouse. Điều này chạm ngay vào cơn thịnh nộ của Wintour, và vị nữ vương thù dai vẫn còn kể lể trong ngày nhận giải thưởng truyền thông năm 2002.

Và như một phần thưởng luôn đến cùng các ngờ vực về giá trị phẩm hạnh, Wintour được xem là một nhà hoạt động nữ quyền bất đắc dĩ, với chiến lược và tôn chỉ hình ảnh phụ nữ đương đại mà Vogue luôn thể hiện ngần ngật trên các trang báo. Christina Larson của tờ Washington Monthly đã ghi nhận rằng “Vogue nhắc phụ nữ nhớ đến những niềm vui thụ hưởng đã bị lãng quên bằng những cuộc diễu hành huy hoàng của những tạo vật tinh xảo nhất, được tác tạo nên như sự yêu chiều, cung phụng và vuốt ve mà những thiên tài thời trang dốc tài hoa tuyệt nghệ ra để tụng ca đàn bà. Những mẫu thiết kế, các bộ bàn ghế nội thất, hay những chốn nghỉ mát địa đàng,… đó là tất cả những gì một phụ nữ thành đạt nên tưởng thưởng cho bản thân, hoặc ít ra, học cách ngưỡng mộ và ước mơ đến những điều tốt nhất cho mình. Cùng lúc với nguyên tắc kinh doanh quảng cáo thuần túy của một tờ tạp chí thời trang, Vogue còn là một ngòi nổ cho tham vọng hướng thượng và sinh lực tột đỉnh của phái nữ, chứ hoàn toàn không thuần túy ủy lạo cho lối sống hào nhoáng, những thân hình tuyệt mỹ và đày đọa độc giả vào lòng tự ti bất an như người ta vẫn cáo buộc.”

Chiến lược “celeb hóa” trang bìa khiến cho các hiện thân của thời trang chính là những phụ nữ đang làm tăng giá trị của thiết kế bằng tên tuổi và tài hoa của họ, chứ không chỉ thuần túy một nhan sắc ngoại hình. Thông điệp đó, một cách vô thức, chính là tinh thần nữ quyền tân thế hệ: nhan sắc, tài hoa, và thụ hưởng.

Vạn tuế Haute Couture!

Những lời chỉ trích về sự can thiệp tùy tiện và bạo ngược của Wintour vào nội giới thời trang cũng bị bác bỏ thẳng thừng bởi các nhà thiết kế hàng chiếu trên, những người đã quá quen thuộc với các hành xử của Bà Mùa Đông. Trong đó, ắt nhiên đứng đầu là Ông Kẹ Mặt Chì nhà Chanel – Karl Lagerfeld: “Đó là một cô gái thật thà. Cô ấy biết cách nói thẳng điều mình muốn, hắc bạch rạch ròi.” Còn Francois-Heri Pinault, tổng quản tập đoàn PPR – chủ nhân ông của cả một hệ thống cửa tiệm và thương hiệu thời trang xa xỉ, lại cho rằng Wintour khá dễ chịu “Bà ta luôn đoan chắc với bạn rằng không có gì phải phát hoảng lên chỉ vì bạn không đáp ứng được sự nhờ cậy của bà ấy”, ám chỉ việc Wintour đã can ngăn không để Tom Ford rời nhà Gucci. Trái với những gì người ta đã nín thở trông chờ, đã không hề có những đòn trừng phạt và chiến dịch tẩy chay thông tin nào, và Wintour vẫn ra sức hỗ trợ cho nhà Gucci, dù không còn Tom Ford ngồi ngai tổng lãnh.

Ngoài tay người Mỹ, các nhà thiết kế khác như Alice Roi và Isabel Toledo cũng là những kẻ được bảo trợ ưu ái một cách hoàn toàn vô tư bởi Bà Chúa Băng Giá. Chính những động thái hào phóng và màn phô diễn quyền năng đã khiến bà đảm nhiệm hoàn hảo vai trò Nữ Oa cho tờ Vogue – cho đến nay vẫn tồn tại vững vàng và hưng thịnh nằm ngoài quy luật lệ thuộc vào những nguồn kinh doanh quảng cáo.

Nhưng đó hoàn toàn không phải là một chính sách mị dân, hoặc không hẳn mị dân hoàn toàn. Wintour, với sự ngạo mạn đã thành danh tiếng của mình, là biên tập thời trang duy nhất khước từ tối hậu thư của Armani về việc yêu cầu tăng trang hình ảnh cho các thiết kế của nhà này. Tuy vậy, Wintour vẫn thừa nhận nếu phải chọn một trong hai mẫu thời trang, một của khách hàng quảng cáo, và một là chọn lựa của ban biên tập, nguồn lợi kinh doanh sẽ vẫn khiến cán cân nghiêng về lựa chọn đầu hơn. Cuối cùng thì, theo bà, “Tính thương mại đối với tôi không phải là một từ bậy bạ.”

Và để bảo vệ cho tinh thần haute couture xa xỉ hiển hiện của Vogue, bà tổng biên tóc bob dẫn chứng bằng chính tinh thần dân chủ từng một thời là nền tảng của các nhà thời trang cao cấp: “Điều đó chỉ có nghĩa là nhu cầu thẩm mỹ thời trang đang tăng cao đối với nhiều người hơn, và càng nhiều người phấn đấu để bảo đảm tấm vé vào thượng tầng hoa mỹ ấy, thiết nghĩ, ắt là điều đáng mừng cho nhân loại.”

Ngược lại, khi cửa địa ngục lỏng then và để xổng lên trần thế một sinh linh cá biệt như Wintour, âu cũng là điều đáng mừng cho nhân loại.

CHUYỆN TÌNH BÀ CHÚA TUYẾT

Lòng sủng ái của Bà Winter

Phàm đã là tổng biên của một tạp chí thời trang hàng đầu, gout thẩm mỹ và trình hưởng thụ của Đại tẩu Anna dĩ nhiên cũng phải vào hàng xứng tầm thượng thừa. Đại Tẩu không những sành sỏi chuyện phải tìm cái gì tốt nhất, mà biết luôn là vào thời điểm nào, trường hợp tay tennis chuyên nghiệp người Thụy Sĩ Rober Federer cũng không là ngoại lệ – anh chàng tỏa sáng chín tới ngon lành nhất là vào lúc tròn 25 tuổi, vừa chín tới mùi mẫn, nhưng vẫn còn giữa chút non tơ đủ để sần sật chào mời những vết răng ưu ái.

Federer được Đại Tẩu chọn và đeo vào quanh mình phù hợp hài hòa tuyệt đối với bộ váy maxi của nhà de la Renta. Bà khéo léo ‘gỡ’ người yêu chính thức của chàng là nàng Mirka ra như người ta tách món quà khuyến mãi thô kệch ra khỏi món hàng được lựa chọn, dù luôn lịch thiệp dành riêng cho Mirka hàng ghế danh dự trong mọi sự kiện, dạ tiệc, để thoải mái chờ chàng đi tháp tùng bên Lệnh Bà suốt buổi.

Một phiên bản tân thời hoàn hảo của câu chuyện cổ tích Andersen Bà Chúa Tuyết, với cậu Kay mê muội được sủng ái, và cô bé Gerda cam khổ vì tình.

Dẫu sao, nếu chưa ai thấy Wintour hôn âu yếm một cái túi xách, thì sự lãnh đạm chừng mực của đôi nhân tình cũng không chào mời nổi cho hội đưa tin dù chỉ một nụ hôn vội, dù hàng tháng hẹn hò đã trôi qua từ hồi chàng xuất hiện lẫy lừng bóng bẩy trên tờ Men’s Vogue số tháng 5/6 năm ngoái.

Đại tẩu còn hào phóng tổ chức cho chàng những buổi dạ tiệc tưng bừng với đám khách mời thượng lưu hào nhoáng, từ Jimmy Falon, Vera Wang, ngài Trump cùng ái nữ Ivanka, Oscar de la Renta, và cả Marc Jacobs. Đại Tẩu xuất hiện, lịch thiệp duyên dáng ngất trời, tay đeo chàng tình nhân mới bảnh toỏng đi khoe và giới thiệu khắp lượt.

Hiện tượng tan băng

Từ khi có Federer, người ta thảng thốt nhận ra phía sau cặp kính đen là…một người đàn bà. Khi được hỏi về đánh giá của bà về trang phục thể thao cao cấp, Đại tẩu buông lời “bất cứ thứ gì Roger mặc”, rồi cười khúc khích như một cô gái nhỏ trước nỗi thất thần hoảng loạn của các phóng viên.

Wintour cười?! Đó là sự thật đã có nhiều nhân chứng tận mắt nhìn thấy. Chưa hết, bà không ít lần tháo bỏ cặp kính đen, để lộ đôi mắt được trang điểm tự nhiên hoàn hảo. Và show Sring 2010 của nhà Prada đã chứng kiến một hiện tượng siêu hiếm: Đại tẩu Anna đến trễ, khiến show diễn bị muộn cả giờ đồng hồ, bà muốn vào tận hậu trường để giới thiệu bằng được ngài Federer trẻ trung với Giorgio Armani và trở ra trước khi show diễn bắt đầu. Đương nhiên, đối với nhà Prada, “Anna muốn” đồng nghĩa với “Anna có”.

Nhà Prada không chỉ chiều chuộng Anna và Roger hết cỡ, mà còn là kẻ đồng hành trung tín cho dung nhan Đại Tẩu mỗi khi xuất hiện tại giải US Open, French Open và Wimbledon, đương nhiên là trên hàng ghế yếu nhân, xứng danh Quỷ Cái Vận Prada. Nơi đó, con dân hâm mộ thể thao có được cho mình một Wintour hoàn toàn khác. Nàng vui vẻ, vẫy ta ra hiệu với các tay vợt danh tiếng, và vào những trận đấu có Roger, thậm chí người ta còn kinh hoảng khi thấy Bà Mùa Đông xuất hiện, tươi rói với sắc hồng phấn, vàng mơ, đỏ tía và tím cà, TẤT CẢ cùng một lúc trên bộ váy kẻ sọc. Một chuỗi pha lê lấp lánh quấn nhiều vòng quanh cổ, và, đương nhiên, phía trên là cặp kính râm cú mèo trứ danh. Một Mùa Đông phiên bản hippy phi-Wintour chính hiệu!

Sủng thần ương ngạnh

Trong khi mọi việc diễn ra đều không nằm ngoài một minh chứng lẫy lừng nữa cho gout hưởng thụ của Đại Tẩu, thì điều khiến giới hóng hớt quan ngại cho sinh mạng ái tình của Roger Federer lại chính là gout ăn mặc của chàng. Federer chưa bao giờ được giới phê bình thời trang đánh giá cao về khiếu thẩm mỹ.

Nếu có một bài học vỡ lòng nào về thời trang mà một fashionista, hay fashionisto nhập môn có thể rút ra từ phim The Devil Wears Prada (đương nhiên, ngoài chuyện gia đình luôn quan trọng hơn sự nghiệp và danh vọng, blah blah…), đó chính là người ta luôn nên lắng nghe những tư vấn thời trang của Miranda Priestly, à không, Anna Wintour. Chẳng thế, trong phim, Stanley Tucci đã dạy dỗ cô nàng Anne Hathaway ngô khờ rằng “Ý kiến của Lệnh Bà là ý kiến Duy Nhất.”

Nhưng Roger Federer không hề là một fashionisto, chàng chỉ là một tay vợt chuyên nghiệp. Chàng chưa có được cái may mắn lãnh hội lời khuyên khôn ngoan ấy.

Tại một buổi phỏng vấn trên đài ESPN, Wintour than phiền rằng tay vợt ưa thích của bà lại là một kẻ ngoại đạo và bất trị hoàn toàn về thời trang. Chàng vô địch Grand Slam 16 lần ấy đã làm điều dại dột nhất là khoe tủ quần áo của mình cho Đại Tẩu xem. Điều tệ hại hơn nữa, chàng không bỏ vào tai bất cứ lời khuyên nhủ, tư vấn thống thiết của Lệnh Bà nhà Vogue. Wintour chỉ còn cách tự an ủi bản thân, ngay trên sóng ESPN “Dẫu sao thì trông cậu ấy vẫn rất bảnh.”

Lệnh Bà tội nghiệp!

Trong suốt thời gian rầm rộ các tin đồn về cuộc dan díu giữa Đại Tẩu và nam thần tennis, nàng Mirka, vẫn kiên nhẫn tháp tùng chàng đến mọi buổi tiệc tùng, và để mặc chàng kề cận bên Lệnh Bà suốt buổi. Cho đến một ngày tháng Tư đẹp trời năm 2009, với cái bầu 1 tháng, Mirka đường hoàng và hả hê kết hôn cùng Roger Federer. Không nghe nhắc đến sự hiện diện của Lệnh Bà tại hôn lễ chóng vánh nọ.

Chiến thắng hoan hỉ của Mirka kéo dài trong một nỗi thống khổ lê thê, khi ngay sau đó, dù sinh cho chàng cặp song sinh kháu khỉnh, người ta nhận ra vị phu nhân vẻ vang vẫn đóng vai phụ trong cuộc dan díu dài hơi của Lệnh Bà đùa dai.

Tháng tư vừa qua, tại sinh nhật của vợ, Roger Federer đã ân cần và hào hiệp che chở cho Đại Tẩu thoát khỏi vòng vây paparazzi Miami đang vây kín buổi tiệc. Chàng ranh mãnh lừa họ bằng một đám đông ồn ào đứng ở cửa phụ, tung hô và mang vác những món quà để thu hút cánh phóng viên đổ dồn về đấy, bảo đảm cho Lệnh Bà đường hoàng ra về bằng cửa chính.

Ánh flash đổ dồn về người đàn bà băng giá, săn từng biểu hiện sầu não hay dù chỉ một giọt lệ băng.

Những bức ảnh có được trên Page Six chỉ cho thấy một nụ cười mỉm, rất nhẹ, bên dưới cặp kính đen.

chị Hạnh-Dung của nước Mỹ

Túy Ca

Mỗi một talk show của Oprah Winfrey là một sự hoàn chỉnh đầy ứ. Bà ồn ào, đói khát dữ liệu thông tin, dư thừa năng lượng, khôi hài, khả ái, mẫn cảm. Bà thân thiện bình dân, ranh mãnh trong mọi thủ thuật khai thác, tinh anh và không khoan nhượng những trò vè. Lợi thế ngoại hình của một người đàn bà da đen đồ sộ khiến bà vừa trấn áp, vừa vỗ về tin cậy. Oprah thoát khỏi bề ngoài bự sự của chính mình và lao thân tuyệt đối vào cuộc đối thoại với nhân vật, đồng thời tương tác chặt chẽ đến từng hơi thở, từng tràng cười và mỗi giọt nước mắt của khán giả truyền hình toàn nước Mỹ.

Bà không bao giờ hết chuyện để buôn, và bà “buôn dưa” với cả thế giới.

Nữ hoàng Talk Show Mỹ, người đàn bà được xem là có khả năng xoa dịu và chữa lành bằng nước mắt trong thời lượng của chỉ một cuộc trò chuyện, đã sinh ra trong chính số phận của những nhân vật mà bà từng làm việc. Không thiếu gì cả, một dòng máu pha tạp, một bà mẹ độc thân tuổi vị thành niên, tuổi thơ bị lạm dụng và những cuộc tình bị bạc đãi.

Số phận đó đã rất có thể kết thúc tại một nơi nào đó trên bề mặt đau khổ của địa cầu, trong một khu ghetto da màu, trong một trại giáo dưỡng cai nghiện, hay dưới 3 tấc đất.

Ngược lại, bà chỉ vừa mới kết thúc một chặng đường 25 năm bằng cuộc độc thoại 4 giờ đồng hồ trên show truyền hình nổi tiếng thế giới, và sửa soạn cho một vụ đại chấn truyền thông mới mang cái tên đầy tham vọng chiếm hữu: OWN (Oprah Winfrey Network)

Những đứa trẻ đến và đi

Cuộc xét nghiệm gene năm 2006 cho thấy mẹ của Oprah gốc là tộc người Kpelle, nay là Liberia, bản thân Oprah mang 89% dòng máu Sub-Saharan Africa, 3% Đông Á và chỉ có 8% Mỹ bản địa.

6 năm đầu trong đời, Oprah sống cùng bà ngoại Hattie Mae Lee. Bà nghèo đến nỗi cô bé Oprah chỉ có những chiếc váy làm từ vỏ bao bố đựng khoai tây và trở thành trò đùa của lũ trẻ trong vùng. Bù cho những bộ váy áo, bà ngoại dạy cô đọc từ rất sớm nên cô nhóc thuộc làu làu kinh kệ, có khả năng biện dẫn thánh kinh đáng nể. Nền gia huấn của cụ bà sùng đạo còn đi kèm cả những trận đòn roi khắc nghiệt, những công việc vặt trong nhà và một nề nếp của dòng tu kín mang nỗi tự ti giai tầng lẫn chủng tộc.

Những năm tiếp theo là những cuộc phiêu bạt từ thành phố này đến tiểu bang khác cùng mẹ, những đứa em cùng mẹ khác cha được sinh ra, em gái đầu chết vì nghiện ma túy. Em gái Patricia sinh ra khi Oprah được gửi nuôi ở Tennessee, về sau được cho đi vì người mẹ đang hoàn toàn phải sống dựa vào trợ cấp chính phủ. Oprah hoàn toàn không biết gì về người em gái cuối cùng này cho đến tận năm 2010, trên một talkshow của bà. Khi Oprah được đưa về lại với mẹ, đứa bé gái cuối cùng đã bị mang đi, và người mẹ đã kịp sinh em trai cùng mẹ với Oprah là Jeffrey, về sau mất năm 1989 vì bệnh AIDS.

Xen kẽ giữa những cuộc chuyển dời thời ấu thơ, những đứa em sinh ra và thất lạc, là những chuỗi ngày bé Oprah bị lạm dụng bởi các anh em họ, người cậu ruột, và cả những bạn bè của gia đình từ khi mới 9 tuổi, bà giữ kín điều này cho riêng mình và lần đầu thú nhận ngay tại talk show, trước hàng vạn khán giả truyền hình năm 1986, khi đang thảo luận về đề tài lạm dụng tình dục. Oprah thừa nhận lí do bà không muốn làm mẹ vì chính mình đã không được hưởng sự dưỡng dục tối thiểu từ tình mẹ.

Thật ra, lần mang thai đầu tiên của Oprah là khi bà mới 14 tuổi, đứa bé trai chết không lâu sau khi ra đời. Sự phản bội lớn nhất từ gia đình mà Oprah nếm trải chính là khi về sau, họ chấp thuận bán câu chuyện này cho National Enquirer năm 1990.

“chị Hạnh Dung” của nước Mỹ

Sau giải hoa khôi da màu Tennessee năm 1972, Oprah bỏ lại sau lưng những chào mời hứa hẹn theo thông lệ để trở thành trụ cột đài WTVF-TV năm 19 tuổi, và nữ biên tập viên da màu đầu tiên tại Nashville.

Định hướng sự nghiệp truyền thông của Oprah không hề là một điều đáng ngạc nhiên với bà ngoại của cô, người đã từng chứng kiến tuổi thơ với trò chơi phỏng vấn con búp bê bằng lõi ngô và mấy con bù nhìn, và ngược lại, Oprah luôn coi bà Hattie Mae là một nguồn ảnh hưởng lớn của mình, từ ngày thơ bé vẫn luôn khuyến khích khả năng hùng biện của đứa cháu.

Trong suốt nhiều năm liền, Oprah liên tiếp là nữ biên tập trẻ nhất và trường hợp da màu đầu tiên của các đài phát thanh nơi cô cộng tác, nhưng sự định hình đế chế thật sự đã phải chờ đến ngày 8 tháng Chín, 1986, với 1 tiếng đồng hồ lên sóng đầu tiên của The Oprah Winfrey Show. Oprah đường hoàng đánh bại đối thủ tối thượng lúc bấy giờ là Donahue và nghiễm nhiên chiếm vị trí talkshow ban ngày hàng đầu của Mỹ. Giới truyền thông Mỹ tiên liệu một vụ nổ và một nữ vương mới trong lãnh địa truyền thống của những người đàn ông da trắng. Tham gia vào lãnh vực talk show, Oprah biến những cuộc trà dư tửu hậu của các quí ông truyền hình thành một buổi buôn dưa thân thiện với mọi chủ để xoay quanh cuộc sống gần gũi. Từ các đề tài xã hội, chính trị, tâm linh, cho đến cách chọn mua áo ngực. Người ta có thể bị Opran khéo léo lôi tuột từ đề tài chó mèo đi lạc sang vấn đề ngược đãi động vật, và chỉ 2 phút sau, bà đã kịp bàn đến thời trang lông thú, sự phi nhân của văn hóa tiêu thụ xa xỉ. Trên hết, từ size áo lót đến ý thức môi trường trong văn hóa tiêu dùng đều được bàn luận và sẻ chia với một siêu minh tinh trứ danh, hay một chính khách lẫy lừng.

Bà tiếp cận nhân vật không bằng cú pháp chặt chẽ của truyền thống nghiệp vụ, mà bằng một sự hiếu kỳ chân thật, một chút khôi hài của kẻ đã có thể khóc quá nhiều, nhưng trong sâu xa, vượt trên cả cái đầu siêu thông minh, là một lòng trắc ẩn chân thành, không ngụy tạo. Bằng tất cả những điều này, Oprah nắm giữ một thứ ma thuật không những vô hại mà còn có tác dụng chữa lành – bà khiến người ta nói ra những điều không thể, và được xoa dịu hoặc phấn khích hoàn toàn sau chỉ vừa tròn thời lượng một chương trình.

Quá muộn cho Sarah Palin!

So với các đồng nghiệp nam, Oprah thừa sức chứng tỏ sự thông minh của một nhà xã hội học, sự uyên bác của một học giả hàn lâm, nhưng trên hết, bà có điều mà các quí ngài da trắng không thể có được – sự tương tác siêu mẫn cảm và tài tình với nhân vật và cả người xem. Oprah không có vẻ khách quan, thậm chí kẻ cả của các host truyền thống, bà đầy cảm tính và vong thân cực đoan với ngập ngụa dấu ấn cá nhân.

Năm 1993, Oprah tung đòn lịch sử – cuộc trò chuyện với vua Pop Michael Jackson. Đây là quả bomb truyền thông thật sự, với kỷ lục sự kiện truyền hình vĩ đại thứ 4 trong lịch sử truyền hình Hoa kỳ, và cũng là cuộc phỏng vấn được nhiều người xem nhất, với con số 36.5 triệu khán giả.

Năm 2005, sự xuất hiện của chính Oprah trong talkshow The Late Show With David Letterman đã khiến Letterman lập kỉ lục lượng người xem lớn nhất trong suốt 11 năm: 13,45 triệu. Letterman lịch thiệp đáp lễ bằng việc xuất hiện trong The Oprah Winfrey Show ngay khi có thể, tức là khi chương trình của Oprah thực hiện tại New York hai năm sau dó.

Hẳn nhiên, ngoài sự ưu ái của các celebrity giải trí và truyền hình cùng hàng triệu trái tim Mỹ, sự văn minh của Oprah, và đôi khi cả lòng trắc ẩn của bà cũng khiến không ít yếu nhân khó chịu. Năm 2006, các rapper khét tiếng Ludacris, 50 Cent và Ice Cube đồng loạt chỉ trích Oprah là anti-hip hop. Ludacris phàn nàn với tờ GQ là Oprah “chơi khó” anh ta về ca từ, rồi biên tập các câu trả lời của ngôi sao này. Oprah thẳng thắn trả lời rằng bà không nuốt trôi được thứ ca từ miệt thị phụ nữ, những vẫn nghe rap bình thường, tiện thể ca ngợi rapper đối thủ là Kanye West – cũng là khách mời trong talkshow của Oprah.

Tháng Chín, 2008, Oprah tiếp tục chỉ trích bởi Matt Drudge vì tội không chịu mời bà nghị Sarah Palin xuất hiện trong chương trình của mình, vì Oprah lại ở bên phe Barack Obama. Tuy nhiên, điều này khiến các cử tri da màu hể hả vì hành vi “kỳ thị chủng tộc ngược” này của quyền lực “đen” ngay trên truyền hình Mỹ. Bản thân Oprah cũng khẳng khái cho biết bà ủng hộ cho Obama và quyết không để talkshow của mình thành bệ phóng cho bất cứ cá nhân, đảng phái đối lập nào. Nhưng bà phủ nhận việc từ chối Palin, cho rằng bà nghị sẽ là một khách mời lí tưởng, và thể hiện bằng cách mời bà Sarah Palin xuất hiện tại talkshow trứ danh của mình, đương nhiên là sau cuộc bầu cử và Obama an vị trên ghế tổng thống.

Người đàn bà quỳ gối qua những cuộc tình

Ngoài những trải nghiệm kinh hoàng của tuổi thơ bị lạm dụng, đứa bé trai sinh ra khi 14 tuổi và chết gần như ngay sau đó, Oprah Winfrey vẫn có cho mình những trang tình sử đáng nhớ cho cuộc đời người phụ nữ tài danh.

Mối tình học trò ghi dấu ấn sâu sắc trong tuổi hoa niên của Oprah là Anthony Otey – người cho đến nay vẫn nâng niu gìn giữ hàng trăm bức thư tình của hai người. Cả hai đã nghĩ đến hôn nhân, nhưng Otey luôn biết rằng Oprah thuộc về một cuộc đời rộng lớn hơn rất nhiều một tổ ấm mà ông có thể mang lại. Họ chia tay vào một ngày lễ Tình Nhân. Vài tháng sau, nàng có cho mình mối tình đại học, cũng là cuộc tình thật sự sâu đậm và lí tưởng với William “Bubba” Taylor. Oprah có thể làm tất cả để giữ mọi thứ y như vậy, dù đó là việc tìm việc làm lí tưởng cho chàng, hay quì gối van vỉ để tình nhân rời Nashville cùng bà, khi Oprah được cất nhắc làm việc tại Baltimore năm 1976. Dù về sau, Oprah vẫn gọi đó là “một tình yêu không thể quên”, bà vẫn chọn bước ra khỏi cuộc tình để về với đài WJZ-TV.

Những tháng năm tiếp theo, Taylor được thay thế bằng pianist-nhạc sĩ-người dẫn chương trình John Tesh, nhưng họ cũng chia tay bởi chàng không chịu nổi áp lực ràng buộc của mối quan hệ. Về sau, John Tesh thừa nhận rằng lí do tan vỡ đã liên quan rất nhiều đến sự khác biệt màu da. “Một đêm tôi thức dậy bên cô ấy, và nhìn xuống giường, vào hai thân thể một đen một trắng đang trớ trêu nằm cạnh nhau ấy. Dường như quá sức chịu đựng của tôi.” Ông bước ra khỏi căn hộ và cuộc đời Oprah như vậy, lẳng lặng lúc nửa đêm và để lại sau lưng người đàn bà trượt xuôi vào tuyệt vọng.

Bắt đầu cho chuỗi gày đen tối của Oprah. Bà trở nên mẫn cảm và tự ti. Oprah bắt đầu mắc chứng rụng tóc thậm tệ và bị chỉ trích về ngoại hình lôi thôi, bà đã bật khóc, và bờ vai quân tử đã đưa ra để hứng lệ cho bà khi này là phóng viên Lloyd Kramer. Sau này Oprah cò nhớ lại “Đó là người đàn ông yêu thương tôi ngay cả khi tôi là một mụ hói.” Nhưng ngay khi Kramer chuyển đến New York để đầu quân cho NBC, Oprah rơi ngay vào vòng tay một người đàn ông đã có vợ và hoàn toàn không có ý định ly dị. Cuộc dan díu kéo dài suốt 4 năm, Oprah nhớ lại “Ông ta càng tỏ ra xa cách, tôi lại càng muốn gần hơn. Không có ông ấy, tôi cảm thấy như mình không còn giá trị ý nghĩa gì nữa, tôi cạn kiệt hoàn toàn, và cuối cùng là nhìn thấy chính mình đang phủ phục trên sàn nhà, một lần nữa, và van xin”. Sự tồi tệ của mối quan hệ lên đến tận cùng khi Oprah gửi cho bạn thân là Gayle King lá thư tuyệt mệnh, trong đó có hướng dẫn chu đáo cách tưới nước cho những cái cây mà bà muốn nhờ King chăm sóc hộ. “Lá thư ấy, giờ nhìn lại, chỉ là một trò làm quá. Tôi đã không thể tự giết mình, tôi sẽ sợ hãi ngay vào khoảnh khắc ấy, với suy nghĩ rằng tôi sẽ bị hụt mất khi một điều gì đó thật tuyệt nữa sẽ sắp xảy ra, như vẫn luôn như vậy”.

Con nghiện giá 20 triệu và hôn ước bị lãng quên

Tuổi thơ bị bạo hành, và những cuộc tình bị ruồng rẫy đã dẫn theo những cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng, và việc tăng cân là một hệ quả đi cùng. “Tôi luôn cần được chấp nhận. Tôi cần được yêu thích, bởi tôi chẳng thể yêu thương lấy chính mình. Thế là tôi bị hút vào những người đàn ông ích kỷ, những kẻ sẽ cho tôi biết rằng tôi là kẻ ích kỷ, và tôi vồ vập đón nhận lấy lời quy buộc đó một cách hàm ơn. Tất cả bởi vì tôi không hề cho rằng mình xứng đáng có một điều gì đó tốt đẹp hơn. Tôi tăng cân, và đó là thứ tự vỗ về bản thân – cái bản thân bị cả thế giới chối từ”.

Hói đầu, béo, và thậm chí nghiện ngập. Cùng trong thời kì này, Oprah còn dan díu với một người tình khác, về sau bà thú nhận đã từng cùng người này nghiện hút cocaine với lời giải thích “Tôi không bao giờ nghĩ rằng chính cocaine là vấn đề, bởi vấn đề nằm ở chỗ tôi nghiện người đàn ông ấy, thậm chí không thể tưởng tượng nổi liệu còn có gì mà tôi không sẵn lòng làm vì anh ta.” Dựa trên tính toán thời điểm và mô tả, giới thạo tin cho rằng đó rất có thể là Randogh Cook, kẻ một ngày đẹp trời nhận rằng đã từng dan díu với Oprah hồi 1985 và họ thường xuyên hút cocaine với nhau. Gã người tình cũ lăm le cho xuất bản cuốn tự truyện kể tồng tộc về mối quan hệ của họ với nhau và giật trợn đòi kiện Oprah phải trả cho gã 20 triệu USD vì đã can thiệp để cuốn sách không thể xuất bản.

Tình sử những năm 1980 của Oprah không chỉ là những trang buồn, bởi trong đó, mối tình với nhà phê bình điện ảnh Roger Ebert đã là một cột mốc đáng nhớ dẫn dắt Oprah đến với format đầu tiên của The Oprah Winfrey Show danh bất hư truyền.

Năm 1985, trước khi talkshow của Oprah vượt khuôn khổ tiểu bang Chicago để vươn đến tầm phủ sóng liên bang, người ta lại nghe nói đến áp-phe ái tình của bà với nhà làm phim người Haiti Reginald Chevalier. Chính Chevalier cũng không ngại ngần thuật lại những buổi tối lãng mạn của họ, với nến quanh bồn tắm, hay những bữa ăn tối thân mật với Michael Jordan và Danny Glover. Ông còn dũng cảm thú nhận mình đã bị Oprah cho rơi khi bà gặp Stedman Graham.

Với Stedman, Oprah đã đi trọn một cuộc tình dài hơi từ 1986. Họ đính hôn và chuẩn bị hôn lễ vào tháng 11, 1992. Nhưng những cuộc cút bắt trớ trêu với hạnh phúc của Oprah đã không dừng ở đó, hôn lễ ấy đã không hề diễn ra.

“Nghe đồn ở quanh đây, người ta kính Chúa?”

Cho đến gần đây, khi cuốn sách về đời tư của Oprah được tung ra, người ta lại được tác giả ý nhị cho hay rằng Oprah Winfrey có mọi lí do lẫn dấu hiệu lưỡng tính, hoặc hoàn toàn đồng tính ái.

Bên cạnh những cuộc tình không lối thoát, Oprah được san sẻ và bù đắp khá nhiều từ những tình bạn lớn trong đời, mà trong đó không thể không kể đến Gayle King – vốn là host của show truyền hình vang danh The Gayle King Show, và hiện là biên tập cho tạp chí O, the Oprah Magazine.

Ngoài ra, người đồng nghiệp có tài gây sóng gió màn ảnh truyền hình Mỹ khác là Ellen DeGeneres cũng là một tình bạn quí báu mà Oprah có được cho mình. Họ gặp nhau năm 1997, khi Oprah vào vai trò tư vấm tâm lý trong một show đáng nhớ của Ellen, khi cô công khai bản thân là một người đồng tính ái. Bản thân Oprah và King cũng có cho riêng họ những lời đồn về xu hướng tình dục, bà thản nhiên đáp trả “Họ nghĩ rằng tôi đồng tính và tự ti, nhục nhã đến độ không dám công khai thừa nhận à? Làm ơn dùm cái đi!”

Với sự khác biệt nhưng đầy nhân văn của chính mình, Oprah dẫn đầu trong cuộc cách mạng truyền hình về đề tài giới tính, tạo tiền lệ cho các chương trình gây chấn động khác như Ricki Lake, The Jenny Jones Show và The Jerry Springer Show. Các nhà xã hội học phái thủ cựu phản đối kịch liệt việc Oprah đã tự tiện xóa mờ lằn ranh giữa các cá thể “đàng hoàng tử tế” và những kẻ lập dị. Trên ghế khách mời của Oprah, liên tiếp xuất hiện những nhân vật có thật, đồng tính, lưỡng tính hay chuyển đổi giới tính. Họ tài tình và thật thà, vắt kiệt cảm xúc lẫn nước mắt người xem rồi trở thành những hình mẫu hào hùng ngay trên màn ảnh truyền hình, với Oprah ngồi bên cạnh, rơm rớm nước mắt trong tiếng tung hô của khán phòng, vang đến tận từng căn hộ trên khắp nước Mỹ.

Những trường hợp đồng tính công khai càng ngày càng có độ tuổi trẻ hơn, đó là điều khiến các nhà đạo đức khổ sở. Nhưng số vụ tự sát ở người đồng tính theo đó mà tỉ lệ nghịch rõ rệt. Cũng từ thời điểm này, dân đồng tính và các vấn đề xoay quanh đời sống thế hệ tình dục tự do qua sitcom Will & Grace, show giờ vàng Queer Eye for the Straight Guy, và những ứng viên Oscar cỡ Brokeback Mountain.

Trong một show những năm 1980, trong ngày National Coming Out Day (ngày công khai đồng tính toàn quốc), lần lượt từng khán giả trong trường quay của Oprah Show đứng lên, dõng dạc danh tánh và công khai giới tính trước sự chứng kiến của toàn nước Mỹ qua màn ảnh nhỏ.

Cũng vào thời kỳ này, cả khu Đông Virginia đang hoảng loạn vì một người đàn ông đồng tính ở đây đã nhiễm HIV. Nữ Hoàng Buôn Chuyện tất tả gồng gánh cả chương trình đến tận đây. Bà quyết phỏng vấn cho được “con quái vật bị rút phép thông công” cùng ngài thị trưởng – người đã cho lệnh rút cạn hồ nước nơi người đàn ông kia đã đến bơi. Oprah chưa bao giờ gay gắt và miệt thị đến vậy. Bà nhìn xuống khán phòng đầy những công dân Virgina ngoan đạo “Tôi nghe đồn rằng ở vùng này người ta kính Chúa? Vậy cho hỏi nhân tính đâu, tình ái hữu đồng loại ở đâu, Virgina?”

Trong một show khác vào thập niên 1990, một người phụ nữ dưới hàng ghế khán giả đã đứng lên tuyên bố mình đã chán ngấy trò phô trương trơ trẽn tục tĩu của giới gay. Oprah hằn học đáp trả “Bà biết điều gì làm tôi chán ngấy? Bọn đàn ông ‘bình thường’ đi cưỡng dâm các cô gái nhỏ.”

Khi một người đàn bà buôn chuyện trên sóng quốc gia

Sự ảnh hưởng của Oprah không những tác động đến lối sống và tâm lí mọi công dân trong xã hội Mỹ. Sức ảnh hưởng của tài buôn chuyện của Oprah còn tác động mạnh mẽ lên thị trường tiêu thụ, nền kinh tế tiêu dùng, và cả xu hướng chính trị. Các nhà kinh doanh, các nhà văn và cả các chính khách gọi đó là Hiệu Ứng Oprah.

Thoạt tiên, hiệu ứng này được ghi nhận rõ rệt nhất vào thị trường xuất bản và các cuộc bầu cử. Cuối 1996, với sự ra đời của mục Oprah’s Book Club trong Oprah Show, tập trung vào các ấn phẩm văn học kinh điển lẫn đương đại. Với một lượng khán giả khổng lồ trước màn ảnh truyền hình, sự xuất hiện của một cuốn sách trong chương trình của Oprah được coi là chứng nhận siêu hạng, và lập tức chia sẻ một sự tập trung lớn của thị trường dành cho ấn phẩm may mắn nọ. Người ta dễ dàng lập tức nhận ra những cú dội bomb văn học chỉ thật sự bùng nổ sau khi xuất hiện vài tiếng trước đó trên Oprah Show, trong đó, Phía Đông Vường Địa Đàng của John Steinbeck là một ví dụ điển hình. Giới xuất bản ngầm hiểu, sự công nhận của Oprah có giá trị tương đương với lợi nhuận của hàng triệu ấn bản được mua sạch vào ngày hôm sau. Trong cuốn Đọc Sách Với Oprah: Mục Điểm Sách Đã Thay Đổi Nước Mỹ (2005), Karhleen Rooney đã mô tả Oprah là một “nhà trí thức Hoa Kỳ thực thụ, người tiên phong trong việc sử dụng truyền thông điện tử để ủy lạo cho văn hóa đọc, nhấn mạnh vai trò xã hội của văn học đủ thuyết phục khiến hàng triệu con dân thế hệ màn hình cùng hưởng ứng và quay về một cách nghiêm túc, đầy hứng thú với văn chương và văn hóa đọc”.

Sức ảnh hưởng lớn lao của Oprah lên thị trường không ngừng lại ở lãnh vực xuất bản. Trong một cuộc “buôn chuyện” năm 1996, Oprah tỏ ý e dè với món burger bởi dịch bò điên. Các trang chủ Texas hoảng loạn nổi đóa kiện Oprah tội tung tin đồn nhảm, tác hại đến uy tín kinh doanh của họ với tổng thất thu lên đến 11 triệu USD. Vụ kiện 2 tháng ròng rã chẳng đi đến đâu khi luật sư bên nguyên tuyệt vọng trong nỗ lực minh chứng tác hại của một người đàn bà buôn chuyện trên truyền hình. Còn Oprah ngay sau đó mời luôn luật sư biện hộ Phil McGraw xuất hiện trên chương trình của mình. Luật sư Phil xuất hiện thường xuyên đến nỗi chỉ vài năm sau thực hiện luôn show của mình vào năm 2002 với tên gọi Dr.Phil, với sự hỗ trợ của Harpo Productions – hãng sản xuất của Oprah.

Ngoài Dr.Phil, các show Dr.Oz và Rachael Ray là hai chương trình trò chuyện khác do Oprah sản xuất, cũng là những nhân tố lan tỏa Hiệu Ứng Oprah.

Những buổi buôn chuyện của Oprah, hẳn nhiên, như mọi đề tài có thể được mang ra bàn tán quanh mọi bàn café và mọi phòng ăn gia đình, còn đề cập đến đề tài chính trị, khi chính trị có ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày. Khi ứng viên Barack Obama chào sân chính giới năm 2008, mọi đối thủ của ông đều phải lo ngại trước thịnh tình hào phóng mà nữ hoàng buôn chuyện dành cho vị chính khách tiến bộ người da đen. Bà công khai thể hiện thái độ chính trị chủ quan của mình, sử dụng biệt thự riêng cho các sự kiện gây quỹ, cùng Obama có mặt tại các cuộc vận động tại Iowa, New Hampshire và South Carolina, lôi kéo hàng chục ngàn cử tri nghiêng hẳn về phía Obama trong cuộc đua vào tòa Bạch Ốc. Theo phân tích của đại học Maryland, Collage Park, ảnh hưởng của Bà Nhiều Chuyện lên sinh mệnh chính trị của Obama được “quy ra thóc” thành khoảng từ 423,123 đến 1,596,995 phiếu bầu, chỉ tính riêng phe dân chủ, chưa bao gồm Texas, Michigan, North Dakota, Kansas và Alaska. Thống đốc Illinois đã vô cùng ấn tượng với sức ảnh hưởng này và khẩn trương mời bà vào ghế nghị viện còn trống với là ca tụng rằng đây là người đàn bà có lời nói giá trị hơn 100 ông nghị cộng lại. Oprah đáp lễ, tuyên bố hơi mập mờ rằng mặc dù không lấy làm hứng thú với lời đề nghị, bà vẫn luôn biết rằng mình có đầy đủ tố chất và khả năng.

Liệu pháp Oprahfication cho Oprah

Hẳn nhiên, Oprah không thể là hiện tượng siêu nhiên của hiện thân Đức Bà Đen với lòng trắc ẩn vô bờ bến và vô điều kiện. Trong một góc nhìn tâm lý, chính những lời “xưng tội” trước đám đông được chia sẻ và hơi ấm của lòng trắc ẩn lan tỏa là một liệu pháp chữa lành cho chính Oprah. 25 năm nhìn lại, từng cuộc nói chuyện, từng mảnh đời nhân vật mà Oprah từng khai thác và chia sẻ chính là những mảnh ghép phản chiếu chính những bi kịch của Oprah. Từ mặc cảm về thân hình, màu da, những cuộc tình bi lụy, vết nhơ của tuổi thơ bị lạm dụng, những áp lực của một nữ trí thức da đen trong môi trường quyền lực giữa những người đàn ông da trắng, v.v… Oprah luôn có một mảnh rứt ra từ chính câu chuyện cuộc đời bản thân để cùng hóa thân vào nhân vật một quyền năng xoa dịu ấm áp thần kì. Chưa bao giờ tính tương thích của truyền hình lại được thực hiện đơn giản và mang lại hiệu ứng xã hội mãnh liệt đến vậy, và chính hình ảnh của Oprah Winfrey là một minh chứng hiển nhiên, khi mỗi show là một buổi trị liệu cho chính bà.

Quyền lực ảnh hưởng của Oprah ngày càng trở nên rộng lớn và tác động không chỉ đến những bà nội trợ có thú vui ngồi khóc trước màn hình, mà còn trở thành một công thức mới cho chiến lược hình ảnh chính trị. Chính ngài Bill Clinton đã áp dụng thành công liệu pháp Oprahfication để khéo léo chống đỡ sinh mạng chính trị với những sai lầm rất “nhân văn”, những phân tích tâm lí thuyết phục, lời thú tội thật thà với lòng vị tha tương tác của bà đệ nhất phu nhân. Tất cả được đích thân phù thủy Oprah phân tích, nhào trộn và trở thành một tác phẩm talkshow tâm lí hoàn hảo, giàu tính giải trí, nặng mùi cine Mỹ. Cuối cùng, toàn thể con dân cờ hoa tin chắc rằng sau kép Ronald Reagan quá lâu, nước Mỹ rất cần một chú Sam chịu chơi, hơi hào hoa một chút với kết thúc có hậu. Họ hài lòng với cốt truyện theo kiểu “feel-good movie”, vừa có vị diễm tình công chức, và có cả những cuộc đoàn tụ trong hoan ca tôn vinh giá trị gia đình.

Cũng như vậy, Oprah tiết lộ cân nặng của mình (đỉnh cao lên đến 108kg), và dẫn đầu làn sóng các nữ biên tập viên truyền hình “nặng ký” như Roseanne Barr, Rosei O’Donnell và Star Jones. Đến gần cuối những năm 1980, Oprah Winfrey, từ một kẻ bị khiển trách vì ngoại hình lôi thôi, đã biến “fat” thành “fabulous”, tạo hình mẫu phồn thực, sang cả và sôi nổi nhưng sắc bén, ngay giữa một xã hội tôn vinh chuẩn mực thân hình màn hình phẳng và những làn da thiếu máu của các tín đồ da trắng thích ăn kiêng. Công thức của Oprah? Đơn giản là một gout thời trang phù phiếm nhưng thông minh, một lòng tự tôn mãnh liệt, và tình yêu triệt để với hình hài nhân diện được Chúa ban.

Tông đồ đảng PETA

Không chỉ là một con chiên ngoan đạo và một tiếng nói đấu tranh vì hòa bình thực thụ, Oprah còn là một điển hình mẫu mực của một diva sành điệu, có khả năng biến hóa các khiếm nhược ngoại hình trở thành ưu thế, và thậm chí là trademark của bà giữa các celeb hào nhoáng của showbiz thế giới.

Nhưng trên hết, với sự thông minh và ý thức nhân đạo hồn nhiên nhất, Oprah còn được giới thời trang ca tụng là một fashionista văn minh bậc nhất. Là một tín đồ tuẫn tiết nhưng hoàn toàn tự chủ, dù tài sản lên đến hàng tỉ có thể cho phép Oprah có cho mình tủ quần áo của một nữ hoàng, bà vẫn cương quyết cự tuyệt mọi nguồn gốc sản phẩm làm từ lông và da thú. Năm 2008, hội Peta chọn bà làm Nhân Vật Trong Năm vì đã sử dụng uy tín, hình ảnh và công chúng của Oprah Show vào các chiến dịch từ thiện, bao gồm cả các chiến dịch bảo vệ và chăm sóc động vật. Đảng Xanh xem bà như một thành viên danh dự với những talkshow đề cập gay gắt đến tệ nạn sát hại động vật, thẳng tay vạch trần những hình thái tội ác khủng khiếp và nhẫn tâm diễn ra hàng ngày tại các lò sát sinh và các nông trại khai thác lông thú. Oprah còn sử dụng các buổi phát hình và chính bản thân mình để ủy lạo cho phong cách sống xanh, với xu hướng tiêu dùng thời trang văn minh và thực đơn không dùng thịt. Chưa bao giờ một chiếc áo lông thú được xuất hiện trước ống kính Oprah Show, tạp chí Oprah Magazine, và trong tủ quần áo cá nhân của Oprah.

Body dân chủ và thẩm mỹ diva

Cuộc chiến giảm cân bền bỉ và hiệu quả đã khiến Oprah trở thành một hình mẫu đáng gọi là “tiêu chuẩn” cho đại đồng thị trường tiêu dùng trên thế giới. Cũng chính vì vậy mà gout phục sức của bà được theo dõi và tán thưởng rộng rãi. Giới fashionista size L trở lên coi bà là một tông đồ thời trang gần gũi hơn bất cứ tượng đài phong cách có thân hình lý tưởng nào khác. Người ta luôn cần một khuôn mẫu có tính thực tế làm cứu cánh cho những tự ti nảy sinh từ cuộc chạy đua tuyệt vọng theo những thân hình người mẫu mỏng dính đến cay nghiệt và đượm màu viễn tưởng.

Người ta bật truyền hình lên hàng ngày để được nghe Oprah nói, khóc và cười cùng Oprah.

Nhưng theo năm tháng, Oprah Show đã hình thành nên một “trade mark” đáng kể nữa với phong cách xuất hiện của chính Oprah được háo hức dõi theo mỗi kỳ phát sóng, từ những bà nội trợ, các diva công sở, cho đến những fashionista mới nhập môn.

Làn da khỏe mạnh và màu da được chăm sóc kỹ lưỡng, cùng với các kiểu tóc thay đổi xoành xoạch qua từng thời kỳ, Oprah có riêng cho mình một vòng xoay thời trang riêng biệt. Trong đó, bà cự tuyệt “đóng đinh” hình ảnh của mình với bất cứ phong cách, màu sắc nào. Tất cả được tung hứng và đổi thay một cách bốc đồng, thú vị, nhưng vẫn bảo toàn những dấu ấn cá nhân “rất Oprah” để khéo léo hình thành “giá trị nhận diện” cho tên tuổi và dung mạo của mình. Màu da đen khiến Oprah sáng rực lộng lẫy với đỏ tươi và xanh lá, nhưng bà cũng nổi tiếng là diva xài bảng màu trung tính sành sỏi với các màu crème, màu ngà hay nâu sữa đậm. Những bộ cánh tiệc tùng dành cho các sự kiện long trọng của Oprah hoàn toàn có thể gây đại náo thảm đỏ dù khi ấy bà đang nặng 140 hay 200 pounds – Oprah luôn minh chứng rằng một bà béo hoàn toàn có thể thành công, tự tôn, hài lòng và lộng lẫy.

Những khi không gắn bó với những món trang sức ưa thích bằng hạt trai, Oprah trang hoàng cho diện mạo thời trang của mình bằng bất cứ trường phái phụ trang nào, từ những vòng khuyên tai bằng kim loại quá khổ, những chiếc khăn lụa chói lọi thắt điệu nghệ quanh cổ, cho đến những món bling-bling lòe loẹt đặc thù của rapper da màu. Một diện tích thể hình rộng rãi khi này chỉ đồng nghĩa với nhiều không gian để tổ điểm hơn. Hiệu quả của trò mix-and-match tưởng như điên rồ ấy lại thuyết phục đến mức người ta quên mất rằng Oprah Winfrey là loại phụ nữ có 1 tỉ thứ việc để làm trong ngày, ngoài chuyện ngồi chọn phối các bộ nữ trang với quần áo.

Gout mix-and-match của Oprah có thể được coi là một cuộc tung hứng kì quặc, nhưng được tính toán một cách tuyệt hảo. Tuy vậy, với 25 năm liên tục xuất hiện trước hàng triệu khán giả, bất cứ diva nào khác có thể kiệt quệ vì mỏi mòn ý tưởng, nhưng Oprah vẫn tồn tại với một chu kỳ biến hình chặt chẽ. Theo quan sát của các nhà phê bình thời trang, dù khác biệt và trội bật, Oprah chưa bao giờ dị biệt và lạc thời. Từ mốt quần loe tóc quăn tít, đến quần ống túm xếp pleat và áo độn vai,… phong cách thời trang của Oprah vẫn thể hiện rõ nét trào lưu thời cuộc qua bộ lọc thẩm mỹ cá nhân rất riêng, và những kiểu tóc, ton trang điểm đều thay đổi hợp lí và hài hòa với tổng thể diện mạo.

Những hình ảnh trên sóng truyền hình qua từng thời kỳ của Oprah Show có thể được xem là những hình ảnh đại diện của lịch sử thời trang đương đại. Quan sát Oprah, chính là quan sát vòng xoay trào lưu của các mùa thời trang qua suốt 25 năm,  những cặp kính hết rộng đến hẹp, tóc tỉa thẳng lại đến tóc quăn, và váy len dài tay đã đến và đi vài được vài mùa trong suốt ngần ấy lần xuất hiện của nữ hoàng buôn chuyện.

Trợ lực sau lưng cho Oprah là cả một đội ngũ stylist sừng sỏ và những tay chuyên viên làm tóc, trang điểm thuộc hàng lão luyện. Nhưng Oprah tài tình sử dụng ê-kíp của mình – những người đủ thông thái để hiểu rằng Oprah Winfrey không phải là loại phụ nữ để người khác bảo mình phải mặc gì và trang điểm ra sao. Nói một cách khác, khi đưa mục Make-over vào chuyên kỳ talkshow của mình, Oprah đã mang chính mình và các nhân vật được chọn ra làm những nhân chứng thuyết phục và sống động nhất cho chân lý: bạn không nhất thiết phải ốm và ở trên bìa tạp chí để có quyền ăn mặc đẹp.

Cuộc độc thoại cuối cùng

25 năm sau, nhân vật duy nhất với câu chuyện đời điển hình, với những cú bẻ ngoặt bánh lái ngược chiều định mệnh, đầy đủ chất liệu để làm nên một show đầy ứ cảm xúc cho The Oprah Winfrey Show, đó chỉ có thể là chính Oprah Winfrey.

Người ta đã cứ ngỡ rằng lời chia tay của Bà Nhiều Chuyện sẽ phải là một sự kiện toàn cầu, một quả bom truyền thông với những tiết lộ động trời, cùng sự có mặt của một lực lượng celebrity hùng hậu, danh giá và đông đảo hơn cả đám cưới Hoàng Gia Anh và giải Grammy cộng lại. Trên thực tế, Oprah đã không làm họ thất vọng, và đã có một show chia tay như thế, với 13,000 khán giả có mặt tại United Center vỡ òa trong nước mắt, những tràng cười và những tiếng vỗ tay tưởng như của 25 năm đọng lại.

Nhưng đó chỉ là chương trình áp chót.

Bà Hoàng Talkshow muốn dành giờ phát sóng sau cuối cho cuộc hàn huyên thiêng liêng, duy nhất, và sau cùng. Chân thành tuyệt đối và sẻ chia hoàn toàn!

Một ngày thứ Ba không như mọi ngày thứ Ba của 25 năm lừng lẫy, Oprah Winfrey, khi này đã 57 tuổi, lộng lẫy, đầy cảm xúc và ắp ứ sinh lực hơn bao giờ, đã kết thúc những chuỗi ngày chuyện trò với nước Mỹ bằng cuộc độc thoại với chính mình trước màn ảnh nhỏ.

Để khép lại một TV show đã khiến người thiếu phụ da màu bất hạnh, lụy tình, bị bỏ rơi và lạm dụng trở thành “chị Hạnh Dung” của toàn nước Mỹ, Oprah đã dành cho cuộc “buôn chuyện” đơn độc cuối cùng toàn bộ 4 giờ phát sóng liên tục những video clip, những khoảnh khắc xúc động nhất, những nhân vật khó quên đã từng ngồi ghế nóng trường quay The Oprah Winfrey Show, và những tự sự thật thà cuối cùng.

Với một bãi đáp êm đềm hoành tráng sau lưng là dự án Oprah Winfrey’s Network (OWN), Oprah điều khiển liên tục 4 tiếng phát sóng với một sự điềm tĩnh, tự tại, nhưng không giấu những giọt nước mắt xúc động trong những khoảnh khắc ôn cố tri tân. “Mỗi người trong các bạn đều có một nền tảng: Bạn luôn có thể giúp một ai đó, lắng nghe, và tha thứ. Điều ước lớn nhất của tôi đó là các bạn sẽ tiếp tục cuộc hành trình đã chọn, làm những điều nên làm và không uổng phí một khoảnh khắc nào cả”.

Trong tất cả những gì thu về được cho chính mình sau một phần tư thế kỷ, đương nhiên là ngoài hàng tỉ dollar, đối với Oprah, đó là bài học “Ta luôn có trách nhiệm với nguồn năng lượng ta tự tạo nên cho mình và lan tỏa đến những người xung quanh. Đừng chờ một bàn tay đưa ra cứu vớt, hoàn thiện, hay sửa chữa lỗi lầm cho chính mình.”

Như thế, Oprah Winfrey nhẹ nhàng khép lại The Oprah Winfrey Show, ngọt ngào, không chút đắng cay: “tôi không nói tạm biệt đâu, sẽ chỉ là ‘Cho đến lần sau nhé!’”

Oprah đứng lên từ sân khấu, rời trường quay bằng con đường xuyên qua khán phòng, thẳng vào lòng khán giả của bà, dừng lại giữa đường để ôm hôn người chiến hữu Stedman Graham thật thắm thiết, high-five với những thành viên ê-kíp đã kịp vây nghẹt lối ra và dọc cầu thang dẫn lên văn phòng của Oprah. Cuối các bậc thang, chú chó cưng của bà đang đứng chờ sẵn.

Bế chú chó trên tay, bà đi thẳng về phía thư phòng khi nhạc hiệu quen thuộc của The Oprah Winfrey Show cũng vừa vang lên những nốt cuối cùng. Nữ Hoàng Buôn Chuyện hài lòng nói nhỏ: “Đi thôi, Sadie, chúng ta xong việc rồi!”

BOX

Cuốn tiểu sử mang tên Oprah của Kitty Kelley đã là một quả bomb dội vào thị trường văn chương Mỹ, nóng bỏng không kém những cuộc buôn chuyện trên sóng quốc gia của chính nữ hoàng talkshow. Nhưng với những độc giả của F., khi mà cuốn sách này chưa được phát hành tại Việt Nam, việc liệt kê một vài chi tiết thú vị cũng đủ để chấm phá hoàn thiện bức chân dung huyền thoại nữ hoàng buôn chuyện:

–       Một người bạn gái thân của Oprah từng nói rằng bà ta “sẽ chẳng ngạc nhiên nếu biết rằng Oprah đồng tính”.

–       Oprah đã từng khăng khăng nhất quyết không chịu thanh toán cho việc đặt viên gạch danh dự tại trường trung học Nashville, trị giá 50 USD.

–       Khi còn đi học, Oprah ứng cử vào hội đồng sinh viên với khẩu ngữ “Thêm Chút Màu Mè Cho Đời Sinh Viên Của Bạn, Hãy Bầu Cho Đại Tẩu Oprah!” (Put a little color in your life, vote for the Grand Ole Oprah)

–       Khi được chất vấn về sự “ngay thẳng” trong giới tính, bà đã trả lời với đám đông rằng “Tôi thậm chí chẳng tè được thành một đường thẳng!”

–       Ba món khoái khẩu: khoai tây trộn kem cua, Ding Dong và gà rán.

–       Oprah phải cho đặt đúc bồn tắm cho vừa với thân mình

–       Trong suốt 13 năm cuối đời tài tử lừng danh Bob Hope, ngày nào bà cũng gửi đến ông một bó hồng.

–       Trong phim trường The Color Purple, Oprah từng cặp kè sát cánh với Whoopi Goldberg, xoắn xuýt với nhà biên kịch Akosua Busia và gây gổ với Steven Spielberf

–       Bà sợ mùi xăng dầu đến mức mỗi khi chuẩn bị tiếp đón chuyên cơ của bà, các nhân viên phục vụ phải quăng hàng chục bịch bắp rang bơ vào lò để át đi mùi này.

–       Gia đình của Oprah không hề cho bà biết gì về người cha ruột của mình, nhưng lại tiết lộ với tác giả cuốn sách là Kitty Kelley, nhưng trong một nghĩa cử quân tử, Kitty đã không đề cập đến thông tin này trong cuốn sách, với tuyên bố rằng chỉ cho đến khi chính Oprah có thể thuyết phục mẹ của bà là Vernita Lee.

ngày mặt trăng không còn nhảy múa

Túy Ca

Với không chỉ một chiếc găng đính đá, Michael Jackson vươn tay đến lãnh địa Pop và bao phủ thế giới trong nhiều thập niên bằng hình ảnh, giai điệu và những bước nhảy của mình. Và cũng chính bàn tay đeo găng ấy đã rải rắc khắp thế giới những cơn sốt phụ trang, những cầu vai, tua ngù, nón fedora…mãnh liệt không kém cơn sốt âm nhạc của chính mình.

 “Tôi cũng là một con người, biết đau và chảy máu. Tôi còn là một tay cả thẹn.” Vua Pop đã có lần tự sự như vậy trong một trong những cố gắng để thú nhận rằng sâu, rất sâu bên trong hình hài cổ quái của một tượng đài huyền thoại, ông cũng là một con người bình thường. Nhưng chưa bao giờ điều này tỏ ra thuyết phục cả, cho đến cái chết của ông.

Có lẽ người ta không nên sửng sốt vì Michael đã ra đi, mà đúng ra nên ngạc nhiên rằng nhân loại đã từng sản sinh ra Michael.

Cậu Nhỏ Nhà Jackson

Michael Jackson chớm mang mệnh “thiên tử showbiz” từ khi còn ở độ tuổi mà tất cả những đứa trẻ khác còn chưa hiểu nghĩa của từ “nổi tiếng”. Sinh năm 1958 tại khu dân cư lao động thị trấn Gary, Indiana, Michael đã biểu diễn trong nhóm đồng ấu với các anh em trong nhà – ban Jackson Five từ khi 6 tuổi và nhanh chóng trở thành giọng ca chính. Nước Mỹ yêu quí cậu nhóc đen thui có đôi mắt ướt và vũ đạo ngộ nghĩnh như yêu một chú khỉ kháu khỉnh biết làm trò. Không mấy ai biết rằng, một động lực biểu diễn đáng kể của cậu nhóc nhà Jackson chính là nỗi sợ. Về sau, ông kể lại rằng cha mình, ông Joe Jackson, một nhạc công guitar bất đắc chí, thường xuyên đánh đập những cậu nhỏ Jackson Five và những buổi tập đàn hát của họ đã diễn ra trong tiếng dây lưng vút xuống bất cứ lúc nào.

Những cậu nhỏ nhà Jackson, với những trận mưa roi, vẫn liên tục đạt những kỷ lục của chính mình, nhưng sự trội bật đặc biệt của nhóc Michael đã vội bỏ xa các anh em của mình và chính chiếc nôi Jackson Five. Về sau, album Thriller của ông, năm 1982, với các hit bất hủ Beat It và Billie Jean cho đến tận nay vẫn được ghi nhận là album bán chạy nhất trong lịch sử showbiz thế giới – trên 100 triệu bản. Năm 1984, ông nhận giải thưởng danh dự do tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan trao tặng tại tòa Bạch Ốc về những hoạt động xã hội chống nạn nghiện rượu và ma túy. Một năm sau đó, ông cùng Eric Clapton viết nên We Are The World – ca khúc được mệnh danh là bản “quốc tế ca không chính thức”.

Nhưng cũng vào thời kỳ này, Michael Jackson – vẫn nguyên vẹn là nhóc Michael trong một hình hài trưởng thành, bắt đầu cho thấy những dấu hiệu phản ứng với danh vọng của chính mình. Những tin đồn hành lang về căn phòng oxygen có thể hoàn toàn là bịa đặt, mà về sau có bằng chứng cho thấy chính ông đã tiếp tay lan truyền, tương tự câu chuyện về việc ông mua lại bộ xương Người Voi, cùng những chuyện truyền khẩu quái dị khác. Chỉ riêng chuyện ông nhận nuôi chú tinh tinh Bubbles là hoàn toàn có thật. Như một đứa trẻ, dẫu là một đứa bé thần đồng, Michael gắn bó mật thiết với Bubbles dẫu luôn muốn được vây quanh mình bởi những bạn bè thân thiết nổi tiếng của thượng đỉnh làng showbiz thế giới.

Đây cũng là thời kỳ nước da của ông trở nên sáng màu hơn thấy rõ, cùng lúc với sự biến đổi nhanh chóng của khuôn mặt.

Ông vẫn được yêu quí bởi lượng khổng lồ những fan sùng đạo trên toàn thế giới. Bản Bad năm 1987 tiếp tục là bom tấn dội xuống thị trường âm nhạc toàn cầu. Nhưng Jackson hoàn tất cuộc biến hình hoàn chỉnh để từ nhóc Michael trở thành quái nhân Wacko Jacko (Jacko Lập Dị)

Vượt trên cả tham vọng tự biến mình thành một hình hài đa chủng tộc và phi giới tính, Michael bắt đầu thực hiện giấc mộng níu giữ thời gian. Ông tự xây cho mình một công viên giải trí và đặt tên là Neverland (Xứ Sở Không Bao Giờ), thả vào đấy cả một vườn thú, nơi Vua Pop ngập ngụa trong một thứ tình yêu an toàn và thật thà nhất không hề bị tác động bởi danh tiếng, tài sản hay độ cao chiếc mũi của ông.

Michael-Không-Chịu-Lớn bắt đầu tìm đến với những người bạn “đồng trang lứa” – những đứa trẻ. Phần lớn ở đúng vào độ tuổi khi mà cậu nhóc ban Jackson Five bắt đầu sự nghiệp solo.

Hoàng Đế Lưỡng tính

Sau thành công hiển nhiên của kiểu nón fedora và găng tay trắng, Michael bắt đầu tỏ rõ một sự lưu tâm đặc biệt đến các món phụ trang, liều lĩnh bước khỏi hình ảnh chuẩn mực lúc này vẫn còn đang sốt rần rật của chính mình trước đó. Cùng với sắc đỏ của chiếc áo khoác da, Vua phủ sóng thần dân bằng những cơn sốt kiểu tóc xoăn ướt gel thả dài xuống mắt và đôi kính mát kiểu aviator tráng thủy. Hẳn nhiên, ngoài những con chiên mộ đạo bạo tay, phần còn lại của thế giới vẫn chọn cho mình một vài món trong cả bộ sưu tập phụ trang lỉnh kỉnh ấy để tự trang bị cho mình, từ kiểu kính aviator specs cho đến những chiếc áo khoác da, hay kiểu tóc dập gãy lăn tăn hoành hành mái tóc fashionista khắp nơi trên thế giới. Hẳn nhiên, với cơn sốt Billie Jean và tiết tấu kích động của Beat It vang lên trong từng quán karaoke có mặt ở khắp mọi nơi, ai mà không muốn trên mình có chút gì có chất Michael?

Niềm đam mê phụ trang đã dẫn lối phong cách Vua Pop đến giai kỳ cực thịnh của trường phái “More Is More” của những năm đỉnh điểm cầu kỳ. Những bộ suit sắc sảo và vành mũ phớt đã đi vào quên lãng, thời đại áo khoác da găng tay kim tuyến cũng trở nên đại trà và xoàng xĩnh. Vua trở thành một tượng đài siêu xa hoa và hình mạo rổn rảng nhì nhoằng phụ trang như một cây Giáng Sinh hào nhoáng.

Năm 1984, khi được vời đến tòa Bạch Ốc để nhận giải thưởng đầy vinh dự từ tay thủ tướng Reagan, Michael đã xuất hiện dưới phong cách quân sự đa binh chủng: jacket xanh lính thủy đính cườm với ngù vai vàng, chiếc găng đính đá bất ly thân, giày loafers đen và kính mát aviator kiểu phi công.

Đây cũng là thời kỳ rõ nét nhất của xu hướng phi giới tính trong hình ảnh của Michael. Những chiếc jacket cổ điển được tân thời hóa với dáng cắt ôm eo gần giống như những chiếc jacket nữ, trong khi những tua ngù xích nhợ, cổ áo vương giả dựng cao, ôm lấy khuôn mặt với chiếc mũi cao vót như Kim Tự Tháp, xương cằm được chỉnh cho thon thả và lớp mỹ phẩm ẻo lả tô hồng chuốt lục cho khuôn diện của một vị Vua.

Chính bắt đầu từ thời điểm này, khát vọng vĩ cuồng tạo nên một hình ảnh không tuổi, phi giới tính và phi chủng tộc đã đẩy Vua Pop sa đà một cách tuyệt vọng vào những cuộc giải phẫu chỉnh hình quá tay. Chiếc mũi của Ngài trở nên thanh tú đến dị dạng và khiến người ta không khỏi hình dung hốc mũi ghê sợ trên chiếc sọ người, làn môi mỏng như lá lúa, chiếc cằm được khắc đẽo sau bao lần đã biến dạng vẹo vọ, và màu da quá nhiều lần xử lí đã thành một sắc trắng bạch tạng khiến ông hoàng showbiz không còn có thể phơi ra dưới ánh nắng ban ngày bộ dạng yếm thế của mình.

Những Phù thủy Thời trang Phía Sau Ngai Vua Pop

Ngoài những nhà thiết kế hàng đầu được Vua Pop tin cẩn như Balmain, Versace, Roberto Cavalli, Ngài vẫn có riêng cho mình hai chuyên viên thân tín – những vị đại thần mang trọng trách chuyển hóa ý tưởng, thông điệp và những giấc mơ của Ngài thành những thiết kế trang phục để lại dấu ấn bất hủ về sau. Hai cái tên Michael Bush và Dennis Tompkins là hai nhà thiết kế được giới thời trang kiêng nể bởi trọng trách vẻ vang lẫn những thiết kế xuất thần. Nhưng họ cũng còn được coi là hai con chiên ghẻ của thời trang giới khi cúc cung tận tụy 25 bên ngai Vua Pop, tự triệt tiêu mọi ý tưởng và cảm xúc cá nhân để thuần túy chuyển dịch ý tưởng của Vua thành những bộ trang phục biểu diễn đầy quyền năng.

Họ giấu mình phía sau ngai và vầng hào quang của Vua Pop, lẳng lặng làm công việc của mình. Nói một cách khác, họ cần mẫn chui nhủi trong kho trang phục của Ngài Ngự với hàng chục ngàn bộ mà phần lớn đều mang hơi hướm quân đội. Trong studio của họ là một tượng mannequin Michael được làm theo đúng từng li số đo cơ thể của Vua, và nhận những lời ra lệnh theo kiểu “Đây là những gì người ta đang mặc ở ngoài kia, hãy làm tốt hơn vậy!”

Và họ đã làm tốt hơn vậy!

Nhưng gánh vác trọng trách chăm sóc cho diện mạo Vua Pop không chỉ có cặp song kiếm Bush-Tompkins. Chiếc áo khoác da “Thriller” trứ danh đã góp phần đáng kể khiến cú sốt Michael thêm phần sôi nổi chính là Deborah Landis. Với yêu cầu dàn dựng của music video nổi tiếng này, với cảnh tượng những thây ma lê lết vật vờ lách qua những cỗ quan tài rệu rã, trở về từ cát bụi nhà mồ. Về sau, khi kể lại, Deborah đã tự hỏi “Cái gì sẽ khiến Michael nổi bật giữa khung cảnh bãi tha ma mà vẫn thích hợp với hòa sắc của bối cảnh đầy tử khí ấy?”. Deborah cuối cùng đã tài tình định sắc cho màu đỏ huyền thoại cho chiếc jacket da của Michael – một sắc đỏ của máu khô và những vết rỉ sét. Và bà đã làm nên cả một huyền thoại, một cơn sốt cho toàn thế giới, và một bệ phóng mới cho hình ảnh Michael.

Ngai Hoàng-hậu Hai Lần Đổi Ngôi

Vụ scandal lạm dụng tình dục trẻ em đầu tiên vào năm 1993 đã đẩy trò chơi làm Peter Pan đến mức độ nguy hiểm và ghê tởm. Nạn nhân đầu tiên là cậu Jordan Chandler 13 tuổi, nhưng những người lớn – bố mẹ người bị hại, đã chấp thuận bãi kiện với sự dàn xếp từ người đại diện của Vua Pop. Báo chí xoay chiều dư luận với nhận xét lấp lửng rằng đây quả là một vố hời cho nhà Chandler. Một năm sau, Vua Pop cưới Lisa Marie Presley – ái nữ của Vua Rock N Roll Elvis Presley. Một hôn lễ môn đăng hộ đối hoàn toàn xứng đáng cho sự lựa chọn của một vị vua. Chàng hát tặng nàng bản hit bất hủ lưu danh lẫy lừng mãi về sau như khúc tình ca duy nhất nổi bật của Vua Pop: You Are Not Alone. Cuộc hương lửa chóng vánh lụi tàn khi Hoàng Hậu Pop đem chuyện than phiền kể lể với báo giới rằng chồng nàng mỗi đêm trát mỹ phẩm lên mặt còn nhiều hơn chính nàng.

Họ li dị (không hoàn toàn bởi lí do trên) nhanh chóng sau đó. Năm 1996, Michael đặt lên ngôi hoàng hậu một người đàn bà bình thường và thô kệch: Debbie Rowe – một y tá khỏe mạnh đã cho ông hai đứa con Prince và Paris.

Bé Blanket sinh năm 2002 là đứa con thứ ba của Vua Pop mà cho đến bây giờ danh tánh người mẹ vẫn được dấu kín. Không rõ Michael xem đây là một món quà của Thượng Đế hay một vụ tai nạn, nhưng khi Blanket mới được mấy tháng, các fan hâm mộ luôn tụ tập trên vỉa hè nhìn thấy Vua với nụ cười điên dại đang cầm bé bằng hai tay và đung đưa trên không từ một balcon cao tầng ở Berlin.

Không hẳn vì sự kiện trên, nhưng cuộc đời và sự nghiệp Vua Pop trở nên điêu tàn một năm sau đó. Album Invincible được tung ra hồi 2001 thất bại thảm thương trong khi các album khác vẫn bán ngon ơ 10 triệu bản. Những lời đồn đại trở nên ồn ào hơn chính âm nhạc của ông.

Bí mật Phía Sau Cổng ‘Địa đàng Cổ tích’

Năm 2002, phóng viên truyền hình Anh Quốc Martin Bashir thuyết phục thành công Vua Pop xuất hiện trong phim tư liệu của kênh Granada TV. Cuốn phim phát sóng một năm sau đó với những bối cảnh kỳ dị bên trong những bức tường của vương quốc Neverland, với Vua Pop thừa nhận rằng ông thường đón những đứa trẻ cơ nhỡ đến và mời ngủ lại trong phòng mình.

Khán giả trên toàn thế giới kinh hoàng nhìn cảnh Vua Pop tay nắm tay với cậu Gavin Arvizo 13 tuổi mà ông kết bạn sau khi cậu bé được thông báo đã mắc bệnh ung thư. Ngay sau khi cuốn phim được tung ra, Michael Jackson bị bắt vì những hành vi “dâm đãng và vô luân” đã được thực hiện với cậu bé Gavin.

Tháng Giêng 2005, Vua Pop xuất hiện trước tòa, tiều tụy và cổ quái hơn bao giờ hết và không còn lại gì của một siêu sao “bất khả xâm phạm” như hồi vụ kiện của Jordan Chandler một thập niên trước đó. Vua Pop trèo lên nóc xe trước đám đông tụ tập trước tòa để lên tiến minh oan. Tất cả những gì người ta nhìn thấy là một con nghiện morphine và thuốc giảm đau Demerol. Ông chỉ còn là cái bóng thảm hại của chính mình

Suốt 14 tuần tiếp theo, theo lời tờ Los Angeles Times, là một tấn trò nhiều tập của “Quái đản Và Quái đản Hơn” (“Weird And The Weirder”). Các bằng chứng đồi trụy được tìm thấy bên trong tòa “lâu đài cổ tích” Neverland được đưa ra, chứng nghiện rượu – thứ nước mà ông gọi là “Nước Ép Chúa” (Jesus Juice) khi dụ dỗ bọn trẻ. Jackson cố minh chứng rằng mối quan hệ giữa ông và những đứa trẻ là hoàn toàn trong sáng. Chỉ với một ê kíp biện hộ siêu thiện chiến, Michael Jackson thoát án nhưng vết nhơ và những nghi vấn vĩnh viễn ghi dấu lên tượng đài Vua Pop.

Vết Nhơ Ấu dâm & Gã Hề Xiếc Trước Cổng Pháp đình

Hình nhân cổ quái đáng thương mang tên Jackson ấy đã chỉ sống lại dưới ánh đèn sân khấu, và được chiêu hồn bởi những tiếng hò la của đám đông cuồng mộ bên dưới. Nhưng các scandal về vụ kiện ấu dâm và những tin đồn rầm rĩ về các cuộc giải phẫu chỉnh hình liên hồi của Michael đã trở nên ồn ào hơn cả âm nhạc của ông. Người ta không còn quan tâm đến âm nhạc của ông bằng việc liệu chiếc mũi nhân tạo chông chênh trúc trắc kia khi nào sẽ rớt văng khỏi mặt rồng Vua Pop. Trong suốt thời gian hầu tòa về vụ kiện có liên quan đến hành vi lạm dụng tình dục trẻ em, đám đông hỗn loạn các fan cuồng tín, cùng rừng ống kính hầu như luôn túc trực tại cổng pháp đình, săm soi nôn nóng chờ xem hôm ấy Ngài mặc gì, và trên hết liệu mũi hay cằm của Ngài hôm ấy có chẳng may sút sổ lúc nào không.

Trung thành với nghiệp giải trí muôn dân, Vua không hề làm đám đông của ngài thất vọng với nguyên tắc không bao giờ lặp lại bộ trang phục đã một lần xuất hiện. Các phó may thượng thừa lão làng làm việc cật lực ngày đêm để cung ứng nhu cầu phô diễn cho vị vua yếm thế, bởi không mấy khi Ngài xa giá liên tù tì như vậy. Tuy thế, mỗi bộ trang phục vẫn phải được thiết kế và kiểm duyệt khắt khe về kiểu dáng và chi tiết sao cho tuyệt đối ưng ý, đặc biệt trong dịp ngài xuất hiện gần với “thần dân” của mình đến vậy, trong một dịp dễ sụp đổ hiệu ứng PR đến vậy. Người ta lại được dịp nhìn ngắm những bộ suit cầu kì tuyệt kỹ nhất, những chiếc nút đồng, những kiểu mề đay đại tướng đẹp huy hoàng thất đảm, và sau mỗi chuyển động của Ngài khiến vạt jacket chuyển dịch lại lóe lên điệu nghệ khoe lớp chất liệu xa xỉ sáng màu sặc sỡ của chiếc vest tinh xảo bên trong.

Ngay cả khi đứng trước vành móng ngựa, đối diện với tội danh nhơ nhuốc nhất của các tội danh, Vua cũng từ chối hòa lẫn vào đám đông hay tỏ ra chút gì nhu mì trước bồi thẩm đoàn. Thậm chí, một lần Ngài còn ngạo mạn xuất hiện trước thẩm phán, trên mình là bộ pajamas, phía sau là đám đông được thỏa thuê đáp ứng lòng hiếu kỳ và nhu cầu giải trí.

Sau vụ kiện ô nhục nọ, Michael đến sống tại Bahrain trong một cuộc ẩn cư chờ ngày vinh hiển tái xuất. Người ta đồn rằng Ngài đã ẩn dật tại đó để có thời gian tìm cho mình một diện mạo mới và không cho phép bất cứ điều gì xảy ra có thể khiến người ta lãng quên Ngài. Giới thời trang khắc khoải chờ đợi không kém gì các con dân của Vua Pop. Bởi họ biết, dẫu trong bất cứ bộ da và trang phục nào, Ngài sẽ không xỏ tay cùng một thứ gì của chính mình và bất kì ai khác. Và đó chính là giới hạn duy nhất về phong cách và thời trang mà ông hoàng giải trí này để lại cho nền công nghệ giải trí lẫn giới thời trang.

Ra đi cùng với “biện hộ đoàn” thiện chiến nọ, cùng những thói quen siêu vương giả khác của Vua Pop là một khoản tài sản khổng lồ tan vào mây khói.

Ông không còn bao giờ quay trở về Neverland và dọn đến sống tại Bahrain với các con một cuộc đời lưu vong tại dinh thự của Sheikh Abdullah – người đã từng chi hàng triệu Mỹ kim để thu âm các ca khúc do Sheikh viết.

Năm 2006, Neverland bị buộc đóng cửa. Từng món tài sản tư trang bị mang ra bán tống tháo trong một phiên đấu giá ô nhục. Người ta còn nói rằng ngay cả từng cánh cổng của Neverland cũng được gỡ ra đấu giá.

Những năm cuối cùng, Vua Pop 50 tuổi lại tiếp tục trượt sâu vào khánh kiệt, bệnh tật và ô nhục. Vua Pop trở thành Chúa Chổm. Ông liên tiếp ra hầu tòa bởi những vụ kiện do chính những kẻ tín cẩn trước đây đâm đơn. Sheikh kiện nợ 7 triệu Mỹ kim, nhà sản xuất John Landis – đạo diễn video Thriller hồi 1982 cũng kiện cáo vụ lằng nhằng ăn chia lợi nhuận của music video lừng danh này. Tổng cộng 45 vụ kiện tụng cùng ập đến, phần lớn là từ các chủ nợ.

Các bác sĩ báo động về tình trạng sức khỏe của ông, đòi hỏi một cuộc đại phẫu ghép phổi.

Vua hầu như không còn xuất hiện nơi công cộng, một phần vì những cuộc phẫu thuật chỉnh hình không còn cho phép ông phơi mặt ra dưới ánh sáng mặt trời nữa. Những lần ống kính đói tin của các paparazzi hiếm hoi ghi lại được hình ảnh Vua Pop, ông luôn thiểu não một cách đáng sợ trong bộ dạng khủng khiếp, khuôn mặt thường xuyên được che khuất sau lớp khẩu trang, kính mát và nón kéo sụp ngang trán.

This Is It!

Cả thế giới chờ đợi sự trở về huy hoàng của Vua trong cuộc tìm lại tình cảm của công chúng, để thanh minh và gột rửa thanh danh.

Nhưng dường như với một sự mẫn cảm kì lạ nào đó, chỉ riêng giới thời trang lại linh cảm thấy một cuộc ra đi.

Mùa tuần lễ thời trang trước khi Michael đột ngột qua đời đã diễn ra như một đại lễ tế sống Vua Pop. Các sàn diễn thời trang tràn ngập những hình ảnh quá vãng hoàng kim của Vua Pop. Nhà Balmain – thương hiệu “ruột” của Michael Jackson, đưa vào bộ sưu tập những mẫu jacket lóng lánh hạt pha lê, trong khi nhà Givenchy đính những hàng khuy vàng lên những mẫu jacket gợi nhớ những chiếc áo kiểu sĩ quan một thời đình đám. Không nằm ngoài dự cảm u buồn ấy, catwalk nhà Louis Vuitton lấp lánh những chiếc găng đính đá trắng.

Nhà Swarovski được mùa một cách vẻ vang, và cùng lúc chuẩn bị cho những bộ “chiến bào” ưu tú nhất cho màn khai pháo tour diễn tái xuất vào tháng sau tại London của Vua Pop.

Buổi diễn đầu tiên vĩnh viễn không bao giờ được bắt đầu.

Thay vào đó là bộ phim cuối cùng đi vào lịch sử cùng tên với tour diễn xúi quẩy nọ, cái tên cũng chứa đầy dự cảm: This Is It!

Vua Đã Không Chờ!

Tuy khánh tận với những món nợ khổng lồ liên tục gây áp lực, Michael không thể ngưng làm việc. Và đó là khi người ta quyết định This Is It sẽ diễn ra trong 50 ngày hoành tráng hứa hẹn sẽ lại làm nên lịch sử và khoảng từ 50 triệu đến 100 triệu Mỹ kim lợi nhuận, sẽ được diễn ra tại khán trường O.2 ở London trong vòng 2 tuần sau đó.

Thoạt tiên, Michael không muốn kéo dài hơn 10 ngày, nếu không có một vụ kiện nợ khác với con số hàng triệu Mỹ kim vừa mới kịp khởi kiện tại tòa án Hoa Kỳ. Vua Pop đành tăng số buổi diễn lên 50 để cày bừa trả nợ.

Người ta đồn rằng, với tình trạng sức khỏe và tâm lí mong manh hiện tại và áp lực 50 buổi diễn, rất có thể chất lượng biểu diễn của cựu hoàng sẽ sa sút trầm trọng, hoặc thậm chí ông sẽ sử dụng cả những kẻ thế vai trên sân khấu. Mặc lòng, hơn 800,000 vé đã được bán vèo trong vòng 5 tiếng đồng hồ. Chủ tịch AEG Live, Randy Phillips, ở tư cách người đại diện của Michael khẳng khái tuyên bố rằng Michael Jackson đang ở điều kiện thể lực khả quan ngang ngửa bất cứ ai bằng nửa tuổi mình, thậm chí ông ta hoàn toàn sẵn lòng đổi bất cứ thứ gì để có được thân hình và thể trạng của Vua Pop vào thời điểm đó (!), và việc dời ngày diễn lại đôi ngày hoàn toàn không liên quan gì đến điều kiện sức khỏe của Michael Jackson cả.

Có tin rằng This Is It sẽ được triển khai thành tour lưu diễn thế giới và xuyên Mỹ trong vòng 3 năm.

Người ta chờ đợi Michael trong cuộc tái xuất tráng lệ huy hoàng, dành lại ngai vàng Vua Pop.

Đêm cuối cùng trong đời, sau buổi tập, Ngài còn hồ hởi hỏi “Tất cả đã sẵn sàng cho London chưa? Bao giờ đi? Tôi chờ hết nổi rồi!”

Đêm đó, Ngài thật sự đã không chờ được.

Nếu đã có một lúc nào đó trong suốt cuộc đời và sự nghiệp, Michael tỏ ra siêu nhiên nhất, chính là lúc ông chết trong hình hài một người đàn ông vỡ nát và bất tử.

Đứa nhỏ nhà Jackson cuối cùng cũng đã nhắm mắt cuộc thanh bình.

Có lần ông đã nói “Nếu bạn đặt chân vào cuộc đời này biết rằng mình được yêu và giữ nguyên hiểu biết đó đến ngày cuối đời, thì tất cả những gì xảy ra ở đoạn giữa đều có thể giải quyết”

Ở cái “khoảng thời gian ở giữa” đó của mình, Michael đã phải giải quyết nhiều hơn bất cứ ai.

Nghiệp Mệnh & Nước Mắt Từ Ngai Vàng

Bản chất của nghệ thuật giải trí vẫn là Sáng Tạo – điều dẫn dắt theo yếu tố của kịch tính và biến cố. Jackson đã rõ ràng sinh ra với một định mệnh dư thừa tính kịch một cách thật thà và ồn ào nhất. Những khuất tất phía sau ngai Vua Pop lại chính là những gì làm nên quyền năng huyền thoại của Ngài, sặc mùi bi kịch lãng mạn. Hẳn nhiên, nghĩa “lãng mạn” ở đây không nên hiểu theo cách dùng từ của âm nhạc dòng quê hương và thiệp mừng Valentine.

Chính phái Lãng mạn là trường phái vong thân nặng nghiệp của những cá thể dị biệt được Thượng Đế ấn đặt vào tay món quà sáng tạo như một dấu ấn định mệnh của kẻ đảo ngược trật tự. Hay chí ít là tự phong một cách kiên định.

Michael cho rằng nghiệp mệnh của đời mình là làm thiên sứ giao hòa mọi ranh giới chủng tộc, giới tính, thế hệ cho đến tín ngưỡng. Ông xoáy vặn những thái cực đối lập ấy, xoáy vặn chính tâm hồn, hình dạng và âm nhạc của chính mình để kết thúc bằng một diện mạo hoàn chỉnh: đớn đau, vẹo vọ, và là Tất Cả.

Ngôn ngữ thông điệp của ông không chỉ là nhạc Pop – thứ ngôn ngữ đại chúng, mà còn là hình ảnh, là trang phục, vũ đạo và cả cuộc đời bị lậm vào đấy, say sưa tự hoại như trong cuộc tế thần thiêng liêng với tiếng hò la dậy sóng của những tín đồ cuồng nhiệt trên khắp thế giới, được úy lạo nhiệt tình bởi các bảng xếp hạng và những cú hit lợi nhuận album gây choáng váng.

Nhưng định nghiệp mê cuồng ấy đã được vận vào một số phận có thật, một vóc hài con người đầy hạn chế và quá đỗi mẫn cảm. Ông, theo khoa học và các bác sĩ, hoàn toàn không phải là một thiên sứ hay siêu anh hùng, nhưng cưu mang bên trong một tài hoa kiệt xuất và mọi ưu luân của số phần. Jackson, cuối cùng, là một sinh linh ôm chân xuýt xoa sau một ngày, một đời đạp đổ những barrier của giới tính, chủng tộc hay tuổi tác. Rồi thời gian biến tất cả thành bụi, cả những sinh linh nổi tiếng hát hay hay những sinh linh phi giới tính.

Ông đã là một con người kiệt xuất và kiệt sức. Từ ngai vàng đế chế Vua Pop, ông vươn đến tham vọng của một hình tượng siêu nhiên. Hôm nay Ngài là Diana Ross, hôm sau Ngài đã biến hình thành Peter Pan. Mỗi note cao thót tim, mỗi bước nhảy chao nghiêng cả trục trái đất, và mỗi bộ trang phục ông chọn khoác trên mình cũng đều dùng để phục vụ hình ảnh đầy tham vọng ngây ngô và lãng mạn này. Ngài truyền bá cho khán trường bên dưới một thông điệp hướng thượng cực đoan về quyền năng của tín ngưỡng Michael “Và cả các bạn nữa, những sinh linh của Mẹ Trái Đất, cũng tự do và đầy quyền năng để trở thành bất cứ thứ gì bạn muốn!”

Người ta chỉ bị giới hạn bởi giới hạn của những ước mơ.

Và một nghệ sĩ giải trí làm cho bạn có thể tin vào điều đó, cảm nhận được phép màu đó, dẫu chỉ trong một tích tắc, ngàn năm tinh hoa trời đất chỉ sản sinh ra một.

Và Michael đã được chọn.

 

 

 

Đàm Vĩnh Hưng – Người ta gọi Ngài là Vua

Jasmine nOir

Có bao giờ bạn hò hẹn với một nhân vật mặc áo màu hồng cánh sen, tóc nhuộm nửa đen nửa vàng, và cảm thấy đây là người giàu đàn ông tính nhất mà mình từng gặp?

Có bao giờ bạn hò hẹn với một sinh vật thượng đẳng có bản năng bầy đàn mạnh mẽ như một con sư tử và chải chuốt hơn một con công?

Có bao giờ bạn hò hẹn với một người đàn ông có khả năng tán tỉnh và chiều chuộng cùng lúc hàng chục phụ nữ tại cùng một địa điểm, và khiến cho tất cả bọn họ hạnh phúc thỏa thuê suốt hàng tiếng đồng hồ?

Có bao giờ bạn đã hò hẹn với một ông vua, dẫu là một vị vua be bé của một nền công nghệ con con?

Người ta gọi Ngài là Vua, và Ngài hành xử như một vị con giời chính hiệu.

Người ta phàn nàn Ngài trùm mền lên sân khấu, Ngài bảo rằng bọn ngu mới không nhìn ra cái đẹp cái sang của bộ quần áo mới.

“Ngài” là một hỗn hợp tài tình giữa vẻ cải-lương-Mỹ của Elvis Presley, vẻ lấc cấc ngổ ngáo thiên tử hoang đàng của Frank Sinatra, dư thừa chiêu chước chỉ thua Nữ Hoàng Làm Quá Lady Gaga và đồng bóng không kém một Sir Elton John kiểu cách. Ngài cai trị một đế chế âm nhạc riêng tây mà ngay cả các siêu sao trên kia đều không thể chạm tới được. Đế chế ấy, như thành phố Venice trên sông, được xây dựng trên một bể nước mắt – những giọt nước mắt đàn bà.

Và bạn – nữ độc giả may mắn của f. lại sắp sửa hò hẹn với Ngài.

Và đến lúc này, bạn đã thừa biết “Ngài” là ai.

Riêng việc hình dung việc hò hẹn với tay dị nhân showbiz bóng bẩy cũng rất có thể đã làm bạn hết hồn hoặc phì cười.

Ấy là vì có lẽ trong những lời đồn, không có một ai nói với bạn rằng bạn đang dọn mình hò hẹn cùng kẻ giàu đàn ông tính hơn bất cứ nhân vật nào bạn có thể va phải trên chặng đường dài những hò hẹn miên man với showbiz Việt.

Thật đấy!

“Ngài ngự” khó chơi

Đã rất khó để một người đàn bà bất kì có một cuộc hò hẹn với Ngài, huống chi đó là một phóng viên và không thuộc hệ thần dân của Ngài. Dating diva thân mến, chớ vội nản lòng bởi vị quân vương ngụp lặn trong sự ưu ái của đám đông ngập ngụa, hãy cho Ngài một chút gia vị đúng gout “Này nhé, 15 năm sự nghiệp rỡ ràng và em không cho rằng anh đã có một bài viết xứng tầm khẩu khí, và em cho rằng mình là người phù hợp. Mong anh không bỏ qua cơ hội này!”

Và điều đó đã phát huy hiệu quả, “đức Ngài” nhận lời gặp mặt.

Hẳn nhiên, bạn sẽ không ngạc nhiên nếu Vua không muốn vi hành đến một điểm hẹn nào đó dù nhất bậc xa xỉ đất Sài thành đi chăng nữa. Bạn được vời đến tòa vương phủ với địa chỉ dễ gây lúng túng.

Chớ lo, bạn sẽ không thể lạc đường được. Hãy để mặc trực giác dẫn bạn đến ngôi biệt thự sặc mùi Ngài Đàm, với những bước tường kiên cố bằng đá tối mù, đôi cổng nặng nề, và con  chó pug mặt ngầu đang tru tréo méo giật nghênh tiếp.

Không cần phải nhìn thấy vị “hoàng thân” họ Dương mí lót đang ngồi hể hả đánh bài trong phòng bảo vệ, bạn biết bạn đang tiến vào tổng hành dinh của Ngài Đàm.

“Em có 30 phút. Và nếu em thú vị thì biết đâu đấy, có thể lâu hơn vô chừng!”

Và bạn biết, dating diva bất bại của tôi, bạn có thể an lòng với câu chuyện chóng vánh 30 phút chạm mặt rồng và an toàn rút lui trong danh dự.

Hay bạn sẽ rút găng tay ra, như một hiệp sĩ trung cổ chính hiệu và ngạo nghễ nghênh tiếp lời thách thức kiêu bạc của vị vương tử ngông cuồng.

Chàng “phó cạo” và bánh xe Định Mệnh

“Ngài”, hẳn nhiên, không phải con của trời mà xưng đế. Tiểu sử xuất thân của Ngài cách đây 15 năm đã không còn là sự lạ, với bước ngoặt tài tình của anh thợ làm tóc giàu tham vọng để thẳng tiến đến ngai vua Pop, nhưng không bao giờ là thừa đối với ngài thượng đỉnh chí tôn để đắm đuối ca câu “thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời…” đi ngược dòng quá khứ thuở cờ lau

“Không, tôi chưa bao giờ nghĩ đến ngày hôm nay sẽ như vậy cả. Khi ấy, bà tôi đưa ra một yêu cầu hãy suy nghĩ và chọn lấy một cái nghề.

Thế là tôi suy nghĩ.

Thế này nhé, quần áo thì dư giả lắm mỗi tháng may một bộ đồ, chớ tóc thì khi nào chả cần được cắt. Ấy là chưa kể một tỉ thứ lung tung khác cần được làm với tóc.

Thế là tôi chọn nghề làm tóc.

Thật ra nếu lúc ấy tôi chọn làm anh bán gạo cũng được, bởi tóc dẫu mọc ra hàng ngày nhưng những người đầu trọc sẽ vẫn phải ăn cơm.

Dẫu cho đến tận lúc này tôi vẫn không dám huênh hoang với em là tôi hát hay, nhưng tôi hoàn toàn tự tin rằng nếu em để tôi chạm đến mái tóc của em, em sẽ không bao giờ có thể bỏ tôi mà đến với bất kì tay thợ nào khác.

Là một tay thợ làm tóc, anh là tất cả: một chuyên viên thẩm mỹ, bác sĩ tâm lý, một nghệ sĩ giải trí và một thiên sứ với chức năng xoa dịu mọi vết thương lòng cho đến những mái tóc bị cắt hỏng. Anh phải đứng phía sau họ, mơn trớn từng lọn tóc, cho họ lờ mờ cái cảm giác ấm áp của hơi ấm người đàn ông từ phía sau, hầu chuyện tâm tình của các bà, và cùng lúc túm tóc giật tai họ với nhì nhoằng một tỉ thứ dụng cụ với la liệt các chai bình hóa chất nửa như tay thợ sửa đồng hồ, nửa như một bác sĩ trong cuộc đại phẫu vi diệu.

Ca hát khi ấy chỉ là điều tôi có thể làm cho chính mình một khi đã chọn một cái nghề khác vì gia đình.

Vả lại, làm sao mà dám nghĩ mình sẽ sống được với giọng ca chứ, khi mà người ta ai cũng phụ thêm cho tôi lòng ngờ vực về sự nghiệp ca hát của mình.

Giọng tôi nó không phải thứ trong trẻo lanh lảnh như những người bạn đồng lứa, nó mờ đục và đuối hơi. Mũi khoằm mặt ác cũng chả hứa hẹn gì việc dễ dàng được công chúng trẻ yêu mến. Nhưng điều tôi tự tin rằng mình có hơn không ít đồng nghiệp đồng lứa, đó là khả năng tự lắng nghe mình, và tỉnh táo tìm cho mình những gì có thể làm để che đậy, lấp liếm, nếu không nói là khắc phục sở đoản.

Tin tôi đi, 95% giọng hát các bạn đang nghe đều tự cho rằng mình hát hay, kể cả các thí sinh của các cuộc thi. Tôi nằm trong 5% còn lại.

Tất cả chúng ta khi sinh ra đều được đặt vào tay một cái bánh lái khắc chữ Định Mệnh. Có kẻ trân trọng nhận lấy rồi lênh đênh cứ thế mà trôi đến cuối mạng. Những kẻ khác, không nhiều, đưa tay nắm chặt lấy cái bánh lái nọ và…bẻ ngoặt tứ tung.

Không, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ thộp lấy bánh lái số phận mình mà bẻ lái một cú quá mạng thế này. Mọi sự đã đến, việc duy nhất mà tôi có thể làm với những cơ hội là đưa tay đón nhận một cách hết mình nhất.

Nhiều hơn một cách để chiều chuộng những người đàn bà

Vậy mà Ngài đã gác kéo buông lược và bỏ lại sau lưng những người đàn bà có mái tóc không được chăm sóc.

Có bao nhiêu cách để chiều chuộng một người đàn bà ngoài việc tạo cho nàng một kiểu tóc đẹp, hả em? Tôi đã chỉ từ bỏ nghề làm tóc một khi sân khấu ca nhạc đã có thể bảo đảm cho tôi một sự nghiệp vững vàng, và điều đó đã không chỉ xảy ra qua đêm.

Tôi đã nuôi đam mê một cách lãng mạn, điên khùng và xả thân nhất. Đã có những tháng ngày khủng khiếp của cuộc sống, khi mà chủ nợ đến đứng trước tiệm, làm xong cho khách, vừa nhận tiền chưa cầm nóng tay là đã bị lấy mất. Thế mà tôi vẫn bỏ tiệm lại cho thợ vào đúng mỗi 5 giờ chiều, trong đầu chưa mảy may suy nghĩ mình sẽ một ngày nổi tiếng. Tất cả những gì tôi có thể làm khi ấy là thỏa mãn cơn thèm hát của bản thân.

Nhìn lại thời đấy mới thấy mình…nặng nghiệp. Không có phòng thu, tôi nhờ đứa bạn leo lên ghế đứng, thả tòn teng chiếc mic karaoke xuống trước mặt, còn mình thì chụp headphone lên đầu, vờ như nghêu ngao hát để chụp hình lại. Rồi cũng len lén đi in danh thiếp, dưới tên ghi dòng chữ “Singer”, là sướng rồi!

Rồi tôi đi hát. Chẳng có gì là to tát, chiều chiều sửa soạn chuẩn bị rồi đến sân khấu và chờ. Tôi hát ở bất cứ đâu, sân khấu ngoài trời, tụ điểm, lễ lạc cưới hỏi, v.v… Tối về thấp thỏm nhét dưới nệm giường, dăm ba chục hay vài trăm, cứ cuối tuần lôi ra đếm lại, được tuần nào gom hết phong bì mà được 500 ngàn là mừng húm.

Thế rồi cũng có được cho mình đĩa nhạc đầu tiên, dưới sự đỡ đầu hào sảng của danh hài Hoài Linh – người luôn đóng vai trò một nguồn tác động lớn đến sự thành danh của một Ngài Đàm. Khi mà đĩa nhạc đang rất thành công ở hải ngoại thì các hãng phát hành trong nước vẫn rất dửng dưng với tay ca sĩ ham hố nhưng vô danh. “Ngài” đã phải gõ cửa khắp nơi, thậm chí nghĩ ra trò gửi kèm…phiếu làm tóc miễn phí trong hộp đĩa. Nhưng khi đó, oái oăm thay, chính sự thành công của đĩa đầu tay tại hải ngoại mới thật sự giúp cái tên Đàm Vĩnh Hưng được ghi nhận dễ dàng hơn bất cứ phiếu cắt tóc miễn phí nào của anh thợ cạo vĩ cuồng.

Rồi những phong bì dưới nệm giường bắt đầu nhiều hơn và dầy hơn, rồi đêm ra mắt đĩa nhạc đầu tay đã rất đông ở những phòng trà mà trước đây một “Hưng nào đó” đã từng mơ ước được đặt chân vào… Và người ta có một Ngài Đàm cổ quái, bạo ngược và tột bậc phong lưu.

Bao nhiêu năm đã qua? 15 năm có lẻ. Cú bẻ bánh lái Định Mệnh ngoạn mục đã đưa Ngài đi rất, rất xa…

Không dành cho trẻ em dưới 30 tuổi

15 năm có lẻ đã qua cho Ngài Đàm, còn bạn, f.dater kiêu hãnh ạ, nếu bạn khẽ kín đáo liếc xem giờ với ít nhiều đắc thắng bởi kim đồng hồ lúc này đã vượt khá xa quỹ thời gian kiêu kì ki bo mà Ngài dự định dành cho bạn. Và bạn biết đây mới là lúc bạn ra tay cầm lái và câu chuyện thật sự được bắt đầu với “Ngài ngự”.

Vậy đó, “đức ngài” ranh mãnh đã bắt đầu sự nghiệp hò vè của mình với đám đông khán giả mẫn cảm nhất: khán giả trẻ. Họ sung sức, dễ bị kích động và giỏi hò la gây một đám náo động chẳng cần vì lí do gì. Vào thời đó, những năm đầu 2000 của Bình Minh Sẽ Mang Em Ra Đi, Say Tình,…

Nhưng trong sự bất ngờ của ngành giải trí đang sắp trở thành một vườn mẫu giáo với độ “trẻ hóa” đáng ngại của sao cũng như khán giả, Đàm đột ngột rời bỏ thị phần nhạc trẻ ngay khi đang ngời ngời lừng lẫy nhất. Ngài cầm lên chiếc mic nạm đá óng ánh và hát nhạc đỏ lẫn vàng.

Và, trong sự ngỡ ngàng tiếp nối của giới showbiz bởi một nước cờ…kì cục, một khối lượng khán giả hùng hậu khác trỗi dậy trong tiếng hò la hâm mộ, hết thảy họ là những nữ đại gia, những phụ nữ nhất bậc trong doanh giới, những quý bà quý cô của những nhan sắc nồng hương mãn khai.

Những đêm phòng trà cháy vé chật nghẹt người, và những đại nhạc hội xa xỉ cầu kì làm nên huyền thoại showbiz Việt.

Chưa một ai dám làm thế.

Chưa một ai dám quay lưng lại với khán giả teen.

Chưa một ai dám liều mạng đặt mình vào một khán phòng toàn phụ nữ, và, tệ hơn nữa, phụ nữ trung và cao niên. Đó không hẳn là những người đàn bà biết rõ mình muốn gì, nhưng tất cả bọn họ đều biết chính xác thứ họ không cần và không ngại ngần tẩy chay một “vì sao lạc”. Đó là những người đàn bà không Có nhiều thời gian, hay không Còn nhiều thời gian để phung phí vào một đêm tình ca nhạt nhẽo.

Sức mạnh nào cho phép Vĩnh Hưng không ngủ quên trong lòng bọn trẻ? Vị quân sư nào đứng phía sau nước cờ ngoạn mục ấy? Và bằng cách nào, sau khi Ngài mở đường lập quốc xưng vương, đã không hề có lấy một ngôi sao nào khác dám đặt chân vào vạch đường chinh phạt tưởng như rất đơn giản đã được dọn sẵn, hướng đến một đối tượng công chúng hẳn nhiên là mầu mỡ phồn thực hơn rất nhiều?

“15 năm sự nghiệp và chưa một phóng viên nào bóc bài của tôi như vậy nên ắt phải tỏ lòng cảm mến với kẻ đã nhìn được một nước cờ đã cũ nhưng vẫn còn hiệu quả đến giờ.

Vậy là ta quay trở lại từ đầu ván cờ với trò bày binh bố trận tưởng tượng. Khi ấy, tôi đã từng là ca sĩ hát lót cho các ngôi sao “babyface”, đó là khi tôi quan sát và hiểu về khán giả trẻ.

Họ nhạy cảm, dễ chiều nhưng mau quên.

Họ khỏe phổi nên hét to, nhưng hầu như chẳng bao giờ mua vé hay đĩa gốc.

Họ hồ hởi lắm trò, được trang bị dư dả băng rôn biểu ngữ kèn loa hoa gấu, nhưng họ còn có cả internet và máy nghe nhạc mp3 để download nhạc.

Bọn trẻ béo phì vì chứng bội thực “nghệ thuật”, còn tôi thì lại không có lấy cho mình một khuôn mặt “baby” và thích nhận cát-sê trong hậu đài hơn là gấu bông trên sân khấu.

Còn công chúng của nhạc vàng, chớ vội nghĩ họ chỉ toàn là những bác tài ngoài quốc lộ giải trí với radio, hay những chị tiểu thương khóc với phim truyền hình và nghe đĩa lậu. Đó còn là những quý ông gọi rượu đầy bàn hào sảng, là những quý bà quý cô giỏi xông hương khán phòng bằng mùi dầu thơm chánh hãng. Tôi không tin vào thứ nghệ thuật bị rẻ rúng và cho không, và khán giả của tôi cũng vậy.

Tôi đã chọn cho mình thị trường những nỗi buồn và hồi ức các kiểu.

Niềm vui chóng vánh và thưa như tấm áo mới, trong khi nỗi buồn mọc dài và dày vò như tóc.

Nỗi buồn ở lại lâu hơn niềm vui, em ạ. Nó gây trầy xước và ám ảnh.”

Phiên chợ của những người đàn bà khóc và những bản tình ca của các đại ca.

Và không là sự lạ, khi các city-diva vồ vập đến với những đêm của Ngài Đàm như mỗi khi buồn, họ tìm đến tiệm làm đầu, tìm cái cảm giác nỗi buồn được mân mê lâm râm.

“Người ta vẫn cho rằng thị trường giải trí là một cái chợ dân chủ, trăm bán vạn mua, và quyền lựa chọn định đoạt nằm trong tay công chúng – những Thượng Đế. Còn tôi, tôi tự dành lấy cho mình cái quyền chọn lựa ấy, tôi là một trong trăm người bán, chọn lấy cho mình những tri kỷ tâm đắc trong cả vạn người mua.

Và tôi tin rằng chỉ những nghệ sĩ tự đặt mình được vào vị trí dẫn trào lưu mới làm được điều đó. Hoặc một thằng liều. Tôi luôn cám ơn trời đất cho mình sự tỉnh táo để nhận chân khả năng bản thân và hướng mình vào nơi thích hợp, nơi có thể khoan khoái chạm đến tim người, những cái động chạm vuốt ve mà cảm xúc tưởng thưởng của chính mình cũng lớn lao không kém gì người nhận.

Đấy, em nghĩ xem, trong 100 người đàn bà, có hết 99 người đã từng buồn vào một chiều từ rất nhiều năm về trước vì nỗi ngồi chờ người yêu mà cuối cùng thì chàng cũng không đến. Rồi mọi thứ xảy ra, cuộc sống xảy ra, đến cùng tuổi tác. Rồi họ đến gặp tôi, cất lên một câu “Ra phố hôm nay thấy buồn lên mắt…” để trong tích tắc đánh bại cả hàng thập niên tuổi tác bể dâu, để dìu tâm hồn người đàn bà về đúng nơi nàng đã từng đẹp nhất. Đôi khi em biết không, người ta có thể nghe được cả tiếng thở dài vang lên từ dưới khán phòng.

Và đâu chỉ có họ, còn những người đàn ông, các đại gia, những tay giang hồ khét tiếng dữ dằn đất cảng, giành cho những xốn xang đằng sau bặm trợn nanh nhe vuốt duỗi của các đại ca ấy thì có nào là Giã Từ, nào là Cho Vừa Lòng Em, rồi Xin Lỗi Tình Yêu, v.v… để thấy họ lặng thinh ngồi nhâm nhi thưởng thức, tôi đã nói rồi đấy, giữa kẻ nhận người cho, mấy ai biết ai phỉ mãn hơn.

Và, đương nhiên, còn cả một nhạc mục vui vui cho bọn trẻ – những thính giả vẫn kiên cường với tôi, mà tôi thì không hề bỏ bê bọn trẻ ấy. Họ vẫn được chiều chuộng với những bản phối dance, remix đúng màu nhạc vũ trường trên nền những ca khúc kiểu Đành Thôi Người Ơi.”

Không chỉ chiều chuộng khán giả của mình, Ngài chiều chuộng luôn cả giới truyền thông bằng những vụ nổ scandal to nhỏ luôn vây quanh nơi nào Ngài đặt chân đến.

Báo giới thận trọng với Ngài, hẳn nhiên. Chả ai có thể đoán được những thông tin về tài sản của Ngài, vụ án viên kim cương, hay ti tỉ những câu chuyện vẫn đều đặn vây bủa xung quanh cái tên ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, liệu Ngài là nạn nhân hay tác giả.

Ngài Đàm: Dở thật đấy, tôi chưa bao giờ là tác giả của scandal về chính mình cả.

f.: Này, anh không cần tỏ ra thận trọng và nhàm chán với em đâu.

Ngài Đàm: Tôi nói thật, không phải vì thận trọng, mà vì chưa tới lúc tôi phải cần đến các scandal để tiếp tục nổi tiếng.

f.: Vậy anh đang định nói rằng anh là thỏi nam châm thu hút những scandal đến nỗi không ít người tin rằng anh nổi tiếng vì gặp rắc rối.

Ngài Đàm: Ngược lại cũng được chứ, sao không nghĩ rằng tôi gặp rắc rối vì quá nổi tiếng?

Khoái cảm quyền lực và ông hoàng thiếu thốn

Vậy đấy, trong đế quốc của đức Ngài, Ngài vuốt ve nỗi lòng các cô các mợ, Ngài phục vụ chu đáo các đại ca cỡ bự, và Ngài tiêu khiển luôn cho hội trẻ quái tính, vậy có bao giờ Ngài Đàm hát để ve vuốt chính mình?
”Đó là những khi tôi hát quá thời lượng chương trình, tức là thường thì sau bài thứ 15 trong đêm.”

“Tôi là thế, thừa biết cách tự chiều chuộng dung túng nghệ sĩ tính của mình. 15 bài chẳng hạn, đúng thỏa thuận, nhận cát-sê chừng ấy, chưa đã cổ họng mà bước khỏi sân khấu là đồ vứt đi. Không vừa lòng ban nhạc mà dằn giỗi giật trợn, cũng là đồ vứt đi. Hát cho mình là hát khi chỉ còn loe ngoe vài ba khán giả vẫn chơi hết mình, hát cho mình là khi chỉ còn một cây guitar trên sân khấu mà vẫn không ngại cất giọng, theo tôi, nghệ sĩ tính là vậy: chịu chơi và chơi…chết bỏ! Và chính những khi đó là tôi hát vì mình một cách thuần túy nhất, khi sự sòng phẳng với hợp đồng, và việc phụng sự với khán giả đã trọn vẹn, phần còn lại sẽ là cuộc chơi bung trần của riêng tôi, mà thường thì đây mới chính là phần mà khán giả ‘thăng’ cùng tôi nhất.”

Ngài yêu họ vì họ yêu Ngài, vì họ nuôi sống và tác tạo nên cả một vương phủ đề huề? Hay trong sự chiều chuộng những người phụ nữ trong khán phòng của mình, Ngài đang tự vân vê lấy khoái cảm của quyền lực, thứ quyền lực điều khiển và tiêu khiển với cảm xúc và hoài niệm?

“Không biết từ bao lâu, tôi biết mình là người thiếu và thèm tình thương. Tôi không có may mắn được đắm mình trong những vuốt ve của cha mẹ. Hai em gái nhỏ của tôi đã chết lâu rồi, tôi về ở với ông bà ngoại và làm quen đến thản nhiên với những lời hà khắc lẫn đòn roi rơi xuống đầu mỗi ngày, đó là tất cả những gì tôi biết về hai tiếng gia đình. Về sau này, khi biết được có ai đó yêu mến mình, trời ơi, tôi sẽ phải gặp cho bằng được, tôi sẽ níu giữ cho bằng chắc những gì hiếm hoi có được. Nếu nghe có ai đó thần tượng mình, tôi sẽ liên lạc, cố chạm đến họ cho kỳ được mới nghe, cái cách mà tôi ‘chạm’ đến từng người trong khán phòng trước mặt tôi, một cách tha thiết nhất.”

Một đứa nhỏ bán vé số, một bác xe ôm giữa khuya nghêu ngao hát một bản của Đàm Vĩnh Hưng cũng khiến tôi lâng lâng như nít nhỏ được xoa đầu.

Ai mà chẳng cần biết mình được yêu quý hả em? Nó như một cơn nghiện càng nhiều càng chưa bao giờ là đủ. Càng vồ vập ngập tràn càng khát và trăn trở bất an.

Khán giả đâu chỉ là những kẻ trả lương hậu hĩ. Họ chịu đến với Hưng, ngồi xuống lắng nghe Hưng, và để mặc cho Hưng kể những câu chuyện về những vết trầy xước của chính họ trong tim. Tôi cần điều đó vô cùng. Và tôi biết họ cũng vậy, không kém gì tôi.

Và đứa nhỏ thèm được yêu thương ngày xưa, hiểu quá rõ cảm giác của những người đàn bà trong khán phòng của mình, khát khao nhoi nắm lấy một sợi dây dẫu mảnh mai nhất nối đến vì sao đang ca hát nhảy múa hào hoa trên vùng sáng sân khấu. Và Ngài Đàm sẽ không bao giờ quay lưng lại với những khao khát đó, từng người một, và tất cả họ, tài tình như hoàng đế vi hành cưỡi dê, gieo rắc hạnh phúc hân hoan trong khắp cõi hậu cung hùng hậu của Ngài.

Nhận và cho, bất kể, những gì là tình yêu hoặc thuộc tính của tình yêu nếu đã không may mắn được nhận, sẽ thăng hoa bù đắp khi cho. Và hơn ai hết, kẻ thiếu đói sẽ hiểu thấu đáo nhất của nghệ thuật hào phóng cho đi.

– Khán giả cho tôi tất cả mọi thứ. Họ trả lương tôi và họ yêu tôi.

– Nhưng họ là những kẻ vô cùng thất thường.

– Thì tôi cũng có bình thường đâu.

Nuốt, Nhổ, và Xảo thuật Chính trị

Mỗi một ngày, thần dân trong đế quốc của Ngài được chào mời bởi hàng loạt những khuôn mặt ngôi sao mới từ bên ngoài. Họ trẻ đẹp hơn, lắm trò hơn, và được hậu thuẫn hùng hậu bởi những ê-kíp thiện chiến sặc mùi công nghệ hơn Ngài Đàm ngày xưa rất nhiều.

Công chúng, họ no nê vô tâm trong những chào mời bất tận và hầu như bị ru ngủ vào trạng thái thụ động hoàn toàn. Những bộ phim hạng bét ngô nghê vẫn chật rạp, những giọng ca đuối hơi và phong cách kim sa giấy bạc vẫn có fanclub, và công chúng dưới khán phòng hả hê mở miệng đón nhận bất cứ thứ gì được chào mời vào mặt…

“Đúng, nhưng họ không tê liệt hoàn toàn, vì họ biết nhổ trả lại những thứ không thể nuốt trôi. Em tin tôi đi!

Em tưởng đế quốc của tôi được bảo vệ bằng một cái âu thủy tinh ma thuật khổng lồ hay sao vậy? Hay tay nông dân đang ăn nên làm ra trên thửa ruộng của mình không bị vài anh địa chủ rình mò thâu tóm? Em nghĩ tôi có thứ thành quách nào mà không kẻ tham vọng nào nghĩ đến chuyện chinh phục? Thậm chí đôi khi tôi còn hồi hộp mong chờ một kẻ hậu sinh đáng mặt khả úy đến làm một trận lật đổ coi chơi.

Nhưng khán giả của tôi, những người đàn bà trong khán phòng của tôi, họ hồn nhiên và dễ dãi, nhưng không dễ chinh phục, và, vâng, họ sẽ nhổ trả những gì không hợp khẩu vị. Họ – những khán giả của tôi, đã không còn là những bộ nhai ngoài kia nữa, họ được bảo bọc trong đế chế vàng. Họ cần tất cả những gì tôi đã làm và tốt hơn thế.”

Tôi loáng thoáng nghĩ đến chính sách ngu dân bằng rượu và thuốc phiện, và niềm thú đau thương của ảo giác, tôi nghĩ đến những khuôn mặt lâng lâng hạnh phúc bước ra khỏi phòng trà những đêm của Ngài Đàm…

“Tại sao không, nếu xảo thuật chính trị được áp dụng một cách khôn ngoan và lành mạnh trong công nghệ giải trí và làm cho người ta hạnh phúc hơn vào cuối ngày, và bốc người ta ra khỏi thứ thực tế khó nhai trong vòng vài ba tiếng, để hồ hởi hạnh phúc chờ đợi album tiếp theo?

Nhưng ngu dân hay mị dân đi chăng nữa, cũng là một môn nghệ thuật thượng đẳng. Nó khiến người ta phải miệt mài sáng tạo và đặt mình ở thế thăng bằng trên một sợi dây mấp mé bờ vực thất sủng. Nó bắt người ta phải đa mưu túc trí. Nó đòi hỏi được vận động và làm mới liên tục để chiều chuộng thấu đáo cả một thị phần công chúng rộng lớn, nơi từng khán giả một là mỗi vũ trụ riêng biệt và siêu phức tạp.

Một đồng nghiệp trẻ nào đó sẽ không thể đảo chính đế chế Ngài Đàm chỉ bằng cách làm như chính tôi đã làm vì khi ấy, đứa trẻ tội nghiệp ấy đã kịp lỗi thời và chỉ đơn thuần ngô nghê nhại lại những mảng miếng cũ xưa.

Còn làm khác Đàm và hay hơn Đàm? Tôi vẫn đang chờ đợi đây, cả công chúng của tôi cũng vậy.”

Từ ngày đó đến nay, người ta nghe loáng thoáng ở đâu đó kiểu rung ngân bẻ giọng, lối gào bốc lên tận vòm họng của Ngài Đàm, thậm chí là từ những đồng nghiệp được đào tạo bài bản hơn Ngài rất nhiều. Và từ đó đến nay, người ta vẫn thấy thi thoảng các ca sĩ lại đeo lên mình những cặp cánh lông vũ mà chính Ngài khi lần đầu làm đã nhắc nhớ đến những show diễn gây ngứa ngáy nhãn cầu của Victoria’s Angels, hay sau những poster Ngài oai phong lẫm liệt trong military style đã khiến sân khấu ca nhạc rầm rộ xuất hiện cả quân đoàn các tướng tá cho đến binh nhì, trong khi chính Ngài lại nhắc nhớ mang máng đến dáng dấp Đại đế Pop nhà Jackson và hình ảnh người hùng mũ đỏ quá vãng… Ngài là một “trend follower”, mang vào mình những bộ cánh lớn, nhưng chưa bao giờ có ai lấy được những điều đó từ Ngài, và chưa từng có một cuộc lật đổ, dù chỉ là manh nha.

Đó chính là vì sao hàng năm vào ngày Halloween người ta vẫn ào ào giả dạng Lady Gaga, nhưng thế giới chỉ có được một Lady Gaga không bao giờ nhạt trò. Sự khác biệt duy nhất: Lady Gaga dù cũng khoác vào bộ cánh của đàn chị Maonna, và nếu có phải khoác lên cặp corset Jean Paul Gaultier, thì ít ra cặp corset mà Gaga mặc còn biết…bắn pháo hoa tung tóe. Và sẽ phải có một quái nhân khả úy như vậy để truất ngôi Đàm.

“Họ bước vào lãnh địa của tôi, và nếu không có một sức sáng tạo phù thủy, họ sẽ làm gì ở đó? Vàng, đỏ, sến, bốc, hay thậm chí khùng điên quái tính,… tất cả đều đã được “Đàm hóa”. Mảnh đất này đã được thâm canh triệt để. Đế chế đã được thiết lập, thần dân ngoan ngoãn và phủ phê và họ có một vị đại tướng quân như thế. Một lần nữa, nếu có một ngôi sao nào khác muốn ‘công thành’, tôi muốn hỏi để làm gì? Họ sẽ làm được những gì để khác tôi và tốt hơn tôi đã từng làm?”

Tôi nhớ mãi bàn tay của Ngài, những ngón tay khum khum như những cái vuốt bằng thép trùm xuống như một thứ thành trì vững chắc. Tảng băng đã thật sự được phá. Ngài say sưa hể hả, Ngài như nhập đồng, nhưng ánh mắt sáng quắc vẻ tinh anh của một đại tướng quân thật sự, và nụ cười khoái trá lạnh ngắt của một phù thủy đa mưu.

Tượng đài Vĩ nhân Hay Huyền thoại Quái nhân?

Hẳn nhiên, Ngài không chỉ “lao động” để vinh danh hậu vận. Có người cho rằng Ngài đang leo bục “Ông Hoàng Làm Quá”, có kẻ cho rằng dẫu hay dẫu dở, Ngài vẫn đang xây dựng cho nền âm nhạc đương đại Việt Nam cả một tượng đài, dù để tụng ca sen huệ hay để phóng phi tiêu về sau. Còn Ngài, Ngài cho mình là tượng đài hay quái nhân của làng nhạc?

“Quái nhân? Không, tôi không có diện mạo của một quái nhân. Tôi giàu tính giải trí, giỏi làm những gì khiến người khác phải banh mắt ra mà nhìn, khen chê và bình phẩm đã không còn là vấn đề, và như vậy, tôi vô tình hay tự đặt mình vào vị trí tiên phong nên dị biệt. Và tất cả những điều đó đều “showbiz tính” lắm chứ, đâu đủ khác biệt để gọi là “quái nhân”? Nghệ sĩ giải trí nào chẳng muốn hình tượng bản thân giàu tính giải trí, và trội bật.

Sự khác biệt duy nhất là có kẻ thành công, có kẻ không.

Tượng đài ư? Chưa đủ!

Đã có những ca sĩ, nhạc sĩ đi trước của dòng nhạc vàng, họ gặp tôi và nói lời cảm ơn vì đã làm cho họ “sống lại”. Thậm chí tôi cho rằng họ đã hơi “thần thánh hóa” quá tay, nhưng tôi hạnh phúc và ghi nhận sâu sắc.

Có thể tôi đã góp vai trò khiến dòng nhạc vàng tái thịnh, và tôi hài lòng với điều đó. Nhưng để gọi là một “tượng đài”, liệu vậy đã đủ chưa, trong khi tôi còn quá nhiều trò còn hay hơn thế nữa mà chưa kịp thực hiện?

Có thể 3 năm nữa, và tôi cũng không biết vì sao lại là 3 mà không phải 2 hay 4. Nhưng ngay thời điểm hiện tại, chưa, tôi vẫn thấy là chưa đủ để tự đặt mình lên bệ tượng đài.”

Chiêu khiêm tốn không thành, Ngài hiển nhiên thiên nhiều hơn vào hướng “quái tính”. Ngài hẳn hoi không là giọng ca hàn lâm, các Hội đồng Nghệ thuật sẽ luôn chau mày nhìn xuống Ngài trong khi công chúng vẫn hò la cổ vũ. Nếu không là những giải thưởng dân chủ dựa trên sự bình chọn của số đông, có lẽ Ngài đã chẳng có lấy cho mình một danh hiệu, giải thưởng chính thống nào.

Dòng nhạc Ngài chọn cũng chẳng có gì gọi là hàn lâm uyên bác, mà cũng không hẳn là dòng underground chất chứa những mầm mống tiên phong. Ngài chẳng là ai cả, và Ngài xây cho mình một cái bệ công chúng hùng hậu, nơi họ công kênh Ngài lên mà thành một tượng đài sống có hình thù…ngộ ngộ

“Tôi thừa nhận mình không thích những thứ…hàn lâm và đàng hoàng. Ngay cả trong cuộc sống cũng vậy, một gã giang hồ, một cô gái điếm có thể ngồi xuống làm bạn với tôi. Hát diễn ngay ở đất Hải phòng giữa những đại gia hầm hố thứ thiệt, Đàm Vĩnh Hưng vẫn có thể chiều chuộng họ với những bản tình ca vàng tưởng như lỗi thời và ủy mị, và đổi lại, họ yêu quý tôi theo cách của họ. Tôi chẳng bao giờ ngồi xuống lắng nghe một cô bé nào đó khóc rống lên với tôi rằng đêm qua cô ấy đã bị “hại một đời”, nếu không muốn nói là tôi sẽ chúc mừng cô ấy.

“Với tôi, âm nhạc hàn lâm thuần túy là những gì hồn nhiên thu phục con người và được một Hội Đồng Thẩm Định khắt khe nhất duyệt chuẩn – đó là Thời Gian. Tôi đào mồ mả những bài nhạc vàng nhạc đỏ (gọi một cách hàn lâm là “ca khúc bất hủ”), phủi bụi nó, “Đàm Vĩnh Hưng hóa” nó, và trả lại cho nó cái long lanh hoàng kim để chiều chuộng thế hệ công chúng của tôi, những người đã quá lâu, trước tôi, không được nền âm nhạc đương đại vuốt ve chiều chuộng đúng kiểu.

“Tôi không đàng hoàng và ghét những thứ ‘đàng hoàng’, nhưng chỉ có những ca sĩ cựu trào đã không còn đủ sức may cho nhạc vàng một tấm áo mới của tay thợ lành nghề, họ đã rơi nước mắt khi cám ơn tôi.”

“Và như vậy, tôi hài lòng vì đã “cà chớn” một cách rất đàng hoàng, chứ nhất quyết không len chân cố “đàng hoàng” một cách…cà chớn!”

Thôi nào, từ khi Đàm Vĩnh Hưng còn bận bịu với thị hiếu công chúng trẻ thì thị trường đương đại vẫn có nhạc vàng đấy thôi?

“Vâng, có, nhưng là một thứ nhạc vàng bị “phục chế nguyên bản”. Những tiếng rên rỉ rung ngân đồng điệu đến hàng thập niên, những tiếng vút giọng gió vào cuối câu… Nhưng tôi biết mạ cho những ca khúc ấy bằng một diện mạo mới, và chỉ khi nó vận động, nó mới sống. Em biết đấy, người ta chỉ phục chế lại những thứ đã mất, với tôi, nhạc vàng vận động, nó khác đi, mới hơn, mà không ai khác, tôi khẳng định là không – ai – khác, có thể lặp lại được, hoặc đã làm được về trước.

Em biết đấy, chỉ có con người là già đi và trở nên lỗi thời thôi, âm nhạc thì không.”

Nhưng anh không hề định nói rằng anh là một người hùng cứu tinh của nền văn minh nhạc vàng bị quên lãng đấy chứ?

“Tôi có nói đâu, công việc của tôi và công chúng của tôi nói đấy chứ. Thật ra, mọi chuyện đơn giản hơn sự suy diễn lãng mạn của em nhiều. Thị phần nhạc vàng và công chúng của nó là một miền đất rộng, đầy tiềm năng trù phú đang bị ngành công nghệ giải trí bỏ quên lãng phí đấy mà thôi. Và tôi là kẻ khai khẩn khôn ngoan, khác người, và tự biết mình sẽ phải mệt mỏi hơn rất nhiều lao vào cạnh tranh cuốc xẻng với những sân khấu, hoặc sân đấu, vốn đã quá đông. Các ca sĩ kiểu “sao sữa” (baby-face) ra đời nhan nhản, thậm chí cả những ca sĩ quá lứa đã thành sao…yogurt vẫn còn dai dẳng bám lấy thị phần khán giả teen.

Tôi chỉ tay vào một trong những poster bìa album được lộng khung treo dằng dặc trên “bức tường danh vọng” đối diện. Tấm ảnh được chụp trong bối cảnh của một live show, Đức Ngài tỏa sáng phần phật ở trung tâm, những bóng đen của khán giả che khuất sân khấu, khiến cảm giác không khác gì Ngài đang đứng trên một cái bệ được xây dựng bằng những tín đồ hân hoan.

– Anh nhìn kìa, đó chẳng phải là hình ảnh của một tượng đài?

– Em có thấy vĩ nhân nào tự xây tượng đài cho mình chưa? Hãy để công chúng làm điều đó, nếu họ không thể chờ đến 3 năm!

Vầng Thái dương Trong Lòng Kim Tự Tháp

Và nếu bạn đã có ở đó, nữ độc giả của tôi ạ, với thiên tính giàu trắc ẩn, ắt bạn cũng sẽ xót xa thở hắt ra:

– Anh có mệt không, trên cái ngai hoàng đế của mình?

– Anh rất sợ cái vị trí đó…

– Nhưng anh đã lập quốc?

– Các vị vua thường bị phế truất, êm ra cũng băng hà. Các ngôi sao thì có quá nhiều, mà sao nào cũng lập lòe leo loét vay mượn ánh sáng của nhau. Tôi muốn làm thái dương – một mặt trời duy nhất.

– Vậy để em hỏi lại, vầng thái dương có mệt không 15 tỏa nhiệt trên bầu trời của mình?

– Nói thiệt, 15 năm, tôi chưa thấy mệt. Tổ nghiệp chọn không nhầm người để đãi, và tôi dám tự hào cho rằng mình là kẻ hiếm hoi xứng đáng. Tôi có khả năng một cách tự nhiên, gần như một bản năng, để nhìn xuống khán phòng và thấy những sự chới với cần được vuốt ve nâng đỡ. Tôi biết khi căng khi chùng sợi dây điều khiển và tính toán những khoảnh khắc để hớp hồn họ. Tôi biết chiếu tia nhìn xuyên thấu ánh sáng lòa mắt của sân khấu để thôi miên “thần dân” của mình, hoặc khiến họ phải quay đi chỗ khác. Tất cả những bản năng tự nhiên ấy không hề được đào luyện mà thành, tôi không hề mệt mỏi khi sử dụng năng lực của mình, nếu không muốn nói là sự say sưa với thứ quyền lực ấy càng khiến tôi mạnh mẽ hơn.

Than ôi, mỗi ngày qua, ngành công nghệ giải trí lại đẻ ồ ạt những thế hệ tiểu quái nhân, tuyệt vọng trong cuộc đua khốc liệt để trở nên khác biệt. Còn những người đàn bà thì luôn ý thức được rằng họ không bao giờ được chiều chuộng đầy đủ cả. Ngài đặt tay mình lên bánh lái Định Mệnh, và nó đã xoay với tốc độ chóng mặt đến mức chỉ cần một giây buông tay, Ngài sẽ bị hất ra, và “thần dân” của Ngài sẽ lại tiếp tục yêu chuộng một tượng đài mới mẻ.

“Đó ắt nhiên là sự nghiệt ngã của nghề. Người ta nói “khán giả quên nghệ sĩ chứ nghệ sĩ không bao giờ quên khán giả”. Điều này không sai, nếu nghệ sĩ không làm gì để khán giả phải nhớ tới.

Nếu phút ngơi tay ấy có đến, tôi sẵn sàng chấp nhận. Nhưng một khi bánh lái Định Mệnh còn nắm vững trong tay, tôi đang làm tất cả những gì có thể để xây dựng những tường thành kiên cố (mà chưa thể thổ lộ cụ thể ngay lúc này). Để thay chỗ một Đàm Vĩnh Hưng, hãy nghĩ đến vượt qua những cái bẫy trùng điệp của một Kim Tự Tháp.”

f.: Anh đã trù hoạch cho một Kim Tự Tháp để nghỉ ngơi và được tôn thờ vĩnh cửu?

Ngài Đàm: Tôi luôn nghĩ rằng mình sẽ chủ động bước ra khỏi showbiz vào thời điểm và tư thế được tính toán từ trước – Mặc dù có lẽ điều đó sẽ là khó. Rất khó!

f.: Anh có tin rằng mình đủ mạnh để làm điều đó không?

Ngài Đàm: Nói thật nhé, tôi thật sự không biết nữa!

Và đó là khoảnh khắc đầu tiên trong suốt cuộc nói chuyện, trông Ngài mới yếu ớt làm sao!

Mọi vị vua trong lòng các Kim Tự Tháp đều rất đỗi yếu ớt và mong manh, là vậy!

Con Quỷ và Cuộc Vui Cuối Cùng

“Thậm chí em có tin là tôi đã nghĩ rất nhiều cho sự nghiệp về sau của mình, khi thời gian không còn cho phép tôi làm hài lòng khán giả của mình nữa? Thậm chí tôi đã định rằng sẽ quyết không xuất hiện trên sân khấu mà chỉ phát hành album, và nếu có xuất hiện trong một vài sự kiện quan trọng, tôi sẽ cần có một tấm màn phủ xuống che lại khuôn mặt mình. Tôi muốn giữ trọn vẹn cho khán giả một hình ảnh Đàm Vĩnh Hưng như họ từng biết. Vâng, tôi đã nghĩ đến cả việc đi ẩn cư một thời gian, như thể khi yêu nhau thì người ta cần giữ lấy một chút gì bí ẩn, và đôi thoảng cần xa nhau để thèm muốn nhau hơn vậy.”

f.: Vì kiêu hãnh?

Ngài Đàm: Không! Vì kịch tính. Kịch tính dẫn đến sự hiếu kỳ. Tình yêu có thể nhạt màu và mòn mỏi, nhưng lòng hiếu kỳ luôn luôn bảo đảm cho mọi sự tươi mới và dư dả giật gân.

Em còn nhớ vụ lùm xùm về “vụ án” ca khúc Phố Đêm? Tôi đã cầu ngày cầu đêm để chờ “được” khởi kiện và cấm trình bày ca khúc này. Đó là tất cả những gì tôi cần lúc đó cho một vụ nổ truyền thông thật sự. Chỉ cần tôi “được” cấm thể hiện ca khúc này một thời gian, cứ cho là từ 6 tháng đến 1 năm, và tôi sẽ đường hoàng đẩy ca khúc với lai lịch kịch tính ấy lên hàng hit kỷ lục của showbiz. Đáng tiếc, tôi chỉ bị phạt 30 triệu!

f.: Anh là một con quỷ!

Và ngài cười, khoái trá.

Dường như Ngài đùa ngạo cả với điều đáng xem là việc kinh sợ nhất của một ngôi sao, hay cả một mặt trời.

“Nếu một ngày tôi thức dậy và mất giọng, tôi sẽ điềm nhiên cho đó là sự an bài của bề trên. Điều xâm chiếm tôi khi nghĩ đến ngày bước xuống khỏi sân khấu không hề là nỗi sợ. Làm sao người ta lại phải sợ một điều được biết trước và hiểu rõ?”

f.: Vậy cảm giác đó là gì?

Ngài Đàm: Buồn!

Đức Ngài đã lặng đi. Lâu. Rất lâu. Và bạn thấy mình có trách nhiệm khuấy động lại cho mình một cuộc hò hẹn đang hồi rôm rả (và lúc này đã quá giờ đánh vợt của Ngài ngự)

f.: Thôi nào, em biết mà, anh sẽ có một cuộc về vườn tưng bừng siêu xa xỉ. Dạ Tiệc Trắng nhé? Gấp 10 lần Dạ Tiệc Trắng nhé? Và mê mải ngắm thần dân mình tha thiết quý yêu trong tuyệt vọng ra sao. Anh thấy thế nào?

Và Ngài lại thoắt trở lại hào hứng say sưa như đứa nhỏ sắp đầu têu một trò rắn mắt.

“Tại sao không là một tour diễn từ biệt em nhỉ? Như Cher ấy, tour diễn giã từ sự nghiệp của bà kéo dài 3 năm đến khắp nơi trên thế giới, lời giã từ dai nhách nhất lịch sử công nghệ giải trí thế giới, sáu câu vọng cổ bất tận trước khi ôm lưỡi kiếm xuyên thân mà lăn đùng xuống sân khấu. Một cuộc chia tay huy hoàng và dài hơi. Tại sao không nhỉ?”

– Ha, cái đó gọi là tàn hơi cố đấm ăn xôi.

– Không, đó là cuộc vui cuối cùng.

– Cuối cùng thật không?

Ngài lặng đi

– Tôi đã dự định sẽ chỉ giã từ sân khấu khi đã chuẩn bị cho mình một bãi đáp an toàn. Những tấm gương tiền nhân đã rõ, những nghệ sĩ lớn mòn mỏi trong lãng quên và nghèo khó. Những chuỗi đêm không còn được lắng nghe tiếng pháo tay, cảm giác của kẻ được công chúng công kênh yêu mến, tung lên cao, và người nghệ sĩ một ngày rơi xuống mặt đất lạnh, không còn có lấy một cánh tay khán giả ái mộ đưa ra. Đám đông mới đã kịp hình thành xung quanh những tượng đài mới. Người nghệ sĩ đứng dậy để nhận ra mình ở trên những cánh tay và bay trên không đã lâu, không còn nhớ cách để tự đi bằng đôi chân của chính mình. Không, điều đó tôi nhất quyết không chọn cho mình.

Lúc này, nữ độc giả minh mẫn và đa nghi của f., bạn có thể tự hỏi liệu đó có phải bởi không khí thiếu ẩm trong căn phòng lạnh nơi Ngài tiếp bạn đã khiến mắt Ngài ngấn nước đỏ hoe.

“Lát nữa tôi sẽ dẫn em đi xem nhà. Trong cái gọi là “phòng Sự Nghiệp” của tôi không thiếu một bài báo, một tấm vé ca nhạc nào từng có tên tôi. Trong đó có 4 bức tượng mannequin mặc 4 bộ trang phục đã từng gây shock giới báo chí, các giải thưởng, băng đĩa. Có cả cuộn băng cassette tự thâu với thùng karaoke ngày trước, tôi còn giữ cả cho mình một cái bàn làm tóc trong nhà nữa. Và mỗi khi tôi nhìn lại căn phòng ấy, tôi biết, người ta sẽ không phụ tôi, quên tôi nhanh đến vậy đâu. Tôi biết những đứa bé 3 tuổi nhất quyết không chịu ăn nếu không nghe…Say Tình. Rồi chúng sẽ lớn lên, sẽ nói với con cái chúng rằng “Đã từng có một Đàm Vĩnh Hưng…”

f.: Liệu khi đó, anh có vượt qua nổi sự tự tôn hình ảnh để xuất hiện trở lại trên sân khấu?

Ngài Đàm: Sẽ là ở những sự kiện thật sự xứng đáng, và tôi muốn khán giả khi ấy sẽ phải đứng lên để đón nhận tôi.

f.: Đón nhận một sự ban phát?

Ngài Đàm: Sao nào? Tôi đang lao động ra trò để xứng đáng.

“Cho phép tôi hát tặng mẹ em!”

“Dạ Khúc Cho Tình Nhân” đã là một lá thư tình Ngài gửi cho những người đàn bà của mình, trong bìa hộp hình chiếc phong bì đóng dấu triện nhựa mạ vàng hình chiếc vương miện. Những lá thư tình của vị hoàng đế mà người ta có thể mua được cho mình sau mỗi đêm diễn của ngài hoặc ngoài nhà sách.

“Tôi đã phải vắt óc để nghĩ ra trò đó với cái phong bì như vậy. Mặc kệ email, SMS và Yahoo Messenger, những người đàn bà vẫn cần nhận được những bức thư tình đã cũ. Và giờ thì tôi lại tiếp tục vắt óc ra để nghĩ trò gì khác cho album tiếp theo. Em biết đấy, chiều chuộng họ, không bao giờ là đủ.”

Một cuộc tình không sòng phẳng khi một bên phải trổ hết tài nịnh đầm và miệt mài làm mới mình để được yêu thương. Bên còn lại thì vô tâm và sẵn sàng quay lưng lại khi có một ai đó khác lắm chiêu giỏi chiều hơn như thế. Chẳng phải “đức Ngài” tối thượng đang tỏ ra lụy tình quá lắm với toàn cõi hậu cung của mình?

“Đành rằng thế. Nhưng lúc này những người đàn bà ấy đang yêu tôi, và tôi tin mình là kẻ duy nhất. Với những chiều chuộng thấu đáo tâm can của mình, với tất cả những gì tôi đã làm để tiêu khiển cho họ cho đến tận những điều điên rồ nhất, tôi tin rằng khó có một “người đàn ông” nào khác có đủ sức lực, nếu không nói đến óc sáng tạo và tài năng, để dẫu chỉ lặp lại hết những gì tôi đã từng làm. Một người đàn bà vô tư nhất đi chăng nữa, cũng sẽ không thể quên một người tình hào hoa và tận tụy rất mực với Nàng. Không chỉ muốn mình được yêu, tôi còn đang làm tất cả để người ta phải tiếc nuối khi tôi không còn có thể cho họ những vuốt ve chiều chuộng.”

Những ngày xưa của một Vĩnh Hưng len lén in danh thiếp ca sĩ, của gã khật khùng với “phòng thu” tự tạo, của những đồng cát-sê còm cõi dưới nệm giường ấy, phải chăng tư chất quá rõ rệt của một thuyết khách, một chính trị gia, một thương gia văn hóa đã lấn lướt ít nhiều cái chất nghệ sĩ tính khùng khùng và vong thân của Ngài Đàm?

“Nghệ sĩ tính, hay khát vọng vong thân vẫn luôn ở đấy. Đó là điều đầu tiên và tối thượng cho vị trí của tôi ngày nay. Nhưng cũng chính để giữ mình thăng bằng trên chiếc ngai vàng tự tạo này, chỉ nghệ sĩ tính thôi thì hóa ra tôi sẽ là tay nghệ sĩ phóng túng và vô trách nhiệm với chính sự nghiệp của mình. Không phải vô cớ mà một phần (phần nổi và rộng) của âm nhạc trở thành công nghệ, và “thính giả” trở thành “thị trường”.

“Và ở hai vế của “cuộc tình” này, khán giả là những người cần được bay bổng đê mê và có thể xa rời thực tế đến chừng nào họ muốn. Và nếu người nghệ sĩ cũng vậy thì thực tế đáng buồn là cuộc tình đó sẽ khó bền. Người đàn ông không danh vọng sự nghiệp chi gọi là thứ đàn ông chưa thành nhân, có yêu mấy cũng tới lúc đuối tình. Một anh nghệ sĩ nghèo có lãng mạn đến mấy cũng tới lúc rõ mặt anh hèn bạc nhược bất tài kém chất. Và ắt nhiên, người đàn bà sẽ chọn thả mình theo những ngôi sao sáng hơn, và sáng bền hơn. Chính vì vậy mà tôi không còn có thể tự cho phép mình thả rông nghệ sĩ tính để rồi phải đóng vai kẻ sĩ không gặp thời. Đam mê thì vẫn đấy, nhưng tình yêu cũng cần có kỷ luật của nó, nhất là khi người ta vào vai người đàn ông.”

f.: Phụ nữ là ai, đối với anh?

Ngài Đàm: Họ là những người dễ đến bên tôi, chấp nhận tôi, yêu thương tôi, và để mặc cho tôi yêu thương lại. Họ ngoan, và tôi thích như thế. Họ biết yêu thương và tán tụng, tôi cần được như thế.

Họ có thể dễ dàng nhận từ tôi điều tôi rất giỏi cho, và dễ dàng cho tôi điều tôi muốn.

Nước mắt của họ làm nên đế chế của tôi.

Trong tôi có hai con người em ạ, và điều đó cho phép tôi vừa yêu họ, vừa hiểu họ cần gì.

f.: Phụ nữ, sau cùng, vẫn cần sự an toàn. Mà với Ngài Đàm, kẻ đã từng “dám” bỏ thị phần nhạc trẻ, không có gì bảo đảm cho những người đàn bà của anh rằng anh sẽ không bẻ lái một cách đột ngột, một ngày không ngờ nào đó.

Ngài Đàm: Tôi thích cho khán giả của mình đứng tim lộn ruột và bị bất ngờ. Em biết đấy, đàn bà, họ sẽ không còn yêu nồng nàn đến thế nếu người đàn ông không có chân, không biết đi, và an toàn tuyệt đối.

Rồi Ngài đột ngột hỏi, như thể chợt nhận ra, giữa cuộc nói chuyện, rằng ngay bên cạnh Ngài đang là một người đàn bà đến-từ-bên-ngoài

– Tối nay em rảnh không? Anh mời em đi nghe anh hát. Em muốn mời ai đi cùng không?

– Vâng, nếu anh cho phép, mẹ nhé?

– Đúng rồi, mẹ nhé! Nói với mẹ em rằng anh Hưng trân trọng mời, và sẽ hát tặng bà những bản hay nhất anh chưa từng hát ở bất cứ đâu.

Hãy tưởng tượng một cuộc hẹn hò, nơi người đàn ông muốn gửi cho mẹ bạn một món quà!

Vị khách mời trong đêm cung nội

Cuộc nói chuyện phải tạm ngưng tại đó bởi bên ngoài trời bắt đầu tối, và rõ ràng bạn đã làm đức Ngài không chỉ lỡ buổi đánh cầu lông mà cả buổi tập bài để chuẩn bị cho đêm diễn chỉ còn cách vài tiếng đồng hồ.

Hãy để mặc Ngài sửa soạn dọn mình cho buổi thiết triều tối nay, còn bạn, nữ độc giả mê phiêu lưu của f., bạn cũng sẽ không muốn xuất hiện vào buổi tối với cùng một bộ dạng. Hãy vào vai vị nữ khách mời lịch thiệp nhất để làm một chuyến thăm thú vương quốc Ngài Đàm.

Hai cuộc hẹn trong cùng một ngày, bạn có tất cả 3 tiếng đồng hồ để băng qua nửa thành phố về nhà, bằng mọi cách làm cho mình tươi tắn tỉnh táo lên, ăn nhẹ cho bữa tối và có mặt tại phòng trà trước khi đức Ngài xuất hiện.

Hẳn nhiên, mọi sự đã được Ngài sắp đặt chu đáo và thân mẫu của bạn được đối đãi như đệ nhất diva, còn bạn thì bắt đầu điều nghiên quan sát các “thần dân của đế chế Ngài Đàm” đang lục tục kéo vào.

Bạn sẽ thấy diễu qua trước mắt một đoàn diễu hành nửa vui nhộn nửa u buồn của dòng áo khăn đài các, những bộ tóc giả nhắc nhớ dáng dấp đệ nhất giai nhân họ Thẩm, những cặp mi dày cộp kiểu đầu thập niên 70, những bàn tay bất khả dối già đính những bộ móng được tỉa tót cầu kỳ. Không gian nồng nực cuộc giao chiến hỗn loạn giữa các dòng mùi hương  bị trộn lẫn đến mức khó gọi tên.

Không khó để kẻ mới đến ngay lập tức nhận rõ các quý bà quý cô nơi đây đã hình thành những nhóm tầng lớp như trong một xã hội thật sự. Một tốp các quý bà mà lớp trang điểm khai rõ gốc gác hải ngoại của chủ nhân tỏ vẻ thu hút sự chú ý một cách đặc biệt và bạn sẽ được rỉ tai rằng đó là hội “fan ruột” của đức Ngài. Nhưng mọi ánh nhìn đột ngột hướng về quý bà thuộc tầm cao niên với mái tóc khổng lồ mà xuất xứ trào lưu rõ ràng là từ cuối thập niên 50, lớp trang điểm sành sõi và nụ cười ngây ngô hồ hởi. Nhân vật nọ phải có một người dìu bên cạnh để tiến về hàng ghế sát sân khấu, tay cầm bó hoa to trắng tuyền. Bà ngây ngô cười và ngây ngô an vị, mặc cho những tia mắt và tiếng rít mãng xà từ phía sau tới tấp phóng đến. Người ta có thể đếm thấy trên mái tóc kiểu “beehive” của bà có tất cả 4 chiếc kẹp tóc cùng lỉnh kỉnh lang cang các món nữ trang, như thể bà đã dốc cả tráp cổ vật lên người trước khi xuống phố.

Bạn sẽ không muốn bỏ lỡ cảnh xa giá của “ngài ngự” và sẽ lỉnh ra ngoài, ngắm những quý bà chậm chân sau cuối đang tiến vào bên trong. Đúng giờ hẹn, chiếc xe của Ngài xuất hiện. Nụ cười và cả đôi mắt đỏ hoe đã biến mất. Ngài bước khỏi xe, earphone cắm vào tai và miệng vẫn nhẩm bài. Lướt ngang qua bạn, Ngài chỉ kịp nói nhanh “Sao em chưa vào?”

Bên trong khán phòng lúc này người ta đang rệu rã lướt vội qua những ca sĩ hát “tiền trạm”, những mái đầu đội tóc giả bắt đầu ngọ ngoạy tứ phía và lầm rầm hỏi giờ, và…Ngài nhảy tót lên sân khấu, sung sức như một kiêu binh say máu.

Trong khi cả phòng trà đứng bật dậy trong tiếng vỗ tay như hồ hởi thở phào và reo vui cùng lúc, bạn thì suýt sặc nước bởi sự xuất hiện dũng mãnh hết hồn của Ngài, với một bông hoa to oành cắm đầy lông vũ, trông như một chú gà trống vạm vỡ đậu trên vai ông vua Pop Việt nhỏ thó.

Trong suốt hai ca khúc đầu, Ngài đã lập tức trổ tài điệu nghệ, và bạn lạc ngơ ngác vào không khí phòng trà đầu 1970 với tiếng vỗ tay bốc trần sau mỗi bước chachacha xăng-cốp (syncopation) xưa cũ được thi triển tưng bừng trên sân khấu.

Và ngay khi bạn hoang mang tự hỏi đêm còn dài bao lâu thì bạn chợt nhận ra rằng cuộc vui thậm chí chưa thật sự bắt đầu.

Ngài túa đẫm mồ hôi, và bằng một cử chỉ dứt khoát, tháo bỏ lớp áo khoác bên ngoài có đính con gà trống, xăn tay áo sơ-mi, Ngài lướt ánh mắt quét khắp khán phòng như một đại tướng quân đang duyệt binh. Ánh mắt Ngài dịu lại, mềm ra, xoáy vào vùng tối khán phòng.

Ngài muốn sự im lặng tuyệt đối.

Ngài muốn thả chùng mọi nơ-ron thần kinh và tế bào cảm xúc.

“Dù cho mưa, tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời…”

Bạn bất chợt nhận ra mình cũng đang thở hắt ra.

Đức Ngài, từ trong vầng sáng spotlight, dường như nhìn nhanh về phía bạn với một cái nháy mắt ranh mãnh, nửa đồng tình, nửa như đắc thắng “Em thấy chưa, tôi đã nói mà!”

Cao hứng, Ngài giải tán ban nhạc và chỉ giữ lại một guitarist với lí do sẽ hát những bản thật đặc biệt chưa bao giờ tập cùng ban nhạc, như để minh chứng cho điều Ngài nói ban chiều “bọn ca sĩ mất nghệ sĩ tính là đồ vứt đi. Đã hát thì chỉ cần một cây guitar cũng hát!”

Và bạn tin tôi đi, Ngài đã thật sự hát.

Đã không có một chi tiết nào của cuộc nói chuyện ban chiều được bỏ qua. Những xảo thuật, những trò mơn man tâm lí, với ân sủng được tài tình chia đều cho từng người đàn bà trong khán phòng, những mảng miếng sặc mùi sân khấu, những trò tung hứng đổi trao,… Ngài thỏa thuê hào phóng đêm nay, mặc sức phủ ngập khán phòng của mình trong những thăng hoa của ảo giác. Ngài di chuyển liên tục trên sàn diễn, không bỏ qua một ánh mắt, một khuôn mặt nào từ bên dưới khán phòng, nơi mỗi người đàn bà đều tin rằng bài hát ấy dành cho mình, nơi mỗi người đàn bà đều tin rằng họ đang ở trong cuộc diện kiến riêng tư với chính Ngài Đàm, trong khi Ngài, như tay chatter thiện nghệ có thể “chat” với nhiều users, cùng lúc nâng niu trò chuyện với từng khán giả đang bị thôi miên.

Người phụ nữ tóc kiểu beehive cầu kì run rẩy đứng lên, bó hoa trắng lộng lẫy trong tay, Ngài Đàm hơi nghiêng mình trong một tư thế ban phát tài tình để đón nhận.

Bà run rẩy ngồi xuống, vẫn nụ cười ngô nghê và ánh mắt long lanh vô hồn.

Ngài bước qua, tiếp tục tài tình điều khiển khán phòng của mình, trong khi bạn, người-đàn-bà-đến-từ-bên-ngoài âm thầm nghiêng mình trước cuộc tán tỉnh ngoạn mục đến khó tin của loài mãnh thú đầu đàn với tất cả những thần dân đang hạnh phúc của cái đế chế đầy hoài niệm và mùi mỹ phẩm ấy.

Đêm thiết triều đã đặc biệt kéo dài hơn thường lệ. Những người đàn bà bước ra khỏi phòng trà với ánh mắt long lanh hồ hởi, bạn sẽ tưởng như có thể thấy đồng tử họ đang giãn nở thỏa thuê. Người ta kháo nhau rằng ngày hôm nay, Ngài “thăng” bất ngờ và “xuất chiêu không ghê tay”, còn bạn sẽ âm thầm giữ riêng cho mình một sự tri ân lặng lẽ.

Phía bên ngoài, Đức Ngài dân chủ và thân thiện vẫn còn bị bao vây giữa vòng ưu ái của thần dân. Đề huề, phỉ mãn.

Hãy lịch thiệp từ giã, bởi thời gian dành cho bạn đã hết.

Hãy bước ra khỏi vương quốc hào hoa trên bể lệ ấy, trả Ceasar lại cho những gì thuộc về Ceasar.

Sau cuộc hẹn rốt cuộc đã kéo dài gần 10 tiếng đồng hồ, dating diva của f. sẽ thong dong gõ gót trên đường về một mình, lắng nghe vọng lại từ một chiếc taxi nào đó cái lối bẻ giọng rè rè của anh thợ làm tóc 15 năm trước: “Hỏi trời xanh có chăng Định Mệnh?…”

hào hoa & thống khổ Yves Saint Laurent

Trác Thúy Miêu

Năm 1968, ông cho rằng phụ nữ nên mặc quần dài như của nam giới như một lối thường phục hàng ngày. Không chỉ là một cuộc cách mạng, gã trai tóc hoe bồng bềnh đã bị xem là một kẻ xấc xược và mạo phạm, vô thần. Nhưng ông được các quý cô ưa hút cigar đội mũ phớt tung hô, trong khi nam giới lần lượt ngã gục trên vỉa hè Paris dưới những đôi trường túc yêu kiều xỏ trong ống quần Âu và giày cao gót – một hình tượng nữ quyền đánh sâu vào tận tiềm thức khổ dâm trốn kỹ trong mỗi quý ông lịch lãm kinh đô hoa lệ.

 

Sinh ra ở thuộc địa Algerie, cậu nhỏ Yves là một công tử thanh tú, ít nói và rõ ràng ít nhiều yếm thế từ khi rất nhỏ, cho mãi đến về sau. Không có những trò thể thao ngoài bơi lội, không có những biểu hiện hiếu động trong tuổi thơ ông, ngoài sự ám ảnh có từ rất sớm về thời trang và kịch nghệ, dưới sự ảnh hưởng từ người mẹ – vốn nổi tiếng là một quý bà lịch lãm.

Cưỡng lại định hướng theo ngành luật của gia đình, cậu thanh niên Saint Laurent 17 tuổi, với mái tóc nâu dợn sóng và đôi mắt màu Địa Trung Hải đóng khung trong đôi kính cận gọng lớn, lại thẳng tiến Paris như một con thiêu thân u mê thử vận hội với hấp lực của ánh đèn nhà hát và ngành thiết kế thời trang.

Là một trong số không nhiều các nhà thiết kế nổi tiếng về mẫu số chung “thất học”, Yves Saint Laurent theo học tại Chambre Syndicale de la Couture, nhưng cũng không lâu cho đến khi bỏ ngang vì chán, nhưng ngay sau đó đạt giải thưởng thiết kế thời trang International Wool Secretariat. Cột mốc này dẫn dắt ông tới hợp đồng với Christian Dior – người đã tìm thấy trong phác thảo mẫu cocktail dress dự thi của ngài Saint Laurent trẻ tuổi những nét tương đồng tri kỷ với chính tiêu chí và phong cách sáng tạo của mình.

Sau 3 năm được sủng ái ở tư cách truyền nhân cánh tay mặt của Dior, và sau cái chết đột ngột của bậc thầy tài danh năm 1957, Saint Laurent, khi này 21 tuổi, chính thức thay thầy nhiếp chính vai tổng lãnh đế quốc Dior, ra tay lèo lái đại cả một huyền thoại có thể mỗi năm làm ra 20 triệu Mỹ kim niên lợi.

Cuộc soán ngôi bí ẩn và 140,000 Mỹ kim cho người hùng lưu vong

Tháng Tám, 1957, trong một cuộc trù hoạch oái oăm của dự cảm, đích thân Christian Dior gặp trực tiếp với thân mẫu của Yves và cho hay ông đã chọn người con trai của bà làm kẻ kế vị. Về sau, bà cho biết khi ấy đã thoạt tiên thấy việc này thật oái oăm bởi chính Dior khi ấy đang ở độ tuổi 52 thăng hoa trí lực. Bà, và có lẽ cả chính Dior đã không thể ngờ được chỉ 2 tháng sau cuộc nói chuyện nọ, ông chết tại một spa ở miền bắc Italy bởi một cơn suy tim đột ngột.

Ngay lập tức, vào ngày 30 tháng Giêng, 1958, vị tân vương tóc nâu tung ra bộ sưu tập đầu tiên trong cương vị mới, với một form dáng trẻ trung, vai áo hẹp, eo cao và loe dần xuống gấu, được gọi là kiểu trapeze. Và tiếng tung hô vạn tuế hân hoan vang lên. Nước Pháp xem ông là vị thiên sứ cứu rỗi cho vị trí hàng đầu trong làng haute couture của kinh đô Paris thanh lịch. Cái tên Yves Saint Laurent được các cậu bé bán báo rao vang trên khắp nẻo đường từ Âu châu sang đến tận Hoa Kỳ, ngày vị tông đồ phò tá Dior chính thức lên ngôi, vẫy chào đám đông tụ tập bên dưới balcon nhà Dior trên đại lộ Montaigne.

Bộ sưu tập cứu rỗi haute couture Pháp ấy còn là một cú lội ngược dòng hoàn hảo cho toàn cảnh tài chính khốn đốn của vương triều Dior, một phần nhờ hơi hướm ảnh hưởng của người tiền nhiệm tài hoa quá cố, thiết kế của Saint Laurent đã là một phiên bản trẻ trung mềm mại của trào lưu New Look mang tên Dior. Không chỉ tài tình bẻ ngoặt bánh lái tránh cho con tàu nhà Dior tránh tảng băng phá sản lù lù đe dọa, bộ sưu tập này còn là bệ phóng “bắn” thẳng tên tuổi Yves Saint Laurent lên hàng celebrity designer hàng đầu thế giới.

Từ đấy, ông mới chính thức thu gọn cái tên quý phái loằng ngoằng của mình và vĩnh viễn khắc đậm trên bức tường danh vọng của thời trang thế giới cái ba tiếng quyền lực Yves Saint Laurent.

Nhưng mùa thu cùng năm, sự đón nhận dành cho bộ sưu tập sau của vị tân vương đã ra chiều nguội lạnh. Và đến collection sau đó, với phong cách beatnik (tiền hiện sinh) và những chân váy hobble bó sát đến dưới gối thì những tiếng dè bỉu chê bai và sự ngờ vực của giới truyền thông đã trở nên công khai.

Người ta cho rằng đã có một động thái vận động hành lang ngấm ngầm của Marcel Boussac – tay tài phiệt truyền thông khét tiếng lúc bấy giờ, và cũng là kẻ thật sự sở hữu House Of Dior, đã gây áp lực với chính phủ Pháp, ngăn cho Saint Laurent không phải tham gia quân đội từ 1958 đến 1959. Và cũng chính con bạch tuộc truyền thông này đã tạo áp lực tống khứ vị tân vương vào quân đội viễn chinh văng sang tận cố quốc Algerie, sau hai mùa thời trang đại bại.

Thiên sứ tóc nâu nhà Dior hoàn toàn không là một chiến thần. Ông chỉ tồn tại trong quân ngũ nổi 20 ngày trước khi phải gửi đến quân y viện do chứng trầm cảm nặng nề. Cùng lúc ấy, tại Paris hoa lệ vào tháng Mười cùng năm, đám đông ngày nào chen chúc trên cung lộ Montaigne để tung hô tân vương Yves đã kịp tìm cho mình ngôi sao mới Marc Bohan, kẻ kế vị vai trò tổng lãnh nhà Dior, và cũng từng là trợ lí của Yves, như một lẽ tất nhiên.

Từ trong quân y viện, vị tân vương lưu vong nhận được tin mình đã bị phế truất. Điều này đưa thẳng Yves vào bệnh viện tâm thần Val-de-Grace, nơi ông sống nhờ vào những liều an thần nặng và những cơn điều trị bằng liệu pháp sốc điện (electroshock) để lại dư chấn mãi về sau.

Đầu năm 1961, bộ sưu tập của kẻ kế vị Marc Bohan thành công rực rỡ, sau khi nhà Dior lạnh lùng gạt bỏ đề nghị phục hồi ngai vị cho cựu hoàng thất thế Saint Laurent.

Ông đệ đơn kiện nhà Dior và được xử hưởng mức bồi hoàn 680,000 francs, lúc bấy giờ có giá trị tương đương $140,000.

Nhưng từ đấy, với dư chấn 3 tháng quân trường vẫn ám ảnh Yves, chứng trầm cảm, nghiện rượu, và lệ thuộc hoàn toàn vào thuốc an thần, Paris vĩnh viễn không còn nhìn thấy hình ảnh vị thiên sứ tóc nâu tinh anh ngày nào trên balcon phố Montaigne.

Chấn động “Le Smoking” và quyền được mặc quần!

Tháng Chín 1961, Saint Laurent bang giao cùng tình nhân là nhà công nghệ Pierre Bergé công bố kế hoạch lập quốc xưng vương – couture house Yves Saint Laurent ra đời. Cuộc tình Pierre – Yves tan vỡ vào đầu thập niên 80, nhưng Pierre Bergé ở lại bên cạnh Yves suốt những năm còn lại cuộc đời ở vị trí cộng sự và đồng minh, người đứng sau những món lợi tức lẫy lừng của thương hiệu YSL. Nhưng nhà Mạnh Thường Quân đỡ đầu YSL đứng sau lưng đôi đồng minh tri kỷ lại chính là J.Mack Robinson, một doanh nhân Mỹ, kẻ đã lặng thầm quan sát Saint Laurent từ ngày nhậm chức huy hoàng nhà Dior ở cương vị tân vương, và chờ đợi đưa bàn tay tài chánh nghĩa hiệp ngay khi thiên sứ bị hắt hủi khỏi thiên đàng.

Yves Saint Laurent đã không phụ kì vọng của đồng minh với bộ sưu tập đầu tiên của nhà YSL, công diễn ngày 19 tháng Giêng, 1962. Con đường lót hoa hồng trải ra từ đó đến mãi về sau với những line hàng ready-to-wear được người ta vồ vập, thoạt tiên tại các boutique của ông ở Rive Gauche, và về sau là trên toàn thế giới qua sự phát tán của hơn 500 license về khăng choàng, nữ trang, hàng lông thú, giày, nam phục, mỹ phẩm, nước hoa, cho đến thuốc lá.

Đây là quãng thời gian ông “phục hận” sự ghẻ lạnh của công luận đối với trường phái thời trang chic beatnik. Nhãn hàng Yves Saint Laurent đưa beatnik trở lại, với những chiếc áo khoác safari cho nam và nữ, quần bó sát rạt mặc cùng với boot cao ngông nghênh quá gối.

Với thế “kiềng 3 chân” hùng mạnh của đế chế mới, Saint Laurent đã tận dụng thời thế để hoàn tất kiệt tác thiết kế mang tính cách mạng vào năm 1966, khi ông cho ra đời mẫu tuxedo suit cho phụ nữ với cái tên đi vào lịch sử thời trang Le Smoking.

Nếu Coco Chanel cho phụ nữ sự tự do, thì chính Yves Saint Laurent đã mang lại cho họ quyền lực. Cái ngày ông dẫn dắt họ đến với tủ quần áo của quý ông và khiến kiểu trang phục này trở thành một liệu pháp tâm lí, biến đổi không chỉ phong mạo, cung cách mà cả khái niệm tự tại mạnh mẽ trong những fashionista.

Vào năm 1966, phụ nữ, theo thông lệ, sẽ bị mời khỏi các nhà hàng nếu mặc quần! Một trong những tín đồ “bị đuổi vì đạo” đầu tiên của YSL là fashion diva nặng nghiệp Nan Kempner, bị từ chối không cho bước vào một nhà hàng ở Paris chỉ vì đang mặc trên người thiết kế Le Smoking trứ danh của Yves Saint Laurent. Để kháng cự, quý bà người Mỹ thản nhiên cởi bỏ chiếc quần, đưa cho đức lang quân đứng kế bên và kiêu hãnh sải bước tiến thẳng vào nhà hàng, trên mình chỉ có chiếc áo jacket và váy lót, làm nên gương fashion diva huyền thoại cho mọi tín đồ mới nhập môn về tinh thần tuẫn tiết.

Năm 1985, kẻ húy binh ngày nào lê bước khỏi hàng ngũ quân đội viễn chinh pháp – cựu binh nhì Yves Saint Laurent chính thức được trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh Pháp Quốc.

Thiên thần khép cánh

Qua nhiều năm, House of Saint Laurent thay đổi nhiều đời thống soái tài chính, trong đó có cả  Lanvin-Charles – chủ nhân ông của the Ritz lẫn Squibb-Beach Nut. Năm 1993, với cuộc chuyển nhượng trị giá 636 triệu Mỹ kim, YSL thuộc về tập đoàn dược phẩm Pháp quốc hùng mạnh Elf Sanofi, với 43% lợi tức về sản phẩm thời trang couture vẫn thuộc về đôi song kiếm Yves-Pierre cho đến 2001. Phần ready-to-wear và các bộ sưu tập nước hoa được tập đoàn xa xỉ Gucci Group khôn ngoan mua lại từ một năm trước, tuy với ít nhiều bất bình của cá nhân Ngài Saint Laurent về sự có mặt của ngôi sao thiết kế Mỹ Tom Ford chịu trách nhiệm về sáng tạo và thiết kế cho hai line hàng ngon ngọt này. Ông nhún vai một cách đặc sệt Pháp và nói về kẻ may mắn thừa nhiệm “Thằng cha người Mỹ tội nghiệp đó cứ việc làm những gì y có thể!”

Trong suốt những năm này, nhịn nhục làm ăn dưới sự khinh mạn của tay quý tộc Pháp xấu thói, Tom Ford vẫn đều đều tung ra những bộ sưu tập mang nhãn Gucci và Yves Saint Laurent sặc mùi thẩm mỹ thực dụng Mỹ, cho đến tận năm 2003, khi tay cowboy New York rời khỏi vị trí sáng tạo của Gucci Group, đi kiếm chác nơi vùng trời riêng. Từ đó đến nay, vai trò sáng tạo cho các bộ sưu tập nhãn Yves Saint Laurent được trao vào tay cựu trợ lí của Ford – Stefano Pilati, như một thông lệ bất thành văn từ thời Dior-Yves-Marc, hay tại bất cứ vương triều nào của thế giới thời trang.

Tháng Giêng 2002, tại ngôi nhà số 5 đại lộ Marceau, khi mà ánh hào quang và những tiếng tung hô bên dưới balcon nhà Dior vang lên gần nửa thế kỷ trước như chưa kịp lắng, ông hoàng couture Pháp chính thức tuyên bố thoái triều. Các biên tập thời trang khét tiếng nhất giới truyền thông, những celebrity tuyệt đỉnh của làng giải trí, các ngôi sao tân cựu của đường băng couture thế giới đều tề tựu, mắt đẫm lệ. Từ trong khán phòng đầy không khí nghi hoặc ấy, tin rỉ tai lan ra ngoài, và người ta nghe đồn rằng dường như cựu hoàng đã thoái vị một cách khiên cưỡng dưới một áp lực bí ẩn nào đó. Bản thân ông và Bergé phủ nhận tin hành lang này, và một tuần sau tiếp tục công bố sẽ biến đại bản doanh YSL thành một bảo tàng viện. Vậy là, Thiên sứ tóc nâu thật sự về trời trong ý tưởng chôn sống bản thân trong những cột mốc huy hoàng quá vãng, những bộ smoking đàn bà của nửa thế kỷ về trước lật úp trật tự giới tính trên từng vỉa hè Paris.

Khi này, các tín đồ của tài hoa sáng tạo mới thật sự rơi lệ.

Tay xấu thói lắm chiêu

Năm 1971, đích thân chàng trai mảnh khảnh tóc nâu xuất hiện nude trong bức ảnh quảng cáo cho lại nước hoa nam giới của YSL. Về sau, năm 1977, ông gây mê cho hết thảy nữ giới toàn cầu trong cơn mụ mị Đông phương mang cái tên độc địa: Opium (Thuốc-phiện). Công luận đứng đắn cự nự vị thiên sứ ẻo lả vì tội ủy lạo tệ nghiện ngập, khơi gợi cuộc đại chiến thuốc phiện hồi thế kỷ 19 ở tận xứ Trung-Hoa, và người Trung-Hoa thì ghét câu thiệu ngạo mạn của tay Phú-Lang-Sa õng ẹo tự tôn “Opium, dành cho những con nghiện của Yves Saint Laurent”.

Năm 1992, tên gọi Champagne mà ông manh nha định đặt cho một dòng nước hoa mới của mình lại bị toàn thể nghiệp đoàn rượu vang Pháp quốc nổi đóa kiện cáo ì xèo một phen. Saint Laurent vác chiếu đi hầu và bị xử thua.

Nhưng trong một vụ kiện tụng khác, nam thần tóc mây lại ở phía được công lí ưu ái xử thắng, khi vác thương vác mã kiện Ralph Lauren năm 1994 về tội chôm chỉa mẫu váy tuxedo trứ danh đã làm nên tên tuổi Yves Saint Laurent, điều mà hiển nhiên hẳn hòi đến độ vị quan tòa và đứa trẻ Pháp nào cũng phải biết.

Trong vô vàn những thiết kế và những trường phái sáng tạo để đời của mình, nổi bật nhất như một hiện thân của phong cách lịch lãm Yves Saint Laurent, ngoài huyền thoại Le Smoking mùa Xuân năm 1967, không thể không nhắc đến bộ sưu tập Mondrian mùa Thu năm 1965, lấy cảm hứng từ họa phẩm lập thể của thiên tài cùng tên. Các bộ sưu tập lừng danh khác của ông cũng theo cùng xu hướng tái dựng lại một nguồn cảm hứng quá vãng. Mùa Xuấn 1971 đã đánh dấu sự trở lại của thời trang thập niên 1940, mặc dù công luận thời ấy cho rằng Yves đã vô tâm lãng mạn hóa thời kì chiếm đóng của quân Đức, như một cái nhìn theo thói ủy mị của thanh niên hậu thế nhìn về thời kì tang tóc ghi dấu trong lịch sử nước Pháp và nhân loại. Tờ France-Soir đã điên tiết lên án thái độ vô tâm này của Yves Saint Laurent là “Une Grande Frace!”

Trong suốt những năm 60 và 70, Yves Saint Laurent đã thật sự chạm đến đỉnh cao nhất của thăng hoa tài khí lẫn danh vọng. Người ta nhìn thấy ông xuất hiện tại những câu lạc bộ xa xỉ nhất của Pháp cho đến New York, từ Regine’s cho chí Studio 54, say khướt và mụ mị bởi cocaine. Những khi không phải trực tiếp có mặt để kiểm soát công việc, ông luôn ở tại ngôi nhà thứ hai của mình tại Marrakech, Morocco, nơi tro thi hài ông ở lại, cùng lời hẹn với người tình, người đồng sự tri kỷ “gặp lại dưới những tán lá vườn Majorelle.”

Dòng hàng pret-a-porter của Yves Saint Laurent đã thật sự là một cuộc cách mạng cả về xu hướng sáng tạo trên toàn cảnh bức tranh thời trang thế giới, lẫn một cuộc cách mạng tài chính cho đế chế YSL. Giới phê bình hàn lâm không quan tâm đến, nhưng thị trường vồ vập lấy. Dần dà, nguồn lợi tức thu được từ những thứ thời trang hàng loạt này đã vượt trội hơn hẳn so với dòng haute couture chính thống của nhà Yves Saint Laurent. Mặc nhiên, với sức khỏe ngày càng tồi tệ của mình, áp lực thiết kế với mật độ 2 bộ sưu tập haute couture và 2 bộ pret-a-porter mỗi năm đã hút cạn sinh lực của ông và trở  nên quá tải. Điều  này càng khiến ông buông mình vào nghiện ngập như một giải pháp tức thời để vận động cùng áp lực công việc.

Những năm giữa thập niên 1980, đã có những thời gian, Yves hầu như không còn lê bước nổi để bước ra runway vào cuối buổi diễn, và phải có các người mẫu dìu ra. Sau show diễn bộ sưu tập pret-a-porter tại New York năm 1987, với những bộ jacket tổng trị giá lên tới 100 000 Mỹ kim chỉ vài ngày sau cuộc đại khủng hoảng Black Friday lịch sử của thị trường cổ phiếu, Yves Saint Laurent chính thức bước ra khỏi lãnh vực thiết kế trang phục may sẵn và giao lại toàn bộ trách nhiệm sáng tạo cho các trợ lý của mình. Các tín đồ vẫn tôn thờ nhãn hiệu, nhưng các nhà phê bình và giới truyền thông đã chớm nhận ra nét nhàm mòn nhạt nhẽo trong sự nối tiếp của dòng thời trang thương mại nhà YSL về sau.

Ngày thoái vị, ông nói “Mỗi người đều cần những bóng ma nghệ thuật để tồn tại. Tôi đã trải qua nỗi khiếp sợ của sự cô độc. Tôi đã có cho mình bạn bè anh em để du hí ngày đẹp trời, mà tôi gọi là “những kẻ xoa dịu”, và ma túy. Tôi đã biết đến trầm cảm vây khốn và ngục tù quân y. Rồi một ngày, tôi đi xuyên qua tất cả, trong giác ngộ bất ngờ nhưng thăng bằng tĩnh tại.”

Dưới tán lá vườn Majorelle

Vốn dĩ là một tay maverick bạo động chính hiệu, kẻ khuấy động nên những cơn đại địa chấn thời trang và bình yên đặt mình ngay vùng tâm bão.

Nhưng bản thân ngài Saint Laurent lại cho rằng mình là kẻ tin vào thuyết tiến hóa hơn là một nhà cải cách vô bổ – điều này là lí lẽ của ông cho sự chấp nhận ồn ào của thế giới dành cho những phụ nữ mặc quần. Điều thiết yếu đã xảy ra, những quý bà rồi sẽ tò mò lần đến tủ quần áo nam giới, và Yves Saint Larent đã đơn thuần là người hùng đến sớm, kẻ đầu tiên, trước bất kì ai khác, lạnh lùng cầm kéo và cho một nhát xoén bạo liệt xẻ dọc chiếc váy quý bà. Rồi nhún vai, tay lãng tử tóc vàng tuyên bố rằng một nữ nhân sành điệu chỉ cần một cặp quần, một chiếc áo sweater và một áo khoác đi mưa!