vọng Sài-gòn

Tôi nhớ hoài một đêm thứ Bảy đang bát phố lòng vòng Sài gòn Chợ lớn, anh bạn tôi bỗng thốt lên “Giá mà giờ rủ nhau chui vô rạp coi cải lương thì mới đã đời!”

Câu nói vu vơ khiến tôi cũng thốt chùng lòng: đêm thứ Bảy giữa trung tâm Sài gòn, muốn tìm nghe một câu vọng cổ, coi một lớp tuồng mà rọi đuốc kiếm không ra!

Sài Gòn ở hai phía rèm nhung

Có lẽ từ thời những ban hát miền Lục tỉnh dạt về đây, nương theo bất cứ nơi nào lưu dấu chân khai khẩn mà dựng rạp sắm tuồng, nơi những bản tài tử, những bài vọng cổ được kết chuỗi thành lớp lang với đủ đầy kịch tính mà thành những kịch bản trọn vẹn, từ hương xa, đường rừng, cho tới tuồng tâm lí xã hội với đào kép ăn bận phấn sáp kiểu tân thời, dáng điệu lịch duyệt đời thường chứ không còn lối ra bộ cường điệu của tuồng tích cổ trang, hát bội.

rạp cải lương 3

Cải lương từ đó, là món nhắm tinh thần khoái khẩu của thị dân Sài Gòn, thú thưởng ngoạn cho mọi giới từ mặc khách tới bình dân. Đầy đủ chuyện giựt gân, diễm tình, những gã cướp rừng xanh đậm máu giang hồ tứ chiếng, tới câu chuyện đời mấy cô gái bán bar, chuyện nghĩa hiệp đường rừng, tới Lữ Bố mang khẩu khí giang hồ Cầu Muối và thứ tiếng lóng vỉa hè đặc trưng.

Dân Sài Gòn dễ bị chọc cười mà cũng dễ bị chọc cho khóc. Cải lương có hết, với miếng hài miếng bi đan lẫn như hai bức mặt nạ khóc cười đã từ lâu thành “logo” nhận biết của thế giới rèm nhung.

Dân Sài Gòn ham thói hiếu kỳ trước những điều mới, thì cải lương có tân cổ giao duyên, có kích động nhạc xập xòe, có đờn Hạ Uy Di, kèn tây và những bản tuồng hương xa mang âm hưởng ngoại quốc dù Cao Miên hay tiểu thuyết kinh điển Pháp. Từ tuồng dã sử nước nhà cho tới những pha đấu kiếm như chưởng Hương Cảng, đủ pha lộn mèo, tọt gươm vô nách chết dãy lâm sàng mà vẫn nấc ặc ặc trọn sáu câu, xuống xề mới chịu lăn ra chết (tới đoạn này giấy tiền được kẹp vô quạt chọi lên sân khấu rần rần, “tử sĩ” lóp ngóp dậy gom tiền gom quạt, cúi đầu chào tạ rồi vô cánh gà mới chia nhau).

đào kép 4

Cho tới tận mấy năm đầu thập niên 80, vẫn còn lác đác vài nhà hát cải lương hoạt động, áp-phích vẽ tay trưng lộng lẫy lừng. Người ta bu quanh mấy sạp thuốc trước rạp mua xá-xị bỏ bịch và quạt bóng kiếng, còn khăn tay thì thời này chưa xài khăn giấy, mỗi bà mỗi cô đều thủ chiếc mouchoir điệu đà để chậm nước mắt.

Người ta vô rạp, mê mẩn coi đào kép sắm vai, hả hê cười khóc những khóc cười mà bi hài của cuộc mưu sinh thường nhật trở nên quá trần tục, tầm thường. Thị dân cần những vở tuồng, những làn hơi cải lương mùi mẫn như những cuốn tiểu thuyết diễm tình vẽ bìa sặc sỡ để thêm thắt vào bữa tiệc đời chút món nhắm đưa cay. Điều này tới giờ vẫn nhìn thấy được qua lượt coi những phim truyền hình kiểu soap opera nội hóa dành cho các bà nội trợ và mấy chị tiểu thương.

đào kép 3

Về sau, tức là vào thời tôi lớn lên, những năm 80, khi trường phái bi lụy diễm tình bị lên án, dân Sài Gòn có món nhắm thoại kịch tươi vui, đời thường hơn với Trong Nhà Ngoài Phố mỗi tối thứ Năm, cải lương đen trắng vào tối thứ Bảy có cô Thanh Nga diễn Bên Cầu Dệt Lụa, cô Bạch Tuyết đi Âu châu diễn Đời Cô Lựu làm người hải ngoại khóc rần rần…Kì đó, cải lương Sài Gòn lại “thất thoát” thêm một Thành Được…

Rồi người ta vô rạp thưa dần.

thanh nga 2

Những hấp hối vô danh

Những rạp hát cuối cùng của Sài Gòn đã hấp hối và diễn những xuất hát cuối cùng ra sao, ngay cả người Sài Gòn cũng không biết, mà cũng không được các sử gia bận rộn lưu tâm ghi nhận.

Có lẽ rạp cuối cùng hoạt động đã là trụ sở của đoàn ca múa nhạc Bông Sen ở đường Nguyễn Thái Bình, đoạn Lê Công Kiều ngó qua, ngay gần tiệm cơm Âu Thiên Nam. Hồi Tết đâu như năm 2011 hay 2012, tôi có thử hỏi mua vé xuất diễn nào gần nhất, người bán vé uể oải thở dài yêu cầu tôi để lại số liên lạc đặng khi nào đủ vé coi mới dựng tuồng sắm vở.

Họ không bao giờ gọi lại cho tôi nữa, vài tháng sau nghe đâu đóng cửa luôn.

Kênh truyền hình giờ nhiều lắm, phát hình thâu đêm thấu sáng. Chẳng còn những bà mẹ nô nức dọn cơm rồi hò tụi con nít tắm rửa thơm tho từ sớm để cùng chờ coi cải lương truyền hình.

Từ “cải lương” thành thứ tính từ giễu nhại, dùng để chỉ những gì lòe loẹt hay hủ lậu quê mùa. Vậy mà cách chưa đầy thế kỷ, Trung Trực đã viết trên tờ Lục Tỉnh Tân Văn rằng “…nên làm những việc chi hễ bịa vào tiếng nói cải lương được, thì trong trí vẫn trộm tưởng rằng việc ấy đã thập phần hoàn mỹ…”

Vậy mới thấy mặt trở trớ trêu giữa những giai kỳ.

Chỉ đôi chục năm về trước, có mấy ai ngờ có ngày người Việt kém chữ Việt đớn đau tới nỗi vĩnh viễn đánh mất nghĩa hiếu tri và canh tân tốt đẹp của hai âm tiết “cải lương”.

đào kép 1

Như tôi và anh bạn nọ, tội tình thay giữa đêm thứ Bảy Sài Gòn, lòng thèm nghe câu vọng cổ mà rọi đuốc kiếm không ra, nao nao ngỡ mình đang đi lạc.

Chỉ đôi dịp đi du hí miền Tây, buồn não ruột mở đài Trà Vinh lên coi chơi, nghe bản tân cổ đời đầu của làn hơi Lệ Thủy, thiếu điều muốn nấc lên vì nhớ.

lệ thủy

Tiếng nấc Trụ Vương giữa đêm bão thị thành

Tôi sửa soạn quần áo chỉnh tề, dùng cơm sớm rồi khoác tay chồng đi coi hát – than ôi, đó đã từng là một điển lễ không quá xa hoa của nếp sống thị dân Sài gòn không lâu về trước! Không rạp không rèm, cũng không trống kèn cờ quạt, phòng trà Tiếng Xưa trên đường Trần Hưng Đạo hiu hắt đêm thứ Năm, chỉ vài bước cách rạp Nguyễn Văn Hảo thuở nào, với đêm diễn kinh hoàng của đoàn Kim Thoa, vở Lấp Sông Gianh. Một mảnh lựu đạn xuất hát đẫm máu vẫn còn ghim trong cơ thể đào Thiên Kim tới tận bây giờ…

CREATOR: gd-jpeg v1.0 (using IJG JPEG v62), quality = 70

Bây giờ thì rạp Nguyễn Văn Hảo xưa tổ chức diễn hài, có loa phóng thanh và các cô PG đứng giữa đường phát tờ bướm. Còn nơi đây, chỉ cách vài bước, một mầm phục hưng yếu ớt của cải lương đang thoi thóp quẫy cựa trong khung cảnh một phòng trà.

Là phòng trà “ruột” của dân chuộng bolero, cũng là điểm tái ngộ của những ca sĩ hàng thượng thặng Sài Gòn xưa giờ đã ra hải ngoại, từ hồi còn “cát cứ” ở quận 10, Tiếng Xưa trở thành một góc lui tới đặc biệt của Sài Gòn, với lối trang trí sân khấu tuy thô sơ nhưng mang hơi hướm Sài Gòn 60’s, ban nhạc với những bản phối cũ và những đêm tái ngộ tưởng như có thể làm sống lại hàng chục năm đã từng bôi xóa.

Chỉ mới dời về khu trung tâm gần đây, án ngữ cửa ngõ ráp ranh Sài Gòn – Chợ Lớn, dù với khán phòng lịch sự hơn, cùng những ngôi sao hải ngoại không ngừng xuất hiện, nhưng có vẻ việc gián đoạn, di dời đã khiến những khách cũ không còn tìm tới xôm tụ như ngày nào.

Những đêm thứ Năm đặc thù phong vị giải trí kiểu Sài Gòn xưa với những ngôi sao cải lương cũ mới kiểu này là một đêm trong cả tuần hoạt động, cặp chủ nhân phòng trà chọn thực hiện như một lối “trả nghĩa” lại cho các nghệ sĩ vang bóng một thời. Nói là trả nghĩa bởi khi tôi tới, chỉ có lác đác vài bàn có khách.

Cặp nghệ sĩ trẻ diễn một trích đoạn tuồng Lữ Bố. Từng đường phấn sáp vẫn mang hơi hướm lối vẽ mặt tuồng, cặp “râu tôm” nghễu nghện quết tới trần nhà, rạch ròi từng ngón ra bộ, từng ý tứ lẳng lơ cụp lạc đầy ước lệ của lớp tuồng trứ danh.

Chồng tôi là người Bắc, có lẽ đây là lần đầu tiên được coi tuồng, dù chỉ một trích đoạn nhỏ trên bục diễn phòng trà, cũng đủ choáng ngợp bởi ánh mắt quắc lên của tay dõng tướng đa tình, hay những lẳng lơ bắt nhả của nàng Điêu Thuyền hàng hậu duệ. Trong một khoảnh khắc, người ta không thở nữa, mải mê ngắm nghía ngón nghề điêu luyện, lòng rộn theo tiếng nhạc khí phát ra từ dàn máy mà tưởng như sống lại cả một ban đờn.

Tôi đến để được tái ngộ và nghe giọng ca Đệ nhất Đào thương – sầu nữ Út Bạch Lan, nhưng bất ngờ hơn nữa, khi lớp trích đoạn rút vào hậu đài, một người đàn bà lớn tuổi chập chững bước ra sân khấu. Khuôn mặt bị biến dạng bởi tháng năm đã không nhắc nhớ được gì, cho tới khi khúc vọng cổ cất lên bi tráng:

…Trời ơi đám tôi trung đã phản Trụ đầu Châu kéo binh về vấn tội. Trong khi hoàng hậu Tô Nương lại bỏ ta sớm vội…bôn…đào…Lần đầu tiên, trẫm để cho suối lệ tuôn trào…

Đệ nhất Đào võ Diệu Hiền!

Có lẽ chưa người đàn bà nào cất tiếng nấc Trụ Vương tài tình hơn như vậy, đòn tay ra bộ điệu nghệ xuất thần, còn ánh mắt chợt thoắt tinh anh nộ khí vị hôn quân thất trận.

Đã có lần tôi may mắn được tài tử cine Trần Quang diễn lại cho coi một trích đoạn vai Trụ Vương trong vở diễn tốt nghiệp của ông tại trường Kịch nghệ. Nhưng nếu cái gian hùng ngạo nghễ trong Trụ Vương – thoại kịch của ảnh đế cine Sài gòn năm ấy đầy tính hàn lâm trong từng nếp nhăn khóe mắt, với ánh nhìn lạc thần của cơn cuồng khấu hung tàn và đài từ như tiếng chuông đồng ngạo nghễ, thì Trụ Vương qua làn hơi vọng cổ đàn bà lại khiến người ta run rẩy trước một thần lực tôn nghiêm, trong Cái Đẹp của tận cùng Cái Ác.

Người ta quên cả người đào hát đã về già trước mặt, khi nét uy nghiêm hằn dấu sát khí hung tàn mà vẫn bi lụy cất tiếng ca nghe buốt can tràng kẻ kiêu binh thất trận.

Tôi ngồi bật dậy khỏi chiếc ghế dựa, như không tin được ngần ấy uy lực tinh anh vẫn phát tiết ngời ngời từ cuống họng, lồng ngực cô đào từng một thời làm điên đảo khán trường cải lương của Sài Gòn hoa lệ.

diệu hiền

Mong manh nhành lan trắng giữa đêm mộng phục hưng

Hết Trụ Vương Thiêu Mình, người ta lại chao đảo sau nhịp ngựa hối hả với tiếng kêu thống thiết giữa pháp trường “hãy để anh can phần đừng giết oan một trang hào kiệt, nghe lời anh đình thủ bớ La…Thành…”, rồi dẫu có nghe lại một vạn lần bản Tần Quỳnh Khóc Bạn, người nghe vẫn rưng rưng theo từng ngón tay cô đào dừng lại, lẩy bẩy giữa không trung và làn hơi tắc nghẹn “Thôi rồi một lưỡi gươm đưa đã dứt mạng anh hùng…”

Hai bản ca trứ danh của bậc thầy Viễn Châu vừa dứt, đào Diệu Hiền lại trở về trong hình mạo người đàn bà bé nhỏ, chập choạng cúi chào khán phòng vắng ngắt, chập choạng tựa vào cánh tay dìu bước rời sân khấu trong tiếng tung hô tuy mỏng nhưng da diết không muốn ngừng.

Không chỉ là một đêm phủ phê thịnh soạn với đào võ Diệu Hiền, mà người ta còn được khoản đãi giọng tình mùi mẫn của Sầu Nữ Út Bạch Lan với những bài bản bất hủ, khuôn diện đăm chiêu nhưng thanh thoát, xứng tầm tàn dư nhan sắc một Đệ nhất Đào thương.

út lan 1

Nhưng vượt trên tất cả còn là lòng xót xa của chính từng người thưởng lãm những ánh hào quang muộn mằn sau cuối của hai bà hoàng sân khấu ấy, đó là những suy tàn của thời gian đã hiển hiện lồ lộ, lòng áy náy không tránh khỏi khi phải bất lực ngồi đó, nhìn những tượng đài cao niên vẫn phải dìu nhau đến từng đêm hát hiếm hoi bởi cuộc mưu sinh thường nhật, hay dẫu bởi ơn gọi mỏi mòn của nghề ca xướng. Họ vẫn dìu nhau đến, hóa thân bà chúa ông hoàng, nơi một ánh đèn leo lét nhất, một khán phòng thưa thớt cũng làm nên cả một di tích thành đường quý báu cho những hồi ức vãn thời.

út lan 3.jpg

Chúng tôi tiếc rẻ ra về, đi một đoạn sau hai cô đào một thời vang bóng, nay chỉ là hai cái bóng cập rập liêu xiêu dựa vào nhau, dắt díu từng bước ra khỏi vùng tối phòng trà.

Khán giả ngày nay cũng đánh mất thói quen tụ tập trước cổng rạp chờ chiêm ngưỡng đào kép ra về. Chắc trong đời hát xướng của hai người đàn bà tài hoa đó, đây là một trong những buổi vãn hát đìu hiu nhất.

Họ chỉ có nhau.

Chồng tôi có hỏi “Vì sao cải lương Sài Gòn biến mất?” Tôi không có được câu trả lời. Chỉ biết rằng ngày nay, người ta không trốn nhà mải miết theo ghe bầu gánh hát để ăn xin cơm tổ nên không được học đức khiêm nhu từ các tiền bối, không được dạy dỗ bởi các thầy đờn. Họ thi thố học hành trong những học viện chính quy, ra sức canh tân hai nghĩa “cải lương” và “vọng cổ” bằng phục trang dã sử Tàu lai trên những bản tuồng nghèo ca từ mà giàu tính tư tưởng. Thời của hoa và lệ, của những soạn giả hàng Hà Triều Hoa Phượng đã qua đi không hậu duệ, bởi những bài bản Viễn Châu hoa mỹ đã không còn dễ hiểu dễ nghe so với ca từ hoặc mang tính khẩu hiệu, hoặc nặng mùi sáo ngữ. Mà có lẽ cũng bởi ngày nay, ở những trường lớp dạy nghề ca diễn, người ta hình như cũng không dạy ra các thầy tuồng.

Trong một cuộc phỏng vấn, Cô Út đã từng thật thà nói “Mộng lớn của tôi bây giờ là dựng lại được một nhà hát thiệt đàng hoàng. Có nghệ sĩ vẽ cảnh trí, có máy vi âm thả dòng từ nóc rạp như hồi xưa, chứ ca ra bộ mà tay cầm mic phòng trà thật khổ cho mấy cháu, mấy em…”

Đêm đó, cơn bão hiếm hoi tạt ngang thành thị, gió giật và mưa tầm tã. Giữa cơn mưa xối vần vũ trên những nóc gia đã say ngủ, tôi vẫn còn nghe văng vẳng bên tai làn hơi sầu nữ không chút tì vết thời cuộc, nhưng đã nhuốm hơi hướm tủi thân nghiệp mệnh xướng ca:

“Đêm nay mưa gió ngập trời,

Hỏi ai còn nhớ một người tên Lan…”

út lan 4.jpg

(bài viết đã sử dụng bởi tạp chí Người Đô-thị)

huyền sử tài nữ Paris

Trác Thúy Miêu

reutlinger-studio-postcard-depicting-the-dancer-cleo-de-merode-1875-1966

Nàng là gái Paris chánh hiệu, dù có một số tư liệu cho rằng nàng tên thật là Hortense Gervais sinh trưởng tại vùng Bordeaux hay Biarritz. Sinh ra dưới cung Thiên Bình, Cleopatra Diane de Merode còn là ‘con gái Vệ-nữ thần’ dựa trên tín ngưỡng chiêm tinh phương Tây, khiến nàng được bảo đảm đủ mọi ưu chất tài hoa, phong tư kiều mị, nhưng trên hết là tư duy sùng bái Cái Đẹp cùng lòng kiêu hãnh của một trang anh thư dòng dõi trâm anh thứ thiệt, con gái họa sĩ phong cảnh và một cựu diễn viên người Áo. Cha cô, Karl von Merode tự nhận mình là nam tước Freiherr von Merode đến từ một dòng dõi cổ kính tại Bỉ.

Và đây chỉ mới là lần đầu tiên số mệnh lắm khuất tất của nàng liên quan đến vương quốc này.

images (5)

Scandal đầu tiên: Màn thoát y bất đắc dĩ 

Bé Lulu, theo cách gọi âu yếm của song thân dành cho nàng, sớm hé lộ thiên hướng nghệ thuật, được gửi đến học viện Paris Opera Ballet từ lúc 7 tuổi. Và khi mới 11 tuổi, cô bé có mớ tóc mây xoăn tít đã có buổi ra mắt đầu đời trên sàn diễn danh giá của kinh đô hoa lệ.

Tất cả đã hứa hẹn một nghiệp lộ lẫy lừng cho một tượng đài nghệ thuật chuyên chính – nếu như nhan sắc ma mị của nàng đã không mê hoặc cả châu Âu, làm mụ mị mọi họa sĩ, nhiếp ảnh gia, lẫn giới truyền thông lúc bấy giờ, vượt xa tài hoa của đôi chân vũ nữ.

Người ta định danh nàng chính là hình mẫu đầu tiên của khái niệm celebrity trên thế giới – nơi mà phong mạo trội bật, thị hiếu thẩm mỹ cầu kỳ và những cuộc tình lâm ly có thể mang thứ hào quang lấn át cả tinh hoa tài khí.

13 tuổi, tiểu thần nữ Cleo đã là nàng thơ phía sau những họa phẩm bậc thầy của Jean-louis Forain và Edgar Degas. Ba năm sau, nàng đã vang danh khắp kinh đô Paris với mái tóc sơn nữ rối bồng bềnh, chẻ chuẩn chu giữa vầng trán Đồng Trinh, viền bằng những vành xuyến đính đá óng ánh, xổ tràn xuống tận vòng eo không tưởng, dệt thành một chiếc khăn shawl đầy đặn lăn tăn sóng tóc. Người ta ghi dấu dung nhan nàng trên mọi tấm bưu thiếp, cỗ bài và các bích chương quảng cáo. Mái tóc sơn nữ và đôi mắt yêu tinh trong như ngọc của Cleo trở thành một mẫu mực về nhan sắc đàn bà đầu thế kỷ 20, dẫn lối cho những nếp tóc xoăn, mắt mơ viền chì và những đôi môi bé xíu như đinh ghim của Kỷ Ngây Thơ 20’s, với các dải băng trang kim trên tóc, điệu vũ chanson phóng đãng và những chuỗi cườm tung tẩy trên váy flapper.

14cd606ffe2997d6bb58b37f0a020bb6

Nàng được cưng chiều, săn đón, ái mộ khắp nơi, và nghiễm nhiên trở thành giai nhân được chụp và họa hình nhiều nhất trên toàn nước Pháp, mà người ta còn cho là trên cả châu Âu.  Cleo trở thành nàng thơ hiển hiện qua rất nhiều tuyệt phẩm của các danh họa bậc thầy cùng thời cho đến nay vẫn được lưu truyền, làm nên một định hình bất hủ của “thẩm mỹ tiền showbiz” đầu thế kỷ trước.

1d3a0b449b4bcad1e4f7021e22f261d6Alfredo Muller, 1869-1939, cleo de m etching c.903Boldini cleobab59a8a7d7bc63c49eca18d3d2fcdb4

Portrait of Cléo de Mérode Georges Jules Victor Clairin (Fr843-919)

Danh họa người Áo Gustav Klimt cũng từng là một nạn nhân chung của cơn sốt Cleo. Nàng xuất hiện rất nhiều trong các tuyệt phẩm ma mị của ông, và về sau, bộ phim mang tên Klimt năm 2006 còn hiển hiện ít nhiều câu chuyện của danh họa và nàng vũ nữ Pháp qua nhân vật “Lea de Castro”.

Năm 1895, Toulouse-Lautrec vẽ chân dung Cleo. Năm tiếp theo, đến lượt nhà điêu khắc Alexandre Falguière rơi vào cơn sốt Cleo, làm nên cả một cuộc náo loạn nhỏ tại Paris Salon khi ông vén tấm trướng che trên tác phẩm mới của mình, phô bày bức tượng Cleo khỏa thân đầy mê đắm. Bản thân nàng thơ yêu kiều cũng bị chấn động trước phiên bản trần truồng mỹ diệu của mình. Trong bức thơ gửi chủ biên tờ Le Gaulois, nàng tha thiết phủ nhận mọi tin đồn rằng Falguiere đã sáng tác dựa trên mẫu thật: “Rất mong ông vui lòng đính chánh lại cùng độc giả của quý báo rằng tôi không hề là người mẫu nguyên bản cho bức tượng của ông M.Falguiere, sự khác biệt có thể được minh chứng nếu lưu ý quan sát đầu của bức tượng”.

họa phẩm Cleo in the Salon của Carlos Vasquez y Obeda minh thuật lại scandal đầu tiên của nàng với bức tượng khỏa thân

Nhưng hẳn nhiên, không ai quan tâm đến cái đầu của bức tượng Cleo khỏa thân cả!

Sau biến cố đình đám này, nàng rút lui khỏi vùng hào quang danh vọng lẫn ánh đèn sân khấu, với lời giải thích là do nỗi lúng túng khổ sở khi chịu đựng những ánh nhìn lia khắp châu thân nàng và liên tưởng đến “bức tượng trần trụi kì khôi nọ”.

Bức tượng định mệnh The Dancer của Alexander Falguiere hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Musée d’Orsay.

garv_07b

Người đẹp bịt tai và lịch sử mốt tóc chignon

Sau vụ “bảo vệ môi trường” bất đắc dĩ, thị dân Paris háu tin vẫn có cách xoay sở để sản sinh thêm những tin đồn khi nàng vắng mặt, và ‘tác phẩm’ tin đồn mới nhất của họ khi này là nhưng lời xì xầm độc mồm rằng người đẹp de Merode trên thực tế không có… tai! Sự thể bắt đầu từ mốt tóc chignon của Cleo, với mái tóc dày che phủ hai bên khuôn mặt búi lại phía sau.

images (1)

Quả là một mánh khóe thần sầu, vì ngay sau đó nàng Cleo tội nghiệp buộc lòng phải tái xuất trở lại hòng minh chứng sự tồn tại đầy đủ của các cơ quan nghe nhìn trên cơ thể mình. Cuống quýt đối đầu với tin đồn quái gở, nàng xuất hiện ở khắp mọi nơi, tại nhà hát, đi dạo miệt mài trên các phố lớn trung tâm, ngược xuống Bois, tóc xõa được vén cao, lộ rõ một đôi tai đăng đối bình thường như hàng vạn đôi tai thị dân háu chuyện khác. Và từ đó, mọi quý bà quý cô Paris hoa lệ đều nhất loạt bới đầu theo kiểu tóc chignon. Mốt này về sau kéo dài đến cực thịnh vào những năm 1920.

images (8)

Tình lang phiền toái và kỳ tích ballet bị lãng quên

Tuyệt nhiên, những biến cố ngoạn mục này không hề làm phương hại đến danh tiếng Cleo, mà trái lại, như hệ quả tất yếu của mọi cơn sóng của sắc màu dư luận, Cleo càng sở hữu một hấp lực khó cưỡng đối với sự hiếu kỳ của công chúng. Nói ngắn gọn lại là nàng nổi như cồn.

Vào cuối năm 1895, một sự kiện lẫy lừng đã xảy ra, kết thúc đầy cao trào cho một năm đầy ngoạn mục và ám ảnh phần số Cleo mãi về sau. Vua nước Bỉ, hoàng đế Leopold Đệ Nhị, vốn là một tay hào hoa khét tiếng, tuyên bố mượn dịp công du thương lượng về quyền lợi thuộc địa để đến kinh đô hoa lệ và thân chinh khám phá sự thật về tiếng tăm tài sắc giai nhân trứ danh Cleo de Merode trong một buổi diễn của nàng. Nhiều tư liệu lẫn tin đồn thị dân thời bấy giờ cho rằng vũ đoàn nhà hát nhạc vũ kịch Paris chính là đại bản doanh thanh lâu hạng sang trên đỉnh thượng lưu của một Paris phóng đãng. Giới săn tin mau mắn đúc kết một mối tương quan giữa thói hào hoa của vị quân vương ngoại quốc và nhan sắc của nàng vũ công đang gây sốt toàn thành.

images (9)

Khắp kinh thành Paris, trong mọi phòng trà lẫn phòng the, người ta hau háu truyền tụng những tình tiết lâm li lẫn dung tục về mối dan díu giữa nàng kỹ nữ vang danh 22 tuổi và vị khách làng chơi vương giả hơn nàng ngót nghét 40 niên. Người ta nói rằng Cleo chính thức trở thành gái bao hạng sang, món đồ chơi ưa thích mới của vị quân vương phong tình, người ta trầm trồ truyền tụng về những món quà sang trọng nàng được dâng tặng, về toa riêng đặc biệt được thiết kế riêng cho Cleo và lắp thêm vào đoàn hỏa xa hoàng gia Bỉ để nàng tháp tùng nhà vua trên đường kinh lý. Họ, rất rất lâu trước khi Brat Pitt và Jolie trở thành Bragelina, được gọi chung bằng một cái tên sặc mùi showbiz: Cleopold!

Kin Leopold and Cleo De Merode taken from the Taschen book Art Nouveau

Trên thực tế, cho đến tận thời điểm này, Cleo vẫn chịu sự giám sát khắc nghiệt của thân mẫu. Bà cựu minh tinh cùng con gái kiên quyết phủ lập mọi tin đồn liên quan đến vị vua hoang đàng, khẳng định rằng thứ duy nhất nàng từng nhận của vị khán giả trứ danh này là những bó hoa hồng chúc mừng vào sau các buổi diễn. Các tòa báo vẫn nhiệt tình loan tiếp thông tin tỉ mỉ đến từng chi tiết về chuỗi ngọc trai trắng muốt được vị quân vương gửi tặng Cleo, và về căn hộ huy hoàng ngài dùng để cất giữ nhân tình. Trong khi đó, Cleo vẫn ngày ngày lên xuống 5 tầng lầu để đi về căn hộ nơi cô vẫn sống cùng mẹ như một con chiên Công giáo ngoan đạo. Tuy vậy, những lời quy buộc vẫn hấp dẫn đám đông hơn. Trò tiêu khiển lỗ nhĩ của đám thị dân háu chuyện đã đến hồi tai quái, Cleo đào tẩu khỏi Paris để đến St.Petersburg, nơi nàng rơi tiếp vào những tin đồn truyền khẩu về lòng ái mộ bất thường của các bậc vương tôn dưới thời Sa Đế. Những lời xì xầm truyền tụng, những tình tiết li kỳ và phóng túng đã trở nên ồn ào lấn lướt cả kỳ tích của lịch sử nghệ thuật múa ballet: nàng đã trở thành nữ vũ công ballet đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật múa diễn cùng bạn diễn nam là Rupert Doone tại nước Nga.

Cleo de Merode-10

Cleo lại trở về Paris để chứng kiến tiếng tăm của nàng đã lẫy lừng hơn gấp bội, tỉ lệ thuận với mức thù lao cho mỗi lần xuất hiện trên sân khấu. Khôn ngoan và chai sạn hơn rất nhiều sau những biến cố vừa trải, Cleo quyết xem đó là một cơ hội vàng. Nàng nhận một khoản thù lao khổng lồ để xuất hiện tại nhà hát hí kịch Folies Bergere – điều mà chưa vũ công ballet nào từng làm trước đây. Cleo ngạo nghễ xuất hiện và yêu kiều bước qua mọi đàm tiếu bằng đôi chân vũ nữ, điều này mang lại cho nàng một lượng khán giả ái mộ khổng lồ chưa từng có. Vài tháng sau, tờ The Éclair phát động cuộc bầu chọn ra người đàn bà đẹp nhất Paris. 130 tấm ảnh được trưng bày trong một gian phòng của bản doanh tờ báo cho mọi thị dân đến thưởng lãm và bình bầu. Cleo đoạt danh hiệu tuyệt sắc giai nhân với số phiếu bầu gần một nửa trên 7000 phiếu bầu.

cleo11_2

Cho đến tận bây giờ, mối dan díu với hoàng đế Leopold vẫn là scandal được nhiều người truyền tụng nhất, làm nên vầng hào quang về tiếng tăm bậc nhan sắc đã ra người thiên cổ. Thám tử đặc vụ Xavier Paoli đã gặp gỡ với Cleo sau khi tin về mối tình vụng trộm đã kịp lan truyền khắp nơi. Ông ghi chép lại trong hồi ký mình, chứng thực lời tạ lỗi của đích thân nhà vua Bỉ: “Cho phép tôi thể hiện lòng thành tâm ân hận, bởi những quy buộc nhân gian dành cho tôi đã làm thương tổn danh phẩm quý cô. Than ôi, chúng ta đã không còn được sống trong thời cuộc nơi mà lòng ái mộ của một vị quân vương không hề là một tai họa! Cuối cùng, tôi chỉ là một ông vua quèn” (nguyên văn: I am only a little king)

Kỹ nghệ lancée của thần nữ Nam Vang trên giọng đờn Gia Định

2 năm sau biến cố bức tượng khỏa thân và tin đồn… không tai, cùng mẹ và người quản lí tiệm hí kịch Folies Bergere, khi này cũng là người đại diện của nàng, cùng 9 rương tư trang và một chú chó cưng, Cleo đến Tân Thế Giới lưu diễn trong suốt một tháng tại Nữu Ước.

Mặc dù trước đó, cả một chiến dịch lót đường cho người đẹp Pháp đã được tiến hành, với những bưu thiếp mang hình ảnh của nàng được bày bán khắp mọi quầy báo, nhưng chuyến lưu diễn đã không thành công như kì vọng. Giới truyền thông ghẻ lạnh trong những bài bình luận hờ hững đầy mai mỉa, ca tụng nhan sắc người đẹp Paris nhưng miệt thị vũ đạo cũng như diễn xuất của nàng. Vào ngày Cleo ngán ngẩm rời Hoa Kỳ, tờ Boston Globe bồi thêm một cú tiễn biệt bằng việc gọi nàng với hỗn danh “The Frost” theo lối chơi chữ quái ác, vừa có nghĩa là “đóng băng”, vừa mang nghĩa lóng lối Mỹ là “thất trận”. Mặc nhiên, Cleo tái xuất Paris, rủng rỉnh 9,000 Mỹ kim thù lao từ chuyến lưu diễn, tức là gấp 40 lần thu nhập hàng tháng của chính nàng tại Paris.

Năm 1899, thân mẫu Cleo qua đời, cũng là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành hoàn toàn cho bản lãnh Cleo. Nàng trở thành một nữ thương gia thực thụ biết khai thác hình ảnh và tiếng tăm bản thân ở mức tuyệt nghệ. Nàng tỏ ra nhã nhặn và lịch lãm trong mọi cuộc phỏng vấn, và khéo léo điều khiển báo giới lẫn dư luận và tình cảm công chúng theo hướng có lợi nhất. Các phóng viên được vời tới có mặt tại các cuộc họp giữa nàng và ban giám đốc nhà hát, cho phép họ tiến sâu vào quan sát hậu đài kì thú của công nghệ giải trí Paris,  nơi nàng thi triển mọi tinh hoa tài khí ở cả tư cách diễn viên lẫn trong mưu lược cổ xúy danh tiếng cá nhân. Những lúc nhàn rỗi, Cleo chơi dương cầm (nàng được biết là một cầm thủ hàng cự phách dù không bao giờ chơi đàn trước công chúng) hoặc đạp xe rong ruổi những ngõ đường vắng vẻ ở ngoại ô Paris.

be0d5f7d3ea49aca71cae05a3025f96a

Trong những năm tiếp theo, Cleo thật sự trở nên một danh tiếng minh tinh ca vũ tầm quốc tế, nàng lưu diễn xuyên lục địa và nhiều lần danh giá tái xuất Hoa Kỳ. Vua Xiêm Chulalenghorn khi đến Paris đã được nàng ưu ái dàn dựng riêng một chương trình nghênh đón, bản thân Cleo xuất hiện trong bộ phục trang diễm lệ theo lối hương xa, mình dát vàng, kim miện có chóp nhọn như các thần nữ trong tín ngưỡng Đông phương. Nàng uyển chuyển múa theo lối truyền thống của vương quốc Xiêm nhưng được thêm thắt cải tân bằng phong cách Parisian chánh hiệu.

06879ede34d09fac62db63aef68dc96b

Buổi diễn được hoan nghênh rầm rộ, công chúng Âu châu nức lòng trước vẻ đẹp hương xa khi được thể hiện trên trang tuyệt sắc Paris, sự pha trộn kì diệu giữa đôi mắt như cặp ngọc lưu ly đặc thù của người phương Tây, mớ tóc digan dầy dặn xõa dài trong phục trang Đông phương lạ mắt. Từ đó, Cleo liên tiếp ra mắt công chúng trong những màn múa mang âm hưởng Á đông, trong các bộ trang phục từ Cao miên đến Chà và và luôn được nức lòng ái mộ như một sứ thần thân thiện sau cách sách lược chánh trị hảo hữu của chánh quyền Phú Lang Sa.

60cf680627cf61368e153e7a4c60f3c0

Năm 1900, người ta cho vời ban đờn An nam đến Paris phô diễn nét văn hóa của quốc gia thuộc địa. Để thu hút công chúng và sự quan tâm của truyền thông, nữ hoàng nhảy múa de Merode được mời xuất hiện biểu diễn trên nền nhạc tài tử An Nam. Nàng xuất hiện trong những món trang sức theo lối cung đình Nam Vang và diễn tấu một vũ kịch truyền thuyết được cho là của người Chà Và, khi này được người chánh quốc lờ mờ coi là một nền văn minh Đông Dương nhất thống. Màn diễn tấu được đặt tên là Vũ Khúc Đông Dương dù sai trệch với tinh thần văn hóa An Nam nhưng lại tình cờ phối hợp mượt mà hơi hướm Cao Miên trên giọng đờn của ban tài tử Gia Định, và sự xuất hiện của Cleo đã khiến buổi diễn nổi tiếng đến mức nhà nước Phú Lang Sa chọn in hình trên con tem lưu hành khi ấy. Đây cũng là cơ duyên cho các nhà nghiên cứu về sau tìm lại bản ký âm thất truyền của bài đờn huyền thoại.

play-it-again

1 franc cho thanh danh thần nữ chốn hoàng tuyền

Tháng Sáu 1902, trên đỉnh vinh quang của các tiết mục múa mang màu sắc phương Đông, Cleo đến Anh quốc lần đầu, với trình mục gồm toàn bộ các bài diễn đa chủng đình đám của mình trong đợt lưu diễn kéo dài 2 tuần liền tại nhà hát Alhambra Luân-đôn gồm các điệu vũ âm hưởng Boheme, Hi lạp, Y pha nho và Cao miên. Năm 1904, khi lưu diễn tại Thụy điển, Nam tư, Đan mạch, và đặc biệt ghi điểm lẫy lừng tại Stockholm với những đám đông ái mộ nô nức tụ tập trước rạp diễn phong tỏa mọi con đường chỉ để nhìn tận mặt giai nhân. Hồi hương sau chuyến lưu diễn ngây ngất, Cleo tung cho chủ biên tờ Figaro tất thảy 3000 bức thơ tình thu thập được từ chuyến đi. Rất nhiều trong số đó được chọn đăng tải dài kì trên nhật báo.

images (13)

Nhưng về sau, Cleo giảm dần mật độ lịch trình diễn. Mặc cho lợi nhuận và lòng ái mộ vẫn ngày lên cao, Cleo dần tỏ ra đặc biệt thích thú với điêu khắc – chính bộ môn nghệ thuật đã oái oăm ghi dấu ba đào vào số phận và sự nghiệp của nàng năm 1895. Nàng thư thái và tĩnh tại khi say sưa với những bức tượng nhỏ hình các vũ công, đàn chiên, con giống ngộ nghĩnh… Những món thủ công này đều được rao bán với giá khá đắt và mang lại cho Cleo một khoản thu nhập đáng kể.

Cleo vẫn thi thoảng tái xuất sàn diễn cho đến tận sau tuổi 50. Bà chuyển về sống trong một biệt thự ven biển vùng Biarritz mà nhiều tư liệu cho là cố hương của bà. Nơi đây, bà dạy múa cho trẻ em để khuây khỏa nỗi nhớ nghề cho đến tận tuổi 80.

Cleo 4

Ngay cả sau khi lui về ẩn dật, nghiệp mệnh nữ chúa tin đồn vẫn không buông bỏ Cleo. Năm 1950, nữ văn sĩ Simone de Beauvois, phu nhân nhà biên kịch và phê bình Jean-Paul Sartre tung ra cuốn Le Deuxieme Sexe viết về gái bao hạng sang, trong đó, bà Beauvois có nhắc lại những sủng ái đặc biệt của vua Leopold giành cho ‘ả điếm hoàng gia’ Cleo de Merode. Cuốn sách cũng nhắc lại giả thuyết xuất thân thôn dã của Cleo và gợi ý rằng rất có thể Cleo đã tự nhận theo dòng dõi thế phiệt de Merode để cổ xúy danh giá bản thân. Tức nước vỡ bờ, Cleo khởi kiện, đòi bà văn sĩ phải bồi thường 5 triệu franc mới nghe. Nàng vẻ vang thắng kiện, nhưng cũng chính trong quá trình nghị án, người ta nhận ra rằng nàng cũng chính là bàn tay đạo diễn phía sau rất nhiều tin đồn về bản thân mình trước đây. Do đó, tuy thắng kiện, nhưng Cleo chỉ được hưởng một franc cho các tổn thất tinh thần và quy định dỡ bỏ mọi thông tin thiếu cơ sở có thể gây phương hại đến nàng trong mọi ấn bản về sau của cuốn sách đình đám nọ.

Như những ngày đầu sự nghiệp đầy tăm tiếng, cuối cùng, Cleo de Merode trong cuộc ẩn dật cuối cùng vẫn là người đàn bà chạy đuổi theo những cuộc phân bua vô tận, nàng vẫn là cô vũ nữ viết lá thơ thanh minh với tòa báo, hoặc mỏi mòn trong những cuộc bát phố xuôi ngược phố lớn Paris để xõa tóc trưng bày một đôi tai trọn vẹn. Sau biến cố với vụ kiện bà Beauvois, năm 1955, Cleo phát hành tự truyện Le Ballet de mavie (tạm dịch Vũ Điệu Đời Tôi), như một lần cuối cùng giành quyền lên tiếng cho chính bản thân mình, để nói những gì nàng cho phép thế giới lắng nghe.

069fc4e06792e02ebddec797ae471d05

Cleo qua đời ngày 17 tháng 10 năm 1966, yên nghỉ tại nghĩa trang Père Lachaise. Phía trên mộ phần Cleo là bức tượng chính nàng đang khóc than thân mẫu.

Lúc còn sống, de Merode đã kết hôn nhưng không có con. Theo tin tức trên các báo chí trong suốt cuộc đời sự nghiệp của nàng, thì de Merode còn đính hôn trước đó vài lần, trong đó có một bá tước Nga, một triệu phú Hoa kỳ, công tước vùng Manchester (vì sau bị ngăn chận bởi bà ngoại của ông này), một điền chủ Pháp, M.Reldoyen, một quý tộc Ba lan, Sigismund Malensky, và bản thân hoàng đế Leopold đệ nhị, sau khi hoàng hậu Marie Henriette qua đời. Hẳn nhiên, các nguồn tin của báo chí thời đó vẫn hoàn toàn không có cơ sở chính xác, dựa trên các tiểu tiết mờ nhạt làm căn cứ. Từ phía bản thân, lúc sinh thời, Cleo chỉ thừa nhận 2 cuộc tình lâu bền nhưng thê lương, một người mắc bệnh thương hàn qua đời, và người thứ hai là một học giả và điêu khắc gia Y Pha Nho đã bỏ rơi nàng theo một người đàn bà khác. Nhưng danh tánh và chi tiết về 2 mối tình này cho đến nay vẫn là những bí mật nàng mang theo xuống tuyền đài.

Cleo_de_Merode_by_SUDOR

Tổ nghiệp Celebrity và sự im lặng cuối cùng

Năm 2012, 46 năm sau khi Cleo cuối cùng cũng về tới chốn ẩn dật sau cuối chốn hoàng tuyền, khi thế giới nàng bỏ lại sau lưng đã hoàn toàn bị chi phối bởi quyền lực truyền thông và thảm đỏ, Michael Garval trở thành nhà “showbiz học” khi xuất bản công trình chuyên khảo đầu tiên bằng Anh ngữ về hiện tượng ghi dấu sự trở mình của thị phi toàn nhân loại vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 qua hiện thân nữ thủy thần kiều mị, cuốn sách mang tên Cleo de Merode and the Rise of Modern Celebrity Culture (tạm dịch Cleo de Merode và Sự Trỗi Dậy Của Văn Hóa Người Nổi Tiếng). Garval đã ghi chép lại công trình nghiên cứu, phân tích của ông đến từng ngóc ngách xảo thuật lancée phía sau ánh hào quang của nhan sắc và phần số tài hoa, đánh dấu sự bắt đầu cho một nền kỹ nghệ thực thụ về sau của thế giới, nơi các nghệ sĩ chân chính trở thành các minh tinh.

Sẽ không ngoa nếu lịch sử nghệ thuật trình diễn và công nghệ lancée được chia ra thành giai kỳ tiền và hậu Cleo, một khi tiếng tăm của nàng làm nên một cú chuyển dòng toàn phần về khái niệm nổi tiếng, giá trị của hiệu ứng hình ảnh, yếu huyệt của truyền thông và quyền lực của những tin đồn. Công trình nghiên cứu của Gavral đi sâu vào phân tích những cuộc canh tân mang tính xã hội và công nghệ đã khiến thế giới đi đến hình thành một xã hội hiện đại được dẫn dắt bởi các vị lãnh tụ đỏng đảnh đầy thói tật của chính trường thảm đỏ. Trong đó, Merode chính là một trong các tượng đài tiên phong đầu tiên, giữa tâm bão ái mộ và trải thảm đỏ huy hoàng dưới những trận mưa đá được ném ra từ công luận trong suốt cuộc đời nàng.

74c8a6b3140b1ea2322f2760b4557310

Mặc dù trước Merode, nhân loại vẫn luôn có những trang nhan sắc khuynh thành, những cuộc dan díu vụng trộm éo le đi vào huyền thoại, nhưng bước ngoặt lịch sử khi loài người phát minh ra kỹ thuật in ấn và nhiếp ảnh đã tạo nên hình thái thô sơ nhưng đầy quyền lực của truyền thông và báo chí.

Chính những tấm bưu thiếp ghi lại nhan sắc Cleo trong các bộ phục trang hương xa hoang đường của các vở múa Đông phương đã ghi dấu ấn và lưu giữ minh chứng cho vẻ đẹp bá mị vượt thời gian của một Cleo de Merode danh bất hư truyền. Nhưng với kỹ nghệ in ấn và truyền thông, vẻ đẹp vô ngôn trên các tấm bưu thiếp đã trở nên sống động với những chi tiết riêng tư đầy khuất tất, những thói tật phóng đãng li kỳ đã cho công luận một câu chuyện giật gân đằng sau nhan sắc thiên tinh. Chân dung truyền thông hình thành, cô ả đẹp đến vô thực với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ vừa được nhiếp ảnh đặt lên bệ thờ nhan sắc, vừa được hả hê lôi tuột xuống tận đáy của án đa dâm hạ tiện và những cuộc trác táng phong lưu. Công chúng có cả một màn bi hài sống động li kỳ hơn bất cứ vở diễn nào trên sân khấu đại hí trường, bởi Merode tồn tại, hiển hiện, chiều chiều bát phố khắp kinh đô với mái tóc vén cao, tuyệt vọng phô trình đôi tai nguyên vẹn.

Sự phối hợp của hai nền kỹ nghệ này tôn vinh người đẹp, nhưng không cho phép nàng hóa thánh, hả hê độc địa phơi lộ chuyện riêng tư của nàng, nhưng lại cùng lúc đặt lên vầng trán nàng ánh hào quang nóng bỏng của mọi sự chú ý hiếu kỳ. Ngôi nữ hoàng thị dân tự lập đã được hình thành nên như vậy, công chúng hoặc yêu nàng, hoặc nghiện ngập trong những câu chuyện đầy ác ý về nàng. Truyền thông trao cho họ một quyền lực mới, nơi họ xộc thẳng vào phòng ngủ của người đàn bà đẹp, khoái trá tốc từng lớp xiêm y hào nhoáng của tiết hạnh và nhan sắc để lần mò vào từng chi tiết sống động nhất, để hả hê tiếp cận thịt da có thật của hình hài diễm ảo in trên bưu thiếp: “Nàng cũng như ta, tham dục, đa mưu và đầy khiếm khuyết”

cleo merode006_2

Với thói háu tin theo từng tờ nhật trình, lần đầu tiên thị dân nếm mùi quyền lực và thưởng thức màn bi hài kịch lâm li nhất do chính họ đạo diễn và tham gia, kéo dài đến hàng chục năm, ngay cả sau khi Cleo đã già nua, mệt mỏi và trốn lánh vào tuổi già cô tịch.

Màn kịch vẫn quá chừng hấp dẫn ngay cả khi cô đào chánh đã toan về già và nhan sắc thanh xuân cùng các phiêu lưu tình ái chỉ là những tro cốt cũ kỹ được tái hồi khai quật mua vui cho hậu thế. Như thể một kịch sĩ tài ba đã đi khuất vào cánh gà, thì những tiếng vỗ tay reo hò phấn khích vẫn hồi hồi điệp điệp vang lên, róng riết đòi hỏi thêm một đôi lượt tái xuất của bóng vía tài tình, níu dài âm hưởng giật gân kì thú.

Nhiều thập niên qua đi sau nhiếp ảnh và truyền thông, chính bước ngoặt kỳ vĩ của nhân loại bước vào nền văn minh internet đã khai quật lại đại dịch Belle Epoque trong một diện mạo hoàn toàn mới: những đoạn ghi hình phòng the gây cấn của các minh tinh tài tử, những phát ngôn thường nhật ngô nghê hay xốc nổi, những chi tiết li kỳ đầy mùi thịt da sống sượng… Trong đó, huyền thoại Cleo được lưu truyền với tốc độ mãnh liệt hơn như những di tích của những ánh hào quang celebrity đầu tiên của nhân loại. Những tin đồn cũ được nhặt nhạnh và tổng hợp lại, những tấm bưu thiếp của hơn một thế kỷ về trước được tái bản và số hóa – Cleo de Merode trở thành một thứ di sản chung chạ của những tín đồ Mỹ giáo và những con nghiện tôn thờ bái vật celebrity xuyên thế kỷ.

il_570xN.550085435_qp97

Chính qua Merode, Michael Garval đã tài tình tái hiện thời cuộc văn minh Belle Epoque trong bức biếm họa của ngôn từ, với những cơn sốt của văn hóa thị dân đã bồng bế tô vẽ cho de Merode và đẩy nàng lên đài hiến tế như một con cừu làm cống lễ thần linh. Vì sao nàng trở thành Kẻ Được Chọn? Cơn sốt thẩm mỹ thuộc địa hương xa trong thời cuộc chánh trị của các mẫu quốc thực dân, kết hợp cùng các phát kiến khoa học, sự phát triển của công nghệ nhiếp ảnh, in ấn và truyền thông đã hợp nhất tại khúc quanh định mệnh có Nàng, để cùng làm nên một trong những quả bom truyền thông giải trí đầu tiên trên thế giới. Và từ đó, người ta có Monroe chết cô độc trong cuộc tình với đệ nhất chính khách, James Dean không toàn thây giữa xác xe vặn vẹo, một linh hồn Presley mãi không siêu thoát, Lennon gục ngã trước họng súng tín đồ bái vật celebrity và Diana không toàn thây trong chuyến xe tử thần đào thoát bão flash paparazzi.

Giới yếu nhân thảm đỏ trở thành bàn cờ người với các quân cờ là những hình nhân tuyệt mĩ bị lột trần sống sượng như soi chiếu dưới ống kính truyền thông, thỏa mãn giấc mơ hoang đường của đời sống thị dân đang nhàm mòn dần đi dưới tốc độ kỷ nguyên công nghiệp: giấc mơ của khả năng nhìn xuyên qua những bức tường tư dinh tráng lệ và mọi lớp xống áo hào hoa, và truyền thông như vị thánh cứu rỗi, xoa dịu nỗi khốn cùng bằng lời an ủi “Tất cả họ, những kẻ đội hào quang, phía sau cánh cửa khép kín, đều trần tục như tất thảy chúng ta”.

Các ngôi sao giải trí mua vui cho công chúng của mình ngay cả bên ngoài màn bạc, trên các bãi biển cá nhân, và ngay cả sau khi chết.

Và Nàng, cho đến ngày nay, xuyên thế kỷ và màn hình máy tính, với đôi mắt thủy thần và làn tóc mây sơn nữ, vẫn là hiện thân của cơn sốt khởi thủy niềm si mê bái vật với những huyền thoại ồn ào.

Ở miền ẩn dật sau cùng, nơi những tiếng ồn thị phi không còn nghe thấy được, lần đầu tiên và duy nhất, Cleo được trả về, thanh thản và bằng an với những sự thật của riêng nàng, nằm sâu dưới nấm đất Père Lachaise và một bức tượng câm.

402dcd1e30024381f227313a83cf2f88

BOX:

Ngày 27 tháng 09, 2013, nhân dịp kỷ niệm 138 năm ngày sinh Cleo de Merode, buổi ra mắt cuốn sách khảo cứu Hát bội, Đờn ca Tài tử và Cải lương của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp tại Việt Nam đã là lần đầu tiên bản múa huyền thoại của Cleo được tái dựng, qua trích đoạn Vũ Khúc Đông Dương trên nền nhạc bản kí âm cổ xưa nhất tìm thấy được trong lịch. Cơ sở dữ liệu đầu tiên của hai nhà nghiên cứu chính là con tem của nhà nước Pháp lúc bấy giờ in hình Cleo de Merode trong trang phục cung đình Nam Vang cùng ban đờn của nghệ nhân Nguyễn Tống Triều tại buổi trình diễn đờn ca tại tử ở Nhà Hát Đông Dương năm 1900.

Tình cờ, tác giả đã chính là người mà nhạc sư Nguyễn Lê Tuyên nhờ thực hiện phần phục dựng bài múa, tái hiện hình ảnh Cleo de Merode vào ngày ra mắt cuốn khảo cứu, cũng chính là vào sinh nhật lần thứ 138 của bà. Trong một sự tình cờ, hậu duệ của bài múa này, tức tác giả, là người sinh sau bà đúng 100 lẻ một đêm. 

DSC_5609

Không đầy 3 tháng sau đó, vào 15 giờ ngày 5 tháng 12 2013, đờn ca tài tử chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đoạn phim tư liệu của nhà làm phim Huy Moeller ghi lại quá trình tái dựng vũ khúc đầu tiên của nhân loại trên nền nhạc đờn ca tài tử sẽ được công chiếu tại Việt Nam vào tháng Giêng 2014 tại trường Điện ảnh Quốc tế Sài gòn và Viện Trao đổi Văn hóa Pháp IDECAF.

Dự án phim Việt Nam đầu tiên về Cleo de Merode và đờn ca tài tử cũng đã được nhà biên kịch Ngô Thị Hạnh hoàn tất khâu kịch bản và trong quá trình kêu gọi đầu tư. Đây cũng là dự án điện ảnh đầu tiên của Việt Nam về di sản đờn ca tài tử, và cũng là phim điện ảnh đầu tiên trên tái hiện lại hình ảnh bà chúa tin đồn đầu tiên trong lịch sử nền công nghệ giải trí thế giới. 

cleo_de_merode_60

cuối nẻo cuồng phong

Trác Thúy Miêu

Nàng là loại đàn bà thụ hưởng không khoan nhượng. Đặt nàng vào khánh tận, tước mất của nàng những gã trai si tình, nàng sẽ lôi giật tấm màn cửa xuống đẻ làm nên một bộ váy trứ danh, và có bằng được mọi ngưỡng mộ phù hoa mà nàng xứng đáng. Nàng cần được khiêu vũ, tán tỉnh, sùng mộ, và nàng cần được hôn thật say đắm, đôi khi là bởi bất cứ ai.

Với Nàng, tất cả những điều đó không hề phi nghĩa khi nó đại diện cho danh dự giai nhân. Nàng bọc điều, hư hỏng, vô ơn, khốn cùng và luôn túng thiếu.

Nhưng nếu mỗi người đàn bà đều tìm thấy lối về thánh địa Tara của riêng mình, họ đều đã phải bỏ lại rất nhiều dọc đường thiên lý những gì thừa thãi để đủ nhẹ mà ngược chiều gió tìm thấy Bằng An.

19_6128_Scrltt_on_Log__Ta

Bạn là cô nàng phù phiếm, bạn thông minh mẫn tiệp, độc lập, cự phách trong kỹ thuật chăn dắt đàn ông, bạn vừa thực tế, vừa tham lam không buông bỏ dù một giấc mộng điên khùng phi nghĩa nhất? Người ta có thể cho rằng bạn là hiện thân của thái độ sống tân kỳ hiện đại, cho đến khi ngược dòng lịch sử, tìm về cuộc nội chiến xứ cờ hoa và gặp lại tiểu thư Scarlett mặc váy dạ hội may từ rèm cửa, băng biển lửa, điên cuồng tung roi trên cỗ độc mã kiệt quệ, bạn sẽ hiểu – chưa có gì thay đổi quá nhiều trong thế giới của đàn bà, từ những trận gió hoang dại thời Scarlett O’Hara.

Và ngày nào những cơn gió hoang của thời cuộc còn đổi chiều bạo liệt, thì vẫn chưa có gì thay đổi quá nhiều trên những chuyến đời quanh quẩn của những cô gái trở thành đàn bà nơi xứ lạ, bước qua những người đàn ông và những vết thương chỉ để trở về nhà – nơi họ tìm thấy điều phải mất một quãng đường quá xa để trở về và tìm thấy: Cõi Bình Yên.

Mọi cô gái luôn bắt đầu với một Ashley Nào Đó

Đã bao thập niên qua, người ta vẫn không thể quên hình ảnh nàng chỉ sau một lần ngự giá màn bạc cine, với mái tóc đen huyền, khuôn dung nhỏ nhắn, đôi mắt to ướt át và khuôn miệng bé như đầu đinh ghim, đôi khi mím lại thành một đường chỉ mỏng uốn cong ngạo mạn nơi khóe mép – một vai chánh toàn diện cho một thiên tiểu thuyết trên cả lãng mạn và bi tráng.

Nàng ngạo nghễ trình diện thế giới trong hình hài 16 tuổi như vậy – một trái táo xanh dốt, ngọt chua đồng bóng, cô nàng tiểu thư miệt vườn sôi nổi và dễ gây say của thái ấp Tara. Trong cuộc ra mắt đầu tiên với văn học và điện ảnh, Katie Scarlett chưa-hẳn-đàn-bà chỉ là một tiểu thần nữ thôn trang đỏm dáng, đa chiêu, ích kỷ và xinh xẻo như đúng mẫu những cô nàng con cưng của phần số. Tệ hơn nữa là cô nàng hoàn toàn ý thức được điều đó. Người ta có thể bắt gặp cô nàng ở bất cứ đâu bên ngoài điền trang Tara, dù là Mã Nhật Tân cận đại, hay lang thang đâu đó trong các department store thời thượng giữa Sài-gòn tạp chủng.

Bạn – cô gái tân thời, cũng có thể tìm thấy mình trong đó, khi mà người ta trẻ với mọi quyền ưu tiên của thanh xuân và nhan sắc, cũng chính là khi người ta vật nài thiếu thốn nhất bởi ô trống cuối cùng còn chưa kịp đong đầy. Cả bạn nữa, cũng là cô nàng bọc điều tội nghiệp.

scarlett

Nhưng chớ nhẫm lẫn Scarlett với những cô em tóc vàng hoe nhạt chuyện. Nàng uyên bác, láu lỉnh và hiếu kỳ như một con cún con. Nàng trội bật hơn cả bởi phía trên đôi mắt búp bê là một vầng trán đĩnh ngộ và khóe mép luôn sẵn sàng uốn cong đầy miệt thị – một dấu hiệu rõ rệt của một nền giáo dục vô nhiễm và cầu kì. Người ta sẽ nghĩ nàng sinh ra chỉ để làm lệnh bà hay nữ tướng cướp, cho đến khi nàng ngớ ngẩn si tình như bất kì gái non nào, trước một con gà trống bảnh chọe và hời hợt của nhà Wilkes lập dị – những người chỉ kết hôn giữa anh chị em cùng dòng tộc.

Tuổi trẻ không thể hoàn thiện được nếu người ta không thiếu thốn một điều gì đó, và có thể là bất cứ điều gì. Anh chàng khó gần nhất sẽ là anh chàng ám ảnh nhất, mọi cô gái trẻ đều cần một bi kịch nhỏ của riêng mình để mặc sức cài đính lên đó một vầng hào quang nhân tạo.

G

Khi người ta còn trẻ, người ta cần phải thấy thiếu bất cứ một Ashley Wilkes nào đó, hững hờ và ẻo lả đúng điệu một thanh niên quý phái miệt vườn, để cô nàng đỏng đảnh biến thành như một chú cún bất an, tuyệt vọng và hoàn toàn bất lực. Cô ả “thạch sùng còn thiếu mẻ kho” sẽ thấy khánh tận và tuyệt vọng khi cả thế giới chỉ thiếu mất đúng một nam thần miền Nam có mái tóc vàng. Nàng vùng vằng hờn dỗi một nỗi sầu không bao giờ lỗi mốt, và nàng vô ơn với tất thảy đặc ân của số phần, khinh bạc dù chỉ cần vài năm sau, những hồi ức về anh chàng nhạt vía cũng đủ khiến cô nàng phá ra cười lăn lộn.

Nhưng lúc này, nàng, và bất kì cô nàng nào khác, những nữ hoàng bi kịch và những nữ chiến binh bất bại, hẵng còn quá trẻ trung, mê đắm và hung hăng để hiểu một chân lí rất tầm thường: Ashley, cũng như mọi anh em từ đồng tuế đến hậu duệ của chàng, vẫn chọn khép chặt cửa khuê phòng cùng với một người bạn phối ngẫu nhàn nhạt và an toàn. Họ có thể tán thưởng vẻ nũng nịu yêu kiều của một O’Hara kiêu hãnh, nhưng không dại dột hoặc không đủ bản lãnh để chọn nhốt chung chuồng với con mèo cái bốc đồng và diễm lệ ấy – một tạo vật vượt quá tầm thống trị của họ, những gã Ashley An Toàn.

Góa phụ thiếu niên và gã hoang đàng sáng giá

Lòng tự trọng bị tổn thương đến cuồng nộ dấy lên cùng lúc với cuộc đại chính biến Bắc Nam của lịch sử Hoa Kỳ. Sĩ quan kiêu hùng Ashley dìu nàng Melanie, mà so với Scarlett là quá đỗi mờ nhạt vô vị, của mình vào căn phòng chồng vợ, bỏ lại phía sau cánh cửa khóa chặt một tiểu nữ thần căng phồng tía tái trong cơn đại thịnh nộ của ghen tuôn, tổn thương và kiêu hãnh. Cơn thịnh nộ được trút lên đầu bất kì tay dớ dẩn nhất cầu hôn với nàng lúc đó bằng sự chấp thuận. Nghiễm nhiên, Scarlett trở thành phu nhân của cậu Charles đang phát cuồng vì lòng biết ơn vô hạn trước sự hào phóng bất ngờ của thần Tình Ái.

189743_1239927343310_400_300

Cùng đợt sóng hàng loạt thanh niên từ những điền trang hòa lành nhập ngũ, cuộc nội chiến tước khỏi vầng hào quang của nàng những kẻ ái mộ trung thành, và Ashley – lí tưởng sống của nàng, sao khuê của nàng, con mồi điên cuồng của cơn háu tình về si đắm, vừa sặc mùi ăn thua đủ của nàng. Cú trả thù vặt bằng cuộc hôn nhân hờ đã chẳng thể làm Ashley ghen tuông đau khổ như mong đợi. Chàng ra đi, cùng tất cả mọi gã trai miền Nam, những kẻ hàng ngày vẫn tắm tưới nàng bằng mọi đón đưa êm ái, để mặc tiểu nữ thần ê chệ trước nụ cười vạch rãnh chân chim của tay thương nhân gian hùng lắm điều tiếng miền Charleston, Rhett Butler. Gã vô hiệu hóa lòng kiêu hãnh trẻ nít của nàng, xuyên thấu cả lớp váy phu nhân cùng những điểm tô phấn sáp mỏi mòn của nàng để che khuất cuộc tình tẽn tò và nỗi khánh tận ê chề về sau.

tumblr_liqomsbEAY1qbgi86o1_500

Cuộc hôn nhân hời hợt kết thúc như bắt đầu, Scarlett nghiễm nhiên trở thành góa phụ bởi một trận sởi của đức ông chồng tội nghiệp. Từ điền trang an hòa miền Nam nước Mỹ, tiểu thư O’Hara trưởng thành, chưa kịp làm đàn bà đã thành quả phụ, dấu đôi bàn chân nhỏ thoăn thoắt bước vũ cồn cào bên dưới lớp váy tang đen khả kính: “Than ôi, mạt vận rồi! Rồi sẽ chẳng còn điều gì xảy ra với cuộc đời tôi nữa!”

Chúng ta đã bao nhiêu lần thốt lên như vậy sau một cuộc tình hỏng kiểu? Nôn nóng háu đói trước những mời mọc còn quá ê hề của cuộc sống mà tưởng như vĩnh viễn không còn dành cho cô nàng xúi quẩy đáng thương duy nhất. Chúng ta thật đã ngô nghê biết bao!

Không buông bỏ hình bóng Ashley một cách đầy tuyệt vọng và phi lý, Scarlett giang tay cưu mang cả người vợ đang mang thai của tình quân trong mộng, cùng đối mặt với cuộc sống giữa lòng cuộc chiến. Không chỉ một lần, nàng tuyệt vọng đón nhận sự hào phóng từ gã Rhett tinh quái nọ, dù là một bản khiêu vũ trong chiếc váy tang đen, chiếc mũ hoa cẩm tú “còn thơm mùi Paris” đỏm dáng,… Nhưng gã chỉ từ chối nàng điều duy nhất mà nàng quá sẵn lòng ban phát: “Mở mắt ra đi cô em, tôi không định hôn cô đâu, bởi cô chỉ đang thèm được hôn quá thôi đó mà!”

tumblr_m7scdkmq3u1ra2wj7o1_400

Và chỉ với một cử chỉ khước từ trịch thượng như vậy từ gã hoang đàng trắc nết, đã khiến Ngài Butler trở nên bội phần kích thích, sáng giá, và đáng chiếm hữu biết chừng nào.

Tông đồ, quỷ dữ và người đàn ông được chọn lựa bất kì

Mọi mối quan hệ với một Rhett Butler đều đáng được coi là món trang sức sáng giá cho một người đàn bà. Ít nhất là một khi Ashley Wilkes vẫn còn bặt dạng giữa cuộc hỗn chiến. Cùng lúc, dẫu sao thì nàng vẫn giữ chặt vợ chàng bên cạnh trong vòng tay bảo bọc cao thượng của mình, cũng là để giữ trong tầm tay mối dây duy nhất giữa nàng với cuộc tình dai dẳng tuyệt vọng của mình.

G

Ả tiểu yêu đỏng đảnh và đa chiêu vẫn tiếp tục cuộc chơi tinh quái. Trong cử chỉ tưởng như thoát ra từ lòng trắc ẩn, bản năng bao bọc của người đàn bà vĩ đại, và ở tư thế gia ơn với người trong mộng, nàng ẩn chứa trong lòng một khoái cảm độc địa khi đặt gia đình Ashley vào vòng tay bảo trợ của mình. Nhưng chính bên trong cái trù hoạch độc địa ấy, Scarlett lại nảy sinh một bản năng bảo vệ vợ con của người mình yêu một cách mãnh liệt. Bản ngã hào hiệp và thói ích kỷ độc địa của đàn bà đang yêu đã kiến tạo nên nàng như thế, nửa tiên nữ, nửa ác thần. Cái trách nhiệm cao thượng vừa phi nghĩa ngông cuồng biến tiểu thần nữ thái ấp Tara thành người đàn bà thực tế, quyết đoán, thủ đoạn, và không khoan nhượng một cách thật thà, như mọi người đàn bà sinh ra để sống sót. Nàng có thể cưu mang vợ của người tình, và cũng có thể kết hôn với hôn phu của em gái. Nàng có một lý trí nhạy bén, một bản lãnh phi thường và một thanh danh hạng bét.

Giữa cao trào chính biến, Scarlett băng bể lửa tìm thoát tâm bão cuộc chiến tìm đường sống. Nàng điên cuồng và cô độc trên cỗ mã xa mang theo người mẹ nhợt nhạt và đứa hài nhi vừa sinh hạ dọc đường. Một thứ lí tưởng điên rồ, phi lý, nhưng cao thượng và bi hùng một cách lộng lẫy rất đàn bà trên cái phông nền bối cảnh của cuộc nội chiến đẫm máu.

gwtw-silloette

Nàng khiến người ta nghĩ đến vị tông đồ hộ giá Mẹ Đồng Trinh trong đêm tìm về máng cỏ Bethleem.

Người ta, hay nói đúng hơn là đàn bà có thể trở thành những siêu anh hùng và những vị thánh khi có một cái cớ, đôi khi là cái cớ phù phiếm và vị kỷ nhất do họ tự tô điểm nên đầy diễm ảo.

Hãy cho người đàn bà một người đàn ông, cô ta sẽ tự lo liệu phần còn lại của thiên tiểu thuyết đàn bà.

Ngày tàn của những nam thần tráng men

Có hai loại phụ nữ trên đời: loại thứ nhất coi “thụ hưởng” là một từ xấu. Và loại còn lại.

Họ tham lam, họ ham sống và phải sống sung sướng, họ thậm chí có thể có tất cả điều mình muốn đến cùng cuộc hôn nhân với người đàn ông biết hôn nụ hôn đình đám nhất lịch sử điện ảnh. Giá như Rhett Butler không có một bản lĩnh tài chính vững vàng của tay buôn súng thời chiến, có thể nàng đã yêu người chồng thứ 3 này của mình nhiều hơn chăng? Scarlett tội nghiệp, nàng vẫn thiếu thốn cùng cực trong cuộc sống xa hoa hậu chiến của mình.

scarlett-ohara--large-msg-13185297937

Nàng luôn luôn thiếu thốn một điều gì đó, và việc này khiến nó trở nên hệ trọng quá mức bình thường. Ashley, vẫn là Ashley, là một hình mẫu thích hợp cho bức tượng thánh thiêng liêng lóng lánh đã được vay mượn để người đàn bà sống, yêu, mơ mộng, và đạp bằng mọi chướng ngại. Chính quãng thời gian quá dài mà nàng đầu tư cho mối tình đơn phương ấy đã khiến nó trở nên hào nhoáng và thiêng liêng, bao bọc vòng hào quang xung quanh mái tóc hoe vàng và khuôn diện thanh tú nhợt nhạt của quý ngài Ashley Wilkes…cho đến khi Melanie qua đời, bỏ lại Scarlett không đối thủ và một nam thần ủ dột lỗi thời và nhạt vía. Cái cốt lõi háo thắng và phù phiếm của người đàn bà tiu nghỉu lụi tàn, không đủ khiến nàng đánh đổi vòng tay kẻ mạnh của Rhett Butler để chiếm hữu một bức tượng được tô màu sặc sỡ.

Chúng ta, những chiến binh háo thắng trong cuộc mưu cầu hạnh phúc, đôi khi si mê chính cuộc chinh chiến lẫy lừng lẫm liệt hơn cả phần thưởng cuối cùng. Bạch mã hoàng tử một thời hiện nguyên hình thật thà một sĩ quan thất trận, một nhà quý tộc thất thế, và một người đàn ông góa bụa, đặt lời tỏ tình muộn mằn lên đầu gối người đàn bà đã đi qua một cuộc chiến trong vai trò thánh nữ, mẹ, và đàn bà.

Lớp tráng men mỡ màng tróc vảy, trớ trêu đặt dưới chân nàng nguyên vẹn một Ashley Wilkes vô can, thất hồn và xa lạ – kẻ xứng đáng được để yên trong nỗi muộn phiền góa bụa sau một vòng tay an ủi muộn màng.

212216-gone-with-the-wind

Sự mất mát cuối cùng và miền bằng an bất biến

Sự thương hại và lòng từ tâm mà Ashley tội nghiệp còn có được từ Scarlett lại, oái oăm thay, chính là thứ duy nhất nàng còn có được từ người đàn ông duy nhất biết về nàng và từng thật sự yêu nàng.

Mọi cố gắng của Scarlett đã quá muộn, Rhett đã cho đi sự kiên nhẫn cuối cùng trước ngưỡng tự trọng tôn nghiêm của đàn ông tính. Cuộc ái ân cay nghiệt cuối cùng, một đứa trẻ chết yểu trên lưng ngựa và một cuộc sẩy thai đã là quá đủ để hoàn toàn phá hủy cuộc hôn nhân thứ ba. Trong nỗi đau đầy cáo buộc của Rhett, Scarlett soi mình để nhìn thấy sự thất bại ê chề qua người chồng kiên nhẫn và những đứa trẻ bị bỏ rơi bên lề chinh chiến của người đàn bà lắm cuồng vọng “Làm mẹ à? Một con mèo còn biết làm mẹ hơn cô!”

Lần thứ hai trong đời, nàng có tất cả. Và cũng như mọi lần, nàng khánh kiệt, túng thiếu, cô độc đến khốn cùng. Rhett sập lại cánh cửa trước mọi cố gắng tuyệt vọng của Scarlett để được yêu chồng như một người vợ tôn ngưỡng và ăn năn.

the-infamous-scene-of-gone-with-the-wind

Người ta cần đến hơn quá nhiều lần mất mát để đặt xuống những phù phiếm thừa thãi, và những muộn màng không thể nào sửa chữa.

Người ta cần đến hơn quá nhiều lần mất mát những điều sinh ra để mất mát: những người đàn ông và những đứa trẻ mong manh như nhau, chỉ để nhận chân điều thiêng liêng, an toàn, và chung thủy cuối cùng.

Có thể Thượng Đế luôn biết Ngài đang làm gì trong bức đại đồ phần số, trong khi những đứa con cưng của Ngài mù lòa trong quá nhiều nhu cầu, và những thiếu hụt tưởng như quá chừng to tát. Ta luôn ngoái lại sau lưng và xót tiếc những điều bất khả vãn hồi, để tiếp tục tạo ra những phần phước bị lãng quên ngay trước mắt. Phải mất mát và đau đớn lắm để nhìn ra miền bình yên được đặt để sẵn cho mỗi người.

Điều đến cùng ta khi đến với cuộc đời này, và bất biến cho đến ngày cuối – như một mảnh đất để ở và mảnh đất để nằm lại.

Và nút thắt huyền vi của tác phẩm được cởi ra, điềm nhiên như sự thức tỉnh sau cú rơi chạm đáy:

–       Rhett, đừng bỏ em, rồi em sẽ đi đâu?

–       Thật tình, cưng ạ, anh mặc xác!

Rhett3

Không lí giải, không biện luận, và không còn cần quá nhiều dữ kiện để trong sự mất mát cuối cùng, người ta mới có thể nhận ra điều không-thể-mất.

Nàng trở về không vì mệt mỏi, bởi người ta đâu thể tìm về Bằng An như một chặng nghỉ chân.

Nàng trở về mà như lần đầu đi đến. Cuối cùng thì mỗi người đàn bà đều có cho riêng mình một Tara, tự tại, an nhiên, và bất biến, trước và sau tất cả những chặng viễn du. Rhett Butler bước ra khỏi đời nàng, giúp nàng đặt xuống ảo mộng thừa thãi cuối cùng.

Đoạn đời của giai nhân điền dã bị cuốn theo cơn lốc thời cuộc như thế: đúng một vòng bão tố, để an nhiên khép lại đúng gốc cây định mệnh để, như ngài Gerald O’Hara đã từng, nhìn bao quát mảnh đất máu huyết thiêng liêng “Tara! Nhà! Tôi về nhà thôi. Và sẽ nghĩ ra một cách nào đó để có lại được chàng. Cuối cùng thì…ngày mai sẽ luôn là một ngày mới!”

gone-with-the-wind-tara2

Cơn gió thời cuộc của đại chiến Bắc-Nam đã cuốn bông hoa miền Georgia đi đúng một vòng lốc xoáy, để đặt nàng lại chính nơi cuộc viễn du bắt đầu, trong hình hài người thiếu phụ ba chuyến đò hai lần góa bụa. Nhưng kẻ sống sót sau cuộc chiến vẫn chưa thể ngừng tồn tại, vòng miên viễn còn xoay theo chiều gió, và rất có thể, bình yên chưa hẳn sẽ đến vào ngày mai.

Nhưng rồi mỗi Tara của mọi Scarlett vẫn luôn ở đấy, nơi để tìm về, xoa dịu và chữa lành, an nhiên và tự tại, như điều duy nhất có thật để xứng đáng cho mọi cuộc chiến sinh tồn, mỗi giá trị bản ngã chí tôn và lòng kiêu hãnh cùng tình yêu thiêng liêng bất biến.

Hollywood's Greatest Year: The Best Picture Nominees of 1939

hồ sơ mang bí số 007

timothy dalton

Jasmine nOir

Đàn ông âm thầm muốn đá cho gã một cú, đàn bà âm thầm mơ tưởng về gã, con nít muốn được như gã. Tất cả những điều đó đều quá ồn ào, hào nhoáng và nguy hiểm cho một điệp viên.

Nhưng đây không phải là một điệp viên bất kì. Điệp viên mang bí số 007 thuộc Cục Tình Báo Anh.

“Bí số” ấy không có gì là bí mật với quá nhiều thế hệ khắp nơi trên thế giới, người ta đều có thể vanh vách gọi tên cúng cơm của gã, theo một giọng Shakespearean đầy kịch tính:

“The name is Bond – James Bond!”

007s

Được cha đẻ là nhà văn Ian Fleming đặt tên theo nhà điểu cầm học người Caribe mà bản thân ông ngưỡng mộ. Về sau, khi gặp gỡ bà quả phụ của ông Bond, Fleming tán tụng “tôi không ngờ một cái tên ngắn cụt, phi lãng mạn, đặc sệt Anglo Saxon, nhưng cực kì nam tính này chính là cái tên phù hợp nhất. Nên tôi cho một James Bond khác ra đời”. Về sau, Fleming thú thật, có phần thẳng thắn hơn, với tờ New York Post rằng “Tôi muốn gã là một tay Anglo Saxon thô thô đần đần một chút, và cái tên cộc lốc này chính là cái tên đần nhất mà tôi tìm ra được”.

Về sau, cái âm thanh cụt lủn ấy đã làm nên lời thoại ngắn ngủn, nhưng đầy khẩu khí cao ngạo làm nên ấn tượng sâu sắc lừng danh trong lịch sử điện ảnh thế giới: “The name’s Bond – James Bond”.

James Bond được xây dựng dựa vào thời kỳ Fleming hoạt động tại Cục Tình Báo Hải Quân trong đệ nhị thế chiến. James Bond là sự hợp nhất của những mẫu hình sĩ quan phản gián và biệt kích mà ông đã từng gặp. Nhưng hơn hết, ông gửi gắm vào nhân vật này cả những nét rất chân thật về bản thân, từ sở thích khoái ăn trứng khuấy, đến mọi nhãn xà bông, nước thơm cạo râu mà ông ưa dùng. Các chi tiết về nghiệp vụ tình báo dựa trên kinh nghiệm có thật, cho đến tên của những bạn học hồi nhỏ, người tình, người thân của Fleming cũng được đưa vào để làm nên thế giới của Bond.

Naval-Commander-Ian-Fleming

Fleming muốn Bond có một ngoại hình của ca sĩ Mỹ quốc Hoagy Carmichael nhưng ngầu hơn một chút. Chàng có mái tóc đen dày mạnh khỏe, khóe miệng khắc nghiệt và đôi mắt có ánh thép. Chàng có một khiếu hài hước duyên dáng và lạnh lùng, một dòng máu Scotland sáng giá, mẫu thân sở hữu một nhũ danh vân vi cầu kì là Monique Delacroix đến từ Thụy Sĩ, và thân phụ là ngài Andrew Bond ở Glencoe, Scotland.

Hoagy Carmichael

Bond và cuộc đời bí ẩn của chàng không có một thông tin gì về ngày sinh nhật. Về sau, John Pearson chấp bút nên một hồ sơ chính thức cho chàng, mặc nhận ngày 11 tháng 11 năm 1920 là ngày chào đời của James Bond, trong khi John Griswold là sau đó một năm, vào ngày 11 tháng 11 năm 1921.

Tuổi tác, điều đó chưa bao giờ quá quan trọng đối với bản thân James Bond, một khi tay chân vẫn đánh đấm ngon lành, tình ái miên man, và những bộ âu phục, những chiếc đồng hồ vẫn cực kì hợp mốt.

Từ chiếc cánh gà Beretta đến tuyệt tác DB5 trên tử địa Skyfall

Như tay hiệp sĩ cầu kì về thanh kiếm tri kỷ của mình, James Bond hoàn toàn có thể được coi là người đàn ông có bộ sưu tập xe và vũ khí đáng ham muốn nhất của mọi thời kỳ. Đây là một cuộc biểu trưng khí tài hùng hậu và mĩ miều nhất của lực lượng an ninh phản gián Ăng-lê.

Cậu ấm James Bond của M16 chẳng khác gì một cô Barbie với những phụ kiện không thể thiếu của mình. Giả sử ví von như vậy bởi, khác với mẫu người biệt kích lủng củng lang cang với những bộ sưu tập vũ khí hạng nặng và những viên đạn to cỡ quả bom, James Bond có cho mình những món đồ chơi thông minh tinh xảo và mang theo ít nhiều thói hài hước kiểu Ăng-lê. Ban đầu chỉ là vài cây viết ngụy trang, hay món lưỡi lê giấu trong giày, nhưng từ khi xuất hiện khẩu súng lục bé xíu bằng vàng trong The Man with the Golden Gun, thì những món đồ chơi lợi hại này cũng là một sức hấp dẫn kinh điển của bí số 007.

Vậy là từ đó, mỗi vụ án mới của Bond đều không thể bỏ qua “tiết mục” được trông đợi không kém gì những pha rượt bắt, đó là cuộc giới thiệu trang trọng các món “phụ trang” siêu thông minh được nghiên cứu và thiết kế riêng cho chàng. Motif này trở thành một điển lễ kinh điển cho mọi thể loại điệp viên tình báo, phản gián hay siêu thám tử. Đến cả bộ truyện tranh Conan của Nhật Bổn, dù rõ rệt chịu ảnh hưởng của trường phái tâm lí tội phạm Agatha Christie và dấu ấn Sherlock Holmes, nhưng không thể thiếu một nhà bác học ranh ma phía sau mọi món đồ chơi thủ thân của tay thám tử.

Thậm chí gười ta bắt đầu ái ngại khi dường như chàng đã được trang bị hơi quá tay và trở thành một gã bóng bẩy ẻo lả ỷ lại vào những món đồ chơi công nghệ. Nhưng rồi xét trên sự cân sức của mỗi vụ án, phía kẻ xấu cũng được trang bị đồ hàng xôm tụ không kém, từ khẩu súng bằng vàng của Scaramanga, đôi mũi giày tẩm độc của Rosa Klebb, cho đến cái nón chóp viền thép của Oddjob, cùng hộp trang điểm đầy vi khuẩn của Blofeld. Với ngần ấy kẻ thù nham hiểm, thâm độc và chịu chơi, những món đồ chơi siêu công nghệ của Bond được giải oan hoàn toàn, và cuộc đối đầu lại trở về thế cân sức.

Nhưng hai món vũ trang cơ bản nhất, hơn cả những món phụ kiện bé xíu và buồn cười của nghiệp vụ tình báo, chính là “thanh kiếm” và “chiến mã” của một tay hiệp sĩ chân chính. Trong trường hợp của Bond, đó là bộ sưu tập súng và xe.

Ban đầu, cha đẻ Fleming chỉ trang bị cho chàng khẩu Beretta 418 mập mạp chắc nịch và hữu dụng, một ‘thanh kiếm’ phù hợp với sự thô ráp, lạnh lùng của nguyên bản James Bond. Không lâu sau đó, một độc giả mến mộ nhưng sành sỏi hơn về súng ống viết một lá thư công kích cái cánh gà mập mạp và ngộ nghĩnh ấy là “đồ thứ súng cho đàn bà nhét bóp đầm!”

beretta 418

Tay độc giả cuồng nhiệt này đề cử khẩu Walther PPK 7.65mm bảnh bao ngạo nghễ hơn. Khẩu Walther này xuất hiện ngay trong cuộc tấn công màn bạc của Bond trong phim Dr.No, khiến mọi quý ngài xem phim cứ thở dài sườn sượt. Một món đồ chơi bặm trợn cỡ đó xem chừng tuyệt hảo để rút ra từ sau ve áo pardessus hay tuxedo của mẫu người hùng màn bạc chánh hiệu con nai vàng.

dr.no gun

Boothroyd, tay độc giả nhiều chuyện nọ còn khuyên Fleming sắm thêm cho quý tử tinh thần của mình một cái bao súng Berns-Martin ba quai, và một lô một lốc những món đồ chơi chết người khác. Để đáp lễ, Fleming đặt luôn tên cho tay thiếu tá phụ trách quân bị của M16 là Boothroyd.

ian_fleming_Geoffrey_Boothroyd

Bond còn thủ thân thêm vài khẩu tầm tầm cỡ Colt Detective Special và khẩu Colt cán dài Army Special. Ngoài ra, để cho bằng anh bằng em và không mất thể diện trước hậu duệ Rambo, Bond cũng có cho mình một bộ sưu tập súng trường, trong đó là khẩu Savage Model 99 và Winchester 308.

Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên trên phim, trùm mật vụ M đã ra lệnh cho Bond bỏ khẩu Beretta “bóp đầm” để nhận khẩu Walther PPK. Họ (khẩu súng và Bond) sống hạnh phúc bên nhau suốt 18 bộ phim.

Từ Don Quijote đến James Bond, súng ống kiếm cung đã có, thì khoản ngựa xe mới thật là thứ khiến Bond trở thành thằng cha may mắn đáng ghét nhất thế giới đối với mọi quý ông. Trong khi Batman quanh quẩn với cỗ xe chuột chũi duy nhất, thì Bond từ ban đầu đã được Fleming trang bị cỗ Bentley 4½ Litre đầu bạc, và về sau là Mark II Continental Bentley. Trong vụ án Goldfinger, chàng lái chiếc Aston Martin DB Mark III có thiết bị định vị tối tân giúp chàng truy sát kẻ thù bon bon dọc ngang nước Pháp. Nhưng sau vụ truy lùng đó, người ta lại thấy chàng một mực chung thủy với chiến mã Bentley.

aston martin

Nhưng chỉ cho đến khi đường đường xuất hiện trên màn bạc, cuộc đầu tư điên cuồng vào những cỗ mã xa tối tân của Bond mới thật sự khiến nam nhân thế giới sục sôi thèm muốn. Thời thập niên 1980, chàng ngon lành sập cửa chiếc Aston Martin, còn những năm 2000 là thời kì của cỗ V12 Vanquish điệu nghệ và chiếc DBS đen thẫm bẹp dí như một con gián bảnh bao siêu tốc độ. Giã từ sự thanh lịch thuở ban đầu của vẻ đẹp bạch mã với tên tuổi Alfa Romeo, những lần xuất hiện về sau, Bond thể hiện tư chất tối ưu của một điệp viên thượng hạng khi điệu nghệ điều khiển volant từ xe cứu hỏa, tải hạng nặng, tàu ngầm phóng lựu cho đến tăng thiết giáp. Nhưng cuối cùng, con chiến mã trung thành vinh dự xuất hiện từ Casino Royale cho đến Skyfall vẫn là tuyệt tác màu xám bạc Aston Martin DB5.

aston martin db5

Trong suốt điệp vụ trùng điệp hiểm nguy Skyfall, ngay cả khi bà đầm sắt trùm mật vụ M chết trên cánh tay mình, Bond cũng không bao giờ lộ nét đau đớn sâu sắc và tinh tế bằng giây phút chiếc Aston Martin DB5 bị phá hủy thảm thương. Ngay cả khán giả máu lạnh nhất cũng hiểu chàng Bond đã bị đả thương vào yếu huyệt. Cánh mày râu trong khán phòng cine khắp thế giới cùng rên xiết xuýt xoa đồng cảm: đó là một cỗ chiến xa tuyệt hảo!

aston martin skyfall 

Tay người Úc cơ hội và triều đại Roger Moore

Một trong những vụ án huy hoàng thời kì đầu của chàng mang tên From Russia with Love. So với vụ Dr.No, các hệ thống bí danh khi này cũng bắt đầu hình thành, thiếu tá Boothroyd mang bí danh độc tự  Q cho đến mãi về sau. Đây cũng là lần xuất hiện thứ hai và sau cùng của Sylvia Trench, được nôm na coi là bạn tình lâm thời của Bond sau mỗi vụ phá án. Với 2 vụ giết người so với Dr.No, James Bond bắt đầu hứa hẹn dấn sâu vào những vụ án mạnh dạn hơn về tính bạo lực. Người ta vẫn còn kể rằng John F.Kennedy đã xem bộ phim này lần cuối tại tòa Bạch Ốc ngày 20 tháng 11 nằm 1963 định mệnh, trước khi đi Dallas, mặc dù mãi đến tháng Tư 1964, bộ phim mới được phép công chiếu rộng rãi tại Hoa Kỳ.

DR-NO_610

Đến vụ Goldfinger, Bond bắt đầu trở thành một hiện tượng. Đó cũng là khi chàng tập tành lái chiếc Aston Martin DB5, và sử dụng vũ khí có tia laser của công nghệ tiên phong. Đây cũng là bộ phim James Bond đầu tiên đoạt Oscar về hiệu ứng. Nhưng với Bond, nếu chàng có thật, đây là một vụ án vinh quang nhưng cũng đầy mất mát. Cha đẻ của hình tượng James Bond, người đàn ông đã chu đáo đặt vào tay chàng khẩu súng lục thô kệch ngắn ngủn đầu tiên, Ian Fleming qua đời trước khi phim công chiếu.

ian fleming

Từ đó, các điệp vụ cine của 007 bắt đầu rời xa khỏi kịch bản văn học gốc. You Only Live Twice dựng trên bối cảnh Nhật Bản, với bạn tình Kissy Suzuki và nhan nhản ninja để bao sân chiều chuộng khán giả châu Á. Sean Connery, như thể đã hóa thân vào Bond-phiên-bản-gốc, tuyên bố không tiếp tục đóng các phim sau. Là nam diễn viên thủ diễn James Bond theo kịch bản văn học gốc của Fleming, Connery như một Bond đầu-tiên-và-duy-nhất ra đi như một hành vi tuẫn tiết đáng trọng!

you only live twice

Sự ra đi của Sean Connery khiến người ta lúng túng và cập rập chọn anh kép George Lazenby người Úc kế vị vào vai James Bond. Lazenby xuất hiện hoàn hảo, tay lấp lánh chiếc Rolex Submariner, mình vận bộ suit may ở tiệm Savile Row của Connery để lại, và tỉa tót râu tóc ngay tại hiệu ưa thích của Connery ở Dorchester Hotel. Các nhà phê bình chỉ có thể khen ngợi anh chàng về sự cần cù và dũng cảm tự đảm nhiệm các vai nguy hiểm không cần đóng đúp. Nhưng công chúng la ó phản đối, họ trót quá gắn bó với Connery, cho rằng Lazenby quá bận rộn thay phục trang xoành xoạch như một cô dâu diêm dúa, và quá mỏi mệt trong việc hùng hục chạy theo cái bóng của Connery. Đó là chưa kể giọng phát âm Úc đặc sệt quê trớt của anh chàng khiến phải dùng đến việc lồng tiếng, tổn hại ít nhiều đến hiệu quả thể hiện trên phim.

george lazenby

Thế là hình tượng chàng Bond lại đòi hỏi một lần đổi lốt. Lần này, kép Roger Moore ứng cử, dù đã 45 tuổi. Moore trở thành nam diễn viên bền bỉ nhất trong các nam diễn viên thủ diễn James Bond, chính xác là trong suốt 12 năm. Roger Moore bắt đầu ra tay áp đặt một kỷ luật mới cho James Bond. Hai vụ án đầu, chàng khệnh khạng hút cigar thay cho thuốc lá thường, và uống buorbon thay cho martini. Moore khôn ngoan phá lệ và lập tiền lệ riêng của mình – như một con đực mạnh thực thụ, cũng là điều mà hình tượng James Bond không thể thiếu.

Moore bắt đầu cho Bond…cai thuốc. Vào những năm 1970s, James Bond trở nên “đời” hơn, pha phỉnh một chút khiếu hài hước duyên dáng, song song món chính là những màn đấm đá tuyệt đỉnh. Hẳn nhiên, Bond của những năm 70 không thể nào có được sự đường bệ của Sean Connery, nhưng gã đột nhiên trẻ trung và có duyên hơn, lịch duyệt, duy lý và rõ ràng là háu gái hơn. Về võ nghệ, tuy không điệu nghệ như Sean Connery, Bond của Moore được coi là anh chàng hóm hỉnh và dễ gần nhất trong mọi phiên bản James Bond cả trước đó lẫn về sau.

roger moore

Đài từ thượng đẳng của nam thần xứ Welsh và James Bond bán lạc xoong

Đến tận những năm 1987-1989, Bond mới có một giọng phát âm Ăng-lê thuần chủng chánh hiệu truyền thống “Shakespearean” của kép Timothy Dalton, người kế nhiệm Roger Moore. Tờ Guardian ủng hộ phiên bản mới này của James Bond “Đành rằng đó không phải là Connery, và thiếu hụt cả cái duyên lịch duyệt của Moore, nhưng ít ra, đó không phải là Lazenby”, ám chỉ giọng thổ âm Úc nặng chịch của Lazenby, từng gây khốn đốn cho hình ảnh James Bond.

Timothy Dalton nhập vai James Bond hoàn hảo, với chiếc mũi khoằm của loài thần điểu, mái tóc dày rậm như lông quạ, đôi mắt khi thì ủy mị ươn ướt như mắt cún, khi thì sáng quắc như mắt diều hâu ngay dưới cặp chân mày rậm rì sắc nét như dao phay. Chàng dày vò các nữ khán giả bằng khuôn vai vuông vức, cơ thể nam thần và chiếc cằm chẻ đẹp như một cặp mông thiên sứ. Chỉ cho đến khi chàng thật sự thoát kiếp James Bond và tái xuất ngời ngời trong Jane Eyre, vai bá tước Rochester cục cằn và đa cảm, người ta mới dám chấp nhận rằng chàng không phải là James Bond nữa.

timothy_dalton

Sự xuất hiện hoàn hảo cuả Timothy đã là một thách thức khó vượt cho kẻ kế nhiệm là Pierce Brosnan bóng bẩy. Cũng sở hữu mái tóc đen dày hơi lượn sóng, với “cặp mông thiên sứ” có phần teo tóp hơn, Pierce Brosnan được đánh giá là giai kỳ điển trai màu mè đỏm dáng nhất của Bond.

pierce brosnan vanity

Khi kí hợp đồng kế nhiệm nam thần Timothy, Brosnan hồ hởi tuyên bố “Tôi muốn đào sâu hơn nữa vào bên trong người đàn ông này, lột lớp vỏ bọc máu lạnh của anh ta như lột một củ hành, và phơi lộ một tâm hồn nhạy cảm bất khả xâm phạm của người đàn ông đó”. Điều này làm khán giả hâm mộ của Bond run sợ – Bond không phải là loại đàn ông treo quả tim của mình tòn ten trên ve áo để làm dáng. Nhưng rồi người ta đã có một Bond gốc Scotland của Connery, nói giọng Úc của Lazenby, mang dòng dõi Welsh quí phái của Dalton, thì cuối cùng, đến lượt Brosnan sẽ cho người ta một phiên bản Bond Ái-Nhĩ-Lan rất riêng và khác biệt.

Bond lại hút cigar và chuộng những bộ suits bảnh bao thửa tận bên Ý. Golden Eye với Brosnan cũng là điệp vụ đầu tiên xảy ra sau khi Liên bang Xô viết rã đám. Bond và M16 cũng phải cập nhật tình hình chính trị chung, thay các vụ đối đầu với chính quyền chính thể bằng những vụ rượt bắt gay cấn với các siêu thế lực mafia mới của nước Nga lộn xộn. Cũng bởi tính cập nhật thực tế, Judi Dench vào vai bí số M – đầu lãnh M16, một khi ngoài thực tế, ghế trùm cơ quan tình báo M15 của Anh quốc cũng vừa chào đón nữ chủ nhân mới: bà đầm sắt Stella Rimington.

Công luận nghi ngờ vẻ oặt ẹo điệu đàng của kép Brosnan, các nhà phê bình thở dài phán “Và Bond đã tái xuất, lần này với mái tóc hỉ nhi!”, nhưng MGM vẫn tuyệt đối tin cậy vào cái đẹp và sự hào hoa, quyết đưa Bond về với bản ngã. Đầu tiên là bằng cách tước đoạt bớt những món đồ chơi lặt vặt của chàng, cùng mọi yếu tố hoang đường quá tay mang sắc màu giả tưởng. Bond mạnh mẽ hơn, u sầu hơn, và “người” hơn.

Một lần nữa, khi mà ngoài kia, trào lưu cơ bắp đã lắng xuống, việc thay đổi phong cách cho Bond hoàn toàn phù hợp với thời kì của những anh chàng metro-boy mảnh mai, biết làm đẹp và gần như lưỡng tính, Jack của Titanic thế chỗ Commando, và rock bờm xờm bị hất cẳng bởi boybands thiếu niên tiến bộ.

Các quý ông trung thành của những thế hệ James Bond kinh điển có thể chỉ muốn tung một cú đá vào mông tay Bond đời-sau oặt ẹo này. Hơn nữa, gã rõ ràng là một tay bán đồ lạc-xoong chuyên nghiệp. Gã rao bán mọi thứ, từ nước uống, xe cộ, đồng hồ, bút máy,… chỉ cần một cú lắc tay điệu nghệ bên sòng bạc, gã tài tình rao bán chiếc đồng hồ lấp lóe dưới manchette công tử bột. Gã ngời ngời sáng giá và hốt về bạc triệu mỗi lần tái xuất, chưa kể các nhãn hàng thủy chung lại vồ vập lao vào, Bond của Brosnan được trang hoàng long lanh như cây thông Giáng sinh hạnh phước, với đồng hồ, thời trang, giày và những cỗ xe gây mê đắm.

brosnan poker watch 

Cuộc cách mạng của James Lạt-Nhách

Nhưng công chúng là một đứa trẻ khó chịu, ngay khi thế hệ hâm mộ giai kỳ bóng bẩy của Bond bắt đầu quen với hình ảnh của chàng điệp viên thơm phức trong các bích chương quảng cáo đồng hồ Omega, thì cuộc cách mạng phong cách của James Bond tạo nên một vụ ồn ào chưa từng thấy. Giữa thời loạn lạc của thế giới phẳng phi giới tính, giữa sự tìm tòi khắc khoải một hình tượng nam thần thẳng thớm đáng tin cậy, James Bond cần mau chóng thoát ra khỏi cái dung mạo mĩ miều của những điệp viên tài tử “tóc đen như mun, cằm chẻ như mông” vốn đã thành tiền lệ.

pierce brosnan

Với hình tượng Obama, thậm chí đã có lúc người ta cân nhắc một James Bond da đen…hơn tóc. Nhưng ứng viên thắng cuộc cuối cùng đã khiến tất thảy công luận hồ nghi và cự nự dữ dội: Daniel Craig.

Gã có bản mặt của một tay mafia Đông Âu hơn là một điệp viên Anh quốc. Đôi mắt nhỏ, linh hoạt, chiếc cằm nhọn và một thái độ lì lợm khó gần. Gã có diện mạo của một tay sát nhân máu lạnh sẵn sàng tung nắm đấm thép mà không buồn nheo mắt.

Người ta thổn thức nhắc nhớ những vệt chân chim nơi đuôi mắt Brosnan và vết lõm chen giữa hai múi cằm đẫy nẫn của Dalton. Than ôi, kẻ kế nhiệm thậm chí còn mang một đôi tai vểnh của loài dơi và mái tóc lưa thưa màu sáng.

daniel2

Người ta tung vào thế giới cinema một James-Bond-Không-Thèm-Đẹp!

Thậm chí đã có cả một website với địa chỉ danielcraigisnotbond.com kêu gọi tẩy chay phiên bản mới của James Bond. Tờ Daily Mirror chạy nguyên trang nhất chỉ để bỉ bai Craig với hàng tít nhái theo câu thoại lừng danh của Bond “The Name’s Bland – James Bland” (tên là Lạt Nhách – James Lạt Nhách).

Bond (bởi đó chính là tính cách Bond) phớt lờ đúng điệu Ăng-lê và tái xuất dưới hình hài Daniel Craig trong phi vụ Casino Royale. Món lãi ròng từ phim này, kể từ Moonraker, chưa bao giờ cao đến vậy! Công luận đổi chiều xoành xoạch, người ta tung hô James Bond mới. Chàng mảnh mai hơn, trông “chì” và “ngầu” hơn, không xăm lên trán hàng chữ “vận động viên làm tình”, và không cầu kì giãy nảy nếu ly martini của chàng không được pha đúng điệu. Đơn giản là vì chàng-như một tay Bond đúng điệu, cóc quan tâm!

daniel1

Còn tư cách người hùng và những trò táo tợn? Hãy xem chàng được đích thân nữ hoàng Elizabeth (do chính lệnh bà thủ diễn) vời đến điện Buckingham để hộ tống bà trên chiếc trực thăng bay đến sân vận động Olympic Stadium, cùng lệnh bà tôn quý của nước Anh nhảy thẳng từ trực thăng, bên dưới cánh dù bằng lá cờ liên minh lộng gió!

QUEEN+AND+DANIEL+CRAIG 

Fashionisto siêu hạng và 40 bộ suits cho một cảnh quay

Với vẻ điển mã xứng tầm một quý ông, chàng có tất cả những cái tên quyền lực nhất của giới thời trang làm hậu thuẫn cho tủ phục trang khét tiếng của mình. Giorgio Armani, Brioni, Roberto Cavalli, Tom Ford, Hubert de Givency, Gucci’s Frida Giannini, Douglas Hayward, Rifat Ozbek, Jenny ackham, Miccia Prada, Oscar de la Renta, Anthony sinclair, Phillip Treacy, Emanual Ungaro và Donatella Versace là những cái tên làm nên thế giới hào hoa của James Bond.

Bond cầu kì và chuẩn mực đến từng tiểu tiết. Chàng phân biệt được một ly martini lắc và khuấy khác nhau ra sau, chàng thích ống quần của mình ôm vừa, tỉa tót tuyệt khéo, nhưng không bó sát bởi chàng không phải Tom Jones. Cả tuxedo cũng vậy, chàng thích sự nghiêm cẩn, không xum xuê hoa lá, và đặc biệt ưa chuộng những chiếc sweater chui đầu bằng hàng cashmere thượng hạng. Chàng có thể đã xuất hiện từ nửa thế kỷ trước, nhưng chắc chắn chưa bao giờ muốn mình trở nên cổ lỗ.

Bond Style

Chuẩn bị cho vụ mới nhất của James, nhà thiết kế phục trang của chàng Jany Temime tuyên bố cô đã chuẩn bị cho James Bond lệ bộ chuẩn mực nhất chào mừng 50 năm cát cứ màn bạc, nhưng mang mọi yếu tố đương đại của thẩm mỹ thời trang 2012. Cô nói say sưa như một bà nội trợ sành điệu đi sắm sanh chưng diện cho đức lang quân lừng lẫy hơn là một chuyên viên thiết kế phục trang nói về diện mạo những vai diễn: “Tôi không chạy theo trào lưu mốt mà bám theo kịch bản. James đâu phải loại rảnh rang đọc tạp chí thời trang hàng ngày, tôi rành anh ta quá mà! Tôi biết James sẽ muốn mặc gì và vì sao, tôi luôn tự vấn bản thân trước mỗi quyết định: Đây có phải là thứ James sẽ bỏ tiền ra mua không?”

Tủ quần áo của chàng bày san sát chằn chặn những hàng suits bất tận, phô ra những ống tay và khuôn vai thẳng táp, hoàn hảo của kỹ thuật cắt may thượng hạng, hầu hết đóng mác Tom Ford. Bản thân Craig trong đời thực, cũng là một thân chủ mê mệt của phong cách lịch duyệt đến tối giản, đầy tính thực dụng rặt Mỹ của Ford. Ngay từ khi mới làm việc với Temime, Craig đã báo trước, theo kiểu mà chính James Bond biết mình muốn gì, rằng chàng thích form cắt mảnh mai nhưng phải dễ vận động, và hơi hoài cổ về nét kinh điển của thập niên 60.

tom ford

Mặc dù kép Roger Moore khẳng định rằng Bond vẫn có thể xài ngon ơ mấy bộ thửa cho chàng từ hồi 70s và 80s (đương nhiên, ngoại trừ quần ống loe và cổ sơ-mi to gộc), nhưng tuxedo và suits vẫn kinh điển vào hàng bất hủ. Nhưng ngay cả Moore cũng không còn mặc những bộ vía oai vệ đó nữa: “Chúng được may từ cách đây hai ba thập niên, cả bản đồ thế giới cũng đã thay đổi, huống gì số đo vòng bụng của anh kép diễn về già là tôi. Thời đó tôi cũng mê mẩn phong cách James Bond lắm, nhưng đó là ngài Bond, còn tôi rồi cũng tự xoay sở cho mình một gout riêng về cả đồ ăn lẫn rượu vang và áo vest”. Moore vừa ra mắt cuốn sách của mình về Bond, với cái tên “Bond on Bond” do nhà xuất bản Lyons Press ấn hành, trong đó, ông kể lại rất nhiều về phong cách bảnh bao của hiện tượng mang bí số 007.

Sean Connery, người đầu tiên thủ diễn James Bond năm 1962, cho đến nay vẫn còn ưa thích những bộ suits màu ghi mảnh dẻ Bond từng mặc thời đó, nhưng mấy cái quần yếm bằng vải bông trong Goldfinger thì quả là một cơn ác mộng với thời trang quý ông đương thời.

Đến những năm sau này, James Bond của Pierce Brosnan được diện rất bảnh trong bộ đồng phục sĩ quan Hải quân Hoàng gia, lay động nên bao cuộc đại chấn nức nở trong tim những nữ khán giả nhẹ dạ. Ngoài giai kỳ bảnh bao đột xuất này của Brosnan, thông thường thì James Bond là mẫu đàn ông thích sự tinh tế lẫn thực tế trong từng tiểu tiết của một phong cách tưởng như hoàn toàn giản dị. Cuối cùng, chàng là một điệp viên luôn đặt mình vào giữa chốn trùng điệp hiểm nghèo, chắc chắn không có nhu cầu khoác lên mình một bộ cánh quá lâm li và nổi bần bật giữa chốn đao kiếm vô tình như vậy.

navy uniform

Thời mới xuất hiện, một người đàn ông như chàng hẳn nhiên sẽ chọn hiệu may Savile Row lừng lẫy ở London làm chốn tin cẩn sắm sanh lui tới. Tới năm 1995, chàng thức thời và điệu nghệ hơn giữa thời cuộc phi biên giới, những điệp vụ của chàng giờ mang tầm cỡ toàn cầu, và nhà thời trang Ý Đại Lợi Brioni giờ mới xứng tầm sắm sửa của siêu điệp viên. Nghệ nhân bậc thầy của nhà này là Angelo Petrucci phóng mũi kéo điệu nghệ theo lối cắt may Ăng-lê truyền thống có vạt dài hơn so với các quý ngài La Mã, và đương nhiên là với những cặp ống quần hoàn hảo, ôm suôn, thẳng muốt và sắc nếp như dao: “Anh James, với tôi, là đại diện chí tôn của cái gọi là gout thượng đẳng. Suits là biểu tượng của quyền lực phái mạnh, với một người như James, suits chính thống là phải được may thửa chuẩn mực theo số đo. Chưa kể, hãy ngắm những cô nhân tình của ảnh, cô nào bà nào cũng sành sỏi điệu đàng, đều có con mắt để tán thưởng một bộ vía khéo cắt, bởi chính họ cũng tuyệt đỉnh cầu kì và rất am hiểu thời trang, anh James không thể lôi thôi được”.

bond style 2

Trong Skyfall, Temime vận cho Naomie Harris và Berenice Marlohe những bộ phục trang không hổ thẹn dòng dõi những thế hệ “Bond girls” về trước như Halle Berry và Ursula Andress. Cả hai đã từng khuấy đảo màn bạc trong những bộ bikini, đùi quấn đai súng lục, và Barbara Bach với chiếc váy dạ hội đen viền đá trắng, với được xẻ cắt cao vút đến tận… thiên đàng! Temime quyết định cho Marlohe ăn vận theo phong cách hoàng kim của cựu minh tinh Ava Gardner với bộ váy L’Wren Scott như bộ da thứ hai diễm lệ mà để vừa khít một cách kích động như thế, mỗi buổi sáng, đào Marlohe phải chịu một công đoạn may đính để bảo đảm chiếc váy bó sát thân hình. Và khi chết, nàng được Temime ưu ái cho diện thật đỏm trong chiếc váy đỏ thắm trễ tràng của Donna Karan. Karan phỉ mãn với hiệu ứng gợi tình một cách chết chóc này: “Nghĩ đến Bond girl là phải nghĩ đến gợi tình, sự thông minh, sức mạnh, và lẽ dĩ nhiên, là một thân hình sát thủ!”

berenice_marlohe_skyfall

Trong khi đó, Harris cần một thiết kế hung hăng năng động hơn cho những pha hành động và được cho mặc một chiếc jacket của Belstaff, tank top, và quần da.

Còn riêng cho James, ngay vào màn rượt bắt đầu tiên – một điển lễ mở màn cho mỗi phi vụ của 007, chàng cần một bộ suit vừa đẹp, vừa ôm, vừa thoải mái cho mọi trò vung tay quạt chân của 007. Điều này đồng nghĩa với 40 bộ suit y chang nhau, cái thì cánh tay dài hơn một chút để chàng cưỡi motor, cái thì cần đệm đầu gối cho chàng té đỡ đau, và có cả những bộ cài đặt những túi máu giả, và cả những bộ rách sẵn để đối phó với thứ tự lộn xộn của cảnh quay.

Chàng là siêu điệp viên trường phái sắp đặt, điều này không thuộc hệ tư duy bủn xỉn được. Temime hãnh diện như bà nội trợ siêu hạng “Tất cả phục trang ở đây đều thuộc hàng thượng hảo hạng. James có thể chạy phăm phăm qua nước, bụi, nhảy khỏi tàu hỏa, và chỉ cần phẩy nhẹ, là lại sạch bong như mới”

motor ride skyfall

Những người đàn bà của Bond

Thuật ngữ “Bond Girl”, chỉ những cô nhân tình lâm thời của James Bond, là một đại danh lẫy lừng có phần hơn cả các khái niệm “Playboy Bunny”, “Victoria’s Angel” hay “Cosmo Girl”. Xét về giai tầng, họ không hề dân chủ đại trà. Đó là những nữ sát thủ, minh tinh, hoặc yếu nhân, thậm chí chính khách. Họ là những Pussy Galore, Plenty O’Toole, Xenia Onatopp hay Holly Goodhead. Nói một cách nôm na, đó là những đại diện điển hình của vẻ đẹp xa hoa thượng đẳng, những nữ thần nhục cảm phóng túng, những đóa hồng nhung kiêu sa dùng để trang trí ve áo tuxedo của ngài Bond trong từng điệp vụ.

bond girls2

Nàng có thể là bất cứ ai, miễn sở hữu một thân phận ly kì và một thân hình đẹp. Nàng có thể là chiến hữu hay cừu nhân, nàng cũng có thể là nạn nhân hay thân chủ. Nhưng điều rất quan trọng cần được phân biệt rõ ràng, trùm tình báo mang bí danh M, dẫu là người đàn bà cực kì quan trọng trong mọi cuộc phiêu lưu, phần số và tâm hồn 007, bà ta không hề được tính là một Bond Girl. Ngoài ra, đồng sự Miss Moneypenny cũng bảo toàn một mối quan hệ chiến hữu với Bond khá trong sáng, dù ở phần cuối của điệp vụ Skyfall, có những chi tiết cho thấy cô hoàn toàn có khả năng đã từng đứng vào hàng ngũ Bond Girls.

Dẫu đa dạng đa chủng đến mấy, tộc người ưu tú “Bond Girls” cũng có những mẫu số nhận biết chung. Thoạt tiên là những thân hình tuyệt hảo, thường xuyên được lồng tuyệt khéo trong những bộ trang phục hơi ngầu kiểu nam tính, kiên nghiệt, điểm một vài món trang sức góc cạnh, dây lưng da to bản và giày da mũi vuông. Nhưng họ còn phải có khả năng xuất hiện đột ngột trong vẻ đẹp lẫy lừng đàn bà tính, những bộ váy dạ tiệc dính trượt trên da, váy ngủ satin, push-up bra thượng hạng, bikini trang trí súc lục, và thi thoảng chỉ có một lớp dầu bóng trơn trượt trên mảnh thân trần.

You-Only-Live-Twice-Girls Bond-Girls-6

Phần lớn Bond Girls tuân thủ ngặt nghèo làn da rám nắng, ngoại trừ các cô của thời kì đầu khi mốt nhuộm da chưa thịnh, hoặc những kiều nữ Đông Âu.

Tóc lại là một phạm trù mênh mông đối với các Bond Girls. Họ có thể là các nàng có mớ tơ vàng hoe như Mary Goodnight, đến màu hạt dẻ của Gala Brand, nâu sóng sánh như mật của Tatiana Romanova, xanh tím như Solitare, hay đen thẫm như Vesper Lynd. Hẳn nhiên, đó là những cô nàng có khuôn miệng rộng háu tình, phần lớn có màu mắt xanh, thậm chí xanh như màu Tiffany, long lanh giữa sắc xám và ve chai mắt mèo. Đặc biệt Pussy Galore sở hữu đôi mắt huyền vi tím thẫm – người đẹp mắt tím duy nhất trong trải nghiệm tình sử của James Bond.

Trong khi nàng Vesper Lynd xuất hiện trong Casino Royale với tất cả mọi nét thuần chủng Bond Girls kinh điển ở trên, thì Dominetta Domino Vitali bằng mọi cách trở thành hình ảnh trội bật với sandals da trắng, da rám nâu, tóc bồng kiểu Bardot và các nét trên khuôn mặt đều yêu kiều nhỏ nhắn, thay cho khuôn miệng rộng của những nàng man-eater truyền thống.

james_bond_girls_03

Mẫu đàn bà ưa chuộng của Bond, hẳn nhiên, không chỉ là những tiêu chuẩn về ngoại hình và thời trang. Chàng thích những cái tên hoặc bí danh ly kì, mà điển hình nhất là Pussy Galore, Solitaire (tên thật của nàng là Simone Latrelle), và Tiffany Case (do thân phụ cô này tức tối vì cô sinh ra không phải là nam tử, ông đưa cho mẹ cô 1000 đồng và một hộp phấn Tiffany rồi bỏ đi). Hay như Vesper Lynd, nghe như West Berlin được nói trại theo âm sắc Đức Ngữ, ám chỉ tư cách điệp viên hai mang của cô nàng. Đương nhiên, chàng cũng không chối từ các nàng có danh tánh bình thường.

Dù không nhan nhản những pha cụp lạc phòng the, nhưng chỉ một số tình tiết khơi gợi đủ để người xem hiểu rằng Bond là anh chàng không chối từ ân huệ ái tình từ những cuộc phiêu lưu trời cho ấy. Nhưng không phải cô gái nào của Bond cũng là những tiểu thư đến từ số phần nhung lụa. Rất nhiều trong số các nhân tình của chàng từng bị hãm hiếp, hay là nạn nhân của bạo lực tình dục. Họ mất niềm tin và kỳ thị nam giới (đương nhiên là cho đến khi gặp Bond): Tiffany Case không những bị cha bỏ rơi từ khi mới lọt lòng, mà lớn lên còn bị hãm hiếp tập thể từ khi vị thành niên, cả nàng Honey Ryder cũng cùng chung số phận. Pussy Galore thậm chí bị cưỡng hiếp từ khi 12 tuổi bởi chính chú ruột. Solitaire có một quá khứ may mắn và trơn tru hơn, nhưng nàng vẫn còn tân đến tận cuối phim. Giai nhân Đông Kinh Kissy Suzuki cũng cay đắng kể về sự kỳ thị khi nàng đến Hollywood lúc 17 tuổi “Họ nghĩ vì tôi là người Nhật nên tôi như một loài vật, và thân thể tôi là thứ dành cho tất cả mọi người”.

james_bond_girls_20

Không chỉ ở trong hồ sơ quá khứ, mà ngay cả trên màn bạc. Lupe Lamora bị chính người tình Franz Sanchez hạ nhục trong Licence to Kill, chung số phần là ngư nữ mĩ miều Andrea Anders trong The Man with the Golden Gun. Nàng nuôi hận nên âm thầm gửi Bond một viên đạn bằng vàng để tố cáo gã nhân tình máu lạnh Francisco Scaramanga và khuyến dụ Bond vào vai cứu vớt gái bơ vơ.

Bond không chỉ thành công ra tay bảo bọc giai nhân hoạn nạn, mà còn mang lại… niềm tin yêu cuộc sống đến với họ, bằng chứng là thay vì cạn kiệt lòng tin vào đàn ông, họ đều chuyển sang yêu thương thắm thiết, si mê và cuồng nhiệt tự nguyện trao thân cho người hùng lẫm liệt.

Nói một cách khác, Bond là quý ngài luôn có cho mình những cuộc tình ly kì theo khuôn mẫu, một kiểu tân văn học Danielle Steel cổ lỗ sĩ và đôi khi quá tay đến khôi hài. Trong điệp vụ Goldfinger, Pussy Galore trước khi gặp Bond là một ả đồng tính nhưng lại say đắm hiến thân cho Bond. Ngay trên giường, chàng không dấu sự hiếu kỳ “Tôi tưởng em chỉ yêu đàn bà?” Và nàng đáp “Tôi chưa bao giờ gặp một người đàn ông thực thụ trước đây!”

goldfinger_goldcorpse 

Di vật của Fleming

Đàn ông muốn được như chàng, đàn bà muốn có chàng, một số khác chỉ đơn giản là muốn lại gần chiêm bái cái đồng hồ lấp loáng dưới ống tay áo tuxedo của chàng.

Ngay từ lần ra mắt màn bạc đầu tiên trong điệp vụ Dr.No, Bond đã hãnh diện trưng phô chiếc đồng hồ như một vật cực kì quan trọng đối với tư cách nam nhân của chàng. Chàng lẫy lừng với bộ sưu tập những Rolex, Breitling, Hamilton, Seiko và Omega. Nhưng không chỉ là những chiếc đồng hồ có thể nằm trên bất cứ cái cổ tay dân chủ nào. Đó là những phiên bản đặc biệt gây nên những cuộc săn lùng tuyệt vọng của thói đua đòi không phải là không có ở cánh mày râu.

pierce brosnan watch

Từ khi tạo nên một James Bond từ chính cuộc sống của bản thân, Ian Fleming đã hào phóng “tặng” luôn cho đứa con tinh thần của mình chính chiếc đồng hồ Rolex ưa thích của ông. Chỉ đến điệp vụ thứ 11 của Bond ấn hành năm 1963, Fleming mới cung cấp đoạn miêu tả đặc biệt hình ảnh Bond, vào một đêm biếng nhác, đưa mắt liếc vào “chiếc Rolex Oyster Perpetual kềnh càng có quai kim loại” trên cổ tay. Đó là một chiếc Rolex Explorer I cực kì đàn ông tính. Một cách cụ thể hơn, về chiếc đồng hồ của Fleming, đó là model 1016 với mẫu dây đeo 7206, bằng thép không rỉ, mã sản phẩm 596851.

ian's rolex

Con gái riêng của vợ ông, Fionn Morgan, cho rằng đó chính là chiếc đồng hồ Rolex chung thủy đầu tiên và duy nhất của nhà văn. Sau khi ông mất vào năm 1964, chiếc đồng hồ huyền thoại được giữ trong một ngăn an toàn ở nhà băng cho đến khi bà quả phụ Ann Flemming qua đời vào năm 1981. Một lần nữa, sau gần 2 thập niên, chiếc Rolex trứ danh lại được phản chiếu lấp lóa ánh sáng ban ngày.

rolex-explorer-1016-jbw007-20100201v500

Điều kì diệu nhất, đó là nó vẫn hoạt động bình thường khi được lấy ra khỏi két sắt, theo lời kể lại của Morgan. Món gia bảo lẫy lừng ấy được tặng lại cho con rể của bà Morgan.

Chiếc Rolex nổi tiếng này được trưng bày tại triển lãm Ian Fleming Centenary nhân ngày sinh lần thứ 100 của ông – 28 tháng Năm, 2008. Bảo tàng Chiến tích Hoàng gia Anh đã lên kế hoạch cho cuộc trưng bày kéo dài 45 tuần mang tên “For Your Eyes Only: Ian Fleming and James Bond.” Mary Gibson, con gái của Fionn Morgan đồng ý cho mượn chiếc đồng hồ mà bấy lâu nay chồng cô vẫn đeo, cùng hàng loạt những vật dụng cá nhân của Fleming có xuất hiện trong thế giới của Bond.

bond's watch

7 lí do vì sao phụ nữ mê James Bond

  1. Bond tự tin. Điều đó khiến chàng gợi tình. Chàng có sự ngổ ngáo của kẻ nắm chắc phần thắng trong mọi cuộc đấu – thứ bản năng của con thú mạnh ắt nhiên sẽ thu hút bản năng kén chọn của đàn bà. Trên thực tế, không chỉ với đàn bà, mà cả đối với đàn ông, không ai bị quyến rũ bởi sự khiêm tốn cả.
  2. Chàng luôn bình tĩnh, ngay cả khi luôn ở trong tình trạng nắm chắc cái chết. Chàng không bao giờ có một động tác thừa, bị chi phối bởi cảm giác run sợ, hoảng loạn hay giận dữ. Người ta không có một James nhảy chân sáo ôm một bó hoa to đến tặng người đàn bà, đấm tay lên tường khi nổi giận, hoặc trốn ra chỗ vắng hét to để xả stress. Khi tặng hoa cho phụ nữ, nếu đó là Bond, đó sẽ chỉ là một cành hoa – cành đẹp nhất. Ngay cả trạng thái hạnh phúc cũng không khiến chàng có bất cứ hành vi, động thái nào thừa thãi. Chàng luôn nói đủ chậm, không bao giờ liến thoắng và tuyệt nhiên không ấp úng. Ánh nhìn của một sát thủ siêu hạng có khả năng tập trung cao, chàng không bao giờ đảo và chớp mắt một cách thừa thãi, đây cũng là một chi tiết luôn khiến phụ nữ phải lòng.
  3. Bond không bao giờ bận bịu cho việc phô phang cái cõi lòng của chàng đối với phụ nữ, và bằng cách đó, chàng kích thích bản năng của họ: bản năng tò mò. Nói một cách khác, một khi kích thích được bản năng phụ nữ, thì đó là một sự gợi tình. Chàng không hay cười, và đối với phụ nữ, một người đàn ông đang sung sướng một chuyện gì đó có thể đáng yêu, đáng làm bạn, nhưng không có gì là sexy cả. Chàng kiệm lời, luôn giữ lưng rất thẳng, và điều này kết hợp với một bộ tuxedo thượng hạng là một hình ảnh không thể cưỡng lại được đối với bất cứ người đàn bà có lương tri nào trên thế giới.
  4. Chàng uống Martini, đôi khi Bourbon, cho đến phi vụ cuối mới thấy chàng tỏ ra dân chủ và uống beer. Chàng thích rượu, điều này hứa hẹn cuộc mây mưa ngay lần hẹn đầu, nhưng tất cả chỉ như một tiềm năng hơn là một lời hứa.
  5. Hẹn hò trên một chiếc Aston Martin không hề là một tai họa. Và những cuộc bạc ngả nghiêng ở các casino vương giả, khi chàng vãi tiền mặt hào phóng như vãi đạn, dù là tiền túi hay tiền quỹ phủ phê của Cục Tình Báo, cái kiểu vung vãi ấy được coi là cực kì khả ái, ngay cả đối với các quý bà quý cô phong lưu.
  6. Bond không bao giờ cố công gây cười và không đánh đồng một thằng hề nhạt với sự lịch duyệt duyên dáng. Chàng nổi tiếng với kiểu nói ngắn gọn nhưng không cộc lốc, và lời tự giới thiệu trứ danh huyền thoại cine: “The name’s Blond – James Blond.” Nhưng chàng có thứ hài hước tưng tửng của dân Ăng-lê, đủ để hấp dẫn những phụ nữ biết coi khiếu hài hước là dấu hiệu của trí tuệ.
  7. Phụ nữ lãng mạn thích biến cố, âm mưu và các thảm kịch, và đó là món tráng miệng mỗi bữa của Bond. Điều này cuốn hút họ hơn cả những cơ bắp của chàng. Cô nàng năng động sẽ mơ mòng việc được tham dự trò mạo hiểm, các ả nhà lành sẽ hưởng thú giật gân an toàn trong vòng tay bách thắng. Khi trải qua một cuộc hẹn hò êm đềm quá, phụ nữ sẽ phải sáng tạo ra các âm mưu và thảm kịch, với Bond, họ hoàn toàn có thể thảnh thơi và thụ hưởng các biến cố đó. Đương nhiên, càng an toàn hơn khi chàng là một nhân vật tưởng tượng, và khi đó, người ta không thể thua, hoặc chết.

jamesbondDanielCraig

mật mã Christian Dior

 

Trác Thúy Miêu

Không dưới 300,000 bông hoa tươi tại buổi diễn haute couture trong mùa Thu Đông 2012 mới đây tại Paris, nhắc nhớ đến những đóa hoa lộn ngược đã từng đảo lộn cả cục diện thời trang thế giới vào mùa Xuân năm 1947, cũng tại buổi diễn nhà Dior.

Vượt qua cơn chao đảo sau sự ra đi ô nhục của Galliano, chưa bao giờ những sáng tạo của tổ nghiệp Christian Dior lại được nhắc tới nhiều đến thế. Nhưng không mấy ai biết, không chỉ khai sinh ra trường phái New Look, cải mệnh cho cả nền thời trang haute couture hãnh tiến của Pháp, bên dưới những chiếc chân váy xòe phù phiếm của thiết kế New Look, Christian Dior đã cài cắm cả một đại đồ công nghệ ready-to-wear cho thị trường thời trang dân chủ, tiên phong cho chiến lược license và chiêu bài phụ trang – mà ngày nay vẫn đóng vai trò vũ khí tối thượng trong bài toán tồn vong của mọi thế lực thời trang trên thế giới.

Raf Simons đã phục chế và cải biên mỗi 20 yard vải xa xỉ của New Look, nhưng liệu gã có là người thật sự nắm giữ chìa khóa mật mã Dior?

Tay quân nhân đa cảm

Ngược chiều lịch sử thời trang couture Pháp, người ta không thể không nhắc đến thanh danh một thời lừng lẫy Lucien Lelong – người hầu như không bao giờ trực tiếp thiết kế, mà chỉ khai triển các ý tưởng sáng tạo qua các thiết kế riêng của mình. Đó cũng là lí do vì sao ông còn được biết đến như một lò tôi luyện mát tay cho nhiều tên tuổi couturier Pháp về sau

Năm 1942, một lần nữa, Lelong lại minh chứng cho sự sáng suốt trong thuật dụng nhân khi tiếp nhận tay quân nhân phục viên trẻ tuổi Christian Dior vào vị trí thiết kế chính bên cạnh Pierre Balmain. Kinh nghiệm duy nhất của cậu Christian lúc này là những bức vẽ thời trang được bán trên vỉa hè với giá 10 xu, một gallery hội họa bị sập tiệm, và một quãng thời gian học việc tại tiệm Robert Piguet trước khi nhập ngũ.

Vào thời kỳ này, Paris đang trải qua kỳ nô dịch của các tông đồ, trong cuộc vị kỷ đặc trưng của tính phù phiếm thời trang, khi không chỉ Christian Dior, mà các tên tuổi sáng giá như Jean Patou, Jeanne Lanvin và Nina Ricci, cũng phải thân chinh nghênh đón sự ưu ái đến từ kẻ thắng trận – họ trở thành những nhà thiết kế và bạn thâm giao của các phu nhân của sĩ quan Quốc xã cao cấp đồn trú tại Paris. Trong khi đó, người em gái của Dior là Catherine lại gia nhập quân kháng chiến Pháp. Cô bị Gestapo bắt và đưa và trại tập trung Ravensbruck, nhưng may mắn thoát chết và được trả tự do vào 1945. Về sau, với lòng tự hổ thẹn của bản thân, và sự tự hào về người em gái, ông đã dành tặng dòng nước hoa đầu tiên Miss Dior để vinh danh Catherine.

Khía cạnh xúc cảm đầy cá nhân tính này của Dior cũng thể hiện thuộc tính mẫn cảm và lãng mạn của các couturier Pháp. Mỗi bộ sưu tập của ông luôn đi kèm với mẫu áo khoác được đặt tên theo thị trấn sinh trưởng của Dior – ‘Granville’, và ít nhất luôn có một người mẫu trình diễn với loại hoa mà ông yêu thích: lilly of the valley.

Corolle – vòng hoa lập quốc

Năm 1946, chững chạc bước khỏi chiếc nôi tiệm Lucien Lelong, Dior chính thức đặt viên gạch đầu tiên cho đế chế haute couture lẫy lừng mang tên mình, với thủ phủ đặt tại trái tim của Paris – nhà số 30 đại lộ Montaigne, cùng sự hậu thuẫn của tài phiệt Pháp Marcel Boussac. Họ đã cùng nhau thiết lập cả một tiểu vương quốc với 6 triệu franc và 80 nhân công tinh nhuệ được chắt lọc khắt khe nhất.

Tiệm Christian Dior tại nhà só 30 Avenue Montaigne là một đế chế hơn là một tiệm thời trang thượng lưu, bởi ngay từ cuộc trình diễn ra mắt đầu tiên, Dior đã đơn phương tung ra cả một cuộc cách mạng không tiền khoáng hậu, vĩnh viễn trở thành dấu ấn trứ danh của không chỉ đế chế Dior, mà còn là tiền đề cho bộ mặt lịch sử thời trang nhân loại về sau: huyền thoại New Look.

Thoạt tiên, bộ sưu tập độc lập đầu tay của Dior được đặt tên là Corolle (Vòng Hoa), chính Carmel Snow – tổng biên Harper’s Bazaar khi ấy, đã mệnh danh New Look cho bộ sưu tập, khi thốt lên “Đây quả là một cái nhìn mới (new look) của thời trang!” Còn với Dior, khi nhận xét về form dáng chủ đạo của cú tung đòn chào sân này, ông chỉ sung sướng thốt lên “Tôi đã thiết kế nên những nữ thần hoa!”. Nhưng đó không hề là những bộ giả trang biết người mặc thành những bông hoa lộn ngược, mà cho họ một vẻ yêu kiều phù phiếm nhưng tinh tế với vòng eo mong manh và vòng hông phồn thực.

Bộ sưu tập được tung ra ngày 12 tháng Hai, 1947, như đòn chiến lược phủ đầu của tân đế chế dưới hình hài bộ sưu tập Xuân hè 1947. Về sau, các mô tả còn nhắc lại hình ảnh 90 người mẫu được tuyển chọn cầu kì, khoan thai diễu hành tại đại bản doanh 30 đại lộ Montaigne với hai dòng thiết kế được đặt tên ngộ nghĩnh “Mèo và Chó” và “Huit”.

Nhắc về ảnh hưởng New Look trong tư duy thiết kế của mình, Dior giải trình trong hồi ký: “Tôi muốn những thiết kế của mình được xây dựng đúc khuôn trên chính sự tuyệt mỹ trong cấu trúc thân thể quý bà – những người điệu đàng trong cả lúc quét nhà”.

Ông tin rằng các nữ thân chủ đáng thương của mình đã quá ngột ngạt sau thời chiến tranh kiêng khem tằn tiện, và ngấy đến tận cổ những bộ váy tuềnh toàng kiệm vải như những bộ đồng phục khắc khổ. Cũng như những quý ngài quân nhân, những người đàn bà của họ cũng cần được xoa dịu, hồi sức, và đặt về đúng vị trí được cưng chiều của mình sau cơn bĩ cực của Âu châu trong chiến cuộc. Ông quyết định chào mời họ một hình thái mới của sự yêu kiều đỏm dáng đến cùng cực, được nhiệt tình lăng-xê bởi những minh tinh diễm kiều nhất.

Giới thượng lưu Âu châu thở phào hân hoan chào mừng sự trở lại của những bộ cánh xa xỉ hào huê, các nhà thiết kế cùng thời cũng không khỏi bị ảnh hưởng bởi sức thuyết phục hoàn chỉnh của New Look. Hiệu ứng cải mệnh được minh chứng hoàn hảo, Dior chính thức khoác bộ cánh mới cho toàn thảy giới thượng lưu châu Âu và Hoa Kỳ trong cơn sốt rần rật lan truyền từ mọi tủ quần áo của các nữ lưu hàng đầu xã hội.

Những bà hàng xén cục tính và các quý bà mau quên

Nhưng New Look đã không dễ dàng thuyết phục toàn xã hội Âu châu, khi này còn phân tầng giai cấp rõ rệt. Người ta gay gắt lên án thú chơi ngông của Dior khi thẳng tay cổ súy cho việc dùng 20 yard vải thượng hạng cho mỗi chiếc váy, khi mà các nữ thị dân trung lưu đáng kính vẫn còn o ép thói làm đỏm thuần chủng Paris của mình trong những chiếc váy cộc kiệm vải như một tàn dư khắc khổ của kinh tế thời hậu chiến. Trong hình hài một cuộc cách tân táo bạo, New Look lại dư dả yếu tố hoài cổ để thắng lớn khi nhắm vào ký ức vàng son của thời trang tiền chiến, thậm chí lui về các trào lưu hoàng kim đầu thế kỷ, với vòng eo siết chặt sắc màu trưởng giả, những chiếc bustier lồng gọng xương, táo tợn phô phang bờ ngực đẫy đà ngổ ngáo. Tất cả là một hình hài mới của những madame Bovary, các cô gái nhà Gibson của một thời văn chương lẳng lơ khuê các.

Trong một buổi chụp ảnh lăng-xê New Look, các người mẫu nhà Dior đã bị tấn công bởi đám đông các bà nội trợ phát cáu trước những chiếc váy trưởng giả ngoài tầm ngân quỹ đám đông. Các couturier phái thủ cựu khinh miệt những cặp găng tay, kiểu giày và nón lích kích lang cang của New Look, và coi Dior như một gã hàng xén kiếm lời từ những món quà vặt bán kèm hơn là tôn vinh giá trị tối cao và duy nhất của thiết kế couture.

Nhưng cuộc phản kích không kéo dài quá lâu, cùng dòng hồi hương ồ ạt của giới thượng lưu, New Look trở thành một liệu pháp xoa dịu tinh thần và khiến người ta mau chóng quên lãng dư chấn kinh hoàng của cuộc đại chiến. Paris vụt trở về hình hài huy hoàng, ít ra là về hình thức của một kinh đô hoa lệ, tâm điểm hành hương của những quý bà vẫn ôm lòng nuối tiếc những cửa tiệm thời trang cầu kỳ và phù phiếm trong cơn lốc New Look.

Sau khi minh tinh Rita Hayworth và Margot Fonteyn xỏ thân hoa vào những yard vải yêu kiều của New Look, thì Dior chính thức chinh phục cả các bậc nữ lưu quyền quý của hoàng gia Anh quốc. Ông được vời đến biệt điện để thực hiện catwalk show vương giả đặc biệt dành riêng cho hoàng tộc, khiến vua George V âu lo cấm tiệt hai vị công chúa trẻ là Elizabeth và Margeret mặc bất cứ mẫu New Look nào, để nêu gương giản dị cho con dân Anh-quốc, khi này vẫn lao đao thắt lưng buộc bụng trên đống hoang tàn hậu chiến, dù chính New Look cũng ủy lạo form dáng “thắt lưng buộc bụng”, thậm chí có phần cực đoan triệt để (!)

Mặc tình, các công nương hoàng gia lại tiếp tục gia nhập câu lạc bộ thượng khách nhà Dior, kéo theo toàn thể các nữ yếu nhân Anh quốc. Cùng lúc, với ảnh hưởng của cô đào vương giả Grace Kelly, New Look chính thức chinh phục cả hai phe tân cựu, và báo hiệu hoành hành Hollywood trước tiên, như để khai pháo cuộc tấn công bạo liệt nhất vào thị trường thời trang Tân Thế Giới.

New Look: Chiến lược thiên tài ẩn trong tầng váy couture

Dior chào mời cho Paris một khái niệm nữ tính mới, với những đường cong cơ thể được tạo khối mạnh mẽ với thân trên bó sát, gia cố khung gọng, các miếng đệm ở hông càng đường bệ tôn vinh thân dáng như những chiếc đồng hồ cát của các nàng vệ nữ Paris. Cũng như trong trường hợp của chiếc váy mini huyền thoại Chanel, form dáng của New Look được ghi nhận đã xuất hiện từ trước thế chiến, và nhanh chóng bị thui chột do đột biến kinh tế khi cuộc đại chiến nổ ra. Cũng vào thời điểm ra đời của New Look nhà Dior, Christóbal Balenciaga, Jacques Fath và Charles James cũng tung ra form váy tương tự cho dạ phục. Nhưng chỉ có Ngài Dior mới can đảm đẩy New Look vào cả dòng thời trang mặc cho ban ngày – nơi nội lực tồn tại của nó được phổ cập mạnh mẽ nhất.

Cũng từ bước bành trướng sang tủ quần áo mặc ban ngày của quý bà quý cô mà New Look vững vàng trên vị trí khống chế mọi kiểu dáng trào lưu của thời trang thế giới cho đến tận thập niên 1960 và vĩnh viễn ghi dấu ấn không chỉ như một trào lưu, mà trở thành một trường phái mang tên Dior. Chỉ tính trong năm 1949, chỉ riêng dòng hàng mang âm hưởng New Look đã mang lại cho nhà Dior một khoản lợi nhuận 12.7 triệu franc.

Mỗi nửa năm một lần, Dior tung ra một tuyên ngôn mới, diễn dịch bằng cấu trúc, form dáng, và trực tiếp quyết định tốc độ vòng xoay của trào lưu thời trang thế giới, cùng áp lực lên các kỹ nghệ tân kì của kỹ thuật may thêu thủ công của làng nghệ nhân couture Pháp, thành hình các bước ngoặt tiền đề cho sự phát triển của haute couture Paris ngày nay.

Những sáng tạo đều đặn ấy của “kỷ Dior” còn mang ý nghĩa thương mại khi thúc ép các tín đồ vào cơn sốt đổi thay diện mạo tủ trang phục với một mật độ đều đặn theo mùa, vĩnh viễn xóa bỏ thói quen của hững chiếc váy “gia truyền” hằn nếp xếp và thơm mùi long não được tận dụng qua hàng thập niên, thậm chí hàng đời nữ chủ.

Ông cũng là nhà thiết kế đầu tiên đặt trọng sự phối hợp của tổng thể diện mạo, với trang phục chỉ là một trong các yếu tố cấu thành. Các thiết kế dòng New Look cho mãi đến về sau, đều đòi hỏi một sự phối hợp hoàn chỉnh của giày, găng và mũ, để có thể thành hình một tác phong chuẩn mực và toàn mỹ. Cũng chính từ tư tưởng này, Dior cùng đồng sự là Jacques Rouet tiếp tục tung ra dòng phụ trang xa xỉ, lúc này bị lên án kịch liệt bởi French Chamber of Couture. Phái bảo thủ cho rằng việc giá trị của couture bị quyết định bởi những món “quà vặt” ấy là một điều xúc phạm ghê gớm, và là một chiêu thuật mang màu sắc con buôn. Chỉ vài thập niên sau đó, chính chiêu thuật con buôn cùng những dòng sản phẩm phụ trợ như nước hoa, mỹ phẩm, túi xách và mắt kính đã trở thành những vị cứu tinh thần kì và bền bỉ của ngành công nghệ thời trang toàn thế giới nói chung, và haute couture nói riêng.

Được biết đến như ông hoàng couture của nước Pháp, nhưng chính Chrisian Dior cũng được phái ready-to-wear âm thầm thờ phượng như một vị tổ nghiệp, khi đã là nhà thiết kế đầu tiên thiết lập trường phái ready-to-wear với các cửa tiệm sang trọng ở đại lộ số 5 và 57, New York, vào tháng Mười Một, 1948.

Cũng trong năm ấy, như một nhà chiến lược khôn ngoan và sự hậu thuẫn sáng suốt của Boussac, Dior tiếp tục khai trương dòng nước hoa Dior Parfums và quả bomb thương mại chào sân mang tên Miss Dior, như một sự tưởng nhớ ưu ái đến người em gái Christina, và một năm sau là nước hoa Diorama, khiến cái tên Dior chính thức trở thành đại diện cho một phong cách thời trang hoàn chỉnh cho quý bà, từ lụa là xống váy đến mùi hương.

Năm 1949, một lần nữa, giới kinh doanh thời trang ngả nón tôn vinh nhà Dior là bậc thầy chiêu thức khi tiên phong trong việc phát hành license phụ trang, như một chiến lược đi cùng tư duy thiết kế của New Look, đòi hỏi sự đồng nhất của các món phụ trang giày, găng, nón,… đi kèm, để thật sự có được một lệ bộ New Look hoàn chỉnh và sành điệu. Từ New Look, các phụ trang thật sự được coi là những thành tố cấu thành của một mẫu thiết kế, và sự am hiểu hoàn mỹ của tư cách một tín đồ thượng lưu chân chính. Cùng với cộng sự khi này là Jacques Rouet, Dior phát hành các license, củng cố đế chế bởi một lực lượng đồng minh khét tiếng của các dòng phụ trang, từ vớ dài, khăn lụa, đến mỹ phẩm. Quyền lực các hội sở lan rộng toàn cầu, Dior trở thành thế lực bất bại và thành chiến lược mẫu mực cho các nhãn hàng thời trang cao cấp về sau.

Ẩn chứa phía sau những tán hoa cầu kỳ của New Look là một công thức thẩm mỹ và văn hóa hoàn chỉnh của bộ óc thiên tài Dior. Nhưng vì tính xa xỉ trong những tầng vải hào phóng, cùng sự bất tiện của vẻ cầu kỳ trong cấu trúc đã khiến New Look lu mờ ngay sau cái chết của cha đẻ Dior. Ông đã không kịp viết nốt những chương khai triển cho mệnh đề tuyệt hảo của mình.

Xương cá, ván bài định mệnh, hay ái tình cho cái chết của Vua?

Dior tiếp tục khuynh đảo thị trường thế giới vào những năm 1950, nhưng chưa lần nào lặp lại sự hiển hách của cú chào sân lẫy lừng New Look. Vào lễ kỷ niệm 10 năm thành lập, năm 1957, nhà Dior đã bán ra 100,000 bộ trang phục, còn bản thân nhà thiết kế thì nghiễm nhiên xuất hiện trên trang bìa tạp chí Time tháng Ba cùng năm.

Cậu Yves Saint Laurent trẻ tuổi – khi này mới 19, được Dior nhận vào vị trí trợ lí thân cận của nhà thiết kế. Hai năm sau đó, Christian Dior gặp bà Lucienne Mathieu Saint Laurent – thân mẫu của Yves, và thổ lộ quyết định chọn con trai bà làm kẻ kế vị về sau. Khi này, Dior mới 52 tuổi và đang kỳ sung mãn. Vào ngày 23 tháng Mười năm 1957 đáng nhớ đó, sau đúng 1 thập niên lập quốc lẫy lừng, Christian Dior – bậc thầy couture và chiến lược ready-to-wear của thời trang thế giới vĩnh viễn trút hơi thở cuối cùng tại Montecatini, Ý.

Cho đến nay, những lời đồn đại xoay quanh cái chết của ông vẫn phủ điểm thêm cho hào quang tên tuổi thiên tài một tấm màn bí ẩn sành điệu. Trong số những lời xì xầm của nội giới có cả một cuộc ái ân quá bạo liệt dẫn đến suy tim, một tai nạn hóc xương cá, và một ván bài gay cấn khiến trái tim đang suy yếu của thiên tài của thời trang thế giới ngừng đập.

Một số tờ báo lúc bấy giờ cho rằng nguyên nhân cái chết là do suy tim khi bị hóc xương cá trong bữa ăn. Tờ Thời Báo, vừa đăng ảnh Dior lên trang bìa 7 tháng trước đó, thông cáo về nguyên nhân cái chết là do suy tim bởi hưng phấn trong một van bài gay cấn. Nhưng chỉ riêng nhà quý tộc và thâm giao tri kỷ của Dior là Alexis von Rosenberg, Baron de Rédé, trong cuốn hồi ký của mình, là nhắc đến một tin đồn hành lang khác của giới nhạy tin, cho rằng trái tim thiên tài đã ngưng đập sau một trân mây mưa lừng lẫy – như một cái chết huy hoàng và đáng mơ tưởng nhất xứng đáng với một vị vua.

Cho đến nay, người ta vẫn tranh cãi dữ dội về các nguyên nhân này. Sự thật hiển nhiên duy nhất về Dior đó là cục diện thời trang thế giới đã vĩnh viễn ghi dấu ấn chóng vánh nhưng sâu sắc của ông.

Đế chế bị thôn tính và những kẻ kế vị

Ngai vàng bỏ trống của Dior khiến vương triều của ông trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Dường như không một ai trước và sau Dior có thể xứng tầm để lấp vào hố đen không đáy mà thiên tài quá cố đã để lại sau lưng. Rouet bộc lộ ý định khai tử đế chế Dior, nhưng gặp phải sự phản đối dữ dội từ các đối tác nhượng quyền license của nhà Dior, và toàn thảy nội giới của thời trang Pháp. Quyền lực, vai trò và cuộc tồn vong đại mệnh của House of Dior khi này đã trở nên quá quan trọng cho cả nền kinh tế của nước Pháp lúc ấy. Rouet buộc lòng phải chỉ định kẻ kế vị, và cánh tay phải của Dior lúc sinh thời – vị á thần ẻo lả Yves Saint-Laurent lên ngôi nhiếp chính khi chỉ mới 21 tuổi. Cuộc đăng quang thuận tình tất thảy tín đồ thời trang Pháp và thế giới, những đoàn hoa tươi một lần nữa được tấp nập gửi đến nhà số 30 đại lộ Montaigne, nhưng lần này là để chúc tụng vị tân vương.

Sau 4 mùa phụng sự, Yves từ bỏ lốt á thần nhà Dior để khai lập đế chế riêng. Vị trí của ông được thay thế bởi Marc Bohan, với một cuộc cách mạng nho nhỏ mang tên Slim Look, nhưng chưa bao giờ trở thành cơn lốc huyền thoại như dấu ấn New Look của vị tiền nhiệm lẫy lừng. Nhưng Slim Look, cùng những sáng tạo làm nên lịch sử của Yves Saint Laurent về sau với váy Mondrian và tuxedo nữ, hay đại tiệc hoa tươi gần đây nhất của tay người Bỉ Raf Simons vẫn cho thấy kể từ khi con tim Dior ngừng đập, các triều đại kế vị vẫn là những hậu bối của một sức ảnh hưởng trường tồn của dấu ấn Pháp mang tên Christian Dior.

Cuộc khai tử đáng lẽ đã diễn ra sau cái chết của Dior cuối cùng lại xảy đến năm 1978, với tuyên bố phá sản của tập đoàn Boussac. Nhưng điều này đã không còn xâm hại được đến sự tồn vong của đế chế Dior, với uy quyền và vị thế đã được rỡ ràng khẳng định – nhà Dior chính thức thuộc về tập đoàn Willot. Năm 1994, Bernard Arnault không hổ danh trùm cá mập thời trang, đã khôn ngoan dang vòng tay hào phóng mua lại tập đoàn Willot, mà ở đây, món hàng sáng giá nhất chính là nhà Dior, như viên ngọc sáng giá nhất trên đỉnh chiếc vương miện thời trang Pháp hào hoa.

Phiên bản Ăng-lê ấm đầu và vòng hoa tang 300,000 đóa

Và đó là khi nhà Dior bắt đầu một triều đại vàng son và ồn ào với vị tân vương Ăng-lê do Arnault chỉ định – John Galliano.

Giới bảo thủ Pháp gầm lên phẫn nộ trước gã Ăng-lê nhỏ thó và xấc xược, Arnault được dịp minh chứng cho tư duy tân kỳ cởi mở của bản thân với lời tuyên bố “Bản thân tôi đã hi vọng tìm được một giám đốc sáng tạo người bản xứ, nhưng tài năng không có quốc tịch, và tôi tìm được John. Y có thể nói tiếng Anh, nhưng thiết kế nên thời trang Pháp. Ngôn ngữ sáng tạo của John chính là thứ mà Monsieur Dior từng dùng để viết nên bản tuyên ngôn thời trang của mình: một sự pha trộn giữa trường phái lãng mạn, thói đỏm dáng lẳng lơ nồng nặc đàn bà tính, sự lịch lãm cổ điển bất hủ, và tính thời thượng táo tợn nhưng vô cùng chặt chẽ.”

Quả nhiên, Galliano khai mở cho kì đại thịnh của đế chế Dior, gã không là Christian Dior khi khôn ngoan không chọn lặp lại hào quang của vị tông đồ người Pháp. Galliano bành trướng Paris với chiêu trò “porn chic” đầy nhục cảm, dẫn đầu một trận sốt sặc mùi tính dục ảnh hưởng lên cả thiết kế của các nhãn hàng khác. Nhưng bằng một cách nào đó, Galliano nhắc người ta nhớ trận “sốt” kinh hoàng của hiện tượng New Look. Thay vì cần mẫn cách tân các thiết kế của Christian Dior, người ta nhận ra sự tương đồng giữa 2 nhà thiết kế cách nhau vài thế hệ qua tư duy thẩm mỹ ẩn sau các chiến dịch quảng cáo ngông cuồng và bạo ngược chỉ thuộc về những thiên tài mang mệnh đế vương.

Không là kẻ trực tiếp chăm sóc dung nhan cho các phu nhân Quốc xã như nghiệp tổ Dior, nhưng hậu bối Galliano đã chạm đến ngưỡng cuối cùng của sự ngạo mạn khi dây vào vụ vạ miệng mạt sát người Do Thái. Như một cái cớ hoàn hảo, nhà Dior thải hồi vị tông đồ lẫy lừng nhất của huyền sử triều đại couture này.

Một lần nữa, mệnh tồn vong nhà Dior chao đảo với ngai vàng bỏ trống sau lưng tên ngạo vương lưu vong. Lặp lại phương kế của Rouet năm xưa, sau cái chết của Dior, Arnault buộc lòng chỉ định cánh tay phải của Galliano là Bill Gayten vào vai nhiếp chính, trong khi ngai sáng tạo chính thức được rao tìm người kế vị.

Đó lại đã là một giai đoạn chông chênh đáng nhớ của cục diện thời trang toàn thế giới.

Cho đến khi gã người Bỉ Raf Simons – vốn là một designer theo trường phái tối giản, bất ngờ đăng quang vào chiếc ghế tối cao của quyền lực haute couture toàn thế giới.

Điều đầu tiên gã đã có thể làm, là nhắc nhớ thế giới đến một Christian Dior phía sau những năm dài đầy hào quang điên rồ của gã hiệp sĩ râu kẽm Galliano. Khôn ngoan tránh né ảnh hưởng của Kỷ Hoàng Kim mang dấu ấn tay người Anh, Raf bỏ ra 4 tháng trong kho lưu trữ nhà Dior và 300,000 bông hoa tươi phủ ngập gian khánh tiết vào tuần lễ thời trang haute couture Pháp mới đây, như một sự nhắc nhớ đến quyền năng trường tồn bất bại của New Look, vừa như một tang lễ buồn thảm cho một huyền thoại bất khả tái hồi.

 

mẹ cả Cosmo

Túy Ca

Khi mà các cô các mợ diva thành thị tân thời ngày nay còn đang mải mê chạy theo thái độ sống lẫn tủ quần áo của Carrie Bradshaw trong Sex And The City, không mấy ai còn nhớ đến vụ chấn động New York hồi thập niên 1960 mang tên Sex and the Single Girl, cho đến gần đây, khi phiên bản gốc của Carrie Bradshaw thời ấy – bà đại tổng biên tờ Cosmopolita qua đời, ngày 13 tháng 08, chỉ 2 tuần sau khi bước khỏi chiếc ngai Mẹ Cả Cosmo.

Theo kinh Cựu ước Cosmo của các cô nàng phố lớn (bigtown-girls), tình dục là điều tuyệt vời nhất, bên cạnh ăn và thở. Helen yêu mến bà Hillary Rodham Clinton, trò buôn nhảm và những chuyện ly kì, bà là tín đồ của Donna Karan và Calvin Klein, yêu chồng, mê đàn ông cho vui, và nghiện sự nghiệp.

Nói một cách vắn tắt, bà đã là một Cosmo girl chánh hiệu.

Năm 1962, Helen Gurley chào đón tuổi 40 của mình với cuốn sách Sex and the Single Girl. Cuốn sách được xuất bản tại 28 quốc gia và giữ vững vị trí bestseller trong suốt năm đó. 3 năm sau, Helen Gurley đường hoàng đăng quang ghế tổng biên tờ Cosmopolitan đang hồi xuống dốc và cải mệnh cho tạp chí này ngay từ những ngày đầu nhậm chức. Trải qua suốt thập niên 1960 ấy, bà đã vào vai nữ tuyên giáo bạo miệng nhất cho ý niệm tự do tình dục trong đời sống nữ giới với những bài phỏng vấn, đặt các nữ nghệ sĩ tân thế hệ vào vai trò dẫn dắt, cùng những loạt bài tư vấn cho một phong cách sống đầy rủi ro nhưng gay cấn cho các nữ độc giả nhà Cosmo. Bà trang bị cho các nữ độc giả của mình ý thức về quyền năng nội lực mạnh mẽ của họ để sở hữu tất cả: ái tình, khoái lạc và tài chính – một cái nhìn mà ngay cả các nhà hoạt động nữ quyền mạnh mẽ nhất thời ấy là Betty Friedan và Germaine Greer, trong cuộc đấu tranh chung chung đại diện các bà nội trợ toàn tâm toàn ý tề gia, vẫn chưa dám công nhiên nhìn nhận. Với binh đoàn tinh nhuệ của mình, gồm những nữ nhân sành sỏi, có gout, diễm tình và táo tợn được lôi vào cuộc thánh chiến, Helen Gurley hình thành một chân dung đa sắc nóng hổi của thuộc tính “Cosmo girls”, về sau trở thành hình thái điển hình của sự văn minh và tiến bộ thật sự của nữ giới.

Nhưng những năm oanh liệt của vị công thần nhà Cosmo nhanh chóng bị lãng quên. Năm 1997, bà bị dời khỏi vị trí tổng biên Cosmo U.S. bởi sự xuất hiện của Bonnie Fuller. Vào thời điểm này, Cosmopolitan đứng hàng thứ 6 trong cuộc đua cháy sạp của các tạp chí Mỹ, và trong suốt 16 năm liên tiếp, giữ vị trí hàng đầu tại các hiệu sách của các trường đại học toàn nước Mỹ. Nhưng bà vẫn được trọng dụng tại hãng xuất bản Hearst và duy trì vai trò đại tổng biên cấp cao của toàn thảy 59 ấn bản Cosmo trên toàn thế giới cho đến ngày cuối đời – ngày 13 tháng Tám 2012 vừa qua.

Cẩm nang thụ hưởng của gái thành thị đơn thân

Nhìn lại những năm tháng với Cosmo Mỹ, bà đại tổng biên thở phào nhẹ nhõm và tự hào: “Đó là tờ tạp chí tuyệt vời. Nếu có một điều gì tôi muốn họ ghi nhận khi nhớ về tôi, đó sẽ là: bà ta đã tạo ra một thứ hữu ích. Các nữ độc giả của chúng tôi, họ luôn cần một cuốn cẩm nang để bước vào thế giới bản ngã của chính mình.”

Suy nghĩ đó đã được hình thành từ những ngày mới nhậm chức tổng lãnh tờ Cosmo Mỹ, bà đã thiết lập và cài cắm hệ thống ngôn ngữ riêng của một tộc người mới: các “Cosmo girl” – ngổ ngáo, gợi tình, thông minh lẫn ranh mãnh. Bà tự mô tả mình là một “mouseburger” (bánh mì kẹp chuột) – hàm ý môt phụ nữ không có lợi thế của nhan sắc thiên phú, nhưng có khả năng buộc bản thân phải học và làm việc cật lực để trở nên quyến rũ và thành công. Trên trang bìa Cosmo, Helen dàn trải những tấm dung nhan với những mái tóc kiểu sư tử cuồng nộ, những khe ngực sâu đắm đuối của nhiếp ảnh gia Francesco Scavullo, rồi thượng lên phía trên dòng tít “Không Gì Mau Mỏi Mòn Như Tình Dục – Sự Thật Về Nhu Cầu Tình Dục”. Hoàn toàn không hướng độc giả của mình vào một xu hướng lãnh cảm có kiểm soát, nhưng cho họ một quyền năng tự chiều chuộng và đặt bản thân lên chiếc ngai nữ hoàng tối thượng của riêng mình.

Hẳn nhiên, trong cái công thức tự chiều chuộng ấy, Helen hào phóng dành mấy trang ảnh thơm phức của thập niên 1970 cho quý ông, với bức ảnh kép Burt Reynold e ấp khỏa thân gây sóng gió rần rần suốt năm 1972 khói lửa.

Helen và lối ngôn luận ngả ngớn của Cosmo trở thành một cái gai cho không ít người, mà oái oăm phần nhiều là nữ giới, những cô gái trói cuộc đời nghiêm cẩn của mình trên những dãy bàn công sở. Cosmo đầy thái độ, nhưng thật thà đến sống sượng, đặc biệt là các chuyên đề “săn trai” đôi khi táo tợn đến mức nó khiến người ta nghĩ đến một cuốn cẩm nang dạy các cô gái quyến rũ sếp mình rồi nằng nặc đòi kết hôn.

Một phản ứng dữ dội khác đến từ nhà hoạt động xã hội Betty Friedan, với lời phán xét rằng các bài viết của Cosmo thuần túy là “sự vẽ vời viển vông về tình dục cấp độ tuổi teen”, nhưng về sau, chính bà đã thay đổi quan điểm và tôn vinh Helen rằng “bàn tay biên tập tài hoa đã trở thành nguồn cảm hứng mẫu mực cổ xúy cho tiến trình giải phóng phụ nữ.”

Song song với quyền năng của một nhà nữ cách mạng hợp thời, hẳn nhiên thái độ lộng ngôn của gái hư Cosmo đã mang lại hiệu quả kinh doanh ngoạn mục cho tờ báo. Chỉ trong vòng 4 số tạp chí, giá một tờ Cosmo trên sạp đã nâng từ 35 xu đến 50, và nhanh chóng đạt mức 60, song song với cuộc chạy đua quảng cáo của các nhãn hàng thời trang, mỹ phẩm và sản phẩm tiêu dùng. Đỉnh cao phát hành vào năm 1983 là 3 triệu bản in, rồi duy trì ở 2.5 triệu với giá 2,95USD mỗi tờ vào thời điểm Helen rời vị trí tổng biên tập ấn bản Cosmopolitan Mỹ.

Cosmo Girl tự làm luật và những phần thưởng dọc nẻo đường “hành pháp”

Các độc giả của Cosmopolitan không nghĩ rằng Cosmo-girls là mấy ả lẳng lơ rẻ thối. Nàng là cô người mẫu nõn nường ngoài bìa, nàng hoạt kê và thay đổi đề tài câu chuyện liên tục, sành sỏi mọi tin đồn hành lang, mau quên, chóng chán, có khả năng bắt chước mọi minh tinh với mức giá shopper ranh mãnh, và biết cách tự pha chế hỗn hợp mặt nạ cho công thức spa tại gia. Mẹ cả Cosmo tin mãnh liệt rằng một Cosmo-girl đích thực sẽ luôn có cách để trở thành một ai đó.

Vì đối với bà, “một ai đó” đồng nghĩa với danh tiếng, tài sản, sự trọng vọng, những người đàn ông. Nó còn đồng nghĩa với văn phòng riêng trải thảm giả da beo mềm lút chân, hoa dán tường đồng màu với ghế dựa, gương trang điểm và lỉnh kỉnh chai lọ mỹ phẩm, cùng một chiếc gối dựa thêu dòng chữ “Gái ngoan lên thiên đàng, gái hư đi tứ xứ”.

Đó còn đồng nghĩa với thứ quyền lực thừa đủ để chủ tọa một cuộc họp nội bộ với các tổng biên các tờ sở hội mặc bất cứ cái gì Mẹ Cả muốn, nó còn là chiếc đồng hồ Cartier mua năm 1967 với giá 400USD, sợi lắc vàng trên cánh tay của tập đoàn Hearst tặng nhân kỷ niệm 30 năm thành lập, và bốn sợi khác được giải thích là quà từ “mấy tràng bảnh trai, nhưng không phải nhân tình.”

Nó đồng nghĩa với đàn ông, tình dục không tình yêu, ái tình không hôn nhân, và hôn nhân không con cái. Helen dồn tụ mọi bản năng thiên chức và tờ báo của mình, chăm bẵm và điên cuồng bảo vệ, dồn cho nó mọi sự ưu tiên mà chính bản thân bà chưa bao giờ có được cho mình trước đây. Helen trở thành vị nữ thần hộ mạng của các Cosmo-girl, theo đúng kiểu một bà tiên đỡ đầu mà chính Helen thời xuân trẻ chưa bao giờ có.

“Tôi tin rằng hầu hết các cô tuổi đôi mươi cho rằng mình không đủ đẹp, đủ thông minh hay gợi tình. Họ không có thứ công việc đáng mơ ước, và một tỉ rắc rối nội gia. Nhưng họ cần nhìn thấy, đó là tất cả những nguyên liệu tự nhiên để có thể chuyển hóa thành những điều tuyệt diệu nhất. Và tôi thì kể họ nghe câu chuyện cuộc đời mình, cùng họ ham hố khai thác, vắt kiệt những chào mời của cuộc sống, và cầu khiến số phận chiều chuộng lại mình cho đến kỳ phỉ mãn.”

Bà “bánh mì kẹp chuột” đại diện cho những điều không nằm trong bất cứ tiểu thuyết nào: những cô gái không quá đẹp, không quá thông minh, nhưng làm việc ra trò nhất, dai sức và lì đòn nhất, để trở thành một tạo vật ưu tú, đồng tác giả với Thượng Đế để tự đạo diễn cuộc đời của chính mình – nơi họ thủ vai nữ chính hoàn hảo như mong muốn.

“Tất cả nằm ở khả năng tự tuân thủ cam kết. Tôi chỉ không bao giờ có thể hiểu những ai không làm được điều này. Mỗi người là một nhà làm luật, vậy hãy làm luật, và phần việc còn lại tùy thuộc vào sự tự trọng. Hãy chỉ làm những việc có lợi cho mình, và cho lí tưởng đã chọn lựa, và phần thưởng không cần đợi ở cuối con đường, bạn sẽ nhặt được những món quà kì diệu nhất dọc nẻo đường ‘hành pháp’ ấy của chính mình.”

Trước danh xưng là nhà hoạt động xã hội, Helen nhún vai xa lạ “Đối với các nhà hoạt động kiểu ấy, đàn ông là kẻ thù. Với tộc người Cosmo, ờ thì cũng có thù một số đàn ông đấy, nhưng ân ái với họ thì lại là điều cực hay ho, tuyệt diệu. Vậy thì nếu bạn là đàn bà dị tính, ắt nhiên, đối tượng tình dục của bạn phải là đàn ông. Vậy nếu tôi là một nhà hoạt động kiểu đó và bảo các cô gái Cosmo của mình rằng ‘Chúng ta sẽ không thèm làm tình nữa, bởi như vậy sẽ cần đàn ông, mà phụ nữ tiến bộ không cần đàn ông!’, trời ơi, tôi điên à?”

18 cuộc phiêu lưu của Helen Công Sở

Đường bệ trên chiếc ghế uy quyền và áp lực, Helen vẫn duy trì thân hình mỏng tang với chiều cao 5.4 feet và dao động cân nặng xê dịch trên dưới 100 pounds được duy trì hoàn hảo với chương trình tập luyện hợp lí và thực đơn ăn kiêng được tuân thủ với một sự cam kết sắt đá. “Chớ bao giờ mơ rằng bạn sẽ là một bà béo 60 tuổi gợi tình, và hi vọng những shot ảnh chụp tại một sự kiện từ thiện sẽ khiến bạn đẹp hơn là một ca sửa mũi hoặc căng da”, Helen thật thà thừa nhận mọi xảo thuật thẩm mỹ mà bà đã không hề dại dột chối từ để duy trì một hình mạo quý bà thanh tú từ trước ngưỡng oan nghiệt 60.

Helen Gurley đã không sinh ra như một nàng thiên nga nhan sắc. Sinh năm 1922 để lớn lên giữa lòng thời kỳ đại khủng hoảng, Helen Gurley đã biết tự xoay sở kiếm tiền tiêu vặt bằng chính những gì được trang bị từ nhỏ – cô đi dạy nhảy cho bọn trẻ con. Cha mất khi Helen lên 10, và thân mẫu, một bà giáo, quyết định chuyển đến Los Angeles, nơi mà nàng vịt con xấu xí Helen lấm tấm mụn đọc bài phát biểu đầu đời của mình ở tư cách học sinh tốt nghiệp xuất sắc của trường trung học John H. Francis Polytechnic năm 1939.

Với mảnh bằng tốt nghiệp, tương lai của vịt Helen xấu xí được hứa hẹn trước một đời nữ nhi công sở văn thư. Với kỹ năng đánh máy chữ và tốc ký được học ở trường kinh nghệ, trong chỉ 7 năm, Helen tham gia vào hội chứng chung của thanh nữ văn phòng, tức là nhảy cóc việc làm 18 lần, và một trong những trạm dừng bất kể ấy, khi dừng chân tại hãng đại diện quảng cáo Foote, Cone & Belding, khả năng viết lách của Helen mới được khám phá. Cô được giao thêm công việc của một copywriter. Sau một thời gian củng cố profile, Helen tiếp tục được Kenyon & Eckhardt rước về và trở thành copywriter sáng giá nhất ngành quảng cáo vùng bờ Đông Hoa Kỳ.

Nhưng chính những đồng nghiệp của Helen lúc này cũng không hay biết đây chính là quãng thời gian cô âm thầm tự trang bị những kinh nghiệm và mối quan hệ cần thiết cho một văn sĩ, một biên tập, và một người dẫn chương trình truyền hình về sau. Năm 1982, bà thật thà thú nhận với tờ New York: “Thế này nhé, tôi không nhớ nổi một nơi nào mình đã từng làm việc mà không có dan díu ái tình công sở với ít nhất một ai đó cùng chỗ làm”. Khi được hỏi điều đó có tính cả những vị sếp, bà trả lời: “Tại sao lại phân biệt đối xử với họ?”

“Không có sex, đời coi như bế mạc!”

Cùng với cuộc nhảy cóc sự nghiệp theo kiểu thời thượng của các city girl cả thèm chóng chán, giữa các phiêu lưu ái tình công sở, cuối cùng thì ở tuổi 37 – khi ấy được coi là muộn mằn, Helen bước vào cuộc phiêu lưu dài hơi hơn, được gọi là hôn nhân, với David Brown, vốn cũng từng nắm cương vị quản lý tại Cosmo, và về sau trở thành nhà sản xuất phim.

Chính ông là người khích lệ Helen viết sách, tạo điều kiện cho vợ tranh thủ viết lách vào những dịp cuối tuần, và giúp vợ đặt tên cho cuốn sách đầu tay “Sex an the Single Girl” – một đại cẩm nang lối sống gái độc thân phố lớn. Cuốn sách lập tức lọt bảng top sellers 1962, và cặp đôi bất bại chuyển tổ ấm lẫy lừng của họ đến New York. Các nhà làm phim mời chào Helen món 200,000 Mỹ kim hậu hĩ, nhưng không phải là cho cốt truyện mà cho cái tít quá chừng ngon tai, với Natalie Wood vào vai nhân vật mang tên Helen Gurley Brown nhưng hầu như chẳng thể hiện nét tính cách nào của phiên bản Helen gốc.

Ba năm sau đó, cuốn sách thứ hai được tung ra, với cái tên “Sex in the Office” (Tình Công Sở). Cũng trên đà thắng thế, cặp đôi đề xuất một ý tưởng tạp chí với hãng phát hành Hearst nhưng không thành. Bù lại, Helen gây ấn tượng mạnh mẽ và được Hearst mời về chăn dắt tờ Cosmopolitan khi này đang ngắc ngoải trên các sạp báo.

Sau khi về nhà Cosmo, khi này còn là ấn bản phổ cập thuần túy thời hậu chiến, với những mẹo chăm trẻ và công thức nấu ăn. Bà thẳng tay khai trừ hầu hết các chuyên mục và chỉ giữ lại phần cẩm nang ăn kiêng.

Không cần doanh số để chứng minh, ngay sau cuộc cải tổ này, người ta có “Chiếm lấy anh ta! Những chiêu thức quyến rũ thật sự hiệu quả” trên tờ YM, tờ Madamoiselle có “Hãy làm tình khi đèn sáng!”, Glamour thì giật tít “29 mẹo cho cuộc làm tình nhớ đời.”,  cùng “Khảo sát trải nghiệm tình dục” trên Marie Claire, trong khi Shape trịnh trọng đăng tít “Khoa học rù quến”.


Vị trí tổng biên của tờ Cosmo không dễ dọa Helen, bà tiếp tục dấn bước sâu hơn vào lãnh địa truyền thông, và làm host cho talk show “Outrageous Opinions” năm 1967, phủ sóng 19 thành phố với danh mục khách mời celeb sẵn sàng khai tất tật quan điểm cá nhân về tình dục lẫn những phạm trù mẫn cảm khác.

Nhưng đợt dội bom thị trường xuất bản chưa ngừng lại ở đó, với cùng lúc hai cương vị ở lãnh địa báo chí và truyền hình, bằng một cách nào đó, Helen tiếp tục tung ra 5 đầu sách: Having It All năm 1982 và 1993, vào tuổi 71, bà viết The Late Show, với tít phụ loằng ngoằng nhưng vẫn rất ngon tai: “Chiến Lược Tồn Tại Điên-Rồ-Một-Chút Nhưng Thiết Thực Cho Quý Bà Trên 50”.


Trong một cuộc phỏng vấn, bà thản nhiên đúc kết tinh thần tư tưởng của cuộc cách mạng riêng của mình bằng câu nói “Nếu bạn không làm tình, đời coi như bế mạc. Nó là thứ phân cách giữa các cô gái và các cụ cao niên”.

Trong suốt đời sống hôn nhân, cặp đôi bất bại nhà Brown vẫn chọn không có con. Helen không cam đánh đổi, và David ủng hộ bà.

Tạp chí, truyền hình, và “Having It All”

Nữ đại tổng biên Cosmopolitan Helen Gurley Brown, một trong những nhà hoạt động bình đẳng giới ồn ào và quyết liệt nhất, lại dường như tỏ ra tự mâu thuẫn trong lời tuyên bố “Nếu bạn không phải là đối tượng tình dục, bạn nguy to rồi!”, và gây ồn ào hơn nữa là câu nói trứ danh “gái ngoan lên thiên đàng, gái hư đi tứ xứ”.

Sự mâu thuẫn cực đoan trong hai vế ý thức hệ này cũng hiển hiện trong đời sống riêng tư của Helen, nơi mà từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế của thời ấu thơ, bà bước vào vị trí nữ quyền tân tiến, ủy lạo cho hình ảnh những cô gái vừa hoạt kê vừa gan góc nhan nhản trên toàn thế giới. Vậy mà trong suốt 32 năm tại vị nhà Cosmo, đương khi hô hào đàn bà con gái làm tình và thụ hưởng sự trâng tráo hợp thời trang ấy khi vén váy sải bước qua cửa miệng dư luận, bản thân Helen lại là một vị phu nhân rất mực thủy chung của duy nhất một người đàn ông, cùng lúc tự cho phép mình duy trì các thói xấu vô hại, trong đó có cả thói phù phiếm của thuật thẩm mỹ.

Trong khi Helen vẫn an toàn trong pháo đài hôn nhân lý tưởng của bản thân, thì ngoài kia, xã hội Mỹ sản sinh ra một thế hệ nữ công dân hoang đàng chi địa, mốt ái tình “chơi cho vui” lên ngôi, và tỉ lệ li hôn lẫn hội chứng trầm cảm, bệnh lây qua đường tình dục ở các ‘Cosmo girls’, và các ca nạo phá thai tăng điên đảo. Người ta quy buộc cho Helen dấu ấn tội đồ.

Nhưng cuối cùng, đã không ai nghĩ đến hàng loạt những tạp chí khiêu dâm dành cho quý ông như Penthouse và Hustler cũng đang tung bay như bướm trên mọi sạp báo Mỹ. Và, lời tự bào chữa của Helen lúc sinh thời: “Cuối cùng thì đàn bà đâu có làm tình một mình?”

Thẳng thừng qua tiêu chí của Cosmo, Helen công nhiên đề cao yếu tố tiền bạc, sự nghiệp và tình dục trong đời sống phụ nữ, dù không nhất thiết theo trình tự trên. Các “mục tiêu sống” này được hô hào ủy lạo trong suốt hàng thập niên các chuyên mục bài viết và cẩm nang hướng các Cosmo girl đến ngưỡng cảnh giới cao nhất của các kỹ năng sống rập khuôn: rù quến, làm đẹp, phô diễn năng lực, cạnh tranh, và giải trí nhẹ. Theo bà, “Cách mạng nữ quyền có chăng là một nhu cầu hướng đến sự sòng phẳng, hơn là khái niệm công bằng. Tôi là người làm truyền thông, và tôi chọn thực hiện cuộc cách mạng của mình một cách thực tế nhất, bởi thực tế nên là chất liệu duy nhất của tạp chí và truyền hình.”

Nhưng nếu thuần túy nhìn nhận Helen Gurley ở thông điệp của người đàn bà muốn có tất cả, và làm tất cả để có điều mình muốn, lại là một sai lầm lớn. Trong khi các nhà hoạt động khác khuyến dụ phụ nữ mạnh mẽ hơn trước các nhu cầu của thuộc tính đàn bà, thì Helen khuyến khích họ khai thác và thụ hưởng nó. Nếu việc bị coi là đối tượng tình dục là nỗi sỉ nhục với trào lưu bình quyền chung, thì Helen khuyên độc giả của mình kiêu hãnh và tận dụng thế mạnh đó. Những tiêu đề giật gân của Cosmo về “50 cách chiều chuộng đàn ông” là những thông điệp ngầm của Helen với một nửa còn lại của thực tế phòng the “…để có điều mình muốn”.

Nhưng phụ nữ thật sự muốn gì? Freud không trả lời được, và Helen lẫn các tín đồ Cosmo của mình cũng vậy. Như lão già gân Hefner và đế chế Playboy của lão, Helen tạo nên một đế chế đối lập, và còn là phiên bản giống cái của Thỏ Cột Nơ. Bà lột truồng cả Burt Reynolds lẫn Arnold Schwarzenegger lên trang bìa ruột cho chị em rửa mắt, xếp bên cạnh trang rao bán đồ trang sức rẻ tiền, vài chiêu giường chiếu kinh điển cùng các bài tư vấn về bệnh xã hội. Chủ nghĩa vật dục được hô hào to và rõ, và ngôn ngữ thân thiện xoa dịu cảm giác sống sượng của phiên bản Playboy có chữ.

Cosmo trở thành chân kinh của những phiên bản tiểu Helen – những cô gái với nhan sắc nhàn nhạt, trình độ tầm tầm để văn hóa đọc dừng lại ở một tạp chí lối sống với ngôn văn thân thiện và vài cuốn tiểu thuyết thời danh. Helen không khích lệ họ tự nâng cấp bản thân để gia nhập một thượng tầng xã hội hay tri thức. Bà xoa dịu họ, và cung cấp cho họ những cẩm nang khai thác thú vui thụ hưởng từ chính nhan sắc vừa chừng, mức thu nhập trung bình, và tất cả đàn ông trong mọi quán xá lẫn công sở Hoa Kỳ.

Helen mặc nhiên trở thành phần tử phiến loạn của chính cuộc cách mạng bình đẳng giới. Bà đã đạp lên lằn ranh tuyệt kỵ cuối cùng khi tự chọn cho mình việc không làm mẹ: “Tôi không muốn từ bỏ ngần ấy thời gian, yêu đương, và tiền bạc”.

Năm 1982, khi xuất bản cuốn Having It All, Helen đã viết cho chính những cô gái Cosmo của mình, những cô gái trẻ, độc thân, xứng đáng thụ hưởng mọi điều như bất kì người phụ nữ có chồng nào khác: tiền tài, sự nghiệp, và tình ái. Trong khi các tạp chí tiến bộ khác cân chỉnh cho người phụ nữ khả năng điều tiết giữa công việc xã hội và đại nghiệp tề gia, thì Helen cho rằng các cô nàng Cosmo cũng hoàn toàn xứng đáng tự dành cho mình những điều đó, có hay không có người đàn ông bên cạnh, như chính Helen đã từng làm, với những buổi dạy nhảy của mình trong tuổi thơ bĩ cực mà không có người cha bên cạnh. Hãy yêu đương, phiêu lưu, và cho phép người đàn bà được vuốt ve âu yếm, và khi người bạch mã hoàng tử xuất hiện, nàng sẽ đủ am hiểu để biết cách nhận ra nhà vô địch cuối cùng của cuộc đời mình.

Và như thế, Helen đã dành nửa thế kỷ lửa hương cho nhà vô địch mà bà mất 37 năm cuộc đời để tìm thấy, cho đến khi ông qua đời vào năm 2010.

Tình dục ngoài 50 dưới cơn mưa đá

Helen bảo thủ trong chính cuộc cách mạng của mình. Dẫu về sau, một chút cải tiến cho font chữ các hàng tít sinh động hơn, dàn trang hình ảnh phóng khoáng hơn, nhưng trong suốt hàng thập niên tại vị, bà kiên định với đường lối đã được lựa chọn và minh chứng. Đã từng có những tin đồn về một cuộc cải cách, thậm chí số hóa một số chuyên mục cho phiên bản điện tử, nhưng rồi Helen trấn an tất cả: “Đây là lần đầu chúng tôi thử làm một điều gì khác lạ và táo bạo. Tôi đã cố thỏa hiệp, cũng thử tự cải thiện cho tươi mới hay táo bạo gì đó. Kết quả là tôi thề sẽ không bao giờ thử trò này nữa.”

Bị “nhắc khéo” về sự bảo thủ của tuổi già, Helen nhún vai lờ phắt: “Tôi chẳng thấy mình giống một trưởng lão đáng kính và vô dụng chút nào cả. Tôi là vụ ngoại lệ. Tôi thường nổi khùng với một số người lớn tuổi, đặc biệt những người có cân nặng trên 195 pounds. Họ làm tôi phát cáu và phát ghê!”

Mặc dù với thân hình mỏng tang lá lúa, khi bị Page Six của New York Post liệt vào danh sách thảm họa ngoại hình, Helen sốc chao đảo: “Cả đời tôi đã phải thật sự lao động để cải thiện hình thức mình, làm tất cả những gì có thể. Cuối cùng là bị lên án bởi gầy quá, và như thể tôi ủy lạo cho việc phân biệt đối xử với mấy người bị béo phì vậy. Tôi không làm điều đó bằng việc tự gầy đi, chính họ tự  khinh bỉ thân thể họ bằng cách để mặc cho nó trương lên”.

Ngay cả cuốn sách cuối cùng của bà, cuốn cẩm nang tồn tại cho phụ nữ trên 50 tuổi, tuy không vào hạng bestseller nhưng cũng kịp làm không ít người khó chịu. Trong cuốn này, bà viết rằng phụ nữ không thể có chất lượng cuộc sống cao nếu không làm việc. “Còn chương viết về tình dục ngoài 50 tuổi nữa chứ, chương ưa thích của tôi, vậy mà là chương bị ném đá dữ nhất. Tóm cho gọn, chỉ là suy nghĩ: nếu bạn ngưng làm tình, bạn không còn là đàn bà. Thế là tất cả đồng loạt ném đá vào tôi.”

Ngay cả một số bạn bè của Helen cũng tỏ ra bị xúc phạm và thấy nhột nhạt khi cuốn “cẩm nang bà già ham vui” này cho rằng họ có thể ngủ với bạn của chồng cũng được, chỉ là sex thôi mà. Đâu có đi nghe hòa nhạc, thắp đèn cầy ăn tối, chỉ là sex thôi mà.

“Tôi đặt trọng vai trò của tình dục. Thủ dâm cũng được, nhưng làm tình với con người thật thì vẫn tốt hơn”. Ngay cả với bạn của chồng? Bà ngập ngừng một thoáng rồi cả quyết: “Tôi cho rằng không nên phân biệt đối xử thái quá với bất kì đối tượng nào.”

Tự nhận mình đã nếm khá đủ mùi cuộc chơi trước khi lấy chồng, Helen dành lời nhắn nhủ cho các Cosmo độc thân: “nếu bạn không thể tìm thấy cái gã cưỡi ngựa trắng trên trán có đánh dấu dành sẵn cho bạn, thì đừng có lấy chồng, trừ khi bạn học được cách hài lòng với tình yêu của một anh chàng kha khá, rồi tự tay dạy chàng cưỡi ngựa trắng, uốn nắn hành xử cho chàng cho đến khi bạn có thể hầu như tự hài lòng.”

Chính bà là người ủng hộ việc tung chi chít lên trang bìa những rãnh ngực sâu hoắm năm 1965, một cuộc cách mạng hẳn hoi vào thời kì ấy. Nguyên tắc cơ bản về nội dung thì không khác mấy so với mấy cuốn sách dạy nữ công gia chánh, với phương châm: cứ tuân thủ theo công thức và hướng dẫn, rồi bạn cũng sẽ trông như thế này!

Và chỉ với sự thân thiện hào phóng như thế, các Cosmo girls thật sự đã đi tứ xứ, như Coca Cola có thêm bộ ngực nóng bỏng vậy! Sự khác biệt giữa Helen và một nhà hoạt động bình đẳng giới chính chuyên, đó là nhà hoạt động tin rằng phụ nữ bình đẳng với nam giới, còn Helen tin rằng gái độc thân bình đẳng với gái có chồng.

Vĩnh biệt Mẹ Cả

Hai tuần trước khi Helen qua đời, các nguồn tin kên kên bên ngoài cổng tập đoàn truyền thông Hearst bắt đầu hỉ hả rúng động với tin bà sẽ rời vị trí đại tổng biên sau những thập niên lẫy lừng tại vị. Người ta lại nhớ đến một cuộc sa thải dịu dàng với danh dự tổng biên Cosmo Mỹ để dẹp chỗ cho kẻ kế vị Bonnie Fuller 39 tuổi. Helen lịch thiệp cho rằng đây là lẽ tất nhiên “Sẽ chẳng hay ho gì khi để một lão yêu tinh già như tôi ngồi biên tập những trang báo cho mấy nàng gái phố lớn 23 tuổi. Họ đã làm điều đúng đắn, và thực thi nó một cách nhã nhặn.”

Những ai biết rõ hơn về Helen sẽ hiểu rằng đây không phải là một cuộc từ nhiệm êm ái. Cosmo-girl lâu năm ấy chưa bao giờ tự chuẩn bị cho mình để trở thành một cụ bà cao niên lẩn khuất thư nhàn và bị lãng quên, bà chưa bao giờ sẵn sàng để ngừng làm việc, cũng như việc Helen ở tuổi 90 vẫn đều đặn tập thể hình, và cầu viện đến thủ pháp căng da mặt – bà thậm chí chưa sẵn sàng để ngừng yêu đương. Các độc giả của số Cosmo đầu tiên giới thời Helen, giờ cũng đã chí ít tầm 50 tuổi, và khẩu khí của Helen, từ số tạp chí năm 1965 đến nay, vẫn không hề thay đổi.

Năm 1988, Helen bị công kích dữ dội khi cho phép đăng bài viết về AIDS, trong đó viết rằng quan hệ tình dục dị tính không mang lại nguy cơ lây nhiễm cho phụ nữ, ngoại trừ một số tư thế nhất định. Helen bị lên án đã hồ đồ, thiếu kiến thức và vô trách nhiệm. Kể từ đó, tờ Cosmo hầu như không còn đề cập đến đề tài căn bệnh thế kỷ, nhưng bản thân Helen lì lợm thì vẫn không có vẻ gì là thay đổi quan điểm cá nhân.

Đã có cả một cuộc cân nhắc chuyên nghiệp nhất để tính toán cho sự thay đổi của tờ báo sau những thập niên dưới tôn chỉ tuyên giáo của Mẹ Cả Cosmo, và tập đoàn Hearst đã có điều họ cần – một thực tế duy nhất để thải hồi vị nữ thần vệ quốc sớm 18 tháng trước hạn định của hợp đồng trách nhiệm. Mẹ Cả kiêu hãnh trả lời “Tất cả vụ om sòm này đến tai tôi sau cùng, và tôi là người hết hồn khi biết tin. Đơn giản là tôi chả đang rời đi đâu cả.”

Hai tuần sau khi tin đồn phát tán, tin tức nóng hổi được xác thực duy nhất từ nhà Cosmo là cái chết của Helen.

Frank A. Bennack Jr., CEO của tập đoàn Hearst bùi ngùi vĩnh biệt vị nữ đại công thần quá cố: “Helen Gurley Brown đã là một biểu tượng. Nguyên tắc trung thực và thẳng thắn mà bà vẫn luôn cổ xúy độc giả cùng áp dụng vào cuộc sống, các mối quan hệ, sự nghiệp, và cả vẻ đẹp đã cải mệnh cả nền công nghệ báo chí. Bà đã sống dày và giàu từng ngày trong cuộc đời ấy, và bà sẽ vĩnh viễn được tưởng nhớ như một Cosmo Girl đúng nghĩa. Chúng tôi sẽ rất nhớ bà!

Vâng, và chúng tôi sẽ rất nhớ bà, Helen!

Tuẫn-tiết, Văn-minh, và Đầy Thái-độ

Trác Thúy Miêu

Đứa trẻ không chọn sinh ra vào một ngày lành

Đúng 2 năm về trước, F số đầu tiên tung ra tuyên ngôn “thời trang không phải là nghệ thuật, nhưng cần cả một nền văn minh để kiến tạo và thụ hưởng nó”.

Chặng đường một năm đầu khởi tạo đã được thực hiện đúng với lời tuyên ngôn đầu tiên ấy, khi lần dở ra trên từng trang báo, những câu chuyện, cuộc đời, những thăng trầm của tài hoa thống khổ, và những thái độ thời cuộc đằng sau những đế chế thời trang hùng mạnh và những cái tên đã hóa thánh.

Ngày khai sinh của ấn phẩm F-Thời Trang, ngoài kia, thế giới đang rùng rùng sự sụp đổ của những tượng đài quyền lực trong bi kịch của khánh tận và kiệt quệ, của Christian Lacroix và Alexander McQueen,… Haute couture rùng mình trong cơn tự hủy, những tín đồ hoang mang với câu hỏi “Rồi đây chúng ta sẽ có gì để trông đợi, trước mỗi mùa Thu Đông?”

Nhưng, như đứa trẻ không chọn sinh ra vào ngày lành, F chọn cả tin, điên rồ và lãng mạn, F chọn hướng về thời trang, không chỉ như một trận đồ thương mại, mà còn như một lối sống, một tín ngưỡng, một Tình Yêu.

Đó là một năm của những hồ sơ tên tuổi khét tiếng nhất được lần dở, nghiêm cẩn, trung thực và bạo liệt như chính bản chất của thời trang chuyên chính. Đứa trẻ hư Marc Jacobs, hooligan phá đền Jean Paul Gaultier cho đến cái chết bi thảm của thiên tài yểu mệnh Lee McQueen. Đó đã là năm hình thành nên những loạt bài tư vấn trận đồ mua sắm thế giới, cho đến nay vẫn là kim chỉ nam thân thiết của các shopper Việt, sẵn sàng công phá những bãi săn và trực chỉ hành hương về những thánh địa thời trang nóng bỏng nhất hành tinh. Và miên man bên lề là những cuộc hẹn hò, từ “the boy next door” xóm Manor Johnny Trí Nguyễn cho đến gã đàn ông đồ đá đồ đồng Ngô Quang Hải… F bày ra trước độc giả của mình, những người được gọi là F.readers, một bữa buffet cuộc đời, từ nền văn minh đằng sau những thứ không chỉ là quần áo, cho đến thời trang trong phong cách sống, và trong cả lạc thú đặc ân của một F.diva – những cuộc hẹn hò và những người đàn ông.

12 số F đầu tiên đã ghi dấu cho 12 đại tiệc thụ hưởng thời trang chuyên chính, nơi tất cả đều là Thời Trang, và sự xa xỉ tột cùng của những người đàn bà biết bao phủ bản thân bởi những gì tinh tế và cầu kỳ nhất, với mọi tag giá.

Những vị vua và những bà hoàng đi về đâu?

Đúng một năm sau đó, trong khi F chào đón kỷ niệm tròn 1 năm phát hành thì ngoài kia, như phần số oái oăm của đứa trẻ không chào đời vào ngày lành, giới thời trang cuồng nộ với sự thái quá cuối cùng của gã hiệp sĩ râu kẽm John Galliano. Các tín đồ ở Anh quốc và cả Paris lang thang giữa đại lộ thời trang, tay giơ cao biểu ngữ nguệch ngoạc “The King Is Gone!”, trong khi tay Don Quijote của huyền thoại haute couture nhà Dior bị truất ngôi trong chuyến lưu vong ô nhục. Đứa trẻ hư cuối cùng đã bị đánh đòn và ngai vàng đến nay vẫn còn để trống.

Yếu ớt, vô tâm và vị kỷ, những cơn sài giật đồng bóng của thế hệ thiên tài thời trang đã khiến cac tập đoàn cá mập ngán tận cổ. Họ trở nền phiền toái và tạo bất an không kém sự lộng lẫy kì tài của những thiết kế họ tung ra mỗi mùa.

Những thành trì haute couture còn lại cần những cánh tay tài hoa mới, và những bờ vai khỏe mạnh, vững bền để gánh vác, chờ cuộc chấn hưng.

Trải dọc tuổi đời thứ 2 của F, thế giới lại quằn mình vĩnh biệt một vị vua khác, người giờ đây ắt đang lướt bước moon-walk trứ danh nơi thiên đàng, vĩnh viễn một Neverland cho những thiên tài không bao giờ lớn.

Kế tiếp sau Vua Pop về tuyền đài không lâu là một giai nhân tri kỷ khác của ông, một huyền thoại nhan sắc của nhân loại – người đàn bà mắt tím Liz Taylor. Nàng ra đi, trong khối thân thể tàn tạ và chiếc váy cưới thứ 8 chưa kịp hoàn thành.

Và trong những sinh ly tử biệt ấy, F vẫn lãng mạn và dư dả đức tin để hân hoan thốt lên vào số kỷ niệm 1 năm phát hành: “Cuộc vui chỉ mới bắt đầu!”, bởi với tinh thần lạc quan không khoan nhượng, F hiểu rằng chính khi những cuộc hoán chuyển dữ dội nhất diễn ra, khi những điều đã cũ lần lượt ra đi, đó đồng nghĩa với những khởi đầu mới, và F đang ở mức vạch đầu tiên, sung mãn và đầy kiêu hãnh, bởi: “đứng ở vạch xuất phát luôn là những gã khổng lồ, những người hùng và những quán quân, và cả những kẻ lãng mạn nữa. Bởi khi người ta bắt đầu, tất cả những sự tính toán tỉnh táo nhất, những hoạch định khôn ngoan nhất, tất cả chỉ chịu sự khống chế duy nhất: giới hạn của trí tưởng tượng.”

Đã là 12 tháng, 12 số ấn phẩm của xen kẽ với những cuộc phế truất, những cuộc tử biệt nặng nề, còn là những tên tuổi đang tuần tự thay máu đại cục thời trang thế giới. Từ nữ truyền nhân tóc vàng của Lee McQueen quá cố đã rạng rỡ chinh phục làng thời trang trong chiếc váy hoàn hảo dành cho tân nương hoàng gia Anh Quốc, cho đến người đàn bà nắm trong tay quyền trượng nhiếp chính đế chế Versace và gia huy nữ thần tóc rắn, trong khi ngoài kia, thế trận siêu nhân sự thiết kế thời trang đang được dàn sắp lại bởi những “quân cờ” trẻ trung, sung mãn, và đầy tham vọng. Thế cục vẫn luân hồi chuyển xoay quanh những ngai vàng bỏ trống, những cây thập giá vinh hoa và khổ nạn của haute couture đã sẵn sàng chờ những vị tông đồ trẻ. Cùng lúc, lực lượng những con người đằng sau mỗi ấn phẩm F cũng đón nhận những tay viết mới như một cuộc tiếp máu đúng thời điểm. Và một cuộc hoán chuyển đổi thay lớn đã diễn ra.

Ngạo nghễ trên đống hoang tàn

Chuyên mục Shopping City khép lại, nhường chỗ cho những cuộc du ngoạn hưởng thụ cho một diva sành sỏi, thay cho những câu chuyện về các tên tuổi làng trường túc trong chuyên mục Model được thay thế bằng Style Icon, với những câu chuyện cuộc đời những vĩ nhân đương đại của thảm đỏ thế giới. Họ không chỉ là những nhân vật thượng lưu sành trò ăn vận, mà đưa định nghĩa Style về mọi khía cạnh và giá trị của nó. Đó là vua Pop, Đồng nữ Madonna, Liz Mắt tím, lệnh bà nhà Vogue Anna Wintour, hay tay đàng điếm cao niên Mr.Playboy. Những cuộc đời không hề mẫu mực, nhưng duy mỹ đến tuẫn tiết vong thân ngay giữa phần số phù hoa tráng lệ.

Cũng chính từ Style Icon, F đã tung ra chùm chuyên đề về sự man rợ của thời trang xa xỉ, về những sinh linh vô tội bị tra tấn và thảm sát để đánh đổi cho các nạn nhân của cơn nghiện xác. Họ khoác lên mình những xác chết và tự gọi bản thân là những nữ nhân đại diện cho tầng thượng lưu ưu tú. Trải dài trên liên tiếp nhiều trang báo là chân dung máu lạnh của lệnh bà Vogue Mỹ Anna Wintour với quyền lực tối cao và trái tim của một nữ đồ tể, phía đối diện là cuộc chiến bền bỉ quyết liệt của nữ chính ủy PETA – Ingrid Newkirk, cùng các chiến binh của mình, trong đó là một lực lượng những minh tinh nổi tiếng nhất thế giới tình nguyện khỏa thân và tạo một sức công phá khôn lường lên thị trường thời trang lông thú. Hơn cả lệnh bà tối cao của truyền thông thời trang Anna Wintour, chính họ mới là những mẫu mực duy mỹ chân chính của văn minh thời trang mà F muốn cùng độc giả của mình hướng tới.

Năm thứ 2 của F còn ghi dấu sự ra mắt của Top Brand – một cẩm nang kì thú về huyền sử các tên tuổi thế lực thời trang thế giới, một cuộc chơi thuần túy vị kỷ và tự do của những tay viết không bị chi phối bởi áp lực quảng cáo của một tạp chí. F dàn trải trước các độc giả của mình một giá trị cộng thêm vô song cho mỗi tuyệt phẩm thời trang được mua sắm, vượt trên tầng khoái cảm của việc sở hữu một món “hàng hiệu” đắt tiền, và cũng là một tác động gián tiếp đến nền văn minh hàng chính hãng, đặt một lằn ranh đẳng cấp rõ rệt giữa một tín đồ văn minh với một nạn nhân của các tay buôn sỉ người Tàu và những món vật thứ cấp, nỗi rùng mình kinh hoảng của văn hóa shopping. Thay cho Shopping City, Top Brand tiếp tục đóng vai trò cẩm nang tri thức thời trang cho mọi shopper duy mỹ, khôn ngoan và tự trọng.

Lại thêm 12 tháng nữa, F dẫn dắt các diva tuần tự đến với những hẹn hò, từ tiếng đàn rơi vỡ trong một chiều lặng gió của người đàn ông Hà Nội Phú Quang, rồi ngược về phương Nam đón lấy tia nắng heo hắt cuối ngày với thần tượng tân nhạc Nguyễn Ánh 9,… Tuổi đời thứ 2 của Date Of The Month còn là dấu son ưu ái của những vị vua, từ ông hoàng Nhục Tình Ca Phạm Duy cho đến gã ngạo vương trên bể lệ đàn bà Đàm Vĩnh Hưng.

Ở chặng đường từ vạch xuất phát của mình, F, ngạo nghễ trên đống hoang tàn, chọn sự lãng mạn không khoan nhượng, chọn một tầng văn minh thời trang hướng thượng cực đoan nhất, và chọn chạm vào những vị vua.

Người ta sẽ đi đâu, sau khi chạm vào những ngôi sao?

…và bạn vẫn chưa đọc F năm thứ 3!

Cũng chính từ bom chuyên đề cuộc chiến chống thời trang xác thú, F đã khai mở cho chính mình chặng chinh phục tiếp nối – chủ kiến thời trang. Khi thời trang thoát khỏi tầm mức hạn chế của thuần túy bộ cánh trưng trổ nông khơi, bản chất phù phiếm của nó chính là nghệ thuật thụ hưởng trong xa xỉ cực đoan. Đó có thể là món thời trang non mùa vừa chạm kệ boutique, đó có thể là một tư duy yêu và niêm luật sống mà mỗi độc giả, nhân vật của F xác lập và trung thành tuyệt đối.

Từ số đầu tiên cách đây 2 năm, F đã hình thành mạnh mẽ và rõ ràng một sắc thái ngôn luận, từ văn phong ngôn từ, cho đến thông điệp và thai độ.

Bạn cho rằng các ngôn luận của F đã quá sặc sụa thái độ?

Bạn cho rằng F đầy áp đặt ngông ngạo trong những chủ kiến dễ gây dư luận đa chiều?

Đó là chỉ là vì chúng tôi chưa thực hiện F năm thứ 3!

Stefano Pilati – kẻ đang nắm số cá cược cao về khả năng ngồi vào thế chỗ chiếc ngai bỏ phế trên đỉnh thời trang Pháp đã nói: “Từ những ngày đầu của prêt à porter, đã là những ngày khai mở cho yếu tố thương mại của thời trang. Và ngày nay nó đã thành cái chợ. Trào lưu được định nghĩa là thứ kiểu dáng nào được nhiều người chọn mua nhất trong mùa. Trong thời trang dân chủ, tín đồ quyết định cho xu hướng của tín ngưỡng, đông thắng ít, mạnh thắng yếu. Thành ra cái chợ!”

Không thể hân hoan hơn cho những tín đồ đẳng cấp, khi mà ứng viên sáng giá của thế lực Dior lại là một cái đầu tỉnh táo với một chủ kiến đầy thái độ và quyết liệt đến vậy. Vì F, cũng nhưng những độc giả của mình, tin rằng thời trang, dẫu là prêt à porter dân chủ, cũng cần những kẻ mạnh, những phần tử quá khích, và những chủ kiến dẫu có đầy áp đặt, để chấn hưng, tạc dựng nên một thái độ thời trang rõ rệt, phân định tầng đẳng rạch ròi. Thời trang cần là một bức tranh lập thể đa sắc, nhưng mạnh màu và nặng nghiệp – như tất cả những gì đại diện cho tố chất của thời trang và những tín đồ tuẫn tiết của tinh hoa nghiệp đạo Thời Trang.

Bước vào năm thứ 3, F đã chuẩn bị cho thách thức mới ấy bằng 2 số khai pháo của Smart Money – câu chuyện thật thà đằng sau mỗi món săn vi diệu của fashionista. Smart Money là kim chỉ nam để phân biệt giữa một tín đồ với một nạn nhân. F không chỉ là những câu chuyện nội giới của các nhà thiết kế, các tượng đài phong cách, các nhà thời trang đầy quyền lực, và các cơn sốt theo mùa, Smart Money chính là câu chuyện của độc giả F – những fashionista tân thế hệ: văn minh, ranh mãnh và duy mỹ cực đoan. Đó chính là lý do mà F ưu ái đặt Smart Money ở vị trí đầu trong ấn phẩm, một sự sờ chạm thiết thực đến các độc giả của mình.

Như tuyên ngôn đầu đời của F, thời trang không chỉ là nghệ thuật thuần túy trong ý nghĩa vong thân, đó còn là một thái độ sống, đó còn là một tín ngưỡng để xoa dịu và dẫn dắt, chứ không hề là thói phù phiếm trong những tiếng quẹt thẻ mòn mỏi u mê của những tín đồ thống khổ.

…Và đó vẫn chưa là tất cả mà F có thể vén màn quá sớm khi mà cho đến tận cuốn ấn phẩm F số 24, mọi thứ vẫn chỉ mới đang bắt đầu.

Bạn có thể tin rằng bạn đang cầm trong tay một sản phẩm đích thực của thế hệ văn minh thời trang mới.

Sự thật là, chúng tôi, mỗi người trong cái ê-kíp những con người điên rồ, tuẫn tiết và lãng mạn kì cục đằng sau từng trang viết, từng shot ảnh, ưng gọi đây là một Tác Phẩm hơn.

Và trong thế giới của Thời Trang, trong quan niệm của F, sự khiêm tốn là một giá trị xa xỉ.

3 octave rưỡi và 48 năm

Túy Ca

Từ James Dean trong chiếc xác xe méo mó khét khói, Edie Sedgwick với những ngày thảm hại cuối đời, Michael với cơ thể bị hủy hoại, và giờ đây là Diva Đen, kết thúc cuộc đời như lời thoại trứ danh của Savannah trong Waiting To Exhale: “cuối cùng, tôi nhắm mắt và… thở ra!”

Chúng ta tỏ ra sửng sốt, bất ngờ và đau xót trước cái chết của Whitney Houston, nhưng thật ra trong suốt hơn một thập niên qua, chúng ta đã đứng đó, nhìn nàng chết từ từ ngay trước mắt.

Tiếng ngân lạc điệu cuối cùng

Vào ngày thứ Năm cuối cùng trong đời, nàng có mặt tại buổi tổng duyệt cho đêm gala hằng niên của sự kiện pre-Grammy của Clive Davis – người được coi là đã phát hiện ra Whitney, để cùng tập với Brandy và Monica, trước sự chứng kiến của báo giới. Nàng tươi cười nồng hậu như mọi khi, nhưng trong một dung mạo rối bời, bộ trang phục lỏng chỏng trơ khấc và mái tóc bết ẩm mồ hôi.

Nàng loạng choạng và tỏ ra thất thường trong suốt buổi chiều hôm đó, khi nhảy chân sáo quanh phòng khánh tiết như một đứ trẻ, lúc lại lơ ngơ lang thang bất định ngoài tiền sảnh. Đội cảnh vệ khách sạn nhận cú phone báo rằng Diva Đen đang làm trò trồng cây chuối ngoài khu vực hồ bơi.

Đêm cùng ngày, người ta lại nhìn thấy nàng xuất hiện ở party “For the Love of R&B” của Kelly Price tại Tru nightclulb, hoàn toàn tỉnh táo và thăng bằng. Whitney ngân nga một đoạn gospel ngắn cùng Price, làn hơi của nàng rõ ràng đã không còn phong độ, nhưng điều này cũng đã không còn là sự lạ, kể từ tour diễn sau album “I Look To You”.

Chỉ có điều đã chẳng ai biết được rằng đó chính là màn biểu diễn cuối cùng của Diva Đen.

Hình ảnh của Whitney khi rời Tru Club đêm định mệnh và cái vẫy tay sau cuối. Đã không ai biết rằng đó là lời vĩnh biệt của Diva Đen.

Whitney Houston mãi mãi không sửa soạn để xuất hiện tại đêm gala nọ. Vài giờ trước sự kiện, người ta tìm thấy Diva Đen trong bồn tắm, không còn ca hát, nghiện ngập, và yêu đương.

“Sinking to rise no more…”

Cho đến khi nàng mất đi, người ta vẫn tin rằng câu chuyện tình sâu sắc nhất của Whitney chính là cuộc tình với người bạn gái Robyn Crawford từ 16 tuổi, và về sau là trợ lí riêng trong suốt nhiều năm. Là một con chiên mộ đạo, Whitney tài tình hóa giải scandal bằng một đám cưới linh đình, đương nhiên với một anh chàng rõ là dư thừa nam tính.

Năm 1992, Diva Đen kết hôn với Bobby Brown trước sự chứng kiến của 800 khách mời, trong số đó có không ít người ngấm ngầm tỏ vẻ e ngại cho sự vững bền của những lời thề đang được nồng nhiệt trao nhận trước bệ thờ. Whitney say sưa mê đắm và hể hả đẹp lòng. Nàng cần một vòng tay vững chãi, một thần tượng trong nhà, một người đàn ông để ngước nhìn tin cậy. Trong cuộc trao đổi ấy, nàng phải chấp nhận luôn những gì chàng tha lôi vào cuộc đời nàng, gồm cả những đứa trẻ của hai người đàn bà khác, và đó chỉ mới là màn khởi đầu.

Những vụ ẩu đả nội gia của cặp đôi lập tức được báo giới cập nhật nóng sốt liên tiếp sau ngày cưới. Đáng tiếc, dường như gene cà khịa của Bobby lại nhằm vào cung thê nhiều hơn, tỉ lệ thuận với tình yêu nồng nàn mà chàng cũng công khai dành cho vợ, dù những phi vụ đi đêm của đức ông chồng vẫn thi thoảng được báo giới bắt quả tang.

Chính Bobby về sau cũng thừa nhận rằng hôn lễ năm 1992 với Whitney đã phần nào nhằm chỉnh trang đánh bóng cho hình ảnh bê tha lắm tai tiếng của mình. Như một cuộc đánh đổi tàn nhẫn, ngay khi Bobby Brown tỏ ra chui vừa vặn vào chiếc áo mới mang màu sắc gia đình, thì các vụ scandal, chứng nghiện ngập và thói tính hung dữ thất thường lập tức vây phủ lấy Whitney. Công luận chuyển hướng tình cảm cho nàng từ thương hại sang phê phán khi nàng liên tục xuất hiện trước công chúng với những vết bầm hiện rõ sau lớp concealer. Từ vị trí nữ hoàng, Whitney trở thành hình mẫu hiện thân cho gia đình tệ nạn khu Ghetto.

Cặp đôi rời bỏ nhau chính thức năm 2007, sau 15 năm lửa hương thượng hạ, Houston khuấy đảo truyền thông bằng cuộc tình xập xình nhang khói với phi công trẻ Ray J.

2 năm sau đó, kỹ thuật thu âm đã bảo vệ cho tượng đài diva một cách mỹ mãn, khi nàng cất lên ca từ đầy dự cảm đau buồn: “About to lose my breath, there’s no more fighting left, sinking to rise no more, searching for that open door.”

Đĩa bán chạy, nhưng tour diễn bắt đầu cho thấy một phong độ diva rệu rã và một giọng ca đã bị hủy hoại quá nhiều.

Một tiểu sử đằng đẵng những vụ bạo lực gia đình, tiệc tùng, hào quang và, đương nhiên, rượu, chất kích thích lẫn thuốc an thần, hoàn toàn không có gì khác biệt với câu chuyện của Elvis, Michael, hay Amy – những cuộc đời tài hoa và cụt lủn.

Cả thế giới bên ngoài thảm đỏ đều mơ ước đặt phần số mình vào vị trí một ngôi sao, những kẻ có thể kiếm ra hàng triệu dollar, sống đời đế vương xa xỉ, và để mặc sắc đẹp cùng tiền bạc lo liệu cho mọi thứ còn lại trên đời. Whitney là một người như vậy, với tất cả những sự ưu ái của phần số, và lần lượt mất tất cả cho đến ngày cuối đời ở tuổi 48.

Sống như thiêu thân, chết như thần tượng

Như những ca từ đầy dự cảm trong bản I Look To You, có nhiều giả thuyết cho rằng Whitney rất có thể đã chìm hẳn vào bồn tắm do say rượu, hoặc phê thuốc, nhưng phần nhiều xác suất vẫn nghiêng về khả năng sử dụng thuốc kích thích quá liều. Có vẻ như một giả thuyết đơn giản, phổ biến và hợp lí cho phần lớn các vụ “sao băng hà”. Nhưng giả thuyết đầu tiên lại đúng hoàn toàn, khi xét đến theo nghĩa bóng: chìm hẳn khi say rượu!

Ngay từ lần đầu tiên lạc giọng trên sâu khấu ở độ tuổi còn quá trẻ, Whitney đã trở thành huyền thoại – điều còn có nghĩa là một thứ đã qua. Nàng đã chìm, từ rất lâu, và trong một cuộc hấp hối không hề đẹp mắt.

Trong khi các thủ tục giám định còn chưa cho kết quả cuối cùng về nguyên nhân cái chết, Patricia Houston – chị dâu của Whitney đã là một tiếng nói hiếm hoi cho rằng chính đời sống ái tình của Diva Đen, mà cụ thể ở đây là người chồng cũ và thói nghiện ngập đã đẩy nàng xuống vực thẳm của cuộc sống. Trong buổi trò chuyện với Oprah Wingrey trên chương trình Oprah’s Next Chapter, Patricia thừa nhận đã từng có dự cảm về cái chết trẻ của Whitney: “Điều làm tôi run sợ cho Whitney không hẳn đến từ những cơn say hay phê thuốc của cô ấy vào thời kỳ sau này, mà đến từ một cảm giác rõ rệt rằng cô ấy đang tuyệt vọng tìm kiếm ái tình toàn ở những nơi sẽ chẳng mang lại cho cô ấy điều gì tốt đẹp.”

Công luận phản ứng dữ dội khi Patricia chia sẻ cả những hình ảnh và chi tiết về thể trạng tồi tệ của Whitney trong những tháng ngày cuối. Thói nghiện crack đã khiến Whitney phải đeo răng giả, và chứng mất kiểm soát tiêu hóa khiến nàng phải mặc tã lót khi ra ngoài.

Người ta cho rằng việc Patricia tiết lộ thông tin về đời tư và lối sống của Whitney, cũng như việc La Toya Jackson ngay lập tức lên sóng truyền hình bới móc lại chuyện tình từ 1984 của Whitney với anh trai của Michael Jackson là Jermaine Jackson, là những đòn câu rating thảm hại và báng bổ. Ngay cả việc tiết lộ tấm ảnh cuối cùng của thi hài Whitney Houston cũng là một việc khiến các fan của nàng vừa xót xa thương cảm, vừa đùng đùng căm phẫn.

Người ta muốn Whitney Houston, cuối cùng, được nghỉ cho yên.

Piers Morgan – tay Ăng-lê duy nhất được trả tiền để làm cái việc dạy đời dân Mỹ trên TV Mỹ, đã lạnh lùng tuyên bố rằng những ngôi sao giải trí – phái thượng lưu mới của Mỹ, đang làm gương xấu cho cả thế giới bằng việc sống một cuộc sống bê tha và chết như những thần tượng.

Minh chứng hiển nhiên nhất lại được nhìn thấy khi chính con gái của nàng, đã lập tức phê thuốc trong tình trạng tinh thần suy sụp hoàn toàn ngay sau tang lễ của mẹ.

Xuất hiện trong show Today của đài NBC, Bill O’Reilly thẳng thừng buộc tội giới truyền thông đã khai thác chứng nghiện ngập của Whitney Houston: “Đã không một ai, trong số tất cả những thông tin ấy, thẳng thắn nói rằng ‘Này Whitney, chị ngưng trò ấy lại còn không là xuống đất nằm ngay đấy!’ Họ – những nhà báo, đúng lí ra là làm công việc của truyền tải sự thật. Và sự thật ở đây chính là cái chết được báo trước của Whitney. Cái thứ sự thật đó đã chẳng bao giờ được nhắc tới cả.”

Cú quẫy đạp sau cuối của Whitney, tiếc thay, đã quá muộn, không kịp đặt nàng một lần nữa lên đỉnh thế giới sau khi đã trượt dài quá sâu và quá lâu.

Whitney Houston đã chơi cuộc chơi của mình như vậy, với 3 octave rưỡi và 48 năm. Nàng bắt lấy ngôi sao của mình, nhưng thay vì tỏa sáng dài hơi dưới vì sao may mắn, ánh sáng spot light và rừng flash báo chí chỉ trả lại cho khán giả của nàng một người đàn bà mất thăng bằng và rệu rã.

Nghệ thuật cứu rỗi và xoa dịu, nhưng không phải cho những người tạo ra nó.

Phạm Duy – hoàng đế Nhục Tình Ca

Jasmine nOir

Khi mà ngoài những con lộ trung tâm, những quả châu mừng đêm sao sáng đang được trưng lên cùng lúc với những dãy mai vàng tòe loe phồn thực, thứ hoa nhựa không tàn của thanh tân vĩnh cửu, như một điệp khúc hoan ca lặp lại 12 tháng một lần: Xuân!

Khi mà xen kẽ một cách tài tình vào guồng quay thít chặt của những tuần cuối cùng trong năm là những tấm thiệp hồng như cũng róng riết đầy xách mé: Mùa Tìm Bạn!

Một đáy mắt màu trà, một vạt nắng hanh hao hắt trên khuôn diện người đàn ông cuối chiều, dư vị cuối cùng của những cuộc sờ chạm 12 tháng qua cũng đã kịp tiêu hóa vào từng tế bào xúc cảm và tan biến, bất khả vãn hồi.

Như tuổi.

Như thời gian.

Những hò hẹn lướt qua chưa đủ chậm.

Người ta chỉ đủ thời gian để ghé qua nhau trong đời.

Bạn – diva thế hệ tân nữ nhi tiến bộ, như cô nhỏ xỏ chân vô đôi giày đỏ không thể ngừng những bước nhún nhảy, chợt hiếm hoi một lần ước cho mùa dừng lại.

Chớ vội Hạ thắm Thu vàng, tại sao lại không là một Xuân Hoàng kim Vĩnh hằng Vạn vạn tuế?

Hãy lắng nghe lời khuyên chân thành nhất từ dater của F.: nếu một Xuân dài hơi là thứ bạn đang tìm kiếm, điều dại dột nhất bạn có thể làm là hẹn hò với một chàng trai nhỏ hơn mình.

Hãy tìm đến với người đàn ông có trên mình hơn nửa thế kỷ yêu đương miên man mê khoái, hãy chọn cho mình một con đực đầu đàn với vẻ phương phi phỉ mãn, đôi mắt tinh anh và nụ cười Di Lặc.

Hãy chọn cho mình người đàn ông có mái tóc bạch kim hoàn hảo, khuôn diện hồng hào, và chiếc áo dạ màu bordeaux hàn lâm kiểu cách.

Hãy vận dụng đến từng giọt hormon đàn bà tính để tiết ra thứ thiện chí hợp mùa mà làm cuộc sờ chạm đầu năm với kẻ được mệnh danh là Hoàng Đế Nhục Tình Ca.

photo by DaiNgo

Quý cô F. và phiên chợ tình trung cổ

Điều quan trọng đầu tiên là bạn phải không được quên là dater đầu năm của bạn đã sống gần 1 thế kỷ, và bạn sẽ bình thản hơn khi đương nhiên là cuộc hẹn sẽ không thể diễn ra tại một tiệm café thời thượng nào dưới phố.

Vĩ nhân tóc trắng, cây đại thụ của lịch sử tân nhạc Việt Nam, sẽ chờ bạn trên một chiếc sofa khổng lồ màu tía. Từ khối thân thể ngót nghét 100 năm tuổi phát ra thứ giọng nói vang ấm như chuông đồng và chuẩn mực đến từng nguyên âm phụ.

Ông kể về những cuộc tình, và không về một cuộc tình nào cả:

Những tình nhân trẻ cách đây hàng thập niên cũng hoang mang phi lý đâu kém những nhân tình trẻ bây giờ. Họ hoang mang mò mẫm nhau đòi tìm hạnh phúc, rồi thả rông năng lượng vào những mối tình gầy, những ả vai gầy mi thưa, tình mỏng đến đến vô phương ôm nắm, rồi lại hoang mang tìm nắm những thứ mong manh. Họ cứ ngồi đó, nắm tay nhau rồi về thở than cho cái sự dở dang. Họ như những đứa trẻ nhỏ thơm vào má người tình mẫu giáo rồi bảo rằng dẫu sao đời cũng vá vào được lên vai một mảnh tình.

Ai bảo họ si tình và đa tình? Tôi cho đó là húy tình. Bởi thứ ái tình thật thà trần trụi nhất sẽ nuốt tọng, nhai rau ráu, sẽ đốt trụi những tâm hồn và thân hình mai hạc ấy. Ái Tình là hân hoan xác thịt như nó vẫn hằng, là thăng hoa nhục thể mà “lên đồi hẹn với bình minh”. Ái tình đâu phải vốn dĩ mong manh, bởi trong mắt nhìn của tôi, nó phồn thực ngạo nghễ và mê muội thật thà lắm lắm.

 

Bởi chăng cái thứ ái tình mỡ màng và thật thà trần trụi ấy đã nuôi đến phun trào phỉ khoái nguồn thi hứng tưởng như không cạn của người đàn ông tuổi đời ngót nghét non thế kỷ, giờ đây đang dãn nở thênh thang trên chiếc sofa đỏ thắm, thấp thoáng từ đôi mắt tinh anh tia thép sắc lạnh nghiệt ngã của kẻ đi đi về về đã mòn lối cuộc đong đưa.

Người đàn bà tưởng đã rành tám câu hò hẹn rồi cũng sẽ có lúc run rẩy cảm nhận đôi tia thép ấy lướt nhanh, rất nhanh xuôi chiều dài khiêm tốn của chiếc váy little-black-dress size XS của người đối diện.

Bạn – tín đồ trường phái vị lai của thập niên 1960 với thẩm mỹ Twiggy sẽ thấy mình lạc vào bữa đại tiệc ái tình phồn hoa của những mỹ nhân phồn thực thời 1940, thậm chí xa hơn về phía trước, nơi những người đẹp Phục Hưng tươi tắn khỏa thân ngồn ngộn, đôi má ngây hồng và da thịt tràn trề căng mẩy.

Hay đơn giản hơn, bạn, và tất cả những lý tưởng tình ái lãng mạn tân thế hệ của mình, sẽ thấy bản thân đứng lạc lõng trong một chợ phiên thời trung cổ, lúng túng thẹn thùa trước ánh mắt dửng dưng của tay đại phú hào tài hoa và quyền lực.

Điều này thật tệ nhưng cũng thật thú vị và kích động khôn lường.

Quý cô, hãy giữ nguyên đôi chân an ổn trên đôi gót mảnh, bắt chéo cặp đùi, bởi cuộc hàn huyên chỉ mới bắt đầu!

Người Việt lãng mạn và người Việt giả dối

Người nhạc sĩ tài hoa đã bước qua ngưỡng ngại ngần che đậy mà thơ thới phong phanh trước nhục cảm và ái tình. Thì bạn, cô nhỏ táo tợn, cũng chẳng can cớ gì mà dè dặt khi tung ra một cố gắng yếu ớt thử bao biện cho trường phái lãng-mạn-phi-dục-tình.

Nói rằng Ái là Dục thì hăn hẳn là sai. Vả chăng nếu bảo đấy là Dục, e rằng sẽ sinh nhiều nhầm lẫn tai hại. Tôi gọi đó là Nhục. Ái tình nào mà không thể có cái râm ran Nhục Thể? Dẫu cầm được bàn tay nhau cũng lâng lâng mụ mị tâm thần, ấy là hạnh phúc. Mà dẫu là Ái của cuộc vầy vò trên giường tình, đó cũng là hạnh phúc. Đẹp không nào “anh cuốn lưng cong em ưỡn lưng ong cho sét âm dương nổ tung”. Cái thăng hoa này lại nảy nở từ tình ái, chứ đâu phải chỉ suồng sã dục tình. Nó phải cuống quýt thèm thuồng, phải hau háu tưởng như không bao giờ no đủ. Chứ một cuộc trơ trẽn nguyệt hoa chỉ tổ tanh lạnh lúc nguội trò.

Bạn thở dài, sườn sượt tiếc nuối những cuốn tiểu thuyết diễm tình học đường của Tôi Thương Mà Em Đâu Có Hay và Bong Bóng Lên Trời.

Người Việt Nam quả là tổ sư lãng mạn. Không chỉ từ thời người Pháp mang vào đây những tư tưởng huê tình trưởng giả Tây phương, mà từ thời liền anh liền chị đong đưa lúng liếng đò tình Quan Họ, nào mắt lá răm nào yếm thắm, hay trò tán tỉnh thô bạo ngô nghê Nam bộ “ban ngày mắc cỡ tối ở quên về”, cũng táo tợn, cũng đầy nhục cảm, cũng lẳng, cũng tình lắm đó chứ.

Đến thời trào lưu văn minh Tây học, anh thi sĩ nào mà chẳng tơ vương vài dáng gầy nàng thơ, chỉ ngửi mùi giai nhân đi ngang đã lâng xiêu trời đất, thừa sức tự biên cả một cuộc tình lẫy hoa lệ. Từ các ông Đặng Thế Phong cho chí Văn Cao, ông nào ông nấy cũng ảnh hưởng nhiệt tình trường phái ‘romantisme Francaise’, làm gì có chỗ cho chuyện vầy vò mây mưa.

Nhưng rồi thời nào cũng rách trời rơi xuống một Hồ Xuân Hương táo tợn, một Phạm Duy Tốn phong tình bạo ngược, rồi lại sản sinh ra một Phạm Duy ngạo nghễ với những bản Tục Ca hay tôn vinh ái tình nhục thể qua những bản Nhục Tình ca.

Tình, phải đi với Tục, là thế. Bà thi sĩ họ Hồ có lãng mạn đa tình đấy, nhưng đọc thơ bà toàn nhựa mít với trôi nước trắng trắng tròn tròn, có ai nghĩ đến cái chất Tình ngay đâu, mà đã hừng hực lồ lộ cái điều tế nhị ấy ngay tắp lự.

Tình mà không có Tục, thì dở lắm!

Thế nên mới ra cớ sự, đang viết Tâm Ca, tôi để đấy, viết Tục Ca. Tôi đưa cho các anh Tuấn Ngọc với Duy Quang bảo hát, anh nào cũng hồn nhiên nho nhã, le lưỡi lắc đầu, bảo rằng “bố các anh ấy cũng không dám hát”. Thế là tôi phải minh chứng rằng các anh ấy sai: bố các anh ấy dám viết, thì dám hát.

Lạ nhỉ, tại sao người ta rất sợ phải sờ vào cái nơi vốn dĩ rất thích thú khi được chạm đến?

Vì người Việt ta giả dối lắm, cô ạ, đặc biệt là trong chuyện ái tình. Người ta cần xã hội và lề thói của xã hội, bằng không, chúng ta tất thảy đã thành một bầy đàn hoang dã thác loạn bốn mùa. Thích lắm chứ, thênh thang lắm chứ!

Nhưng thôi, cô đừng nghe tôi. Tôi vẫn là kẻ ngạo ngược xưa giờ, và những kẻ như tôi mỗi thời cuộc không có nhiều, nên ơn Trời, thế gian bình ổn!

Huyền thoại trai lơ và hôn nhân bảo toàn bát đĩa

Đối diện một người đàn ông mà tự thân kho tàng âm nhạc đồ sộ và những huyền thoại ái tình cũng toát ra một thứ hào quang khiến kẻ đối diện choáng mờ. Sự pha trộn kì lạ giữa tính hàn lâm và thông tục, với những nhấn nhá đồng bằng Bắc Bộ trên tiết tấu Tây phương, đã khắc tên ông vào tượng đài vĩ nhân huyền thoại. Nhưng chính thứ ái lực rần rật trong từng ca từ được nhả trau chuốt, và những ẩn dụ nửa ý nhị, nửa buông tuồng trai lơ mới khiến tên tuổi Phạm Duy gắn liền với hình ảnh một tình lang không tuổi.

Dường như ông yêu đàn bà quá, đến chẳng bao giờ là cạn cùng no đủ.

Người ta cứ bảo tôi đào hoa đa mang lắm, ừ đành rằng cũng có, bởi đương nhiên là vậy, nhưng không nhiều đến như họ đồn đại đâu. Nếu tôi nhớ không lầm thì độ vài trăm. Có lẽ nhờ được trời phú cho âm nhạc, hóa ra lại là ngón “câu khách” rất thành công. Thậm chí cách đây không lâu, vẫn còn có những bà thính giả chân thành lắm, nguyện về nâng khăn sửa túi. Chết thật, mà khi ấy tôi trả lời bà ấy ra sao tôi cũng quên rồi.

Người ta ngoài kia thương tôi nhiều lắm, nhưng rồi thời ham hố qua đi, có khi ngồi lại tôi lại tham lam hỏi người mà như tự vấn “Yêu tôi, hay yêu đàn?”

Rồi bà nào cũng thế, đàn thì có thể nghe được từ xa, chứ người đàn ông sống gần mới ê chề nhìn ra bao nhiêu là thói xấu. Chả mấy ai mà chịu nổi tôi, thế là họ ra đi, tôi lại vào vai anh thất tình ngồi viết nhạc để tán kẻ đến sau.

Thế rồi cũng có một người đàn bà chịu ở lại và sinh nở cho ông những đứa trẻ, bây giờ là những tài hoa lừng lẫy. Nửa đời kề cận vợ chồng, Phạm Duy vẫn chỉ gặp một người đàn bà theo ông là đủ hoàn hảo để làm được điều đó.

Bà cho ông mặc tình làm đứa trẻ tài năng và trái thói, mặc lòng, bà ấy vẫn dung dưỡng cả những thói tật của đức ông chồng vĩ nhân.

Một người đàn bà đẹp đến mấy, rành đường phong nguyệt đến mấy, lúc xa có tiếc, cũng chẳng tiếc là bao. Nhưng người nhạc sĩ già ngẩn người, hụt hẫng như đứa trẻ say vòi

Nếu có điều gì để tiếc, tôi chỉ tiếc rằng người vợ quá dễ thương, bà ấy mất sớm quá!

Nửa thế kỷ làm vợ, bà ấy đánh đổi để có được trong tôi một vị trí chưa hồng nhan nào có được, và độc tôn vĩnh viễn về sau. Tròn 50 năm sống với nhau, đến khi bà ấy mất đi, tôi vẫn không tin được rằng chưa hề có một cái bát cái đĩa nào bị vỡ.

Người đàn bà lí tưởng nên hiểu và yêu, hay chỉ nên khéo chịu đựng?

Chịu đựng chứ, không thì loạn gia cang lên mất!

 

Dater ngô nghê của F. sẽ gật gù chiêm nghiệm một chân lí hồn nhiên mới về cuộc hẹn hò lớn và lâu nhất đời người: cuộc tình viên mãn và một cuộc hôn nhân hoàn hảo là khi người ta chịu đựng nhau một nửa thế kỷ mà vẫn bảo toàn bát đĩa!

Một và một vạn

Như một tín đồ trường phái hưởng thụ chuyên chính, khuôn diện ông lại giãn nở hài lòng:

Ai bảo hôn nhân là khổ lụy thì tôi thương họ lắm, bởi mỗi ngày trong hôn nhân của tôi đều tựa thiên đàng. Hay bởi tôi tham lam tôi đòi nên được đáp? Tôi như đứa trẻ được cưng chiều suốt 50 năm. Tôi như trong một cuộc tình dài.

Rồi người ta cũng chỉ ghé qua đời nhau, cuộc tình tàn cuộc không có nghĩa là cuộc tình tạm bợ. Tôi không tin vào ái tình tạm bợ, cuộc duyên phần có thể chóng vánh, thậm chí dẫu chỉ vừa đủ cho một lần hoan lạc, nhưng nếu ta đói khát cho cạn cùng, cho nhận cho phỉ mãn, với tôi, đó vẫn là một cuộc tình trọn vẹn. Ấy huống hồ chi 50 năm phu phụ, những chuyến nhận-cho mang về những kiếp người mới, những đứa con. Cuộc tình ấy, với tôi là thiêng liêng trân quý lắm. Đến nỗi ngay những ngày gần đây, tôi vẫn thẫn thờ nhận ra bà ấy vẫn đang ở nhà, ra vào trông nom kề cận bên tôi. Thế mới hay, mới gọi là sống lâu biết đâu chưa đi trọn hết một cuộc tình. Tôi giàu có lắm, bà vợ tôi quả là người đàn bà vô giá: “yêu một người như yêu một vạn người”

Rồi ngay lập tức, như để đánh tan sự thất vọng của kẻ đối diện, ông cũng không thể ở lâu trong vai trai góa mồ côi:

Còn những cuộc tình. Lại nữa, ai bảo ái tình là khổ lụy, tôi cũng thương cho họ lắm. Dẫu có lúc bị phụ, ấy nhưng trong ái tình tôi “phởn” lắm, nên lúc nào cũng thơ thới. Khi yêu đương thì tôi mê muội quên đời, nhưng khi chuyện không thành, tôi hầu như chẳng chút dằn vặt. Cứ thế, nước trôi qua cầu thì dòng mới trong, mới thoát. Tù đọng làm chi cho ngầu đục dòng đời. Tôi chẳng nhớ gì, chẳng mong nhắc lại gì. Những gì đáng giữ thì đều ở lại cả trong tôi làm của nả mang về Tuyền Đài. Còn giờ đây, tôi còn bận giang tay ôm sự sống, chẳng còn tay nào để cắc cớ lần dở chuyện đã lắng sâu, trôi xa.

Những cuộc tình… Dường như Phạm Duy chỉ có một cuộc tình thủy chung duy nhất với Ái Tình ở nghĩa yêu đương rộng nhất, mà trong đó, những người đàn bà đến và đi, thay phiên nhau ngồi vào ghế nàng thơ, những nàng thơ thật ngoan.

Một người đàn ông, bận rộn lắm, và phải tự tạo cho mình một cái thế kiềng 3 chân vững chãi để làm nên cuộc sống: một sự nghiệp, một vợ, một người tình. Vợ tôi, bà ấy biết hết, hiểu hết, mà chẳng bao giờ một tiếng trách hờn. Bởi tôi là kẻ quá đỗi chung tình, nếu không thì tội gì tôi đã nói “nhiều người tình” chứ đâu chỉ là một.

Tôi thành danh về sự nghiệp, với vợ tôi là một cuộc hôn nhân trọn vẹn đề huề, và với người tình, tôi đoan chắc ngay giờ đây bà ấy vẫn đang nghĩ về tôi nhiều nhất. Có 3 điều ấy được bảo toàn, tôi thấy mình trọn vẹn, sung sức và phỉ mãn nhất, ở tư cách một người đàn ông.

Chẳng phải thế cân bằng của vạn vật chỉ cần là sự đối trọng hai yếu tố Âm-Dương? Tại sao ở đây, người đàn ông lại đòi hỏi có đến 2 người đàn bà?

Ô kìa, mỗi người đàn ông cần một vạn người đàn bà ấy chứ có phải 2 đâu. Nếu chỉ xét theo những gì Tạo Hóa ban tặng, từ xác thịt cơ thể, đàn ông đàn bà đã chẳng được tác tạo nên là vậy, việc của kẻ đi gieo giống, việc của kẻ ủ mầm,… Nhưng rồi có xã hội, có văn minh, có lề thói và trật tự. Người ta vẫn luôn cần những người có đạo đức, hoặc quyền lực, để đứng ra thiết lập đạo lý và lề thói cho an ổn mọi bề. Những cái người ấy, rất cần thiết là vậy!

Vậy ra đạo lý không đi cùng với tự nhiên sao?

Đạo lí phải đi cùng với tự nhiên, để kiểm soát và ngăn loạn. Nếu không thì tôi ở tù từ lâu rồi!

Những người đàn bà tuyệt vời!

Đàn ông, thật là những đứa trẻ hư hỏng quá đỗi! Chúng hư hỏng vì được nuông chiều.

Những đứa trẻ như thế, thường chỉ biết yêu chính bản thân và những cơn say vòi vô độ.

Thú thật, người đàn ông có những lúc yêu vì tự ái. Đàn ông tự ái ghê lắm, cần chăm sóc mơn trớn cái góc tự ái đó. Thế là họ dan díu yêu đương, và mỗi người huênh hoang theo một cách, anh phàm phu có cách của anh ấy, tôi thì khoe tình vào nhạc.

Nhưng không hiểu sao, những người đàn bà trong đời tôi, chẳng có bà nào phàn nàn về điều đó cả. Chẳng có ai bảo tôi phải bỏ vợ vì họ cả, mà vợ tôi cũng chả hờn ghen xem chuyện yêu đương ngoài chồng vợ của tôi là điều khuất tất. Những người đàn bà tuyệt vời!

Nhạc sĩ đánh giá sự phục tòng ấy là một phẩm hạnh của giống cái?

Hẳn nhiên, nếu không muốn nói là một trong những phẩm hạnh cao giá nhất.

Ông có e đây là ngôn luận phong kiến – một dấu hiệu đáng buồn của thời gian?

Lạc hậu à? Chẳng biết các chị phụ nữ của những anh khác thế nào, ngay trong thời đại văn minh này, những người đàn bà tuyệt vời của tôi, xưa nay họ vẫn nằm dưới.

An-nam woman smoking opium. Photo by Albert Kahn

Một thoáng văn minh thụ hưởng từ tư duy đồng đẳng tân thời khiến bạn khẽ rùng mình trước một sự khiếm nhã thản nhiên tênh hênh đến vậy.

Và không có gì qua mắt được sự tinh anh quái quỷ của người đàn ông đối diện

Nhưng chớ nghĩ tôi hàm ý điều chi khinh thị. Họ là Mẹ nhân loại, và khi an nhiên đặt mình bên dưới người đàn ông, họ hào phóng ban bố khoái lạc và Sự Sống. Nhân loại u mê trụy lạc, hay thông mẫn phồn vinh cũng từ đấy mà ra.

Thói trăng hoa ham hố phải chăng là một cách tán tụng nâng niu những người đàn bà đẻ ra sự sống ấy? Hay đó chỉ là nhu cầu vô độ của lạc thú ái tình hoặc thuần túy bản năng gây giống?

Đó là bản năng, thuần túy và thật thà nhất. Và người đàn bà hạnh phúc là người đàn bà hiểu rõ điều này.

con gái An Nam từ góc máy Pierre Dieulefils

Hồn nhiên là thế, đến trần trụi sỗ sàng nhưng hiển nhiên tự tại.

Cứ hồn nhiên đi, hồn nhiên là đàn ông đàn bà, rồi sẽ tìm thấy nhau mà hồn nhiên yêu. Adam yêu Eva đâu phải bởi quá nhiều tán tỉnh tương tư hay chiêu dụ mồi chài rù quến. Một đàn ông một đàn bà, mà từ đó những tội tình kì thú sinh ra.

Xuân Vĩnh Cửu trong cõi hoa màu thiền

Những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc hẹn, người đàn ông thả mình vào lưng ghế màu tía, vẫn cái giọng chuẩn chu đến từng nguyên âm phụ, nhưng đã không còn âm sắc ngạo tình tinh quái:

Chung quy ra Đạo Ca, Bé Ca hay Tục Ca, tất cả đối với tôi, đều là những cái Tri, cái Ngộ. Giữa cuộc u u minh minh của số phận và thời cuộc mà tôi gọi ấy là cái “thành vách sương mù”, tôi viết nên Đạo Ca như một nẻo đường sáng để vin vào và hướng tới. “Đạo” ở đây là “con đường”, chớ không hề là tôn giáo. Giữa những ái tình hời hợt thoảng qua, giữa những vai gầy mi rối tóc tơ, tôi lại ngộ ra chân lí của ái tình thăng hoa trong cạn cùng mãn nguyện, tuyệt đối của cuộc Nhận-Cho, và buông tuồng đến thật thà.

Cuối cùng, sau cuộc hành lạc hân hoan, “châm một điếu thuốc trầm ngâm lõa thể”, tiếng thốt lên tấm tắc của tình nhân “em thơm như cỏ hồng, em ơi!” chẳng phải là thiên đàng hạ giới đó sao?

Những kẻ như tôi không nhiều. Trong cuộc u u minh minh như kể ở trên, mấy ai thoát nỗi hoang mang đến trốn chui vào cái “động hoa vàng” mà an đời yếm thế. Còn tôi, yêu đời như tình nhân, phải ôm chầm lấy mới hả, dù điều đó sẽ gây đau vì cuộc sống không mấy khi tròn trịa. Mà hề gì, được Sống, cứ vồ vập lấy đi, “động hoa vàng” ai về sau mà chẳng có riêng cho mình một cõi hoa màu thiền.

Bạn sẽ đứng lên, giã từ cuộc hẹn hò khai Xuân với tình lang không tuổi.

Hãy thanh thản ra về, ngân nga cho chính mình một nguyện cầu chưa bao giờ xưa cũ

Xuân tôi ơi ! Sức Xuân tôi còn khát khao
Dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu
Xuân muôn năm, có ta Xuân còn hơi Xuân
Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần…

Ngoài kia, xuôi những con lộ trung tâm, như vẫn hằng 12 tháng một lần, người ta lại đang một lần nữa rộn ràng chăng kết thứ hoa Xuân Vĩnh Cửu kì khôi bằng nhựa, một cõi hoa màu thiền.

người đàn bà mặc quần và nhảy múa

Túy Ca

Nàng cũng có thể là một giai nhân đồng tính nữ tiên phong và ngổ ngáo nhất trong lịch sử nhân loại với những người tình mà người ta vĩnh viễn không bao giờ được biết tới. Hình tượng lưỡng tính ấy cũng rất có thể đã chỉ là một siêu phẩm liều lĩnh và hoàn hảo của công nghệ PR thời tân điện ảnh. Nhưng điều mà Marlene để lại cho thế giới là những chiếc quần dành cho quí bà, những người đàn bà thích sải những cặp trường túc để đạp đổ định lề, và để nhảy múa.

Lưỡng tính hay phi giới tính?

Nàng bao phủ đài huyền thoại bản thân bằng một làn sương khói lẫn lộn thực ảo, với lời xác thực duy nhất được kẻ trong cuộc mang theo xuống tuyền đài, bỏ lại phía sau hàng thế hệ tín đồ vĩnh viễn ôm trong lòng mối ngờ hoặc về những sự thật nhạy cảm không thuộc về mình. Mặc nhiên, phong cách, nghiệp mệnh và tuyên ngôn sống của nàng mãi mãi được ngưỡng vọng và tôn vinh bởi những tâm hồn tự do, những đứa con trai và con gái của Thần Ái Tình phi giới tính.

Nàng chưa từng khẳng định bất cứ cuộc dan díu ái tình nào với một phụ nữ, trong khi các nhân vật do nàng hóa thân, luôn biến đổi khôn lường, và luôn phảng phất một sự nhập nhằng bất định giữa hình hài một người đàn bà sắc sảo, ngấm ngầm lửa dục, và một khi nào đó khác, nàng lại có sự quyến rũ của một quí ngài lạnh lùng và tàn nhẫn. Không ai được biết đến một madame Marlene thật sự.

Vậy mà nàng lại là tất cả để đại diện cho tinh thần tự do luyến ái và tất cả những lý tưởng tối thượng mà cộng đồng gay trong thế giới đương đại vẫn hết lòng ngưỡng vọng và tụng ca.

Chính vẻ lưỡng tính thanh lịch và quyến rũ kì lạ của Dietrich khiến nàng trở thành hình mẫu lí tưởng của dòng bút siêu xa xỉ MontBlanc mang tên nàng: Marlene Dietrich như một sự ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho một tinh thần mã thượng quí phái bên trong dáng vẻ của một tuyệt tác nghệ thuật cầu kì và tinh xảo. Dòng Marlene Dietrich là những thanh viết máy mạ bạch kim và nạm một viên saphire màu xanh biếc, gợi nhớ tinh thần siêu phẩm Blue Angel.

Một sản phẩm xa xỉ nổi tiếng khác của thế hệ siêu tín đồ của madame Marlene là dòng nước hoa Angel của Thierry Mugler. Tay tài hoa cổ quái đích thân thiết kế vỏ chai hình ngôi sao sắc lạnh, bên trong chứa thứ hợp hương màu xanh biển óng ánh thuần khiết. Hình ảnh đôi lưỡng quyền cao, mái tóc hung chải chuốt và vẻ lạnh lùng quí ông phía trên một thân hình Vệ Nữ của Dietrich cũng luôn ám ảnh các bộ sưu tập haute couture của Mugler, tạo nên những thế hệ phiên bản sặc sụa khí chất nữ quyền.

Phong mạo của nàng, ngang tàng nhưng không thô lậu. Marlene sở hữu cho mình một sự khôn ngoan tinh tế của một diva sành sõi, khéo léo chọn những bộ nội y tôn tạo kiêu hãnh cho khuôn ngực cao, những bộ smoking chít eo sắc sảo, những cặp quần dài khoe tối đa đôi trường túc trứ danh, và kỹ năng trang điểm tuyệt nghệ cho đến về sau vẫn làm khuôn mẫu cho những tín đồ trường phái pinup, những cặp lưỡng quyền cao bên dưới đuôi mắt khép hờ, trễ nãi và gợi tình.

Như một nàng thơ bất hủ của thời trang và tinh thần avant garde, vị tổ nghiệp haute couture Yves Saint Laurent đã từ khí chất lưỡng tính ma mị của madame Marlene mà làm nên một cuộc cách mạng vĩ đại, vĩnh viễn đảo lộn tủ quần áo nhân loại dưới cái tên cũng sặc sụa hơi khói như giọng ca của chính nàng – Le Smoking.

Cây vĩ cầm mồ côi và Thiên Sứ bạc phần

Maria Magdalene Dietrich sinh ngày 27 tháng 12 năm 1901, tại Berlin, con gái của một trung úy cảnh sát. Nàng lớn lên giữa môi trường của âm nhạc và bắt đầu biểu diễn vĩ cầm từ năm 12 tuổi. Nàng luôn ưng chọn mặc những bộ tuxedo của các cậu con trai hơn là mặc váy. Dường như nàng đã hiển hiện tài năng của một thần đồng âm nhạc cho cả một tương lai được định hình trải thảm. Nhưng chỉ vài năm sau đó, cuộc đời cô nhỏ tomboy chợt rẽ ngoặt ngoạn mục, khi cô mất cả cha lẫn mẹ trong một vụ tai nạn, và chính Marlene bị thương nặng nơi cổ tay, nàng không còn chơi vĩ cầm được nữa. Tất cả những gì nàng còn lại cho tương lai chỉ là một phong mạo dị biệt và một tâm hồn vĩnh viễn đóng cửa với thế giới bên ngoài.

Mãi mãi về sau, không ai biết gì về những năm hoa niên trong đời Marlene sau đó, cho đến mốc thời gian 1921, cô thay tên đổi họ và thi tuyển vào trường kịch nghệ nổi tiếng khắt khe nhất nước Đức của đạo diễn Max Reinhardt. Marlene đã không đủ xuất sắc để dành được suất học tại học viện danh tiếng của ông. Dietrich tái xuất trong buổi diễn thử trước mắt Reinhardt 2 năm sau đó, lần này, Reinhardt thua cuộc, còn Dietrich nghiễm nhiên trở thành học viên kịch nghệ của ngôi trường khắc nghiệt nhất Berlin. Nơi đây, nàng đã bắt đầu sắm một vài vai phụ trên cả sân khấu ca kịch lẫn một số phim ngắn, cùng lúc làm thuê tại một xưởng làm găng tay để trang trải học phí. Sau khi ra trường, Marlene đã bắt đầu hình thành tên tuổi của mình trong thị trường màn bạc mới, khi này còn là kỹ xảo tân kỳ trong làng giải trí thế giới.

Dường như số phận đã mỉm cười và xoa đầu cô nhỏ thích mặc đồ con trai. Êm ái như một bước dạo đài vinh quang, Marlene – như một cô đào mới nổi và đang được ưa chuộng, kết hôn với đạo diễn Rudolf Sieber và có với nhau bé gái Maria. Lại một lần nữa, dường như con đường trải dưới chân Marlene trở nên rõ ràng và quang đãng, nếu như không có cuộc gặp gỡ định mệnh với tay đạo diễn người Áo, kẻ đã âm thầm trong một thời gian dõi theo từng khuôn hình màn bạc thuở ban đầu của nàng, từ khi còn là một cô học trò trường kịch nghệ.

Khi này, nàng Marlene 29 tuổi với hơn 20 bộ phim trong hồ sơ, và vừa trúng đậm một vai để đời trong bộ phim làm nên huyền thoại của Josef von Sternberg – Blue Angel. Quả tình, cái tên đầy màu sắc hi vọng Thiên Sứ Xanh đã phù trợ một đòn bẩy tuyệt hảo, chính thức bắn tung cả Marlene lẫn Sternberg lên vòm trời cao nhất của các minh tinh thượng thặng, lưu danh mãi về sau. Điều duy nhất bị bỏ lại sau lưng nàng là chồng và con gái Maria, khi cùng Sternberg lên đường chinh phạt hào quang Hồ Ly Vọng.

Nước cờ mạo hiểm của “quí bà mặc quần”

Cho đến tận nay, các nhà phê bình và cả giới thời trang vẫn xem hình tượng Marlene Dietrich trong Blue Angel là một hình hài tiên khởi của nét quyến rũ lưỡng tính mãi mãi trở thành dấu ấn bất hủ của huyền thoại Marlene. Một trong những scene gây dư luận nhất ở Morocco, nàng xuất hiện trong bộ smoking đen của đàn ông và hát tặng một quí bà, hiển nhiên là đang ngất ngây vì những lời ve vuốt thốt lên từ một bộ dạng lịch thiệp lưng ong. Marlene nhón tay cầm lấy cành hồng đặt trên đùi người phụ nữ, hôn nàng thật nhẹ lên môi, và chính thức in dấu son của nụ hôn đồng tính nữ đầu tiên lên lịch sử màn bạc thế giới.

Đó đã là một nước cờ hình ảnh liều lĩnh nhưng Marlene đã thắng. Mọi khán phòng lặng ngắt với những đôi mắt mở to và những bộ hàm tê liệt, trước mắt họ là một người đàn bà “dám” mặc quần áo đàn ông và công khai thứ cảm khoái nhục dục kì quặc của việc luyến ái với kẻ được Chúa cho một chức năng và thân thể giống như chính mình. Thế mà trông nàng mới lộng lẫy, ma mị, và trên hết, trông nàng mới gợi tình làm sao!

Không lâu sau, Dietrich được đánh giá là người mặc nam phục đẹp nhất Hollywood.

Hiệu quả của nước cờ liều đã được khẳng định, và không còn có gì có thể ngăn Sternberg cùng Marlene tiếp đục theo đuổi hình tượng lưỡng tính của cái mà họ cùng gọi là “trò hề ở Morocco”. Nàng xuất hiện ở khắp nơi trong một phong thái được chờ đợi trước – hẳn nhiên là ngời ngời nam tính, nhưng luôn gây bất ngờ. Khi thì kiểu đồng phục lính thủy phóng túng phong tình, lúc thì bộ tuxedo trắng ngạo nghễ dáng vẻ công tử bột, thậm chí là cả những bộ quần áo lót của nam giới, vỗ về ôm chặt lấy những đường cong đàn bà. Quí bà quí cô ngỡ ngàng lần mò cảm xúc xa lạ khi ao ước được nàng ném cho những ánh đong đưa qua đuôi mắt dài sắc lẻm, cùng lúc không quên nhắc cánh đàn ông nhớ rằng đằng sau lớp áo quần của chính họ là một thân hình Vệ nữ xanh xao, tràn trề nhục dục, nhưng có vẻ như, chỉ “có vẻ” thôi, không dành cho các quí ngài!

Những giai thoại quanh nữ thần luyến ái

Một cách cố tình, hay chỉ vì chính Marlene cũng say sưa với cuộc sổng chuồng của một góc quái tính dục tình tiềm ẩn, nàng mặc nhiên ve vãn, dù bằng một sự ý nhị rất đàn bà, với mọi cô đào có mặt ở phim trường. Những giai thoại ái tình lập tức được truyền miệng, người ta đồn rằng nàng có thể ân ái cả với đàn ông lẫn đàn bà, và tên của các nữ yếu nhân được nhắc đến nhiều nhất là Edith Piaf và đào Greta Garbo.

Phần lớn những giai thoại dựng đứng quanh người đàn bà mặc quần là những cuộc đồn thổi khoái trá của giới đói tin nhàn hạ, hoặc nhờ công thêu dệt tận tâm của các tay phóng viên lá cải, nhưng một sự thật được minh chứng duy nhất trong hồ sơ tình sử của Marlene là cuộc tình dài hơi với nữ sĩ Mercedes de Acosta. Họ công khai những cử chỉ luyến ái, với Acosta ở vị thế mềm mại và lệ thuộc của nữ giới, và Marlene trong vai trò người đàn ông, mà ngày nay giới lesbian gọi là “femme” và “butch”. Mối quan hệ “bạn hữu” này kéo dài 10 năm. Vài năm sau khi Marlene mất, con gái bà, trong cuốn tự truyện, có nhắc đến các giai thoại về mối tình giữa bà và Greta Garbo nhưng cũng không có lấy một lời khẳng định rõ rệt nào. Hẳn nhiên, công chúng vẫn có nhu cầu gắn đính hai cô đào đối thủ trên màn bạc, cùng được biết đến bởi vẻ quyến rũ đầy nam tính này vào thành một đôi đồng tính ái hoàn hảo, với đầy đủ tính li kỳ huyễn hoặc sặc mùi màn bạc cine.

Ngoài ra, trong suốt quãng đời sự nghiệp của mình, Dietrich được biết đến như một bậc thầy trong nghệ thuật kích hoạt cơn đói tin của công chúng và báo giới bằng những vụ dan díu tình ái, chóng vánh hoặc kéo dài hàng thập niên, mà không nhất thiết phải sỗ sàng tự vén màn phòng the. Khi thủ diễn trong bộ phim Destry Rides Again, Dietrich ngả vào vòng tay bạn diễn là tài tử Jimmy Stewart. Mối tình kết thúc ngay khi bộ phim đóng máy. Năm 1938, người ta lại nghe đồn chuyện nàng gặp gỡ và quyến luyến với văn sĩ Erich Maria Remarque, rồi đến 1941 là người hùng quân đội và tài tử cine Pháp Jean Gabin. Cuộc tình ồn ào cuối cùng của Marlene, khi này đã hơn 50 tuổi là với nam tài tử Yul Brynner, và tiếp theo là một số vụ dan díu chóng vánh kéo dài đến khi huyền thoại lưỡng tính này trên 70 tuổi. Trong hồ sơ tình sử của Thiên Sứ Xanh còn có John Wayne, George Bernard Shaw và John F.Kennedy. Cho đến tận cuối đời, Dietrich vẫn bảo bọc cho người chồng bị bỏ rơi và nhân tình của ông tại Âu châu, và về sau tại một trang trại ở San Fernando Valley, California.

Trên thực tế, không ai biết chính xác điều gì đã xảy ra, ngay cả các chuyên gia điện ảnh, các tay viết tự truyện lừng danh nhất cho đến tận bây giờ vẫn chưa ngưng cuộc cãi vã, với những chứng cớ bác bỏ lí lẽ lẫn nhau về xu hướng tình dục của Marlene và danh sách những bạn tình của nàng. Một nửa chiếc giường còn lại, bên cạnh Marlene, vẫn luôn là một dấu ba chấm lững lờ.

Điệu cabaret phản chiến và hồ sơ điệp viên nhị trùng

Đại Thế Chiến nổ ra, đích thân Hitler viết thư mời Dietrich quay về Đức và thẳng thừng đề nghị nàng làm nhân tình, không quên lời cảnh báo rằng cuộc sống của nàng có thể trở nên rất “bất tiện” nếu từ chối. Marlene, cũng thẳng thừng và ngang tàng không kém, từ chối tay độc tài hiếu sát với tư cách một công dân Hoa Kỳ chính hiệu. Con gái và người chồng bị bỏ rơi của nàng khi này cũng đang sống tại Mỹ, và Marlene hồn nhiên tin chắc rằng họ đang được bảo vệ an toàn tuyệt đối khỏi các cuộc tấn công của quân Nazi. Không chỉ ngừng lại ở lời chối từ kiêu hãnh, trong suốt những năm chiến tranh, Dietrich không ngừng truyền bá các thông điệp chống Quốc xã đến với công chúng Đức của nàng, bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Nàng thân chinh xông pha đến các mặt trận quốc tế, mặc quần shorts đội mũ chóp, nhảy điệu cabaret và hát “Falling In Love Again” bằng thứ giọng điệu đàng sặc khàn hơi khói. Mãi về sau, Marlene vẫn coi đây là thời kì ý nghĩa nhất cuộc đời biểu diễn của mình. Nàng trở thành người đàn bà đầu tiên được trao tặng huân chương Tự Do (American Medal of Freedom), và nhận Huân chương Bội tinh Pháp quốc.

Về sau, trong hơn 150 trang hồ sơ về Marlene Dietrich của FBI, người ta còn tìm ra những chứng cứ cho thấy sự nghi ngờ của chính phủ Hoa Kỳ dành cho cô đào gốc Đức, và đồng thời một lá thư tay do điệp viên đặc vụ E.E.Conroy gửi Hoover, nhắc về việc Dietrich bị quân Nazi bắt vào tháng Giêng năm 1945 tại Pháp, cũng với tội danh gián điệp.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, con gái và cháu trai của Marlene còn khẳng định rằng trong suốt 11 năm ẩn dật cuối đời, bà vẫn duy trì hoạt động chính trị, qua các cuộc điện thoại với một số chính khách đối lập hàng đầu thế giới, trong đó có Ronald Reagan và Mikkhail Gorbachew.

Dân Do Thái ở Hollywood liệt Dietrich vào danh sách đen trong suốt gần hai năm vì cho rằng bà theo xu hướng thân Quốc Xã, trong khi đối với không ít dân Đức, Dietrich vẫn bị coi là kẻ phản quốc.

Năm 1996, sau một số tranh cãi, người ta đã quyết định không lấy tên nàng đặt cho một con đường ở Berlin Schoeneberg – nơi sinh trưởng của Marlene. Tuy nhiên, tháng Mười Một, 1997, trung tâm Marlene Dietrich Platz được khai trương tại Berlin, vinh danh giai nhân giọng khói – người đàn bà nổi tiếng của nước Đức, biểu tượng tuyệt mỹ của Tự Do và Dân Chủ.

Ngày 16 tháng Năm 2002, Marlene Dietrich được công nhận là công nhân danh dự của thành phố Berlin.

Quý bà phả khói vào những bản tình ca

Sau những hoạt động mang màu sắc chính trị tự do của thời kì Đại Thế chiến, sự nghiệp điện ảnh của Marlene, vào những năm 1950 đã đi đến hồi suy tàn. Sternberg không ngần ngại bỏ rơi Thiên Sứ Xanh một thời, với lời tuyên bố rằng nàng “sẽ chẳng ra gì” nếu không có ông ta.

Rất có thể Sternberg đã đúng, nếu vai trò anh thư Đại Thế Chiến của Marlene đã không thuyết phục đến như thế, để đặt nàng trên đỉnh cao ái mộ của công chúng trên toàn thế giới. Người ta nhắc đến nàng ở mọi nơi, từ các chiến hào đến các quân y viện. Như hình ảnh một nữ thần chính nghĩa mồm ngậm tẩu, mình bận chemise đàn ông, gõ những bước cabaret vui nhộn trên sân khấu dã chiến, Marlene vượt qua ánh sáng của một Blue Angel để lẫy lừng như một tượng đài lịch sử. Và một cách vô tình, như một sự tưởng thưởng xứng đáng, Marlene Dietrich trở thành vũ công cabaret cao giá nhất thị trường giải trí, kịch nghệ thế giới lúc bấy giờ.

Nàng thường xuất hiện trong show diễn của mình, thoạt tiên trong những bộ váy lộng lẫy thuần chất đàn bà, bó sát lấy thân hình Vệ Nữ. Nửa phần sau của chương trình là khi một nửa còn lại trong nàng tái xuất, trong chiếc mũ chỏm điệu nghệ và bộ tuxedo kinh điển, giữa những tiếng huýt sáo tung hô hay trầm trồ kinh ngạc. Phong cách này cùng giọng ca khàn trầm hiếm có khiến Marlene dễ dàng tiếp cận các ca khúc vốn chỉ giành cho các divo, mà trong đó, One For My Baby và I’ve Grown Accustomed to Her Face là hai nhạc phẩm vĩnh viễn ghi dấu ấn người đàn bà giọng khói, dù nàng không hề là ca sĩ đầu tiên và duy nhất từng thể hiện các version này.

Dấu ấn dị biệt của Marlene lên các ca khúc bất hủ luôn là một thứ ám ảnh ma mị khiến ngay cả những tình khúc lãng mạn nhất cũng trở nên cũ kỹ, rù quến bởi một chất âm thanh nửa ẩm ướt đàn bà, nữa chát chúa rệu rã như whisky, như cigar, như tiếng trầm trong cổ họng đàn ông. Dù đó là điệu bông lông phù phiếm I Can’t Give You Anything But Love, hay ủy mị kinh điển như La Vie en Rose dưới cái tên Đức Das Lied Ist Aus. Nàng nheo mắt qua vành mũ kéo sụp, và hé miệng phà hơi, thế là đóa hoa ái tình Pháp vĩnh viễn mang mùi muội khói nồng nàn như tiếng rên chăn gối của người đàn bà Đức. Với Dietrich, Where Have All The Flowers Gone không còn chỉ là một bài ca phản chiến, mà trở thành một lời tố cáo đay nghiến tất cả, và một chút rung cảm đàn bà, trong bản điếu ca những cánh xuân thì theo nhau về huyệt mộ “Những chàng trai đi về đâu? Ra chiến trường, từng người một…Những cánh hoa bay về đâu? Ra nghĩa trang, từng cánh một…”

Sau chiến tranh, tour lưu diễn tại Đức năm 1960 của Dietrich đã tạo nên những xung động dư luận cực đoan trái chiều. Nhiều người Đức phản ứng dữ dội và gọi nàng là người đàn bà phản quốc, trong khi phái dân chủ tiên tiến tôn vinh nàng không chỉ như một siêu sao giải trí, mà như một vị anh hùng đương thời. Những tiếng la ó lẫn tung hô ấy đã chỉ đem về cho Marlene một điều duy nhất: tour diễn là một quả bom dư luận thật sự và thành công ngoài sức tưởng tượng.

Sự đón nhận cũng vẻ vang tương tự khi nàng đến Israel và làm điều liều lĩnh nhất có thể vào thời kì này: hát các ca khúc phản chiến bằng tiếng Đức giữa vùng đất những người Do Thái.

Nhưng số phận, cũng chính số phận đã từng tạo ra chấn thương nơi cổ tay khiến nàng vĩnh viễn từ giã nghiệp vĩ cầm năm 12 tuổi, đã gieo xuống Thiên Sứ Xanh chứng ung thư vòm họng vào năm 1965. Marlene tài tình vượt qua cơn bạo bệnh, nhưng lại phát hiện các chấn thương mạch máu ở chân. Nàng hầu như sống hoàn toàn dựa vào các liều thuốc phiện và rượu để chống chọi với những cơn đau.

Cú ngã trên sân khấu Shady Grove Music Fair tại Washington DC năm 1973 đã khiến Marlene bị chấn thương nặng phía đùi trái, và đến năm 1974, nàng lại tiếp tục bị gãy chân phải. Trước đó một năm, trả lời phỏng vấn với Clive Hirschorn, Thiên Sứ Xanh cay đắng thốt lên “Bạn có cho rằng tất cả những điều này thật lộng lẫy mê hoặc? Bạn có thấy rằng đây là một cuộc đời tuyệt diệu khi tôi nhảy múa, diễn ca? Sai bét. Có thể đã từng đúng, vào một thời nào đó, nhưng không phải bây giờ. Bây giờ, tôi tiếp tục diễn để kiếm tiền.”

Cuộc hồi hương cuối cùng của Thiên Sứ Xanh

Nàng – không nằm ngoài quy luật buồn của đàn bà, già đi, khi mà ngoài kia, sau cuộc chiến, thế giới đã nhiều hơn những nữ hiệp mặc quần. Những bước cabaret trở nên quá nhanh và mạo hiểm. Cú ngã cuối cùng khi đang biểu diễn ngày 29 tháng Chín,, 1975 đã khiến Nữ Thần Nhảy Múa nằm liệt giường, hiện nguyên hình một người đàn bà mong manh và kiệt quệ.

Kiêu hãnh, và bị thương tổn bởi thời gian, trong suốt thập niên cuối đời, Dietrich chối từ mọi sự xuất hiện trước công chúng hòng vĩnh viễn giữ lại những hình ảnh hoàng kim cuối cùng. Bà dời đến sống trong một căn hộ nhỏ ở Paris, nơi chỉ có người trợ lí thân tín được lui tới tiếp xúc với bà, mọi sự liên lạc với thế giới bên ngoài đều được thực hiện qua điện thoại. Những gì Marlene còn lại để thế giới chạm vào, chỉ còn là một huyền thoại được bao bọc bởi sương khói nghi hoặc, va một chất giọng cũng sặc khàn hơi khói. Cho đến khi tình trạng của bà trở nên trầm trọng, những người thân duy nhất còn lại quyết định phải đưa bà về một nơi nào đó để gọi là “nhà”.

Nhưng thủ tục đưa Marlene về nước Đức đã quá chậm trễ.

Ngay vào khi những hồ sơ cuối cùng được hoàn tất, Thiên Sứ Xanh vĩnh viễn về trời, khép lại một quãng đời mờ hoặc, chỉ còn vọng lại đến nay những rộn rã tiếng gót giày cabaret.

Tang lễ diễn ra tại nhà thờ thánh mẫu La Madeleine, Paris với hơn 3,500 người đưa tiễn. Những giọt nước mắt thầm lặng của đám đông đứng nghẹt hai bên đường vĩnh biệt Thiên Sứ Xanh trong hình hài người đàn bà mệt mỏi, đắp trên mình lá cờ hoa của Hợp Chủng Quốc – nơi bà đã tỏa sáng và phụng sự như một công dân kiêu hãnh. Linh cữu sau đó mới được đưa về Berlin, nơi Marlene Dietrich được đặt nằm tại nghĩa rang Friedenau, gần mộ thân mẫu, và không xa ngôi nhà nơi bà đã sinh ra.

Trên bia mộ của Dietrich tại Berlin khắc dòng chữ “Hier steh ich an den Marken meiner Tage” (Tạm dịch: “Nơi đây ta đứng lại, bên cột mốc cuối cùng”), trích từ sonnet Abschied vom Leben của thi hào Theodor Korner.

Đứa con gái ngỗ nghịch của nước Đức, Marlene Dietrich, cuối cùng cũng hoàn tất một đoạn đường hồi hương trọn vẹn.

Nhiều người cho rằng Marlene là một mẫu hình lưỡng tính, hơn là một nữ đồng tính ái. Nhưng những cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn dằng dai, cùng cuốn tự truyện trần tình của con gái bà, một phần nhúng tay vào cuộc hiếu kì đào bới những câu chuyện trên chiếc giường của người đã ra thiên cổ. Đám đông hiếu kỳ ấy mãi mãi không bao giờ được chiều chuộng. Họ bị ngăn lại bởi một bức màn duy nhất ngăn giữa một cô đào và vạn muôn công chúng: tấm màn bạc, loang loáng nét hào hoa của “quí bà lịch thiệp” người Đức trong siêu phẩm bất hủ Thiên Sứ Xanh. Người ta chỉ được phép biết chắc những điều Marlene cho phép: nàng là người đàn bà Đức có trái tim quả cảm, một lòng kiêu hãnh đến ngạo ngược, kẻ đã phà một làn hơi khàn đặc vào các bản tình ca bất hủ và những ca khúc phản chiến trứ danh – người đàn bà mặc quần, nhảy múa, và đá tung những định lề và cả những nỗi sợ.

Đồng tính ái hay dị tính ái, Marlene Dietrich vẫn luôn là một huyền thoại lộng lẫy nhất của những tâm hồn Kiêu Hãnh và Tự Do.

Những cuộc phiêu lưu luyến ái hay xu hướng tình dục của Marlene vĩnh viễn chỉ là huyền thoại, và, nhân danh lòng ngưỡng vọng của thế giới dành cho người đàn bà tài hoa ấy, chúng luôn nên được giữ nguyên như vậy.

8 bộ váy & 7 người đàn ông

Túy Ca

Đối với bất kì cô dâu nào trên thế giới, khó lòng hình dung họ chọn xỏ chân vào đôi giày boot thay cho một đôi pump bọc satin trang nhã để xuất hiện trong ngày cưới, đặc biệt khi đám cưới đó hứa hẹn bị đặt trước ống kính khát tin của báo giới và dưới ống hiển vi săm soi của thời trang giới. Nhưng một khi đó là Elizabeth Taylor – bà hoàng của những đám cưới, thì 8 hôn lễ trong đời cho phép bà những cuộc “thể nghiệm” đa dạng cho dung mạo một tân nương, hay một “trường phái” chọn chồng. Điều đó khiến một đôi boot da dê màu xám, kiểu váy có mũ trùm, một chính khách đạo mạo hay một tay thợ hồ hoàn toàn không có gì đáng để ngạc nhiên, bởi đối với Liz, không có đám cưới nào bị đặt dưới áp lực “đời người chỉ có một lần”.

Mãi về sau, người ta vẫn còn nhắc nhớ về giai nhân đa tình này cùng cái nhìn nửa khôi hài, nửa hồn nhên đến chua chát của bà về các cuộc hôn nhân của mình: “Tại sao tôi ham lấy chồng nhiều vậy hả? Không biết nữa, hồi nhỏ, ba má tôi dạy con gái kỹ lắm, ông bà dặn tôi rằng chớ có lăng nhăng đào hoa phong nguyệt, yêu đặng lấy thì hẵng yêu, mà lấy vì yêu thì hẵng lấy. Tôi là tôi truyền thống thủ cựu lắm, nên làm y chang như vậy.”

Cùng với nền giáo huấn gia phong như vậy, người đàn bà mắt tím đã thủ cựu cực đoan như vầy:

Đám cưới đầu…tay: Canh bạc tình bắt đầu với một con bạc

Năm 1950, Liz tròn 18, căng mẩy nhan sắc và mọi tiềm năng hứa hẹn cho một vụ nổ màn bạc. Sau mọi cuộc giáp đấu so tài của những cuộc tình với những trang quân tử thuộc hàng tột đỉnh thượng lưu, trước những tiếng thở dài sườn sượt của nam nhân toàn cầu, ngày 06 tháng Năm năm 1950, nàng đội khăn voile theo chồng, ở đây là Corad Nicholson Hilton – kẻ thừa tự tập đoàn khách sạn Hilton lừng danh thế giới và là ông cố của cặp kiều nữ đa chiêu Paris và Nicky Hilton ngày nay. Chàng Hilton con giống cha như đúc: bảnh bao, hào nhoáng, và cực kì duyên dáng khi không say rượu.

Nhưng chàng rất ít khi không say rượu.

Vào đám cưới đầu tay của mình, Liz, như hầu hết các cô gái khác, chọn cho mình một diện mạo kinh điển thuần túy với chiếc váy dài bằng satin trắng được thêu tay, đính ngọc trai. Đây là một món quà cưới tuyệt hảo từ hãng phim MGM dành cho cô đào cục cưng của họ vừa thủ diễn hoàn hảo trong bộ phim “Father of the Bride” cùng Spencer Tracy. Chiếc váy thoạt tiên do Helen Rose thiết kế trong loạt phục trang dành riêng cho Liz trong bộ phim này. Rose đã cần đến 15 thợ may chuyên nghiệp làm việc trong suốt 2 tuần liền để thực hiện chiếc áo cưới. Liz mặc cùng với vương miện nhỏ bằng ngọc trai màu kem, phủ một tà voile dài 10 yards,đôi dép bọc satin giản dị và bó hoa lan trắng. Với lệ bộ tinh khôi như vậy, nàng xuất hiện trong ngày cưới, rỡ ràng hạnh phúc, tươi tắn dung nhan, phơi phới cùng tình quân lí tưởng bước vào cuộc vợ chồng.

Đáng lẽ nàng đã có thể chọn lựa cho mình một điều gì đó tốt hơn. Bởi đáng tiếc, nếu nàng khi này đã chớm thành danh trên màn bạc, thì phu quân gia thế của nàng cũng không hề kém cạnh về danh tiếng hoang đàng của chàng trên…chiếu bạc.

Sau lễ cưới huy hoàng, nơi mà cánh phóng viên còn ghi nhận lại được là tân lang xỉn quắc cần câu trong phần lớn thời gian, Conrad tiếp tục lết bết lê bê trong suốt đi trên tàu Queen Mary để cùng nàng hưởng tuần trăng mật tại Âu châu. Chàng còn công khai lè nhè tán tỉnh các nữ hành khách trên tàu hoặc gầy sòng bài sát phạt bí tỉ bỏ mặc cả cô vợ trẻ. Về sau, khi nhắc lại những tháng năm sống cùng Conrad, Liz đã ước rằng giá như đã được chàng “bỏ mặc” nhiều hơn nữa, bởi mỗi khi đến gần Liz trong tình trạng say xỉn, quý công tử nhà Hilton đã không biết thương hoa tiếc ngọc mà thẳng tay giở trò thượng hạ tay chân khiến đôi mắt giai nhân tím cả trong lẫn ngoài. Tuần trăng mật trở thành hành trình khám phá con người thật và mặt trái của ái tình đối với Liz.

8 tháng sau, nàng thất thần thất thểu tháo gỡ cuộc đời mình ra khỏi cuộc hôn nhân, đáng ra phải được gắn kết bởi lời thề “dù say hay tỉnh”, với tay playboy quý tộc bất kham, cùng thói côn đồ đã trút sóng gió không nương tay lên bến đỗ đầu đời không bình yên của người đàn bà mắt tím.

Hạnh phúc đơn sơ không dành cho mèo hoang bất trị

Vừa tháo thân khỏi vòng tay bạo lực của Conrad, nàng ngã quỵ vào cánh tay nâng đỡ lịch lãm của nam tài tử người Anh Wilding hơn nàng đến 20 tuổi – một quý ông thực thụ đối lập hoàn toàn với cơn ác mộng 8 tháng với Conrad Hilton. Lần lên xe hoa thứ hai của người đàn bà mắt tím, ngày 21 tháng Hai năm 1952 rơi ngay vào giai đoạn trào lưu “hôn nhân dã chiến”. Đây là thời kì của các đám cưới đơn giản và những bộ váy cưới không khác xa thường phục là mấy. Không nằm ngoài trào lưu thời thượng đó, trong suốt 15 phút chóng vánh của hôn lễ giản dị tổ chức tại Caxton Hall, London, Liz xuất hiện trong chiếc váy bằng len dạ màu xám, chỉ hơi dài quá gối, tổ điểm giản dị với ve áo và cổ tay bằng organdy trắng cũng do Helen Rose thiết kế. Liz giản dị, an phận và được bảo bọc như một cô gái ngoan hoàn toàn sẵn sàng cho một tổ ấm an toàn cùng vị phu quân lịch lãm. Cuộc hôn nhân thứ 2 này mang lại cho Liz 2 đứa con trai Michael Jr. năm 1953 và Christopheer năm 1955.

Nhưng rồi sự chênh lệch về độ tuổi, thói đỏng đảnh cô đào cục cưng màn bạc đã đem lại cho Wilding những trận thất điên bát đảo. Như chưa đủ hưởng thụ những chào mời phiêu lưu êm ái của cuộc đời, nàng Liz bất trị rời bỏ vòng tay trang nam tử và lại dong thuyền tung tẩy ra khơi.

Người hùng thắng lén và hôn nhân phi-li-dị

Trong tất cả những “thử nghiệm” về thời trang cưới của Liz, có lẽ đây là lần duy nhất nàng cũng không bỏ sót trải nghiệm không phải là không phổ biến của một số chiếc bẫy hôn nhân: cô dâu có bầu. Với giọt máu của người tình Mike  Todd đã thành hình được 2 tháng trong bụng, cô nàng đa tình cần phải lập tức li dị chàng Wilding bị cắm sừng để trao lại phần thưởng cho người hùng…thắng lén, và nơi duy nhất có thể đáp ứng nhu cầu pháp lý trớ trêu trên một cách chóng vánh là Mexico. Nàng chọn Acapulo, nơi Todd “kế vị” vai trò phu quân người đẹp ngày 02 tháng Hai, 1957, chỉ 2 ngày sau khi anh chồng tội nghiệp bị hất cẳng trong một phiên xử li hôn chóng vánh.

Thiếu phụ rạng ngời hạnh phúc, và thở phào khi trào lưu đám cưới dã chiến của thập niên 1950 đã lắng, nàng trở lại hình mạo nữ hoàng couture với chiếc váy gắn mũ trùm lạ mắt màu xanh lơ, form váy lòa xòa kiểu “thánh nữ” để phảng phất che vòng eo lúc này đã chớm phát triển. Về sau, bà hoàng còn nhắc về Mike Todd như một trong 3 cuộc tình lớn của đời mình, bên cạnh Burton và đồ trang sức. Đây cũng là cuộc hôn nhân duy nhất trong đời Liz mà không kết thúc bằng một vụ ly dị bởi chàng qua đời chỉ 1 năm sau đó.

Chiếc nhẫn cưới trong huyệt mộ và gã Do Thái gặp thời

Sau khi đánh bại Wilding tại Acapulo để rước nàng về dinh, Mike Todd chỉ thụ hưởng hạnh phúc trong chính xác 418 ngày trước khi qua đời trong vụ tai nạn máy bay thảm khốc năm 1958 khi bay với chiếc chuyên cơ riêng được âu yếm đặt bên “Lucky Liz”.

Người ta không thể tìm thấy một mảnh thi thể nào của chàng, trong cỗ quan chỉ đặt chiếc nhẫn cưới chôn theo kẻ tình lang đã ra thiên cổ.

Ngay lập tức, bờ vai được đưa ra hứng lấy giọt lệ trang đài của thiếu phụ, và dần dà hứng trọn cuộc đời nàng lại là bờ vai của bạn thân nhất của kẻ quá cố – Eddie Fisher. Ông là ca sĩ nổi danh thập niên 1950, và cũng là phù rể trong đám cưới của Liz với Mike. Vào khi này, Fisher vẫn đang kết hôn cùng cô đào Debbie Reynolds. Tệ hơn nữa, chàng lại còn đắc thắng thổ lộ cùng tay viết nữ Hedda Hopper khét tiếng trong giới truyền tin rằng “Dẫu gì thì anh Mike cũng đã chết, mà tôi thì còn sống… Chị nghĩ tôi sẽ làm gì nào? Đi ngủ một mình hả?” Kết quả là nàng quả phụ ngã vào vòng tay gã cơ hội láu cá, thậm chí nàng còn quyết cải đạo theo Do thái giáo và đám cưới tổ chức ở đền Beth Shalom tại Las Vegas. Chú rể đội chiếc mũ kipa truyền thống của người Do Thái và mặc complet xanh biển, trong khi người đẹp tái giá xuất hiện với bộ váy nhà Jean Louis bằng chiffon xanh lá cực kì sang trọng, tay áo dài trong mờ, chiếc mũ trùm đầu xếp nếp lòa xòa gợi nhớ bộ váy cưới với chàng Todd xấu số. Rể phụ chính là con riêng của Todd với người vợ trước.

Tay Do thái hào hoa cuối cùng đã chiếm giữ được tấm nhan sắc nhất bậc địa cầu về làm của riêng trong một thời gian khá dài trong lịch sử những cuộc hôn nhân của phu nhân mắt tím: những 5 năm.

Nhưng trên cả quãng đường 5 năm của cuộc hôn nhân lắm điều tiếng, việc khiến công chúng nức nở tâm đắc lại chính là thái độ của cô đào bị phụ tình Reynolds. Vốn cũng là bạn thân của Liz, khi nhận được tin, nàng chỉ điềm tĩnh trả lời với báo giới rằng “quả không có gì đáng ngạc nhiên khi bị đánh đổi lấy người đàn bà đẹp nhất thế giới”. Sự vị tha đầy kiêu hãnh của Reynolds còn tiến xa đến mức nối lại tình bạn cùng Liz. Vài năm sau, họ xuất hiện cùng nhau trên show truyền hình These Old Broads và cùng cười cợt thân thiện khi bêu xấu đức phu quân Do Thái của cả hai.

Dõng tướng đô con và Cuộc tình vinh danh nữ hoàng Ai Cập

Những tưởng tay chèo hồng nhan đã cặp bờ cuộc hôn nhân Do thái, sau 5 năm yên ổn, giới truyền thông lại một phen nhốn nháo trước cuộc phiêu lưu ngoài chồng ngoài vợ lộ liễu của nàng Cleopatra đa tình và chàng tài tử đô con cùng thủ diễn trong bộ phim huyền thoại cùng tên năm 1963. Khi này, Fisher vẫn là chủ nhân ông hợp pháp của kho tàng nhan sắc đang vào đỉnh điểm của danh vọng màn bạc, còn võ tướng mình trần Burton vẫn đang kết hôn cùng cô dào Sybil Williams. Đến mức này thì cả giáo hội Vatican cũng phát chán với trò lẳng lơ của cô đào trắc nết và khép cả đôi vào tội danh ô nhục “erotic vagrancy”. Mặc nhiên, đôi nhân tình tội lỗi song đẹp đôi vẫn chìm đắm vào bùa ngải đam mê, và để được danh chính ngôn thuận thuộc về nhau, cả hai đồng lòng thực hiện hai cuộc li hôn chóng vánh với nửa kia tạm bợ của mình để cùng tay trong tay rạng ngời hạnh phúc trong lễ cưới nhất bậc vương giả tổ chức tại Ritz-Carlton, Montreal, sau khi tòa thị chính Toronto thẳng thừng từ chối họ.

Nhà thiết kế phục trang điện ảnh lừng danh Irene Sharaff – cũng là người thiết kế phục trang cho Liz trong vai trò Cleopatra, đã mang hơi hướm nữ hoàng Ai Cập khoác lên cho Liz bộ dạng một hoàng kim trong chiếc váy chít eo màu vàng hoàng hậu, mái tóc dày màu gỗ mun uốn thành những lọn lớn nặng trĩu, đóng khung khuôn diện nuột nà của siêu minh tinh có đôi giếng sâu màu tím hớp hồn được chuốt tỉa theo đúng tinh thần Cleopatra. Trên ngực người đàn bà đang yêu là chiếc trâm đính kim cương và ngọc bích trị giá 150,000 Mỹ kim – món quà của tân lang hào hiệp.

Nhưng trước sự tẩy chay ồn ào của công luận, lễ cưới của họ chỉ diễn ra trước cặp mắt của 9 người bạn thân thiết nhất.

Sau hôn lễ huy hoàng, Liz muốn toàn tâm toàn ý cho cuộc hôn nhân mà nàng cho là quan trọng nhất đời, đến mức người đẹp có thân hình Vệ Nữ đã cố tình tự làm cho mình tăng cân để tránh những lời mời đóng phim.

Burton đã lọt vào đôi giếng lòng thăm thẳm ấy và trị vì thịnh vượng trong suốt 10 năm – cuộc hôn nhân “bền vững” nhất trong đời vị nữ hoàng bất trị.

Cuộc tái hôn hoang dã và sự bất lực của thần linh Tswana

Trong suốt một thời gian sau đó, người ta nhắc đến cuộc sống hôn nhân của họ có phần còn ồn ào hơn những vai diễn của cặp minh tinh tài tử này. Liz và Richard thả mình vào một cuộc sống xa xỉ. Thu nhập của cả hai tổng cộng lên tới 88 triệu Mỹ kim vào thập niên 1960, và cũng trong cùng thời kì đó, họ cùng nhau góp sức xài hết 65 triệu vào những món quà bằng kim cương – niềm đam mê ám ảnh của Liz, và chứng nghiện ngập của Richard.

Những cuộc cãi vã, thậm chí hành hung đã diễn ra như điều tất yếu. Các nhà đạo đức thở dài lấy họ ra làm gương răn đe các tín đồ tình ái ưa sống vội.

10 năm hương lửa mặn nồng khiến 16 tháng li dị dường như quá sức chịu đựng của đôi tình nhân “nhiều chuyện” nhất lịch sử showbiz. Họ lại va vào nhau, hoàn toàn bất lực, tuyệt vọng, và mê đắm đủ để sẵn sàng yêu thêm một lần và cưới thêm một lần.

Không còn là “cô dâu mới”, nhưng bà hoàng tình ái vẫn lộng lẫy khác thường trong bộ váy caftan dài màu xanh lá trang trí hoa văn avian, hợp kì lạ với địa điểm được chọn cử hành hôn lễ lần này – Nam Phi, kết hợp với một sự kiện từ thiện. Đám cưới tổ chức tại Chobe Game Reverse, nhìn ra dòng sông thơ mộng hoang dã của Botswana, với vị chủ lễ địa phương thuộc bộ lạc Tswana. Cũng với tinh thần hoang dã của người tình tuyệt sắc, “cựu” lang Burton cũng gây shock trong bộ lễ phục gồm quần trắng và áo cổ lọ màu đỏ thắm.

Các vị thần người Tswana đã không nhiệt tình phò hộ cuộc tái duyên của đôi tài tử giai nhân, họ lại li dị, lần này cho mãi về sau, chưa đầy một năm sau đó.

Trả lời phỏng vấn, Liz chỉ có một cách giải thích về cuộc tái hôn và 2 lần li dị với cùng một người đàn ông “Có lẽ vì tôi yêu chàng quá đỗi.” Tỏ ra mềm yếu hơn cả tình nương, Burton suy sụp và đau khổ trong lời tán thán trên báo “Tôi bảo nàng hãy đi đi. Và nàng làm như vậy thật.”

Đám cưới thôn trang và bà nghị đi boot

Sau cuộc hôn nhân dài hơi đuối sức, người đẹp đa tình tiếp tục tìm quên người tình nghệ sĩ bằng cách gật đầu ưng thuận gá nghĩa cuộc hương lửa với người tình chính khách nhưng cũng không kém phần hào hoa John Warner. Warner đã từ một sĩ quan Hải quân Hoa kỳ đã thăng tiến hoạn lộ và khi này đang là thượng nghị sĩ Mỹ. Giới truyền thông, đặc biệt các tạp chí thời trang thất vọng bởi hình ảnh hôn lễ không được công bố rộng rãi đến công chúng hình ảnh lộng lẫy của “bà nghị” kiều diễm. Những bức ảnh hiếm hoi được truyền đến công chúng khi này cho thấy Liz khoác bộ váy cashmere màu xám và tím lavender, khoác áo khoác đồng màu điểm lông cáo bạc, với giày ống suede xám. Nàng xuất hiện bên sườn đồi của trang trại vào đúng hoàng hôn, muộn mất cả tiếng đồng hồ, mắt tím biếc trong khung cảnh chiều quê mê hoặc, đủ để các vị khách mời danh gia thế tộc bỏ qua việc phải chờ nàng soạn sửa, và cả nỗi phiền muộn phải rón rén cẩn trọng giữa những đống phân bò của vẻ đẹp thôn trang thuần túy.

Không chỉ những vị khách mời hôm ấy đã phải rón rén. Cuộc sống một bà nghị giữa thủ đô Hoa Thịnh Đốn cũng đã khiến giai nhân màn bạc phải nín thở nhón chân. Nàng rơi vào trầm cảm và nhập viện.

Chàng thợ hồ số đỏ lạc vào xứ sở Neverland (nơi người ta không lớn)

Sau 6 năm đằng đẵng vào vai bà nghị, Liz cuối cùng cũng li dị với Warner vào 1982. Người ta những tưởng bà hoàng đa tình cuối cùng cũng đã mỏi mòn với những cuộc mặn nồng dài ngắn và những bộ váy cưới khoác vào lại cởi ra. Nàng, khi này đã là một mệnh phụ chín nẫu nhưng vẫn còn nần nẫn mùi đài các nét lẳng lơ, trước sự ngạc nhiên thán phục của báo giới, không buồn xỏ tay vào một chiếc váy cưới nào trong suốt gần một thập niên.

Người ta đồn rằng khi này, người đàn bà ắt đã cần cho mình một cánh tay không chỉ để vuốt ve cuộc mặn nồng, hay đưa ra để cho nàng khóc tạm cuộc hôn nhân trước đó. Nàng cần một cánh tay đàn ông có thể xây một tổ ấm, hay đúng hơn là một bến tàu vững chãi cho chuyến đò hồng nhan an tâm cặp bến.

Thế là nàng chọn Fortensky – một công nhân xây dựng tình cờ lọt vào đôi mắt tím tại viện Betty Ford Clinic, nơi nàng từng phải nằm điều trị chứng trầm cảm.

Một đám cưới linh đình như thể bù đắp gần một thập kỷ không cưới xin đã diễn ra tại dinh thự cổ tích Neverland của người bạn thân thiết nhất của bà – Vua Pop Michael Jackson. Hôn lễ cổ tích này đã tiêu ngoén của giai nhân với bề dày của cả tên lẫn tuổi này đến 1.5 triệu Mỹ kim. Cả thế giới lại được một phen ngóng dõi theo từng chi tiết diễn ra trong buổi lễ, với Vua Pop là người đại diện đàng gái để dẫn lối tân nương kì cựu đến bên bàn lễ. Michael đã thể hiện lòng trân trọng đối với vinh dự này bằng không chỉ một mà hẳn một đôi găng tay màu đen. Chàng tân lang “thợ xây tổ ấm” cũng được bà hoàng đa tình trang hoàng lộng lẫy với bộ tuxedo Versace cáu cạnh. Nhưng mọi sự chú ý vẫn hướng về cô đào đang độ hồi xuân, ngời ngời lộng lẫy trong bộ váy ren vàng mơ thêu viền đăng ten vỏ sò – một tuyệt tác couture của đại gia lịch lãm Valentino. Về sau, Valentino kể lại vớ Women’s Wear Daily rằng ông đã đề nghị hai giải pháp màu: xanh và tím, dựa trên màu mắt độc đáo của Liz, và một form dáng mảnh dẻ lịch lãm. Nhưng đóa hương sắc hồi xuân lại muốn sắc vàng rạng rỡ và một vẻ lãng mạn tột cùng cho bộ váy cưới thứ 8 của mình.

Đáng tiếc, tay nghề xây dựng của phu quân trẻ tuổi hẵng còn quá non như tuổi đời của chàng. Tòa lâu đài tình ái của họ chính thức sụp đổ chỉ 5 năm sau đó.

Lần cuối cùng người ta nghe nhắc đến anh chàng thợ hồ số đỏ là khi anh chàng bị bắt giam vì tội hành hung một người tình nào đó.

Những vị hoàng tử và những chú ếch

Hẳn nhiên, trong cuộc đời một người đàn bà, nhất là một người đàn bà đẹp, nàng sẽ phải hôn khoảng vài trăm con ếch cho đến khi một trong số chúng nổ bụp và biến thành hoàng tử để lấy làm chồng. Với bà hoàng đa tình của Hollywood và 7 chàng bạch mã hoàng tử của mình, người ta cũng có thể ước chừng số lượng những con ếch được hôn. Nói một cách dung dị hơn, là những cuộc phiêu lưu tình ái không kết thúc bằng hôn nhân và li dị.

Ngay cả cuộc hôn nhân “đầu tay” với hoàng tử ếch Hilton nghiện rượu, nàng Liz nhẹ dạ đã trải qua hai chuyến đính hôn mấp mé cặp bờ với người hùng thể thao Glenn Davis, người đã từng đoạt cúp Heisman Trophy và rạng ngời hạnh phúc đeo quả bóng vàng danh dự của mình quanh chiếc cổ kiêu sa của giai nhân mắt tím. Mãi đến sau này, chàng mới tẽn tò hay rằng trò hứa hôn chỉ là chiến thuật thân mẫu Liz dùng để PR con gái. Ngoài ra, đáng kể trong tình sử Taylor còn có chàng William P. Pawley Jr.,  – quý tử của ngài đại sứ Hoa kỳ tại Peru và Brazil. Chàng hứa hẹn với gia đình nhà Taylor cả một thế lực tài chính chỉ để chấp thuận cho rước nàng về dinh. Là một nhà công nghiệp cỡ bự và một nhà sản xuất phim, chàng hứa hẹn với chị gái Sarah Taylor cả một xưởng phim để lấy lòng. Tôn sùng tôn chỉ hôn nhân vì tình, nàng Liz vẫn quyết không buộc mình phải theo gót nàng Kiều. Sau khi đạo diễn phim Mogul là Howard Hughes tội nghiệp rời bỏ cuộc cạnh tranh dành bàn tay người đẹp, chàng Sơn Tinh hùng mạnh đã cầu hôn người đẹp bằng cách rải lên nàng cả một cơn mưa kim cương lóng lánh từ trực thăng. Nhưng ngay cả món voi chín ngà ngoạn mục này cũng không mua được lòng yêu của người đẹp đa tình.

Những chàng ếch khác không thiếu mặt những trang quân tử thời thượng của giới showbiz lúc bấy giờ, trong đó có cả huyền thoại Frank Sinatra, công tử hào hoa Henry Kissinger và cả Malcolm Forbes trong số những tên tuổi nam tử trải dài lấp lánh suốt đoạn hải hành của chuyến đò tình người đàn bà mắt tím.

Thực hư cuộc hôn nhân thứ 9

Những năm tháng về sau khuất dáng trên màn bạc, và sau cuộc phiêu lưu với chàng phi công số đỏ, như các minh tinh màn bạc cùng thời, Liz dốc toàn tâm lực vào các hoạt động từ thiện như một cách trả nợ nhân gian.

Trên khuôn diện mỹ nhân một thời vang bóng, ngay cả những chuyên viên thẩm mỹ hàng đầu thế giới cũng xuối tay bất lực trước những nét khắc vạch của thời gian.

Di chứng của thời thanh tân chỉ còn để lại chăng bệnh tim, các hội chứng về xương và chứng alzheima ác nghiệt khiến Liz phải chuyển dời ngôi vị từ ngai vàng nhan sắc để ngồi trên chiếc xe lăn.

Người ta không còn nhớ Liz. Người ta không còn thật sự nhìn thấy Liz nữa, bởi ống kính paparrazi đã quá quen thuộc với một Liz trong những tà áo cưới và vòng tay của một đức ông chồng mới.

Để Liz tái xuất, cần có một cuộc hôn nhân…

Hay chỉ vì Liz cần, dẫu một lần cuối, xỏ tay vào chiếc áo đã mặc vào trút ra trước đó những 8 lần.

Vậy là sau gần 3 thập niên vắng bóng hoàn toàn khỏi màn bạc, cũng như khỏi những hàng tít bình luận áo cưới của các tạp chí thời trang, người ta lại nghe tin đồn Liz, khi này đã gần 80 tuổi, lại sắp…kết hôn.

Người đàn ông có-vẻ-như là cuối đời của bà xuất hiện cùng Liz tại mọi cuộc lễ lạc từ thiện, âu yếm đẩy chiếc xe lăn, trên đó ngự huy hoàng khối thân hình đồ sộ của cô đào cụ từng một thời là người đàn bà đẹp nhất thế giới.

Và nếu câu chuyện thành sự thật và họ kết đôi, Jason Winters – tên của chàng, sẽ là người đàn ông da màu duy nhất trong bộ sưu tập các mẫu đức lang quân của Liz Taylor.

Đến nước này, các hàng tít báo lá cải đã phải thốt lên ngao ngán “Không phải vậy nữa chứ, Liz?” (‘Knot’ Again, Liz!).

Hầu hết bạn bè thân tín của cả hai đều cho rằng đây chỉ có thể là tin đồn nhảm. Liz chơi thân với cả Jason và Erik Sterling qua những hoạt động từ thiện, và giữa họ chỉ có thể là tình bạn.

Nhưng chính bà hoàng tình ái cũng bóng gió ám chỉ việc sửa soạn kết hoa lên chiếc xe lăn của mình qua một vài cú update mập mờ trên Twitter.

Cùng lúc, nữ chủ nhân của hai giải Oscar dành cho phim Who’s Afraid Of Virginia Woolf và Butterfield 8 cũng bộc lộ tham vọng vai trò hiện thân nữ minh tinh quá cố Norma Desmond trong một dự án bạc tỉ, tái dựng lại huyền thoại điện ảnh thập niên 1950 SunsetBoulevard. Các ứng viên sáng giá của vị trí này lúc bấy giờ là Glenn Close, Meryl Streep và Barbra Streisand. Trong cuộc cạnh tranh tài sắc này giữa các nữ kì phùng địch thủ, còn là cuộc “đọ rating” gay gắt mà vũ khí sở trường của Liz vẫn luôn là những đám cưới ồn ào (hay ít nhất là tin đồn về một đám cưới hứa hẹn sẽ ồn ào!)

Vậy là cả một kế hoạch tỉ mỉ được dàn dựng và thiết lập bởi ê-kíp PR sừng sỏ nhất Hollywood – Liz phải tái xuất. Không rõ có vì một trùng lặp ngẫu nhiên, đây cũng là thời điểm Dame Elizabeth (danh vị “dame” do nữ hoàng ban tặng vào năm 2000) bắt đầu có những hình ảnh xuất hiện đầy âu yếm bên ngài Jason Winters có nụ cười quảng cáo kem đánh răng Hypnos.

Người ta bắt đầu thấy xuất hiện nhan nhản trên các tạp chí vịt ăn cải hình ảnh Miss Taylor gần 80 chục tuổi, trông như thuồng luồng trong bộ đồ người nhái được thả xuống biển để…tung tăng chơi với cá mập tại bờ biến Hawaii như một bằng chứng lạc quan về tình trạng sức khỏe của mình.

Lần khác, người ta lại thấy hình ảnh người đã từng một thời là bà hoàng màn bạc bước lên chuyên cơ riêng, mình mặc bộ đồ thùng thình theo kiểu hiphop, trên cổ nhì nhằng những món xích nhợ lòe loẹt vui mắt, trông không khác gì một hiện thân khổng lồ nhão nhoét của Ali G. Trong tiếng thét thống thiết của giới thời trang, “bà hoàng tình ái” đội trên đầu chiếc mũ lưỡi trai nhí nhố – tác phẩm bụi phủi của hip-hop designer Ed Hardy.

Túc trực quanh hồ bơi của bà tại dinh thự ở Los Angeles là cả một đội quân hướng dẫn viên thể hình thuộc hàng thiện chiến nhất luôn túc trực trong cuộc đấu tranh chống phá mỡ thừa.

Bà cho vời đến những thầy mo thầy cúng nổi tiếng nhất để nhờ linh hồn Maltese Terrier Sugar tư vấn, hoặc để xua đuổi tà ma mà bà tin là của người chồng thứ hai – tài tử Ăng-lê Michael Wilding đang ám ngôi biệt thự của bà tại Bel-Air.

Không rõ chàng Wilding năm xưa có vì thương tưởng mà vẫn năng thăm viếng tình nương từ cõi vô thường, hay bởi vai diễn đòi hỏi một cấp độ rating thượng thừa mà Liz không thể đáp ứng được với 30 năm tuyệt nhiên không tái xuất, nhưng rõ ràng, các tay sừng sỏ của Paramount Pictures đã chịu thuyết phục rằng Liz – từ cát bụi lãng quên, nay đã thật sự tái xuất, ồn ào như xưa, hoàn toàn xứng tầm thủ diễn vai trò của ngôi sao quá vãng trong Sunset Boulevard.

Đó đã là cả một cuộc vận động ứng cử thật sự.

Ngay cả những bạn bè thân thiết nhất của Liz cũng hiểu, nàng muốn tung đồng xu may rủi lần cuối để chờ lóe lên huy hoàng lần cuối ánh hào quang nghệ thuật và danh vọng.

Nàng muốn lên đỉnh một lần cuối, và sẽ nằm mãi trên đó.

Người ta thậm chí còn cho rằng Winters có nghi vấn về giới tính. Quả tình, ngoài những người tình và các ông chồng, những người đàn ông thân thiết nhất quanh bà đều là giới đồng tính. Liz và Jason đều có những bạn bè chung trong giới đồng tính thượng lưu ở Hollywood. Thậm chí tất cả ê kíp trợ lí, chuyên viên cho đến phục vụ của bà tại biệt dinh đều là dân đồng tính.

3 năm trước đó, người làm vườn của Liz đã tố cáo việc bà sử dụng người phục vụ đồng tính của mình là Jean-Luc Lacquement, trẻ hơn Liz những 40 tuổi, làm “nô lệ tình dục”. Trước tòa, Jean-Luc ví “nghĩa vụ tình dục” của mình với việc “nhún mình trên chiếc đu cũ cót két”

Trong khi đó, sự thân mật giữa Jason và Liz thậm chí đến mức ông cho thiết kế lại một phần biệt thự ở Hawaii của mình riêng cho Liz với y tá túc trực và mọi tiện nghi xa xỉ nhất. Tuy vậy, sự âu yếm quan tâm ấy vẫn chưa đủ thuyết phục người ta tin rằng đó là dựa trên động lực ái tình.

Không ai chịu quên rằng bà đã lão luyện trong làng giải trí hơn 6 thập niên, không ai có thể biết nhiều hơn Liz về cách làm thế nào để nổi tiếng (trở lại!)

Chiếc váy cưới duy nhất Liz chưa mặc

Mặc dù chính Liz phủ nhận tin đồn hôn lễ với Jason, người ta liên tục nghe xì ra đâu đó những thông tin rằng stylist riêng của Michael Jackson là Keith Holman sẽ kết hợp cùng nhà thiết kế nữ trang Chritian Tse để làm nên chiếc turban nạm kim cương trị giá 3 triệu Mỹ kim cho nàng dâu kì cựu. Liz muốn chiếc vương miện cô dâu lấp lóe viên kim cương 30 carat giữa đỉnh và viền mỗi bên là chẵn chịu 40 viên màu vàng hoàng yến. 12 nghệ nhân hàng đầu sẽ cùng tác tạo nên tuyệt phẩm lạnh lùng này.

Chiếc váy cưới thứ 9 của giai nhân mắt tím cũng do đích thân Holman thiết kế theo kiểu kaftan siêu xa xỉ với màu hợp cùng chiếc vương miện.

Nàng cùng tân lang trẻ hơn mình 29 tuổi dự định sẽ giao lời thề nguyện đến khi răng long (ắt họ có thể bỏ qua lời nguyền đến khi đầu bạc) trước khoảng 200 khách mời.

Nhưng Jason Winters đã vĩnh viễn chậm chân.

Chiếc vương miện trứ danh nọ, cho đến nay, vẫn không một ai được nhìn cho mãn nhãn, ngày đôi mắt tím duy nhất trên thế giới vĩnh viễn khép lại – ngày 23 tháng Ba 2011, sau 8 cuộc hôn nhân và 54 bộ phim vào một ngày thứ tư, sau khi con tim đong đầy tình ái ấy chịu khuất phục trước thời gian và chứng trụy tim.

Buổi chiều của nữ hoàng tình ái đã buông màn trước khi có thể chờ ánh hào quang của Đại lộ Hoàng hôn

Và chàng ếch cuối đời đã không trở thành hoàng tử để dìu nàng (theo nghĩa bóng lẫn đen) cặp bến hôn nhân.

Tử thần nắm giữ con tim nàng, cướp đôi ngọc tím trên mắt nàng làm của riêng vĩnh viễn. Cát bụi làm người tình cuối, ôm vào lòng và chôn sâu mãi mãi vóc hài huyền thoại nhan sắc của nhân loại, trên mặt đất chỉ còn lưu dấu giai nhân những truyền thuyết ái tình, những thước phim kinh điển, 4 người con, 10 người cháu và 4 đứa chắt mang dòng máu những người đàn ông khác nhau.

Khi được hỏi bà muốn khắc gì trên mộ chí của chính mình, bà trả lời “Nơi đây an nghỉ Elizabeth. Nàng ghét bị gọi là Liz. Nhưng nàng đã sống.”

Đương nhiên rồi, Liz ạ, đương nhiên là vậy rồi!

ngày mặt trăng không còn nhảy múa

Túy Ca

Với không chỉ một chiếc găng đính đá, Michael Jackson vươn tay đến lãnh địa Pop và bao phủ thế giới trong nhiều thập niên bằng hình ảnh, giai điệu và những bước nhảy của mình. Và cũng chính bàn tay đeo găng ấy đã rải rắc khắp thế giới những cơn sốt phụ trang, những cầu vai, tua ngù, nón fedora…mãnh liệt không kém cơn sốt âm nhạc của chính mình.

 “Tôi cũng là một con người, biết đau và chảy máu. Tôi còn là một tay cả thẹn.” Vua Pop đã có lần tự sự như vậy trong một trong những cố gắng để thú nhận rằng sâu, rất sâu bên trong hình hài cổ quái của một tượng đài huyền thoại, ông cũng là một con người bình thường. Nhưng chưa bao giờ điều này tỏ ra thuyết phục cả, cho đến cái chết của ông.

Có lẽ người ta không nên sửng sốt vì Michael đã ra đi, mà đúng ra nên ngạc nhiên rằng nhân loại đã từng sản sinh ra Michael.

Cậu Nhỏ Nhà Jackson

Michael Jackson chớm mang mệnh “thiên tử showbiz” từ khi còn ở độ tuổi mà tất cả những đứa trẻ khác còn chưa hiểu nghĩa của từ “nổi tiếng”. Sinh năm 1958 tại khu dân cư lao động thị trấn Gary, Indiana, Michael đã biểu diễn trong nhóm đồng ấu với các anh em trong nhà – ban Jackson Five từ khi 6 tuổi và nhanh chóng trở thành giọng ca chính. Nước Mỹ yêu quí cậu nhóc đen thui có đôi mắt ướt và vũ đạo ngộ nghĩnh như yêu một chú khỉ kháu khỉnh biết làm trò. Không mấy ai biết rằng, một động lực biểu diễn đáng kể của cậu nhóc nhà Jackson chính là nỗi sợ. Về sau, ông kể lại rằng cha mình, ông Joe Jackson, một nhạc công guitar bất đắc chí, thường xuyên đánh đập những cậu nhỏ Jackson Five và những buổi tập đàn hát của họ đã diễn ra trong tiếng dây lưng vút xuống bất cứ lúc nào.

Những cậu nhỏ nhà Jackson, với những trận mưa roi, vẫn liên tục đạt những kỷ lục của chính mình, nhưng sự trội bật đặc biệt của nhóc Michael đã vội bỏ xa các anh em của mình và chính chiếc nôi Jackson Five. Về sau, album Thriller của ông, năm 1982, với các hit bất hủ Beat It và Billie Jean cho đến tận nay vẫn được ghi nhận là album bán chạy nhất trong lịch sử showbiz thế giới – trên 100 triệu bản. Năm 1984, ông nhận giải thưởng danh dự do tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan trao tặng tại tòa Bạch Ốc về những hoạt động xã hội chống nạn nghiện rượu và ma túy. Một năm sau đó, ông cùng Eric Clapton viết nên We Are The World – ca khúc được mệnh danh là bản “quốc tế ca không chính thức”.

Nhưng cũng vào thời kỳ này, Michael Jackson – vẫn nguyên vẹn là nhóc Michael trong một hình hài trưởng thành, bắt đầu cho thấy những dấu hiệu phản ứng với danh vọng của chính mình. Những tin đồn hành lang về căn phòng oxygen có thể hoàn toàn là bịa đặt, mà về sau có bằng chứng cho thấy chính ông đã tiếp tay lan truyền, tương tự câu chuyện về việc ông mua lại bộ xương Người Voi, cùng những chuyện truyền khẩu quái dị khác. Chỉ riêng chuyện ông nhận nuôi chú tinh tinh Bubbles là hoàn toàn có thật. Như một đứa trẻ, dẫu là một đứa bé thần đồng, Michael gắn bó mật thiết với Bubbles dẫu luôn muốn được vây quanh mình bởi những bạn bè thân thiết nổi tiếng của thượng đỉnh làng showbiz thế giới.

Đây cũng là thời kỳ nước da của ông trở nên sáng màu hơn thấy rõ, cùng lúc với sự biến đổi nhanh chóng của khuôn mặt.

Ông vẫn được yêu quí bởi lượng khổng lồ những fan sùng đạo trên toàn thế giới. Bản Bad năm 1987 tiếp tục là bom tấn dội xuống thị trường âm nhạc toàn cầu. Nhưng Jackson hoàn tất cuộc biến hình hoàn chỉnh để từ nhóc Michael trở thành quái nhân Wacko Jacko (Jacko Lập Dị)

Vượt trên cả tham vọng tự biến mình thành một hình hài đa chủng tộc và phi giới tính, Michael bắt đầu thực hiện giấc mộng níu giữ thời gian. Ông tự xây cho mình một công viên giải trí và đặt tên là Neverland (Xứ Sở Không Bao Giờ), thả vào đấy cả một vườn thú, nơi Vua Pop ngập ngụa trong một thứ tình yêu an toàn và thật thà nhất không hề bị tác động bởi danh tiếng, tài sản hay độ cao chiếc mũi của ông.

Michael-Không-Chịu-Lớn bắt đầu tìm đến với những người bạn “đồng trang lứa” – những đứa trẻ. Phần lớn ở đúng vào độ tuổi khi mà cậu nhóc ban Jackson Five bắt đầu sự nghiệp solo.

Hoàng Đế Lưỡng tính

Sau thành công hiển nhiên của kiểu nón fedora và găng tay trắng, Michael bắt đầu tỏ rõ một sự lưu tâm đặc biệt đến các món phụ trang, liều lĩnh bước khỏi hình ảnh chuẩn mực lúc này vẫn còn đang sốt rần rật của chính mình trước đó. Cùng với sắc đỏ của chiếc áo khoác da, Vua phủ sóng thần dân bằng những cơn sốt kiểu tóc xoăn ướt gel thả dài xuống mắt và đôi kính mát kiểu aviator tráng thủy. Hẳn nhiên, ngoài những con chiên mộ đạo bạo tay, phần còn lại của thế giới vẫn chọn cho mình một vài món trong cả bộ sưu tập phụ trang lỉnh kỉnh ấy để tự trang bị cho mình, từ kiểu kính aviator specs cho đến những chiếc áo khoác da, hay kiểu tóc dập gãy lăn tăn hoành hành mái tóc fashionista khắp nơi trên thế giới. Hẳn nhiên, với cơn sốt Billie Jean và tiết tấu kích động của Beat It vang lên trong từng quán karaoke có mặt ở khắp mọi nơi, ai mà không muốn trên mình có chút gì có chất Michael?

Niềm đam mê phụ trang đã dẫn lối phong cách Vua Pop đến giai kỳ cực thịnh của trường phái “More Is More” của những năm đỉnh điểm cầu kỳ. Những bộ suit sắc sảo và vành mũ phớt đã đi vào quên lãng, thời đại áo khoác da găng tay kim tuyến cũng trở nên đại trà và xoàng xĩnh. Vua trở thành một tượng đài siêu xa hoa và hình mạo rổn rảng nhì nhoằng phụ trang như một cây Giáng Sinh hào nhoáng.

Năm 1984, khi được vời đến tòa Bạch Ốc để nhận giải thưởng đầy vinh dự từ tay thủ tướng Reagan, Michael đã xuất hiện dưới phong cách quân sự đa binh chủng: jacket xanh lính thủy đính cườm với ngù vai vàng, chiếc găng đính đá bất ly thân, giày loafers đen và kính mát aviator kiểu phi công.

Đây cũng là thời kỳ rõ nét nhất của xu hướng phi giới tính trong hình ảnh của Michael. Những chiếc jacket cổ điển được tân thời hóa với dáng cắt ôm eo gần giống như những chiếc jacket nữ, trong khi những tua ngù xích nhợ, cổ áo vương giả dựng cao, ôm lấy khuôn mặt với chiếc mũi cao vót như Kim Tự Tháp, xương cằm được chỉnh cho thon thả và lớp mỹ phẩm ẻo lả tô hồng chuốt lục cho khuôn diện của một vị Vua.

Chính bắt đầu từ thời điểm này, khát vọng vĩ cuồng tạo nên một hình ảnh không tuổi, phi giới tính và phi chủng tộc đã đẩy Vua Pop sa đà một cách tuyệt vọng vào những cuộc giải phẫu chỉnh hình quá tay. Chiếc mũi của Ngài trở nên thanh tú đến dị dạng và khiến người ta không khỏi hình dung hốc mũi ghê sợ trên chiếc sọ người, làn môi mỏng như lá lúa, chiếc cằm được khắc đẽo sau bao lần đã biến dạng vẹo vọ, và màu da quá nhiều lần xử lí đã thành một sắc trắng bạch tạng khiến ông hoàng showbiz không còn có thể phơi ra dưới ánh nắng ban ngày bộ dạng yếm thế của mình.

Những Phù thủy Thời trang Phía Sau Ngai Vua Pop

Ngoài những nhà thiết kế hàng đầu được Vua Pop tin cẩn như Balmain, Versace, Roberto Cavalli, Ngài vẫn có riêng cho mình hai chuyên viên thân tín – những vị đại thần mang trọng trách chuyển hóa ý tưởng, thông điệp và những giấc mơ của Ngài thành những thiết kế trang phục để lại dấu ấn bất hủ về sau. Hai cái tên Michael Bush và Dennis Tompkins là hai nhà thiết kế được giới thời trang kiêng nể bởi trọng trách vẻ vang lẫn những thiết kế xuất thần. Nhưng họ cũng còn được coi là hai con chiên ghẻ của thời trang giới khi cúc cung tận tụy 25 bên ngai Vua Pop, tự triệt tiêu mọi ý tưởng và cảm xúc cá nhân để thuần túy chuyển dịch ý tưởng của Vua thành những bộ trang phục biểu diễn đầy quyền năng.

Họ giấu mình phía sau ngai và vầng hào quang của Vua Pop, lẳng lặng làm công việc của mình. Nói một cách khác, họ cần mẫn chui nhủi trong kho trang phục của Ngài Ngự với hàng chục ngàn bộ mà phần lớn đều mang hơi hướm quân đội. Trong studio của họ là một tượng mannequin Michael được làm theo đúng từng li số đo cơ thể của Vua, và nhận những lời ra lệnh theo kiểu “Đây là những gì người ta đang mặc ở ngoài kia, hãy làm tốt hơn vậy!”

Và họ đã làm tốt hơn vậy!

Nhưng gánh vác trọng trách chăm sóc cho diện mạo Vua Pop không chỉ có cặp song kiếm Bush-Tompkins. Chiếc áo khoác da “Thriller” trứ danh đã góp phần đáng kể khiến cú sốt Michael thêm phần sôi nổi chính là Deborah Landis. Với yêu cầu dàn dựng của music video nổi tiếng này, với cảnh tượng những thây ma lê lết vật vờ lách qua những cỗ quan tài rệu rã, trở về từ cát bụi nhà mồ. Về sau, khi kể lại, Deborah đã tự hỏi “Cái gì sẽ khiến Michael nổi bật giữa khung cảnh bãi tha ma mà vẫn thích hợp với hòa sắc của bối cảnh đầy tử khí ấy?”. Deborah cuối cùng đã tài tình định sắc cho màu đỏ huyền thoại cho chiếc jacket da của Michael – một sắc đỏ của máu khô và những vết rỉ sét. Và bà đã làm nên cả một huyền thoại, một cơn sốt cho toàn thế giới, và một bệ phóng mới cho hình ảnh Michael.

Ngai Hoàng-hậu Hai Lần Đổi Ngôi

Vụ scandal lạm dụng tình dục trẻ em đầu tiên vào năm 1993 đã đẩy trò chơi làm Peter Pan đến mức độ nguy hiểm và ghê tởm. Nạn nhân đầu tiên là cậu Jordan Chandler 13 tuổi, nhưng những người lớn – bố mẹ người bị hại, đã chấp thuận bãi kiện với sự dàn xếp từ người đại diện của Vua Pop. Báo chí xoay chiều dư luận với nhận xét lấp lửng rằng đây quả là một vố hời cho nhà Chandler. Một năm sau, Vua Pop cưới Lisa Marie Presley – ái nữ của Vua Rock N Roll Elvis Presley. Một hôn lễ môn đăng hộ đối hoàn toàn xứng đáng cho sự lựa chọn của một vị vua. Chàng hát tặng nàng bản hit bất hủ lưu danh lẫy lừng mãi về sau như khúc tình ca duy nhất nổi bật của Vua Pop: You Are Not Alone. Cuộc hương lửa chóng vánh lụi tàn khi Hoàng Hậu Pop đem chuyện than phiền kể lể với báo giới rằng chồng nàng mỗi đêm trát mỹ phẩm lên mặt còn nhiều hơn chính nàng.

Họ li dị (không hoàn toàn bởi lí do trên) nhanh chóng sau đó. Năm 1996, Michael đặt lên ngôi hoàng hậu một người đàn bà bình thường và thô kệch: Debbie Rowe – một y tá khỏe mạnh đã cho ông hai đứa con Prince và Paris.

Bé Blanket sinh năm 2002 là đứa con thứ ba của Vua Pop mà cho đến bây giờ danh tánh người mẹ vẫn được dấu kín. Không rõ Michael xem đây là một món quà của Thượng Đế hay một vụ tai nạn, nhưng khi Blanket mới được mấy tháng, các fan hâm mộ luôn tụ tập trên vỉa hè nhìn thấy Vua với nụ cười điên dại đang cầm bé bằng hai tay và đung đưa trên không từ một balcon cao tầng ở Berlin.

Không hẳn vì sự kiện trên, nhưng cuộc đời và sự nghiệp Vua Pop trở nên điêu tàn một năm sau đó. Album Invincible được tung ra hồi 2001 thất bại thảm thương trong khi các album khác vẫn bán ngon ơ 10 triệu bản. Những lời đồn đại trở nên ồn ào hơn chính âm nhạc của ông.

Bí mật Phía Sau Cổng ‘Địa đàng Cổ tích’

Năm 2002, phóng viên truyền hình Anh Quốc Martin Bashir thuyết phục thành công Vua Pop xuất hiện trong phim tư liệu của kênh Granada TV. Cuốn phim phát sóng một năm sau đó với những bối cảnh kỳ dị bên trong những bức tường của vương quốc Neverland, với Vua Pop thừa nhận rằng ông thường đón những đứa trẻ cơ nhỡ đến và mời ngủ lại trong phòng mình.

Khán giả trên toàn thế giới kinh hoàng nhìn cảnh Vua Pop tay nắm tay với cậu Gavin Arvizo 13 tuổi mà ông kết bạn sau khi cậu bé được thông báo đã mắc bệnh ung thư. Ngay sau khi cuốn phim được tung ra, Michael Jackson bị bắt vì những hành vi “dâm đãng và vô luân” đã được thực hiện với cậu bé Gavin.

Tháng Giêng 2005, Vua Pop xuất hiện trước tòa, tiều tụy và cổ quái hơn bao giờ hết và không còn lại gì của một siêu sao “bất khả xâm phạm” như hồi vụ kiện của Jordan Chandler một thập niên trước đó. Vua Pop trèo lên nóc xe trước đám đông tụ tập trước tòa để lên tiến minh oan. Tất cả những gì người ta nhìn thấy là một con nghiện morphine và thuốc giảm đau Demerol. Ông chỉ còn là cái bóng thảm hại của chính mình

Suốt 14 tuần tiếp theo, theo lời tờ Los Angeles Times, là một tấn trò nhiều tập của “Quái đản Và Quái đản Hơn” (“Weird And The Weirder”). Các bằng chứng đồi trụy được tìm thấy bên trong tòa “lâu đài cổ tích” Neverland được đưa ra, chứng nghiện rượu – thứ nước mà ông gọi là “Nước Ép Chúa” (Jesus Juice) khi dụ dỗ bọn trẻ. Jackson cố minh chứng rằng mối quan hệ giữa ông và những đứa trẻ là hoàn toàn trong sáng. Chỉ với một ê kíp biện hộ siêu thiện chiến, Michael Jackson thoát án nhưng vết nhơ và những nghi vấn vĩnh viễn ghi dấu lên tượng đài Vua Pop.

Vết Nhơ Ấu dâm & Gã Hề Xiếc Trước Cổng Pháp đình

Hình nhân cổ quái đáng thương mang tên Jackson ấy đã chỉ sống lại dưới ánh đèn sân khấu, và được chiêu hồn bởi những tiếng hò la của đám đông cuồng mộ bên dưới. Nhưng các scandal về vụ kiện ấu dâm và những tin đồn rầm rĩ về các cuộc giải phẫu chỉnh hình liên hồi của Michael đã trở nên ồn ào hơn cả âm nhạc của ông. Người ta không còn quan tâm đến âm nhạc của ông bằng việc liệu chiếc mũi nhân tạo chông chênh trúc trắc kia khi nào sẽ rớt văng khỏi mặt rồng Vua Pop. Trong suốt thời gian hầu tòa về vụ kiện có liên quan đến hành vi lạm dụng tình dục trẻ em, đám đông hỗn loạn các fan cuồng tín, cùng rừng ống kính hầu như luôn túc trực tại cổng pháp đình, săm soi nôn nóng chờ xem hôm ấy Ngài mặc gì, và trên hết liệu mũi hay cằm của Ngài hôm ấy có chẳng may sút sổ lúc nào không.

Trung thành với nghiệp giải trí muôn dân, Vua không hề làm đám đông của ngài thất vọng với nguyên tắc không bao giờ lặp lại bộ trang phục đã một lần xuất hiện. Các phó may thượng thừa lão làng làm việc cật lực ngày đêm để cung ứng nhu cầu phô diễn cho vị vua yếm thế, bởi không mấy khi Ngài xa giá liên tù tì như vậy. Tuy thế, mỗi bộ trang phục vẫn phải được thiết kế và kiểm duyệt khắt khe về kiểu dáng và chi tiết sao cho tuyệt đối ưng ý, đặc biệt trong dịp ngài xuất hiện gần với “thần dân” của mình đến vậy, trong một dịp dễ sụp đổ hiệu ứng PR đến vậy. Người ta lại được dịp nhìn ngắm những bộ suit cầu kì tuyệt kỹ nhất, những chiếc nút đồng, những kiểu mề đay đại tướng đẹp huy hoàng thất đảm, và sau mỗi chuyển động của Ngài khiến vạt jacket chuyển dịch lại lóe lên điệu nghệ khoe lớp chất liệu xa xỉ sáng màu sặc sỡ của chiếc vest tinh xảo bên trong.

Ngay cả khi đứng trước vành móng ngựa, đối diện với tội danh nhơ nhuốc nhất của các tội danh, Vua cũng từ chối hòa lẫn vào đám đông hay tỏ ra chút gì nhu mì trước bồi thẩm đoàn. Thậm chí, một lần Ngài còn ngạo mạn xuất hiện trước thẩm phán, trên mình là bộ pajamas, phía sau là đám đông được thỏa thuê đáp ứng lòng hiếu kỳ và nhu cầu giải trí.

Sau vụ kiện ô nhục nọ, Michael đến sống tại Bahrain trong một cuộc ẩn cư chờ ngày vinh hiển tái xuất. Người ta đồn rằng Ngài đã ẩn dật tại đó để có thời gian tìm cho mình một diện mạo mới và không cho phép bất cứ điều gì xảy ra có thể khiến người ta lãng quên Ngài. Giới thời trang khắc khoải chờ đợi không kém gì các con dân của Vua Pop. Bởi họ biết, dẫu trong bất cứ bộ da và trang phục nào, Ngài sẽ không xỏ tay cùng một thứ gì của chính mình và bất kì ai khác. Và đó chính là giới hạn duy nhất về phong cách và thời trang mà ông hoàng giải trí này để lại cho nền công nghệ giải trí lẫn giới thời trang.

Ra đi cùng với “biện hộ đoàn” thiện chiến nọ, cùng những thói quen siêu vương giả khác của Vua Pop là một khoản tài sản khổng lồ tan vào mây khói.

Ông không còn bao giờ quay trở về Neverland và dọn đến sống tại Bahrain với các con một cuộc đời lưu vong tại dinh thự của Sheikh Abdullah – người đã từng chi hàng triệu Mỹ kim để thu âm các ca khúc do Sheikh viết.

Năm 2006, Neverland bị buộc đóng cửa. Từng món tài sản tư trang bị mang ra bán tống tháo trong một phiên đấu giá ô nhục. Người ta còn nói rằng ngay cả từng cánh cổng của Neverland cũng được gỡ ra đấu giá.

Những năm cuối cùng, Vua Pop 50 tuổi lại tiếp tục trượt sâu vào khánh kiệt, bệnh tật và ô nhục. Vua Pop trở thành Chúa Chổm. Ông liên tiếp ra hầu tòa bởi những vụ kiện do chính những kẻ tín cẩn trước đây đâm đơn. Sheikh kiện nợ 7 triệu Mỹ kim, nhà sản xuất John Landis – đạo diễn video Thriller hồi 1982 cũng kiện cáo vụ lằng nhằng ăn chia lợi nhuận của music video lừng danh này. Tổng cộng 45 vụ kiện tụng cùng ập đến, phần lớn là từ các chủ nợ.

Các bác sĩ báo động về tình trạng sức khỏe của ông, đòi hỏi một cuộc đại phẫu ghép phổi.

Vua hầu như không còn xuất hiện nơi công cộng, một phần vì những cuộc phẫu thuật chỉnh hình không còn cho phép ông phơi mặt ra dưới ánh sáng mặt trời nữa. Những lần ống kính đói tin của các paparazzi hiếm hoi ghi lại được hình ảnh Vua Pop, ông luôn thiểu não một cách đáng sợ trong bộ dạng khủng khiếp, khuôn mặt thường xuyên được che khuất sau lớp khẩu trang, kính mát và nón kéo sụp ngang trán.

This Is It!

Cả thế giới chờ đợi sự trở về huy hoàng của Vua trong cuộc tìm lại tình cảm của công chúng, để thanh minh và gột rửa thanh danh.

Nhưng dường như với một sự mẫn cảm kì lạ nào đó, chỉ riêng giới thời trang lại linh cảm thấy một cuộc ra đi.

Mùa tuần lễ thời trang trước khi Michael đột ngột qua đời đã diễn ra như một đại lễ tế sống Vua Pop. Các sàn diễn thời trang tràn ngập những hình ảnh quá vãng hoàng kim của Vua Pop. Nhà Balmain – thương hiệu “ruột” của Michael Jackson, đưa vào bộ sưu tập những mẫu jacket lóng lánh hạt pha lê, trong khi nhà Givenchy đính những hàng khuy vàng lên những mẫu jacket gợi nhớ những chiếc áo kiểu sĩ quan một thời đình đám. Không nằm ngoài dự cảm u buồn ấy, catwalk nhà Louis Vuitton lấp lánh những chiếc găng đính đá trắng.

Nhà Swarovski được mùa một cách vẻ vang, và cùng lúc chuẩn bị cho những bộ “chiến bào” ưu tú nhất cho màn khai pháo tour diễn tái xuất vào tháng sau tại London của Vua Pop.

Buổi diễn đầu tiên vĩnh viễn không bao giờ được bắt đầu.

Thay vào đó là bộ phim cuối cùng đi vào lịch sử cùng tên với tour diễn xúi quẩy nọ, cái tên cũng chứa đầy dự cảm: This Is It!

Vua Đã Không Chờ!

Tuy khánh tận với những món nợ khổng lồ liên tục gây áp lực, Michael không thể ngưng làm việc. Và đó là khi người ta quyết định This Is It sẽ diễn ra trong 50 ngày hoành tráng hứa hẹn sẽ lại làm nên lịch sử và khoảng từ 50 triệu đến 100 triệu Mỹ kim lợi nhuận, sẽ được diễn ra tại khán trường O.2 ở London trong vòng 2 tuần sau đó.

Thoạt tiên, Michael không muốn kéo dài hơn 10 ngày, nếu không có một vụ kiện nợ khác với con số hàng triệu Mỹ kim vừa mới kịp khởi kiện tại tòa án Hoa Kỳ. Vua Pop đành tăng số buổi diễn lên 50 để cày bừa trả nợ.

Người ta đồn rằng, với tình trạng sức khỏe và tâm lí mong manh hiện tại và áp lực 50 buổi diễn, rất có thể chất lượng biểu diễn của cựu hoàng sẽ sa sút trầm trọng, hoặc thậm chí ông sẽ sử dụng cả những kẻ thế vai trên sân khấu. Mặc lòng, hơn 800,000 vé đã được bán vèo trong vòng 5 tiếng đồng hồ. Chủ tịch AEG Live, Randy Phillips, ở tư cách người đại diện của Michael khẳng khái tuyên bố rằng Michael Jackson đang ở điều kiện thể lực khả quan ngang ngửa bất cứ ai bằng nửa tuổi mình, thậm chí ông ta hoàn toàn sẵn lòng đổi bất cứ thứ gì để có được thân hình và thể trạng của Vua Pop vào thời điểm đó (!), và việc dời ngày diễn lại đôi ngày hoàn toàn không liên quan gì đến điều kiện sức khỏe của Michael Jackson cả.

Có tin rằng This Is It sẽ được triển khai thành tour lưu diễn thế giới và xuyên Mỹ trong vòng 3 năm.

Người ta chờ đợi Michael trong cuộc tái xuất tráng lệ huy hoàng, dành lại ngai vàng Vua Pop.

Đêm cuối cùng trong đời, sau buổi tập, Ngài còn hồ hởi hỏi “Tất cả đã sẵn sàng cho London chưa? Bao giờ đi? Tôi chờ hết nổi rồi!”

Đêm đó, Ngài thật sự đã không chờ được.

Nếu đã có một lúc nào đó trong suốt cuộc đời và sự nghiệp, Michael tỏ ra siêu nhiên nhất, chính là lúc ông chết trong hình hài một người đàn ông vỡ nát và bất tử.

Đứa nhỏ nhà Jackson cuối cùng cũng đã nhắm mắt cuộc thanh bình.

Có lần ông đã nói “Nếu bạn đặt chân vào cuộc đời này biết rằng mình được yêu và giữ nguyên hiểu biết đó đến ngày cuối đời, thì tất cả những gì xảy ra ở đoạn giữa đều có thể giải quyết”

Ở cái “khoảng thời gian ở giữa” đó của mình, Michael đã phải giải quyết nhiều hơn bất cứ ai.

Nghiệp Mệnh & Nước Mắt Từ Ngai Vàng

Bản chất của nghệ thuật giải trí vẫn là Sáng Tạo – điều dẫn dắt theo yếu tố của kịch tính và biến cố. Jackson đã rõ ràng sinh ra với một định mệnh dư thừa tính kịch một cách thật thà và ồn ào nhất. Những khuất tất phía sau ngai Vua Pop lại chính là những gì làm nên quyền năng huyền thoại của Ngài, sặc mùi bi kịch lãng mạn. Hẳn nhiên, nghĩa “lãng mạn” ở đây không nên hiểu theo cách dùng từ của âm nhạc dòng quê hương và thiệp mừng Valentine.

Chính phái Lãng mạn là trường phái vong thân nặng nghiệp của những cá thể dị biệt được Thượng Đế ấn đặt vào tay món quà sáng tạo như một dấu ấn định mệnh của kẻ đảo ngược trật tự. Hay chí ít là tự phong một cách kiên định.

Michael cho rằng nghiệp mệnh của đời mình là làm thiên sứ giao hòa mọi ranh giới chủng tộc, giới tính, thế hệ cho đến tín ngưỡng. Ông xoáy vặn những thái cực đối lập ấy, xoáy vặn chính tâm hồn, hình dạng và âm nhạc của chính mình để kết thúc bằng một diện mạo hoàn chỉnh: đớn đau, vẹo vọ, và là Tất Cả.

Ngôn ngữ thông điệp của ông không chỉ là nhạc Pop – thứ ngôn ngữ đại chúng, mà còn là hình ảnh, là trang phục, vũ đạo và cả cuộc đời bị lậm vào đấy, say sưa tự hoại như trong cuộc tế thần thiêng liêng với tiếng hò la dậy sóng của những tín đồ cuồng nhiệt trên khắp thế giới, được úy lạo nhiệt tình bởi các bảng xếp hạng và những cú hit lợi nhuận album gây choáng váng.

Nhưng định nghiệp mê cuồng ấy đã được vận vào một số phận có thật, một vóc hài con người đầy hạn chế và quá đỗi mẫn cảm. Ông, theo khoa học và các bác sĩ, hoàn toàn không phải là một thiên sứ hay siêu anh hùng, nhưng cưu mang bên trong một tài hoa kiệt xuất và mọi ưu luân của số phần. Jackson, cuối cùng, là một sinh linh ôm chân xuýt xoa sau một ngày, một đời đạp đổ những barrier của giới tính, chủng tộc hay tuổi tác. Rồi thời gian biến tất cả thành bụi, cả những sinh linh nổi tiếng hát hay hay những sinh linh phi giới tính.

Ông đã là một con người kiệt xuất và kiệt sức. Từ ngai vàng đế chế Vua Pop, ông vươn đến tham vọng của một hình tượng siêu nhiên. Hôm nay Ngài là Diana Ross, hôm sau Ngài đã biến hình thành Peter Pan. Mỗi note cao thót tim, mỗi bước nhảy chao nghiêng cả trục trái đất, và mỗi bộ trang phục ông chọn khoác trên mình cũng đều dùng để phục vụ hình ảnh đầy tham vọng ngây ngô và lãng mạn này. Ngài truyền bá cho khán trường bên dưới một thông điệp hướng thượng cực đoan về quyền năng của tín ngưỡng Michael “Và cả các bạn nữa, những sinh linh của Mẹ Trái Đất, cũng tự do và đầy quyền năng để trở thành bất cứ thứ gì bạn muốn!”

Người ta chỉ bị giới hạn bởi giới hạn của những ước mơ.

Và một nghệ sĩ giải trí làm cho bạn có thể tin vào điều đó, cảm nhận được phép màu đó, dẫu chỉ trong một tích tắc, ngàn năm tinh hoa trời đất chỉ sản sinh ra một.

Và Michael đã được chọn.

 

 

 

Kiêu-hãnh & Hào-hiệp Haute Couture

Vũ Hoàng

Nếu sự ra đi đột ngột của Alexander McQueen đã để lại cho tuần lễ thời trang Paris một buổi diễn cuối cùng vắng mặt nhà thiết kế thiên tài yểu mệnh, thì một sự trống trải u ám khác đè nặng lên kinh đô ánh sáng, năm 2010 lại phải chứng kiến một mất mát không kém phần hụt hẫng khi mà các tín đồ haute couture không còn được chiêm ngưỡng những sáng tạo bậc thầy của niềm kiêu hãnh Pháp mang tên Christian Lacroix.

Buổi trình diễn bộ sưu tập haute couture cuối cùng của Christian Lacroix mùa Thu Đông 2009-2010 vừa qua đã trở thành một show diễn được trông đợi theo một cách đặc biệt chưa từng có trong suốt 22 năm tỏa sáng của tên tuổi bậc thầy này. Một số tờ báo độc miệng còn thẳng thừng gọi đây như một lễ “tế sống” nhà thiết kế thiên tài cùng sự nghiệp của ông, hay cuộc diễu hành tang tóc của cái chết được báo trước. Nhưng đối với những “couturier” chính hiệu, đây là cuộc phô diễn xúc động nhất của văn hóa haute couture: Kiêu hãnh và Hào hiệp.

Cái chết được báo trước

Từ những tháng đầu năm 2009, luồng dư luận xôn xao quanh việc “ông hoàng haute couture” Christian Lacroix bị công nợ vây bủa và mấp mé bờ vực khai tử nhãn hàng thời trang cao cấp lẫy lừng thế giới từ 1987 đến nay. Nhà Christian Lacroix, được chuyển giao giữa đế chế thương mại hùng mạnh LVMH sang tay tập đoàn Falic của Mỹ từ 2005, lúc này đang vào cảnh khốn đốn bởi thói xa xỉ vô tư với những sản phẩm thời trang cao cấp của Lacroix, kéo theo nguy cơ bị phát mãi của thương hiệu House of Christian Lacroix, nếu không nhanh chóng tìm được đối tác chuyển nhượng – điều được xem là phép lạ, đặc biệt là đối với dòng thời trang cao cấp giữa hoàn cảnh kinh tế toàn cầu đang đảo điên từ đầu 2009 đến nay, đặc biệt sau cú hẫng lợi nhuận trị giá 10 triệu Euro của năm 2008, mà nguyên chân chính là sự “vô tư” của Lacroix trong thiết kế lẫn định hướng kinh doanh.

Cái chết được báo trước này đã trải qua một cơn hấp hối dài từ tháng Năm năm ngoái, khi mà Lacroix chính thức đệ đơn yêu cầu quyền được bảo hộ công nợ. Trên thực tế, ngay cả việc đưa bộ sưu tập haute couture cuối cùng lên sàn diễn cũng đã là một phép màu đáng ngạc nhiên khi mà các nhà tư vấn tài chánh của ông đều lên tiếng ngăn cản cuộc trình diễn này. Và “phép màu tài chính” đã xảy ra khi những nhân viên, nghệ nhân thêu, và xưởng may của ông đồng loạt tình nguyện làm việc không công và ở cạnh vị thủ lĩnh của họ đến những giây phút cuối cùng, kết thúc 22 năm một triều đại lẫy lừng vang bóng của thời trang cao cấp.

Vào những ngày cuối cùng ấy, với số lượng vải còn cho phép, chỉ có 24 mẫu thiết kế được hoàn tất và trình diễn trên đường băng, mỗi thiết kế là một tuyệt phẩm thanh tú của phong cách sáng tạo bậc thầy và tinh hoa nghệ thuật thủ công – đại diện của phong cách bất biến xuyên suốt sự nghiệp đáng kiêu hãnh của Christian Lacroix.

Taroni và Gandini, hai nhà cung cấp hàng đầu thế giới đã hỗ trợ những mẫu vải tốt nhất có thể , những người mẫu tình nguyện diễn không lương, Odile Gilbert và Stephane Maris sẵn sàng thực hiện phần làm tóc và trang điểm hoàn toàn miễn phí, trong khi Bruno Frisoni và Inès de la Fressange, cả hai giám đốc sáng tạo của Roger Vivier cung cấp toàn bộ giày cho bộ sưu tập. Olivier Sailard, giám đốc bảo tàng viện Musee des Arts Decoratifs hào phóng trao toàn quyền sử dụng ba gian khánh tiết cho buổi diễn mà không thu lấy một xu. Thậm chí quán café ưa thích của nhà thiết kế cũng tình nguyện chăm sóc bữa buffet thanh đạm phía sau hậu đài với món crudités, trái cây và nước khoáng. Còn bản thân Christian Lacroix đã phải đích thân chạy vạy số tiền đủ để chi trả cho 12 người mẫu theo đúng luật định và sử dụng cả tiền riêng để bù ít nhiều chi phí cho những chuyên viên trang điểm và làm tóc.

Hơn lúc nào hết, sự nghiệt ngã phù phiếm của thế giới thời trang, đặc biệt là nội giới haute couture, dường như chỉ còn là những định kiến của những kẻ ngoại cuộc. Chưa bao giờ người ta được chứng kiến một không khí ngoạn mục, cảm động và đầy kiêu hãnh đến vậy của những con người trong thế giới phù hoa của thời trang cao cấp. Ngay cả những đối thủ của Lacroix cũng âm thầm cầu nguyện cho tên tuổi này sớm thoát hiểm, trong khi chính bản thân ông lại điềm tĩnh, với nụ cười không đổi, trả lễ số phận bằng một bộ sưu tập muôn phần tinh tế với tinh thần Lacroix bất biến nhưng lại song song gần gũi và giản dị đến bất ngờ.

Vàng son còn lại một lần

Giới thời trang rùng mình rũ bỏ lớp áo đài các xa hoa, để mặc những giọt lệ thật thà đánh nhòa lớp phấn son kiêu kỳ vào buổi diễn haute couture cuối cùng của Christian Lacroix.

Những biên tập viên thời trang kì cựu nhất, và những thành viên khét tiếng của giới fashionista thượng lưu đến với buổi diễn trong một không khí tang tóc nhưng khiêm cung. Người ta dõi theo từng mẫu thiết kế của ông không với sự hân hoan háo hức dự đoán những xu hướng gây khuynh đảo cho mùa kinh doanh mới, mà với sự hau háu chiêm ngưỡng những kì quan sáng tạo cuối cùng của một đế chế haute couture danh tiếng, với những tràng pháo tay không ngớt từ đầu đến cuối, và những bàn tay đưa lên kín đáo chậm nước mắt

Không như thông lệ từ khi Christian Lacroix trình diễn các thiết kế của mình lần đầu tháng Giêng 1987 tại Paris, hôm ấy, tại Salon des Boisiers của Musée Les Arts Décoratifs đại lộ Rivoli, lần đầu tiên người ta không nhìn thấy những cành cẩm chướng đỏ đặt sẵn trên mặt ghế, sẵn sàng để được tung lên catwalk vào phút cuối của finale parade.

Những nhân viên, trợ tá trung thành cuối cùng của Christian Lacroix, trong đó có cả ngài Francois Lesage – tay tổng lãnh kì cựu thượng thừa của xưởng thêu tuyệt nghệ nhà Lacroix, từng được dân nội giới coi là “bố già couture”, cũng không dấu được sự xúc động và những giọt nước mắt trong những giây phút còn lại của show diễn haute couture sau cuối của tên tuổi một thời hoàng kim.

Được trình diễn trong khán phòng với gần 200 khách mời, bộ sưu tập 24 mẫu thiết kế thể hiện một tinh thần sang trọng hương xưa đầy kịch tính.

Trái với sự phỏng đoán và chờ đợi của nhiều người, bộ sưu tập haute couture cuối cùng của Lacroix không hề là một cuộc tổng diễu hành sặc sỡ của màu sắc và sự cầu kì hào nhoáng đã làm tỏa sáng tên tuổi ông từ năm 1987. Trái lại, các thiết kế, họa tiết và màu sắc thể hiện một Lacroix tao nhã và dễ gần hơn bao giờ hết, và lời giải thích hợp lý vẫn rất có thể là do sự tận dụng những thước vải cuối cùng còn lại trong kho và sự hào phóng của nhà cung cấp, cùng việc co hẹp của nhân công không cho phép Christian Lacroix chiêu đãi các tín đồ haute couture một sự hào nhoáng xa xỉ, mà thay vào đó là một bữa tiệc thời trang thanh đạm nhưng cực kì tinh tế, như chính món crudités trong bữa tiệc buffet sau hậu đài.

Những họa tiết thêu bằng chỉ vàng trích từ nét trang trí đấu phục matador và hoa văn kiến trúc tôn giáo Trung-cổ, nổi bật trang trọng trên nền đen và xanh navy của crepe, satin và len dạ. Những mảnh jersey đen bọc lấy mái tóc các người mẫu, vấn gọn lại thành búi, đóng khung những khuôn mặt được trang điểm nhạt như những tượng sứ cổ. Tất cả tạo nên một cảnh tượng u mặc nhưng kín đáo nét vương giả kiêu sa.

Sắc đen và xanh navy xuyên suốt của bộ sưu tập hoàn toàn không được sử dụng như một hiện thân u trầm của tình trạng tâm lí lẫn tài chính, mà ngược lại – được lựa chọn để cô đọng tinh thần haute couture lên mức tối đa trong vẻ đài các kinh điển. Lóe lên ở đâu đó trên các mẫu áo khoác chẽn, váy phồng và váy dài, người ta  vẫn thấy những sắc màu sặc sỡ cực đoan của nhà Lacroix với sự cầu kỳ tinh xảo thượng thừa của hình thức lẫn kỹ thuật thể hiện. 

Mở đầu bộ sưu tập là chiếc váy thụng ngắn màu xanh đen, lưng trần, gắn một chiếc nơ to ngạo nghễ, theo sau là chiếc váy kiểu poncho màu đen, thêu những đường chỉ vàng tinh xảo lấy cảm hứng từ những chiếc áo khoác chẽn cầu kì của võ sĩ đấu bò tót, điểm những chiếc khuy bằng pha lê óng ánh. Những tiếng vỗ tay chưa kịp lắng xuống lại như được thổi bùng lên với sự xuất hiện đặc sệt chất Paris với kiểu áo choàng rộng và váy ngắn bằng crepe màu navy, cổ áo chân phương bằng lông thú màu đen càng nổi bật với chiếc mề đay thánh giá được thêu và đính đá cầu kì. Nét cắt may sắc sảo và form dáng chuẩn mực không hổ danh tên tuổi một triều đại haute couture thuần chất, rõ ràng đã được những nghệ nhân kì tài dồn sức thi triển đến mức tuyệt xảo trên những tác phẩm, có thể là cuối cùng của họ, mang tên Christian Lacroix.

 

 

 

Nét đặc thù Lacroix còn được thể hiện qua phong cách gamine kiểu “quý bà tinh nghịch” của mẫu áo khoác peplum (vạt xòe, eo chít cao) có cổ bằng lông thú, xòe ra bên dưới là những tầng voile lụa theo kiểu váy “tutu” như của vũ công ballet. Một cá tính sáng tạo khác của Lacroix là sự tương tác giữa thiết kế và kỹ thuật cắt may thủ công tài tình để làm nên những cấu trúc form dáng cầu kì, như được thể hiện qua những mẫu jacket được cắt bằng tay và những chiếc váy ngắn đăng-ten ngắn, hay áo khoác blazer đính vảy bạc mặc với quần short bằng ren đen.

Sự phóng túng thường gặp trong chất liệu, cầu kì trong cấu trúc đã không thể được thực hiện, nhưng ngay cả sự eo hẹp ngặt nghèo của tài chính đã tách rời Lacroix khỏi xưởng thợ hùng hậu lẫn những nguồn chất liệu xa xỉ đã không thể tách rời ông khỏi tố chất sáng tạo tài hoa của một bậc thầy haute couture. Chân lý của sự xa xỉ toát lên một cách thản nhiên và tài tình qua chiếc váy lệch vai với những nếp rũ của một pho tượng Hy-lạp, duyên dáng bất ngờ với chiếc nơ satin màu cam tía đính lệch dưới mảng lưng trần. Thiên tài Lacroix đã phả vào tác phẩm của mình nét diêm dúa cầu kì trong một phong thái giản dị và bình thản đến khó tin để hoàn thiện phác họa chân dung thời trang cao cấp bằng ngôn ngữ của thiết kế và sắc màu: Kinh tế có thể đen tối, cơn ác mộng tài chính có thể nặng nề, nhưng một khi đó là haute couture, khánh kiệt hoàn toàn không đồng nghĩa với sự nhếch nhác và tàn phế.

Kết thúc bộ sưu tập mà thời gian và những mét vải cuối cùng cho phép là chiếc váy cưới satin eau de nil, hiện thân mỹ miều của Andalusian Virgin del Rocio (Đồng nữ Andalusia) của Tây Ban Nha, nửa mang dáng vẻ gợi nhớ Đức-bà Guadalupe (Nuestra Senora de Guadalupe) trên các bức họa tôn giáo thế kỷ 16, u buồn và tinh khiết.

 
 
 
 

Andalusian Virgin del Rocio

Vị nữ thần màu ngà khiêm cung bước đi giữa hai hàng khán giả, khiến người ta rùng mình nghĩ tới một Marie Antoinette kiêu hãnh trên đường đến đoạn đầu đài và đặt tay mình vào bàn tay của nhà thiết kế tài hoa.

Cả khán phòng đứng bật dậy trong tràng vỗ tay vinh danh tưởng như không dứt, trong khi nhạc nền cất lên bản “My Way” đầy kiêu hãnh bằng tiếng Pháp.

Christian Lacroix – công dân ưu tú của tinh hoa Paris xa xỉ, nghiêng mình tạ lễ khán giả một cách lịch lãm và điệu nghệ như một nghệ sĩ bậc thầy, với nụ cười vẫn nở trên môi như thể ông được bao bọc bởi một quyền lực vô hình của phong cách haute couture kiêu hãnh, khiến cơn chấn động kinh tế ngoài kia, cùng những công nợ không lối thoát không thể làm xô lệch ở người đàn ông này, dù chỉ một đường chỉ trên bộ vest sẫm màu.

Giấc mộng phượng hoàng hồi sinh

Isabelle Chalencon, nhà phê bình thời trang kì cựu, từng được mệnh danh là “ả đồ tể máu lạnh” kín đáo chậm nước mắt trong suốt buổi diễn và không ngại ngần tuyên bố: “Đơn giản đối với tôi, ông là nhà thiết kế vĩ đại nhất. Việc giới thời trang phải chịu mất đi một nhãn hiệu như Christian Lacroix là điều hoàn toàn không thể, đơn giản là không thể.”

Trong một cuộc phỏng vấn trước đó với Associated Press Television News, Lacroix cho rằng nguyên nhân của tình trạng phá sản là do sự “thiếu đồng điệu và cảm thông” giữa hai yếu tố kinh doanh và sáng tạo của thương hiệu.

Những phút cuối trước giờ trình diễn, vẫn giữ tỉnh táo với nụ cười thân thiện tuy không giấu được vẻ mỏi mệt, Lacroix ở phía sau hậu đài bên cạnh ê-kíp nhân viên trung thành còn lại của mình, ông nói, với vẻ vô tư của người đã liên tiếp gây ra những con số thất thu khổng lồ cho cả một tập đoàn kinh doanh sừng sỏ: “Tôi không cho rằng đây là sự kết thúc. Hy vọng đây chỉ là một khởi đầu mới đáng tò mò.”

Buổi trình diễn này đối với Christian Lacroix hẳn nhiên không hoàn toàn là một sự kết thúc hay lời chia tay u buồn. Ông không ngừng cố gắng và hi vọng, và show diễn này là một cách Lacroix hi vọng rằng sẽ thuyết phục sự hỗ trợ tài chính để cho phép ông duy trì dòng sản phẩm haute couture và ready to wear cao cấp, cùng các sản phẩm nước hoa và bộ sưu tập kính mát nhắm tới thị phần trung lưu. Hẳn nhiên, việc đó có giá trị với một khoản đầu tư tương đương 50 triệu Euro để tái chấn hưng sự huy hoàng một thời của thương hiệu Christian Lacroix và điều này, trong nhận định của phe kinh doanh tỉnh táo, là một giấc mộng hoang đường về sự hồi sinh của phượng hoàng từ tro bụi.

Nhưng sự lạc quan đó của Lacroix không phải hoàn toàn không có cơ sở. Đáng lẽ ông đã có mọi cơ hội để khôi phục lại công cuộc kinh doanh thương hiệu của mình.

Ngay sau những tin đồn về nguy cơ khánh tận được phong phanh tung ra, một lời đề nghị mua lại đã được đặt ra với Lacroix bởi tập đoàn Borletti từ Italy, hiện nắm trong tay chuỗi cửa hiệu Printemps tại Paris và các tiệm La Rinascente tại Milan.

Lời đề nghị này đã được đặt ra ngay trước khi các thủ tục đấu giá phát mãi được hoàn tất. Giám đốc được chỉ định bởi Tòa án Tối cao cho rằng đề nghị này, hưởng ứng lời kêu gọi thống thiết của Bộ trưởng Patrick Devedjian “cứu lấy một phần di sản văn hóa của nước Pháp”, hoàn toàn đã có thể thay đổi được tình thế về phía có lợi cho Christian Lacroix.

Đối thủ duy nhất có khả năng cạnh tranh với đại gia Italy Borletti chính là tập đoàn Falic của Hoa Kỳ, kẻ đang nắm giữ Lacroix, với kế hoạch tái thiết cấu trúc hoàn toàn.

Niềm kiêu hãnh thuần chất haute couture của Christian Lacroix đã khiến ông quay lưng lại với những đề nghị này, bởi dự án mới sẽ khiến ông phải sa thải 90% nhân công và biến đế quốc Lacroix vẻ vang 22 năm trở thành một công ty may mặc nhỏ, sống dần vào tên tuổi danh giá do chính mình tạo ra.

Lacroix âm thầm đặt mọi sự kì vọng vào lời hứa hẹn của “người hùng” Ả-rập Sheikh Hassan Ben Ali al-Naimi, được biết đến như một tay buôn sỉ những cung điện và cả những vị vua. Nhưng số phận đã quyết định rằng Sheikh sẽ chậm chân trong thủ tục minh chứng khả năng tài chính, và Christian Lacroix – thương hiệu đã từng thuộc tập đoàn LVMH hùng mạnh, vĩnh viễn bị khai tử.

Couture or NOT Couture?

Sự thiếu vắng tên tuổi Christian Lacroix tước mất khỏi vẻ lộng lẫy của thời trang Paris một nét khả ái phù phiếm không gì thay thế được. Và, như câu nói của ông trên Time magazine vào năm 1987, năm khởi đầu sự nghiệp, “couture nên là một cái gì đó vui mắt, khùng điên, và không mặc được.”

Nhưng có vẻ như áp lực kinh tế toàn cầu đã không cho phép thị trường thời trang, vốn đang ngày càng trở nên thực dụng, ưu ái hơn nữa trường phái thời trang cao cấp, bởi bản thân nó cũng đang đáp ứng thừa mứa nhu cầu “vui mắt, khùng điên và không mặc được” nhưng với một quy mô đại trà và mức giá rẻ mạt.

Trong tình hình u ám chung, khi mà các tín đồ thời trang bước ra khỏi vẻ thư nhàn phong lưu của các nhà sưu tầm nghệ thuật để xả thân vào những cuộc đại viễn chinh smart-shopping giá rẻ, tuần lễ thời trang Paris với nhà Christian Dior khiêm tốn rút show diễn về tại bản doanh, Escada tiếp tục những chấn động lớn mà ngày sụp đổ có thể đến bất cứ lúc nào, thì sự ra đi của nhà Christian Lacroix không có vẻ gì là một tai nạn tài chính ngẫu nhiên. Tháng Hai năm 2009 chứng kiến sự lụn bại đến khánh kiệt của tập đoàn IT Holding SpA – chủ nhân hợp pháp của thương hiệu Gianfranco Ferre và kinh doanh license cho những tên tuổi như Roberto Cavalli lẫn Donatella Versace.

Không chỉ ở châu Âu và Mỹ, ngành thời trang Nhật Bản cũng đã phải gánh chịu ảnh hưởng với tuyên bố phá sản của Yohji Yamamoto với khoản nợ 67 triệu Mỹ-kim.

Những cơn dư chấn sẽ còn tiếp tục tác động nặng nề lên công nghệ thời trang mà ở đây, Lacroix và Yamamoto chỉ là hai trong những quân domino đầu tiên bị xô ngã. Và đáng tiếc, khi mà quỹ mua sắm của các fashionista đang bị tác động trực tiếp, hầu như thị phần của thời trang haute couture càng bị thu hẹp ngặt nghèo hơn, cùng lúc tham vọng sở hữu của các nhà đầu tư tài chính chắc chắn cũng sẽ theo đó mà không nhắm vào các thương hiệu thời trang cao cấp, tuy được trọng vọng trong thánh đường thời trang, nhưng chỉ là những món đầu tư phù phiếm trên thị trường tài chính.

Tuy vậy, Yamamoto đã khá may mắn khi chuẩn bị cho mình một bãi đáp an ổn với bàn tay đưa ra kịp thời của Integral Corp. Trong khi đó, đáng lẽ Lacroix cũng đã gặp may với “người hùng” Ả-rập Sheikh, nhưng đáng tiếc, những trục trặc trong thủ tục liên quan đã khiến chàng “bạch mã hoàng tử” không kịp trở tay trước khi thương hiệu thời trang cao cấp Christian Lacroix chính thức bị xóa sổ.

Các tín đồ thời trang thống khổ nhìn cảnh những đế chế haute couture đang gặp vận chao đảo ngả nghiêng, nhưng không phải ai cũng có thể là những tín đồ tuẫn tiết để quay lưng lại với những thiên đường giá rẻ đang liên tục cạnh tranh mời chào. Các nhà thiết kế thiên tài lại khó lòng khiên cưỡng sáng tạo của bản thân và tiếp tục tung ra những bộ sưu tập haute couture hầu như chỉ tập trung vào giới thượng lưu và celebrity.

Các nhà tư vấn tài chính đưa ra lời khuyên rằng các sản phẩm thời trang nên được nhắm đến nhiều thị phần đa dạng và tạo cầu nối từ tầng tiêu thụ thấp nhất đến những sản phẩm xa xỉ nhất. Họ cho đó là cách duy nhất để Thời Trang tồn tại, khi nó còn có thể tồn tại. Nhưng các fashionista thượng lưu rùng mình trước viễn ảnh một thị trường đồng đẳng chung chạ, và các nhà thiết kế hàng đầu thì thường lại là những bậc thiên tài không biết đánh vần từ “thỏa hiệp”.

Tay khổng lồ lúng túng, chàng nghệ sĩ hoang đàng và Vị hoàng tử chậm chân

Ngày 1 tháng Mười Hai năm 2009, gần 6 tháng sau show diễn lịch sử tại đại lộ Rivoli, với một sự phán quyết nghiệt ngã đầy lý trí, Tòa án Thương mại Paris đã chuẩn y giải pháp kinh tế cho thương hiệu thời trang cao cấp Christian Lacroix, sau hàng năm dài vật lộn với những món nợ khổng lồ, bằng việc chính thức chấm dứt mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh dòng thời trang cao cấp (haute couture) lẫn thời trang may sẵn (pret a porter) và, theo đúng kịch bản của tập đoàn sở hữu, duy trì các license phụ trang, mắt kính và nước hoa.

Giám đốc Điều hành của Lacroix, Nicolas Topiol, đã công khai thở phào với quyết định này. Ông cho rằng, dẫu đó là một sự tổn thất lớn đối với thời trang haute couture nói chung và bản thân nhà thiết kế, nhưng giải pháp khôn ngoan này sẽ là cơ hội để cánh cửa hi vọng vẫn mở ra đối với một nhà đầu tư tiềm năng nào khác tỏ ra thích thú với việc bảo trợ cho hoạt động sáng tạo và kinh doanh thời trang của Lacroix, điều quan trọng nhất là thương hiệu sẽ hoàn toàn tránh được thảm họa phong tỏa chờ phát mãi.

Nhưng nếu tình trạng “không nơi nương tựa” vẫn tiếp tục kéo dài, đây rất có thể là điềm gở cho sự sống còn của cái gọi là “kỷ nguyên haute couture” của thời trang thế giới.

Bộ trưởng Công nghiệp Pháp Christian Estrosi vẫn không hoàn toàn buông xuôi hi vọng cho Lacroix – mà mỗi người Pháp ái quốc đều coi là một biểu tượng văn hóa đương đại của quốc gia. Theo Alexis Mabille, một tay thủ cựu chính hiệu của trường phái couture, cũng thấp thỏm cầu nguyện cho đối thủ bậc thầy của mình “Christian đại diện cho một trường phái, một phong cách thật sự độc đáo hòa quyện giữa sự tinh tế trong chi tiết và ngoạn mục trong cấu trúc, với một sự mẫn cảm đầy chất thơ. Văn hóa Pháp và thời trang Pháp mang nợ ông rất nhiều. Tôi hi vọng rồi một ai đó sẽ chìa tay ra. Bằng không, đây sẽ là sự diệt vong oan uổng cho cả một nền kỹ nghệ xa xỉ, những kiến thức và tinh hoa sáng tạo vô giá.”.

Trong thời hoàng kim của mình, từ cuối những năm 1980s và trong suốt thập niên 90 tiếp nối, Lacroix đã là nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn đối với phong cách và văn hóa hưởng thụ của những tín đồ thời trang tầng lớp thượng lưu trên khắp thế giới. Những thiết kế của ông được tôn sùng bởi các ngôi sao giải trí, các yếu nhân hàng đầu như công nương Diana, minh tinh Nicole Kidman, Helen Mirren, đặc biệt là những thiết kế trang phục biểu diễn trong tour diễn Re-Invention của nữ hoàng nhạc pop Madonna, và cả những nhân vật truyền hình như Edina Monsoon trong serie Absolutely Fabulous. Sự ưa chuộng ấy hoàn toàn không vì các thiết kế của Lacroix dễ mặc, mà đúng hơn là bởi bảng màu sặc sỡ táo bạo nhưng đầy sức sống, những chiếc váy phồng đỏm dáng và những chiếc váy cưới, váy dạ hội lộng lẫy như phục trang hoạt hình trong một câu chuyện thần thoại.

Việc đóng cửa nhãn hàng với cả hai dòng sản phẩm được xem là lối thoát sinh tồn duy nhất cho thương hiệu Christian Lacroix, và yếu tố khủng hoảng kinh tế toàn cầu chỉ là cú knock-out cuối cùng thật sự giáng đòn chí mạng lên công việc kinh doanh vốn đã rất phi lý từ vài năm trở lại

Năm 2005, nhà Lacroix được trao tay giữa gã khổng lồ xa xỉ phẩm LVMH sang cho tập đoàn Falic của Mỹ. Và cho đến tháng Năm 2009, đó đã luôn là một mối đầu tư ngớ ngẩn của Falic – gã khổng lồ Hoa kỳ lúng túng với tay tài tử Paris có thói hoang đàng và những sản phẩm haute couture đòi hỏi đầu tư ngất trời mà không mấy ai dám, hoặc có thể sở hữu cho nhu cầu chưng diện.

Mặc dù vẫn có khá nhiều nhà đầu tư tiềm năng tỏ ra lưu ý đến, nhưng sự khổ sở suốt năm năm của Falic với Lacroix cũng đủ khiến không ít “người hùng tài chính” phải chùn tay nghĩa hiệp.

Cùng đường, Falic hy vọng vào việc chính thức chấm dứt hoạt động chính của thương hiệu là hai dòng sản phẩm thời trang, để tập trung hoàn toàn vào các license phụ trang và nước hoa, vốn vẫn được coi là gần gũi hơn với nhu cầu có thật của thị trường tiêu dùng thời trang, và hi vọng nguồn lợi từ những license này sẽ giúp kéo Lacroix ra khỏi bãi lầy haute couture, bởi ngay cả trong những thời kì tươi sáng nhất của sự nghiệp, nhà Lacroix vẫn hầu như chưa bao giờ hoạt động có lãi. Tổng số thiệt hại trong suốt 22 năm vang bóng của “tay chơi không ngại mưa rơi” Christian Lacroix đã lên đến 150 triệu Euro.

Người ta trách Lacroix về sự vô tâm, ở tư cách là một nhà thiết kế thời trang, đã không thành công trong việc chuyển hóa giá trị thẩm mỹ của sáng tạo thành hiệu quả tài chính của kinh doanh. Ông chỉ vùi đầu vào những bộ trang phục tốn kém và đòi hỏi kì công nhưng hầu như chỉ vài người trên thế giới có thể mặc được (mà ngay cả họ mỗi năm cũng chỉ có vài dịp để diện những bộ đồ “ăn nói” này). Jean-Jacques Picart, người đồng sự kề cận đã từng cùng Lacroix gầy dựng từ những năm đầu, và cũng là người dẫn dắt ông đến với Hermes, cho rằng người đồng sự, người bạn thiên tài của mình đã “không có được sự may mắn hay thông minh đủ để tìm ra cho mình một tay điều hành tài ba có thể hóa vàng những thiết kế của ông.”

Tay công tử Bạc-liêu 58 tuổi của thời trang Paris, trong một buổi nói chuyện trên đài phát thanh, cũng đã phải thừa nhận rằng từ những ngày đầu thành lập thương hiệu, ông đã nhận ra rằng những ám ảnh nghệ thuật của mình không bao giờ có bóng dáng của giá trị thực tiễn được quy thành tiền. Và cho tận đến những ngày tháng cuối cùng của đế chế vương giả, sự quan tâm duy nhất của ông vẫn hướng về đội ngũ những nghệ nhân trung thành và những cô thợ may, các bác thợ cắt tận tụy trong suốt 22 năm của mình.

Didier Grumbach – người đứng đầu Chambre Syndial, viện điều hành hoạt động các nhãn hàng haute couture của Paris không khỏi tiếc nuối “Lacroix là một nghệ sĩ thiên tài và cần thể hiện điều đó qua các tác phẩm của mình. Nhưng đáng tiếc thay, thời trang là một nền công nghệ chứ không phải là một môn nghệ thuật đương đại.”

Mặc nhiên cho mọi lí thuyết u ám xám xịt của giới tài chính, bản thân Lacroix vẫn hầu như tin chắc vào một sự tái chấn hưng của tên tuổi nói riêng, và của thời trang cao cấp nói chung. Và không một lời phát biểu nào xúc động hơn buổi công diễn cuối cùng trong phong cách haute couture uy nghi, đầy quyền lực và bất khả xâm phạm của một Đồng nữ trong bộ váy tráng lệ satin thêu chỉ vàng.

Nhưng rồi điều không tránh khỏi cuối cùng cũng đến. Ngày 01 tháng Mười Hai năm 2009 chính thức trở thành ngày được định cho vận mệnh của nhà Christian Lacroix, khi mà Ajman Sheikh – người nắm giữ hy vọng của toàn giới thời trang với tham vọng mua lại nhãn hàng trị giá 100 triệu Euros đã không thành công trong việc chứng minh tài sản.

Giới thời trang rúng động trước tin chính thức cuối cùng sau một cơn hấp hối dài chỉ được nuôi sống bằng hy vọng vào một phép màu. Thành trì hoa lệ đầu tiên của trường phái haute couture đã chính thức sụp đổ và vị cựu hoàng Christian Lacroix không phải là người duy nhất chịu đựng sự mất mát.

Mùa haute couture fall 2010 lại đến, và trong sự thiếu vắng của những tên tuổi như Yves Saint Larent và Alexander McQueen, người ta như vẫn còn nhắc lại hình ảnh quý bà Tia de Brantes – một nhân vật của giới thượng lưu bảo thủ Pháp, tại một góc khán phòng Salon des Boisiers, cùng mẹ và con gái, với những giọt nước mắt lăn dài và những nụ cười kiêu hãnh, nâng cao tấm bandrole bằng đũi trắng với hàng chữ bạc “Christian Lacroix Forever”.

Dita Von Teese trong bộ trang phục haute couture cuối cùng của Christian Lacroix

Alexander McQueen – Kẻ Tội-đồ Yên Nghỉ

(Đây là bản thảo thứ hai, rút gọn từ nguyên bản đầu tiên trên 11,000 chữ. Nay, khi ấn bản số 2 của F-Magazine đã chính thức rải bom trên các sạp, tác giả mạn phép đăng lên đây để bù cho độc giả riêng của mình những gì mà giới hạn của một ấn phẩm thời trang không thể chuyển tải trọn vẹn)

Chiều ngày 11 tháng Hai 2010, giới thời trang trên toàn thế giới choáng váng chao đảo trước tin về cái chết do tự sát của Alexander McQueen ở tuổi 40, ngay sau khi Joyce McQueen – thân mẫu của ông qua đời.

Chỉ vài phút sau, mạng Twitter ngập lụt với những dòng status bàng hoàng và đau đớn.

Kẻ tội đồ đằng sau những cơn sốt đầy khủng hoảng của trào lưu thời trang thế giới, thiên tài thô bạo mà sự lỗ mãng và lố lăng được phụ nữ trên khắp nơi mê cuồng đã vĩnh viễn ngủ yên.

Từ Lee đến Alexander McQueen

Sinh ra trong một gia đình có 6 anh chị em, hồi ức của Alexander McQueen về tuổi ấu thơ vẫn luôn là những ngày ở nhà một mình, nguệch ngoạc vẽ những chiếc váy lên những chỗ hở của tấm giấy dán tường rách bươm.

16 tuổi, ông nghỉ học và được nhận học việc tại hiệu may Anderson & Sheppard, và về sau là tiệm Gieves & Hawkes ở khu Savile Row, vốn được xem là thánh địa của ngành may mặc thủ công của nước Anh. Đây cũng là nơi mà ông đã từng chăm sóc trang phục cho những chính khách, yếu nhân hàng đầu như nguyên thủ tướng Mikhail Gorbachev, thái tử Charles và hàng loạt những minh tinh điện ảnh danh tiếng.

 
 

Isabella Blow

Với kinh nghiệm có được từ khoảng thời gian làm việc tại Savile Row, ông vào học tại học viện thời trang và nghệ thuật Central Saint Martins College. Tại buổi trình diễn tốt nghiệp, bộ sưu tập của McQueen được mua lại toàn bộ bởi Isabella Blow – stylist thời trang hàng đầu của London, về sau trở thành người đỡ đầu và người bạn thân thiết duy nhất của ông cho đến cuối đời. Bà cũng là người thuyết phục McQueen lấy tên lót làm nghệ danh là Alexander McQueen như thế giới biết đến ông mãi về sau.

Năm 2007, Isabella Blow mắc bệnh ung thư và chết do tự sát.

Người ta cho rằng có sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa McQueen và Blow vào khoảng thời gian này, mà nguyên nhân có vẻ như xuất phát từ sự thiếu trân trọng mà McQueen dành cho bà.

Ngay từ những ngày đầu, cho đến suốt những năm rực sáng của sự nghiệp sau này, Alexander McQueen liên tục gây dư luận ồn ào sau mỗi bộ sưu tập của mình, cả tiêu cực lẫn tích cực.

Sau cơn sốt quần “bumsters” với lưng quần xệ đến quá hông, và bộ sưu tập mang tên Highland Rape, ông được chính thức mang hỗn danh l’enfant terrible (thằng nhỏ ngỗ nghịch) và “tay đầu gấu của thời trang Anh”.

Năm 1996, Chủ tịch tập đoàn LVMH, Bernard Arnault đã gây xôn xao khi chỉ định Alexander McQueen kế nhiệm John Galliano làm nhà thiết kế chính của thương hiệu Givenchy. Ngay sau khi nắm quyền khuynh đảo tại đây, McQueen lập tức chế nhạo và gọi người sáng lập nhãn hàng là “không liên quan”. Bộ sưu tập couture đầu tiên của ông cho Givenchy đã trở thành một thất bại không thể chối cãi.

Ông bắt đầu “khép mình” lại hơn với những thiết kế về sau cho nhà Givenchy, nhưng sự nổi loạn trong gã bất kham này vẫn tiếp tục gây dư luận vào mùa thu năm 1998, khi ông cho những con robot xịt bom sơn tung tóe lên những bộ váy cotton màu trắng và người mẫu khuyết tật Aimee Mullins cụt cả hai chân sải bước trên sàn catwalk bằng cặp chân gỗ được chạm khắc cổ quái.

 McQueen ở lại với Givenchy đến tháng Ba 2001, với lời tuyên bố rằng hợp đồng của ông với Givenchy đã khiến sự sáng tạo của ông phải chịu áp lực khiên cưỡng.

Mùa hè năm 2000, một cách không chính thức, trên một du thuyền ở Ibiza, McQueen kết hôn với George Forsyth, một nhà làm phim tài liệu. Mối quan hệ chỉ kéo dài được một năm cho đến khi McQueen và Forsyth hình thành một mối quan hệ bạn bè thân thiết.

Trước khi ra đi, vào ngày 3 tháng Hai 2010, trên trang Twitter của mình, McQueen viết về cái chết của mẹ mình vào ngày trước đó, với câu cuối cùng “RIP mumxxxxxxxxxxxxxxxx.” (RIP: từ tắt cho Rest In Peace – hãy yên nghỉ). Hầu như ngay sau đó, ông lại ghi tiếp “Nhưng rồi cuộc sống vẫn phải tiếp diễn!”

Bốn ngày sau, người ta đọc thấy những dòng status u ám và những lời nguyền rủa, nhưng được kết thúc với một trạng thái thăng bằng đầy tỉnh táo: “Giờ tôi phải tự vực mình đứng lên”. Tang lễ của thân mẫu ông diễn ra vào ngày 12 tháng Hai 2010.

Một ngày trước đó, Lee Alexander McQueen tự sát.

Mặc nhiên với phong cách couture chuyên gây huyên náo lúc sinh thời, tang lễ của gã bất kham Alexander McQueen đã diễn ra một cách lặng lẽ trong vòng 100 người dự, gồm những bạn bè thân thiết và gia quyến tại nhà thờ St Paul, Knightsbridge, West London.

Những Show Diễn Bị Phù Phép

 

Chết chóc, bạo lực, tôn giáo, tình dục,… – đó là những thứ người ta có được trên sàn catwalk của McQueen. Văn sĩ có ngôn từ, họa sĩ có những mảng toan, còn McQueen sử dụng những sự ám ảnh đầy mộng mị và kỹ năng tuyệt hảo có được từ những kinh nghiệm từ khi còn là anh thợ học việc ở Savile Row để kể câu chuyện thế giới quan của mình.

Các cuộc trình diễn của ông luôn vượt trên cả sự hào nhoáng, gây dư luận ngay cả ở những vấn đề không trực tiếp liên quan đến thời trang.

Thập niên 90, không gian trình diễn của McQueen là những trạm xe bus, những xưởng phim bỏ hoang,…như mang đến cho khán giả một cảm giác hỗn độn đầy bất an, và họ không thể chuẩn bị tinh thần trước cho những gì sắp diễn ra.

Hình ảnh Kate Moss được tái hiện bằng kỹ thuật 3D trên catwalkl của McQueen

Mỗi show diễn thường chỉ kéo dài từ 12 đến 15 phút, với những ngôn ngữ và kỹ xảo dàn dựng luôn ngông cuồng: những người mẫu đi trên mặt nước, trận mưa những con đom đóm, Kate Moss xuất hiện qua hình ảnh 3D kích cỡ bằng người thật ngay trên sân khấu, Shalmon Harlow bị những con robot phun bom sơn lên mình, hay người đàn bà trong hộp kính khổng lồ, ngập ngụa trong những cuộn mỡ ngồn ngộn, gần như bị nuốt chửng trong miệng con quái vật được trang trí lộng lẫy, v.v…

McQueen, với bản chất của tên độc tài trong công việc sáng tạo cũng như trong cuộc sống, luôn chứa đựng những sự bất ngờ mê hoặc.

Bản thân là một người ăn kiêng, McQueen tỏ ra tột đỉnh cực đoan về chuẩn mực thẩm mỹ cơ thể với vai rộng, eo siết nhỏ và những đôi chân luôn như được cố gắng nối cho dài hơn và bó cho gầy gò mảnh khảnh hơn.

Ngạo mạn và cay nghiệt, ông bóp méo những tỉ lệ chuẩn mực của cấu trúc trang phục, vò nhàu cái đẹp của số đông, và, một cách kì lạ, sự chuệch choạc nhàu nhĩ ấy lại có sức thuyết phục kì lạ, được minh chứng hiển nhiên bằng những con số lợi nhuận khổng lồ và những cơn sốt, hay đúng hơn là những nạn đại dịch thời trang ngập tràn từ đường phố đến các thảm đỏ.

Người ta mê man chạy theo những cơn sốt mang dấu ấn của ông, dù những thiết kế của McQueen luôn tỏ ra không khoan nhượng với những khiếm khuyết dù nhỏ nhất của hình thể. Chúng phũ phàng tố cáo từng milimetre thừa ở bụng và hông, khiến cho lưng như dài ra. Đường phố tràn ngập những nạn nhân thời trang trông như lùn tịt và nặng nề trên những đôi giày tôm càng lênh khênh. Và, mâu thuẫn như chính bản chất, ông lại là người đưa lên sàn catwalk nữ cựu vận động viên Aimee Mullins, với khuôn mặt thiên thần, cơ thể gần như tuyệt hảo nhưng bên dưới là hai chân bị cắt cụt, lênh khênh sải bước trên đôi chân gỗ như hai tác phẩm điêu khắc thật sự.

Từ dư luận báo chí sau sự kiện trên, người ta có thể dằng xé giữa cảm xúc giận dữ, đau đớn, sững sờ, hay thậm chí ghê sợ, nhưng tất cả những ai có mặt tại buổi diễn đều không thể không rùng mình đến nghiêng mình, vào cái khoảnh khắc mà Aimee, với đôi mắt xuất thần của một nhà vô địch, ngời sáng vươn mình trên đôi nạng cầu kỳ và tinh xảo của thời trang.

Và cho đến tận bây giờ, khi gã côn đồ của thời trang Anh Quốc đã yên nghỉ, cuộc tranh cãi yêu – ghét thời trang phong cách Alexander McQueen vẫn còn tiếp diễn gay gắt.

Nhưng dẫu được hâm mộ hay gây định kiến, điều thành công mà phong cách sáng tạo của McQueen tạo ra trọn vẹn, chính là trạng thái cực đoan và mãnh liệt nhất mà ông chạm tới được cảm xúc con người.

Lời Nguyền Mang Tên Plato’s Atlantis

Cú shock về cái chết của Alexander McQueen như thêm dầu vào lửa khi ngoài kia, giới thời trang còn chưa nguội cơn sốt sau bộ sưu tập Plato’s Atlantis, và “nữ hoàng làm quá” Lady Gaga, trong đôi giày càng cua quái đản của ông, vẫn gõ những bước gây chấn động sàn ca nhạc giải trí thế giới.

Alexander McQueen luôn có hứng thú với sự cực đoan trong sáng tạo, và những tiến bộ của kỹ thuật điện tử, kỹ thuật số được ông tận dụng như những công cụ mới của nghệ thuật đương đại. Điều này được thể hiện qua từng mùa thời trang, khi mà dư luận của mùa trước chưa kịp nguội, người ta lại ồn ào đồn đãi bàn tán về những người mẫu của ông trượt đi trong những cơn bão tuyết, biến thành những quân cờ người cổ quái, hay loạng choạng giữa những đám hỏa hoạn điên rồ,…như những biểu hiện đẹp mắt nhất của sự phóng túng của ý tưởng, được trang bị bởi những kỹ thuật tối tân, và kết hợp với một tư duy hoang đường viễn ảo.

Đầu tháng 10, 2009, một lần nữa, Alexander McQueen lại tiên phong cho một hình thức mới của sự kết hợp sàn diễn thời trang với sân khấu giải trí. Bộ sưu tập mang tên Plato’s Atlantis của McQueen được truyền trực tuyến trên SHOWstudio.com của Nick Knight. Dẫu sao thì đó cũng chỉ là kế hoạch, được quyết định cho đến 30 phút trước buổi diễn, khi thông tin về ý tưởng này được Lady Gaga khinh suất công bố với hàng triệu followers của mình trên mạng Twitter trước giờ mở màn. Và, đương nhiên, ngay trước khi cuộc công phá của McQueen kịp kết thúc, thì chính mạng SHOWstudio bị sập bởi quá tải lượng truy cập.

Sàn diễn sáng loáng và trơn tuột, hai robot mang máy quay tự động kềnh càng trông như hai gã khổng lồ xấu xí chạy tới chạy lui, trong khi trên màn hình là Raquel Zimmermann khỏa thân nằm trên cát, với những con rắn trườn qua lại trên thân.

Những người mẫu tiến ra sàn diễn, tóc tai dựng ngược, mình bận váy ngắn với họa tiết được in bằng kỹ thuật tân tiến, những cặp trường túc lênh khênh xỏ vào những đôi giày hình thù dị hợm trông như những cái càng cua hay những con tôm hùm thô kệch diêm dúa.

McQueen, theo thông tin cung cấp cho báo giới, lấy ý tưởng thể hiện một lời sấm dự báo Khải Huyền về sự tự hoại của nhân loại: Loài người đã tiến hóa từ những sinh vật từ biển, và, rất có thể, đang dắt díu nhau quay về sự khởi đầu ấy khi những tảng băng khổng lồ ở hai cực trái đất đang liên tục tan chảy.

Qua thứ ngôn ngữ thể hiện màu mè nhưng chuyển đạt chuẩn xác nội dung thông điệp, được đọng lại nơi chiếc váy ngắn căng phồng như củ hành, in họa tiết vằn vện, nửa như loài giáp xác sặc sỡ, nửa như những loài thủy quái cổ đại.

Quá trình tiến hóa diễn ra qua sự chuyển mình của màu sắc, từ xanh lá và nâu của thiên nhiên, chuyển dần đến xanh bạc hà của thời kỳ công nghệ tiên tiến, và xanh dương của một trận đại hồng thủy thứ hai.

Mỗi thiết kế đơn lẻ là cả một họa phẩm kỹ thuật số tuyệt mỹ dưới dấu ấn bàn tay phù phép điêu luyện McQueen với nét cắt sắc sảo trúc trắc không thể nhầm lẫn.

Một lúc nào đó trong bộ sưu tập, khi mà có vẻ như McQueen, qua ngôn ngữ thời trang, nhìn thấy trước sự giao thoa sinh học của con người với loài thủy quái, trong phong cách của một câu chuyện thần thoại đầy đam mê, nửa như một hoạt cảnh khoa học viễn tưởng có cơ sở đến đáng ngờ, thể hiện qua loại chất liệu bóng loáng vào cuối bộ sưu tập, như làn da trơn của loài hữu nhũ dưới nước. Đây đó, là những dấu ấn của gã thợ may phố Savile Row ngày nào qua nét cắt sắc sảo, những khuyết vải được đính đầy đá màu ngọc lam, mang máng hình ảnh đáy biển được nhìn thấy từ đáy kính của lòng tàu thủy vọng.

Sự ma mị lan tỏa trong một bộ sưu tập được xây dựng chuẩn xác và khoa học, kỹ thuật ứng dụng của công nghệ số trong xử lí họa tiết lẫn dàn dựng sân khấu khiến một lần nữa đặt McQueen lên hàng đầu cuộc chinh phục của thời trang trường phái vị lai (futuristic), vượt thời gian và băng tràn qua biên giới luôn đầy xung khắc của mỹ thuật vs kỹ thuật.

Yêu Và Ghét McQueen

Bốn lần được trao tặng danh hiệu “British Designer Of The Year” và là một trong những nhà thiết kế trẻ nhất đạt danh hiệu này, ông còn được vinh dự phong tặng danh hiệu CBE (Comander of the British Empire) của hoàng gia Anh, giải thưởng Hiệp hội Các Nhà Thiết kế mang tên International Designer of the Year. Nhưng dường như sự ưu ái trọng thị của giới thời trang lẫn hoàng gia Anh vẫn không làm dịu đi, nếu không nói là càng khuyến khích cho sự ngang tàng và chính kiến phản quân chủ của McQueen – kẻ mà từ khi còn là anh thợ cắt vô danh phố Savile Row, đã từng rắn mắt thêu vào mặt trong bộ trang phục thửa cho thái tử Charles dòng thủ bút “I Am A Cunt”

Isabella Blow, người mang công đầu phát hiện ra McQueen từ bộ sưu tập tốt nghiệp tại trường. Về sau bà còn mãi nhắc đến cách mà McQueen bỏ bộ trang phục vào những túi xốp hay dùng để đựng rác và mang đến trao cho bà, nửa ngạo nghễ, nửa đáng thương. Bà chính thức trở thành nhà tư vấn và nhân vật đỡ đầu cho sự nghiệp của một Alexander McQueen từ đấy.

Cùng lúc, nhà thiết kế trẻ bắt đầu chăm chút cho việc tỉa tót dung mạo bản thân và kết thúc bằng một sinh vật lông tóc cụt lủn, đi giày hooligan DocMarten cao cổ, với một thái độ lếu láo và một tư duy trác tuệ.

Năm 1996, ông kế nhiệm gã bạo chúa John Galliano đứng vào vị trí sáng tạo hàng đầu của thương hiệu Givenchy – một mối quan hệ kéo dài 5 năm, trước khi chính thức trở thành Giám đốc Sáng tạo của Gucci Group trong một cuộc ngã giá được đồn đại là trị giá nhiều triệu Mỹ kim.

Về sau, McQueen khuếch trương thêm nhãn hàng McQ, một phiên bản thời trang mang dấu ấn Alexander McQueen được phân phối qua hệ thống bán lẻ đại trà Target, chính thức bao phủ thế lực của mình lên thị trường “thời trang thân thiện”, cùng lúc thiết lập hệ thống kinh doanh qua mạng, cho phép tín đồ thời trang toàn cầu tiếp cận với sản phẩm may sẵn và phụ trang của ông chỉ qua một cú bấm chuột

 

Tiếc thay, cũng chính những hợp đồng mang lại lợi nhuận và danh tiếng này đã là một tác nhân gây rạn nứt mối quan hệ của ông và Isabella Blow – McQueen không thể, hoặc cũng rất có thể là không có ý định, tìm một vị trí xứng hợp tại Givenchy hoặc Gucci cho chính người đỡ đầu thuở lập nghiệp của mình.

Không lâu trước khi tự sát, Blow – chuyên gia thời trang một thời lừng lẫy, khi này đã mắc bệnh ung thư, và trải qua hai cuộc tự sát không thành, nói về danh tiếng và sự thành đạt của McQueen với ít nhiều chua chát, ám chỉ đến luật vay trả ứng lên cho số phận kẻ đã từng nằm trong sự bảo hộ của mình.

 Về phía mình, McQueen giữ im lặng về sự rạn nứt giữa hai người. Ông đến dự tang lễ của Blow, hao mòn hốc hác và thật sự bị chấn động mạnh.

Năm 2008, ông dành tặng riêng bà bộ sư tập của mình tại tuần lễ thời trang Paris.

  

Giấy mời đến buổi diễn được trang trí bức họa Isabella Blow, vẻ hoan hỉ, mình mặc bộ váy của McQueen, đầu đội chiếc nón đỏm dáng nhà Phillip Treacy, ngồi trong cỗ mã xa hướng về thiên đàng.

Đúng 3 năm sau, cũng chỉ vài tuần trước tuần lễ thời trang Paris, McQueen cũng chọn cách tự kết liễu cuộc sống.

Và cả hai, người trước kẻ sau, mang theo câu chuyện riêng của họ sang thế giới bên kia, vĩnh viễn xa lánh mọi lời phỏng đoán của báo chí và dư luận.

Lee McQueen và Isabella Blow trong tác phẩm của David Lachppelle

“Anh bạn, anh chả quen nhiều người ở đây lắm thì phải?”

Người ta cho rằng cũng chính cái chết của Isabella Blow là nguyên nhân cho quyết định chấm dứt quan hệ tình ái giữa McQueen và nhà làm phim George Forsyth, người mà ông đã từng kết hôn không chính thức vào năm 2000 trên chiếc du thuyền của thái tử Gambian tại Ibiza.

Nhưng chỉ đến giữa bữa tiệc, khi mà Noel Gallagher, Patsy Kensit và Sadie Frost đang nâng ly chúc tụng, khi mà champagne còn ngả nghiêng tuôn như suối, thì tân lang George Forsyth đứng chơ vơ một mình giữa sàn nhảy. Jude Law tiến lại gần: “Ey, anh bạn, anh chả quen nhiều người ở đây lắm thì phải?” tài tử điện ảnh nổi tiếng hỏi.

Quả vậy. George hoàn toàn lạc lõng. Và đằng sau những đãi bôi bóng bẩy của những cái ôm, những nụ hôn gió sặc mùi showbiz, chính McQueen dường như cũng không kém phần cô đơn và lạc lõng.

Vì ông là người luôn được vây quanh bởi những “bạn bè nổi tiếng” – nhưng cũng là kẻ thường xuyên chỉ còn lại một mình.

George Forsyth, chồng cũ của McQueen, trong cuộc phỏng vấn độc quyền với tờ Sunday Mirror, nhắc lại quãng thời gian sống cùng nhau “Giới thời trang là hành tinh cô độc nhất trên hành tinh này. Chỉ có một vài người trong giới đó là người ta có thể thật sự xem là bạn.”

“Tôi không bao giờ nghĩ rằng Lee có thể tự sát. Nhưng sau cái chết của mẹ, rõ ràng là anh ta đã không thể chịu đựng nổi. Đó là một sự mất mát quá đau thương, không chỉ đối với giới thời trang, mà với tất cả những ai đã từng thật sự biết Lee và, cũng như tôi, biết rằng tận bên trong, anh đã là một tâm hồn tuyệt đẹp đến thế nào.”

George vẫn không thể tin được là McQueen đã thật sự ra đi: “Tôi luôn nghĩ anh ấy sẽ đủ mạnh mẽ để đối đầu với mọi thứ”

Nhắc lại biến cố cách đây 3 năm, khi mà người bạn thân thiết nhất, và cũng là chỗ dựa tinh thần lớn nhất của McQueen, hình tượng thời trang Isabella Blow, chết do tự sát, George kể: “Ngay trước khi bà ta mất, Lee nhờ tôi đến thăm Isabella vì anh không thể chịu đựng được. Đối với anh, bà như một người thân thích duy nhất mà showbiz có thể cho anh được. Bởi vậy, sự ra đi của người mẹ đối với Lee ắt đã vượt quá khả năng chịu đựng. Lee tôn sùng bà.”

“Lee đã luôn là một tài năng thật sự…Ai cũng muốn làm bạn với anh ta, và Lee luôn thu hút quanh mình hàng đống kẻ đeo bám.

“Đừng hiểu lầm ý tôi. Cả hai chúng tôi đều thích việc này, và cả hai lúc nào cũng lê la tại những bữa tiệc tùng tưởng chừng không bao giờ kết thúc, với champagne tràn trề và cocaine mù mịt. Không thể nhớ hết những lần chúng tôi tiệc tùng một lèo mấy ngày liền mà không buồn nghĩ đến chuyện ngủ

 

Lee McQueen và hai "nàng thơ" thân thiết - Kate và Naomi

“Nhưng bên cạnh đó, đằng sau một Alexander McQueen, Lee chỉ là một người đàn ông bình thường, cô đơn cùng cực và luôn mấp mé bên bờ khánh kiệt. Ngày anh bán lại công ty cho Gucci lấy 50 triệu bảng vào tháng 12, 2009, đêm ấy, chúng tôi ăn mừng với nhau bằng một bịch khoai tây và một chai Bacardi Breezer.

“Từ giới thời trang, Lee cũng có những người bạn tuyệt vời như Naomi Campbell, Kate Moss, Sadie Frost và Davinia Taylor, nhưng họ là bạn tiệc tùng hội hè, không phải là những kẻ để Lee rút ruột ngả lòng.”

George, một nghệ sĩ vô danh ở Bắc London, gặp Lee tại một quán bar của dân đồng tính năm 1999.

Ông kể tiếp: “Tôi chả biết anh ta là ai cả. Cho đến tận ngày hôm sau, những người bạn ở cùng nhà nói với tôi rằng đấy là Alexander McQueen. Tôi chưa từng nghe về anh trước đây và phải hỏi mẹ tôi anh ta là ai.”

Chỉ sau đó 5 tuần, George dọn về ở tại căn hộ của McQueen tại Islington, London.

Hầu như ngay lập tức, George được chấp nhận trong nội giới thời trang tại các buổi tiệc tùng, và đêm nào họ cũng đi chơi như vậy.

McQueen thích phung phí hoang tàn. Khi ngụ tại khách sạn Four Seasons xa hoa tại Paris, ông mua chùm đèn giá 30 000 bảng để gỡ ra và làm đồ trang trí cho cây thông Giáng sinh của họ ở nhà.

“Đối với Lee, tiền bạc không quan trọng, nó là thứ để mang ra xài và hưởng thụ. Trong một chuyến đến New York, chúng tôi đi ra ngoài một chút để mua sắm và trở về với hai bức ảnh của Andy Warhol, mỗi bức giá 125 ngàn bảng.

“Lee luôn ý thức được rằng mức giá ấy là đắt đến lố bịch, nhưng chúng tôi chỉ phá ra cười về chuyện đó.”

Điển hình cho lối sống xa xỉ của họ chính là hôn lễ trên du thuyền tại hòn đảo ngập nắng Ibiza.

 “Lúc ấy chúng tôi đang ở câu lạc bộ Groucho với Allabelle và Kate thì một trong hai người hỏi nếu tôi sẽ đồng ý cưới Lee. Lập tức tôi trả lời: đương nhiên, tôi sẽ lấy anh ta. Lee nhìn tôi và hỏi ‘Chắc không?’. Một lần nữa, tôi xác nhận ‘Vâng!’. Annabelle trở nên thật sự phấn khích và nói cô ta sẽ muốn là phù dâu của Lee và Kate là phù dâu cho tôi – và thế là họ lên kịch bản cho mọi thứ.”

Vài tuần sau đó, tất cả bọn họ cùng bay đến Ibiza.

Sau buổi lễ, đôi tân lang và những vị khách nổi tiếng của họ ăn mừng suốt đêm. Nhưng, như Jude Lawe nói, không phải mọi thứ đều như vẻ ngoài. “Không có lấy một người thân hay thành viên gia đình nào ở đó cả, chỉ là những bạn bè nổi tiếng của Lee.” George xác nhận.

Nhưng anh cũng đã từng chứng kiến mặt trái của giới thời trang ngay lập tức sau khi chia tay với McQueen.

“Ngay sau khi chia tay, tôi trông thấy Kate Moss, phù dâu ngày nào của tôi, đang đi vào một khách sạn. Tôi gọi Kate. Cô quay lại, nhìn lướt qua tôi như thể tôi hoàn toàn vô hình. Như thể giờ đây, không còn là một trong những người trong giới, tôi cũng mất đi hoàn toàn tư cách để quen biết cô. Thật khôi hài, khi tôi và Lee lại làm bạn với nhau, cô ta lại thân thiết vồn vã. Có lẽ nền văn minh showbiz nó thế.”

Anh nói tiếp: “Giới thời trang đầy rẫy hội đeo bám. Người ta có thể dễ dàng nhận ra ngay lập tức. Lee thừa thông minh và sắc sảo, anh giải thích mọi thứ cho tôi nghe, rằng hình ảnh trước công chúng và nội giới của anh là gã hoang đàng, và hình ảnh ấy chỉ có thể hoàn chỉnh với một hội vệ tinh lấp lánh hào nhoáng vây quanh.

“Có một Lee ở nhà và một Alexander McQueen điên rồ ngoài đường. Anh đã diễn vai diễn của mình và anh cười vào đấy.” Sau một thoáng ngập ngừng không dấu được vẻ xót xa, George lặp lại: “Lee ‘đã từng’ cười vào đấy.”

Mệt mỏi và kiệt quệ, đôi mắt đỏ ngầu, George nói thêm: “Mọi người đang bàn tán về cái chết của thiên tài thời trang Alexander McQueen. Nhưng tôi muốn họ nhận ra rằng chúng ta vừa mất đi Lee McQueen – con người, một người không kém phần đặc biệt.”

Từ sau cuộc chia tay, McQueen tiếp tục sống độc thân, dù trong một cuộc phỏng vấn năm ngoái, ông thừa nhận mối quan hệ với cựu tài tử phim khiêu dâm hay được gọi là“Mr.Stag” mà ông quen biết được qua một dịch vụ mai mối trên mạng.

Vào ngày người ta tìm thấy McQueen trong tủ quần áo tại căn hộ Mayfair, khi các bác sĩ chuẩn bị đưa thi thể của ông đi, người ta nhìn thấy một người đàn ông tóc vàng đứng trước cửa, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt thất thần. “Mr.Stag” đã là người thân duy nhất tiễn ông vĩnh viễn rời khỏi căn hộ của mình.

Finale Parade – Cuộc diễu hành cuối cùng.

Ngày 25 tháng Hai, 2010, tại nhà thờ St Paul, Knightsbridge, Kate Moss bước vào trên đôi Christian Louboutins cao 5 phân, mình khoác lông thú màu đen cực kì hợp mốt lẫn hợp tình hợp cảnh, trong khi Campbell thu hút sự chú ý với khóa cài trang trí lông vũ màu đen. Có mặt cùng khoảng 100 người tham dự tại tang lễ tiễn đưa Lee Alexander McQueen, người ta còn thấy có mặt Lady Gaga, Steven Klein, Daphne Guinness, Edward Enninful, và Stella McCartney như trong một show diễn độc nhất vô nhị, khi mà họ khoác trên mình những thiết kế của ông trong tuyền một màu đen tang tóc.  

 
 
 

Naomi và Lady Gaga tại tang lễ Alexander McQueen

Mọi thành viên của gia đình McQueen gồm cha ông và 5 người anh chị em còn lại, đều mặc loại vải kẻ sọc Ê-cốt mà McQueen từng sử dụng trong buổi trình diễn bộ sưu tập tai tiếng Highland Rape năm 2006.

Từ vài ngày trước đó, những sản phẩm của ông đã được săn lùng ráo riết tại mọi cửa tiệm trên toàn thế giới và đặc biệt trên internet. Mạng Liberty và Net-a-Porter bán sạch những chiếc khăn cuối cùng có in họa tiết đầu lâu từng một thời làm mưa làm gió khắp các thủ phủ thời trang trên toàn thế giới.

Ngay cả những bộ váy giá 3000 bảng và các kiểu áo khoác 700 bảng cũng như bị bốc hơi khỏi kho lưu trữ của các cửa hàng trên mạng.

Ngoài những tín đồ thời trang tuẫn tiết thật sự muốn sở hữu lần cuối khi còn có thể một di vật từ sức sáng tạo tài hoa của McQueen, không ít trong số những người mua là những tay đầu cơ ma lanh lùng mua những sản phẩm thời trang này như thể tậu một tác phẩm nghệ thuật có giá trị đầu tư cao và chắc chắn.

 

Ngày 09 tháng Ba, 2010, tại tuần lễ thời trang Paris, bộ sưu tập sau cùng của Alexander McQueen được trình diễn trong một không gian nhỏ và riêng tư của phòng salon với những họa tiết mạ vàng trên tường và nội thất.

Từng bộ thiết kế đều được cắt thủ công bởi chính tay nhà thiết kế quá cố. Bộ sau lộng lẫy hơn bộ trước, đầy những hình ảnh tôn giáo, những thiên thần, đồng nữ,…như thể trong suốt thời gian cuối cuộc đời, McQueen đã bị ám ảnh bởi những giấc mơ đầy màu sắc tâm linh, và ông làm nên chúng, như thông điệp cuối cùng gửi lại.

Mang đầy ảnh hưởng nghệ thuật Byzantine, các tác phẩm điêu khắc của Grinling Gibbons, và những bậc thầy như Botticelli và Hieronymus Bosch, từng mẫu thiết kế thật sự tạo cho người xem cảm giác hoàn mỹ và kì diệu đến choáng ngợp. Toàn phần hay từng chi tiết của những tác phẩm điêu khắc và hội họa cổ điển được tái chỉnh cấu trúc để vừa vặn với form dáng thiết kế và in bằng kỹ thuật số, kết hợp kỹ thuật dệt thảm truyền thống đầy công phu.

Bộ váy satin đỏ thắm với chiếc váy xếp pleat xòe thêu chỉ vàng và mẫu váy khác, làm từ gấm dệt vàng, mặc với chuỗi vòng cổ dạng yếm cùng vòng tay làm từ kính màu khiến người ta liên tưởng đến những song sắt và ô cửa cửa mỹ miều trên các cung điện, thánh đường thời hoàng kim xa xưa.

Những đôi giày được chạm khắc thủ công họa tiết lượn xoắn cầu kỳ quanh những chiếc đầu lâu quái dị, những chiếc gót cao hình thiên thần khảm đầy đá óng ánh gợi nhớ đến những đôi hài và guốc rườm rà nặng nề nhưng cực kỳ tinh xảo của lịch sử trang phục châu Âu thời trung cổ.

Những người mẫu bước ra như những bức tranh cổ u mặc, hoặc dưới hình dạng những nữ đồng trinh trong kinh thánh, một tay vươn ra phía trước, một tay đặt lên ngực.

Người ta sẽ không bao giờ hiểu được vì sao một vẻ đẹp thoát thần mê hoặc đến vậy lại có thể tạo ra được từ sự sụp đổ kiệt cùng đến thế.

Và cuối cùng thì Lee Alexander McQueen, một cách nào đó, ở một nơi nào đó, giờ chắc đã bằng an.

%d bloggers like this: