Dolce & Gabbana: Song Hiệp Lưỡng Tính

Trác Thúy Miêu

Phụ nữ tôn sùng họ, cánh đàn ông thời thượng trọng vọng tên tuổi họ, dân gay ca tụng họ như những nhà cách mạng đồng tính tiên phong và thành đạt, còn nhà báo nữ Carrie Bradshaw trong Sex And The City chỉ vì một bộ Dolce&Gabbana mà chấp nhận cuộc rủi may lộn nhào trên runway New York.

Một fashionista/fashionisto sành điệu và các phim dòng romance ướt át đã từ lâu không còn nhắc đến Romeo & Juliette, mà thay vào là tên tuổi cặp đôi huyền thoại thời đại ái tình phi giới tính Dolce & Gabbana.

Các tín đồ ngớ ngẩn mới nhập môn sẽ có thể hỏi “Dolce và Gabbana là gay à?” và sẽ được trả lời “Không, họ là những người đàn ông sống với nhau!”

Cuộc Bắc tiến của gã giang hồ Siciliano

Họ mang lại cho quý bà những thiết kế hoa lệ và tình tứ, cho quý ông những bộ sưu tập sắc sảo với kỹ thuật cắt may siêu hạng, và những dòng nước hoa bất hủ có mùi như một thứ mê hồn tửu đầy quyền năng. Tất cả đều thượng thặng, xa xỉ, nửa lòe loẹt nửa chân phương kinh điển đặc sệt phong vị thẩm mỹ miền Nam nước Ý.

Sicily, với văn hóa Địa Trung Hải, tinh thần cinema duy thực kiểu Visconti và Madonna chính là những nguồn ảnh hưởng thấm đẫm trong phong cách của Dolce & Gabbana. Bản thân Dolce là một Siciliano chính hiệu, và Gabbana cũng có một tình cảm đặc biệt dành cho đảo này từ khi họ mới gặp nhau hồi đầu những năm 1980. Tinh thần Sicile hòa nhất họ với nhau và trở thành một thánh địa thiêng liêng của hai tay thực tập sinh tại một nhà thời trang ở Milan lúc bấy giờ.

Dolce sinh năm 1958 tại Polizzi Generosa, gần thủ phủ Palermo của Sicily. 4 năm sau đó, tại Venice, trong khi thế giới ngoài kia còn đang đảo điên với những chiếc váy ngắn đầu tiên của lịch sử thời trang, Stefano Gabbana ra đời. Dolce theo học thiết kế thời trang và làm việc cho một xưởng may nhỏ của gia đình, trong khi Gabbana theo học thiết kế đồ họa tại Milan. Đây cũng là thời đại phát của trào lưu hippy, văn hóa hiện sinh, sơ-mi chim cò, kính to bản, và những bảng màu chói lọi còn ghi dấu sâu sắc trong các thiết kế của Dolce&Gabbana cho đến tận mùa tuần lễ thời trang Milan mới đây.

Dolce, với quyết tâm vùng thoát khỏi những vòng quay đều đặn của những chiếc máy may hãng thợ tỉnh lẻ, đã tiến hành cuộc Bắc tiến về thánh địa thời trang Milan, nơi cuộc gặp gỡ định mệnh với Stefano Gabbana được phần số sắp sẵn tại một tiệm thời trang nhỏ. Họ gặp nhau, chóng vánh yêu, khởi sự cho một thiên tình sử đồng tính kéo dài hai thập niên.

Năm 1982, Dolce và Gabbana quyết định rời bỏ hãng thời trang cả hai đang cùng làm việc để bắt đầu những lựa chọn sự nghiệp mới. Họ cùng chia sẻ một phòng làm việc, và cùng chia sẻ cuộc đời với nhau từ đấy, làm nền tảng cho suốt nửa cuộc đời về sau. 18 tháng sau, hạt mầm chung được gieo xuống, ấp ủ cho cả thế giới thời trang về sau một cặp đôi quyền lực dưới thương hiệu đơn giản của lòng kiêu hãnh và tình yêu: Dolce & Gabbana.

Ngay lập tức, họ được tổ chức thời trang quốc gia Camera Nazionale ghi nhận như những tài năng trẻ đầy triển vọng và được mời tham dự tuần lễ thời trang Milan với bộ sưu tập mang tên “Real Woman”.

Cặp đôi bất bại

Những thiết kế đầu tay của Dolce và Gabbana đã chớm thể hiện xu hướng tự do về cấu trúc, với những dây buộc, khóa cài nhì nhoằng khắp nơi. Sự “bất thường” hợp thời và trội bật này ngay lập tức lôi kéo được sự chú ý của nội giới thời trang Ý. Tất cả từng thiết kế đều được thực hiện thủ công với lực lượng trợ thủ tinh nhuệ của xưởng may nhà họ Dolce.

Cả nước Ý lập tức phát sốt, và giới thời trang nín thở chờ đợi những gì mà cặp đôi tài năng trẻ hứa hẹn sẽ hoành hành toàn cảnh thời trang không chỉ ở tầm độ quốc gia. Điểm tựa đầu tiên ấy đã cho Dolce và Gabbana một lực bẩy khổng lồ, đủ để liên tục rải thảm thị trường với không chỉ các bộ sưu tập thời trang, mà cả các dòng trợ lực kinh tế hữu hiệu với nam phục, thời trang biển, nội y, và nước hoa chỉ trong vài năm ngắn ngủi. Và người ta không hề ngạc nhiên khi chỉ đến 1989, cửa tiệm đầu tiên tại Tokyo của họ đã được khai trương, đánh dấu cuộc bành trướng đã tham lam tràn đến “lỗ đen mua sắm” Á-châu.

Năm 1987, lấy cảm hứng từ thẩm mỹ cine thập niên 40, 50 của miền nam nước Ý, Dolce và Gabbana ra mắt bộ sưu tập gồm những chiếc chân váy phồng xòe, những vòng eo thít nhỏ, áo khoác viền ren, và những chiếc khăn shawl đan móc theo kiểu phụ nữ Sicile. Một phong cách đặc quánh khí chất đại tẩu giang hồ Ý, đan xen với những nét hoài cổ trầm mặc của các họa tiết tôn giáo, những chi tiết đính cườm đỏm dáng, những chiếc váy đen nhỏ, khăn trùm đầu, và cả những chiếc rổ đan mộc mạc chân quê, như một cách phô diễn ý nhị tinh hoa tuyệt nghệ của các nghệ nhân thủ công miền Nam nước Ý – một tố chất không thể thiếu của những thủ phủ haute couture. Từng thiết kế trong bộ sưu tập đều hiển hiện rõ rệt hình ảnh phồn thực của hai “lệnh bà” đầy chất ciné Ý: Sophia Loren và Anna Magnami – thứ dục tình ma mị được phô trương tràn trề ngạo mạn và nồng sực hơi ấm da thịt đàn bà, đủ ấm để lây lan những giọt mồ hôi túa vã phía sau mọi ống kính của báo giới.

Cứ thế, họ là tình nhân và chiến hữu trong suốt gần 2 thập niên huy hoàng. Cơn say tình chóng vánh đã không chỉ là một trò tìm bạn trớ trêu chóng vánh như người ta vẫn nghĩ về những người đàn ông tìm nhau. Họ sành điệu và tài hoa như những quí ông hoàn hảo, và họ công khai mối quan hệ một cách kiêu hãnh, đầy thách thức và sặc mùi lãng mạn đàn ông.

Bảng màu lập thể của thời trang lưỡng tính

“Túp lều tranh” của cặp đôi vàng này là tòa dinh thự mang tên Villa Volpe, được xây từ thế kỷ 19 nằm ngay trung tâm Milan, vốn vẫn là đề tài bàn tán của báo giới. Người ta tán rằng ngôi nhà của họ có một phòng bếp tráng lệ, phòng vẽ dán nhì nhoằng họa tiết da beo, những chiếc ghế đẩu cũng bọc da beo lốm đốm, lót thảm bằng nhung tơ và ở khắp nơi là những cây nến to sụ như trong nhà thờ – một thứ phô trương màu mè đến chói chang của dòng máu Ý thuần chủng, pha với thói đỏm dáng làm quá của thẩm mỹ đồng tính. Họ không để phí một ngày nào của việc hưởng thụ lạc thú xa xỉ!

Dù nổi tiếng là hai tên tuổi sùng bái màu đen trong thiết kế, lấy cảm hứng từ bộ dạng hắc y toàn tập của giới gangsters và các mafioso khét tiếng đảo Sicile, Dolce và Gabbana luôn có những cuộc tung hứng va chạm những màu sắc, bề mặt chất liệu ngẫu hứng và chói mắt “không đỡ nổi”. Trong dinh thự riêng của mình, cả hai bày đặt cả một cuộc đại náo nháo nhào của các nền văn hóa, các trào lưu thẩm mỹ, như thể bỏ tất cả vào một cái máy xay sinh tố rồi bắn tung tóe khắp nơi cái thể thức hợp nhất kì cục lẫn kì thú ấy. Họ tự do tuyệt đối, đến mức tự dung túng bản thân trong không gian sống của mình và cho ra đời những chiến dịch quảng cáo, những thứ tư duy thẩm mỹ mà ngay cả sự hào sảng của dân Ý cũng phải hết hồn và bàn tán râm ran.

Họ trộn lẫn các thời điểm lịch sử, xé nhỏ và lắp ráp hết sức bậy bạ các vùng văn hóa cổ kim lại với nhau, họ tung hê nháo nhào vách ngăn biên giới giữa tủ quần áo quí ông và quí bà. Nhặt nhạnh và lắp ghép, như những thiên tài điên khùng, điều mà họ có được cuối cùng là cái thứ đã trở thành quyền lực thời trang Dolce & Gabanna.

Từ lông thú và váy dài 1990, vải ghép và vải hoa của 1992, quần da beo 1996, và cuối cùng là bộ suit pinstripe cổ điển mặc tròng bên ngoài áo may-ô, các thiết kế thời trang nữ của P&G khỏi phải bàn, rất sexy, nhưng gợi cảm theo kiểu đại nữ thành thị, ít nhiều tính ái nam gồ ghề suồng sã, mà gợi tình đến bất khả cưỡng. Không như điều mà người ta trông đợi ở giới thời trang Ý, Dolce và Gabbana không lệ thuộc vào các mỹ nữ vóc hạc nhan nhản của catwalk thế giới, mà lồ lộ bộ nhũ căng mẩy và những vòng hông phồn thực. Trong một cuộc phỏng vấn với Observer Life, Gabbana cho rằng: “Cơ thể con người, cùng tất cả những gì nó đại diện qua thứ ngôn ngữ rất riêng, là điều rất rất quan trọng của thời trang.”

Thời trang nam của D&G cũng không nằm ngoài công thức thêm thắt tính dục đan xen vào các yếu tố truyền thống của trang phục. Cũng bằng cách mà họ đặt quí bà vào trong những bộ nam phục, Dolce và Gabbana phủ lên các bộ suit kẻ sọc của các tay đại ca đầu gấu cỡ bự một thứ bảng màu hoa quả trái cây, và kết hợp với áo may-ô như nông dân Ý. Có dạo, kiểu này đã khuynh đảo toàn thể cộng đồng gay trên thế giới hồi mùa hè 1995, tạo thành cả một cơn sốt lòe loẹt ở khắp các thành phố lớn trên thế giới.

Trả lời chất vấn của the The Guardian Weekend với luận cứ cho rằng họ thuần túy ủy lạo xu hướng tình dục đồng giới, Dolce bác bỏ một cách ngạo mạn bằng luận điệu đủ để ông được đời đời ghi danh là nhà cách mạng bình đẳng giới: “Điều đó hoàn toàn không liên quan đến giới tính hay xu hướng tình dục. Đó chỉ đơn thuần là những gì chúng tôi có và muốn thể hiện, và còn là những gì thời trang mặc nhiên phản ảnh lại của xu hướng nhu cầu thẩm mỹ của thế giới xung quanh… Con người hình thành xã hội, và xã hội tự thiết lập nên một vách ngăn rạch ròi giữa cái gọi là quần áo dành cho đàn ông và đàn bà, bởi họ muốn tin rằng đàn ông và đàn bà phải rất khác nhau. Sẽ rất thú vị và hoàn toàn lành mạnh nếu người ta có thể tư do tìm kiếm sâu thẳm bên trong chính mình một góc nhỏ luôn tồn tại, trong cái góc nhỏ đó, định kiến không tồn tại, bạn hoàn toàn tự do, và nhận ra mình không chỉ có một giới tính. Thế giới và sự trải nghiệm mở rộng ra khi người ta biết rằng họ có sự lựa chọn lẫn quyền chọn lựa.”

Những đại gia và những minh tinh bị chối từ

Thái độ thừa thãi tự tin và hãnh tiến của cặp đôi Dolce-Gabbana không chỉ dành cho quan điểm về tình dục và giới tính của mình, họ còn được biết đến là những chủ nhân ông bất khả chiến bại hiếm hoi của làng thời trang thế giới, trước xu hướng bành trướng mạnh mẽ của các tập đoàn cá mập thứ dữ. Có thể coi đây là một trường hợp cực kì hiếm hoi của làng thời trang, khi mà các nhà thiết kế trực tiếp điều hành công việc kinh doanh và là chủ nhân ông duy nhất của giá trị thương hiệu, hoàn toàn miễn nhiễm trước mọi sự can thiệp của các thế lực tài chính. Ngoài dòng hàng thời trang nam nữ cao cấp, D&G còn làm chủ dòng White Label Collection nhằm vào thị phần trẻ, được thiết kế cho văn hóa nhạc dance và các club xa xỉ, dòng jeans mang nhãn cộc lốc ‘&.’, cùng la liệt các quả bom thương mại truyền thống khác như mắt kính, phụ trang, nội y, áo tắm, và, đương nhiên, nước hoa.

Để chứng thực hiệu quả mê hoặc của hai đầu óc sáng tạo không tiền khoáng hậu này là hàng loạt tên tuổi các ngôi sao thượng thặng, những quí ông và quí bà được cho là quyến rũ nhất hành tinh: Tom Cruise, Brian Ferry, Brad Pitt, Isabella Rossellini, Demi Moore, Nicole Kidman, v.v… đặc biệt là các bộ phục trang sân khấu cho tour diễn vòng quanh thế giới của Whitney Houston, với những thiết kế từ phong cách thường phục sắc sảo cho đến những chiếc váy maxi lộng lẫy nhất cho nữ hoàng đen.

Nhưng những thành tích và danh sách khách hàng cỡ bự ấy hoàn toàn không có được từ đức tính thân thiện hòa đồng của cặp D&G. Dolce và Gabbana nổi tiếng kén thân chủ, bởi chỉ thiết kế cho những ngôi sao mà họ thích, đối với số còn lại, họ chỉ đơn giản trả lời “Bổn tiệm có phòng trưng bày ở bất cứ thành phố lớn nào, quí khách cứ mặc nhiên chọn lựa!” Do đó, để đứng đầu danh sách ưa thích của D&G hẳn nhiên phải là tầm đệ nhất vương giả tài danh của làng giải trí, không ai khác là Đồng Nữ Madonna: “Chúng tôi yêu Madonna. Không có bất cứ thứ gì Đồng Nữ muốn mà không được đáp ứng lập tức tại nhà Dolce&Gabbana. Không chỉ vì Madonna là ngôi sao yêu thích của cộng đồng gay. Chúng tôi yêu quí con người cô ấy, phong cách ấy, và cá tính âm nhạc ấy…, tất cả những gì thuộc về cô ấy.” Họ thiết kế phục trang cho tour Girlie Show của Đồng Nữ năm 1993, khiến cho cả thế giới mãi về sau còn nhắc đến bộ váy “Kylie Minogue tribute”, những chiếc T-shirt “Rocco” hồi năm 2000, và đến 2001 thì khiến khán phòng phát sốt lên với Đồng Nữ diện bộ đồ cao bồi đính đá đúng chất nữ quyền bạo dâm, gợi cảm cùng cực trong một nét nhục dục lưỡng tính.

Ngược lại, Đồng Nữ cũng hết lòng sủng ái cặp tình nhân đồng giới này. Nàng tự nhận mình là tín đồ sùng mộ nhất của họ – những kẻ được cả nước Mỹ gọi là “những tay thời trang Ý”, nàng còn cho họ là hai trong số các đại diện của văn hóa Ý thuần chủng: “Khi mà những Fellini, Rossellini, Pasolini và Visconti đã không còn, tất cả những gì nước Ý có để vinh danh tinh thần văn hóa quốc gia là thời trang duy thực của Dolce và Gabbana.”

Tình ái và sự nghiệp, dường như họ có tất cả, và vẫn là chưa đủ. Họ có số điện thoại của Madonna trên phím gọi tắt, 200 cửa hiệu khắp thế giới, 2000 nhân viên và hơn 579 triệu bảng Anh niên lợi. Họ là bạn bè hữu hảo của các đệ nhất minh tinh, họ khinh thị và chối từ thế lực tài chính của các tập đoàn cá mập LVMH và Gucci lúc này đang thèm thuồng tuyệt vọng trước con mồi khó nhậu. Hai thành viên hội đồng quản trị duy nhất của Dolce&Gabbana là Dolce và Gabbana, và họ duy trì điều đó một cách an nhiên nhưng đầy bài bản: “Chúng tôi cũng sẽ chẳng hề hối tiếc nếu thứ duy nhất chúng tôi đóng góp cho thời trang thế giới chỉ là một chiếc áo lót màu đen, Nó sẽ là cái đẹp nhất!”

Ngạo nghễ và bất chấp là thế, hẳn nhiên, cặp đôi bất bại cũng có cho mình những cú va chạm và cả những cuộc lật đổ. Tháng Giêng 2007, shot quảng cáo của D&G bị la ó rầm rĩ tại Anh-quốc, với những người mẫu tay cầm dao găm đâm chém loạn xạ. Chỉ một tháng sau đó, D&G lại tiếp tục bị giới chức Tây Ban Nha và Pháp cự nự đòi tẩy chay khi quảng cáo tại Madrid và Paris hình ảnh một nam nhân đẹp như thần đang vật một phụ nữ xuống đất, trong khi một nhóm tu mi nam tử khác đứng bu lại nhìn ngó và tạo dáng rất điệu. Lên tiếng hùng hổ nhất là Bộ Lao động và Xã hội Tây Ban Nha, với luận cứ rằng hình ảnh trên là vi phạm pháp luật và sỉ nhục phụ nữ, cho dù các fashionista Tây Ban Nha vẫn khăng khăng rằng họ sẽ khó lòng thấy nhục dẫu có bị vật mạnh hơn thế nữa!

Định dạng Dolce&Gabbana

Không chỉ với những cú ghi điểm lẫy lừng với các thiết kế trang phục như giải Woolmark Award 1991, danh hiệu dòng nước hoa nữ xuất sắc nhất năm 1993 cũng là một sự ghi nhận chân thực quyền lực Dolce&Gabbana trong thế giới mùi hương. Tại Hollywood – thành phố của những minh tinh, họ nghiễm nhiên là lựa chọn hàng đầu. Điều này hiển nhiên dẫn dắt đến cuộc ra mắt cửa tiệm nhà Dolce&Gabbana đầu tiên tại Hoa Kỳ vào năm 1995, ngự ngay thánh địa mua sắm thượng đẳng The Galleria, Houston. Đó cũng có thể được xem là một cú chinh phục cuối trước khi cơn mê đắm hai mẫu tự D&G chính thức khởi phát ồ ạt trên toàn thế giới, các cửa tiệm Dolce&Gabbana, như một vụ nổ lây lan, liên tiếp cát cứ tại những thánh địa thời trang mọi nơi trên thế giới, và lập tức trở thành biểu tượng đầy kiêu hãnh của thời trang cao cấp và văn minh couture.

Dolce&Gabbana được chia làm hai dòng chính: D&G và Dolce&Gabbana. D&G hình thành các nhánh thời trang thân thiện về cả thiết kế lẫn giá cả, trong khi Dolce&Gabbana mang nặng tinh thần haute couture xa xỉ. Mỗi dòng đều có các thiết kế áo tắm và nội y riêng biệt. Mô hình đăng đối này khiến Dolce&Gabbana duy trì được thế cân bằng giữa tính thương mại thực dụng và đẳng cấp hàng đầu của couture Ý, được trợ thủ cực kì hài hòa và đắc lực bởi các dòng nước hoa, mắt kính, giày, v.v…

Dolce&Gabbana là tất cả khía cạnh ồn ào, chói chang nhất của thẩm mỹ thời trang Ý. Thiên biến vạn hóa, đầy ngẫu hứng và bất ngờ, đó là khi thời trang nằm ngoài khái niệm che đậy thân thể. Mỗi thiết kế phải được cân nhắc hoàn hảo để trở thành những bộ khung, vỏ bọc hay bệ đỡ mỹ lệ nhất của cơ thể sống bên trong. Đến một mức độ nào đó, chúng vượt qua yếu tố tôn vinh thân thể mà trở thành một tạo vật được tạo hình hài hòa bởi những đường những khối nhồi lượn phập phồng bên dưới. Chúng ồn ào, diêm dúa, nhưng khúc chiết một cách kinh điển trong cấu trúc, tận dụng khai thác từng đường nét thể hình nhỏ nhất để phô bày trưng trổ. Dẫu đó là một chiếc áo khoác, váy, hay suit.

Trong các thiết kế của Dolce và Gabbana, người ta còn không thể không nhận ra nét hài hước ngỗ nghịch của những người đàn ông miền Nam nước Ý này, ảnh hưởng ít nhiều bởi tư tưởng cùng thời của Jean Paul Gaultier, thể hiện rõ qua các thiết kế corset vốn là thuộc tính biểu trưng của gã phá đền bạo tay này. Những chiếc corset của Dolce và Gabbana còn thể hiện nỗi đam mê ám ảnh của họ về phong cách va-va-voom di-gan đô thị, của vẻ thô thiển trác táng được trau chuốt bởi kỹ năng cắt may thủ công tuyệt nghệ. Đây cũng là nét hoài cổ trầm mặc luôn phảng phất trong các cuộc chơi tạo hình của Dolce và Gabbana. Họ khai quật những mẫu trang phục truyền thống của thời tiền-bình-đẳng-giới, cường điệu chúng lên bằng thẩm mỹ vị lai và tất cả những bảng màu sặc sỡ nhất.

Dolce & Gabbana cho tất cả

Dù với sự ngạo mạn, thất thường giữa hoài cổ và vị lai ấy, Dolce&Gabbana vẫn là một thương hiệu nóng của thị trường ready-to-wear thân thiện, đặc biệt tại Ý. Những năm cuối thế kỷ, dòng ready-to-wear của D&G đã mang lại món niên lợi 500 triệu Mỹ kim. Từng mẫu thiết kế ready-to-wear của D&G cho đến những bộ váy hào nhoáng xa xỉ của Dolce&Gabbana đều tuân thủ một tinh thần xuyên suốt: vẻ lộng lẫy thượng hạng, gợi cảm không e lệ, và nét hoài cổ cầu kì. Từng thiết kế mang tên cặp đôi quyền lực đều nồng nặc nhục dục trong bộ dạng ngạo mạn thượng tầng, ồn ào, lưỡng tính, và duy nhất! Và tinh thần đó được rải khắp thế giới qua sự có mặt của các cửa tiệm Dolce&Gabbana mỗi ngày thu hút hàng hàng lớp lớp lượt vào ra của các tín đồ tại Hoong Kong, Singapore, Đài bắc, Seoul, cùng khắp Âu châu cho chí Hoa Kỳ.

Người ta coi Domenico Dolce và Stefano Gabbana là những nhà ủy lạo nhiệt tình của phong trào bình đẳng giới, những kẻ làm nên phong độ mẫu mực của thế hệ đại nữ thành thị – mạnh mẽ, độc lập và hưởng thụ đến cực cùng lạc thú cuộc đời. Họ phá vỡ những lằn ranh của thẩm mỹ, của văn hóa, và tài tình để dành lại một phần đáng kể cho óc tưởng tượng của kẻ háo hức ngắm nhìn để hoàn tất bức phù điêu Vệ Nữ mang nhãn D&G.

Để có được những thiết kế ngời sáng thảm đỏ showbiz thế giới, những show diễn luôn khiến những hàng front-row dày đặc yếu nhân thời trang phải đứng bật dậy tán thưởng, trong phần còn lại của thế giới phải tiêu hao không ít tiền của, Dolce và Gabbana còn được biết đến bởi một phong cách bất di bất dịch: bạo liệt, sắc sảo và thuần túy gợi cảm với tuyệt chiêu tôn vinh tối đa vẻ đẹp cơ thể của người mặc. Giai nhân trứ danh Ý Isabella Rosselini kể rằng món đầu tiên của nhà Dolce&Gabbana mà nàng có là một chiếc sơ-mi trắng mà theo bà là “Thuần khiết, trinh bạch, nhưng với một form cắt khiến cho bộ ngực trông như sắp bật tung khỏi những chiếc khuy trêu ngươi.”

Người ta có thể “nhận diện” dấu ấn D&G, và một cách vô tình, Dolce và Gabbana thiết lập một phong cách thời trang để bất cứ tín đồ ranh mãnh nào cũng có thể “trông rất Dolce&Gabbana”, dù không hẳn có một món nào trên người mang tên họ! Bảng màu bạo liệt, form ôm sát nhưng tôn vinh hơn là tố cáo, những họa tiết in to bản, và lộ khe ngực càng nhiều càng tốt! Nếu một diva muốn trông thật gợi cảm mà không cần xăm chữ “sexy” lên trán, thì Dolce and Gabbana là hai người đàn ông mà họ cần.

Các chàng Romeo không thể có tất cả!

Họ có tất cả những gì khiến họ trở thành thần tượng của toàn thể giới gay trên thế giới: sự nghiệp, một mối tình bền vững, tột đỉnh danh vọng trong làng thời trang và một lối sống kiêu hãnh đế vương. Nhưng, hẳn nhiên, Thượng Đế không cho họ thật sự tất cả. Stefano là người đầu tiên nhận ra điều này, sau khi mối quan hệ của họ tan vỡ, và ông nhận ra, ngoài thời trang, không có một sự ràng buộc gắn kết nào là vĩnh cửu.

Năm 2005, trước sự sững sờ thảng thốt của cộng đồng gay thế giới, cặp uyên ương đồng tính tuyên bố chia tay. Gabbana cho biết họ đã dần xa cách trong khoảng 5 năm trở lại. Để xoa dịu các fashionisto và fashionista, Dolce và Gabbana vẫn duy trì một tình bạn khắng khít, và trên hết, vẫn là đôi song kiếm hợp bích tài hoa của thời trang Ý. Đằng sau một mối tình chết, cả hai vẫn có một “đứa con chung” là thương hiệu kiêu hãnh và quyền lực Dolce&Gabbana – điều đã gắn kết hai người đàn ông ấy lại với nhau, không chỉ bằng tình ái.

Domenico xoa dịu nỗi hoang mang của các tín đồ về cuộc chia loan rẽ thúy “Chúng tôi sẽ vẫn là cộng sự của nhau như trước giờ. Trong phương diện chuyên môn, chúng tôi vẫn là một nửa kia hoàn hảo của nhau, tương tác tuyệt vời và thông hiểu nhau thấu đáo nhất. Điều đã từng xảy ra trong quá khứ, sẽ được giữ nguyên như vậy, và sẽ mãi là như vậy. Chúng tôi có cùng một mối tình mãnh liệt, dù đó không còn là mối tình giành cho nhau.”

Họ chuyển đến ở tại hai căn hộ khác nhau trong cùng một tòa nhà tại Milan. Thương hiệu mang tên hai người giờ đây đã trị giá 350 triệu bảng với một danh mục thân chủ gồm cả Monica Bellucci, Beyonce, Kylie Minogue và cả bà Vic kiểu cách sành điệu. Dù cả hai đều đã có cho mình những mối quan hệ riêng, họ cùng cam kết không để mối ghen tuông của những người tình đến sau can thiệp và làm thương tổn đến sự nghiệp chung. Domenico cho biết: “Đây chỉ là vấn đề của việc ‘giáo dục cảm xúc’ sao cho khéo léo. Đương nhiên, nói thì dễ hơn rất nhiều. Dẫu sao chúng tôi cũng đã sống cùng nhau 19 năm, với sự đam mê nằm trong tất cả, từ thân thể xác thịt, cho đến tình yêu thật sự nằm sâu bên trong.”

Trong khi đó, Stefano xác tín rằng bất cứ người tình nào về sau của ông cũng phải chấp nhận và thuận thảo với mối quan hệ khắng khít của ông với Domenico: “Tôi luôn thẳng thắn và rõ ràng về việc này. Tôi có một mối ràng buộc khắng khít với Domenico. Chúng tôi từng ở bên nhau suốt ngày, thế rồi về đêm, chẳng mấy khi còn nhìn thấy nhau.”

Đứa con của Stefano Gabbana

Có vẻ như Stefano đã bị tác động mạnh mẽ bởi sự chia tay này có phần hơn hẳn Domenico. Chỉ không lâu sau khi chia tay, giới thạo tin đã kịp lan truyền ao ước của ông về…một đứa con.

Đây cũng là khi mà nước Ý đang chao đảo khi một bộ luật mới đang được đệ trình lên chính phủ, yêu cầu dành cho các cặp đôi không kết hôn, gồm cả những cặp đồng tính, các quyền lợi hợp pháp như những cặp đã kết hôn. Người đàn ông Một-Nửa-Quyền-Lực của thời trang thế giới thừa nhận: “Tôi thèm có một đứa con vô cùng, một giọt máu thật sự của tôi chứ không phải là một đứa con nuôi bất kì. Tôi không nhẫn tâm nhưng cũng không đủ mạnh mẽ. Tôi đơn thuần là muốn có cho mình một giọt máu thành hình, một thứ quả ngọt đâm nảy từ hạt mầm của chính tôi. Đương nhiên là tôi chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo vì chuyện tôi làm tình với một người mà tôi không yêu.”

Hẳn nhiên, cả thế giới biết Stefano yêu phụ nữ. Ông tôn vinh cơ thể họ và làm ra cho họ những bộ váy trác tuyệt, chứ không phải để làm tình cùng họ.

“Hiện thời tôi đang rất yêu một người, nên tôi mong tìm được một người phụ nữ thích hợp để cậy nhờ. Một tuần trước, tôi hỏi nhờ một người bạn thân, cô ấy nhỏ hơn tôi 12 tuổi. Cô bạn nọ đã hết hồn cho đến tận ngày hôm sau, khi cô ta gọi lại cho tôi, cô ấy vẫn chưa hết shock nhưng cũng nghĩ rằng đó là một ý hay.”

Gabbana không cho biết thêm liệu đó phải chăng đã là một lời đồng ý: “Tôi vẫn luôn tin rằng trẻ con cần được sinh hạ và giáo dưỡng bởi đàn ông và đàn bà, chứ không phải bởi các cặp tình nhân đồng tính. Bản thân tôi, tôi không tưởng tượng được quãng đời thơ ấu của mình mà không có mẹ. Và tôi cũng cho rằng việc tách đứa trẻ ra khỏi người mẹ là một hành động vô nhân.”

Ông cũng nói thêm rằng thời kỳ khủng khiếp nhất cuộc đời ông đã là khi chia tay với Dolce sau hơn 20 năm bên nhau: “Đó đã là một cú shock dữ dội. Tôi ngỡ ngàng khi thấy anh ấy thản nhiên vượt qua nỗi đau chia tay, thản nhiên như bất cứ cặp đồng tính hay dị tính nào mà tôi biết. Chúng tôi vẫn ở bên nhau, một phần bởi đã cùng có với nhau một mối tình tuyệt đẹp. Giờ đây tôi đã ở bên một người khác, nhưng Domenico sẽ mãi đặc biệt và quan trọng nhất trong đời.”

“Chúng tôi đã khéo léo duy trì mối quan hệ công việc và tình bạn, chứ không để cuộc chia tay biến thành sự tan rã của thương hiệu. Điều đó đã không hề dễ dàng cho cả hai, nhưng chúng tôi đã thành công.”

Ngay vào thời điểm những tâm sự này của Stefano Gabbana được công bố, cũng là lúc tòa thánh Vatican phản ứng gay gắt dự luật bình đẳng cho các cặp đồng tính và dị tính không kết hôn trước Chúa. Trên trang nhất tờ báo ngôn luận chính thức của Vatican là L’Osservatore Romano là hàng tít “Giáng sinh 2006: Tiễu trừ giá trị gia đình là tôn chỉ của luật pháp Ý.”

Cuối cùng thì “Romeo và Romeo” đương đại cũng không nằm ngoài quy luật khắc nghiệt dành cho những kẻ không may hòa lẫn ái tình và sự nghiệp. Nhưng liệu Stefano có vượt qua được đạo luật của tòa thánh và một lí lẽ tưởng như hiển nhiên rằng người đàn ông đồng tính không có quyền làm cha?

“The show must go on!”

Ở Milan, thời trang còn là công nghệ biểu diễn, và mỗi show diễn mang tính sống còn đến quyết liệt đối với từng hãng thời trang. Đó là kinh doanh, lợi nhuận, và danh dự đối với mỗi nhà thiết kế, thậm chí với cả những khách mời danh giá của những hàng ghế đầu.

Ở Milan, không có gì có thể làm hoãn hay gián đoạn một buổi diễn, dù có trùng ngay vào những đêm trao giải Oscar thu hút sự chú ý của cả thế giới, hay một vụ kiện trốn thuế quy mô lớn mà bị cáo là cặp đôi quyền lực Dolce – Gabbana.

Buổi trình diễn bộ sưu tập mới của Dolce&Gabbana vừa qua đã không may diễn ra vào đúng đêm sự kiện trao giải Oscar. Tất nhiên là khó lòng có mặt một minh tinh sáng giá hay nhân vật Hollywood thượng lưu nào trong khán phòng, mà đa phần là những nhân vật nội giới làng thời trang không mặn mà lắm với đại lễ ciné. Mọi ống kính của truyền thông thế giới đổ dồn về Los Angeles, và tuần lễ thời trang Milan bị bỏ rơi ra bên ngoài sức hút khổng lồ của thảm đỏ Oscar.

Điều đó kích hoạt thói lắm chiêu và hãnh tiến của giới thời trang Ý trong cuộc chiến không khoan nhượng giữa thảm đỏ Oscar và runway Ý, mà hung hãn hàng đầu là cặp song hổ Dolce-Gabbana. Ngay trong khi các cục cưng màn bạc của họ đang hãnh diện lượt là trong các bộ váy haute couture mang chữ ký Dolce&Gabbana, thì tại Milan, hai nhà thiết kế tiêu khiển cho khán phòng của mình bằng cả hệ thống Wi-Fi, cho phép đăng công khai mọi lời nhận xét về show diễn lẫn các bàn tán ngoài lề trực tiếp lên màn hình khổng lồ phía trên catwalk. Các câu comment từ những tín đồ theo dõi buổi diễn trực tiếp online, được post trực tiếp bằng smart phone và Blackberry, hiện lên màn hình ngay giữa buổi diễn, như một đại hội buôn chuyện của tín đồ thời trang thế giới đến tận hàng front-row danh giá của tuần lễ thời trang Milan. Dolce và Gabbana tâm đắc cho rằng thủ thuật này sẽ cộng hưởng cho công nghệ trình diễn thời trang thêm một yếu tố mang tính giải trí tương tác và một sắc diện “dân chủ” cho quyền lực thời trang thượng tầng.

Những comment từ vô thưởng vô phạt đến tán thưởng sâu sắc, hoặc châm chích khôi hài, từ “cám ơn những ly vang đỏ!” từ một khách mời hàng ghế thứ tư, cho đến “Trời ơi, thứ này bao giờ mới có ngoài tiệm vậy?” của một fashionista ở tận Đài Bắc được hiển thị trên background, xen lẫn với những hình ảnh truyền trực tiếp từ hậu đài, với huyền thoại Stefano Gabbana, mục kỉnh trượt trên mũi, tay vung vẩy ống keo, phủi sạch từng xơ vải trên các mẫu sắp được tung lên catwalk, mồm vẫn nhai gum tóp tép, hay cảnh các chân dài lênh khênh nháo nhào sấp ngửa ngay sau màn nhung. Không khí loạn lạc của hậu đài ấy, vốn được coi là một “thế giới ngầm” của hào quang thời trang xa xỉ, cũng được chia sẻ với các tín đồ trong khán phòng và trên toàn thế giới, như một cuộc xuống đường của thực tế thời trang.

Mặc nhiên với tính giải trí công nghệ cao của những cái đầu Ý, thuộc tính thời trang của show diễn vẫn là điều tối trọng. Bộ sưu tập mang cái tên gợi cảm một cách huỵch toẹt Sensuality: Masculine-Feminine. Các người mẫu được phủ lên toàn thân một lớp đăng-ten đen, những kiểu váy bó sát rạt bằng thun jersey, giày cao gót, những mảng miếng đong đưa à ơi trải dài catwalk. Điều khiến Sensuality: Masculine-Feminine gai góc và khác biệt chính là cuộc tập kích ồ ạt của những kiểu quần dài nam tính, sơ-mi trắng, và những làn môi cong tớn, tặng kèm cú đá lông nheo điệu nghệ bên dưới vành mũ đàn ông. Tất cả đặc sệt một màu sắc dục tình lưỡng tính. Mặt khác, cài cắm yếu tố thương mại thực dụng một cách tài tình, nét nam tính và yếu tố tinh xảo của kỹ thuật cắt form khiến những thiết kế này thân thiện với cả các diva công sở, và chỉ cần thêm một hàng nút buông lơi trên chiếc sơ-mi “trinh bạch”, sẽ thừa độ nóng cho những cuộc tán tỉnh nóng hổi dưới ánh đèn nightclub. Một cuộc tấn công không khoan nhượng vào quỹ mua sắm của mọi tín đồ nhạy mốt nhất trên khắp hành tinh.

Bộ sưu tập lần này của Dolce&Gabbana còn là cú lăng-xê các họa tiết hình ngôi sao to tướng. Màn hình sáng rực những comment tung hô “Tinh thần retro-70s bất diệt! Cool quá thể!”, hứa hẹn sẽ tạo sốt và hoành hành trường phái đường phố cao cấp đương thịnh của thị trường thời trang thế giới.

Tuy không có một động thái kiểm duyệt comment nào từ phía bộ đôi quyền lực, nhưng trên màn hình tuyệt nhiên không thấy có một lời bàn ra tán vào nào về tình hình vụ kiện trốn thuế với con số lên đến 416 triệu bảng đang nhằm vào Dolce và Gabbana, mà cặp đôi vương giả đang chối đây đẩy và cực lực kêu oan.

10 ngày trước đó, các luật sư phía Dolce và Gabbana một lần nữa đã thuyết phục thành công việc trì hoàn phiên tòa sơ thẩm thêm một tháng trước khi Dolce và Gabbana thật sự trở thành tâm điểm của mọi chiều chiếu rọi của dư luận, truyền thông và pháp luật.

Với tốc độ vững chắc nhưng chậm chạp của toàn cảnh công nghệ thời trang Ý, dù vừa ăn mừng 25 năm chính thức khai trương thương hiệu, Dolce và Gabbana vẫn được xếp vào hàng “thế hệ mới” của tuần lễ thời trang Milan giữa các tên tuổi thế lực như nhà Gucci tròn 90 tuổi, Fendi 86, và Salvatore Ferragamo 83. Với con số 25 tròn đầy thịnh vượng, bộ đôi Dolce và Gabbana vẫn đang là cặp hổ tướng đầu trò mọi cuộc cách mạng thẩm mỹ ngoạn mục cho mỗi mùa thời trang, và hà hơi vào đó những luồng sinh khí trẻ của tính đường phố đặc chuẩn Ý, nhưng dành cho thị hiếu tín đồ toàn cầu.

Trước tuần lễ thời trang Milan, cả hai cùng đứng ra tổ chức sự kiện vinh danh các tài năng thiết kế trẻ, được hào phóng tôn vinh bằng các bộ sưu tập phụ trang phụ kiện của Dolce&Gabbana tại một tiệm flagship của họ tại Milan.

Cũng như nhà Burberry của Anh quốc, Dolce và Gabbana đang tiên phong trong trào lưu phối hợp thế lực internet và các mạng xã hội để phát triển và quảng bá thương hiệu theo hướng dân chủ, như một chiến lược dân chủ điệu nghệ của các tay couturier thức thời. Ngoài mảng miếng tương tác online trong show diễn vừa qua, Stefano Gabbana còn là một Tweeter nặng nghiệp, đang tạo cả một cơn sốt follower hừng hực trên cộng đồng này hướng về những thuộc tính Italy đầy kiêu hãnh mà ông không ngừng ủy lạo: thú tắm nắng, những bãi biển, âm nhạc, các biểu tượng emoticon ngộ nghĩnh, và, đương nhiên, cả những bức ảnh đầy thi vị thời trang của chính mình với các người mẫu và celebrity.

Ngay sau buổi diễn, tất thảy các fashion blogger khét tiếng ở khắp nơi trên thế giới được mời đến các cửa hiệu của Dolce&Gabbana, nơi họ đích thân sử dụng các thiết kế có trong cửa tiệm và tái thiết lại cửa kính trưng bày theo phong cách riêng của mỗi người. Cú PR thông minh đầy tính cách mạng này đã khiến mạng lưới tông đồ – tín đồ của Dolce&Gabbana tăng lên theo cấp số nhân, và bằng tốc độ của một cú click.

Chit chat với Dolce & Gabbana

Người ta có thể có một anh bạn gay thân thiết để chơi trò best-friend-forever và vừa đắp mặt nạ dưỡng da vừa buôn chuyện với nhau. Nhưng một dịp chit chat với cùng một lúc một cặp đồng tính huyền thoại và quyền lực như Dolce và Gabbana, không phải fashionista nào cũng dám mơ đến.

Hãy nghe họ tâm sự về những điều nhỏ nhặt nhất, và cả những nuối tiếc còn vương vất sau cuộc tình đã thành huyền thoại của làng thời trang.

Stefano Gabbana:

Chúng tôi hầu như không có với nhau một bức ảnh chụp chung mang tính riêng tư nào, đơn giản là cũng trong ngần ấy năm, chúng tôi không còn có dịp để đi nghỉ ở đâu cùng nhau nữa. 10 năm đầu của mối quan hệ là bởi điều đó quá xa xỉ cho cả hai người, và sau 10 năm, chúng tôi không còn lí do gì để đi chơi cùng nhau nữa cả. Những bức ảnh hiếm hoi chụp chung của chúng tôi là cho những bài phỏng vấn trên các tạp chí. Trong một tấm, tôi chợt nhận ra mình chẳng thay đổi chi mấy, cũng vẫn sơ-mi trắng và jeans, đeo một lèo hai chiếc đồng hồ, một cái Cartier, cái Rolex là của Domenico tặng.

Cả đời, tôi đeo cà-vạt đen được đúng 3 lần. Thậm chí tôi không biết cách tự thắt nút cà-vạt. Một lần, tại buổi ra mắt một vở opera, Domenico đến sau để tìm thấy tôi đứng ẩn mình vào một góc, đang rối rít vẫy ‘Nhanh lên, làm ơn thắt giùm tôi cái cà-vạt!’ Bằng không, tôi thà mặc tuxedo với quần jeans và đeo một cây thánh giá. Nhưng dạo này, tôi bắt đầu đeo thánh giá lên chiếc quần lọt khe bằng da, không hẳn là món bling-bling phô trương, hơi hippy một chút, dù tôi cũng chẳng phải là dân hippy. Cây thánh giá này là quà của nhân tình hiện nay của tôi. Bạn bè thường than vãn rằng rất khó chọn mua quà cho tôi, nhưng thực tình không phải vậy. Tôi đương nhiên là không lấy giá trị của món quà làm trọng, tôi cũng không cần một bức vẽ của Julian Schnabel. Tôi không làm bộ làm eo, tất nhiên là tôi sẽ rất thích nếu có được bức họa đó, nhưng điều làm tôi đê mê sung sướng nhất là những món quà nho nhỏ, những thông điệp ngọt ngào từ người tình.

Tôi thích jeans bó sát, nhưng ngần này tuổi rồi, tôi không muốn mình trông lố lăng như hề lạc thời. Quần thụng thì không phải thứ tôi ưa, nhưng chỉ cần vừa vặn và thoải mái, và với tôi, thoải mái có nghĩa là không nhất thiết phải rất, rất, rất bó. Thế là tôi vào tiệm của mình mà mua quần, được giảm giá những 50%.

Chất denim luôn nằm trong những nỗi ám ảnh ký ức của tôi. Tôi nhớ mình mặc quần Levi’s hồi năm 12 tuổi. Hồi đó, bọn trẻ choai choai ở Milan phát sốt vì nhà Fiorucci nhưng hồi đó cỡ tôi làm gì mua nổi thứ đó. Tôi có cả một bộ sưu tập những chiếc túi mua hàng của Fiorucci, mẹ tôi vẫn giữ cùng với mấy cái hình dán stickers thuở nhỏ. Bây giờ thì tôi mời đích thân Elio Fiorucci đến các buổi diễn của chúng tôi. Ông ấy quả tình xứng mặt tiền nhân.

Khi tôi gặp Domenico, anh chàng là một nạn nhân thời trang thật sự. Tôi mua đồ ở mấy tiệm second-hand và bị mắng là đồ ngu. Mẹ tôi cũng điên tiết vì sở thích này của tôi: ‘Xem này, quần thủng đít! Con ăn mặc như đồ du thủ du thực vậy! Ngó vô kiếng đi!’, còn tôi thì cứ khăng khăng ưa thích mấy cái quần second-hand của mình. Mẹ tôi vẫn là một tín đồ thời trang tuẫn tiết. Bà xưa kia làm nghề giặt ủi, nhưng tôi vẫn nhớ hình ảnh bà chưng diện trong bộ suit đỏ thắm, với chiếc áo jacket mini, quần loe, bộ tóc giả (khi đó đang là mốt tóc giả) to phồng chải chuốt. Và với lệ bộ như thế, bà dẫn tôi đi mua sắm. Bây giờ thì tôi là người chăm sóc cho cả gia đình, như một cách tri ân, đối với cả gia đình Domenico nữa. Không có họ, sẽ không có một Stefano Gabbana của thế giới thời trang.

Khi tôi và Domenico chia tay, nỗi buồn có thể lắng lại trong tim trong óc, nhưng tuyệt đối không vương mảy may lên những bộ cánh nhà Dolce&Gabbana. Tôi không phủ nhận mình mê tiền và lối sống xa xỉ mà nó mang lại. Đáng tiếc, tôi có một tòa thự tuyệt đẹp ở Portofino, nhưng mỗi khi tôi buồn, quay về nơi đấy, tôi cũng chả hề thấy hạnh phúc hơn tẹo nào. Tôi có một chiếc du thuyền, nó cũng không có công dụng biến nỗi buồn thành niềm vui. Tôi du lịch tứ phương trong chiếc chuyên cơ riêng, khi tôi lên máy bay hay khi bước ra khỏi đó, tâm trạng của tôi cũng chẳng có gì thay đổi. Tôi không chỉ là một nhà thiết kế thời trang, tôi còn là một con người.

Tôi không bao giờ mang chuyện giới tính hay tình dục ra mà bàn thảo với gia đình. Sau khi tôi 18 tuổi, họ biết, chỉ như thế. Tôi chỉ bắt đầu thật sự nói về chuyện đó với họ năm 32 tuổi, như một sự giải thoát. Ý tôi là về tình ái, chứ không phải tình dục. Trước đây, khi còn trẻ, tôi sợ nói về những điều này, dù biết rằng mình khác biệt từ khi 5 hay 6 tuổi gì đó. Nhưng tôi sợ rằng nếu nói với mẹ tôi, rất có thể bà sẽ không còn yêu thương tôi nữa.

Người yêu của tôi bây giờ hoàn toàn không muốn dính dáng gì đến Dolce&Gabbana, và tôi hài lòng vì điều đó. Dù trong bất cứ trường hợp nào, chuyện tình giữa tôi và Domenico vẫn chưa bao giờ thật sự kết thúc, có nhiều cách để yêu thương, và là những người tri kỷ, là một cách.”

Domenico Dolce:

Hồi đầu, bọn tôi bị chê là lũ lôi thôi nhếch nhác. Khi đến London lần đầu tiên, chúng tôi đã bị choáng ngợp hoàn toàn bởi sự ưu ái hào phóng. Ở đó, người ta cứ tưởng chúng tôi là những thành viên của một boyband nào đó. Từ hồi đó đến giờ, phong cách cả hai hầu như vẫn vậy, dù trước đó tôi đã từng mê mệt Montona, Versace và Armani. Hồi tuổi teen, tôi ưa mốt quần nhung sọc và áo cũng sọc, hầu hết của nhà Clarks.

Bây giờ thì hầu như tôi luôn mặc T-shirt khi vui. Sinh ra trong một gia đình truyền thống nghề may, cả tuổi thơ tôi lớn lên giữa những câu chuyện về thời trang, hay nói một cách khác, tất cả mọi thứ trong cuộc đời tôi đều xoay quanh thời trang. Vậy mà đến tận bây giờ, phong cách trang phục của tôi vẫn không thay đổi là mấy, có chăng là khác biệt về độ dày mỏng của chất liệu – cashmere cho mùa đông, và cotton cho mùa hè. Và cả quần jeans nữa.

Đối với tôi, một trong những điều tuyệt vời nhất là ngắm nhìn người khác, những người bình thường, mặc những thiết kế của mình. Cũng có những lúc tôi nhìn thấy một ai đó mặc đồ D&G và thoáng nghĩ trong đầu “Ôi trời, không!”, nhưng bạn chẳng thể chặn thiên hạ giữa đường mà bắt người ta về nhà thay đồ.

Tôi có món đồ “hên” nào không? Có, nhưng đó là bí mật. Tôi có từng phạm sai lầm trong thời trang? Có, nhưng tôi không nói đâu. Tôi không thích mặc thứ gì nhất? Tôi có gout riêng, nhưng tôi không bao giờ nói không bao giờ.

Tin giờ chót: “Hân hoan” báo tử D&G!

Cho đến mùa tuần lễ thời trang Milan vừa qua, thương hiệu song hiệp hùng mạnh vẫn ngạo nghễ với sự tồn tại an nhiên qua bao mùa đại loạn của kinh tế thế giới trong suốt 26 năm tồn tại. Con dân phố Wall có thể  nhảy từ tầng cao building xuống và trái đất có thể đang nóng lên, nhưng Dolce và Gabbana vẫn là “Kings of Blings”, mỗi mùa rải khắp địa cầu những món thời trang để khích lệ những mùa săn ráo riết nhất.

Một số nhà phân tích cho rằng sự phối hợp song toàn giữa dòng thời trang xa xỉ Dolce&Gabbana, dòng thời trang thân thiện D&G và dòng phụ trang – mỹ phẩm đã cho họ một thế kiềng 3 chân kinh điển vững mạnh để duy trì thế đứng, ngay cả khi các thế lực thời trang hàng đầu đang liên tiếp ngả nghiêng chao đảo, đặc biệt các đế chế haute couture.

Thế nên, quyết định xóa sổ dòng D&G – vốn luôn được mặc nhận là tinh thần nữ tính và được báo giới nhắc đến như một nữ nhân. “Nàng út” D&G sẽ được sáp nhập cùng với cô chị xa xỉ Dolce&Gabbana của song hiệp khiến cộng đồng tín đồ thời trang hoang mang. Phải chăng ngay cả các thành trì vững chắc nhất cũng đang co mình lại cho vừa vặn chiếc chăn quá chật của toàn cảnh thị trường thời trang thế giới?

Tuần lễ thời trang Milan vừa qua, bộ sưu tập D&G cuối cùng đã thượng sàn catwalk. Một cuộc diễu hành thật sự của sự trẻ trung và lộng lẫy. Từ backdrop trải dài lên catwalk là một tấm khăn lụa kẻ ô sáng chói, dẫm đạp lẫy lừng phía trên là những cặp trường túc hào hứng nện gót, những cô dâu diêm dúa đủ màu cuồng nhiệt theo giai điệu các bản remix đầy thái độ của Prince và James Brown. Vẫn là những gì người ta biết về D&G – với thẩm mỹ của một gái hot và tài khoản của một CEO.

Nhưng ngay vào khoảnh khắc cặp đại song hùng bước ra cúi đầu chào, khi mà khán phòng hả hê đổ tràn ra hứng ánh mặt trời hào phóng của Milan, các hộp thư điện tử của họ đã kịp nhận thông cáo đóng cửa nhãn hàng D&G. Và chỉ cho đến khi đó, tức là vài giờ sau show diễn vui nhộn cuối cùng, người ta mới ý thức được rằng đã vĩnh viễn không còn tồn tại một D&G trên bản đồ thời trang thế giới. Hai người đàn ông Ý đã quá kiêu hãnh để chấp nhận một cuộc giãy chết hình thức mà gần đây người ta đã chứng kiến quá nhiều. Cánh hồng rải tung trong không trung, các soundtrack nhạc kịch cổ điển bi tráng, những giọt lệ lịch thiệp chừng mực từ hàng ghế đầu,… tất cả đều bị từ chối. D&G ngã xuống, cười toe.

Họ đã chọn cách thông báo tin này đến nội giới thời trang như một tin vui, hơn là một lá thư giã từ hay tuyên bố phá sản: “Chúng tôi xin được hân hoan báo tin cùng quí bà, quí ông, rằng từ các mùa thời trang kế tiếp, D&G sẽ trở thành một phần của Dolce&Gabbana, mang lại một sinh lực mới cho các bộ sưu tập về sau của chúng tôi.”

Đây là một động thái hưởng ứng khá kì cục đối với lời kêu gọi của Mario Boselli, chủ tịch Viện Thời trang Ý đối với các nhà thiết kế hiện đang dành nhau từng suất diễn quý báu để có mặt trong lịch trình của tuần lễ thời trang Milan “Đây chính là cơ hội để tự vệ trước khủng hoảng, hãy hợp nhất!”

Trên thực tế, các tay buôn tin hành lang đã kháo nhau về quyết định này của nhà Dolce Gabbana. Nhưng phần lớn sự đồ đoán đều cho rằng nếu có một phần nào của quyền lực song hiệp bị thu gọn, đó sẽ là dòng xa xỉ Dolce&Gabbana, theo gương “cần kiệm” của những thế lực haute couture đàn anh đang phải nhẫn nhịn “dân chủ hóa” tính công phu và tag giá kiêu kì vốn có của mình. Để đáp trả, Dolce và Gabbana đưa ra quyết định cuối cùng cho dòng hàng vốn xưa nay mang lại một nguồn niên lợi khổng lồ cho thế lực của họ, đặc biệt tại thị trường châu Á là D&G. Họ muốn một lần nữa ngạo nghễ chứng tỏ quyền lực của lòng kiêu hãnh haute couture, có thể tùng quyền thỏa hiệp, nhưng bất bại và trường tồn.

Đây còn là một đòn chơi khăm oái oăm nhất lên đầu hội xì thẩu chuyên hàng D&G nhái tại Trung Quốc với một sản lượng không hề nhỏ các sản phẩm mang nhãn D&G, từ T-shirt, jeans đến các hàng phụ trang. Điều này cũng đồng thời là một tin đáng hân hoan cho các fashionista ranh mãnh, khi mà từ nay, các dòng thời trang thân thiện sẽ kiêu hãnh mang tên Dolce&Gabbana với một cú nhún mình lịch thiệp đẹp mắt của thế lực xa xỉ đến với thị trường thời trang đại chúng.

Tuyết Lan: cuộc thi chỉ mới bắt đầu!

Đang cựa mình ngoạn mục thoát khỏi cái vỏ trứng vỡ vạc của Việt Nam Next Top Model, Tuyết Lan đã kịp có thêm trong portfolio của mình một cuộc thử lửa với cuộc tìm kiếm khuôn mặt người mẫu Elite. Cô gái trẻ đang say sưa với những bước sải thật sự đầu tiên, với một diện mạo xứng đáng đại diện cho một chương hứa hẹn mới của thế hệ công nghệ biểu diễn thời trang phi-nghệ-sĩ, khi mà ngoài kia, nền công nghệ thời trang cũng đang cựa mình cố thoát khỏi cái vỏ “nghệ thuật giải trí” đã không còn hợp thời.

Cô không hứa hẹn một lời tuyên bố giàu TNT, hay một số đo đủ để nổ tung một trang bìa tạp chí dành cho nam giới.

Không, đây hẳn không phải là một diva nổi loạn để làm mồi cho cuộc khen chê của đại đồng công chúng.

Nhưng đây có thật sự là một “gái ngoan” làng thời trang?

Mắc áo thông minh và mắc áo có quá nhiều thái độ

“Hư” thì rõ ràng không phải, vì cái “tội” lớn nhất cô từng phạm phải là đi liên hoan với lớp đến tận sau nửa đêm. Nhưng có lẽ những ai nghĩ Tuyết Lan “ngoan” thì sẽ sớm hiểu rằng cô gái này không bước chân vào nghề thời trang để nhận những cái xoa đầu, và cô gái trẻ này cũng không phải dễ dàng để bẹo má.

Vì một lí do nào đó, người mẫu tại Việt Nam được, hay bị, coi là nghệ sĩ. Họ cũng phải hành xử như người-của-công-chúng-bị-mất-quyền-công-dân. Nhưng kì thực, xét về bản chất chuyên môn, chúng tôi không phải là những nghệ sĩ giải trí để rao bán hình ảnh cá nhân và câu chuyện cuộc đời. Cũng như mọi vị trí công việc trong một ê-kíp thời trang, người mẫu nên là một người chuyên nghiệp và ắt nhiên, không nên có quá nhiều ý kiến. Người mẫu không chỉ là những cái mắc áo, đương nhiên, vì chúng tôi là những cái mắc áo đẹp mắt, thông minh và chuyên nghiệp, và sẽ rất phiền với một cái mắc áo có quá nhiều quan điểm lẫn thái độ. Màu sắc cá tính của một người mẫu nên là ngôn ngữ không lời thể hiện trước ống kính camera. Thế giới hậu đài của các cô gái trẻ, đẹp, đầy tham vọng và có cả gót cao lẫn móng tay nhọn, đã quá đủ chất “thái độ” rồi. Tôi chỉ muốn làm công việc của mình thật tốt. Và mọi chuyện đều ổn cho đến giờ, những cuộc thi và những bộ ảnh, đó là tất cả những gì tôi đã dốc lòng ‘bón mớm’ cho công chúng, một cách hết mình và sòng phẳng, không hơn không kém.

Tôi đến từ một gia đình, và tôi bất bại!

Như bao cô gái dư thừa chiều dọc khác, Tuyết Lan cũng từng mặc cảm về chiều cao của mình. Cô thường thắc mắc vì sao mình…cao quá, cao hơn cả chị mình. Cô cảm giác mình bị “thừa” cơ thể và không biết làm gì với ngần ấy diện tích thừa thãi. Thậm chí đã có lúc cô nhỏ ước gì có thể…cưa chân cho thấp bằng chúng bạn. Nhưng cảm giác đó qua đi mau chóng khi vào những năm cấp 3, với ao ước phổ biến nhất của đám bạn đồng trang lứa là chiều cao, cô biết rằng mình may mắn, đặc biệt vì đã không tự cưa chân.

Tất cả mọi chuyện đều đổi thay từ đấy, kể cả mơ ước trở thành cô giáo. Và có lẽ cũng từ đấy, tiền đồ phía trước mất dần màu sắc bằng an và bình dị như đã được định sẵn. Nó đa sắc hơn, tối nghĩa hoặc hay ho hơn, nhưng trên hết, ẩn chứa đầy sự bất an đến thú vị. Đường runway không bằng phẳng như nó có vẻ, và đặc biệt trong suy nghĩ của các bậc phụ huynh, nó gập ghềnh vô lường.

Nhưng cô nhỏ liều mạng, như bao kẻ trẻ trung và liều mạng khác, bị hút vào đường catwalk phiêu lưu ấy, bắt đầu với VNTM:

Tôi vốn là đứa nhóc có thể khóc ngằn ngặt đinh tai nhức óc hàng xóm khi bị mẹ bỏ ở nhà một mình, hẳn nhiên, việc chứng kiến quá trình thử thách, lột xác và trưởng thành của tôi qua sóng truyền hình là cả một giai đoạn “cách mạng định kiến” với mẹ tôi. Nếu như tôi bắt đầu sự nghiệp bằng một cách thông thường nào khác, ắt mẹ tôi đã chẳng thể tận mắt chứng kiến được những thử thách phía sau cánh gà.

Giờ đây, một khi đã thật sự nhập cuộc, tôi làm tất cả mọi thứ để bảo đảm xác suất “lành lặn” cao nhất cho bản thân. Một vài cú trượt chân hay xây xước, đối với mình có thể là không đáng kể, nhưng tôi có một người mẹ sau lưng mình, và khi tự chịu trách nhiệm cho bản thân, tôi còn chịu trách nhiệm luôn cho sự an vui của mẹ. Một cú sảy chân đối với bản thân tôi có thể chỉ có giá trị ngang một cục u giữa trán, nhưng với đấng sinh thành, tôi thậm chí không thể mường tượng được nỗi đau. Cuộc chơi  này là của tôi, và khi mẹ tôi còn dõi theo sau lưng, trong các xác suất mà tôi chọn không có hình ảnh mọt bại binh thất thểu!

Thử thách đầu tiên: Những Kẻ Khiếm Nhã

Trước khi đến với VNTM, kinh nghiệm trình diễn duy nhất mà Tuyết Lan có được cho mình là những bước chân lập cập trên đôi gót chỉ cao 5 phân của chương trình Thời trang và Cuộc sống

“Tôi biết mình cần một bàn đỡ, một thứ bàn đỡ có “lò xo” – đủ sức bật không phải để đưa tôi đến đích, mà là đến xuất phát điểm có lợi thế nhất.

Khi chỉ còn có tôi và Huyền Trang cùng đứng bên nhau chờ kết quả, khi ấy trong tôi chỉ có một suy nghĩ: “Cuộc thi sắp…bắt đầu!” Mà cũng đúng như vậy thật, dù đó là tôi hay Huyền Trang, chúng tôi cũng chỉ là hai cô gái đứng chờ sẵn ở vạch xuất phát. Vị trí thứ hạng có chăng sẽ cho mỗi người một điểm đứng ít nhiều lợi thế hơn mà thôi. Kết thúc Việt Nam Next Top Model, đối với tôi, chính là khi cuộc chơi thật sự bắt đầu”

Và “cuộc thi” khốc liệt ấy đã bắt đầu với những thử thách quái ác bất ngờ nhất, hầu như ,không mấy liên quan đến kỹ năng catwalk.

“Ngay từ những ngày đầu xuất hiện trong VNTM, việc lần đầu tiên ý thức được những người không quen đang “nhận ra” mình trên phố, tôi đã học cách nói khẽ hơn, tiết chế cả đến nụ cười, nhưng tôi khoan khoái và thụ hưởng điều đó. Nhưng ngay sau đêm trao giải, những tin nhắn khiếm nhã hơn rất nhiều đã bắt đầu hạ cánh xuống hộp thư điện thoại. Pha trộn trong tất cả cảm xúc, phải thừa nhận rằng cú “chào sân” này đã khiến tôi hành xử như một đứa con nít bị bắt nạt thật sự: ‘Tại sao họ lại lỗ mãng với mình vậy? Quyết định đi theo nghề người mẫu và chỉ số chiều cao của tôi đã cho họ một cơ sở để đánh giá nhân cách tôi vậy sao?’ Dằn vặt ghê lắm, và rồi cũng phải cho qua một cách bình thản hơn – cuộc chơi đang thật sự bắt đầu. Vào cuối ngày nhìn lại thì chẳng có gì là cá nhân ở đây cả. Họ không phải là người thân của tôi, ơn Trời, và tôi cũng không hề là bạn bè của họ. Họ đã hành xử đúng theo một tập quán hành vi riêng của họ, và tôi cũng sẽ làm đúng như vậy, theo cách riêng của mình. Rồi từ từ thì các bên cũng sẽ hiểu nhau thôi. Cuộc chơi này là của tôi, và tôi định là trong cuộc chơi ấy, họ không phải là những người làm luật. Tôi biết rằng họ làm vậy không vì họ đánh giá tôi thấp, chỉ là vấn đề lối sống. Có lẽ thế! Còn ngoài ra, tôi hoàn toàn an ổn với tình trạng nổi tiếng này. Ít nhất là khi nhận một lời khen rằng tôi đẹp, tôi sẽ không nghĩ rằng họ nói quá!

Đó không chỉ là những hệ lụy, bởi rất có thể đó là những món bonus của công việc nổi-tiếng-chuyên-nghiệp lắm chứ? Các mối quan hệ thú vị, hoặc thậm chí một cuộc tình chẳng hạn?

Tình yêu không nên, và chưa bao giờ nên là một bonus của nghề nghiệp. Của nhan sắc thì được. Bản thân một cô gái đẹp sẽ biết cách từ xoay sở cho mình những “lợi ích cộng thêm” ấy, nhưng nếu quá liều cũng chưa chắc là điều hay. Như thuốc bổ, hay nữ trang vậy. Càng nhiều càng khó biết đâu là món thật sự giá trị và đáng quý, tôi nghĩ là vậy.

Hãy để nước mắt chuyển hóa thành mồ hôi

Say máu chiến và được đào luyện bằng kinh nghiệm thực chiến trong cuộc đua trên đường runway trong và ngoài nước, có vẻ như người ta cũng sẽ chẳng ngạc nhiên nếu một ngày cô làm thí sinh trong một cuộc thi sắc đẹp.

“Á, không, trước khi bắt đầu một cuộc thử sức, tôi đã nhận chân sở trường lẫn sở đoản bản thân. Rõ ràng là với nụ cười kéo từ mang tai bên này đến tai bên kia, tôi không phải là nhan sắc mẫu mực cho một hoa khôi hay hoa hậu. Đương nhiên là tôi có khả năng diễn thuần thục với áo dài hay chụp beauty, nhưng một cuộc thi sắc đẹp thì không. Hơn nữa, cá nhân tôi rất cảm phục các hoa hậu giữ được danh hiệu và hào quang trong suốt nhiệm kỳ sở hữu vương miện. Đó là cả một áp lực về hoạt động xã hội mà tôi không cho rằng cá nhân mình có thể đáp ứng được. Dẫu sao thì một chuyến đi từ thiện nằm ngoài áp lực giữ vững danh hiệu, đối với tôi cũng đáng trọng không kém.”

Còn những cuộc “chiến chinh” mở rộng “bờ cõi” khác?

Lấn sân lãnh vực à? Tôi mới đang ở những đoạn đầu của runway sự nghiệp, sao phải toan tính chi chuyện vãn cuộc? Ca hát thì chắc là không rồi, vậy mà đó lại là phần thi năng khiếu của cuộc thi tìm kiếm người mẫu Elite (cười lớn). Đơn giản là vì ngay cả công ty đại diện của tôi cũng không nghĩ rằng đó là phần thi quan trọng trong một cuộc thi tìm kiếm người mẫu. Thế là tôi chọn mặc một chiếc áo dài và hát bằng tiếng Việt. Điều này đúng là có khiến tôi tự tin, nhưng không đủ để tôi tưởng rằng mình hát hay. Thú thật, tôi hát dở ẹc! Nếu để chuẩn bị một phần thi tài năng để thể hiện tố chất văn hóa vùng miền và sự năng động rõ nét nhất, nếu làm lại từ đầu, tôi thà chọn năng khiến là môn banh đũa. Dám chắc là sẽ vui và không ai đấu lại tôi môn này, còn ca hát thì tôi thích để cho những ca sĩ chuyên nghiệp làm điều đó hơn. Tôi là một người mẫu!”

Không thi sắc đẹp, không chọn lấn sân bừa bãi, bạn sẽ làm gì một khi tuổi nghề người mẫu không bao giờ là quá dài?

“Đó chính là thử thách của tôi. Với một nền công nghệ thời trang phát triển hơn, thị phần tiêu dùng tuổi trung niên mới là tiêu điểm chính của các nhãn hàng, điều này dẫn dắt theo tuổi nghề kéo dài hơn của người mẫu. Tuổi hưu non của người mẫu là một dấu hiệu rõ rệt của sự bán chuyên. Rõ ràng điều này đồng nghĩa với việc xem sàn diễn thời trang là sân khấu giải trí, nơi ưu đãi tuổi trẻ và nhan sắc, mà thiếu hẳn yếu tố thương mại. Hẳn nhiên là một Tuyết Lan thì không thể thay đổi cho cục diện công nghệ thời trang Việt được, nhưng tôi tin vào thời điểm của độ tuổi đó, tôi sẽ có thể đứng vào hàng ngũ những model gạo cội mà vẫn sải bước trên đường băng chuyên nghiệp.”

Catwalk Việt đã có những thế hệ người mẫu trung niên hệ tiên phong chưa?

“Chị Xuân Lan chẳng hạn, tôi xem chị ấy như một cái mốc để hướng tới. Tỉ lệ thuận với tuổi nghề là sự chín mùi trải nghiệm và phạm vi hoạt động rộng hơn, và cả sự chọn lọc của tần suất xuất hiện. Đôi khi tôi ước gì mình là thí sinh của mùa VNTM thứ 2 để được giáp mặt với những thử thách và cả sự khắc nghiệt của Xuân Lan. Chị ấy thu hút sự khâm phục chân thành nhất của tôi.”

Đó không phải là một vị giám khảo dễ chịu…

“Tôi thích điều đó, tôi cũng không phải là một thí sinh dễ bị dọa…”

Mùa đầu của VNTM đã quá êm đềm chăng?

“Tôi đã vượt qua, không trầy xước!”

Còn Elite?

“Về thời lượng thì không thể so sánh được với những tập lên sóng ròng rã của VNTM, nhưng thử thách thì khắc nghiệt không kém. Chỉ có một điều mà các đối thủ của tôi không hề biết, đó là họ tiếp lực cho tôi rất nhiều khi ồ à rằng “Người Việt Nam mà cũng… cao quá ta? Ở đó có…nhiều người mẫu không?” Chính nhờ họ mà tôi nghiến răng tỉnh bơ trong những buổi chụp hình tím tái giữa trời lạnh, và trả lời theo cách của tôi: Vâng, con gái Việt Nam cao ngồng, và người mẫu Việt Nam lì đòn như vậy đó! Vấn đề của cuộc thi lần này đối với tôi không còn là kết quả nữa.

Dẫu vậy, không thể không tiếc nuối khi cuộc chơi ngừng lại với tôi ở ngoài vòng top 15. Thật ra tôi đã thất vọng và ngỡ ngàng cho nhiều thí sinh khác hơn là cho chính mình. Họ đều đẹp và điêu luyện trong quan niệm của tôi, và tôi tiếc đến sững sợ khi họ cũng phải chấm dứt cuộc đua quá sớm cho họ. A, ít ra là tôi tỉnh rụi và khá thăng bằng với kết quả. Hầu hết các cô ấy còn rất rất trẻ, không ít đi cùng với mẹ, và khóc òa lên khi biết kết quả. Tôi nghĩ giá mà mình cũng mẫn cảm và dễ khóc òa tức tưởi như vậy được lại hay, nhưng biết sao được, tôi còn có quá nhiều thử thách phía trước, ở các lần khác, nước mắt phải được để dành, vì tôi chắc chắn sẽ phải cần đến không ít mồ hôi trong tương lai sắp tới. Trước mắt tôi bây giờ là 2012, một con số đẹp!”

QUICK CHAT

Elle: Liệu bạn có sớm thay hình đổi dạng, bắt đầu với một phẫu thuật nâng ngực?

TL: Không! Điều đó không hợp với một người mẫu.

(Elle tân niên 2012)

Miuccia Prada – kẻ làm nên bộ da Quỷ Cái

Trác Thúy Miêu

Với Anna Wintour đứng đầu danh sách tín đồ và thanh danh bản thân cũng thuộc hàng đầu bảng phong thần của PeTA, Miuccia Prada có được cho mình một hình ảnh xứng tầm gia tộc quyền lực nhất thời trang thế giới.

Và khó lòng vẽ nên một chân dung hoàn chỉnh của chính “quỷ cái” Anna Wintour nếu thiếu một nét phác mang hiệu Prada.

Và từ đó, cái tên Prada không còn thuộc về gia phả cháu con nhà sáng lập Mario Prada nữa. Nó trở thành tính từ đại diện cho một phong cách sống: ngạo mạn trong tinh thần trang nhã, cầu kì trong cấu trúc thân thiện, và đài các ngay trong những bảng màu lòe loẹt và họa tiết ngô nghê nhất.

Nữ thừa tự đại nghiệp họ Prada

Không phát hiện “vấn đề giới tính” từ khi còn nhỏ, không bẻ ngoặt bánh lái số phận để chọn thời trang, có bằng PhD ngành khoa học chính trị, là một thành viên hoạt động bình đẳng giới, và chưa hề được đào tạo chính quy về mỹ thuật – người đàn bà mang cái tên quyền lực Miuccia Prada đã có cho mình một hồ sơ như thế, tức là không “fashionable” chút nào so với các đồng nghiệp đi trước và cùng thời.

Số phận đơn giản đã cầm tay dắt bà đến với thời trang, khi đặt Miuccia vào vị trí kẻ thừa tự của thương hiệu Fratelli Prada của dòng họ vào năm 1978, nơi bà đặt vào đó một góc nhìn rất riêng của một phụ nữ tưởng như không có chút gì khí chất thời trang: góc nhìn từ bộ óc của một diva quyền lực.

Điều này ắt đã là một sự bất ngờ với ông nội của bà, cũng là người sáng lập thương hiệu. Là một nam tử hán Ý Đại Lợi thuần chủng và thủ cựu, ông cụ Mario chưa bao giờ tin rằng thế giới của doanh lợi và quyền lực có chỗ cho những dấu chân đàn bà. Thậm chí ông đã đích thân ra tay can thiệp để tránh cho cuộc kinh doanh của dòng họ lọt vào tay một kẻ thừa tự là nữ nhi, dù đó có là người ruột thịt. Oái oăm thay, những đứa cháu trai mà ông kì vọng nhắm tới đều không tỏ ra tí hứng thú nào với việc cáng đáng đại sự nhà Prada. Mario ngậm ngùi đặt trọn ván bài vào tay đứa cháu gái, khi này đã lộ rõ khí chất nữ quyền.

Cũng vào thời kì này, Miuccia gặp và yêu người cộng sự và bạn đời Patrizio Bertelli. Đôi trẻ thế hệ cấp tiến đã lập tức cấy vào hệ thống nhà Prada những mầm mống mang xu hướng tư duy tiến bộ đầy tham vọng. Với gout thẩm mỹ của đứa con gái dòng họ Prada, lớn lên trong niềm kiêu hãnh của một gia tộc cầu kì và vương giả, Miuccia chỉ việc đặt lối sống của các tín đồ thời trang toàn cầu vào giá trị truyền thống của thương hiệu Ý, và không sự hợp nhất nào tốt hơn thế, để lập tức đặt bà vào vị trí đáng nể trong làng thời trang cao cấp thế giới.

Trường phái “tân Italy” trên gia huy họ tộc

Phớt lờ các nguyên tắc của thiết kế thời trang và kinh nghiệm về kỹ nghệ, đối với Miuccia, những kiến thức đang được tổng hợp lại đã đến từ chính những gia tộc thời trang như nhà Prada, nơi bà sinh ra và thừa tự: “Nên mặc nhiên với quá trình tư duy và sản xuất, sản phẩm cuối cùng mới là giá trị tiên quyết, cho dẫu bản thân tôi không đính nổi một cái móc khóa bình thường vào một chiếc túi xách bình thường nhất.”

Thái độ thực dụng “tân Italy” này được thể hiện rõ ràng hơn qua những thiết kế của Miuccia trên trang phục: tối giản, kinh điển, và hoàn toàn thoải mái tự tại trong sự xa xỉ đến ung dung tự tại. Say sưa với mục tiêu mới, Miuccia tiếp tục tung ra nhãn hàng mang dấu ấn cá nhân mang cái tên vui nhộn Miu Miu năm 1992, tách biệt khỏi ưu chất cố hữu của áp lực gia tộc Prada. Đến tận thời điểm này, Miuccia mới thật sự nhập cuộc. Miu Miu chính là phiên bản gout thời trang cá nhân của Miuccia, với chiến lược hình ảnh và tag giá thân thiện hơn. Với Miu Miu, bà có thể thực hiện cuộc chơi nhân danh bản thân mà không làm phương hại đến sự kiêu hãnh dòng hàng xa xỉ của nghiệp lớn nhà Prada. Miu Miu là một trò nghịch ngợm tài tình nhất, nguồn cơn hứng thú cho vị nữ vương dư máu liều: “Tôi không thích những thứ hiển nhiên, bởi vậy tôi luôn tìm cách tung ra một ý tưởng “lệch lạc”, sai so với cái vẫn hằng được cho là đúng – một cái gì đó khác. Chỉ thuần túy làm ra một cái gì đó đèm đẹp không thôi thì đã là điều dễ. Việc không được đào tạo cho phép tôi dễ dàng nhìn thấy những vẻ-đẹp-ngoài-luồng, và sự tỉnh táo giúp tôi biến chúng thành vẻ-đẹp-mới.

Cứ như thế, vào những mùa trào lưu màu trung tính, người ta sẽ có một Prada bung trào bảng màu lòe loẹt nhất đủ khiến phái bảo thủ Ý suy tim, cùng những mẫu giày sặc mùi thực dụng. Miuccia chỉ cười xòa: “Tôi thì tôi cho rằng thời trang đòi hỏi sự chuẩn xác đến cực đoan. Tôi cũng vậy, nhưng không cực đoan theo dòng.”

Ngược dòng thời thế tạo trào lưu

Bà tự nhận xét các thiết kế của mình là “kì khôi và không hoàn hảo”, và đó cũng chính là lí do vì sao bà tạo nên được cả một trào lưu cho các tín đồ tân thế hệ. Sự thừa nhận và tôn vinh quyền lực ấy đã ảnh hưởng lên văn hóa đại đồng, mà dấu son rực rỡ nhất là bomb cine The Devil Wears Prada.Dù nhăm nhe mô tả chuyện thâm cung tờ Vogue và đại nữ Anna Wintour cũng cần cả một chân dung đặc tả do Meryl Streep thủ diễn, bản thân Prada chỉ cần xuất hiện như thế, như một con dấu đóng lên cái tựa đầy kiêu hãnh, với sức mạnh ẩn dụ mãnh liệt hơn mọi tính từ để tô vẽ nên một khí chất Wintour.

Dấu ấn Prada xuất hiện ở khắp nơi, vượt trên cả một thương hiệu thời trang để trở thành dấu hiệu của lối sống xa xỉ, một thứ đế vương hiện đại, vừa đẳng cấp, vừa phổ thông, và phổ thông đến mức không chỉ xuất hiện trong siêu phẩm cinema mà còn cả những serie truyền hình thời thượng. Như thể nhắc đến câu chuyện của các diva thành thị, thì ắt đẳng cấp Prada không thể vắng mặt như một yếu tố cần và đủ.

Kinh điển nhất vẫn là serie về các tín đồ thời trang long lanh lãng mạn của New York – Sex And The City, khi mà cô nàng phóng viên thời thượng Carrie Bradshaw dẫn độ anh kép mới đến tiệm New York Prada để “đổi đời”: “Đối với một số người thì sự kiện hệ trọng tiên khởi là cuộc gặp gỡ các bậc phụ huynh, còn đối với Carrie, đó là cuộc chạm ngõ Prada”. Các tín đồ ruột khác của Prada là Linsay Lohan, Eva Longoria và, đương nhiên, đứng đầu danh sách là bà Mùa Đông Anna Wint-er cũng đồng ý với quan điểm thức thời và sâu sắc này.

Đồng bóng và tráo trở

Một ngày đẹp trời năm 2007, Miuccia Prada, khi này đã đường hoàng ngự chiếu trên làng thời trang thế giới, thở hắt đầy sầu não và tuyên bố “Tôi chán lông thú rồi!”. Hội PeTA reo hò, lập tức gửi đến tận văn phòng Miuccia một bó hồng đỏ tưng bừng thay lời tạ lỗi vì vụ khủng bố runway, do các nhà hoạt động xớn xác đã không thể ngờ rằng bộ sưu tập lần ấy của Miuccia đã ngấm ngầm sử dụng hoàn toàn lông thú nhân tạo. Trong khi đó, giới tín đồ chao đảo, còn Anna Wintour tuyên bố nếu không vì nghiện quá nặng những kiểu khăn choàng lụa của Prada thì đã gạch tên bà khỏi danh sách thượng khách cho những trang quảng cáo của Vogue.

Phe PeTA và đảng Xanh hẵng còn hể hả trước một loạt tên tuổi bự sự cuối cùng cũng hạ tay cam kết “cai nghiện xác thú” gồm Kenneth Cole, J.Crew, Ann Taylor và Ralph Lauren, thì lời tuyên bố của Miuccia quả đã thêm phần rạng rỡ cho vòng nguyệt quế vinh quang của sự nghiệp “cai nghiện”.

Trong khi đó, dân nội giới rành chuyện thì cho rằng tiếng thở hát não nề nọ rất có thể sẽ chấm dứt hình ảnh những binh đoàn trường túc mình khoác xác thú nghễu nghện diễu hành trên các runway cao cấp, không ít người khác chỉ cười ruồi và cho đây là trò đồng bóng thất thường vốn là thuộc tính của những tên tuổi khét tiếng làng thời trang thế giới.

Quả nhiên, chỉ một năm sau đó, các điệp viên hội PeTA đã ghi nhận được một cuộc điện thoại gọi trực tiếp đến đại bản doanh Prada Corps USA, xác nhận một lượng thiết kế đủ gây rùng mình bằng lông cáo, chồn, gấu trúc Bắc Mỹ vày chồn vizon đã được tung rải thảm tại toàn bộ hệ thống boutique và cửa hiệu Prada tại các department store tại Bắc Mỹ, với tag giá từ 2,000 USD cho một mẫu áo khoác viền lông, đến 22,000 USD cho chiếc áo khoác toàn bộ bằng lông chồn dày ngập mặt, làm từ xác 60 con chồn vizon tuyệt đẹp và không có khả năng tự vệ. Chúng được nhốt giữ trong điều kiện thê thảm tại các trang trại lông thú, bị giết bằng hơi gas hoặc chích điện, hay bị thương đến chết do bị sập bẫy.

Đòn lật lọng trắng trợn về sau được sao y nguyên mẫu với nữ đồ tể Donna Karan. Bà này thậm chí buông lời cam kết như đinh đóng cột, và ngay lập tức nuốt ngược vào chiếc lưỡi tráo trở của chính mình.

Rõ ràng cơn buồn chán của nữ đồ tể người Ý qua nhanh như gió thoảng, và tên tuổi dòng họ Prada lại tiếp tục vấy tanh máu súc vật. PeTA và các hiệp hội bảo vệ động vật khác lập tức rùng rùng triển khai chiến dịch kêu gọi ý thức tiêu dùng của các fashionista. Chưa bao giờ các cuộc tấn công bằng tương cà tàu hũ nát lại rầm rộ như thế. Mùa Đông năm ấy, tại một số khu thương mại, người ta đã ví von rằng không thể phân biệt nổi giữa tuyết rơi và tàu hũ bay, nếu không nhờ những tiếng thét căm phẫn của cả hai phía – phe nghiện xác và các nhà hoạt động.

Quỷ thì có thể bận đồ Prada, chứ thành viên hội PeTA thì chắc chắn là không.

Ứng viên viện Met 2012

Năm 2011 đã đánh dấu son lên lịch sử viện Met (Metropolitan Museum of Art exhibit) với cuộc triển lãm gây rúng động mang tên Alexander McQueen: Savage Beauty, như một sự kiện vinh danh và tưởng nhớ thiên tài thời trang vắn số. Với chính xác là 661,509 lượt người đến chiêm ngưỡng chỉ trong 4 tháng khiến Met trở thành thánh địa hành hương của mọi con dân tín đồ sùng kính nhất.

Câu hỏi còn lại là liệu viện Met sẽ chọn gương mặt nào để tự cạnh tranh với tên tuổi huyền thoại Lee McQueen cho lịch mục triển lãm 2012.

Và câu trả lời, sau rất nhiều đồ đoán lẫn những cuộc vận động ngấm ngầm, cuối cùng cũng đã được công bố trong sự tâm phục khẩu phục toàn phần của thời trang giới: nữ hiệp từng sát cánh với tên tuổi Salvador Dali lẫ Alberto Giacometi: Elsa Schiaparelli và, đương nhiên, vâng, chiếc vé còn lại thuộc về Miuccia Prada.

Trong mọi lí do để nôn nóng dành cho sự kiện này có cả việc trông đợi sự hiện diện của Quỷ Cái Anna Wintour, cùng Meryl Streep, Anna Hathaway và Emily Blunt – tác giả cuốn The Devil Wears Prada. Chưa hết, cô đào Haylee Steinfeld của True Grit, người vừa được chọn là gương mặt đại diện cho Miu Miu ắt cũng sẽ không thế vắng mặt, và thậm chí việc này ắt đã được cộng thêm vào các điều khoản hợp đồng kí kết giữa nhà Miu Miu và Haylee. Trong các tên tuổi đương thời của làng điện ảnh và là tín đồ của Prada còn có ngôi sao Twilight: Breaking Dawn 1 – Kristen Stewart. Stewart mắc chứng “nghiện” Prada khá nặng qua sự dìu dắt của stylist riêng là Tara Swennen.

Ngoài ra, các con nhang đệ tử nổi tiếng của Prada chắc chắn sẽ hành hương về viện Met còn có Carey Mulligan, Gwyneth Paltrow, Jessica Alba, Julianne Moore, Kirsten Dunst, Kate Hudson, Maggie Gyllenhaal, Mary-Kate Olsen, Megan Fox, Naomi Watts, Nicole Kidman, Rachal Zoe, Rihanna, Sienna Mmiller và Salma Hayek.

Chỉ bấy nhiêu thôi, đã đủ để sự kiện triển lãm sắp tới của viện Met dưới cái tên Prada hứa hẹn trở thành sự kiện thảm đỏ đình đám và lộng lẫy nhất của năm.

Và chỉ bấy nhiêu, cũng đủ để hàng ngàn con vật vô tội chờ đợi một cuộc đại thảm sát với những hình thức dã man nhất tại các trang trại lông thú để phục vụ cho ngày đăng quang những bộ da của loài quỷ.

Không chỉ dành cho trẻ em ham chơi lâu lớn

Những mảng ren cứng khô còng queo vằn vện chạy trên chiếc jacket hầm hố, họa tiết xe đua in nhì nhoằng trên những chân váy xếp pleat tung tẩy, đối với một nhà thiết kế nào khác, đây hẳn là bảng mô tả hiện trường một vụ tai nạn giao thông, nhưng đối với Miuccia, đó chỉ là bộ sưu tập Donna e Motori (Đàn bà và Xe hơi) – một khái niệm thoạt tiên tưởng chừng như sặc sụa hormone đàn ông, nhưng lại thể hiện một vẻ xinh xẻo dịu dàng cũ xưa.

Phía sau hậu đài, nhà thiết kế nói về ý tưởng kì khôi của mình “Tôi đã tìm cách để vực dậy khái niệm ‘dịu dàng xinh xắn’, thứ thẩm mỹ mà thời trang đương đại kị húy. Tôi không hiểu nổi, tại sao đàn bà con gái lại cần phải tỏ ra hung hăng ngạo ngược đến vậy?”

Thế là bà trộn nháo nhào lên mọi thứ, ngô nghê và láu lỉnh, cứng và mềm, đồ chơi cho con trai trên những bộ váy búp bê cho con gái. Nháo nhào và đăng đối một cách hoàn hảo! Chiếc bánh kem ngọt ngào trở nên dễ nuốt trôi hơn cho những nhà bình luận thời trang đã quen liều cay chua mặn chát của hương sắc hùng hổ nữ quyền. Sàn diễn loang lổ vệt dầu nhớt, những thanh xà kim loại nặng nề hầm hố, và những chiếc xe hơi con con màu hồng phấn ngô nghê,… tất cả tạo nên một phông màn hoàn hảo cho ý tưởng kì khôi nhưng dư thừa tiềm năng “cháy chợ”.

Cũng những yếu tố phông nền ấy được phản ảnh lại một cách tài tình trên từng thiết kế tung tăng diễu qua trước khán phòng: hồng kẹo ngọt, vàng mơ và xanh lơ của những chiếc Cadillac đỏm dáng, những chiếc áo chẽn nâng cao bộ ngực căng phồng, jupe bó sát bộ mông ngổ ngáo và hiếu chiến như những chiếc motor đôn dên, và la liệt những chiếc xắc tay trông như những chiếc xe đồ chơi, đủ để chiêu hồi khuyến dụ bất cứ cậu nhóc ham chơi nào bên trong mỗi quý ông.

Rõ ràng như dấu ấn của nữ thừa tự nhà Prada: năng lực sáng tạo và tiềm năng cháy chợ như những cỗ xe chờ phóng hết tốc lực, nhưng trong một bộ dạng thân thiện và, như bà nói, “xinh xẻo dịu dàng” – và hi vọng là sạch vết máu.

hồ sơ PeTA 2 (tiếp theo): Đại chiến Ngoạn mục PeTA Vs Vogue

Trác Thúy Miêu

Sự hằn học cay nghiệt giữa hai người đàn bà đã từ lâu trở thành một cuộc đấu tay đôi kì thú thu hút sự chú ý của báo giới, vừa mang khí khái của hai đại nữ khét tiếng trong xã hội, mỗi người nghiệt ngã với một lí tưởng riêng, vừa mang màu sắc bỉ bai cá nhân luôn khiến các nữ đối thủ có nhiều trò hấp dẫn hơn hẳn những cuộc đối đầu của các quí ông.

PeTA bị chơi khăm và Chiến thuật phong tỏa lộ trình hành hương điện tử

Tháng Hai 1995, một nhóm đối lập dựng lên website mang tên peta.org, với luận điệu rằng PETA là tên viết tắt của “People Eating Tasty Animals” (Những Người Ăn Thịt Thú Ngon). Vụ việc đã khiến Peta nổi đóa và theo đuổi kiện tụng cho mãi đến tận 2001, với phần thắng đương nhiên nằm ở phía Hội Những Người Không Ăn Thịt Thú Dù Dở Hay Ngon. Nhưng trong suốt những năm đó, hội peta.org đã gây không ít rắc rối cho kênh thông tin mạng của chánh hội Peta, khi mà hầu hết các cú click trên mạng Internet đều bị “dẫn độ” ngay tắp lự đến tên miền peta.org.

Ngay trong những năm theo đuổi vụ kiện tụng, kẻ khủng bố lắm chiêu Peta cũng mau mắn học lại được trò ranh mãnh này của đối thủ và dùng chính chiêu thức khủng bố mạng này để chống lại kẻ tử thù lâu năm của Newkirk là Anna Wintour. Thế là đường hoàng xuất hiện website voguemagazine.com, khiến những cú click của các tín đồ trên toàn thế giới, trên đường hành hương điện tử tìm đọc “thời trang chân kinh nguyệt san” Vogue bị “dẫn độ” về những trang hình ảnh và tư liệu lên án gay gắt đại nạn thảm sát động vật để phục vụ cho nền công nghệ xa xỉ đang được tích cực ủy lạo bằng những shot hình hào nhoáng trên các tạp chí thời trang láng lẩy mà Vogue đứng vào hàng đầu.

Hẳn nhiên, vụ chơi khăm nẻo hành hương điện tử của kênh truyền thông đối thủ không bao giờ tồn tại được lâu, nhưng cũng đủ thời gian để làm xính vính ít nhiều đến tờ Vogue, và đặc biệt lôi kéo thêm một số lượng tín đồ văn minh đáng kể trong đại cuộc tẩy chay thời trang lông thú.

Cảm tử quân khuyết danh vụ xác chồn ở tiệm Bốn Mùa

Cuối cùng thì người ta cũng tìm ra nữ chiến binh “cảm tử” đằng sau vụ xác chồn trên đĩa Anna ở Four Seasons để nghe cuộc tường thuật lại quá trình của hành động đáng nể ấy. Cô tường thuật lại việc tiếp cận một trang trại lông thú và nhặt được xác con vật tội nghiệp bê bết máu trong đống xác động vật. Xác con vật được ướp trong thùng lạnh chờ ngày hành động. Với nguồn thông tin từ chính nội gián Vogue, người ta nắm được lịch trình đi lại của Wintour, và bữa ăn trưa tại Four Seasons đã được chọn, bởi đây là nhà hàng nổi tiếng tập trung các yếu nhân giới thời trang và showbiz. Điều này càng khiến việc tiếp cận trở nên khó khăn hơn cho quân “cảm tử”, bởi lực lượng an ninh tinh nhuệ của nơi dành cho các yếu nhân này.

Cô đã chưng diện như một fashion diva chính hiệu, đặt xác chồn vào một túi mua sắm của một cửa hiệu thượng hạng và nói với nhân viên phục vụ ở đây rằng mình là cuộc hẹn mà Wintour đang chờ. Cô được dẫn đến bàn của đại nữ nhà Vogue, khi này đang dùng bữa cùng một phụ nữ và hai quí ông khác.

Nhà hoạt động can đảm tiến lại gần Bà Chúa Băng Giá, bất ngờ và đanh thép “Thật đáng xấu hổ cho mụ! Đây, cho những con vật mà mụ đã giết, đồ nghiện xác!” rồi vứt mạnh xác con vật rơi ngay lên đĩa thức ăn trước mặt Wintour. Đôi mắt bé xíu không còn sự sống của con vật vẫn mở. Trong khi Wintour và các vị khách vẫn còn sững sờ đông cứng như chính xác con vật tội nghiệp, nữ thành viên quả cảm của PeTA đường hoàng bước ra đường gọi taxi, kiêu hãnh và cả quyết hơn bao giờ.

Dịch vụ y tế bị khước từ

Trước những ngón “đòn thù” không khoan nhượng liên tiếp xả vào giới thời trang, Ingrid Newkird đã vô tình hình thành cho bản thân một bức chân dung dữ dằn và khắc nghiệt, như một đối trọng tuyệt vời với bà tổng biên tờ Vogue – kẻ thù số 1 của phái PeTA – Anna Wintour.

Không ngừng gửi những thông điệp vừa nghiêm khắc quyết liệt, vừa chân thành thống thiết tới tờ Vogue để thuyết phục bài trừ thời trang lông thú nhưng hoàn toàn vô hiệu trước phản hồi băng giá của Anna “Winter”, Ingrid ngán ngẩm tuyên bố rằng bà sẵn sàng đài thọ một ca chụp não cho Wintour để tìm liệu xem trong đó có xuất hiện dấu hiệu mong manh nào của nhân tính, với lời trần tình mai mỉa đầy tính khoa học “Bạn biết không, khi một số dây thần kinh bị tổn thương, nó ngăn chặn sự phát triển một số khía cạnh nhân tính cơ bản, chẳng hạn như lòng trắc ẩn và khả năng thấu cảm”.

Kể từ đó, xác chồn được quăng vào đĩa của Anna tại nhà hàng Four Seasons, sơn đỏ như máu hắt tràn trề nhày nhụa ngay thềm nhà riêng tại Sullivan Street. Mặc dù hẳn nhiên, cuộc chiến của PeTA không chỉ ưu ái tờ Vogue hay cá nhân Anna làm đối thủ, nhưng những chiến thuật bền bỉ và không khoan nhượng của Ingrid khiến người ta rùng mình tự hỏi điều gì đã khiến người đàn bà đầy lòng trắc ẩn với muôn loài sinh linh này lại có thể cay nghiệt đến vậy với đồng loại, và trên hết, mặc dù nhắm vào nhiều nền công nghệ khác nhau – từ nghiên cứu khoa học đến chế biến thực phẩm, nhưng các ngón đòn thù luôn được nhắm tập trung vào giới thời trang, dù không hẳn mức độ tàn sát đã sánh bằng với sự dã man trong các phòng thí nghiệm hay con số hủy diệt của ngành công nghiệp thực phẩm.

Trái tim Mùa Đông

Mưa tương cà vẫn rơi và đạn tàu hũ vẫy bay, Ingrid Newkirk vẫn điềm tĩnh tuyên bố “Tôi không chống lại thời trang! Tôi chỉ rất có vấn đề với một số người trong giới thời trang.” Bà khẳng khái thú nhận “Bản thân tôi sở hữu chiếc áo có cổ viền lông thú đầu tiên vào năm 18 tuổi, 19 tuổi tôi có hẳn một chiếc áo khoác làm từ 100 con sóc. Hồi đó tôi nghĩ trông mình mặc chiếc áo nọ thiệt đẹp!” Sự thật thà và một chút móc ngoáy ý nhị của Ingrid lại một lần nữa thắng điểm thiện cảm tuyệt đối của báo giới dành cho vị nữ thủ lĩnh đảng phái quá khích PeTA, đương nhiên là chừng nào bà còn chưa ném tàu hũ vào ống kính của họ. Dĩ nhiên rồi, không nhiều nhà báo có gout ăn xài của bà tổng biên tờ Vogue.

Không chỉ bởi những trang ảnh lộng lẫy trải tràn trề hàng tảng lông thú ngồn ngộn mềm mại đầy rù quến được ưu ái tỉa tót đến từng milimetre vuông được đăng ngập ngụa trên Vogue, không chỉ bởi những bài review ca tụng các mẫu thiết kế làm từ những xác thú chết đẹp mĩ miều, mà chính Wintour là một tông đồ khét tiếng trong vai trò con nghiện đồ da và áo lông thú đến bất khả cai chữa. Kéo theo từng lần xuất hiện của cá nhân bà, và từng trang bài, ảnh của Vogue là rầm rộ một cơn sốt đòi xác thú của hàng ngàn diva thời trang khắp nơi trên thế giới. Điều này khiến không chỉ ở vai trò tổng biên nhà Vogue, mà chính cá nhân Anna Wintour trở thành cừu nhân hàng đầu của phái PeTA và cá nhân nữ thủ lãnh Ingrid Newkirk.

Giới showbiz Mỹ rầm rộ phản ứng với Anna Wintour sau vụ bà này công nhiên đấu tranh cho cái gọi là “quyền mặc lông thú của phụ nữ”.

Vài tuần sau vụ con chồn chết ở Four Seasons, một lá thư được gửi đến văn phòng tổng lãnh Vogue, với chữ kí của Kim Basinger, Alec Baldwin, Sarah Bernhard, Woody Harrelson và ngay cả cục cưng trang bìa của Vogue là Tatjana Patitz, cùng nhiều sao thượng hạng khác thẳng thừng yêu cầu chấm dứt hành động ngang nhiên ủy lạo cho thời trang lông thú trên tờ Vogue: “Chúng tôi tin rằng chẳng có gì là sành điệu trong việc giết hại thú vật chỉ vì những món hàng xa xỉ. Chúng bị giết bằng hơi ngạt, chích điện, dìm xuống nước và siết cổ. Chúng tôi yêu cầu tạp chí Vogue hãy trở thành một ấn phẩm thân thiện bằng việc chấm dứt việc ủy lạo, quảng cáo cho thời trang lông thú.”

Sau khi lá thư được chuyển đi, người ta đã rất trông đợi vào một phản ứng tích cực từ văn phòng Mùa Đông, bởi hẳn nhiên, ai cũng biết bà Wint-er rất coi trọng những mối quan hệ với giới showbiz hàng đầu, mà hầu hết tên tuổi đều lưu lại thủ bút bên dưới bức tâm thư.

Phản hồi duy nhất đến từ một phát ngôn viên của tờ Vogue: “Chúng tôi sẽ tiếp tục kí các hợp đồng quảng cáo và ủng hộ thời trang lông thú trên các trang mục của Vogue.”

Ngay sau đó, nội dung lá thư được đăng tải ngay sau thư tòa soạn của Vogue tháng ấy, như một thông điệp của Vogue rằng mùa đông này là mùa của những tín đồ thông minh và ưa chuộng lông thú: “Đây chính là khoảnh khắc để tôi thú nhận rằng, vâng, tôi mặc lông thú. Và tôi còn ăn cả beefsteak mỡ màng nữa.” Cùng với mẹo vặt là chiên khoai tây bằng mỡ động vật sẽ ngon hơn rất nhiều khiến Anna ngon ơ chiếm giữ đầu bảng trong danh sách đen của hội PeTA và sổ thù vặt của cá nhân Ingrid cùng nhiều thành viên PeTA khác.

Nhưng danh sách không chỉ dừng lại ở đó, vì Anna cũng có cho mình những tông đồ trường phái liệt neuron trắc ẩn.

Ở vị trí bia ngắm cho Ingrid, xếp hàng ngay sau lưng Wintour không ai khác hơn là nhà thiết kế rất được Vogue sủng ái – ông kẹ mặt chì nhà Chanel – Karl Lagerfeld. Cũng như Wintour, chú K. không hề lấy đó làm điều: “Trái đất đang nóng lên hả? Tôi có thấy vậy đâu?” Hẳn nhiên rồi, đương nhiên là thế, chú.K, khi chú đang đứng sát sạt ngay sau lưng Bà Mùa Đông, chẳng có gì phải bàn về nhiệt độ địa cầu cả!

Thái độ băng giá đầy khiêu khích của Wintour cũng kích động trào lưu ngang phè trong giới thời trang. Tiếp nối đại tẩu truyền thông và tay đồ tể mặt chì Lagerfeld, nhà thiết kế nội y Janet Reger ngang nhiên tuyên bố trên sóng truyền hình rằng mình là tín đồ nặng nghiệp của thời trang xác thú. Ngay lập tức hôm sau, thỏa lòng nguyện ước, Janet và các show diễn có sử dụng thiết kế của bà được đưa vào bản đồ chiến lược của phiên họp thành viên PeTA. Các chiến thuật đa chiêu lại được đưa ra bàn bạc giữa các thành viên dạn dày mưu lược, còn Janet Reger khấp khởi chờ ngày được phong thành tông đồ tử vì đạo, còn con gái bà là Alica Reger thì lớn tiếng gọi các nhà hoạt động là “bầy đàn bại binh nhếch nhác”.

Có vẻ như cuộc thánh chiến dằng dai PeTA chống thời trang lông thú sẽ còn tiếp diễn nóng rẫy tại khắp nơi và mỗi mùa tuần lễ thời trang. Những kẻ đã từng ủy lạo và cam kết, như Donna Karan, vẫn trở mặt, Naomi trở thành kẻ phản bội đê hèn, và những hình ảnh thương tâm sẽ vẫn được gửi đến tận tay những đồ tể hào nhoáng, những tiếng kêu rít của các sinh linh vô tội vẫn thống thiết vang lên bên ngoài lớp cửa khép kín của những tòa tạp chí, đeo đẳng bám theo bằng dấu máu trên bộ áo khoác của các diva. Hàng tấn tàu hũ sẽ vẫn còn bay, dẫu tuyệt vọng, về phía giá băng của đại nữ Wint-er, và xuôi theo vòng xoay thời trang, sẽ vẫn là câu cầu khiến mỏi mòn của không một thế hệ fashionista tiến bộ, mà còn là của nhân loại, và Mẹ Thiên Nhiên: “Stop the insanity! No blood for vanity!”

Hồ sơ PeTA: Nỗi Kinh hoàng Của Những Con Nghiện Xác Thú

Trác Thúy  Miêu

Họ có mặt ở khắp nơi, đanh thép và không khoan nhượng như những chiến binh cảm tử, hay tinh nhuệ lão luyện như những nhân viên tình báo chuyên nghiệp. Họ có thể bất thình lình xuất hiện ở bất cứ đâu, trực diện tấn công vào những tượng đài thời trang và yếu nhân giải trí với vài vòng cảnh vệ bao quanh.

Họ hoàn toàn có thể là một kỳ nữ phim đen bất thần ngồn ngộn xuất hiện trên những tấm poster khổng lồ, mình không mảnh vải, hào phóng ban phát tòa thiên nhiên hùng vĩ cùng thông điệp ngạo nghễ “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!”.

Họ – những nhà hoạt động của PeTA – nỗi kinh hoàng của những tuần lễ thời trang, đặc biệt khi vào mùa của những bộ sưu tập mùa lễ hội – mùa của những tấm áo mĩ miều làm từ xác chết.

Các nhà khoa học hàng đầu lần lượt bị điệu ra trước tòa, bộ Quốc phòng Hoa kỳ đóng cửa vĩnh viễn một phòng thí nghiệm hóa học, hàng loạt nhân viên ngành thực phẩm bị mất việc, và các nhà thiết kế bị ép buộc ngậm ngùi kí vào bản cam kết vĩnh viễn từ bỏ thời trang lông thú.

Sự pha trộn giữa những trò vặt cay nghiệt, những chiêu thức đáo để đến trơ trẽn, thói độc tài ngang ngược, và một lòng trắc ẩn sâu sắc dữ dội đến vậy chỉ có thể đến từ một người đàn bà.

Nhưng không phải bất kì người đàn bà nào, nếu đó không là Ingrid Newkirk.

 

Nữ đồ tể bất đắc dĩ

Người đàn bà gốc Anh ấy đã rất có thể có cho mình một sự nghiệp an toàn vừa đủ với chiếc bằng chuyên viên chứng khoán, nếu vào một ngày năm 1969, Ingrid không tìm thấy những chú mèo lạc hay bị bỏ rơi và mang chúng đến các nhà tiếp nhận. Cô kinh hoàng trước điều kiện tồi tàn của các cơ sở này, và với những gì không chỉ đến từ nền giáo dục trường dòng, cô quyết tâm bẻ ngoặt định hướng sự nghiệp cuộc đời vào mục đích bảo vệ động vật – một công việc khi này còn chưa được xem là một “nghề”, trừ các bác sĩ thú y phục vụ nông nghiệp hoặc thú cưng của các gia đình thượng lưu.

Ingrid trở thành viên chức ban bảo vệ động vật tại Montgomery County, và về sau trở thành nữ chuyên viên đầu tiên tại cơ sở tiếp nhận động vật hoang đầu tiên tại quận Columbia. Cũng chính trong thời gian này, tự tay bà đã giết phải đến hàng ngàn con vật, có thời gian, trung bình hàng chục con mỗi ngày, những con vật bất hạnh đã từng được nuôi nấng như một thành viên gia đình và ruồng bỏ, thậm chí hành hạ, đánh đập, và không có đủ người với đủ lòng trắc ẩn để nhận chúng về nuôi, các cơ sở tiếp nhận, sau một thời gian, buộc lòng phải “tiêu hủy” chúng. Về sau, Ingrid còn thất thần cay đắng kể về thời gian này với tờ The New Yorker: “Những con người ngoài kia, có lẽ việc làm đau các con vật này khiến họ thích thú, hay thỏa mãn một điều gì đó trong họ. Còn tôi khi ấy, tôi khóc suốt trên đường chạy xe về nhà. Khi ấy, thâm sâu trong lương tri, tôi hiểu không thể gọi đây là một việc làm đúng.”

Thành viên đầu tiên của PeTA

Năm 1980, cũng là năm gieo xuống hạt mầm Peta, Ingrid bước ra khỏi cuộc hôn nhân kéo dài từ khi bà mới 19 tuổi. Ingrid gặp Alex Pacheco, khi này đang là một giáo chức truyền đạo và tình nguyện viên tại cơ sở tiếp nhận chó mèo lạc nơi Ingrid làm việc, nơi ông trở thành mối tình thật sự đầu tiên của Ingrid, với tất cả sự mê đắm của ái tình lãng mạn lẫn mối tương đồng khắng khít của hai kẻ chiến hữu, dù Ingrid lớn tuổi hơn rất nhiều, với tư duy thực tế, trong khi Pacheco vẫn còn là một cậu thanh niên mới lớn, nồng nhiệt và vô ưu.

Pacheco đã tặng Ingrid cuốn Animal Liberation của Peter Singer, và vào tháng Ba, bà thuyết phục người tình trở thành nhà đồng sáng lập của ý tưởng Peta, khi này chỉ gồm 5 nhân sự cùng làm việc dưới một tầng hầm, hầu hết là sinh viên, hoặc hội viên các hiệp hội, tổ chức môi trường tại địa phương.

Thoạt tiên, theo lời kể lại của Pacheco, lời đề nghị này không có vẻ thuyết phục đối với ông, “Tôi đã từng hoạt động tại Âu châu, và quá hiểu về tính rắc rối trong các nguyên tắc rối ren có liên quan đến chính trị của các tổ chức nhân đạo tương tự. Tôi chỉ muốn tự mình làm điều gì có thể. Nhưng bà ấy đã chinh phục tôi hoàn toàn khi đồng tình với tôi rằng các tổ chức hiện tại đang hoạt động yếu ớt, và hẳn nhiên là chính phủ, và nhân loại cần một tổ chức đúng nghĩa, hoàn toàn thiện nguyện và hiệu quả hơn để bảo vệ loài vật.”

Và Ingrid Newkirk có cho mình một chiến hữu, và PeTA có một thành viên đầu tiên.

Những con khỉ ở Silver Spring

Ingrid đã không nói suông với Pacheco. Một năm sau khi thành lập, Peta đã gây rúng động toàn thế giới với vụ 17 con khỉ tại Silver Spring. Vụ việc dấy lên sự phẫn nộ lớn trong công chúng, và trở thành đề tài tranh cãi kéo dài của các nhà đạo đức về các hành vi tra tấn với mục đích nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hành vi tại Silver Spring, Maryland. Vụ bê bối khai màn cho các cuộc ruồng bố của cảnh sát đến tận các phòng thí nghiệm khắp Liên bang Hoa kỳ, tạo áp lực lên quy định nghiêm ngặt đối với hoạt động thí nghiệm trên động vật tại Mỹ, và chiến dịch mang tên Animal Welfare Act năm 1985. Đây cũng được ghi nhận là vụ kiện về tính phi nhân trong việc thí nghiệm trên động vật đầu tiên được đệ trình lên tòa án tối cao Liên bang Hoa kỳ. Peta giành được quyền chăm sóc các chú khỉ dưới quyết định của toàn án bàng Louisiana.

Năm 1981, đích thân Pacheco đã vào làm việc tại phòng thí nghiệm nghiên cứu loài linh trưởng của Viện Nghiên cứu Hành vi Silver Spring, với mục đích trực tiếp điều tra các biện pháp tiến hành thí nghiệm trên động vật tại đây. Ông đã phải trực tiếp chứng kiến, và thậm chí tham gia vào các quy trình cắt bỏ các hạch thần kinh cảm nhận trên tay và chân khỉ, khiến chúng mất hoàn toàn các cảm nhận xúc giác. Một số con khác bị rút bỏ hoàn toàn các đốt sống lưng. Họ trói các con vật khốn khổ rồi cho chích điện, giơ cao thức ăn và nước uống để ép chúng phải sử dụng những phần đã bị tê liệt trên cơ thể.

Pacheco đã bằng cách đó đột nhập vào phòng thí nghiệm vào buổi tối, chụp lại hình ảnh các con vật bên trong phòng thí nghiệm và gửi các bằng chứng hình ảnh này đến cảnh sát và yêu cầu một cuộc lục soát hợp pháp, đồng thời bắt giữ giáo sư Taub – kẻ điều hành phòng thí nghiệm phi nhân nọ. Trong suốt vụ xử kéo dài 10, những hình ảnh bằng chứng này đã gây rúng động lương tri nhân loại khi được tung ra công khai qua mọi kênh truyền thông. Vụ kiện này nhắc nhớ đến chiến công của Henry Spira năm 1976, chống lại các thí nghiệm tàn ác trên loài mèo của Viện Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên Mỹ. Cả hai vụ kiện đã khiến chính phủ Hoa kỳ thức tỉnh và dành một sự lưu tâm đặc biệt đến hoạt động bảo vệ động vật một cách thiết thực tại Mỹ.

Cuộc đấu tranh quyết liệt 10 năm giành quyền bảo dưỡng các chú khỉ, theo mô tả của Washington Post, đã là một vụ vật lộn trong bãi lầy, với bên này cáo buộc bên kia là kẻ nói dối và bóp méo sự thật, và đưa Peta, không kém một trào lưu thời trang, trở thành một uy tín hoạt động tầm cỡ quốc tế.

Năm 1999, Pacheco rời khỏi hiệp hội, nhưng Ingrid không ở lại một mình, mà với hơn 2 triệu tình nguyện viên trên toàn thế giới, và nỗi kinh hoàng lớn mang tên PeTA.

Từ chiến công của điệp viên và thuyết khách…

Mỗi tuần, tại đại bản doanh Peta, một cuộc họp được tổ chức đều đặn với sự có mặt của hàng chục nhà chiến lược sừng sỏ nhất tề tựu quanh bàn vuông phòng khánh tiết hội sở Peta, và không có kế hoạch chiến thuật nào ở đây có tên là “quá khích” đối với nữ đầu lãnh Ingrid Newkirk. Thậm chí bà còn treo giải thưởng hằng niên với tên gọi Proggy Award dành cho các cá nhân, tổ chức có những chiến thuật và chiến dịch trội bật trong lãnh vực bảo vệ động vật hoặc đấu tranh chống hành hạ, giết hại động vật.

Các mục tiêu tối trọng của hội Peta nhắm vào các tập đoàn lớn, từ đại gia thực phẩm KFC, Wendy’s và Burger King. Trong lãnh vực thí nghiệm trên động vật, các thành viên Peta đặc biệt “ưu ái” bám sát nhất cử nhất động của các hãng thời trang và mỹ phẩm như Avon, Benetton, Bristol-Myers-Squibb, Chesebrough-Pond’s, v.v…

Cơn ác mộng PETA, đối với các tài phiệt thời trang, hơn cả những cuộc biểu tình và lằn đạn tàu hũ tương cà nhè vào mớ khách hàng thượng hạng, chính là các điều tra viên. Họ có thể là bất cứ ai, và tầm phủ sóng len lỏi của họ không dừng lại ở hậu trường các show diễn, mà luôn có thể lần ngược mối dây nhập khẩu nguyên liệu và thình lình xuất hiện ngay giữa lòng một trang trại ở tận Trung Hoa, hay một phòng nghiên cứu hóa học tận Thụy Sĩ, với mỗi cú bấm máy có thể tác động mãnh liệt đến lòng trắc ẩn của triệu triệu tín đồ thời trang văn minh.

Những điệp viên đặc vụ PETA thường phải bỏ hàng tháng, thậm chí hàng năm để theo đuổi điệp vụ. Phần lớn họ phải có một hồ sơ sạch bong, và thậm chí kinh nghiệm nghiệp vụ đủ để trở thành nhân viên chính thức tại những cơ sở đối tượng này. Họ được trang bị tận răng một cách kín đáo, hoàn toàn không thua kém các điệp viên cine chính hiệu, với nhiệm vụ thu thập chứng cứ, sao chép dữ liệu và chụp ảnh, ghi hình các hoạt động ngược đãi động vật tại đây. Cho đến 2007, tổng cộng 75 điệp vụ đã được đưa ra công luận, và thậm chí ra trước vành móng ngựa mà trong đó, bị cáo thường là các nhà nghiên cứu danh tiếng của các trường đại học, và các tài phiệt công nghệ, với phần thắng thường xuyên nghiêng về phía các nhà hoạt động PETA, khiến không ít phòng thí nghiệm đã phải đóng cửa vô thời hạn và gây khốn đốn đảo điên cho nhiều ngành công nghệ có liên quan.

Không hề trở nên khét tiếng chỉ bởi những điệp vụ gây chấn động toàn cầu, các thành viên giấu mặt của Peta thừa sức vung tay mua lại cổ phần của các tập đoàn bự sự kia cho đến khi nắm được quyền can thiệp vào công nghệ, thậm chí nắm khả năng dẫn đến nguy cơ lũng đoạn và phá sản. Chính nhờ biện pháp kinh tế táo bạo và sòng phẳng này, các đại gia cỡ McDonald và Wendy đã phải chấp nhận đầu tư tung ra những thực đơn chay, Petco ngưng kinh doanh thú quý hiếm, và Polo Ralph Lauren chấm dứt hoàn toàn việc sản xuất và thiết kế các sản phẩm từ lông thú. Trong khi đó, các trùm mỹ phẩm Avon, Estee Lauder, Benetton và Tonka Toy Co. đều nhất loạt chấm dứt việc thí nghiệm hóa học trên động vật, thậm chí trùm vũ khí Pentagon cũng quy phục mà chấm dứt hoàn toàn việc bắn thử lên heo và dê để kiểm tra sức công phá trên vết thương, và một lò sát sinh tại Texas bị đóng cửa vĩnh viễn.

…đến những màn khủng bố đa chiến thuật

Newkirk chính thức trở thành kẻ tử thù của không ít nền công nghệ, từ đại gia thực phẩm KFC, McDonald, cho đến các tông đồ thời trang xa xỉ cỡ bự như Karl Lagerfeld, John Galliano và Donna Karan. Nhưng hẳn nhiên điều này không dễ khiến nữ đại thủ lĩnh phái Peta chùn tay. Bà khẳng khái tuyên bố: “Lòng trắc ẩn có thể ủ mầm cho một sự đổi thay và lòng nhân ái. Nhưng một cuộc cách mạng chỉ có thể được đoạt lấy bằng hành động.”

Khẳng khái không kém gì khẩu khí ấy, Newkirk công khai ủy lạo cho những nhóm sử dụng hành vi tấn công và đột nhập, trực diện hay lén lút vào các đối tượng của Peta. Họ trắng trợn xâm nhập vào các phòng thí nghiệm và giải cứu các con vật, trực diện thóa mạ và hủy hoại mọi sản phẩm thời trang làm từ lông và da thú, với sự hung hăng khiến đau đầu cả những đội ngũ cảnh vệ tinh nhuệ nhất.

Nhưng thái độ của giới người mẫu đối với các chiến dịch của Peta lại có vẻ có thiện chí hơn rất nhiều, và con đường tiếp cận công nghệ thời trang qua các người mẫu của Peta trở nên có sức thuyết phục mạnh mẽ lạ thường đối với các tín đồ. Chiến dịch ủy lạo thực phẩm xanh và chế độ ăn kiêng bằng rau củ đã phủ sóng mãnh liệt lên thị trường fast-food khổng lồ nhất thế giới là nước Mỹ. Kết hợp với các vụ điều tra về hình thức giết mổ man rợ tại các lò mổ của đại gia McDonald và KFC, cùng với những cuộc biểu tình phong tỏa các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh, và cuối cùng là thân hình mảnh khảnh đáng thèm muốn của những model khét tiếng nhất đã khiến các hợp đồng nhân sự của những lò giết mổ phải có thêm điều khoản nhân đạo trong công nghệ xử lí động vật, và ông lớn McDonald cũng đã phải nhún nhường tung ra thực đơn hamgurger chay cho các thị phần người tiêu dùng văn minh.

Nhưng gây tiếng vang đáng kể nhất phải nói tới chiến dịch “I’d Rather Go Naked Than Wear Fur” (Tạm dịch: thà khỏa thân còn hơn mặc lông thú) với một lực lượng celebrity và người mẫu chưa bao giờ hùng hậu đến vậy. Cũng nhờ chiến dịch này. Công chúng và giới tín đồ thời trang được dịp nhìn ngắm thỏa thuê mãn nhãn những yếu nhân khả ái nhất hành tinh trong bộ dạng như trẻ sơ sinh kém bụ bẫm nhưng muôn phần kích động. Chưa bao giờ có một vụ scandal khoe hàng tập thể nào rầm rộ và gây tiếng vang đến vậy. Peta đại thắng về mặt truyền thông và chính thức trở thành lực lượng đối đầu đáng gờm của ngành công nghệ thời trang xa xỉ, cho đến tận các trang trại đồ tể Trung Hoa.

Tại hội chợ lông thú quốc tế ở Paris, các thành viên Peta bò lổm ngổm trên đường phố Paris, kéo lê những cái bẫy sập ngoạm vào chân, và hào phóng vứt ra tứ phía những tờ giấy bạc thấm bê bết máu.

Ngoài ra, trong các chiến thuật du kích nhỏ lẻ và dai dẳng nhưng là nỗi ám ảnh cao đối với giới thời trang và fashionista thượng lưu là đòn bánh pie, tàu hũ nát và tương cà. Những món này khi hạ cánh bẹt thèn lẹt lên một mẫu thiết kế bằng lông thú đắt tiền trông không khác gì một bãi máu me lầy nhầy và hoàn toàn có thể phá hủy hoàn toàn bộ vía. Tháng Giêng năm ngoái, chính bộ trưởng Gail Shea của Canada đã ăn phải đòn thù bánh pie, phản ứng với việc săn bắt hải cẩu bừa bãi tại vùng biển nước này. Khi bị chỉ trích là “đòn vặt”, Ingrid bình tĩnh giải thích: “Đối với đối tượng, nó có công dụng khiến họ lúng túng, bối rối, và trở về với ngoại hình nhơ bẩn như chính bản chất hành vi của họ. Còn đối với cái nhìn của công chúng, nó sẽ có tác dụng như một vụ tai nạn giao thông mà bạn buộc phải nhìn vào.”

Tuần lễ thời trang Melbourne Xuân Hè vừa qua đã lại là một minh chứng cho bàn tay phái Peta đã vươn dài đến tận úc châu. Các nhà hoạt động tấn công thẳng lên catwalk, giăng các tấm poster ghi dòng chữ “Fur is Dead” trước rừng ống kính báo giới, ngay khi các người mẫu vẫn đang tiếp tục tràn ra đường diễn. Dẫu chỉ là 5 phút rối ren – khá nhẹ nhàng với thời trang Úc, nhưng cũng đã đủ khiến cho các nhà tổ chức thức thời lập tức rà soát từng mẫu thiết kế của mọi hãng thời trang và hủy diễn bất kể thiết kế nào có sử dụng da hoặc lông thú. Mặc cho các nhà thiết kế la ó cự nự, cuộc bạo động nho nhỏ của chi sở Peta tại Úc đã đại thắng với một Melbourne Fashion Week 100% fur-free!

Mông cừu ở Úc châu, Yasser Arafat bị cảnh cáo, và tuyến tiền liệt của ngài thị trưởng

Ngay cả các nông trại chăn cừu khai thác len cũng không thoát khỏi tầm ngắm của các thành viên đảng Peta. Mặc dù không sát hại con vật để lấy bộ da, nhưng quy trình cắt một phần lớp da của con vật để lấy lông cũng khiến các tay chăn cừu tận Úc châu không nằm ngoài tầm bay của bánh pie Mỹ. Cả một chiến dịch tấn công trực diện đã được nhằm vào nền công nghệ len sợi của Úc, trong đó, các đại gia bán lẻ đã đồng loạt tẩy chay sản phẩm và chất liệu xuất xứ từ Úc. Các nhà công nghệ và cả các chủ trang trại Úc chất phác đã tỏ ra đáo để không kém cạnh, hì hụi vác đơn kiện đảng Peta, với luận điệu rằng việc lạng đi lớp da dưới mông cừu mang nhiều tác dụng tốt cho con vật và tránh các bệnh nhiễm trùng do ruồi mang lại, có thể gây đau đớn cho cừu còn hơn bị lạng da mông. Có lẽ bị thuyết phục bởi các lý lẽ có liên quan đến da mông cừu cụ thể và khoa học như vậy, Peta chấp thuận đình chiến. Để ứng đáp cho đúng kiểu thiệp liệp giữa chốn nông trang châu Úc và trùm khủng bố thời trang Mỹ, phía nguyên đơn hứa sẽ tìm tòi phương thức khai thác mới mà không lạng da mông cừu.

Thái độ không khoan nhượng của Newkirk lên cao vào năm 2003 khi bà đích thân gửi lá thư đến thủ tướng Yasser Arafat ngay sau việc một chú lừa vô tội bị nổ tung sau một cuộc đụng độ bạo lực tại Jerusalem, yêu cầu ông để yên cho các con vật.

Thiên hạ còn la ó kịch liệt với chiến dịch quảng cáo vận động của PETA mang tên “Your Mommy Kills Animals” (Má Cháu Giết Động Vật), với bức họa theo lối hoạt hình một bà nội trợ tay lăm lăm dao đang tấn công một chú thỏ. Triệt để hơn nữa, để tiết giảm lượng tiêu thụ sữa, tổ chức này còn tung ra chiến dịch “Got Beer?” (Có bia không?) như một đòn chơi khăm sát ván chiến dịch quảng cáo sữa nổi tiếng “Got Milk?” (Có sữa không?). Cho đến khi một số bằng chứng y khoa cho thấy các sản phẩm từ sữa có thể là nguyên nhân dẫn đến ung thư, vừa lúc thị trưởng New York là Rudolf Giuliani được chẩn đoán chứng ung thư tuyến tiền liệt vào năm 2000, PETA mau mắn chạy luôn bức ảnh của ông với hàng ria mép trắng và dòng chữ “Got prostate cancer?” (Có ung thư tiền liệt không?). Đến đây thì cả nước Mỹ la ó phản đối, dĩ nhiên là với các chủ trang trại và các hãng thực phẩm chế biến cự nự dữ dằn nhất.

Trong mọi kế sách chiến lược của mình, hẳn nhiên chiêu khỏa thân chưa bao giờ là cũ nhưng vẫn luôn phát huy tối đa hiệu quả truyền thông.

Tháng Tám 2011, PETA chính thức ra mắt website “người lớn nhẹ”. Phát ngôn viên của tổ chức là Lindsay Rajt tuyên bố với Huffington Post rằng họ “sẵn sàng tận dụng bất cứ chiến thuật và phương tiện nào tốt nhất, hiệu quả nhất cho quyền động vật”, cô còn trấn an rằng website nọ sẽ được xử lí “cẩn trọng và gắt gao với mọi thông tin, hình ảnh để đảm bảo không rời xa hiệu quả của thông điệp và mục đích chính”. Đến đây, các tổ chức bình quyền phụ nữ lại vào cuộc, cho rằng PETA đang vì quyền động vật mà đạp lên cả nhân phẩm phụ nữ.

Bản thân Newkirk, khi bị các nhà hoạt động bình quyền lên án về chiến dịch khỏa thân của các người mẫu, ngôi sao chống nạn sử dụng thời trang lông thú, đã điềm nhiên trả lời “Để đạt đến mục đích nhân đạo, chúng tôi buộc phải bón mớm cho công luận và giới truyền thông những điều họ luôn đói khát”.

Những cuộc săn lông thú và những “con thú” thượng lưu

Chính từ những vụ scandal phá rối sôi động của đảng Peta mà khắp các thánh địa thời trang và giải trí lớn trên thế giới đã dấy lên một môn “thể thao mạo hiểm” mới, hợp thời và là một phần của lối sống fashionista phố lớn: săn tội đồ!

Những cuộc săn này nhằm vào các tượng đài phong cách mới, các celeb danh tiếng. Bãi săn là mọi “vùng trũng” của giới thượng lưu, dập dìu tài tử minh tinh. Từ hộp đêm, nhà hàng, khu nghỉ mát, các đại lễ thảm đỏ, v.v… Những cuộc bố ráp lớn có cả một lực lượng paparazzi hùng hậu, súng ống nòng flash trang bị tận răng, các hội viên activist dấu kín những ổ tàu hũ, túi nilon đựng tương cà và cả bánh pie trong những túi đựng hàng của shopper, và chen chân trong đó là cả những tín đồ thời trang văn minh với diện mạo sành sõi điệu nghệ thừa sức trà trộn vào những đám đông vương giả.

Những “con mồi” được phát hiện thường được chờ dẫn dụ cho đến khi vô tình lọt vào giữa vòng vây bố ráp để lãnh trọn cơn mưa đậu hũ tương cà trong ánh flash lóe lên liên hồi kì trận, và ngay hôm sau, cùng với chiếc áo lông thú đã bị hủy hoại không thương tiếc là một loạt những hình ảnh toét nhoèn cà đậu của đêm trước được phơi bày thảm hại trên các cột báo chính luận cũng như lá cải. Trong số đó, Madonna, Kate Moss, Vic Beckham, J.Lo và Paris Hilton là những con mồi ưa thích của môn “thể thao mùa đông” kì thú này.

Thậm chí giới celeb còn cho rằng scandal “lộ hàng” hay bị phát hiện địa chỉ website khiêu dâm trên ổ cứng còn dễ chịu hơn rất nhiều so với việc bị phát hiện mặc thời trang lông thú.

“Con mồi” gây bẽ bàng nhất cho Peta phải kể đến trường hợp Heather Mills. Người ta tìm được những hình ảnh người phát ngôn danh tiếng của đảng Peta đã từng mặc áo lông chồn cách đó gần…20 năm. Dù Heather tự bào chữa rằng đó là chiếc áo của bà thân mẫu để lại, vết nhơ ngụy quân tử sẽ không bao giờ được gột sạch khỏi danh tiếng Heather Mills – vốn là một mạnh thường quân đắc lực của Peta.

Những chiến binh chân dài và trần trụi

Nằm trong các chiến thuật chống thời trang lông thú của Peta, các thành viên đã trà trộn vào hàng trăm show diễn từ Âu châu, Hoa kỳ cho đến Trung Hoa. Họ có thể bất cứ lúc nào bất thần phun sơn đỏ bê bết lên sàn catwalk, cùng lúc nhảy lên chiếm trung tâm sàn diễn, một số trong tình trạng khỏa thân, tay khư khư biểu ngữ, poster. Đôi khi, điều bất ngờ nhất đối với dàn nhân viên bảo vệ khi các tay khủng bố lại chính là các celebrity hàng đầu, hay thậm chí các người mẫu trong ê-kíp đột ngột thoát y án ngữ ngay trước khu vực báo chí, khỏa thân và che phía trước bằng biểu ngữ nổi tiếng “Thà ở truồng còn hơn mặc lông thú!” (I’d rather go naked than wear fur)

Bản thân biểu ngữ này trở thành tên gọi của cả một chiến dịch lẫy lừng, với sự ủng hộ nhiệt tình của hàng loạt tên tuổi nổi tiếng trong làng người mẫu và các ngôi sao giải trí thượng thặng. Họ không ngại ngùng pose các kiểu ảnh, thậm chí xuất hiện nơi công cộng, trần trụi và tự tại, vật che thân duy nhất, nếu có, là tấm biểu ngữ không quá lớn. Chiến dịch này, hẳn nhiên, theo sự tính toán của hội Peta, đã gây được hiệu ứng sâu sắc, với sức lan truyền theo cấp số nhân của các ống kính truyền thông. Đó là khi chính hội Peta bị các tổ chức bình quyền cự nự kịch liệt.

Mới đây, phái Peta đã trân trọng gọi ngày sinh nhật của Boss Model Agency là Flashback Friday (Ngày Thứ Sáu Hồi Tưởng) và cho đăng tải rộng rãi bức ảnh chiến dịch I’d Rather Go Naked than Wear Fur đầu tiên được chụp với các model nam và nữ hàng đầu của agency này cách đó 15 năm trong trạng thái khỏa thân hoàn toàn. Boss Models là công ty đại diện người mẫu đầu tiên chống thời trang lông thú với nguyên tắc khước từ mọi hợp đồng với bất cứ buổi chụp ảnh hoặc sự kiện nào có liên quan đến thời trang lông thú. Một trong những top model hàng đầu của Boss khi này là Marcus Schenkenberg còn khẳng khái tuyên bố rằng anh sẽ tẩy chay triệt để bất cứ ngành công nghệ nào có dấu hiệu ngược đãi và tàn sát động vật, và cho dựng tại hộp đêm Tunnel, khi ấy là chốn lưu tới thịnh hành tại New York, tấm bảng ghi dòng chữ “Thứ Hoang Dã Duy Nhất Ở Đây Chính Là Con Người – Cấm Áo Khoác Lông Thú” (The Only Wildlife Here Is Human – No Fur Coats Allowed)

Trong làng người mẫu, nổi bật và tiên phong trong chiến dịch dài hơi Go Naked là siêu mẫu thế giới Christy Turlington, và mới gần đây là Khloe Kardashan. Sự xuất hiện bạo liệt và quyến rũ của họ trên các poster của chiến dịch Go Naked đã thu hút cả những tiếng tung hô lẫn  những lời phản đối cự nự rầm rĩ từ nhiều phía. Ngày nào cuộc tranh cãi chưa đi đến hồi kết, thì hiệu ứng truyền thông của chiến dịch còn được nuôi sống. Nắm vững chân lý đó, song các phía đối nghịch vẫn không thể kiểm soát được cấp độ đình đám của chiến dịch lẫy lừng nhất trong lịch sử hoạt động của Peta.

Trong khi đó, đồng nghiệp của Kardashian là Gisele Bundchen lại bị các nhà hoạt động tấn công và la ó ngay trên sàn diễn Victoria’s Secrets. Người đẹp Brazil đã là một trong những người mẫu nổi tiếng đã tích cực phô trương những mẫu thiết kế lông thú không chỉ trên sàn diễn, như một nỗ lực đưa thời trang lông thú trở về vị trí chính thống của giới thời trang.

Phát ngôn viên Dawn Carr của Peta cho biết “Gisele đã tự ghi tên mình vào danh sách đen của Peta. Đáng lý ra cô ta đã phải biết rằng mỗi khi mặc vào một chiếc áo lông thú, đồng nghĩa với việc tuyên án tử cho không chỉ một mà hàng ngàn con vật tội nghiệp với những hình thức giết hại man rợ khủng khiếp nhất”

Lá cờ PeTA trên đỉnh phù hoa – khai pháo chiến dịch khỏa thân

Bar Atlantic tại London – chốn lui tới quen mặt của nội giới thời trang tại Anh, còn được mệnh danh là pháo đài an ninh kiên cố nhất với hàng rào an ninh ngăn cách các vị yếu nhân thượng khách với hội fan cuồng, giới săn tin và cả những tay khủng bố quá khích phái PeTA. Các tay gác cửa lịch lãm nhưng lão luyện có thể chỉ cần liếc qua để phát hiện ra một phần tử ngoại giới hay một nhà hoạt động quá khích, và các phần tử này sẽ được đón tiếp trọng thể theo một cách rất riêng.

Không một điệp viên PeTA thiện nghệ nào có thể lọt vào nơi đây. Sự kiên cố của Atlantic đáng để các phòng thí nghiệm hóa học của quân đội Mỹ cũng phải lấy làm hổ thẹn. Mọi chiến thuật tấn công trực tiếp vào Atlantic của PeTA đều liên tiếp bị phá vỡ chỉ bằng một cú phẩy tay của hàng rào an ninh Atlantic.

Và điều này không làm Ingrid Newkirk hài lòng.

Nó khiến bà phải đích thân vạch chiến lược.

Và một khi có đại nữ thủ lĩnh nhúng tay, điều đó đồng nghĩa với sự kiện khai hỏa chiến dịch chống thời trang lông thú được tổ chức, một cách bất ngờ nhất, ngay tại “trái tim nhảy múa” của giới thời trang và showbiz London – bar Atlantic, đương nhiên là với sự xuất hiện của cả một đội quân trường túc lộng lẫy đến từ các hãng đại diện người mẫu sừng sỏ nhất làng thời trang thế giới.

Một tuần sau khi nữ hoàng nội y Janet Reger gang thép tuyên bố “Tôi yêu lông thú tự nhiên!” ( I love real fur) như một tiếng hô xung phong cho phái nghiện thời trang xác thú, PeTA không hề đợi quá lâu để trà đòn thích đáng, với sự hậu thuẫn của hãng đại diện Boss Models và danh sách siêu mẫu quốc tế gồm Christy, Naomi, Nadja, v.v…

Không chỉ có I’d Rather Go Naked, PeTA còn có các chiến dịch với những câu hiệu triệu chân phương hơn như “Turn Your Back on Fur”. Báo giới được mời đến sự kiện khai hỏa để là những người đầu tiên thưởng ngoạn tấm poster chụp tập thể các người mẫu nam và nữ sáng giá nhất của Boss Models, trong tình trạng hoàn toàn khỏa thân. Người ta có chính xác 60 giây để ghi nhận lại hình ảnh và thông điệp để ngay vào sáng hôm sau, hình ảnh nóng hôi hổi của chiến dịch đã được đăng phần phật trên mọi trang đầu từ nhật báo chính thống đến tuần san lá cải.

Sự kiện này đã lập tức cải thiện hoàn toàn hình dung của công chúng về các nhà hoạt động môi trường nói chung: luộm thuộm và nhếch nhác, béo phị và khắc khổ. Giới trẻ tung hô và ủy lạo rầm rộ với hình tượng văn minh thời trang mới này, trong khi giới thủ cựu Ăng-lê, từ London đến các tàn dư quí tộc miệt vườn tỉnh lẻ đều nhất loạt lên án PeTA dữ dội. Và điều này ngay lập tức khiến cái tên PeTA trở thành một từ đồng nghĩa với tính bạo động, hợp thời, và tiến bộ.

PeTA đã thành công trong việc gắn liền lòng trắc ẩn và quyền động vật với hai yếu tố đáng gọi là vật liệu làm nên bom truyền thông: khỏa thân và người mẫu. Nếu có thứ gì mạnh hơn hai “chất nổ” ấy, thì đó chính là người mẫu khỏa thân. PeTA có cả điều ấy, và hơn thế, đó là rất nhiều siêu mẫu khỏa thân, tham gia pose khỏa thân với tinh thần 100% thiện nguyện. Khi Claudia Schiffer từ chối cam kết tẩy chay các hợp đồng quảng cáo thời trang da và lông thú, hầu như ngay lập tức những tiếng xì xầm cả quan ngại lẫn kỳ thị lan nhanh đủ để cô nàng Barbie đỏng đảnh của nước Đức phải chịu khuất phục và kí vào bản cam kết nọ.

Chiến dịch Go Naked lan tràn dài hơi và quyết liệt. Song song với liên tiếp những siêu mẫu khỏa thân là những cuộc biểu tình nhỏ lẻ hay tập thể, với chính các nhà hoạt động khỏa thân đi long nhong ở bất cứ thành phố lớn nào trải dài từ Mỹ đến châu Âu, cũng như mọi cơn sốt về xống áo mà chính các siêu mẫu này thường tạo nên sau mỗi chiến dịch quảng cáo thời trang. 

Không chỉ các người mẫu mà giới showbiz cũng vào cuộc. Các siêu sao đương thịnh từ Patti Davis, vợ chồng Kim Basinger và Alec Baldwin, Frank Skinner cho đến David Baddiel đều đã từng xuất hiện khỏa thân trên các poster của chiến dịch.

Điều này ngay lập tức mang lại khoản thiệt hại trị giá 12 triêu Mỹ kim cho hãng nhập khẩu lông thú lớn nhất tại Hoa kỳ là Evans Inc, với mãi lực giảm 22%, và không lâu sau đó là một cú trượt dốc không gì cứu vãn nổi cho đến cái đáy phá sản với lời cuối ngậm ngùi: “Chúng tôi chưa bao giờ muốn thừa nhận tác động của những tay khủng bố PeTA lên công cuộc kinh doanh của mình, nhưng giờ thì khó tìm lời lí giải hợp lí nào khác cho những thất thoát và tình trạng khánh kiệt”

Liên tiếp những năm sau đó, tổng mãi lực lông thú trên toàn thế gới giảm hẳn 60%.

Nhưng chiến thắng chưa bao giờ là 100% tuyệt đối, ngày nào còn những con vật bị tàn sát, và ảnh hưởng của PeTA chưa xoay chuyển cục diện một cách nhanh chóng và triệt để hơn khi hàng ngày, còn quá nhiều động vật bị hành hạ và hiến tế cho sự man rợ của phái tín đồ nghiện xác thú.

BẢNG PHONG THẦN CHIẾN HỮU VÀ CỪU NHÂN

PeTa và các chiến hữu

Năm 2007, danh ca Paul McCartney trở thành “Nhân Vật Trong Năm” của PeTA, sau sự thành công của chiến dịch thuyết phục hãng British Airway ngưng sử dụng chất liệu da thật để bọc ghế hạng thương gia, và chiến dịch chống thời trang lông thú trên Internet mang tên Second Life. Chưa hết, Paul McCartney còn cống hiến cho PeTA một mạnh thường quân quý báu khác, chính là con gái ông – nhà thiết kế Stella McCartney – một trong những tên tuổi thời trang đầu tiên tẩy chay triệt để chất liệu lông và da thú tự nhiên với thông điệp rõ rệt “Bạn vẫn có thể ăn diện đẹp ‘muốn chết’ mà không cần phải thật sự giết một sinh vật nào.

Theo ghi nhận của website Furisdead.com, người hùng bóng rổ Mỹ Dennis Rodman là quý ông celeb đầu tiên can đảm xuất hiện khỏa thân trên poster chiến dịch của Peta na8m 2005, với thông điệp rằng cuối cùng thì nam tử hán đại trượng phu vẫn luôn nên là những kẻ có thể tự tại thoải mái nhất bên trong bộ da của chính mình. Từ đó đến nay, chàng người hùng da màu này vẫn không ngừng quyên góp tài chánh cho quỹ bảo vệ động vật của Peta.

Quả bomb tình dục này đã minh chứng rằng bên trong thân hình căng mẩy ấy không chỉ là các túi silicon mà còn có cả một trái tim vàng và lòng trắc ẩn thiên phú. Pamela là thế hệ celeb đầu tiên tình nguyện hoạt động cho Peta trong các chiến dịch chống thời trang lông thú năm 1999, và kéo dài hoạt động thường xuyên cho đến hiện tại. Mặc dù hình ảnh khỏa thân của Pamela không phải là thứ hiếm có khó tìm bên ngoài các poster của Peta, nhưng ý nghĩa và sức nặng tiếng tăm của Pam đã khiến con số những thành viên không chính thức của Peta tăng lên theo cấp số nhân, và trong đó có rất nhiều là nam giới.

Giai nhân trường phái hoài cổ này không chỉ nổi tiếng bởi những shot ảnh gây ngứa ngáy nhãn cầu trong phong cách pin-up nũng nịu đa tình, mà cô còn được tung hô ái mộ ở tư cách một nhà hoạt động đình đám của phái Peta. Dita bắt đầu hoạt động cho Peta từ 2007, trong chiến dịch kêu gọi ý thức chăm sóc y tế và triệt sản cho thú nuôi để chúng được hưởng một sự chăm sóc chu đáo hơn, và giảm thiểu trường hợp những con thú nhỏ mới sinh bị vứt bỏ. Mới gần đây, trên Twitter của mình, nàng còn hé lộ thông tin về một chiến dịch sắp tham gia cùng Peta cũng không kém phần vừa thiết thực vừa nóng bỏng ngoạn mục.

Nàng là gương mặt ngôi sao nữ đầu tiên tham gia chiến dịch ủy lạo thực phẩm xanh và chết độ ăn kiêng tẩy chay sản phẩm từ động vật năm 2004. Không chỉ ngừng lại ở đấy, Alicia vẫn đang tiếp tục tham gia các hoạt động tuyên truyền và gây quỹ cho Peta.

Việc pose khỏa thân cho một chiến dịch kêu gọi các fashionista và hội sex-addict chuyển sang sử dụng các sản phẩm thời trang bằng chất liệu da nhân tạo hoàn toàn không nằm ngoài nghiệp vụ của cô đào phim khiêu dâm trứ danh Jenna. Nàng đứng xoạc đôi chân nuột nà lừng lững trong bộ nội y bé xíu, đôi gò bồng đảo phập phồng ôm vừa xinh trong cặp áo bằng da đen, mái tóc đen mun, môi đỏ huyết đào và hàng chữ xấc xược đầy khiêu khích “Pleather Yourself”. Sản phẩm da nhân tạo được làm ra từ plastic cũng được ngành công nghệ đồ chơi tình dục ưa chuộng và được sử dụng triệt để trong các bộ phim có sự xuất hiện của Jenna.

Không chỉ với những talkshow lẫy lừng nhằm vào đề tài “Fur-free and Fabulous” (không lông mà vẫn lộng lẫy), tạp chí O của Winfrey còn dành hẳn nhiều tháng để tẩy chay hoàn toàn mọi sản phẩm sử dụng da và lông thú. Không chỉ vậy, PeTA còn nợ Winfrey một món nợ ân tình lớn khi đại tẩu truyền hình đã khiến tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía chính đạo khi dẫn dụ thành công bà đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ Obama liên tục ủy lạo cho các chiến dịch chống thời trang lông thú, bảo vệ và chăm sóc động vật của PeTA.

Nữ hiệp đồng tính của talkshow truyền hình Mỹ tỏ ra tuẫn tiết hơn cả Winfrey khi luôn trực tiếp ủy lạo cho mọi hoạt động bảo vệ và chăm sóc động vật, từ hoang dã đến thú nuôi. Bà là tên tuổi tiên phong và ồn ào nhất trong vụ kêu gọi chấm dứt phong tục thảm sát cá heo tại Đan Mạch, hay hải cẩu tại Canada với cả sự hóm hỉnh lẫn mỉa mai cay nghiệt dành cho cái gọi là sự trưởng thành của đàn ông thanh niên tại hai đất nước này. Mỗi buổi lên sóng của Ellen đều dành một thời lượng không nhỏ cho hình ảnh của các con vật đáng yêu, hoặc những bản tin kêu gọi nhận nuôi các con vật bị bỏ rơi và bạo hành. Mặc với điều tiếng cự nự của không ít người, Ellen còn đứng đầu phong trào kêu gọi hạn chế giết mổ gà tây vào ngày Lễ Tạ Ơn – một phong tục mà theo bà là hoang phí và vô nhân.

Giai nhân có đôi mắt sâu thẳm đã quyết định không chỉ để dành tòa ngọc thể mĩ miều cho người tình kép lịch George Clooney, mà công khai phô phang cho toàn thể nhân dân trong chiến dịch Go Naked của PeTA, đương nhiên là với sự ủng hộ, dù có hơi xót của, của người tình. Nàng còn tâm sự rằng “khoảnh khắc khỏa thân và cảm thấy dễ chịu nhất của tôi không chỉ là trong bồn nước ấm hay trên giường, mà khi đó là trước ống kính trong một chiến dịch như thế này.” Bản thân người đẹp cũng tham gia nhận nuôi những con vật bị bỏ rơi.

“Con nghiện xác” Lindsay Lohan đã tự xóa tên mình ra khỏi danh sách đối tượng đen của PeTA khi bắt đầu xuất hiện thường xuyên hơn với thời trang lông thú nhân tạo, và cả một huy hiệu tẩy chay lông thú đính trên mũ như một thứ bùa hiệu nghiệm chống tàu hũ bay.

Cô đào Yvonne Strahovski từng lẫy lừng danh tiếng qua bom cine Chuck cũng là một activist năng nổ của chiến dịch “Always Adopt, Never Buy” kêu gọi nhận nuôi những con vật bị bỏ rơi thay cho việc mua chúng từ các tiệm bán thú nuôi. Nàng xuất hiện trên tạp chí Modern Dog vốn rất được các diva yêu thú cưng ưa chuộng, kêu gọi độc giả chia sẻ lòng từ tâm với những chú chó mèo kém may mắn bị bỏ rơi và chất vấn các tín đồ thời trang về nguồn gốc của thời trang lông thú.

 …và danh sách không ngừng lại ở đây.

Cừu nhân của PeTA

Dù trong suốt một thời gian dài trở thành bia tập ném được ưa chuộng của các thành viên Peta, bộ sưu tập túi xách của Bà Beck lại một lần nữa thách thức trữ lượng tàu hũ tương cà của phái bạo động cực đoan này khi tung ra bộ sưu tập túi xách tuyền bằng da cá sấu và da bê. Một thành viên Peta tuyên bố thẳng thừng với tờ nhật báo Mirror rằng “có lẽ tàu hũ quá mềm và tương cà quá nhạt với gout Bà Beck, nên cô ta rất nên thận trọng với một xô máu bò thứ thiệt dội thẳng vào người bất cứ lúc nào khi cô ta bước chân ra ngoài.” Với những ai đã từng biết về Peta, đây hoàn toàn có khả năng chỉ là trò dọa suông, bởi vấn đề là liệu sự giận dữ có đủ khiến Peta sử dụng máu thật để làm vũ khí?

Người đại diện chính thức của chi sở Peta tại Anh quốc phủ nhận lời tuyên bố này, nhưng xác nhận rằng UK PeTA đang rất để mắt tới Victoria Beckham: “Chúng tôi không cho rằng Victoria cố tình lờ đi những bằng chứng thực tế về cách thức dã man dùng để giết hại những con vật để khai thác lông và da để phục vụ thời trang xa xỉ. Chúng tôi chỉ e rằng các thông tin, hình ảnh và các thư yêu cầu khẩn thiết từ phía tổ chức PeTA đã không lọt qua nổi hàng rào kiểm duyệt của các trợ lí của cô ta. Bởi không lí nào một người nào đó, dẫu chỉ còn một chút trắc ẩn trong người, lại có thể thản nhiên xem những hình ảnh tư liệu từ các cuộc điều tra của chúng tôi mà vẫn tiếp tục tiêu thụ và ủy lạo sản phẩm từ lông và da thú.”

Với sự cố gắng tuyệt vọng cho mỗi bộ trang phục và mỗi lần xuất hiện, đặc biệt bộ váy bằng những tảng thịt tươi đã khiến Lady Gaga nghiễm nhiên chiếm giữ vị trí thứ 3 trong danh sách đối tượng của PeTA. Sau đêm Gala và sự xuất hiện đáng nhớ đó, ngoài các nhà thết kế và các cây viết thời trang, lời bình phẩm được trông đợi nhiều nhất lại là từ kẻ ngoại đạo Ingrid: “Như bộ váy Lọ Lem vậy! Cô ta mà không nhanh chân về sớm thì bạn thậm chí còn có thể thấy dòi lúc nhúc trên chiếc váy ấy!”, rồi bà đột ngột trở nên sắc lạnh sau câu bông lơn: “Hẳn nhiên là cô ta rất cần còn được để ý tới, nhưng đó không nên là động cơ giết chóc.” Trong khi đó, Nữ Hoàng Làm Quá đang mỏi mòn chống chế cho “tính tư tưởng” trong bộ váy của mình bằng thông điệp “Tôi không phải là một miếng thịt”. Không ấn tượng lắm với cách bao biện lúng túng này, nhưng Ingrid vẫn tỏ nhã ý mời Lady Gaga xuất hiện tại dạ tiệc 30 năm thành lập PeTA, với hi vọng rằng Nữ Hoàng Làm Quá sẽ có cho mình cơ hội thứ hai để bình luận về thông điệp sâu xa của bộ váy nọ.


Cựu người mẫu, tổng biên Carine Roitfeld của Vogue Pháp bị PeTA tấn công ngay trước buổi diễn của Jean Paul Gaultier, Paris Fashion Week. Một tay quá khích xé rách ống tay chiếc váy nhà Balenciaga khi đang cố giằng chiếc áo khoác bằng lông dê màu tím mơ, trong khi những người khác tới tấp ném trứng vào người bà. Điều này không hề làm con nghiện xác thú nặng nghiệp người Pháp nao núng, nếu không nói là hãnh diện tự nhận mình là “kẻ tử vì đạo” sau vụ tấn công trên.

John Galliano, thời còn tại vị tổng lãnh sáng tạo nhà Dior, đã tiếp xúc trực tiếp với Ingrid và lu loa tố tội Bernard Arnault đã đặt lên ông áp lực đưa thời trang lông thú và phụ trang, áo khoác da vào bộ sưu tập để giữ tag giá xứng tầm xa xỉ. Nhưng không lâu sau đó, Petit John tung ra chiếc mũ không chỉ làm bằng lông thú mà từ hẳn da đầu và mặt một chú cáo tuyết bị lột da. Đôi mắt không còn tròng của con vật tội nghiệp khép lại ngay phía trên đôi lúng liếng được trau chuốt tỉ mẩn của người mẫu. Quả là vô giá!

Tay người Mỹ máu lạnh tuyên bố thẳng thừng với Ingri rằng “Có cầu thì có cung. Nếu còn có người mua, tôi sẽ thiết kế bất cứ thứ gì họ muốn!” Điều này cũng đồng nghĩa với hàng ngàn sản phẩm từ lông cừu karakul. Để bảo đảm chất lượng mềm mịn như tơ, những con cừu bị tế cho các diva khát máu phải là những con cừu mới sinh được khai thác bằng “phương pháp” gây sảy thai cho cừu mẹ, hoặc bị đập bằng dùi cui đến chết ngay khi chào đời. Không như mèo con, cừu con mở mắt ngay khi lọt lòng, và ắt hẳn Mẹ Thiên Nhiên không định tạo ra điều này với mục đích rằng hình ảnh một con người đang cố nện vào nó bằng dùi cui sẽ là hình ảnh duy nhất về hành tinh này mà sinh vật mong manh vắn số ấy chứng kiến được. Những con cừu non vô tội không hề biết rằng loài người, một loài người khác, đã có thể tự tạo ra những sợi tơ tổng hợp cho ra một chất lượng không hề kém cạnh bộ lông tơ mịn màng của chúng. Nhưng ắt hẳn Michael Kors phải có biết đến điều này.

Kors chỉ trả lời cụt lủn rằng “Lông cừu non có độ rũ tốt hơn”.

Ai bảo Tất Cả các nhà thiết kế đồng tính là những người mẫn cảm và tinh tế.

Naomi là một trong những gương mặt siêu mẫu tiên phong trên những poster lừng lẫy nhất của chiến dịch Go Naked, và hầu như ngay sau đó không lâu, khoác lên mình cả một chiếc áo lông thú to sù xuất hiện tại một show diễn ở Milan.

Show diễn của Julien Macdonald bị tấn công ngay tại London Fashion Week. Các nhà hoạt động tràn lên catwalk với biêủ ngữ “Fur Is Dead” và hàng vốc bột trắng ném thẳng vào mặt, ngay khi nhà thiết kế vẫn đang điềm nhiên tiến ra runway và cúi chào khán giả.

Không chỉ liên tục tảng lờ, thậm chí chế nhạo tối hậu thư yêu cầu chấm dứt sử dụng lông và da thú, gã đầu đinh mặt thẹo còn tỏ ra khoái trá khi cù nhầy với các nhà hoạt động của nỗi kinh hoàng PeTA

Năm 2003, các trợ lí của Jean-Paul Gaultier đã “phục kích” phái PeTA bằng một tảng lông thú được quăng trùm lên các nhà hoạt động khi họ tấn công show diễn của tay hooligan thời trang khét tiếng.

Trong khi các celeb cỡ bự và không thiếu cả các nhà thời trang thức thời tham gia ủy lạo chiến dịch chống thời trang lông thú, thì phái thủ cựu lại thể hiện sự chống đối yếu ớt và đuối trò. Nhà thiết kế Pháp Quentin Veron tung tràn lên catwalk tuần lễ thời trang Paris những bộ thiết kế với dòng chữ “I’d Rather Wear Fur than go Naked” (Thà mặc lông thú còn hơn ở truồng) như một phản đề đuối hơi với câu thiệu của chiến dịch “I’d Rather Go Naked than Wear Fur”.

Là bia ngắm ưa thích của các nhà hoạt động PeTA, đứng đầu danh sách ăn mặc tệ nhất năm 2005, được mệnh danh là nàng “đầu bong bóng” khi vẫn mạnh miệng gọi bản thân là kẻ yêu động vật, minh chứng bằng cục cưng chihuahua được chưng sắm xa xỉ, nhưng cô nàng “yêu động vật” cũng yêu luôn mặc da của chúng lên người

…và danh sách không ngừng lại tại đây

Đại-tẩu Truyền-thông Anna ‘Winter’

Túy Ca

Với trái tim băng giá và thanh quyền trượng bạo tàn, Lệnh Bà đã một tay nâng tầm tôn chỉ của Vogue từ một cuốn tạp chí hàng tháng của thời trang và lối sống, lên tầm một Nguyệt san Chân Kinh của nghệ thuật sáng tạo và tinh thần duy mỹ.

Và người ta không thể chạm được vào khối băng buốt giá khắc nghiệt ấy, chỉ trong khuôn khổ một cuốn phim ăn khách, dù có được đặt tên là The Devil Wears Prada.

Những cuộc chinh chiến đầu đời của tóc bob

Sinh năm 1949 tại London, trong một gia đình truyền thống văn chương và báo chí, bản thân Anna Wintour lộ rõ tư chất hoàn hảo của một nạn nhân thời trang với những cố gắng không mệt mỏi trong việc cắt ngắn những chiếc váy đồng phục, lê la cặp kè với đám văn nghệ sĩ bất hảo từ năm 14 tuổi. 15 tuổi, nàng cặp kè với Nigel Dempster – phóng viên lá cải khét tiếng và cả hai trở thành những gương mặt điểm danh hàng đêm tại các hộp đêm London.

Dẫu sao thì cha cô, ông Charles Wintour, tổng biên tờ Evening Standard, với mối e ngại về các mối quan hệ xã giao có phần phóng khoáng của ái nữ, đã muốn hướng cô thiên về thời trang hơn là không gian rối ren của báo chí. Ông đích thân lo liệu cho công việc đầu đời của Anna tại hiệu Biba boutique danh giá khi cô mới 15 tuổi. Một năm sau, Anna rời trường và theo học hướng nghiệp tại chuỗi cửa hiệu xa xỉ Harrods. Cũng dưới định hướng của song thân, Anna theo học ngành thời trang, nhưng sớm từ bỏ với lời tuyên bố “Bạn chỉ có thể biết hoặc không biết gì về thời trang, thế thôi!”. Chàng “hiệp sĩ lâm thời” của Anna lúc bấy giờ là tay văn sĩ vị lai Richard Neville đã kịp thời nối nhịp cho Anna với kinh nghiệm báo chí đầu tiên cùng tờ báo tự lập đình đám của chàng, mang cái tên cụt lủn nhưng ồn ào, đặc sệt mùi cao bồi Úc Đại Lợi – Oz.

Năm 1970, tờ Harper’s Bazaar UK sáp nhập với Queen và trở thành Harper’s & Queen, Anna lập tức được thu nhận vào vị trí trợ lí biên tập, cũng là cuộc tiếp cận đầu tiên của cô với khái niệm “truyền thông thời trang”. Ngay từ lúc này, các đồng nghiệp tại Harper’s & Queen đã nghe Anna bộc lộ tham vọng hướng về ghế tổng biên tờ Vogue. Tại đây, Wintour bắt đầu chứng tỏ rằng, những mối quan hệ phức tạp và bất hảo của mình hoàn toàn có thể trở nên có ích cho việc đưa những shot ảnh đình đám của Helmut Newton ra công chúng, theo sau là cuộc đổ bộ ồ ạt của hàng loạt các tay photographer vô danh, bất hảo và tài hoa khác đã chui nhủi dưới tầng nghệ sĩ underground trong suốt những năm 1960 đầy biến động nghệ thuật. Việc này dẫn đến kết quả dễ đoán là nàng bị đá văng khỏi tòa soạn sau một shot ảnh tái hiện họa phẩm của Renoir và Manet với những người mẫu mặc go-go boots.

Anna phẩy tay khinh thị, và cùng tình nhân lâm thời là nhà báo Jon Bradshaw trực chỉ Quả Táo Lớn New York, nơi một môi trường sáng tạo với tư duy thẩm mỹ cấp tiến hơn có thể đang chờ đợi cô.

Những cuộc bạo động thời trang & Mirabella khờ khạo

Năm 1975, Wintour làm biên tập viên thời trang cho Harper’s Bazaar New York, ghi dấu bằng những shot ảnh khiến cô bị đuổi việc chỉ sau 9 tháng. Đây cũng là thời điểm Wintour gặp gỡ Bob Marley qua Bradshaw, cặp đôi thời loạn cùng nhau biến mất suốt một tuần liền.

Một cách kiên trì đáng nể, Bradshaw vẫn sát cánh cùng cô nàng Ăng-lê bất trị, và một lần nữa dẫn dắt nàng đến với một cơ duyên khác với chức biên tập viên thời trang cho tờ Viva, một tạp chí người lớn dành cho quí bà, do Kathy Keeton, vợ của chủ xị tờ Penthouse Bob Guccione. Đây cũng là nơi lần đầu tiên, Anna Wintour nếm trải thú quyền lực của việc có một trợ lí riêng, cũng là nơi tăm tiếng về những trò nạt nộ độc tài của Bà Kẹ Wintour bắt đầu.

Cuối 1978, Guccione quyết định đóng cửa tờ báo, cùng lúc, Wintour quyết định đóng cửa một số thứ khác đã trở nên thừa thãi trong cuộc đời. Cô “thải hồi” tình nhân trung thành Bradshaw và cặp kè với tay sản xuất đĩa nhạc người Pháp Michel Esteban, bay vù vù tới lui giữa Paris và New York trong suốt 2 năm. Mãi đến năm 1980, Wintour tái xuất làng báo vào thời điểm thích hợp nhất, đó là khi biên tập thời trang Elsa Klensch nghỉ khỏi tờ Savvy khi này mới nổi. Với Savvy, Wintour trực tiếp tiếp cận với đối tượng độc giả là các diva sự nghiệp, tân kì văn minh, điệu đàng, và xài tiền do mình tự kiếm ra. Đó chính là đối tượng được thiết lập về sau cho định hướng của bà tại Vogue.

Một năm sau, Wintour nhảy sang tờ New York, nơi cô thật sự như cá gặp nước. Được tổng biên Edward Kosner hết mực cưng chiều dung túng, Wintour mặc sức phá vỡ các quy định nghiệp vụ truyền thống, bao trùm quyền lực thời trang lên mọi trang mục khác của tờ New York. Cũng chính từ đây, Wintour nghiệm ra hiệu ứng vô cùng của những khuôn mặt celeb trang bìa. Grace Coddington, 3 thập niên sau, nhắc lại: “Anna là người đã tiên liệu được thời đại quyền lực của các celebrity”. Người ta thu xếp cho Wintour một cuộc phỏng vấn với tổng biên tờ Vogue lúc bấy giờ là huyền thoại truyền thông Grace Mirabella. Cuộc trò chuyện chấm dứt khi Wintour nói với Mirabella rằng cô muốn vị trí của bà ta.

Đáng tiếc cho Mirabella, bà xem đây là một trò lố của ả biên tập nhập môn, và đã không đủ nhạy bén để cảm nhận tính đe dọa trong sự ngỗ ngược của Wintour để tiệt trừ hậu họa. Một năm sau, Wintour chính thức thâm nhập nhà Vogue, dưới quyền năng của trùm truyền thông-xuất bản Condé Nast. Cô nàng quá quắt chỉ nhận lời yên vị ghế tổng lãnh sáng tạo của Vogue sau một cuộc giằng co hoạnh họe để bảo đảm tăng lương gấp đôi. Nơi đây, các trò oái oăm quá quắt của bà được thực hiện qua mặt Mirabella, dấy lên những cuộc nội chiến phe phái khốc liệt cho cả dàn nhân sự Vogue.

Như một kịch bản hoàn hảo đến hồi dàn trải, Wintour quyết định lấy chồng, và chọn về cho mình vị tiến sĩ tâm lí nhi khoa David Shaffer – một lựa chọn hoàn hảo cho sức khỏe và trí tuệ cho những đứa trẻ về sau. Họ chính thức kết hôn năm 1984.

Từ Wintour đến Winter – Vogue vào Kỷ Băng Hà

Một năm sau, Wintour thẳng tiến vị trí biên tập, tiếp quản Vogue phiên bản Anh sau khi Beatris Miller nghỉ hưu. Ngay lập tức, với thanh quyền trượng mới trong tay, Wintour thực hiện một vụ thảm sát tập thể lẫy lừng chưa từng có trong lịch sử các phiên bản Vogue. Vogue UK thay máu toàn phần.

Những kẻ may mắn còn sống sót sau cuộc thanh trừng bắt đầu một kỷ nguyên khắc nghiệt nhất trong lịch sử nhà Vogue. Các thay đổi do Wintour chủ trương đã khiến tờ tạp chí xa rời hoàn toàn tiêu chí kinh điển, để trở thành một lực lượng xứng tầm cạnh tranh với môi trường báo chí Mỹ phù hoa và hỗn độn. Vào đúng thời điểm Wintour ghi tên mình vào danh sách thế lực truyền thông, bà đặt vào lồng ngực mình một trái tim bằng băng, và trở thành một sinh vật lịch lãm máu lạnh với cái tên có thể được đọc trại thành Anna Win-ter (Anna Mùa Đông)

Với kinh nghiệm chinh chiến từ thời làm cho tờ Savvy, Wintour thiết lập đối tượng độc giả mục tiêu của Vogue và đúng miếng bánh của Savvy: “Ngoài kia, một thế hệ đàn bà khác đang được sinh ra, họ lưu tâm tuyệt đối vào sự nghiệp và thu nhập. Họ không có thời gian cho trò mua sắm nhẩn nha. Họ muốn biết cái gì, tại sao, ở đâu, và bằng cách nào, ngay và luôn!”.

Đại bại ở New York & thảm sát tại Vogue

Năm 1987, đang đà hiếu thắng, Condé Nast biệt phái Wintour tái xuất Nữu Ước, với sứ mệnh thâu tóm luôn tờ House & Garden, khi này đang ngắc ngoải bởi thế lực cạnh tranh của Architectural Digest. Một lần nữa, Anna xuất hiện tại tòa soạn của tờ báo hiền hòa như hiện thân Tử Thần mặt thép, báo hiệu đại họa diệt vong nhân sự. Bà thẳng tay thay máu gần như toàn bộ tòa soạn, tống tờ báo lâu năm vào thẩm mỹ viện và cho xuất hiện một bộ mặt mông má hợp thời. Vị nữ tướng hiếu sát không tiếc thương quăng tất cả các bài viết và bộ ảnh trị giá hơn 2 triệu Mỹ kim vào thùng rác chỉ trong vòng một tuần đầu tiên, phủ đầy vào các trang tạp chí những shot ảnh sặc sụa diêm dúa chất thời trang, và biến House & Garden (Nhà & Vườn) thành House & Garment (Cửa Nhà & Xống Áo), với sự đổ bộ chi chít các khuôn mặt celebrities sáng giá, hợp thời và hứa hẹn cháy sạp.

Nhưng nữ hoàng băng giá đã không luôn là kẻ bất bại. Các thay đổi hồ đồ của Wintour chỉ khiến tình hình “con bệnh” House & Garden tồi tệ hơn. Với tên gọi được thu ngắn lại chỉ còn HG, Wintour đã đánh mất một lượng độc giả trung thành đáng kể. Cùng lúc, khi mà các khách hàng quảng cáo mới đổ ồ ạt các shot ảnh về thời trang và mỹ phẩm lên tờ báo, thì các khách hàng quảng cáo lâu năm lẳng lặng gạt HG ra khỏi chiến dịch quảng cáo của họ.

10 tháng sau, thất thểu bước ra khỏi trận thua trông thấy, Wintour tiếp tục mang chiến thuật của mình tấn công trực tiếp vào mảnh sân nhà – tờ Vogue, lần này với tư cách biên tập. Dưới thời Mirabella, Vogue đã nghiêng hẳn về xu hướng tạp chí lifestyle và giảm nhẹ mảng thời trang. Nội giới truyền thông và thời trang tỏ rõ mối e ngại cho tờ tạp chí lừng danh này sẽ mất dần chỗ đứng vốn đã chênh vênh trước thế lực mới nổi của Elle, khi này vừa tấn công thị trường báo chí Mỹ.

Vẫn với công thức và chiến thuật cũ, “Tử Thần Thực Tử” Wintour lập tức ráo riết và triệt để thảm sát nhân sự, cùng lúc đại trùng tu thẩm mỹ cho tờ tạp chí, từ bìa đến từng shot ảnh bên trong. Thời Mirabella, khuôn mặt trang bìa luôn là các headshot chặt chẽ được thực hiện hoa mỹ trong studio, với những gương mặt model hàng đầu. Ngay từ số đầu tiên cầm quyền, Wintour phà một hơi sinh động lên trang bìa, với những người mẫu vô danh, góc ảnh thoáng, bán thân hoặc toàn thân trên nền ngoại cảnh. Bà trực tiếp nhúng tay vào trang phục, phối trộn loạn xạ giữa hàng thời trang cao cấp với những món hàng rẻ tiền, tiên phong cho cuộc song tác kì thú mix-and-match. Tháng Mười Một, 1988, nàng Michaela Bercu khi này 19 tuổi và còn vô danh, leo thẳng lên bìa Vogue, chân xỏ cặp jeans bạc phếch giá 50 dollars, chiếc T-shirt công phu cầu kì của nhà Christian Lacroix giá sơ sơ 10,000 USD, vĩnh viễn đóng cột mốc shot ảnh bìa đầu tiên trong lịch sử nhà Vogue, jeans lên bìa!

Cuộc đại cải tổ tống mạnh quả bom tấn mới toanh vào thị trường tạp chí, nhắm thẳng thị phần mục tiêu. Wintour nắm vững cách chọn lựa và phối trộn thời trang của các fashionista có thật ngoài đời, và đưa điều đó lên trang bìa danh giá, với một sự cường điệu hóa oái oăm, ngẫu hứng và hoàn hảo của ống kính thời trang.

Trang bìa số tháng Mười 1989 đăng ảnh một model trẻ khác có tên Claudia Schiffer, tóc tơ hoe vàng, mình quấn một thứ nửa như drap trải giường hồ trắng, nửa như áo sơ-mi như tước từ tủ áo người tình, và trang điểm tự nhiên đến mức ngỡ như nàng để mặt mộc toàn phần. Một hình ảnh đời thường được các photographer, chuyên viên tóc và trang điểm trau chuốt đến trong veo và toàn mỹ. Tuyên ngôn của Wintour đã được hoàn thiện: tạp chí là phản ánh của một thứ thực tế được cường điệu một cách công phu và lâm li vi diệu. Các fashionista hẳn nhiên, ưa soi mình vào một trang báo để thấy chính hình ảnh bản thân, nhưng muôn phần hoàn mỹ, hơn là tuyệt vọng trước những shot ảnh bìa hào nhoáng của những tuyệt đỉnh giai nhân được tô vẽ như những huyễn mộng xa vời.

Những cuộc “đảo chính” không thành và những truyền nhân siêu hạng

Dưới trướng cai trị của vị tân tổng lãnh say máu chiến, Vogue chuyển hướng chú mục tuyệt đối vào thời trang, trở về nguyên trạng một tạp chí thời trang đúng nghĩa và chuyên chính cực đoan, hội đủ nội lực để ngang nhiên kèn cựa với các thế lực Elle lẫn Harper’s Bazaar. Nhưng, hơn ai hết, Wintour hạ tầm ngắm đối đầu vào một đối thủ duy nhất đáng gờm – Vanity Fair.

Nằm ngoài dự liệu của Wintour, một lực lượng nhân sự đáng kể của Vogue đồng loạt đào ngũ quy hàng nhà Harper’s Bazaar như một cuộc lánh nạn tập thể khỏi “mùa đông khắc nghiệt” tại tờ Vogue. Kate Betts – kẻ khi này được xem là một mối đe dọa cho vị trí của Wintour, xuất hiện, với những cuộc cách mạng mới ngay trước mũi Wintour. Kate thành công trong việc vươn xa tầm phủ sóng của Vogue với những câu chuyện về các nữ chính khách, những bài viết về trào lưu văn hóa đường phố, và các vấn đề thương mại, tài chính của các nhà thời trang hàng đầu. Betts cũng là người đề xuất việc thêm vào phần “Index” (mục lục) những trang bí quyết lượm lặt, thân thiện và hữu dụng. Các ý kiến đề xuất táo bạo của nhân vật trẻ tuổi này được nêu ra tại các buổi họp khiến cô chiếm được lòng nể gờm của Wintour khi công nhiên thách thức bà.

Lòng kiêu hãnh của một nữ vương khiến Wintour say máu quyết liệt và hung tàn đến lạnh lùng trong những cuộc đụng độ, khi cả hai bên đều muốn hướng mục tiêu tờ tạp chí về những hướng chiến lược đối lập. Betts cho rằng phong cách trang bìa của Vogue đang trở nên nhạt trò, Wintour thì khinh thị những bài viết về trào lưu đường phố của Betts là tầm thường, và nhún vai gọi Betts là loại “đầu rỗng thích làm trò uyên bác”.

Cuối cuộc chiến, Betts tháo chạy khỏi chiến địa tan hoang, kể lể với New York Times rằng ả độc tài tàn nhẫn ấy đã thậm chí không nương thói xã giao tối thiểu mà gửi tặng cô món quà cho đứa trẻ mới sinh. Đáp trả, Wintour, trong thư tòa soạn đăng tải trên Vogue, tỏ lời ghi nhận đóng góp của Betts đối với tòa soạn và chúc cô mọi điều may mắn.

Sau Betts, người được giả định là kẻ có đầy đủ tư cách và năng lực để  thế chỗ Wintour là Sykes, điều này đồng nghĩa với việc một ngày đẹp trời, cô tuyên bố nghỉ việc với lí do tập trung cho sự nghiệp văn chương. Sau đó, lần lượt các biên tập viên khác ra đi, phần lớn được chào đón ưu ái với các chức vị cao tại các tạp chí và hãng truyền thông danh tiếng khác.

Một số người cho rằng đó lại là trò thanh trừng của nữ vương hiếu sát.

Một số khác, vài năm sau, thảng thốt nhận ra Anna Wintour đã biến Vogue thành một môi trường đào luyện báo chí siêu hạng.

Trong khi đó, tại Vogue, một hệ thống biên tập mới được lẳng lặng hình thành, với hình hài một đế chế được kiện toàn hoàn hảo.

Chức sắc Hoàng gia và chiếc váy tệ nhất năm

Tháng Chín năm 2007, Wintour vĩnh viễn ghi dấu lịch sử Vogue với số tạp chí kỷ lục lên tới chính xác 832 trang. Sự kiện này được ghi dấu lại bởi bộ phim tài liệu tung ra cũng vào tháng Chín 2 năm sau đó do Cutler đạo diễn mang tên The September Issue. Đây cũng là thời điểm Wintour tiên liệu và thai nghén những đứa con của Vogue mang tên Teen Vogue, Vogue Living và Men’s Vogue. Teen Vogue thắng quảng cáo vượt mặt Elle Girl và Cosmo Girl, còn Men’s Vogue ngay từ số đầu tiên đã nghiễm nhiên ẵm trọn 164 trang quảng cáo cháy chợ, lập kỷ lục chiến tích trong lịch sử xuất bản truyền thông Condé Nast. Còn bản thân Nữ Hoàng Băng Giá nghiêng mình lịch lãm nhận từ Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị tước hiệu Officer of the Order of the British Empirer (OBE).

Nhưng cùng lúc, đó đã không hề là một năm yên ả thịnh vượng cho toàn cảnh kinh tế thế giới. Sau hình ảnh những tảng diềm bằng lông vũ vào tuần lễ thời trang Milan, đến shot bìa tháng Tư với hình ảnh LeBron James và Gisele Bundchen đã khiến Wintour rơi lọt thỏm vào tâm bão chỉ trích của công luận với tội danh kỳ thị chủng tộc. Một tháng sau, Wintour xuất hiện tại đêm Gala của Viện Met trong bộ váy lộng lẫy do Karl Lagerfeld thiết kế và lập tức được nội giới đồng loạt bình chọn là “Lỗi thời trang tệ lậu nhất năm 2008”

Vào mùa Thu cùng năm, tờ Vogue Living bị đình chỉ vô thời hạn, trong khi quý tử Men’s Vogue phải o ép lại còn 2 số mỗi năm, và chỉ dưới dạng phụ trương đính kèm. Vào cuối năm, bìa số tháng Mười Hai chạy rõ to lời miệt thị của Jennifer Aniston về Angelina Jolie khiến cả hai cô đào nổi trận lôi đình, Aniston trút mọi tội lỗi thất thố lên Vogue.

Người ta chờ đợi thấy Nữ Hoàng Băng Giá run rẩy giã từ cung điện bằng băng.

Thậm chí giới nhạy tin còn kháo nhau rằng vương miện tổng lãnh phen này chắc chắn rớt trúng cái đầu may mắn của tổng biên Vogue Pháp là Carine Roitfeld. Phe khác lại bỏ phiếu cho tổng biên Vogue Nga là Aliona Doletskaya để vào ghế tổng biên Vogue Mỹ.

Người ta chờ đợi một triều đại mới, chấm dứt kỷ băng hà của mùa Đông khắc nghiệt và những bộ lông thú xa xỉ mà Wintour vẫn thường vứt phũ phàng trên bàn trợ lí, trên đường “thượng triều” mỗi sáng.

Nhưng một lần nữa, Condé Nast minh chứng uy quyền và thế lực bảo kê khi đứng ra mua trắng cả trang trên The New York Times để trực tiếp lên tiếng tụng ca Nữ Oa nhà Vogue.

Nhưng đến 2009, Nữ Hoàng Băng Giá mới chịu ra tay. Bà xuất hiện khắp nơi, điềm nhiên ngạo mạn trước rừng flash. Xuất hiện trong bản tin truyền hình 60 Minutes, Wintour tuyên bố không hề có ý định ngừng lại: “Tôi cho rằng, đây chính là thời điểm thú vị nhất để tại vị và nắm quyền chủ động, đưa Vogue vào một thời kỳ mới”. Tháng Chín cùng năm, bộ phim tài liệu The September Issue của R.J.Cutler được tung ra, tường thuật quá trình chuẩn bị số tạp chí huyền thoại – Vogue tháng Chín 2007, và một chân dung tả thực hoàn hảo, đầy ấn tượng về Nữ Hoàng Băng Giá.

Wintour tiếp tục xuất hiện trên talkshow Late Show with David Letterman, ăn mặc chuẩn không chê vào đâu được, và nói về bộ phim, về hệ quả kinh tế toàn cầu lên toàn cảnh công nghệ thời trang thế giới. Hiệp hội Biên tập Tạp chí Hoa kỳ bình chọn Wintour vào Hành lang Danh vọng của huyền sử truyền thông Hoa Kỳ. Anna Wintour tại vị, lạnh lùng và bất bại hơn bao giờ hết.

“God mother”

Trong suốt những năm dài lừng lẫy chiến công và tai tiếng, Anna Wintour đã trở thành một cái tên đầy quyền lực trong làng thời trang thế giới. Nội giới thời trang biết đến Wintour còn như một “bà đỡ” hào phóng của các nhà thiết kế trẻ, một fashion diva với các cuộc chơi phong cách ngoạn mục. Trong giới, người ta thường nghe câu mắng mỏ dành cho các sinh viên thiết kế và biên tập viên tập sự: “Anh/chị có muốn tôi mang cái thứ này cho bà Anna coi không đấy?”. Tờ The Guardian gọi bà là “nữ thị trưởng không chính thức” của New York City. Các nhà thời trang khét tiếng nhất coi bà như một diva đáng trọng, và tìm đến sự khôn ngoan của bà để tham vấn. Wintour đã là người khuyến khích nhà Christian Dior tuyển mộ các tài hoa trẻ tuổi như John Galliano.

Ảnh hưởng và quyền lực Wintour còn vươn ra khỏi lãnh địa thời trang. Wintour đã dùng mối quan hệ và uy tín cá nhân để thuyết phục tỉ phú Donald Trump cho Jacobs mượn phòng khánh tiết Plaza Hotel để giới thiệu bộ sưu tập, khi tay thiên tài này đang lúc xính vính chuyện tiền nong. Gần đây hơn, anh em nhà Brooks cũng vị nể Wintour, thuê về một tay Thom Browne vô danh mà về sau đã tự tay gầy dựng cả một đế chế nhỏ cho riêng mình.

Thu nhập của bà năm 2005 là 2 triệu Mỹ kim, với những đặc quyền đặc lợi dành cho yếu nhân tối thượng, từ chiếc Mercedes S-Class kèm chauffeur (ở New York hay bất cứ đâu), đặc quyền mua sắm có giá trị lên tới 200,000 USD, một căn Coco Chanel Suite tại Ritz Paris khi đến Âu châu tham dự các show iễn. Chủ tịch Condé Nast là S.I.Newhouse còn dành riêng cho Wintour một khoản vay không tính lãi 1.6 triệu Mỹ kim để sắm căn nhà “con con” của bà tại khu Greenwich Village thượng đỉnh xa hoa.

Bữa trưa với protein ngoài vùng phủ sóng

Vào thời điểm Wintour ly dị với chồng, năm 1999, giới thợ đồn lại sôi sục các chi tiết về cuộc phiêu lưu ái tình của Bà Chúa Băng Giá với tay tài phiệt Shelby Bryan – điều nhiều người cho rằng là nguyên nhân chính của vụ ly dị. Wintour quyết không nhả một phản ứng nào qua làn môi mỏng và cặp kính đen, trong khi một số bạn bè thân tín của bà tiết lộ rằng Bryan chính là người đã làm tan chảy trái tim băng giá nọ, bởi những điều người ta có được, không phải là những nụ hôn nơi công cộng hay một cảnh nóng phòng the! Đương nhiên, đây là trường hợp một phù thủy truyền thông quá cáo già để làm nạn nhân cho trò cải vặt. Nhưng những chứng cứ hiển nhiên của một số nguồn tin của tờ Observer khi ấy cho biết, họ “bắt quả tang” những hiện tượng hiếm thấy: Wintour cười, và đôi khi còn cười phá lên.

Quả nhiên điều này đáng được xem là hiện tượng hiếm thấy, với mật độ ngang bằng việc quái vật hồ Loch Ness lên bờ sưởi nắng, và thậm chí thưa thớt hơn các cuộc tiếp xúc của con người với UFO.

Wintour tuân thủ một cách bình thản và khắc nghiệt những quy luật của chính mình. Bà thức dậy mỗi sáng vào lúc 6 giờ, có 2 giờ đồng hồ để chơi tennis, trang điểm và làm tóc trước khi thượng triều tại tòa soạn Vogue. Bà luôn có mặt sớm tại các show thời trang và tận dụng thời gian này để gọi điện thoại và ghi chép: “Không ít những ý tưởng sáng giá nhất của tôi đã được phác thảo ngay tại các show diễn”. Theo series truyền hình Boss Woman của đài BBC, Wintour không bao giờ ở tại một party quá 20 phút và luôn bảo đảm lên giường vào chính xác 10 giờ 15 phút hàng đêm.

Những giờ còn lại trong một ngày của Wintour, ngoài việc kiểm soát hoàn hảo bản thân, là một áp lực kiểm soát khắc nghiệt nhất có thể lên hình ảnh của tờ tạp chí. Từ những ngày đầu tiên ở vị trí biên tập, mọi photographer đều được lệnh tuyệt đối không bấm máy trước khi phông cảnh và trang phục được đích thân Lệnh Bà Tối Thượng phê chuẩn qua bản phim Polaroids. Sau đó, mọi shot ảnh đều phải được lập tức trao cho tòa soạn và trở thành tư liệu sở hữu của Vogue lập tức, không qua khâu chọn lựa của nhiếp ảnh gia.

Nhưng chế độ hà khắc của Bà Mùa Đông lại tỏ ra khá dễ dãi đối với phần nội dung chữ nghĩa, đến mức người ta gọi bà là “Tổng biên không cần biết đọc”. Các trợ lý của Wintour khẳng định Lệnh Bà vẫn thường xuyên duyệt nội dung bài mục, nhưng cựu biên tập Richard Story lại tiết lộ rằng hầu như Wintour chẳng bao giờ buồn ghé mắt đến các bài viết về nghệ thuật, hay thậm chí mục điểm sách của Vogue. Trước đây, Wintour thậm chí bỏ mặc việc soạn và biên tập các phần text cho các nhân viên. Các đồng nghiệp cũ của bà cũng thừa nhận văn chương báo chí là một trong những sở đoản của Lệnh Bà, và sự phấn đấu tự rèn luyện của Wintour đã cho phép bà tự tay thảo phần thư tòa soạn mỗi tháng.

Nếu gọi điện đến văn phòng riêng tại “cung điện Mùa Đông” của bà, người ta, nếu may mắn, sẽ được trả lời trực tiếp bởi 1 trong 3 trợ lý của Wintour. Nhưng đã không ít lần, một số người đã giật bắn mình khi tai nghe thốt nhiên lạnh cóng, và đầu dây bên kia vang lên đích thị chất giọng Ăng-lê với khẩu hình sát rìn rịt của Lệnh Bà Quyền Năng. Số điện thoại di động của bà, hẳn nhiên, chỉ dành cho những bạn bè và đối tác thuộc hàng yếu nhân kiệt xuất, nhưng cũng được tắt nguồn hoàn toàn khi Lệnh Bà dùng bữa trưa, thường là với một miếng thịt bò bự sự hay thi thoảng là hamburger. Những bữa ăn giàu protein là thứ duy nhất phản-thời-trang người ta có thể tìm thấy được trong hồ-sơ-Wintour.

Đừng nhìn qua “đôi mắt” của Anna!

Bản thân là một fashionista nặng nghiệp, cùng với đẳng cấp và hình ảnh xã hội cần có của một tổng lãnh Vogue chí tôn lừng lẫy, tủ quần áo riêng của Bà Chúa Băng Giá là một thế giới mẫu mực tuyệt đối và đầy tính toán trên từng chi tiết. Trước đây, người ta vẫn thấy một Wintour phối trộn T-shirt với áo gi-lê và designer jeans, nhưng từ thời cầm phương trượng tổng lãnh tờ Vogue, Wintour chạm đến sự chuẩn mực đẳng cấp thuần túy nhất của những bộ suits Chanel, đương nhiên là với váy ngắn, rất ngắn. Thậm chí trong suốt hai lần mang bầu, bà chỉ việc hơi nới lưng váy phía sau và che phủ bằng áo jacket, với đôi giày cao gót – biểu tượng của quyền lực và sự sành điệu, không bao giờ biến mất dưới chân.

Theo tay chuyên viết tiểu sử Jery Oppenheimer, cặp kính mát gọng to trứ danh của Bà Mùa Đông chính là những cặp tròng kính có độ, do Wintour có thị lực kém giống cha mình, một đồng nghiệp khác thú nhận một lần, do táy máy đeo thử cặp kính Wayfarers của Lệnh Bà, mà cô này vẫn nghĩ là kính mát, và thói nghịch dại lập tức bị “trừng phạt” với một trận chóng mặt quay cuồng bởi cặp tròng nặng nghiệp.

Trên bản tin 60 Minutes, Bà Mùa Đông tỏ ra mẫn cảm khi nói “Giờ đây, chúng (cặp kính) đã trở thành những cái khiên bảo vệ đối với tôi”. Trên thực tế, cánh phóng viên và bình luận thời trang đừng hòng tìm kiếm trong đôi mắt của bà bất cứ cảm xúc hay phản ứng nào trước các thiết kế trong những buổi diễn thời trang. Nhưng một cách vô thức, khoảnh khắc người ta nhìn thấy cặp kính đen dưới vành tóc bob ở hàng ghế đầu, đã đủ khiến không ít cái sống lưng kém chịu lạnh phải run lên. Nhưng người ta vẫn không thể không liếc tìm về cặp gọng to vô hồn ấy, để hứng vớt dẫu một chút dấu hiệu của sự tán thưởng hay bài bác chê bôi. Thản nhiên đúng chuẩn Ăng-lê, bên dưới cặp kính ấy, Lệnh Bà tỏ ra hoàn toàn lạnh lùng và vô cảm. Bà dấu sau cặp kính cú mèo và dưới mái tóc pageboy bob một bộ óc thép, cùng một khiếu thẩm mỹ khắc nghiệt đang vận hành hết tốc lực, nhưng hoàn toàn không có nhu cầu thể hiện hoặc sẻ chia.

Những lần hiếm hoi người ta nhìn thấy đôi mắt thật của Wintour, rất may đã không ai hóa đá. Có vẻ như sau cuộc ly hôn, Bà Mùa Đông cũng có nhu cầu cởi mở hơn, và đón về cho mình chút ánh sáng ấm áp ngoài bóng râm.

Phản đồ Weisberger và đòn bẩn best-seller

Mọi fashionista đều phải biết đến bộ phim Quỷ Cái Diện Prada (The Devil Wears Prada).

Nhưng không phải ai cũng biết đến cái tên Lauren Weisberger hay có nhu cầu quan tâm đến nhân vật này là ai.

Và mọi chuyện đều có lí do của nó.

Lauren là một trong những trợ lí cũ của Wintour, và viết nên tiểu thuyết The Devil Wears Prada sau khi rời bỏ Vogue. Cuốn tiểu thuyết lập tức được liệt vào hàng sản phẩm văn học hiếm hoi được các fashionista lùng mua ráo riết, không phải bởi tiếng tăm tác giả, mà vì thông tin về cốt truyện và nhân vật hầu như tái hiện trung thực các thâm cung bí sử của tòa soạn Vogue, với chân dung đặc tả của vị nữ chủ nhân lạnh lùng. Càng thú vị hơn nữa khi đây là trường tâm ca uất ức của một cựu trợ lí dám công nhiên tố oán diva thượng đỉnh chí tôn của giới thời trang.

Sau khi cuốn sách được tung ra, người ta đón đợi cơn lôi đình thịnh nộ của Bà Mùa Đông và những đòn giáng trả ngoạn mục của quyền năng bị xúc phạm. Nhưng Wintour, lạnh lẽo như vẫn hằng, điềm tĩnh trả lời với The New York Times rằng: “Tôi luôn có thể đọc một cuốn tiểu thuyết, nếu nó hấp dẫn. Với cuốn này, tôi không rõ liệu mình có muốn đọc hay không”, trong khi nữ văn sĩ mới nổi Weisberger tuyên bố rằng các tình tiết và mô tả trong cuốn truyện không chỉ là ý kiến của riêng cô, mà còn dựa trên chia sẻ của rất nhiều đồng nghiệp khác tại Vogue.

Miranda Priestly – nhân vật chính cũng là một quý bà Ăng-lê kiểu cách, với 2 đứa con, và một vai vế đáng kể với Viện Met. Đó là bức chân dung hoàn hảo của một tay quân phiệt độc tài mặc váy, luôn ngạo mạn khạc ra những mệnh lệnh trớ trêu, đặt nhân viên vào những tình thế khó khăn nhất và miệt thị họ một cách lạnh lùng, cay nghiệt khi, đương nhiên, họ thất bại. Kẻ có khả năng khiến tất cả những tạo vật còn lại của Thượng Đế thấy mình bé nhỏ, hèn kém và vụng về. Tuy vậy, nằm ngoài chủ đích của tác giả, đối với không ít fashionista, cuốn tiểu thuyết đã đặc tả một cuộc chạy đua tuyệt vọng của các nhân viên tòa soạn Vogue trên đường dành giật lấy một chút lòng sủng ái mưa móc của Lệnh Bà Quyền Năng.

Ngay trong từng tiểu tiết hành văn của Weisberger, cô vẫn không giấu được một nỗi khiếp sợ yếm thế toàn phần khi chính mình luôn tìm cách làm đẹp lòng Wintour, và luôn thất bại. Weisberger xây dựng cho mình một thế giới an ủi của các con chữ, nơi cô cho phép nàng trợ lý vụng về mờ nhạt được “chạm” đến đại nữ Miranda, và ra đi, trong an nhiên tự tại. Trên thực tế, chính những con chữ của Weisberger đã tố cáo chân dung tác giả qua những trang văn, hằn học và vẫn hoàn toàn thất thế.

Một người mà nội giới vẫn tin là một nạn nhân khác của Wintour, Betts – người đã từng bị sa thải khỏi Harper’s với lời đồn đại về xu hướng manh nha cạnh tranh và đảo chính vị thế của Wintour, đã bất ngờ nói với New York Times Book Review rằng “cô Weisberger lẽ ra nên nghĩ cho kỹ trước khi bán linh hồn cho “quỷ dữ” với giá 32,500USD. Cô ta có cho mình hàng ghế đầu lí tưởng để được kề cận Wintour, và thậm chí không rút ra được tí ti hiểu biết nào về những áp lực mà một đại nữ như Anna Wintour phải đối mặt. Như vậy, thử hỏi ở tư cách một tiểu thuyết gia, làm sao cô ta hiểu được một Miranda Priestly sẽ cần những gì để có thể tái hiện, dù một chút, một Anna Wintour?”.

Weisberger về sau chống chế “Chưa một giây phút nào tôi phủ nhận vinh dự từng được là một trợ lý của Anna.”

Dẫu sao thì cuốn sách vẫn bán rất chạy, không hẳn bởi tên tuổi Weisberger.

Cú phản đòn tuyệt hảo và “bà mụ” vắng mặt trong dạ tiệc premiere

Sự nhạy bén của Hollywood không bỏ qua cơn sốt mang bóng hình Quỷ Cái, mặc dù bộ phim The Devil Wears Prada không hề là lần đầu tiên hoặc duy nhất các nhà làm phim mượn màu tích cách Wintour. Từ kiểu tóc bob của nhân vật hoạt hình Edna Mode trong The Incredibles, cho đến cuộc sao chép tính cách Wintour của Johnny Depp khi nhập vai Willy Wonka trong Charlie and the Chocolate Factory. Và đương nhiên, không tín đồ nào không biết nhân vật Fey Sommers trong series truyền hình Ugly Betty là phiên bản hài hước của Đại Nữ Truyền Thông.

Nhưng phiên bản điện ảnh của The Devil Wears Prada lại là chuyện khác. Trong suốt quá trình thực hiện bộ phim, diva truyền thông thẳng thắn ‘nhắn nhủ’ với các nhà thiết kế hàng đầu rằng việc hợp tác, đóng góp hay xuất hiện của họ trong bộ phim (chuyện vẫn thường xảy ra với các bộ phim Hollywood mang đề tài thời trang) sẽ đồng nghĩa với việc các thiết kế và thông tin về họ sẽ bị tẩy chay khỏi mọi trang tạp chí Vogue. Nhưng người phát ngôn của Lệnh Bà bác bỏ tin đồn này, và khẳng định Lệnh Bà luôn ủng hộ mọi động thái úy lạo thời trang từ các nhà làm phim. Thật hư không rõ, nhưng kết quả là không một nhà thiết kế nào, dù được nhắc đến rất nhiều trong kịch bản, nhận lời xuất hiện trên phim, ngoại trừ Valentino Garavani – người mà ai cũng biết là đứng đầu phong trào “bài Wintour” của các nhà thời trang Ý.

Bộ phim ra mắt vào giữa 2006, cháy vé đảo điên. Wintour đường bệ xuất hiện tại lễ ra mắt, mình vận Prada. Miranda Priestly do Meryl Streep thủ diễn vẫn đầy tính nhân văn so với hình ảnh độc địa trong nguyên bản văn học. Các nhà phê bình ca tụng hình ảnh mới, các nhà thiết kế và nội giới thời trang tung hô nghĩa cử và gout thẩm mỹ cao siêu của bà tổng biên Vogue khi được cho biết, bà đã đích thân can thiệp và chăm chút cho phong cách thời trang của Meryl trong bộ phim cho giống với mình hơn. Chưa hết, Lệnh Bà hào hiệp nhân từ của bộ phim còn tuyên bố The Devil Wears Prada sẽ sớm được tung ra dưới dạng DVD. Bà khen tặng rằng đây là một cuốn phim “thú vị, giàu tính giải trí, và đưa thời trang về đúng hình hài lộng lẫy của nó”.

The Devil Wears Prada thu về 300 triệu Mỹ kim, và không còn ai nhắc đến nguyên tác văn học của nó, cùng nữ tác giả mới nổi đã kịp trở về vô danh. Một vài dòng tin có nhắc đến sự hiện diện của Weisberger tại buổi ra mắt phim đình đám, nhưng không thấy có hình ảnh nào ghi nhận điều này.

Điều này vẫn chưa đủ “tính giải trí” cho Lệnh Bà. Khi Weisberger, trong một cuộc gắng sức cuối cùng, định ấp ủ một cuốn tiểu thuyết mới, cô đã nhận được lời truyền đạt từ phát ngôn viên của Lệnh Bà, khuyên cô nên “tìm một công việc làm trợ lí cho một ai đó khác”.

Đừng làm phiền Anna!

Dư chấn của cú phản đòn tuyệt hảo và bộ phim vẫn tiếp tục ve vuốt hình ảnh và danh tiếng Wintour. Nhà viết tiểu sử Oppenheimer kể lại: “Giờ thì cái tên Anna được nhắc đến giữa những bữa trưa bình dân với Big Macs và khoai chiên, bởi những fashionista chanh cốm mình bận đồ Wal-Mart”.

Nhưng cuộc trả đũa của Bà Chúa Băng Giá chưa kết thúc. Ba năm sau đó, bộ phim tài liệu The September Issue ra mắt – một chân dung tả thực, công nhiên và hoàn hảo, biến Miranda Priestly trở thành một bản biếm họa thô sơ. Bộ phim tả thực mọi biến cố sự vụ xảy ra bên trong “cung điện mùa đông” Vogue, với sự xuất hiện hào phóng của những tình tiết đời thường, nhưng hào nhoáng và bạo liệt của một tòa soạn thời trang thực thụ trong áp lực hoàn thiện cuốn tạp chí thời trang dày hơn 800 trang. Nơi đó, Wintour xuất hiện, đầy quyền lực và thượng đỉnh chí tôn, không chỉ như một nữ chúa thiết triều, mà thật sự là một vị hoa tiêu điệu nghệ và không khoan nhượng.

Dẫu khác biệt về thể loại và chủ đích, cả The Devil Wears Prada lẫn The September Issue đều có chung một nét đặc tả về sự kiêu ngạo và xa cách của Wintour, thậm chí đối với cả những kẻ thân tín nhất. Mọi nhân viên tập sự của nhà Vogue đều được cảnh báo về điều này, một danh mục “Những điều Lệnh Bà không thích”, với điều đầu tiên và cơ bản nhất là việc bị làm phiền bởi những câu hỏi ngớ ngẩn và sự hiện diện thừa thãi. Văn phòng riêng của Lệnh Bà phải có không gian đủ rộng để khiến người ta phải đi bộ ít nhất một dặm trước khi đến được bàn làm việc của bà, và điều này là hoàn toàn có chủ đích. Họ có một dặm đi bộ để cân nhắc liệu việc tiếp cận bà có thật sự khôn ngoan và cần thiết.

Wintour vẫn thường nhắc đến hình ảnh thân phụ, người từng được các đồng nghiệp và nhân viên tại tờ Evening Standard London rùng mình gọi bằng hỗn danh “Chilly Charlie” (Charlie Lạnh Lẽo). Và sự rùng mình ấy lan tỏa đến tận New York nhiều thập niên sau đó, dành cho con gái của ông với biệt hiệu Anna Winter (Anna Mùa Đông). Nhưng điều này cũng đồng nghĩa với những cơn thịnh nộ bốc đồng, một thứ núi băng lạnh lẽo nhưng có thể phụt nham thạch rát mặt bất cứ kẻ xấu số nào trong phạm vi gây hại. Nhưng một điều khác trong bản liệt kê “Những điều Lệnh Bà không thích” còn là việc đặt biệt danh. Wintour ghét cái tên Nuclear đến mức giận dữ yêu cầu tờ The New York Times không được sử dụng, truyền bá cái tên này.

Wintour ngạo ngược, khắc nghiệt và hoàn toàn có thể rất, rất thô lỗ. Điều này đem lại cho bà một số lượng nạn nhân và cừu nhân đáng kể. Wintour không nói chuyện vòng vo hay cố tỏ ra tế nhị, và Wintour không có mặt ở tòa soạn với ý định kết bạn với các nhân viên của mình. Nói một cách khác, nếu bạn ngỡ rằng bạn vừa đứng chung thang máy với Anna Wintour thì quên ngay đi, đó chắc chắn không phải là Anna Wintour. Một luật bất thành văn khác tại nhà Vogue nghiêm cấm các nhân viên tập sự trao đổi trực tiếp với Lệnh Bà. Một biên tập viên đã từng bị trợ lí của bà quở trách thậm tệ vì việc đã lên tiếng chào hỏi bà khi gặp trong thang máy. Khi vụ việc được xác minh với Wintour, bà bảo đó chỉ là một cách nói cường điệu. Có lần, một vị khách của Wintour nhìn thấy một cô nhân viên tập sự rõ ràng là đã phát hoảng lên khi phát hiện ra mình đang đứng cùng Lệnh Bà trong thang máy. Một lần khác, một biên tập viên trông thấy Lệnh Bà tối cao trượt chân ngã trong hành lang, cô cắm mặt đi vội qua và thậm chí không dám ngừng lại để đỡ Đại Nữ. Ngay sau đó, cô gái tội nghiệp lại một phen bất ngờ khi được một trợ lí của Lệnh Bà khen rằng cô “đã làm một việc hoàn toàn đúng khi không làm phiền madamme Anna.”

Vụ ám sát bất thành và Mùa Đông được ủ ấm

Một nét đặc tả chuẩn xác nữa về Wintour là sự cầu toàn và duy mỹ cực đoan – nguyên nhân thường xuyên tạo khủng hoảng tâm lý cho mọi nhân viên quanh bà, nhưng lại khiến họ trở thành những tay sừng sỏ một khi bước ra khỏi tòa “cung điện mùa đông”. Họ gọi bà là “nữ đao phủ” của các nhiếp ảnh gia. Có lần Wintour đã bắt một nhân viên tập sự phải cắm mặt bới tung thùng rác của một photographer để tìm cho ra tấm ảnh mà ông này đã từ chối không trao cho Wintour. Bà muốn nhìn thấy tất cả, và đích thân phê chuẩn từng shot ảnh. Điều đó đồng nghĩa với việc ngay cả những shot ảnh hỏng cũng là tài sản của Vogue, và một shot ảnh bị bỏ đi khi chưa được chiếu rọi qua sự kiểm duyệt của đích thân Wintour sẽ là một tài sản bị đánh cắp. Trong một scene, sau này đã được loại bỏ, của The September Issue, người ta thấy Wintour rùng mình ghê rợn bởi “những cái xô bằng nhựa trắng tởm lợm” đựng đá sau quầy bar tại sự kiện CFDA’s 7th on Sale, và nằng nặc đòi “mang chúng đi đâu cho khuất mắt ngay lập tức”. Nếu Anna muốn một điều gì đó được thực hiện “ngay lập tức”, thì không có nghĩa là “một chút nữa”. Anna muốn điều Anna muốn, ngay và luôn, và mọi nhân viên của bà tốt hơn là thuộc nằm lòng điều ấy. Một trợ lý lâu năm của bà nói: “Bà ta sẽ quăng bạn xuống nước, hoặc là bạn phải quẫy hết mình để bơi, hoặc là chết”.

Hẳn nhiên, Wintour cũng có về cho mình, từ chế độ độc tài hà khắc ấy, những kẻ chỉ muốn cắt cổ bà. Peter Braustein – một phóng viên của Women’s Wear Daily là một trường hợp như vậy, và theo nghĩa đen. Nguyên nhân chỉ vì y đủ mẫn cảm để lãnh hội được sự khinh thị mà bà dành cho y, đó là trong trường hợp nếu bà có lưu tâm ghi nhận sự tồn tại của y trên cõi đời. Sau khi được nhận chỉ một chiếc vé để có mặt tại giải Vogue Fashion Awards 2002, mà đối với y là một sự sỉ nhục, Braustein nổi đóa và bị WWD đuổi việc. Trong buổi xét xử năm 2007, các ủy viên công tố đưa ra bằng chứng là những trang nhật ký điện tử của Braustein, trong đó ghi rõ ý định giết chết Anna Wintour. Trong đó, có đoạn “Bà ta chẳng bao giờ thèm nói chuyện với đám thợ đưa tin như chúng tôi”.

Nhưng từ những năm đầu thập niên 2000, khi mà thế giới thảng thốt về hiện tượng băng tan ở Nam Cực, thì tại New York, người ta cũng bắt đầu nhận thấy hiện tượng tương tự xảy ra với Wintour, tất nhiên là với một thái độ hân hoan hơn rất nhiều. Người ta gán công trạng này cho nhà tài phiệt Bryan, nhân tình mới sau hôn nhân của bà. Họ rỉ tai nhau “Ơn Chúa, Lệnh Bà lại được sưởi ấm đêm qua.”

Quái vật khoác lông thú và món quà Giáng sinh tàn độc

Dẫu hoàn hảo trong vai trò Nữ Oa nhà Vogue và Mẹ Nhân Từ của các designer lớn nhỏ nổi chìm các loại, Bà Mùa Đông lại là tội đồ hàng đầu trong danh sách công kích của các nhà hoạt động bảo vệ quyền động vật. Không chỉ ngang tàng xuất hiện khắp nơi ở tư cách trend-setter trong những kiểu áo bằng lông thú chánh hiệu xa xỉ, kích hoạt làn sóng noi gương của fashionista trên thế giới, những nơi may mắn có mùa Đông và còn động vật. Không chỉ thế, các trang tạp chí của Vogue cứ vào gần cuối năm lại phủ ngập những shot ảnh với những thiết kế bằng lông thú đẹp lẫy lừng, khiêu khích từng nơ-ron shopping của các tín đồ. Cuối cùng, việc Lệnh Bà thẳng thừng từ chối bán trang quảng cáo cho các chiến dịch bảo vệ môi trường đã kích hoạt trực tiếp vào bản năng quá khích của các nhà hoạt động xã hội.

Động thái này không khác gì một tuyên ngôn ngạo mạn, chiếc then kiên cố cuối cùng thả sập vào mũi Đảng Xanh, cô lập họ hoàn toàn bên ngoài thế giới thời trang. Bên trong Hàn Cung giá lạnh, Wintour vẫn tiếp tục lộng hành tung ra những shot ảnh tràn trề lông thú, với thông điệp cổ súy “Luôn luôn có cách để khoác một tấm lông thú lên người”, khiến thị trường thời trang rào rạt tiếng quẹt thẻ điên cuồng của các shopper hiếu sát.

Điều này cũng đồng nghĩa với việc Anna Wintour chính thức trở thành hồng tâm tập chọi tàu hũ, tương cà – hai vũ khí truyền thống và chiến lược của mọi thành viên Đảng Xanh. Tháng Mười năm 2005, nguyên một bánh tàu hũ đáp bét nhè lên người Lệnh Bà ngay bên ngoài cuộc diễn của nhà Chloé. Lần khác, một tay quá khích khác vứt toẹt một xác gấu trúc Mỹ lên đĩa ăn của Lệnh Bà ngay giữa nhà hàng. Bà Mùa Đông chỉ lạnh lùng yêu cầu nhân viên phục vụ thay đĩa mới cho mình, đương nhiên là “ngay và luôn”!

Thái độ đáp trả của Wintour không chỉ dừng ở sự bỉ bai hờ hững. Bà còn ngang ngược dành cho họ những cú đòn bẩn đầy mỉa mai tàn độc. Giữa buổi dạ tiệc Giáng sinh tại văn phòng, vị nữ vương ngạo nghễ đã cho người gửi một đĩa thịt bò ra cho các nhà hoạt động bảo vệ động vật, khi này đang biểu tình bao vây đại bản doanh Vogue.

Thái độ bất chấp và ngạo mạn của Wintour đã khiến cả những kẻ vốn ơ thờ với vấn đề nhân đạo và môi trường phải lên tiếng. Sát nhân hụt đã hằn học ghi lại trong bản tuyên ngôn điện tử của mình rằng Wintour sẽ bị đày xuống địa ngục, canh giữ bởi những con chuột khổng lồ, nơi ắt hẳn sẽ không quá lạnh để cần đến những kiểu áo lông. Cô đào ‘bom tấn đôi’ Pamela Anderson, trong một cuộc phỏng vấn đầu năm 2008, tuyên bố rằng Wintour là loại sinh vật mà nàng khinh bỉ tận cùng xương tủy nhất vì “mụ ta đã đàn áp các nhà thiết kế và người mẫu trẻ để ép họ sử dụng lông thú.”

Grunge tuyệt chủng và đẳng cấp của ung thư

Dấu ấn “tội đồ” thứ hai của Wintour chính là vị trí tiên phong hàng đầu của bà trong trào lưu “celebrity hóa” thời trang, với những trang bìa liên tiếp tràn ngập các ngôi sao giải trí thế chỗ cho các người mẫu chuyên nghiệp. Động thái này được duy trì với mật độ thường xuyên đến độ đã thiết lập một khái niệm được mặc nhận về tiêu chuẩn ‘rating’ cho khuôn mặt trang bìa. Wintour ngang nhiên bảo ban đại nữ truyền hình Oprah Winfrey rằng bà này cần giảm béo để lên “vừa” trang bìa Vogue, với cựu đệ nhất phu nhân Mỹ Hillary Clinton rằng bà này rất không nên mặc suit màu xanh dương. Trong một sự kiện năm 2005 của bà tại Viện Met, Wintour tự tay chọn trang phục cho từng vị yếu nhân được mời tham dự, từ J.Lo, Kate Moss, Donald Trump cho đến Diane von Furstenberg. Đến dự một sự kiện của Wintour, hay ở gần Wintour, người ta sẽ ăn bận như Wintour muốn. Dẫu đó là những tỉ phú, người mẫu, minh tinh, hay các quý bà thượng lưu sành điệu nhất bậc trên hành tinh, dường như đối Wintour, họ chưa bao giờ đủ chuẩn mực, đủ đẹp, và đủ tư cách thượng lưu. Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn, là tất thảy những nhân vật ưu tú xuất chúng này đều không phàn nàn cự nự gì khi cam tâm lấy thân mình ra cống hiến cho trò chơi búp bê vương giả của Lệnh Bà.

Wintour đã cùng lúc dùng quyền lực và mối quan hệ để vận động các nhà thiết kế hàng đầu cho các yếu nhân mặc những thiết kế xuất sắc nhất của họ, qua sự tuyển chọn gắt gao của đích thân Lệnh Bà tối thượng. Hẳn nhiên, lời kêu gọi được nhiệt tình hưởng ứng. Kết quả win-win cuối cùng là những hình ảnh xa hoa nhất về sự kiện được đăng tải trên Vogue và khắp các mạng lưới truyền thông trên thế giới, từ People đến Us, nơi những “vì sao” lấp lánh chói lòa trong những bộ trang phục tuyệt hảo nhất, với tên tuổi các đại danh thời trang được ghi cẩn thận trong dòng credit, định hướng trực tiếp cuộc đua lên đời của hàng hàng triệu triệu nạn nhân thời trang.

Không ít người cho rằng Wintour đã tự cho phép bản thân một quyền năng thao túng quá mức, đặc biệt đến độ bà trực tiếp can thiệp vào tư tưởng thiết kế và sản xuất của thời trang. Điều này bộc lộ rõ tham vọng điên cuồng của bà vượt ra ngoài những trang tạp chí, Bà Mùa Đông muốn bao trùm quyền lực của Kỷ Băng Hà lên cả nền công nghệ, ra đến tận sàn kinh doanh.

Người ta cáo buộc Wintour tội đã khiến trào lưu grunge tuyệt chủng toàn phần hồi đầu thập niên 1990, chỉ với một lời nhắn nhủ của bà tổng biên cao quí rằng nếu họ tiếp tục cào nát các ống quần jeans, xé tưa sợi vạt chemise, xịt nhựa đường lên áo thun và vò xù tóc các người mẫu thì thiết kế của họ sẽ khó lòng phù hợp với tiêu chí thẩm mỹ hào nhoáng của Vogue. Thế là chiến dịch tiễu trừ kết thúc, đại thành công!

Theo một nguồn tin nội bộ nhà Vogue, Lệnh Bà còn có động thái tẩy chay thẳng thừng các độc giả nhóm trung lưu, những cô nàng wannabe hệ công sở đua đòi, dẫu không ít trong số đó là những độc giả trung thành nhất của Vogue. Wintour tỏ ra khắt khe tuyệt đối về việc thể hiện uy tín tờ tạp chí qua đẳng cấp xã hội của đối tượng độc giả được chọn lọc một cách cầu kì. Trong loạt bài cổ súy cho chiến dịch chống ung thư, Wintour đã thẳng ta xổ toẹt bài viết bắt đầu với nhân vật là một nữ tiếp viên hàng không đã thành công chống lại căn bệnh quái ác. Vậy là cả nội cung nháo nhào vào cuộc săn lùng bằng được một nhân vật mới, với điều kiện đã từng mắc ung thư, và chắc chắn phải thuộc giới thượng lưu để thay vào bài viết.

Để làm được những điều này một cách thản nhiên và lạnh lùng, Wintour phải có khả năng sắm cho mình một trái tim bằng băng và một lồng ngực như cái tủ lạnh. Bà là một minh chứng khá hiếm hoi cho chân lý rằng tiểu thuyết không luôn luôn là sự cường điệu hóa của thực tế, trong trường hợp của The Devil Wears Prada, nếu không muốn nói sự kiêu ngạo, độc địa và lạnh lẽo của Miranda Priestly chỉ là bản sao ngớ ngẩn, một nét phác hời hợt của một chân dung Anna ‘Winter’ thật sự. Các nhà tổ chức show diễn thời trang phải luôn nắm nguyên tắc quan hệ hàng đầu: Wintour muốn chỗ ngồi của mình tách biệt khỏi khu vực của các ông bà tổng biên khác, bởi Lệnh Bà không có nhu cầu bàn tán, chia sẻ, hay kết bạn với đồng nghiệp. Bà đang làm việc.

Đại náo Milan và đàn áp mỡ thừa

Năm 2008, Bà Mùa Đông đã ngang ngược đòi dời lịch diễn của các nhà thời trang trọng yếu ra trước trong tuần lễ thời trang Milan 2008 chỉ để Lệnh Bà kịp về nhà thay…hành lý trước khi tham dự các show diễn ở Paris. Thế là cả Milan nháo nhào, mọi yếu nhân, minh tinh, tổng biên lẫn phóng viên các quyền lực truyền thông thời trang khác đều phải đảo lộn lịch trình theo, trong khi các nhà thiết kế trẻ mới nổi thì ngán ngẩm trình bày collection trong những show diễn lẻ loi giữa một fashion week hoang tàn sau khi các khách mời cỡ bự đã xem xong màn xuất sắc nhất và đã rời khỏi Milan. Điều này càng khiến sự căm ghét của các nhà thời trang Ý dành cho mụ phù thủy Ăng-lê tăng cao hơn bao giờ hết, trong khi các tín đồ Hoa kỳ của họ, than ôi, vẫn đều đặn dõi theo từng shot ảnh long lanh của Vogue, đương nhiên, dưới sự phê chuẩn tối cao của Lệnh Bà.

Dolce&Gabbana đồng thanh gọi tuần lễ thời trang đó là một hội chợ tỉnh, Giorgio Armani – kẻ đã trực tiếp kinh qua trải nghiệm cùng tổ chức triển lãm tại Met với Wintour, chỉ ý nhị lên tiếng “Thứ bà ta cho là một chiếc váy đẹp, chưa chắc đã là một chiếc váy đẹp trong mắt tôi.” Với một nỗ lực tỏ ra mã thượng một cách đáng khen, không ai tin rằng Giorgio đã thật sự hoàn toàn không để bụng lời tuyên bố phũ phàng của Wintour: “Kỷ nguyên Armani đã chấm dứt.” Bản thân Giorgio cho rằng Wintour có sự thiên vị đặc biệt cho các nhà thiết kế Pháp và Hoa Kỳ. Geoffrey Beene, người đã ngưng không mời Wintour đến các show diễn của mình sau khi nhận ra rằng bà sẽ chẳng bao giờ màng nhắc đến chúng trên tờ Vogue, đã cáo buộc tư cách biên tập thời trang của Wintour là “biến đẳng cấp thành trào lưu xa cạ, và thẩm mỹ thành rác rưởi” (class into mass, taste into waste)

Nhưng những trò thao túng oái oăm của Wintour đã hoành hành giới thời trang từ khá lâu trước đó. Hồi 2005, bà bị công kích dữ dội khi ngài đại tổng biên Andre Leon Talley than thở trên talkshow của Oprah Winfrey rằng đến cả ông cũng bị Bà Mùa Đông bắt phải ăn kiêng giảm ký. Ngài đại tổng biên tội nghiệp còn bị bà Oprah ranh mãnh moi thêm vài lời kể khổ nữa, rằng “các cô gái tại Vogue, cô nào cũng gầy nhom, bởi, bà biết đấy, Miss Anna không thích mấy người mập.” Năm 2009, cư dân Minneapolis cự nự ầm ĩ khi Wintour lên bản tin 60 Minutes và bỉ bai cái sự to béo của con dân thành phố này, dù đây là thành phố được xếp hạng thứ 3 với tỉ lệ cư dân khỏe mạnh cân đối nhất trong năm đó, theo thống kế của tờ Men’s Fitness, trong khi Quả Táo Lớn của bà đứng hạng năm trong danh sách nhóm có dân cư “lực lưỡng” nhất nước Mỹ.

Căm ghét và ngưỡng mộ vị tông đồ mẫn cán

Những ai có thâm niên quan sát các vụ đụng độ của Wintour với công luận sẽ nhanh chóng nắm vững chiến thuật vô chiêu của bà. Các phản hồi luôn bất ngờ, khó đoán và đẹp mắt. Wintour không bao giờ trực tiếp tự bao biện và bào chữa cho bản thân, và bà chưa bao giờ cần phải tự tay làm việc này. Mỗi khi làn sóng công kích Wintour trỗi dậy, người ta sẽ lập tức được nhắc cho nhớ rằng Wintour không chỉ có cừu nhân.

Những người đàn bà như vậy, người ta chỉ có thể căm ghét hoặc ngưỡng mộ họ, hoặc cùng lúc cả hai. Còn bản thân Wintour điềm nhiên quan sát những vụ cọ xát của cả hai phía, như một buổi diễn thời trang, không một cảm xúc lọt ra ngoài khỏi cặp kính đen.

Rất nhiều con dân của bà tại Vogue vẫn khẳng định rằng họ không thấy có gì đáng phàn nàn về thói độc tài của Wintour cũng như tinh thần trưởng giả của Vogue. Mọi thứ về bà, dẫu quá quắt, đều nằm trong bản chất cực đoan quá khích của thời trang và những tông đồ mẫn cán của nó.

Người ta đọc Vogue hoàn toàn không như tìm đến một cuốn catalogue để tìm xem những món hàng có thể chọn mua. Và Wintour hiểu thấu đáo điều này. Dưới trướng cai trị của bà, khái niệm tạp chí thời trang được đưa về đúng tinh thần bản chất của nó – một thiên mệnh mang tính giáo dục và dẫn dắt, qua phương tiện quảng cáo thương mại, hình ảnh, và văn chương báo chí. Vogue đào luyện và nâng cấp gout thẩm mỹ của người đọc. Người ta từ chối một trang layout lem nhem chắp vá một khi đã chọn cho đôi mắt mình những shot ảnh bóng bẩy đẳng cấp trên từng trang Vogue. Bà dần dà tiêm nhiễm vào độc giả của mình ý thức cầu kì trong gout hưởng thụ, và tái định hình tư duy thời trang, thẩm mỹ của các độc giả của mình.

Những điều này chỉ có thể được thực hiện bởi một kẻ cầu toàn khổ hạnh nhất, và một gout thẩm mỹ cầu kì, không khoan nhượng. Mọi mầm mống tư duy “thời trang dân chủ” đều bị Wintour nhận biết và tiễu trừ ngay trong trứng nước, bản thân Wintour và tờ Vogue từ chối cuốn theo trào lưu thân thiện, đang được xem là cứu cánh kinh tế đắc lực của các tạp chí cạnh tranh. Điều này đồng nghĩa với vị trí độc tôn của Vogue đối với các fashionista cầu kì muốn tìm đến với những hình ảnh toàn mỹ của tinh thần haute couture, được tôn thờ và ca tụng hiệu quả qua các hình ảnh, tên tuổi celeb hàng đầu và tôn chỉ độc đạo của Lệnh Bà hà khắc.

Quyền của Wintour

Với tất cả những sắc màu và trạng thái được tung tràn trề lên những trang tạp chí, người ta không cho rằng Wintour còn giữ lại bất cứ điều gì cho mình để thể hiện. Thái độ lãnh đạm và kiêu căng của bà được đơn thuần lí giải bởi dòng máu Ăng-lê, cùng thứ tinh thần chảy trong huyết quản người cha mang biệt danh “Chilly Charlie”. Cuối cùng, chỉ có một bàn tay bằng thép và trái tim băng mới khiến một người đàn bà ngự trị vững bền trên ngai tổng biên và bao trùm thế lực truyền thông ấy lên thời trang thế giới, trong khi các tay Đảng Xanh quá khích vẫn ngày ngày biểu tình, các nhà phê bình vẫn kêu gọi tẩy chay, và những bánh đậu hũ cùng những lời nguyền rủa bất cứ lúc nào, nơi đâu, vẫn có thể nhắm thẳng vào bà mà ném.

Ngoài cuộc sống xa hoa và một áp lực điên đảo, Wintour tự ban hành cho bản thân một thứ đặc quyền đặc lợi ưu tiên cuối cùng: quyền được cáu bẳn và thô lỗ. Bà không ngại ngần tận dụng tối đa đặc quyền này, và những kẻ xung quanh Wintour, một cách nào đó, ý thức được họ đang đối mặt với hiện thân của tinh thần thời trang vương giả, và điều này khiến những kẻ bé nhỏ trở nên bé nhỏ hơn. Họ kính cẩn tự đặt bản thân vào tâm thế cầu tài hay nô bộc, và đó chính là khi họ trao cho Wintour quyền lực của một nữ hoàng.

Bản thân Bà Mùa Đông vẫn tự nhận mình là một người cả thẹn, với sự đồng ý của không ít bạn bè thân thiết của bà. Khi được hỏi về điều không hài lòng nhất về bản thân, Wintour đã thừa nhận “Tôi là một mụ chó cái (such a bitch), và các đồng sự đã ở bên tôi từ 15, 20 năm nay có thể minh chứng điều này. Điều này khiến tôi thu hẹp đám đông quanh mình và cô đọng lại với những nhân vật ưu tú, cầu thị nhất. Đôi khi tôi ngỡ rằng cái đám người bệnh hoạn này phát nghiện những trận bốc hỏa và những trò trừng phạt của tôi mất rồi, vì họ vẫn còn đây. Mà nếu một khi bạn gặp phải ai đó lãnh đạm với bạn, thậm chí hung hăng thô bạo, đôi khi hãy chỉ đơn giản biết rằng họ đang cố gắng hết sức để làm điều tốt nhất.”

Bà cũng có cùng lời tự bào chữa, hay đúng hơn là giải thích về việc không thu nhận người mập vào làm việc tại Vogue: “Đối với tôi, những con người làm nên môi trường con người của Vogue, đặc biệt đối với ban thời trang, phải là chính những hiện thân của thời trang. Chính họ phải là những tín đồ mộ đạo và ý thức duy mỹ, điều này thuyết phục hơn bất cứ slogan hay tuyên ngôn nào về Vogue. Chúng tôi Biết về Thời Trang, vì chúng tôi Chính Là Thời Trang.”

Cách mạng nữ quyền bất đắc dĩ

Những người đứng về phía Lệnh Bà đáp trả bằng cách cáo buộc các lời chỉ trích nọ là tư duy thành kiến giới tính hủ lậu. Tờ The New York Times, ngay sau buổi ra mắt phim The Devil Wears Prada đã lên tiếng cho rằng “Những đại nữ truyền thông luôn bị soi chiếu khắt khe hơn các đại gia phái mạnh” Ngay từ khi mới nhậm chức tổng biên tờ Vogue, Wintour đã được Liz Smith – chuyên gia trồng cải nổi tiếng loan tin rằng bà có được thanh quyền trượng trong tay là nhờ dan díu với Si Newhouse. Điều này chạm ngay vào cơn thịnh nộ của Wintour, và vị nữ vương thù dai vẫn còn kể lể trong ngày nhận giải thưởng truyền thông năm 2002.

Và như một phần thưởng luôn đến cùng các ngờ vực về giá trị phẩm hạnh, Wintour được xem là một nhà hoạt động nữ quyền bất đắc dĩ, với chiến lược và tôn chỉ hình ảnh phụ nữ đương đại mà Vogue luôn thể hiện ngần ngật trên các trang báo. Christina Larson của tờ Washington Monthly đã ghi nhận rằng “Vogue nhắc phụ nữ nhớ đến những niềm vui thụ hưởng đã bị lãng quên bằng những cuộc diễu hành huy hoàng của những tạo vật tinh xảo nhất, được tác tạo nên như sự yêu chiều, cung phụng và vuốt ve mà những thiên tài thời trang dốc tài hoa tuyệt nghệ ra để tụng ca đàn bà. Những mẫu thiết kế, các bộ bàn ghế nội thất, hay những chốn nghỉ mát địa đàng,… đó là tất cả những gì một phụ nữ thành đạt nên tưởng thưởng cho bản thân, hoặc ít ra, học cách ngưỡng mộ và ước mơ đến những điều tốt nhất cho mình. Cùng lúc với nguyên tắc kinh doanh quảng cáo thuần túy của một tờ tạp chí thời trang, Vogue còn là một ngòi nổ cho tham vọng hướng thượng và sinh lực tột đỉnh của phái nữ, chứ hoàn toàn không thuần túy ủy lạo cho lối sống hào nhoáng, những thân hình tuyệt mỹ và đày đọa độc giả vào lòng tự ti bất an như người ta vẫn cáo buộc.”

Chiến lược “celeb hóa” trang bìa khiến cho các hiện thân của thời trang chính là những phụ nữ đang làm tăng giá trị của thiết kế bằng tên tuổi và tài hoa của họ, chứ không chỉ thuần túy một nhan sắc ngoại hình. Thông điệp đó, một cách vô thức, chính là tinh thần nữ quyền tân thế hệ: nhan sắc, tài hoa, và thụ hưởng.

Vạn tuế Haute Couture!

Những lời chỉ trích về sự can thiệp tùy tiện và bạo ngược của Wintour vào nội giới thời trang cũng bị bác bỏ thẳng thừng bởi các nhà thiết kế hàng chiếu trên, những người đã quá quen thuộc với các hành xử của Bà Mùa Đông. Trong đó, ắt nhiên đứng đầu là Ông Kẹ Mặt Chì nhà Chanel – Karl Lagerfeld: “Đó là một cô gái thật thà. Cô ấy biết cách nói thẳng điều mình muốn, hắc bạch rạch ròi.” Còn Francois-Heri Pinault, tổng quản tập đoàn PPR – chủ nhân ông của cả một hệ thống cửa tiệm và thương hiệu thời trang xa xỉ, lại cho rằng Wintour khá dễ chịu “Bà ta luôn đoan chắc với bạn rằng không có gì phải phát hoảng lên chỉ vì bạn không đáp ứng được sự nhờ cậy của bà ấy”, ám chỉ việc Wintour đã can ngăn không để Tom Ford rời nhà Gucci. Trái với những gì người ta đã nín thở trông chờ, đã không hề có những đòn trừng phạt và chiến dịch tẩy chay thông tin nào, và Wintour vẫn ra sức hỗ trợ cho nhà Gucci, dù không còn Tom Ford ngồi ngai tổng lãnh.

Ngoài tay người Mỹ, các nhà thiết kế khác như Alice Roi và Isabel Toledo cũng là những kẻ được bảo trợ ưu ái một cách hoàn toàn vô tư bởi Bà Chúa Băng Giá. Chính những động thái hào phóng và màn phô diễn quyền năng đã khiến bà đảm nhiệm hoàn hảo vai trò Nữ Oa cho tờ Vogue – cho đến nay vẫn tồn tại vững vàng và hưng thịnh nằm ngoài quy luật lệ thuộc vào những nguồn kinh doanh quảng cáo.

Nhưng đó hoàn toàn không phải là một chính sách mị dân, hoặc không hẳn mị dân hoàn toàn. Wintour, với sự ngạo mạn đã thành danh tiếng của mình, là biên tập thời trang duy nhất khước từ tối hậu thư của Armani về việc yêu cầu tăng trang hình ảnh cho các thiết kế của nhà này. Tuy vậy, Wintour vẫn thừa nhận nếu phải chọn một trong hai mẫu thời trang, một của khách hàng quảng cáo, và một là chọn lựa của ban biên tập, nguồn lợi kinh doanh sẽ vẫn khiến cán cân nghiêng về lựa chọn đầu hơn. Cuối cùng thì, theo bà, “Tính thương mại đối với tôi không phải là một từ bậy bạ.”

Và để bảo vệ cho tinh thần haute couture xa xỉ hiển hiện của Vogue, bà tổng biên tóc bob dẫn chứng bằng chính tinh thần dân chủ từng một thời là nền tảng của các nhà thời trang cao cấp: “Điều đó chỉ có nghĩa là nhu cầu thẩm mỹ thời trang đang tăng cao đối với nhiều người hơn, và càng nhiều người phấn đấu để bảo đảm tấm vé vào thượng tầng hoa mỹ ấy, thiết nghĩ, ắt là điều đáng mừng cho nhân loại.”

Ngược lại, khi cửa địa ngục lỏng then và để xổng lên trần thế một sinh linh cá biệt như Wintour, âu cũng là điều đáng mừng cho nhân loại.

CHUYỆN TÌNH BÀ CHÚA TUYẾT

Lòng sủng ái của Bà Winter

Phàm đã là tổng biên của một tạp chí thời trang hàng đầu, gout thẩm mỹ và trình hưởng thụ của Đại tẩu Anna dĩ nhiên cũng phải vào hàng xứng tầm thượng thừa. Đại Tẩu không những sành sỏi chuyện phải tìm cái gì tốt nhất, mà biết luôn là vào thời điểm nào, trường hợp tay tennis chuyên nghiệp người Thụy Sĩ Rober Federer cũng không là ngoại lệ – anh chàng tỏa sáng chín tới ngon lành nhất là vào lúc tròn 25 tuổi, vừa chín tới mùi mẫn, nhưng vẫn còn giữa chút non tơ đủ để sần sật chào mời những vết răng ưu ái.

Federer được Đại Tẩu chọn và đeo vào quanh mình phù hợp hài hòa tuyệt đối với bộ váy maxi của nhà de la Renta. Bà khéo léo ‘gỡ’ người yêu chính thức của chàng là nàng Mirka ra như người ta tách món quà khuyến mãi thô kệch ra khỏi món hàng được lựa chọn, dù luôn lịch thiệp dành riêng cho Mirka hàng ghế danh dự trong mọi sự kiện, dạ tiệc, để thoải mái chờ chàng đi tháp tùng bên Lệnh Bà suốt buổi.

Một phiên bản tân thời hoàn hảo của câu chuyện cổ tích Andersen Bà Chúa Tuyết, với cậu Kay mê muội được sủng ái, và cô bé Gerda cam khổ vì tình.

Dẫu sao, nếu chưa ai thấy Wintour hôn âu yếm một cái túi xách, thì sự lãnh đạm chừng mực của đôi nhân tình cũng không chào mời nổi cho hội đưa tin dù chỉ một nụ hôn vội, dù hàng tháng hẹn hò đã trôi qua từ hồi chàng xuất hiện lẫy lừng bóng bẩy trên tờ Men’s Vogue số tháng 5/6 năm ngoái.

Đại tẩu còn hào phóng tổ chức cho chàng những buổi dạ tiệc tưng bừng với đám khách mời thượng lưu hào nhoáng, từ Jimmy Falon, Vera Wang, ngài Trump cùng ái nữ Ivanka, Oscar de la Renta, và cả Marc Jacobs. Đại Tẩu xuất hiện, lịch thiệp duyên dáng ngất trời, tay đeo chàng tình nhân mới bảnh toỏng đi khoe và giới thiệu khắp lượt.

Hiện tượng tan băng

Từ khi có Federer, người ta thảng thốt nhận ra phía sau cặp kính đen là…một người đàn bà. Khi được hỏi về đánh giá của bà về trang phục thể thao cao cấp, Đại tẩu buông lời “bất cứ thứ gì Roger mặc”, rồi cười khúc khích như một cô gái nhỏ trước nỗi thất thần hoảng loạn của các phóng viên.

Wintour cười?! Đó là sự thật đã có nhiều nhân chứng tận mắt nhìn thấy. Chưa hết, bà không ít lần tháo bỏ cặp kính đen, để lộ đôi mắt được trang điểm tự nhiên hoàn hảo. Và show Sring 2010 của nhà Prada đã chứng kiến một hiện tượng siêu hiếm: Đại tẩu Anna đến trễ, khiến show diễn bị muộn cả giờ đồng hồ, bà muốn vào tận hậu trường để giới thiệu bằng được ngài Federer trẻ trung với Giorgio Armani và trở ra trước khi show diễn bắt đầu. Đương nhiên, đối với nhà Prada, “Anna muốn” đồng nghĩa với “Anna có”.

Nhà Prada không chỉ chiều chuộng Anna và Roger hết cỡ, mà còn là kẻ đồng hành trung tín cho dung nhan Đại Tẩu mỗi khi xuất hiện tại giải US Open, French Open và Wimbledon, đương nhiên là trên hàng ghế yếu nhân, xứng danh Quỷ Cái Vận Prada. Nơi đó, con dân hâm mộ thể thao có được cho mình một Wintour hoàn toàn khác. Nàng vui vẻ, vẫy ta ra hiệu với các tay vợt danh tiếng, và vào những trận đấu có Roger, thậm chí người ta còn kinh hoảng khi thấy Bà Mùa Đông xuất hiện, tươi rói với sắc hồng phấn, vàng mơ, đỏ tía và tím cà, TẤT CẢ cùng một lúc trên bộ váy kẻ sọc. Một chuỗi pha lê lấp lánh quấn nhiều vòng quanh cổ, và, đương nhiên, phía trên là cặp kính râm cú mèo trứ danh. Một Mùa Đông phiên bản hippy phi-Wintour chính hiệu!

Sủng thần ương ngạnh

Trong khi mọi việc diễn ra đều không nằm ngoài một minh chứng lẫy lừng nữa cho gout hưởng thụ của Đại Tẩu, thì điều khiến giới hóng hớt quan ngại cho sinh mạng ái tình của Roger Federer lại chính là gout ăn mặc của chàng. Federer chưa bao giờ được giới phê bình thời trang đánh giá cao về khiếu thẩm mỹ.

Nếu có một bài học vỡ lòng nào về thời trang mà một fashionista, hay fashionisto nhập môn có thể rút ra từ phim The Devil Wears Prada (đương nhiên, ngoài chuyện gia đình luôn quan trọng hơn sự nghiệp và danh vọng, blah blah…), đó chính là người ta luôn nên lắng nghe những tư vấn thời trang của Miranda Priestly, à không, Anna Wintour. Chẳng thế, trong phim, Stanley Tucci đã dạy dỗ cô nàng Anne Hathaway ngô khờ rằng “Ý kiến của Lệnh Bà là ý kiến Duy Nhất.”

Nhưng Roger Federer không hề là một fashionisto, chàng chỉ là một tay vợt chuyên nghiệp. Chàng chưa có được cái may mắn lãnh hội lời khuyên khôn ngoan ấy.

Tại một buổi phỏng vấn trên đài ESPN, Wintour than phiền rằng tay vợt ưa thích của bà lại là một kẻ ngoại đạo và bất trị hoàn toàn về thời trang. Chàng vô địch Grand Slam 16 lần ấy đã làm điều dại dột nhất là khoe tủ quần áo của mình cho Đại Tẩu xem. Điều tệ hại hơn nữa, chàng không bỏ vào tai bất cứ lời khuyên nhủ, tư vấn thống thiết của Lệnh Bà nhà Vogue. Wintour chỉ còn cách tự an ủi bản thân, ngay trên sóng ESPN “Dẫu sao thì trông cậu ấy vẫn rất bảnh.”

Lệnh Bà tội nghiệp!

Trong suốt thời gian rầm rộ các tin đồn về cuộc dan díu giữa Đại Tẩu và nam thần tennis, nàng Mirka, vẫn kiên nhẫn tháp tùng chàng đến mọi buổi tiệc tùng, và để mặc chàng kề cận bên Lệnh Bà suốt buổi. Cho đến một ngày tháng Tư đẹp trời năm 2009, với cái bầu 1 tháng, Mirka đường hoàng và hả hê kết hôn cùng Roger Federer. Không nghe nhắc đến sự hiện diện của Lệnh Bà tại hôn lễ chóng vánh nọ.

Chiến thắng hoan hỉ của Mirka kéo dài trong một nỗi thống khổ lê thê, khi ngay sau đó, dù sinh cho chàng cặp song sinh kháu khỉnh, người ta nhận ra vị phu nhân vẻ vang vẫn đóng vai phụ trong cuộc dan díu dài hơi của Lệnh Bà đùa dai.

Tháng tư vừa qua, tại sinh nhật của vợ, Roger Federer đã ân cần và hào hiệp che chở cho Đại Tẩu thoát khỏi vòng vây paparazzi Miami đang vây kín buổi tiệc. Chàng ranh mãnh lừa họ bằng một đám đông ồn ào đứng ở cửa phụ, tung hô và mang vác những món quà để thu hút cánh phóng viên đổ dồn về đấy, bảo đảm cho Lệnh Bà đường hoàng ra về bằng cửa chính.

Ánh flash đổ dồn về người đàn bà băng giá, săn từng biểu hiện sầu não hay dù chỉ một giọt lệ băng.

Những bức ảnh có được trên Page Six chỉ cho thấy một nụ cười mỉm, rất nhẹ, bên dưới cặp kính đen.

chị Hạnh-Dung của nước Mỹ

Túy Ca

Mỗi một talk show của Oprah Winfrey là một sự hoàn chỉnh đầy ứ. Bà ồn ào, đói khát dữ liệu thông tin, dư thừa năng lượng, khôi hài, khả ái, mẫn cảm. Bà thân thiện bình dân, ranh mãnh trong mọi thủ thuật khai thác, tinh anh và không khoan nhượng những trò vè. Lợi thế ngoại hình của một người đàn bà da đen đồ sộ khiến bà vừa trấn áp, vừa vỗ về tin cậy. Oprah thoát khỏi bề ngoài bự sự của chính mình và lao thân tuyệt đối vào cuộc đối thoại với nhân vật, đồng thời tương tác chặt chẽ đến từng hơi thở, từng tràng cười và mỗi giọt nước mắt của khán giả truyền hình toàn nước Mỹ.

Bà không bao giờ hết chuyện để buôn, và bà “buôn dưa” với cả thế giới.

Nữ hoàng Talk Show Mỹ, người đàn bà được xem là có khả năng xoa dịu và chữa lành bằng nước mắt trong thời lượng của chỉ một cuộc trò chuyện, đã sinh ra trong chính số phận của những nhân vật mà bà từng làm việc. Không thiếu gì cả, một dòng máu pha tạp, một bà mẹ độc thân tuổi vị thành niên, tuổi thơ bị lạm dụng và những cuộc tình bị bạc đãi.

Số phận đó đã rất có thể kết thúc tại một nơi nào đó trên bề mặt đau khổ của địa cầu, trong một khu ghetto da màu, trong một trại giáo dưỡng cai nghiện, hay dưới 3 tấc đất.

Ngược lại, bà chỉ vừa mới kết thúc một chặng đường 25 năm bằng cuộc độc thoại 4 giờ đồng hồ trên show truyền hình nổi tiếng thế giới, và sửa soạn cho một vụ đại chấn truyền thông mới mang cái tên đầy tham vọng chiếm hữu: OWN (Oprah Winfrey Network)

Những đứa trẻ đến và đi

Cuộc xét nghiệm gene năm 2006 cho thấy mẹ của Oprah gốc là tộc người Kpelle, nay là Liberia, bản thân Oprah mang 89% dòng máu Sub-Saharan Africa, 3% Đông Á và chỉ có 8% Mỹ bản địa.

6 năm đầu trong đời, Oprah sống cùng bà ngoại Hattie Mae Lee. Bà nghèo đến nỗi cô bé Oprah chỉ có những chiếc váy làm từ vỏ bao bố đựng khoai tây và trở thành trò đùa của lũ trẻ trong vùng. Bù cho những bộ váy áo, bà ngoại dạy cô đọc từ rất sớm nên cô nhóc thuộc làu làu kinh kệ, có khả năng biện dẫn thánh kinh đáng nể. Nền gia huấn của cụ bà sùng đạo còn đi kèm cả những trận đòn roi khắc nghiệt, những công việc vặt trong nhà và một nề nếp của dòng tu kín mang nỗi tự ti giai tầng lẫn chủng tộc.

Những năm tiếp theo là những cuộc phiêu bạt từ thành phố này đến tiểu bang khác cùng mẹ, những đứa em cùng mẹ khác cha được sinh ra, em gái đầu chết vì nghiện ma túy. Em gái Patricia sinh ra khi Oprah được gửi nuôi ở Tennessee, về sau được cho đi vì người mẹ đang hoàn toàn phải sống dựa vào trợ cấp chính phủ. Oprah hoàn toàn không biết gì về người em gái cuối cùng này cho đến tận năm 2010, trên một talkshow của bà. Khi Oprah được đưa về lại với mẹ, đứa bé gái cuối cùng đã bị mang đi, và người mẹ đã kịp sinh em trai cùng mẹ với Oprah là Jeffrey, về sau mất năm 1989 vì bệnh AIDS.

Xen kẽ giữa những cuộc chuyển dời thời ấu thơ, những đứa em sinh ra và thất lạc, là những chuỗi ngày bé Oprah bị lạm dụng bởi các anh em họ, người cậu ruột, và cả những bạn bè của gia đình từ khi mới 9 tuổi, bà giữ kín điều này cho riêng mình và lần đầu thú nhận ngay tại talk show, trước hàng vạn khán giả truyền hình năm 1986, khi đang thảo luận về đề tài lạm dụng tình dục. Oprah thừa nhận lí do bà không muốn làm mẹ vì chính mình đã không được hưởng sự dưỡng dục tối thiểu từ tình mẹ.

Thật ra, lần mang thai đầu tiên của Oprah là khi bà mới 14 tuổi, đứa bé trai chết không lâu sau khi ra đời. Sự phản bội lớn nhất từ gia đình mà Oprah nếm trải chính là khi về sau, họ chấp thuận bán câu chuyện này cho National Enquirer năm 1990.

“chị Hạnh Dung” của nước Mỹ

Sau giải hoa khôi da màu Tennessee năm 1972, Oprah bỏ lại sau lưng những chào mời hứa hẹn theo thông lệ để trở thành trụ cột đài WTVF-TV năm 19 tuổi, và nữ biên tập viên da màu đầu tiên tại Nashville.

Định hướng sự nghiệp truyền thông của Oprah không hề là một điều đáng ngạc nhiên với bà ngoại của cô, người đã từng chứng kiến tuổi thơ với trò chơi phỏng vấn con búp bê bằng lõi ngô và mấy con bù nhìn, và ngược lại, Oprah luôn coi bà Hattie Mae là một nguồn ảnh hưởng lớn của mình, từ ngày thơ bé vẫn luôn khuyến khích khả năng hùng biện của đứa cháu.

Trong suốt nhiều năm liền, Oprah liên tiếp là nữ biên tập trẻ nhất và trường hợp da màu đầu tiên của các đài phát thanh nơi cô cộng tác, nhưng sự định hình đế chế thật sự đã phải chờ đến ngày 8 tháng Chín, 1986, với 1 tiếng đồng hồ lên sóng đầu tiên của The Oprah Winfrey Show. Oprah đường hoàng đánh bại đối thủ tối thượng lúc bấy giờ là Donahue và nghiễm nhiên chiếm vị trí talkshow ban ngày hàng đầu của Mỹ. Giới truyền thông Mỹ tiên liệu một vụ nổ và một nữ vương mới trong lãnh địa truyền thống của những người đàn ông da trắng. Tham gia vào lãnh vực talk show, Oprah biến những cuộc trà dư tửu hậu của các quí ông truyền hình thành một buổi buôn dưa thân thiện với mọi chủ để xoay quanh cuộc sống gần gũi. Từ các đề tài xã hội, chính trị, tâm linh, cho đến cách chọn mua áo ngực. Người ta có thể bị Opran khéo léo lôi tuột từ đề tài chó mèo đi lạc sang vấn đề ngược đãi động vật, và chỉ 2 phút sau, bà đã kịp bàn đến thời trang lông thú, sự phi nhân của văn hóa tiêu thụ xa xỉ. Trên hết, từ size áo lót đến ý thức môi trường trong văn hóa tiêu dùng đều được bàn luận và sẻ chia với một siêu minh tinh trứ danh, hay một chính khách lẫy lừng.

Bà tiếp cận nhân vật không bằng cú pháp chặt chẽ của truyền thống nghiệp vụ, mà bằng một sự hiếu kỳ chân thật, một chút khôi hài của kẻ đã có thể khóc quá nhiều, nhưng trong sâu xa, vượt trên cả cái đầu siêu thông minh, là một lòng trắc ẩn chân thành, không ngụy tạo. Bằng tất cả những điều này, Oprah nắm giữ một thứ ma thuật không những vô hại mà còn có tác dụng chữa lành – bà khiến người ta nói ra những điều không thể, và được xoa dịu hoặc phấn khích hoàn toàn sau chỉ vừa tròn thời lượng một chương trình.

Quá muộn cho Sarah Palin!

So với các đồng nghiệp nam, Oprah thừa sức chứng tỏ sự thông minh của một nhà xã hội học, sự uyên bác của một học giả hàn lâm, nhưng trên hết, bà có điều mà các quí ngài da trắng không thể có được – sự tương tác siêu mẫn cảm và tài tình với nhân vật và cả người xem. Oprah không có vẻ khách quan, thậm chí kẻ cả của các host truyền thống, bà đầy cảm tính và vong thân cực đoan với ngập ngụa dấu ấn cá nhân.

Năm 1993, Oprah tung đòn lịch sử – cuộc trò chuyện với vua Pop Michael Jackson. Đây là quả bomb truyền thông thật sự, với kỷ lục sự kiện truyền hình vĩ đại thứ 4 trong lịch sử truyền hình Hoa kỳ, và cũng là cuộc phỏng vấn được nhiều người xem nhất, với con số 36.5 triệu khán giả.

Năm 2005, sự xuất hiện của chính Oprah trong talkshow The Late Show With David Letterman đã khiến Letterman lập kỉ lục lượng người xem lớn nhất trong suốt 11 năm: 13,45 triệu. Letterman lịch thiệp đáp lễ bằng việc xuất hiện trong The Oprah Winfrey Show ngay khi có thể, tức là khi chương trình của Oprah thực hiện tại New York hai năm sau dó.

Hẳn nhiên, ngoài sự ưu ái của các celebrity giải trí và truyền hình cùng hàng triệu trái tim Mỹ, sự văn minh của Oprah, và đôi khi cả lòng trắc ẩn của bà cũng khiến không ít yếu nhân khó chịu. Năm 2006, các rapper khét tiếng Ludacris, 50 Cent và Ice Cube đồng loạt chỉ trích Oprah là anti-hip hop. Ludacris phàn nàn với tờ GQ là Oprah “chơi khó” anh ta về ca từ, rồi biên tập các câu trả lời của ngôi sao này. Oprah thẳng thắn trả lời rằng bà không nuốt trôi được thứ ca từ miệt thị phụ nữ, những vẫn nghe rap bình thường, tiện thể ca ngợi rapper đối thủ là Kanye West – cũng là khách mời trong talkshow của Oprah.

Tháng Chín, 2008, Oprah tiếp tục chỉ trích bởi Matt Drudge vì tội không chịu mời bà nghị Sarah Palin xuất hiện trong chương trình của mình, vì Oprah lại ở bên phe Barack Obama. Tuy nhiên, điều này khiến các cử tri da màu hể hả vì hành vi “kỳ thị chủng tộc ngược” này của quyền lực “đen” ngay trên truyền hình Mỹ. Bản thân Oprah cũng khẳng khái cho biết bà ủng hộ cho Obama và quyết không để talkshow của mình thành bệ phóng cho bất cứ cá nhân, đảng phái đối lập nào. Nhưng bà phủ nhận việc từ chối Palin, cho rằng bà nghị sẽ là một khách mời lí tưởng, và thể hiện bằng cách mời bà Sarah Palin xuất hiện tại talkshow trứ danh của mình, đương nhiên là sau cuộc bầu cử và Obama an vị trên ghế tổng thống.

Người đàn bà quỳ gối qua những cuộc tình

Ngoài những trải nghiệm kinh hoàng của tuổi thơ bị lạm dụng, đứa bé trai sinh ra khi 14 tuổi và chết gần như ngay sau đó, Oprah Winfrey vẫn có cho mình những trang tình sử đáng nhớ cho cuộc đời người phụ nữ tài danh.

Mối tình học trò ghi dấu ấn sâu sắc trong tuổi hoa niên của Oprah là Anthony Otey – người cho đến nay vẫn nâng niu gìn giữ hàng trăm bức thư tình của hai người. Cả hai đã nghĩ đến hôn nhân, nhưng Otey luôn biết rằng Oprah thuộc về một cuộc đời rộng lớn hơn rất nhiều một tổ ấm mà ông có thể mang lại. Họ chia tay vào một ngày lễ Tình Nhân. Vài tháng sau, nàng có cho mình mối tình đại học, cũng là cuộc tình thật sự sâu đậm và lí tưởng với William “Bubba” Taylor. Oprah có thể làm tất cả để giữ mọi thứ y như vậy, dù đó là việc tìm việc làm lí tưởng cho chàng, hay quì gối van vỉ để tình nhân rời Nashville cùng bà, khi Oprah được cất nhắc làm việc tại Baltimore năm 1976. Dù về sau, Oprah vẫn gọi đó là “một tình yêu không thể quên”, bà vẫn chọn bước ra khỏi cuộc tình để về với đài WJZ-TV.

Những tháng năm tiếp theo, Taylor được thay thế bằng pianist-nhạc sĩ-người dẫn chương trình John Tesh, nhưng họ cũng chia tay bởi chàng không chịu nổi áp lực ràng buộc của mối quan hệ. Về sau, John Tesh thừa nhận rằng lí do tan vỡ đã liên quan rất nhiều đến sự khác biệt màu da. “Một đêm tôi thức dậy bên cô ấy, và nhìn xuống giường, vào hai thân thể một đen một trắng đang trớ trêu nằm cạnh nhau ấy. Dường như quá sức chịu đựng của tôi.” Ông bước ra khỏi căn hộ và cuộc đời Oprah như vậy, lẳng lặng lúc nửa đêm và để lại sau lưng người đàn bà trượt xuôi vào tuyệt vọng.

Bắt đầu cho chuỗi gày đen tối của Oprah. Bà trở nên mẫn cảm và tự ti. Oprah bắt đầu mắc chứng rụng tóc thậm tệ và bị chỉ trích về ngoại hình lôi thôi, bà đã bật khóc, và bờ vai quân tử đã đưa ra để hứng lệ cho bà khi này là phóng viên Lloyd Kramer. Sau này Oprah cò nhớ lại “Đó là người đàn ông yêu thương tôi ngay cả khi tôi là một mụ hói.” Nhưng ngay khi Kramer chuyển đến New York để đầu quân cho NBC, Oprah rơi ngay vào vòng tay một người đàn ông đã có vợ và hoàn toàn không có ý định ly dị. Cuộc dan díu kéo dài suốt 4 năm, Oprah nhớ lại “Ông ta càng tỏ ra xa cách, tôi lại càng muốn gần hơn. Không có ông ấy, tôi cảm thấy như mình không còn giá trị ý nghĩa gì nữa, tôi cạn kiệt hoàn toàn, và cuối cùng là nhìn thấy chính mình đang phủ phục trên sàn nhà, một lần nữa, và van xin”. Sự tồi tệ của mối quan hệ lên đến tận cùng khi Oprah gửi cho bạn thân là Gayle King lá thư tuyệt mệnh, trong đó có hướng dẫn chu đáo cách tưới nước cho những cái cây mà bà muốn nhờ King chăm sóc hộ. “Lá thư ấy, giờ nhìn lại, chỉ là một trò làm quá. Tôi đã không thể tự giết mình, tôi sẽ sợ hãi ngay vào khoảnh khắc ấy, với suy nghĩ rằng tôi sẽ bị hụt mất khi một điều gì đó thật tuyệt nữa sẽ sắp xảy ra, như vẫn luôn như vậy”.

Con nghiện giá 20 triệu và hôn ước bị lãng quên

Tuổi thơ bị bạo hành, và những cuộc tình bị ruồng rẫy đã dẫn theo những cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng, và việc tăng cân là một hệ quả đi cùng. “Tôi luôn cần được chấp nhận. Tôi cần được yêu thích, bởi tôi chẳng thể yêu thương lấy chính mình. Thế là tôi bị hút vào những người đàn ông ích kỷ, những kẻ sẽ cho tôi biết rằng tôi là kẻ ích kỷ, và tôi vồ vập đón nhận lấy lời quy buộc đó một cách hàm ơn. Tất cả bởi vì tôi không hề cho rằng mình xứng đáng có một điều gì đó tốt đẹp hơn. Tôi tăng cân, và đó là thứ tự vỗ về bản thân – cái bản thân bị cả thế giới chối từ”.

Hói đầu, béo, và thậm chí nghiện ngập. Cùng trong thời kì này, Oprah còn dan díu với một người tình khác, về sau bà thú nhận đã từng cùng người này nghiện hút cocaine với lời giải thích “Tôi không bao giờ nghĩ rằng chính cocaine là vấn đề, bởi vấn đề nằm ở chỗ tôi nghiện người đàn ông ấy, thậm chí không thể tưởng tượng nổi liệu còn có gì mà tôi không sẵn lòng làm vì anh ta.” Dựa trên tính toán thời điểm và mô tả, giới thạo tin cho rằng đó rất có thể là Randogh Cook, kẻ một ngày đẹp trời nhận rằng đã từng dan díu với Oprah hồi 1985 và họ thường xuyên hút cocaine với nhau. Gã người tình cũ lăm le cho xuất bản cuốn tự truyện kể tồng tộc về mối quan hệ của họ với nhau và giật trợn đòi kiện Oprah phải trả cho gã 20 triệu USD vì đã can thiệp để cuốn sách không thể xuất bản.

Tình sử những năm 1980 của Oprah không chỉ là những trang buồn, bởi trong đó, mối tình với nhà phê bình điện ảnh Roger Ebert đã là một cột mốc đáng nhớ dẫn dắt Oprah đến với format đầu tiên của The Oprah Winfrey Show danh bất hư truyền.

Năm 1985, trước khi talkshow của Oprah vượt khuôn khổ tiểu bang Chicago để vươn đến tầm phủ sóng liên bang, người ta lại nghe nói đến áp-phe ái tình của bà với nhà làm phim người Haiti Reginald Chevalier. Chính Chevalier cũng không ngại ngần thuật lại những buổi tối lãng mạn của họ, với nến quanh bồn tắm, hay những bữa ăn tối thân mật với Michael Jordan và Danny Glover. Ông còn dũng cảm thú nhận mình đã bị Oprah cho rơi khi bà gặp Stedman Graham.

Với Stedman, Oprah đã đi trọn một cuộc tình dài hơi từ 1986. Họ đính hôn và chuẩn bị hôn lễ vào tháng 11, 1992. Nhưng những cuộc cút bắt trớ trêu với hạnh phúc của Oprah đã không dừng ở đó, hôn lễ ấy đã không hề diễn ra.

“Nghe đồn ở quanh đây, người ta kính Chúa?”

Cho đến gần đây, khi cuốn sách về đời tư của Oprah được tung ra, người ta lại được tác giả ý nhị cho hay rằng Oprah Winfrey có mọi lí do lẫn dấu hiệu lưỡng tính, hoặc hoàn toàn đồng tính ái.

Bên cạnh những cuộc tình không lối thoát, Oprah được san sẻ và bù đắp khá nhiều từ những tình bạn lớn trong đời, mà trong đó không thể không kể đến Gayle King – vốn là host của show truyền hình vang danh The Gayle King Show, và hiện là biên tập cho tạp chí O, the Oprah Magazine.

Ngoài ra, người đồng nghiệp có tài gây sóng gió màn ảnh truyền hình Mỹ khác là Ellen DeGeneres cũng là một tình bạn quí báu mà Oprah có được cho mình. Họ gặp nhau năm 1997, khi Oprah vào vai trò tư vấm tâm lý trong một show đáng nhớ của Ellen, khi cô công khai bản thân là một người đồng tính ái. Bản thân Oprah và King cũng có cho riêng họ những lời đồn về xu hướng tình dục, bà thản nhiên đáp trả “Họ nghĩ rằng tôi đồng tính và tự ti, nhục nhã đến độ không dám công khai thừa nhận à? Làm ơn dùm cái đi!”

Với sự khác biệt nhưng đầy nhân văn của chính mình, Oprah dẫn đầu trong cuộc cách mạng truyền hình về đề tài giới tính, tạo tiền lệ cho các chương trình gây chấn động khác như Ricki Lake, The Jenny Jones Show và The Jerry Springer Show. Các nhà xã hội học phái thủ cựu phản đối kịch liệt việc Oprah đã tự tiện xóa mờ lằn ranh giữa các cá thể “đàng hoàng tử tế” và những kẻ lập dị. Trên ghế khách mời của Oprah, liên tiếp xuất hiện những nhân vật có thật, đồng tính, lưỡng tính hay chuyển đổi giới tính. Họ tài tình và thật thà, vắt kiệt cảm xúc lẫn nước mắt người xem rồi trở thành những hình mẫu hào hùng ngay trên màn ảnh truyền hình, với Oprah ngồi bên cạnh, rơm rớm nước mắt trong tiếng tung hô của khán phòng, vang đến tận từng căn hộ trên khắp nước Mỹ.

Những trường hợp đồng tính công khai càng ngày càng có độ tuổi trẻ hơn, đó là điều khiến các nhà đạo đức khổ sở. Nhưng số vụ tự sát ở người đồng tính theo đó mà tỉ lệ nghịch rõ rệt. Cũng từ thời điểm này, dân đồng tính và các vấn đề xoay quanh đời sống thế hệ tình dục tự do qua sitcom Will & Grace, show giờ vàng Queer Eye for the Straight Guy, và những ứng viên Oscar cỡ Brokeback Mountain.

Trong một show những năm 1980, trong ngày National Coming Out Day (ngày công khai đồng tính toàn quốc), lần lượt từng khán giả trong trường quay của Oprah Show đứng lên, dõng dạc danh tánh và công khai giới tính trước sự chứng kiến của toàn nước Mỹ qua màn ảnh nhỏ.

Cũng vào thời kỳ này, cả khu Đông Virginia đang hoảng loạn vì một người đàn ông đồng tính ở đây đã nhiễm HIV. Nữ Hoàng Buôn Chuyện tất tả gồng gánh cả chương trình đến tận đây. Bà quyết phỏng vấn cho được “con quái vật bị rút phép thông công” cùng ngài thị trưởng – người đã cho lệnh rút cạn hồ nước nơi người đàn ông kia đã đến bơi. Oprah chưa bao giờ gay gắt và miệt thị đến vậy. Bà nhìn xuống khán phòng đầy những công dân Virgina ngoan đạo “Tôi nghe đồn rằng ở vùng này người ta kính Chúa? Vậy cho hỏi nhân tính đâu, tình ái hữu đồng loại ở đâu, Virgina?”

Trong một show khác vào thập niên 1990, một người phụ nữ dưới hàng ghế khán giả đã đứng lên tuyên bố mình đã chán ngấy trò phô trương trơ trẽn tục tĩu của giới gay. Oprah hằn học đáp trả “Bà biết điều gì làm tôi chán ngấy? Bọn đàn ông ‘bình thường’ đi cưỡng dâm các cô gái nhỏ.”

Khi một người đàn bà buôn chuyện trên sóng quốc gia

Sự ảnh hưởng của Oprah không những tác động đến lối sống và tâm lí mọi công dân trong xã hội Mỹ. Sức ảnh hưởng của tài buôn chuyện của Oprah còn tác động mạnh mẽ lên thị trường tiêu thụ, nền kinh tế tiêu dùng, và cả xu hướng chính trị. Các nhà kinh doanh, các nhà văn và cả các chính khách gọi đó là Hiệu Ứng Oprah.

Thoạt tiên, hiệu ứng này được ghi nhận rõ rệt nhất vào thị trường xuất bản và các cuộc bầu cử. Cuối 1996, với sự ra đời của mục Oprah’s Book Club trong Oprah Show, tập trung vào các ấn phẩm văn học kinh điển lẫn đương đại. Với một lượng khán giả khổng lồ trước màn ảnh truyền hình, sự xuất hiện của một cuốn sách trong chương trình của Oprah được coi là chứng nhận siêu hạng, và lập tức chia sẻ một sự tập trung lớn của thị trường dành cho ấn phẩm may mắn nọ. Người ta dễ dàng lập tức nhận ra những cú dội bomb văn học chỉ thật sự bùng nổ sau khi xuất hiện vài tiếng trước đó trên Oprah Show, trong đó, Phía Đông Vường Địa Đàng của John Steinbeck là một ví dụ điển hình. Giới xuất bản ngầm hiểu, sự công nhận của Oprah có giá trị tương đương với lợi nhuận của hàng triệu ấn bản được mua sạch vào ngày hôm sau. Trong cuốn Đọc Sách Với Oprah: Mục Điểm Sách Đã Thay Đổi Nước Mỹ (2005), Karhleen Rooney đã mô tả Oprah là một “nhà trí thức Hoa Kỳ thực thụ, người tiên phong trong việc sử dụng truyền thông điện tử để ủy lạo cho văn hóa đọc, nhấn mạnh vai trò xã hội của văn học đủ thuyết phục khiến hàng triệu con dân thế hệ màn hình cùng hưởng ứng và quay về một cách nghiêm túc, đầy hứng thú với văn chương và văn hóa đọc”.

Sức ảnh hưởng lớn lao của Oprah lên thị trường không ngừng lại ở lãnh vực xuất bản. Trong một cuộc “buôn chuyện” năm 1996, Oprah tỏ ý e dè với món burger bởi dịch bò điên. Các trang chủ Texas hoảng loạn nổi đóa kiện Oprah tội tung tin đồn nhảm, tác hại đến uy tín kinh doanh của họ với tổng thất thu lên đến 11 triệu USD. Vụ kiện 2 tháng ròng rã chẳng đi đến đâu khi luật sư bên nguyên tuyệt vọng trong nỗ lực minh chứng tác hại của một người đàn bà buôn chuyện trên truyền hình. Còn Oprah ngay sau đó mời luôn luật sư biện hộ Phil McGraw xuất hiện trên chương trình của mình. Luật sư Phil xuất hiện thường xuyên đến nỗi chỉ vài năm sau thực hiện luôn show của mình vào năm 2002 với tên gọi Dr.Phil, với sự hỗ trợ của Harpo Productions – hãng sản xuất của Oprah.

Ngoài Dr.Phil, các show Dr.Oz và Rachael Ray là hai chương trình trò chuyện khác do Oprah sản xuất, cũng là những nhân tố lan tỏa Hiệu Ứng Oprah.

Những buổi buôn chuyện của Oprah, hẳn nhiên, như mọi đề tài có thể được mang ra bàn tán quanh mọi bàn café và mọi phòng ăn gia đình, còn đề cập đến đề tài chính trị, khi chính trị có ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày. Khi ứng viên Barack Obama chào sân chính giới năm 2008, mọi đối thủ của ông đều phải lo ngại trước thịnh tình hào phóng mà nữ hoàng buôn chuyện dành cho vị chính khách tiến bộ người da đen. Bà công khai thể hiện thái độ chính trị chủ quan của mình, sử dụng biệt thự riêng cho các sự kiện gây quỹ, cùng Obama có mặt tại các cuộc vận động tại Iowa, New Hampshire và South Carolina, lôi kéo hàng chục ngàn cử tri nghiêng hẳn về phía Obama trong cuộc đua vào tòa Bạch Ốc. Theo phân tích của đại học Maryland, Collage Park, ảnh hưởng của Bà Nhiều Chuyện lên sinh mệnh chính trị của Obama được “quy ra thóc” thành khoảng từ 423,123 đến 1,596,995 phiếu bầu, chỉ tính riêng phe dân chủ, chưa bao gồm Texas, Michigan, North Dakota, Kansas và Alaska. Thống đốc Illinois đã vô cùng ấn tượng với sức ảnh hưởng này và khẩn trương mời bà vào ghế nghị viện còn trống với là ca tụng rằng đây là người đàn bà có lời nói giá trị hơn 100 ông nghị cộng lại. Oprah đáp lễ, tuyên bố hơi mập mờ rằng mặc dù không lấy làm hứng thú với lời đề nghị, bà vẫn luôn biết rằng mình có đầy đủ tố chất và khả năng.

Liệu pháp Oprahfication cho Oprah

Hẳn nhiên, Oprah không thể là hiện tượng siêu nhiên của hiện thân Đức Bà Đen với lòng trắc ẩn vô bờ bến và vô điều kiện. Trong một góc nhìn tâm lý, chính những lời “xưng tội” trước đám đông được chia sẻ và hơi ấm của lòng trắc ẩn lan tỏa là một liệu pháp chữa lành cho chính Oprah. 25 năm nhìn lại, từng cuộc nói chuyện, từng mảnh đời nhân vật mà Oprah từng khai thác và chia sẻ chính là những mảnh ghép phản chiếu chính những bi kịch của Oprah. Từ mặc cảm về thân hình, màu da, những cuộc tình bi lụy, vết nhơ của tuổi thơ bị lạm dụng, những áp lực của một nữ trí thức da đen trong môi trường quyền lực giữa những người đàn ông da trắng, v.v… Oprah luôn có một mảnh rứt ra từ chính câu chuyện cuộc đời bản thân để cùng hóa thân vào nhân vật một quyền năng xoa dịu ấm áp thần kì. Chưa bao giờ tính tương thích của truyền hình lại được thực hiện đơn giản và mang lại hiệu ứng xã hội mãnh liệt đến vậy, và chính hình ảnh của Oprah Winfrey là một minh chứng hiển nhiên, khi mỗi show là một buổi trị liệu cho chính bà.

Quyền lực ảnh hưởng của Oprah ngày càng trở nên rộng lớn và tác động không chỉ đến những bà nội trợ có thú vui ngồi khóc trước màn hình, mà còn trở thành một công thức mới cho chiến lược hình ảnh chính trị. Chính ngài Bill Clinton đã áp dụng thành công liệu pháp Oprahfication để khéo léo chống đỡ sinh mạng chính trị với những sai lầm rất “nhân văn”, những phân tích tâm lí thuyết phục, lời thú tội thật thà với lòng vị tha tương tác của bà đệ nhất phu nhân. Tất cả được đích thân phù thủy Oprah phân tích, nhào trộn và trở thành một tác phẩm talkshow tâm lí hoàn hảo, giàu tính giải trí, nặng mùi cine Mỹ. Cuối cùng, toàn thể con dân cờ hoa tin chắc rằng sau kép Ronald Reagan quá lâu, nước Mỹ rất cần một chú Sam chịu chơi, hơi hào hoa một chút với kết thúc có hậu. Họ hài lòng với cốt truyện theo kiểu “feel-good movie”, vừa có vị diễm tình công chức, và có cả những cuộc đoàn tụ trong hoan ca tôn vinh giá trị gia đình.

Cũng như vậy, Oprah tiết lộ cân nặng của mình (đỉnh cao lên đến 108kg), và dẫn đầu làn sóng các nữ biên tập viên truyền hình “nặng ký” như Roseanne Barr, Rosei O’Donnell và Star Jones. Đến gần cuối những năm 1980, Oprah Winfrey, từ một kẻ bị khiển trách vì ngoại hình lôi thôi, đã biến “fat” thành “fabulous”, tạo hình mẫu phồn thực, sang cả và sôi nổi nhưng sắc bén, ngay giữa một xã hội tôn vinh chuẩn mực thân hình màn hình phẳng và những làn da thiếu máu của các tín đồ da trắng thích ăn kiêng. Công thức của Oprah? Đơn giản là một gout thời trang phù phiếm nhưng thông minh, một lòng tự tôn mãnh liệt, và tình yêu triệt để với hình hài nhân diện được Chúa ban.

Tông đồ đảng PETA

Không chỉ là một con chiên ngoan đạo và một tiếng nói đấu tranh vì hòa bình thực thụ, Oprah còn là một điển hình mẫu mực của một diva sành điệu, có khả năng biến hóa các khiếm nhược ngoại hình trở thành ưu thế, và thậm chí là trademark của bà giữa các celeb hào nhoáng của showbiz thế giới.

Nhưng trên hết, với sự thông minh và ý thức nhân đạo hồn nhiên nhất, Oprah còn được giới thời trang ca tụng là một fashionista văn minh bậc nhất. Là một tín đồ tuẫn tiết nhưng hoàn toàn tự chủ, dù tài sản lên đến hàng tỉ có thể cho phép Oprah có cho mình tủ quần áo của một nữ hoàng, bà vẫn cương quyết cự tuyệt mọi nguồn gốc sản phẩm làm từ lông và da thú. Năm 2008, hội Peta chọn bà làm Nhân Vật Trong Năm vì đã sử dụng uy tín, hình ảnh và công chúng của Oprah Show vào các chiến dịch từ thiện, bao gồm cả các chiến dịch bảo vệ và chăm sóc động vật. Đảng Xanh xem bà như một thành viên danh dự với những talkshow đề cập gay gắt đến tệ nạn sát hại động vật, thẳng tay vạch trần những hình thái tội ác khủng khiếp và nhẫn tâm diễn ra hàng ngày tại các lò sát sinh và các nông trại khai thác lông thú. Oprah còn sử dụng các buổi phát hình và chính bản thân mình để ủy lạo cho phong cách sống xanh, với xu hướng tiêu dùng thời trang văn minh và thực đơn không dùng thịt. Chưa bao giờ một chiếc áo lông thú được xuất hiện trước ống kính Oprah Show, tạp chí Oprah Magazine, và trong tủ quần áo cá nhân của Oprah.

Body dân chủ và thẩm mỹ diva

Cuộc chiến giảm cân bền bỉ và hiệu quả đã khiến Oprah trở thành một hình mẫu đáng gọi là “tiêu chuẩn” cho đại đồng thị trường tiêu dùng trên thế giới. Cũng chính vì vậy mà gout phục sức của bà được theo dõi và tán thưởng rộng rãi. Giới fashionista size L trở lên coi bà là một tông đồ thời trang gần gũi hơn bất cứ tượng đài phong cách có thân hình lý tưởng nào khác. Người ta luôn cần một khuôn mẫu có tính thực tế làm cứu cánh cho những tự ti nảy sinh từ cuộc chạy đua tuyệt vọng theo những thân hình người mẫu mỏng dính đến cay nghiệt và đượm màu viễn tưởng.

Người ta bật truyền hình lên hàng ngày để được nghe Oprah nói, khóc và cười cùng Oprah.

Nhưng theo năm tháng, Oprah Show đã hình thành nên một “trade mark” đáng kể nữa với phong cách xuất hiện của chính Oprah được háo hức dõi theo mỗi kỳ phát sóng, từ những bà nội trợ, các diva công sở, cho đến những fashionista mới nhập môn.

Làn da khỏe mạnh và màu da được chăm sóc kỹ lưỡng, cùng với các kiểu tóc thay đổi xoành xoạch qua từng thời kỳ, Oprah có riêng cho mình một vòng xoay thời trang riêng biệt. Trong đó, bà cự tuyệt “đóng đinh” hình ảnh của mình với bất cứ phong cách, màu sắc nào. Tất cả được tung hứng và đổi thay một cách bốc đồng, thú vị, nhưng vẫn bảo toàn những dấu ấn cá nhân “rất Oprah” để khéo léo hình thành “giá trị nhận diện” cho tên tuổi và dung mạo của mình. Màu da đen khiến Oprah sáng rực lộng lẫy với đỏ tươi và xanh lá, nhưng bà cũng nổi tiếng là diva xài bảng màu trung tính sành sỏi với các màu crème, màu ngà hay nâu sữa đậm. Những bộ cánh tiệc tùng dành cho các sự kiện long trọng của Oprah hoàn toàn có thể gây đại náo thảm đỏ dù khi ấy bà đang nặng 140 hay 200 pounds – Oprah luôn minh chứng rằng một bà béo hoàn toàn có thể thành công, tự tôn, hài lòng và lộng lẫy.

Những khi không gắn bó với những món trang sức ưa thích bằng hạt trai, Oprah trang hoàng cho diện mạo thời trang của mình bằng bất cứ trường phái phụ trang nào, từ những vòng khuyên tai bằng kim loại quá khổ, những chiếc khăn lụa chói lọi thắt điệu nghệ quanh cổ, cho đến những món bling-bling lòe loẹt đặc thù của rapper da màu. Một diện tích thể hình rộng rãi khi này chỉ đồng nghĩa với nhiều không gian để tổ điểm hơn. Hiệu quả của trò mix-and-match tưởng như điên rồ ấy lại thuyết phục đến mức người ta quên mất rằng Oprah Winfrey là loại phụ nữ có 1 tỉ thứ việc để làm trong ngày, ngoài chuyện ngồi chọn phối các bộ nữ trang với quần áo.

Gout mix-and-match của Oprah có thể được coi là một cuộc tung hứng kì quặc, nhưng được tính toán một cách tuyệt hảo. Tuy vậy, với 25 năm liên tục xuất hiện trước hàng triệu khán giả, bất cứ diva nào khác có thể kiệt quệ vì mỏi mòn ý tưởng, nhưng Oprah vẫn tồn tại với một chu kỳ biến hình chặt chẽ. Theo quan sát của các nhà phê bình thời trang, dù khác biệt và trội bật, Oprah chưa bao giờ dị biệt và lạc thời. Từ mốt quần loe tóc quăn tít, đến quần ống túm xếp pleat và áo độn vai,… phong cách thời trang của Oprah vẫn thể hiện rõ nét trào lưu thời cuộc qua bộ lọc thẩm mỹ cá nhân rất riêng, và những kiểu tóc, ton trang điểm đều thay đổi hợp lí và hài hòa với tổng thể diện mạo.

Những hình ảnh trên sóng truyền hình qua từng thời kỳ của Oprah Show có thể được xem là những hình ảnh đại diện của lịch sử thời trang đương đại. Quan sát Oprah, chính là quan sát vòng xoay trào lưu của các mùa thời trang qua suốt 25 năm,  những cặp kính hết rộng đến hẹp, tóc tỉa thẳng lại đến tóc quăn, và váy len dài tay đã đến và đi vài được vài mùa trong suốt ngần ấy lần xuất hiện của nữ hoàng buôn chuyện.

Trợ lực sau lưng cho Oprah là cả một đội ngũ stylist sừng sỏ và những tay chuyên viên làm tóc, trang điểm thuộc hàng lão luyện. Nhưng Oprah tài tình sử dụng ê-kíp của mình – những người đủ thông thái để hiểu rằng Oprah Winfrey không phải là loại phụ nữ để người khác bảo mình phải mặc gì và trang điểm ra sao. Nói một cách khác, khi đưa mục Make-over vào chuyên kỳ talkshow của mình, Oprah đã mang chính mình và các nhân vật được chọn ra làm những nhân chứng thuyết phục và sống động nhất cho chân lý: bạn không nhất thiết phải ốm và ở trên bìa tạp chí để có quyền ăn mặc đẹp.

Cuộc độc thoại cuối cùng

25 năm sau, nhân vật duy nhất với câu chuyện đời điển hình, với những cú bẻ ngoặt bánh lái ngược chiều định mệnh, đầy đủ chất liệu để làm nên một show đầy ứ cảm xúc cho The Oprah Winfrey Show, đó chỉ có thể là chính Oprah Winfrey.

Người ta đã cứ ngỡ rằng lời chia tay của Bà Nhiều Chuyện sẽ phải là một sự kiện toàn cầu, một quả bom truyền thông với những tiết lộ động trời, cùng sự có mặt của một lực lượng celebrity hùng hậu, danh giá và đông đảo hơn cả đám cưới Hoàng Gia Anh và giải Grammy cộng lại. Trên thực tế, Oprah đã không làm họ thất vọng, và đã có một show chia tay như thế, với 13,000 khán giả có mặt tại United Center vỡ òa trong nước mắt, những tràng cười và những tiếng vỗ tay tưởng như của 25 năm đọng lại.

Nhưng đó chỉ là chương trình áp chót.

Bà Hoàng Talkshow muốn dành giờ phát sóng sau cuối cho cuộc hàn huyên thiêng liêng, duy nhất, và sau cùng. Chân thành tuyệt đối và sẻ chia hoàn toàn!

Một ngày thứ Ba không như mọi ngày thứ Ba của 25 năm lừng lẫy, Oprah Winfrey, khi này đã 57 tuổi, lộng lẫy, đầy cảm xúc và ắp ứ sinh lực hơn bao giờ, đã kết thúc những chuỗi ngày chuyện trò với nước Mỹ bằng cuộc độc thoại với chính mình trước màn ảnh nhỏ.

Để khép lại một TV show đã khiến người thiếu phụ da màu bất hạnh, lụy tình, bị bỏ rơi và lạm dụng trở thành “chị Hạnh Dung” của toàn nước Mỹ, Oprah đã dành cho cuộc “buôn chuyện” đơn độc cuối cùng toàn bộ 4 giờ phát sóng liên tục những video clip, những khoảnh khắc xúc động nhất, những nhân vật khó quên đã từng ngồi ghế nóng trường quay The Oprah Winfrey Show, và những tự sự thật thà cuối cùng.

Với một bãi đáp êm đềm hoành tráng sau lưng là dự án Oprah Winfrey’s Network (OWN), Oprah điều khiển liên tục 4 tiếng phát sóng với một sự điềm tĩnh, tự tại, nhưng không giấu những giọt nước mắt xúc động trong những khoảnh khắc ôn cố tri tân. “Mỗi người trong các bạn đều có một nền tảng: Bạn luôn có thể giúp một ai đó, lắng nghe, và tha thứ. Điều ước lớn nhất của tôi đó là các bạn sẽ tiếp tục cuộc hành trình đã chọn, làm những điều nên làm và không uổng phí một khoảnh khắc nào cả”.

Trong tất cả những gì thu về được cho chính mình sau một phần tư thế kỷ, đương nhiên là ngoài hàng tỉ dollar, đối với Oprah, đó là bài học “Ta luôn có trách nhiệm với nguồn năng lượng ta tự tạo nên cho mình và lan tỏa đến những người xung quanh. Đừng chờ một bàn tay đưa ra cứu vớt, hoàn thiện, hay sửa chữa lỗi lầm cho chính mình.”

Như thế, Oprah Winfrey nhẹ nhàng khép lại The Oprah Winfrey Show, ngọt ngào, không chút đắng cay: “tôi không nói tạm biệt đâu, sẽ chỉ là ‘Cho đến lần sau nhé!’”

Oprah đứng lên từ sân khấu, rời trường quay bằng con đường xuyên qua khán phòng, thẳng vào lòng khán giả của bà, dừng lại giữa đường để ôm hôn người chiến hữu Stedman Graham thật thắm thiết, high-five với những thành viên ê-kíp đã kịp vây nghẹt lối ra và dọc cầu thang dẫn lên văn phòng của Oprah. Cuối các bậc thang, chú chó cưng của bà đang đứng chờ sẵn.

Bế chú chó trên tay, bà đi thẳng về phía thư phòng khi nhạc hiệu quen thuộc của The Oprah Winfrey Show cũng vừa vang lên những nốt cuối cùng. Nữ Hoàng Buôn Chuyện hài lòng nói nhỏ: “Đi thôi, Sadie, chúng ta xong việc rồi!”

BOX

Cuốn tiểu sử mang tên Oprah của Kitty Kelley đã là một quả bomb dội vào thị trường văn chương Mỹ, nóng bỏng không kém những cuộc buôn chuyện trên sóng quốc gia của chính nữ hoàng talkshow. Nhưng với những độc giả của F., khi mà cuốn sách này chưa được phát hành tại Việt Nam, việc liệt kê một vài chi tiết thú vị cũng đủ để chấm phá hoàn thiện bức chân dung huyền thoại nữ hoàng buôn chuyện:

-       Một người bạn gái thân của Oprah từng nói rằng bà ta “sẽ chẳng ngạc nhiên nếu biết rằng Oprah đồng tính”.

-       Oprah đã từng khăng khăng nhất quyết không chịu thanh toán cho việc đặt viên gạch danh dự tại trường trung học Nashville, trị giá 50 USD.

-       Khi còn đi học, Oprah ứng cử vào hội đồng sinh viên với khẩu ngữ “Thêm Chút Màu Mè Cho Đời Sinh Viên Của Bạn, Hãy Bầu Cho Đại Tẩu Oprah!” (Put a little color in your life, vote for the Grand Ole Oprah)

-       Khi được chất vấn về sự “ngay thẳng” trong giới tính, bà đã trả lời với đám đông rằng “Tôi thậm chí chẳng tè được thành một đường thẳng!”

-       Ba món khoái khẩu: khoai tây trộn kem cua, Ding Dong và gà rán.

-       Oprah phải cho đặt đúc bồn tắm cho vừa với thân mình

-       Trong suốt 13 năm cuối đời tài tử lừng danh Bob Hope, ngày nào bà cũng gửi đến ông một bó hồng.

-       Trong phim trường The Color Purple, Oprah từng cặp kè sát cánh với Whoopi Goldberg, xoắn xuýt với nhà biên kịch Akosua Busia và gây gổ với Steven Spielberf

-       Bà sợ mùi xăng dầu đến mức mỗi khi chuẩn bị tiếp đón chuyên cơ của bà, các nhân viên phục vụ phải quăng hàng chục bịch bắp rang bơ vào lò để át đi mùi này.

-       Gia đình của Oprah không hề cho bà biết gì về người cha ruột của mình, nhưng lại tiết lộ với tác giả cuốn sách là Kitty Kelley, nhưng trong một nghĩa cử quân tử, Kitty đã không đề cập đến thông tin này trong cuốn sách, với tuyên bố rằng chỉ cho đến khi chính Oprah có thể thuyết phục mẹ của bà là Vernita Lee.

buổi chiều màu trà nhạt

Jasmine nOir

Sài-gòn vào Đông – đó là một khái niệm thật lạ cho thị thành nhiệt đới. Giã từ những nỗi u mặc lê thê như thứ mưa dai quấn quít từ cuộc hẹn hò tháng trước, ám ảnh dư chấn buồn cho mỗi F.dater với những lời ân cần còn vọng theo những hò hẹn miên man, rồi lại “đêm nay ai đưa em về?”

Hãy rũ mình khỏi màu u mặc của vị nhạc sĩ già đáng kính, các nữ độc giả của F. cần có cho mình một mùa Đông rất riêng của phố thị hào sảng.

Không có gì sảng khoái hơn là một ngụm nắng đương thời, một chàng trai trẻ biết cười và đẹp mắt, cuộc lưu luyến chỉ nhẹ nhàng phơn phớt thôi, đủ để không quá nặng lòng. Dẫu sao thì mùa Đông nhiệt đới chưa bao giờ là màu sắc tự kỷ trầm luân, khi vào tháng cuối trong năm, diva phố thị vẫn khấp khởi đón mùa lễ hội, và những hẹn hò xin đủ nhẹ để không khó lướt qua.

Bạn, nữ độc giả trung thành của F., đã đến lúc cần cho mình hoặc là một mối quan hệ với chàng trai đủ nghiêm túc để hò hẹn dài dài cho qua mùa lễ hội, hay một date partner đủ lém miệng để vui thú cuộc thanh xuân bất chấp một năm nữa lại sắp qua đi.

Hãy chọn cho mình một chàng trai như thế, và không hề gì, nếu có đôi ba năm tuổi chênh lệch ngược chiều giữa bạn và chàng. Chàng sẽ có profile sáng láng, với rating rạng rỡ xứng tầm F-dater, mật độ xuất hiện phủ sóng từ runway show đình đám của giới thời trang, cho đến soap opera thời thượng trên sóng truyền hình.

Buổi chiều chưa có bóng râm

Hãy chọn một buổi chiều vàng, hãy chờ người đàn ông trẻ tuổi bên cửa sổ cho cái nắng hanh hao cuối ngày đủ phà vào thắp bừng khuôn diện ấy, bởi bạn sẽ không thể không nhìn vào mắt chàng và… thốt lên: “Hoàng Anh xài contact lens hả?”

Khám phá thú vị đầu tiên: người đàn ông tháng 12 có đôi mắt của loài mèo. Chúng như hai quả cầu nhỏ màu trà nhạt hứa hẹn một thứ cặn trà dễ gây say nhưng lắng sâu dưới đáy. Nó không đòi người ta phải điều nghiên sâu hơn nữa, hay khoắng tìm chìm nổi trong đó. Bạn hãy cứ thả nổi lềnh bềnh trong không gian màu trà ấy, sẽ chẳng thể là một cuộc hẹn quá tồi, một khi mắt chàng trông ngộ đến thế!

Người đàn ông tháng 12 hoàn toàn không có vẻ bất an lắm với việc này. A, chàng ắt hẳn đã quá quen, và bạn chợt nhận ra, trong khi đang ngụp lặn vào đôi mắt mèo ấy, chàng đang chơi trò chơi quen thuộc với cặp vũ khí chiến lược màu trà nhạt của mình. Không hẳn là để tán tỉnh, không hẳn là một trò chiêu dụ, chỉ là thói nghịch ngầm của một cậu trai bất chợt thích hí hoáy khảy nhẹ chút cảm xúc bên trong người đàn bà đối diện.

Anh chàng tuổi Thân hơi nheo mắt “Không, màu mắt thật của tôi đấy! Này nhá, khi ra ngoài ánh sáng nó trông như vậy, vào trong bóng râm còn khác nữa”.

Lời mời khá thú vị, cậu nhỏ láu cá! Nhưng hẵng khoan vội tìm vào bóng râm, bởi câu chuyện chỉ mới bắt đầu, và bạn còn hi vọng, chàng sẽ còn nhiều hơn một đôi mắt màu trà.

Ham vui và cuộc vui an toàn

Không bao biện, huỵch toẹt một cách khả ái có chủ đích: “Tôi theo chúng bạn đăng ký lớp người mẫu vì đó là một môi trường có nhiều…cô gái đẹp!”

Sàn runway ngắn ngủi của một ngành công nghệ thời-trang-lai-giải-trí đã quá ngắn cho những bước ngược xuôi, và quá hẹp cho hàng hàng lớp lớp lứa người mẫu vẫn hàng ngày được các agency tung ra như vào chốn không người.

“Hồi mới vào nghề, ai tôi cũng gọi là anh, chị, bởi mình khi ấy là khuôn mặt mới toanh. Bây giờ, khi chợt nhận ra đã có những cậu đồng nghiệp gọi mình là anh, tôi hiểu: cái khái niệm “sườn dốc phía bên kia” không là quá sớm cho một tuổi nghề người mẫu. Có lẽ đây là công việc duy nhất có những bậc “hưu trí” tuổi đôi mươi.”

Cuộc chơi đã là vui, và đường runway ở Việt Nam chưa bao giờ là quá dài. Người ta có thể chuyên nghiệp và chuẩn mực, phô diễn hết bản lãnh của một mannequin sống, nhưng rồi người ta sẽ đi đâu tiếp, trên một sàn diễn hiếm khi dài quá vài bước sải cho đôi trường túc?

Thế là, bài bản như thường lệ, người ta thấy chàng xuất hiện trên màn ảnh truyền hình, với những kịch bản soap-opera thân thiện. Chàng chiếu rọi đôi mắt mèo bằng thủy tinh màu trà vào ống kính, và sưởi ấm lòng người xem bằng những vai diễn theo đúng template nửa đầu phim là mẫu thanh niên vượt khó, và nửa sau là quá trình trở thành kẻ “xấu-do-phấn-đấu-quá-tay”.

“Là một kẻ xấu thú vị chứ, vì nó cho phép ta công nhiên chạm đến những mặt trái của chính mình một cách đẹp mắt và có ích! Nếu cứ mỏi mòn một khuôn mẫu, tôi e rằng bản thân mình cũng sớm bỏ cuộc chơi với những nhân vật truyền hình. Cũng như công việc một người mẫu, ngoài việc thể hiện tốt mọi trang phục, ứng phó với ống kính hay đạo diễn và có mặt đúng giờ, người ta còn có thể làm điều gì hơn thế nữa? Nguyên tắc sống của tôi, cho đến tận bây giờ, vẫn là coi trọng niềm vui, sự hứng thú vô hại của chính mình. Và một lối đi, một hình ảnh, hay những công việc đã mòn vẹt dấu chân không bao giờ có thể giữ tôi lâu được.”

Cũng như với thời trang, chàng tìm đến như cậu bé lọt vào ngôi nhà bằng kẹo giữa những giai nhân catwalk, thì với điện ảnh, cuộc chơi được nâng tầm nhu cầu và càng trở nên thú vị – chàng có thể là bất cứ ai và sống ké vài tháng trong một kiếp sống xa lạ bất kì.

Vậy đó, đặc ân của những ngôi sao truyền hình và điện ảnh chưa chắc là tấm thảm đỏ, sự tung hô và hào quang ánh flash. Họ là những kẻ may mắn được ghé qua sống tạm trong những kiếp sống mà một cuộc đời dù đến trăm năm cũng không thể cho kẻ khác được nhiều hơn 1 vai diễn.

“Sư thay đổi và vận động luôn làm tôi thích thú. Khi nó vận động, ta biết nó đang sống, và phát triển theo một hướng nào đó. Tôi vẫn tiếp tục con đường catwalk của mình, cảm nhận mình đang đến gần hơn phía bên kia triền dốc, có nghĩa là tôi thản nhiên khi nó đến gần. Chả có gì để hoang mang hoảng loạn khi một cuộc chơi phải dừng đúng lúc. Sự tĩnh tại này cho tôi thời gian để chuẩn bị cho mình một sân chơi khác, thú vị hơn, chứ không phải để mù quáng kéo dài một cuộc vui đã đến hồi vãn duyên.”

Chàng còn quá trẻ và sôi nổi để nói đến sự tĩnh tại một cách quá thường xuyên.

“Tôi muốn mình như mặt nước vậy, thản nhiên và uyển chuyển đón nhận mọi thứ được ném vào mình. Chính điều này khiến những người phụ nữ khi đi bên cạnh tôi có cảm giác an toàn vững chãi, nhưng thật ra đó là bởi sự tĩnh tại an nhiên”.

Cảm giác an toàn – thứ đó thật là tốt, cho một góc đàn bà trong một dater lãng mạn say sưa, đặc biệt vào những đêm mưa gió và khi phải băng qua đường vào giờ cao điểm.

Còn vào mọi thời khắc khác trong ngày và trong đời, sự an toàn đó, đôi khi thật đáng ngán.

Chỉ là một cuộc hẹn cuối chiều, nắng vẫn còn tươi lắm, và chưa là cuộc hẹn cuối cùng. Hãy dẹp bỏ đi ao ước ý nhị “Giá mà anh chàng cho mình cảm giác được bất an hơn một chút!”, và trôi tiếp theo dòng hò hẹn, khi mà dẫu sao thì màu nắng và màu mắt chàng khi này, ton-suit-ton quá đỗi đi thôi!

An toàn, ắt cũng không là điều quá tệ!

F.dater vs Số học, và những cuộc hẹn hò không đủ thường xuyên

Bạn buột miệng, như thể độc thoại: “An toàn, đó là một điều chán chết!”

Chàng hóm hỉnh phản bác “Tôi có nói phụ nữ thấy an toàn bên tôi, nhưng tôi có khẳng định là họ đúng đâu?”

Lém lắm! Và sự hứng thú quay trở về, ngay chỗ nó đã ra đi.

Hoàng Anh, thoăn thoắt như màu mắt có thể đổi sắc khi vào bóng râm, đặt trước bạn những nét phác của tay chơi có máu liều nhưng quyết không nghịch dại – một thứ an toàn vừa đủ.

Chàng nói nhiều đến những sân chơi ngắn hạn, chàng mỏi mòn với những vòng quanh quẩn runway và ắt sẽ chẳng ở lâu với màn ảnh truyền hình nếu những vai diễn “vượt khó” lại một lần lặp lại.

Và đối với những cuộc tình và những cô gái cũng vậy:

- Phụ nữ ấy mà, nếu ngày nào cũng thế, là phụ nữ dở.

- Nhưng sự đều đặn đó ở đây là dấu hiệu an toàn

- Ta đang nói về ái tình hay hôn nhân?

- Chẳng phải 2 thứ nên là một?

- Ừ thì cũng đúng là yêu nhau nên mới cưới, cưới rồi thì vẫn nên yêu nhau. Nhưng cho phép tôi hỏi ngược lại, chị yêu nhiều chưa?

Bạn tuyệt vọng nhẩm đếm các cuộc hẹn hò của chuyên mục Date-of-the-month rồi thở hắt ra:

- Tôi không giỏi môn số học

- Vậy tại sao chị còn độc thân?

- Vì chúng ta giống nhau.

Chiều lặng.

Nắng loãng.

Đôi mắt màu trà đã mang sắc của bóng râm.

- Rồi tôi cũng sẽ cưới vợ

- Cậu tìm gì? Gái ngoan nhé? Hay hư hư một tí nhé?

- Hư hư một tí cũng hay đấy, nhưng tôi tìm người thông minh và hiểu tôi.

- Hiểu, hay chấp nhận?

- Hiểu, và chấp nhận.

- Vậy cậu chỉ cần yêu cô ấy thôi, người con gái thật đáng để kiếm tìm và chờ đợi ấy, hãy là tình nhân, thật lâu vào.

- Còn những đứa trẻ?

- Chúng là nguyên nhân à?

- Không. Ô kìa, đương nhiên là không rồi!

- Vậy hãy nói cho tôi nghe đi, dẫu cậu còn quá trẻ, hãy cho tôi biết với, vì sao người ta cần cưới nhau?

Chàng trai của tháng cuối năm đã dừng lại rất lâu, lâu đến đỗi tưởng như câu hỏi không lối thoát sẽ còn ám ảnh bạn mãi…cho đến cuộc hẹn hò tháng sau.

Chàng sẽ nhìn thẳng vào bạn bằng đôi mắt màu trầm, giải thích như thể với một kẻ cuồng tín u mê, hay với đứa trẻ ham chơi say vòi và dần lân cắc cớ: “Thế này nhé, người ta quyết định sẽ kết hôn sau khi khám phá ra rằng người này không thể sống thiếu người kia. Khi mà người này là lí do để người kia chợt thấy rằng sống một mình là không ổn, và những cuộc hẹn hò là không bao giờ đủ gần, đủ thường xuyên.”

Lim dim trong màu nắng đã xuống nốt trầm như mật, bạn sẽ nói trong tiếng thở ra: “Hãy nói y như vậy khi cậu cầu hôn cô gái của mình nhé!”

Ánh mắt chàng người mẫu-tài tử cine lại ánh lên lém lỉnh: “Chắc thế rồi, tôi đang tự nhẩm lại trong đầu đây!”

(photo by DaiNgo)

thật thà gọi tên mùa


Giáng-sinh! Giáng-sinh!

Chẳng bởi vô tình mà những tiếng reo hân hoan vụt cất lên trong lòng khi những dây đèn đầu tiên được mắc lên bên ngoài những department store chuẩn bị cho mùa xả hàng lộng lẫy. Bởi sự hân hoan trẻ nít ấy đòi được cất lên hồi hồi điệp điệp, như một thông lệ mỏi mòn của mùa giá băng. Từ leng keng “Jingle bells! Jingle bells!”, đến lời chúc tụng “We wish you a merry Christmas!” cũng được hồ hởi lặp lại như một điệp từ vô hạn, trong những giai điệu đã thành tập quán của phản xạ hân hoan có điều kiện, được ngân vang từ những chiếc xe bán kem đến tiếng signal trả số lui trong những tầng hầm garage cao ốc.

Giáng-sinh! Giáng-sinh!

Chẳng phải vô tình mà những Giáng-sinh trong quá vãng vẫn long lanh màu những dây đèn nhấp nháy, sắc đỏ màu áo Santa Claus và những sợi lá kim hân hoan một sắc xanh bằng nhựa giả trang của Noel miền vắng tuyết.

Những xanh đỏ trang kim của mùa lễ hội ngây ngô được nạm lên nền trắng lạnh của mùa băng giá.

Những bản nhạc cổ vẫn ngân nga tiếng đồng dao quốc tế, trong khi những ca khúc dành riêng cho Giáng-sinh người lớn lại đầy rẫy bóng vía những chia lìa, những hẹn hò hụt hẫng, và những đơn côi lạnh lùng hơn thứ tuyết giá bằng mút bông.

Con dân miền nhiệt đới học theo người Công giáo phương Tây mà quây quần tụ hội như để xua đi cái lạnh mùa Đông giả tưởng, những sàn catwalk cũng khéo lo liệu vài mảnh lông nhân tạo gọi là hưởng sái nét vương giả mùa thời trang xa xỉ Fall-Winter.

Không ai muốn nghĩ đến cái lạnh của khí hậu hay những cơn lập cập mùa sau cuối, nhìn một đơn vị thời gian to bự lại một lần nữa trôi qua.

Họ trộn mình trong lũ lượt những cuộc hành quân mua sắm, như một cuộc đại di dân lộn xộn bức bối ngược xuôi trong phạm vi đô thị. Như loài thiên di, họ xao xác trốn khỏi những căn hộ độc thân của chính mình, trốn vào những tiếng cười, những kính coong trong hầm garage siêu thị, vào tiếng quẹt thẻ mê man, và trốn vào những hẹn hò hời hợt để thêm vào wish-list một kẻ cùng chống chọi qua mùa giá băng.

Không có mùa nào trong năm mà thiện chí ve vãn, dù hời hợt nhất, cũng được vập vồ đón nhận và nhiệt liệt hoan nghênh.

Đâu chỉ vì người ta quá cần nhau, mà chỉ vì mùa về quá lạnh, và rất cần góp một tiếng hân hoan thật thà.

Có hề gì nếu những mối tình réveillon cũng long lanh thần thánh như tiệc Lễ Bán Dạ, và mau tan như tuyết cuối mùa.

Có sao đâu dẫu tách trà chiều nhạt vị, khi người ta chỉ cần nếm chút gì ấm áp và mùa cuối sẽ thấy dễ chịu ủi an.

Chen chân trong cuộc trốn chạy vòng quanh trong lòng phố thị ấy, người ta trốn mùa, trốn lạnh, cố chạy thật nhanh, thật miệt mài ngược chiều vòng xoay kim đồng hồ đang cứ mãi nhích xa dần những mùa hân hoan đã cũ.

“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu.”

Có người chọn vùi mình vào những năm khổ hạnh cấm cố, vùi mình trong tư thất mà giữ cho riêng mình những mùa lễ đã từng hoàng kim, nô bộc giữ lại cho nhân thế ngoài kia một tượng đài.

Có kẻ chọn trốn vào những phấn son lạc điệu, những xưng tụng mỏi mòn “kẻ không có tuổi…lâu năm”, bước một chân từ hào quang nhan sắc xuống miền nhân thế, mỏi mòn khúc khích nét hồn nhiên lỡ thì.

Cuối mùa, mùa cuối năm…

bên dưới màu trà chiều nhạt vị của cuộc hẹn hò vô phương sờ chạm, đằng sau những trốn chạy miệt mài trong phố thị tù hãm những hân hoan gắng gượng, đằng sau cả những phấn son hào nhoáng níu giữ nét xuân lạc giữa mùa đông, bàng bạc khắp chốn phồn hoa mùa sao sáng chỉ còn một màu trắng lạnh sắc sắc không không…

Bởi trắng chưa bao giờ được coi là một màu.

Trắng – là một trạng thái.

Hãy thả mình thật thà để gọi tên Mùa Cuối, và tìm thấy cả bằng an trong tách trà nhạt cuối chiều.

Bởi mùa cuối rồi, lạnh lắm, và người ta quá cần có nhau!

Vó Chinh-phạt Kỵ-sĩ Prorsum

Hoa Nhài Đen

Thông thường, trong danh sách nhận diện cơ bản mà một fashionista vỡ lòng phải biết, đó là dấu hiệu của họa tiết kẻ sọc màu đỏ và đen trên nền crème ngả vàng. Ngày nay, kỹ năng nhận biết ấy không chỉ thuộc về các tín đồ thời trang, mà sự phổ biến đã lan rộng đến cả những quí ông vốn thờ ơ với sự phù phiếm của thời trang, bởi sự xuất hiện bền bỉ của họa tiết ấy ở khắp nơi, như một dấu hiệu của quyền lực, đẳng cấp và một sự xa hoa đầy tính thực dụng thuần chất quí phái Ăng-lê – người ta biết đó là Burberry.

Không cần phải là một tín đồ thời trang để biết đến Madonna, Kate Moss, hay David Beckham. Nhưng một tín đồ am hiểu sẽ biết thấu đáo rằng tên tuổi của các nhân vật ưu tú và lộng lẫy này nằm trong danh sách thân chủ của nhà Burberry.

Đối với nhiều người, sự xuất hiện của dấu ấn kẻ sọc trên “bộ da thứ 2” của một người được coi là dấu hiệu nhận biết của vị trí xã hội, cá tính thẩm mỹ và đẳng cấp hưởng thụ thuộc hàng thượng lưu.

Ngôi sao nhi đồng Emma Watson xuất hiện ở mọi nơi, với tóc pixie, mặt mộc, mình khoác trench coat Burberry đã khiến các thiết kế của Burberry không còn bị coi là những “thẩm mỹ di sản” của một nhà thời trang Ăng-lê bảo thủ.

Burberry còn tung ra bên lề những dòng nước hoa, giày và cả bikini với một phong cách kinh điển bất biến, bên cạnh dòng áo khoác và túi xách đã làm nên danh tiếng.

Hơn lúc nào hết, vẫn chỉ với những họa tiết sọc, nhà Burberry đang trở nên sành điệu và tân kì hơn trên thị trường thời trang, đặc biệt vào mùa Thu-Đông, khi mà mặc nhiên với vòng xoay của mốt, những kiểu trench coat vẫn nguyên vẹn một sức quyến rũ thời thượng như mới. Và một khi một fashion diva nghĩ đến trench coat, đương nhiên, họ nghĩ đến Burberry.

Dã ngoại Hampshire, chinh phục Nam Cực, và bi kịch Everest

Câu chuyện bắt đầu năm 1856, từ tiệm vải của ông chủ mới 21 tuổi – Thomas Burberry ở Hampshire. Cho đến năm 1870, mặt hàng kinh doanh chủ yếu của Burberry vẫn là những món vật dụng và trang phục đi đường, dã ngoại.

Burberry sẽ vẫn chỉ là một cửa hiệu hiền lành phục vụ nhu cầu thiết thực của con dân Ăng-lê trong vùng khí hậu quanh năm sương mù và ẩm ướt, nếu vào 1880, Thomas Burberry đã không phát minh ra loại vải gabardine dầy dặn với 2 tính năng cải tiến là chống thấm nhưng vẫn thoáng khí, nhờ phương pháp xử lí chống thấm nước cho từng sợi vải trước khi đưa vào dệt.

Phát minh này đã cho phép ông mở cửa tiệm thứ hai hoành tráng ngay tại London, nơi Burberry vinh dự nhận được đơn đặt hàng quan trọng đầu tiên của lịch sử nhãn hàng, với số lượng vải được đặt may cho quân phục sĩ quan Anh. Đệ Nhất Thế Chiến diễn ra, cùng với hình ảnh những người hùng Ăng-lê là hình ảnh quen thuộc của những kiểu trench coat quân phục được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi, không chỉ bởi ưu thế chức năng của loại vải gabardine nhà Burberry, mà còn bởi hình ảnh thuần chất Ăng-lê vừa thực dụng, vừa kiểu cách.

Logo hình kỵ sĩ được thiết kế năm 1901 với hàng chữ tiếng Latin Prorsum (Tiên phong) và được đăng kí nhãn hiệu. Một năm sau, bộ trang phục mang hình kỵ mã đã cùng Roald Amundsen lần đầu trong lịch sử nhân loại chinh phục Nam cực, và Ernest Shackleton cùng đoàn thám hiểm băng qua Nam Cực năm 1914. Từ đó, với danh hiệu “áo giáp của những nhà mạo hiểm”, bước chinh phạt của Kỵ sĩ Tiên phong không chỉ ghi dấu vẻ vang, mà cũng đã cùng nếm mùi chiến bại. Năm 1924, George Mallory, cũng như mọi nhà thám hiểm vĩ đại, chọn Burberry cho trang phục của mình khi thử sức trong cuộc chinh phục bi thảm cuối cùng trên triền băng tuyết của đỉnh cao Everest. Bộ trang phục Burberry đã cùng Mallory mất tích suốt 75 năm cho đến khi được tìm thấy năm 1999. Người ta đã không thể xác định đó là George Mallory, nếu không bởi chiếc áo còn nguyên vẹn, và thẻ tên thêu trên ngực với dòng chữ “G.Mallory”.

Cú kích PR lên đỉnh điểm khi trench coat nhà Burberry xuất hiện cùng người hùng cine Humphrey Bogart lãnh đạm nhưng nghĩa hiệp khôn lường trong siêu phẩm Casablanca, cho đến giai nhân hương sắc Audrey Hepburn trong bộ phim kinh điển của fashionista nhiều thế hệ là Breakfast at Tiffany’s, và cả Peter Sellers cũng khoác trench coat nhà Burberry trong bộ phim đặc sệt chất tình báo Anh điệu nghệ Pink Panther.

tài tử Humphrey Bogart trong Casablanca

Audrey Hepburn

Từ đó, vượt ra khỏi khuôn khổ hình ảnh người hùng quân phục, những chiếc áo khoác nhà Burberry chính thức trở thành một tiệm thời trang với đối tượng từ các tiểu thư, phu nhân sành điệu, cho đến các bậc quân tử hào hoa của phong vị châu Âu lãng mạn. Nhưng chỉ cho đến đầu những năm 1920, Burberry mới chính thức hình thành thương hiệu, và mất thêm 4 thập niên nữa để họa tiết kẻ sọc trở thành một dấu hiệu nhận diện trong giới thời trang, khi này chỉ áp dụng cho túi du lịch, khăn quàng và những chiếc ô – ba món vật cũng đậm chất kinh điển Ăng-lê.

Cũng với hình ảnh thuần chủng ấy, Burberry dễ dàng được chào đón rầm rộ tại Hoa Kỳ và châu Á bởi nét bản sắc đặc trưng.

Thập niên 1960, ngoài pop culture, váy ngắn, tóc pageboy và mắt khói, đã sản sinh cho lịch sử thời trang một cuộc bành trướng nghiễm nhiên của phong vị thẩm mỹ thuần Âu mới.

Từ hỏa tuyến Đại Chiến đến sàn diễn thoát y

Những tên tuổi huyền thoại đa lãnh vực ghi dấu vẻ vang trên lịch sử thương hiệu nhà Burberry đã gắn lên logo kỵ sĩ những tấm mề đay cao quý, khiến hình ảnh thương hiệu không chỉ mang vẻ thanh lịch xa xỉ, mà cả một lòng kiêu hãnh vương tôn thuần chủng.

Nhưng vượt trên tất cả, là hai vết son sáng tạo với vải gabardine thoáng hơi và trench coat. Khái niệm trench coat vốn ngay lập tức khiến người ta liên tưởng đến những bộ quân phục sần sùi, bùn, bụi, những vách đá gồ ghề,… Một hình ảnh mang tính “quân sự”, và sâu xa hơn, hình ảnh của những kẻ mạnh. Và như vậy, nhà Burberry ngay từ đầu đã có cho mình một hạt giống tốt.

Vào thời đó, trench coat được coi là sự thay thế hoàn hảo cho những chiếc áo khoác nhà binh bằng serge nặng nề của quân đội Anh và Pháp thời Đệ nhất thế chiến. Những chiếc trench coat quân đội đầu tiên luôn có cầu vai, và các khóa móc D-ring dùng để treo lựu đạn, túi đựng bản đồ hay những loại dao lê nhỏ. Như vậy, những kiểu trench coat đầu tiên đã được thiết kế hoàn toàn như một trang phục chức năng, và cái tên ‘trench coat’ cũng ra đời từ đó, xuất phát từ nghĩa “chiến hào” của từ “trench”.

Như những chiếc mũ cối của thời chiến tranh đã trở thành món phụ trang dân dụng phổ biến của Hà thành thời hậu chiến, những người hùng trở về từ mặt trận trong những chiếc trench coat, đặc biệt khi mà ngành công nghệ dệt may đã kiệt quệ hoàn toàn sau thời kì đầu tư tổng lực cho mặt trận, trở thành một thứ áo khoác phổ biến cho cư dân thành thị Âu châu, cả nam lẫn nữ, đặc biệt trong thời tiết lạnh và ẩm ướt quanh năm của nước Anh.

Trench coat vào thời kì này được thiết kế với 10 nút áo, vạt trước đắp chéo thường có các màu nâu khaki nhạt, xám beige hoặc đen, vai áo raglan với cầu vai và dây cài ống tay (cuff strap).

Khi những móc khóa D-ring không còn dùng để treo lựu đạn, trench coat trở lại đúng chức năng với xuất xứ của nó – hoàn hảo trong việc chắn gió, giữ ấm cơ thể, chống thấm sương và mưa.

Câu chuyện về những huyền thoại quân đội đã cài cắm vào cái tên Burberry và những chiếc trench coat đầu tiên không chỉ như một trào lưu kiểu dáng mới, mà một giá trị văn hóa và lịch sự thực thụ. Burberry và trench coat mặc nhiên đại diện cho những hình ảnh đầy tính phiêu lưu, các siêu anh hùng phản gián, những tính cách được che phủ qua lớp vạt chéo lãnh đạm, những thân hình bốc lửa được che kín, chỉ lộ vòng eo thắt đáy qua chiếc nịt thít chặt, vạt dưới đủ xô lệch theo bước chân để lộ những cặp chân thon thả tuyệt trần. Sau thời kì hoành hành màn bạc cine, trench coat mặc nhiên được coi là một trong những trang phục gợi cảm nhất của nữ giới và trở thành phục trang ưa chuộng của các vũ nữ thoát y khi mở màn vì nét gợi tình và chức năng…dễ cởi.

Mọi sự thật trần trụi được khéo léo che phủ, những uốn lượn kì thú được vẽ vời thống thiết hoàn toàn bởi sự hiếu kì và óc tưởng tượng. Hình ảnh một quí bà khoác lên chiếc trench coat, với dây lưng siết chặt quanh eo, luôn khiến người ta ý thức rõ rệt rằng bên dưới những lớp vải dầy luôn là những thân hình lõa thể.

Nét hấp dẫn giới tính của trench coat đều mang hiệu ứng ma mị đối với cả hai giới. Trong thời kì Đệ Nhị Thế Chiến, các diva thành thị đua nhau đắm chìm trong những cuộc tình chóng vánh sặc mùi tiểu thuyết lãng mạn. Họ rỉ tai nhau và khai thác trench coat theo một công năng đắc dụng mà Thomas Burberry đã không thể nào ngờ tới. Chiếc thắt lưng siết chặt giữ 2 vạt áo trước khiến quí bà thậm chí không phải bận tâm cài nút áo. Trench coat trở thành “đồng phục đi hoang” của lối sống thành thị thời chiến. Họ tìm đến với tình nhân, lõa thể hoàn toàn bên trong chiếc trench coat.

Ngược lại, hình ảnh nam nhân trong trench coat, sau những người hùng chiến trận, là một hơi hướm phản gián đào hoa tràn ngập màn ảnh cine. Từ gã Dick Tracy bảnh bao đến chàng Rick Blaine của huyền thoại tình yêu Casablanca, thậm chí đến mãi về sau này còn ghi dấu vẻ đẹp lạnh lẽo vị lai của những nam thần máu lạnh trong Matrix.

Trench coat, từ một câu chuyện người hùng chiến trận, đã vượt lên trên tầm thời trang xống áo mà hình thành cả một diện mạo lối sống qua nhiều thế hệ. Người ta có thể gán ghép sự liên tưởng những tính cách mạnh màu nhất tới cá tính nhân vật phía sau lớp trench coat, từ những quí ông “ngầu đời”, tới những quí cô phóng túng. Từ đẳng cấp và đài các đến ý nhị và hào hoa.

Chiến dịch mang tên “Hoa Hồng”

Logo mang hình kỵ sĩ đã cứ thế thẳng tiến chinh phạt suốt một thời gian dài, cho đến khi, người ta chợt nhận ra nét kinh điển đã nhuốm màu bảo thủ.

Những năm 1990, vó ngựa tiên phong nhà Burberry đã trở nên lạc nhịp vòng xoay trôn ốc của trào lưu, và giới phê bình thời trang bắt đầu tỏ ý lo ngại cho tinh thần Prorsum tiên tiến, một khi Burberry, kể từ Casablanca, vẫn chỉ là những ô vuông đỏ và đen.

Đại cuộc hồi sinh của Kỵ sĩ Bất bại được quyết định giao vào tay Rose Marie Bravo năm 1997. Bản thân quyết định táo bạo này cho thấy sự quyết tâm của nhà Burberry khi lần đầu pha máu đế vương bằng việc mời một nữ tổng quản người Mỹ.

Và đó đã là một nước cờ hoàn hảo.

Rose Marie Bravo mang về cho Burberry những thiết kế tân tiến thật sự mang hơi thở trào lưu, những sản phẩm ngắm trúng hồng tâm thị trường toàn cầu, và những chiến dịch quảng cáo hào nhoáng với gương mặt non choẹt của siêu mẫu Kate Moss làm tâm điểm.

Một cuộc cải lão hoàn đồng thật sự. Bản thân Burberry, từ một tên tuổi thủ cựu sắp được tôn vào hàng di sản bỗng nghiễm nhiên trở thành thương hiệu có niên lợi thuộc hàng phú vượng nhất làng thời trang, thậm chí ngay trong thời điểm kinh tế bị tổn thương trầm trọng bởi vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín, nếu không muốn nói là dòng áo thun cao cấp và nón lưỡi trai luôn luôn cháy chợ bởi cả tín đồ thời trang lẫn dân hooligan bóng đá chịu chơi.

Tiếp nối chiến dịch mở màn của bông hồng xứ cờ hoa, các chiến dịch quảng cáo đậm chất thời thượng trẻ trung xuất hiện ồ ạt trên các tạp chí đa đối tượng, từ GQ, Esquire, Vogue, Tatler đến Harper’s Bazaar, với các khuôn mặt đại diện của các cô nàng tomboy măng tơ như Agyness Deyn, Emma Watson, hay ngôi sao non choẹt George Craig, hoặc gần đây nhất là thiên thần nội y Rosie Huntington-Whiteley đại diện cho dòng nước hoa mới Burberry Body vừa ra mắt hồi tháng Bảy.

Hai người đàn bà Mỹ và niềm kiêu hãnh Ăng-lê

Trong giới thời trang, có không ít các thương hiệu hùng mạnh được phát triển trên nền tảng sở trường của một loại sản phẩm đặc thù như một dòng độc đạo duy nhất. Hoặc là họ từ đó mà phát triển trở thành hùng mạnh, hoặc biến sở trường độc đạo ấy thành ngõ cụt không lối thoát.

Quy luật khắc nghiệt này thường được tìm thấy trong con đường phát triển của các nhà thời trang lâu đời và nặng tính kinh điển, như nhà Louis Vuitton, với những rương hòm in hình hoa 4 cánh, đã từ đó vươn tay bá chủ để trở thành tập đoàn cá mập siêu hùng mạnh LVMH.

Trong khi đó, các thương hiệu khác, với cùng xuất phát điểm, chọn bám trụ bền vững với dòng sản phẩm truyền thống, rồi chậm rãi và vững chắc, thiết lập mạng lưới sản phẩm vệ tinh mang nặng tính bản sắc. Đây hoàn toàn không phải là một chiến lược dễ dàng và hiệu quả, nếu họ không sinh ra với sự bảo thủ cực đoan với những gì là truyền thống, và lãnh đạm thờ ơ với những biến động thời cuộc của trào lưu thẩm mỹ hay tư duy thương mại tiến bộ. Hay nói một cách khác, người ta không thể vừa bảo thủ vừa thành công, nếu người ta không mang trong mình máu phớt tỉnh Ăng-lê chánh hiệu con nai vàng.

Tính bản sắc của Burberry, khi được khôn ngoan trao vào tay hai đời nữ tổng quản thông thái, đã được kích hoạt đến thành công tột cùng.

Không nằm ngoài quy luật hợp nhất của các nhà thời trang danh tiếng, Burberry độc lập cho đến 1955, khi được thâu tóm bởi ‘cá mập’ GUS (Great Universal Stores)

Rose Marie Bravo nghỉ hưu năm 2006 và được thay thế bởi Angela Agrendts – người hiện nay là CEO tối cao của Burberry.

Nữ đại tổng quản đời sau là Angela Ahrendts, trong 3 năm đầu cầm quyền, đã tái thiết một Burberry hoàn toàn mới, đẩy lên ngang tầm các tên tuổi hùng mạnh dòng kinh điển như LVMH và Hermes. Ngự ngai tối cao thống trị nhãn hàng thuần Ăng-lê, người đàn bà Mỹ này đang cùng giám đốc sáng tạo Christopher Bailey đã đưa trench coat vào kỷ nguyên Internet bằng hai chiêu bài thông minh với mini trench coat, và trench coat cho dạ tiệc. Gần 2 thế kỷ tồn tại, với khuôn diện măng tơ của đại sứ mần non Emma Watson, Burberry không dấu cả tham vọng lẫn tiềm năng kéo dài mệnh bá chủ và sức sống kì diệu của những chiếc trench coat.

Như một truyền nhân kế thừa hoàn hảo của Rose Marie trước đây, Ahrendts chỉ trong một thời gian ngắn đã làm những điều kì diệu với tên tuổi Burberry. Dù không phải đối mặt với những hậu quả của cuộc đại khủng hoảng, bà vẫn đưa ra chiến thuật tiết giảm và hạ chi phí, cùng lúc phát triển các nhánh hàng xa xỉ, vừa là cứu cánh tài chính, vừa đạt hiệu quả phát triển hình ảnh thương hiệu khi duy trì sự trung thành tuyệt đối với bản sắc của Burberry, từ lớp vải dầy màu camel và sọc đen đỏ quấn quanh các lọ nước hoa, đến nét vintage kinh điển trên từng mẫu mini trench coat.

Khi được hỏi liệu Burberry đang hòa tan bản sắc cực đoan vào cuộc chung chạ giai tầng của toàn cảnh thời trang thế giới, Ahrendts trả lời bằng một dẫn chứng về Donna Karan – thương hiệu trung thành với bản sắc Hoa Kỳ. Nói đoạn, bà chỉ tay về phía nóc tòa nhà Quốc Hội – một trong những biểu tượng kiêu hãnh của nước Anh, và nói: “Đó chính là sự khác biệt của chúng tôi”

 

bonjour tristesse!

Thời Trang – khi đến tận cùng đỉnh cao phát triển của nó, hay trên những trang viết của ấn phẩm F., người ta hiểu, nó không chỉ là thuần túy áo quần.

Thời Trang là ngôn ngữ, dẫu thanh hay tục, là bộ da văn minh dù ở tầm công năng hay đến hàng duy mỹ, là bước chuyển vận của mùa và thời cuộc, dẫu thịnh hay suy. Nó không chỉ là bộ da biến đổi vô tri theo môi trường, thời cuộc.

Bởi nó kể câu chuyện thời cuộc, và những con người trong lòng thời cuộc, những kẻ kiến tạo nên nó, và cả những con người thụ hưởng nó. Thời Trang kể câu chuyện bất tận về những con người, và những thời cuộc.

Thời Trang là những trang nhật ký bất tận của nhân loại, từ thật thà nguyên thủy, đến đế vương hào nhoáng của những giai kỳ bùng nổ văn hóa, hay thô sần như vi diệu của những người đàn ông và đàn bà đi qua đại thế chiến, bó mình trong lớp trench coat trứ danh của ái tình dã chiến, hay chân phương thiệp liệp trong phong mạo nam tử hán phản gián Tây phương.

Hãy nghe câu chuyện kể về những vó phi mã chinh phạt của kỵ sĩ tráng kiện trên mình ngựa Prorsum, về thứ thời trang hỏa tuyến bi hùng,về nhà thám hiểm bất hạnh vĩnh viễn nằm lại trên đỉnh giá băng Everest, trong tấm vải liệm – thứ thời trang cuối cùng, bằng vải gabardine, để nghiêng mình trước niềm kiêu hãnh Ăng-lê thuần chủng trong dáng vẻ người hùng phản gián cinema, đã đột ngột trở thành thứ chiến bào kinh điển của những diva phố thị phong tình ra sao, mà dấy nên cả một món thời trang kinh điển và cơn sốt trench coat lại rầm rộ chao đảo mọi thánh địa thời trang mỗi dịp Thu-Đông.

Thời Trang còn là những thông điệp phi ngôn bao bọc bên ngoài hình hài thịt da thật thà nhân thế, từ những họa tiết bằng mực xanh khảm vào da thịt như những logo tâm linh, tuyệt vọng cấu vặt một chút sắc màu bản ngã, hay hô hào những slogan tinh thần mong tôn tạo làm dáng cho giai nhân vật dục Jolie. Khi những slogan bằng mực được xem là đồ trang sức, thì những hành vi thiện nguyện có chăng cũng là một thứ Thời Trang. Chí ít bởi nó làm một người đàn bà đẹp trông có vẻ đẹp hơn dung nhan thuần túy của một ả đào khiếm tài, đói tình, thừa thủ đoạn.

Thời Trang có hàng chính phẩm, cũng có thứ hàng xa cạ pha máu đế vương. Nữ Hoàng Bán Lẻ Donna Karan có thể nâng cao ngọn đại kỳ Dân Chủ để xô đẩy diện mạo haute couture ra các “thánh địa tiểu thương” dưới hình hài những phiên bản vô tính giá rẻ, nhưng cũng có thể cùng lúc hạ thủ hàng vạn con vật vô tội, tảng lờ trước những tiếng kêu rít của loài thú chết, những cuộc biểu tình đẫm máu theo nghĩa đen, chỉ hòng ve vuốt cho một thị phần thượng thừa xa xỉ, khi mùa Đông không chỉ khắc nghiệt với thiên nhiên, mà với cả nền tảng nhân tính của con người. Dưới lần váy jersey dân chủ ấy, Nữ Hoàng Bán Lẻ của thế giới thời trang hiện nguyên hình ả đồ tể không tim.

Thời Trang còn có thể là những lời bao biện hào nhoáng lụa là mơn trớn người nhìn, mân mê kẻ mặc. Thời Trang có thể là một lượt khăn shawl màu tím để chiều mắt ý trung nhân, rồi đưa người đàn bà vào ngai Nàng Thơ Vĩnh Cửu. Thời Trang có thể là một khúc tình đầu tiên và duy nhất, một lời xưng tội của mái đầu bạc bên người bạn thủy chung duy nhất, cuối cùng, và tuyệt đối chí tôn nhưng đắng cay trong thiệt thòi và nhẫn nhục. Thời Trang che đậy, tôn vinh và bao biện,cuối cùng rốt chỉ một vuông vải liệm thuần sơ giản dị, che phủ lên lần cuối hình hài đã mỏi mệt đến bằng an với một đời mặc mặc cởi cởi những lớp áo thế thái hàn huyên.

F. lại bước qua một mùa Đông đa diện, bước sâu vào những thịnh những suy vần vũ của thời trang, và của thời gian. Khi những cơn hiu hắt của Đông nhiệt đới bừng lên vạt nắng ấm cuối cùng trong một buổi hẹn hò với huyền thoại tân nhạc, để nghe một lời xưng tội của ái tình thống hối, lòng trở nên nặng trĩu dẫu ngoài kia, những hân hoan mùa lễ lạc cuối năm hẵng còn chưa kịp khai hội.

Mùa Đông lại vần vũ đến, Sài Gòn đượm sương vào buổi sáng mà vẫn huyễn hoặc mưa cuối chiều. Thôi thì hãy nghe lại những nốt hoan ca đầy thứ thi vị tự hoại, thứ tiếng khóc bật như reo vang hoan hỉ, bởi “chẳng phải cuộc đời bắt đầu bằng tiếng khóc đó sao?”.

Vậy thì, mùa cuối rồi đấy, sang Đông rồi đấy. Nào thì thả mặc mình trong ân phước được khóc và thống hối. Nào thì hân hoan hay cam nhận, thời trang và thời gian vẫn qua đi qua đi.

Bonjour, tristesse!

Nguyễn Ánh 9 – Vệt Nắng Cuối Chiều

 Jasmine nOir

photo by DaiNgo

Khi thời khắc tiến vào mùa cuối cùng, của một năm hay của một đời người, không chỉ bởi mùa Đông mà người ta thấy lạnh. Một lúc nào đó, bạn có chợt cảm thấy hơi lạnh không chỉ lướt qua lần áo khoác, bởi mùa Đông nhiệt đới còn len lỏi vào tâm can, khi trải qua miên man những mùa hò hẹn, chợt một đêm, bạn vô tình thầm hát cho chính mình, như ủi an, như ân cần tự hỏi “Đêm nay ai đưa em về, mình em trên hè phố vắng…”

Hãy xếp lại những chói chang colour-block từ độ đầu Xuân, gấp lại vạt áo mỏng mùa Hè, cất đi tấm khăn sương khói chỉ đủ ấm cuối Thu. Tất cả đều không đủ để ấp ôm vỗ về khi Mùa Cuối Cùng len lén đến.

Tại sao không lần ngược về câu hát cũ, giữa những hẹn hò liên tiếp của tháng, của mùa, để tìm lại người đàn ông từng của một thời nào đó, đã ân cần gieo tiếng xót xa “đêm mai, ai đưa em về?”

Cho cuộc hẹn hò đầu Đông, diva của f. sẽ không rùng mình khép chặt vạt trench coat hãi sợ cuộc lạnh lùng. Nàng đi tìm người đàn ông đã từng có lần hân hoan chào đón nỗi buồn, từ rất nhiều mùa Đông về trước “bonjour, tristesse!”

Buồn ơi, chào mi!

Người đàn ông mùa Đông ấy vẫn không ngừng nghỉ. Bước qua danh tiếng của một nhạc sĩ, ông trở về làm người nhạc công, say sưa và tuẫn tiết. Hãy đến không gian của người nhạc công tuổi xế chiều ấy để lắng nghe không chỉ ngôn từ.

Bạn sẽ chọn chiếc bàn gần sân khấu, lơ đễnh lật cuốn menu tím rịm được chu đáo đặt khẽ bên cạnh. Bạn sẽ hơi giật mình đấy, diva sành sõi ạ, bởi thực đơn được bắt đầu với những món nghe khá lạ tai: Cánh Hoa Xưa, và Đừng Để Mắt Em Lệ Thắm Long Lanh!

Bạn nhận ra trong tay mình khi này là cuốn Tình Khúc Nguyễn Ánh 9 được ưu ái ký tặng, rồi ngỡ ngàng ngước mắt nhìn lên “anh phục vụ” mặc suit đen vẫn kiên nhẫn đứng chờ, bạn sẽ nhận lại được nụ cười hóm hỉnh trên khuôn diện hòa lành của tượng đài tân nhạc Việt Nguyễn Ánh 9.

Hãy mời ông một chiếc ghế sát bên chứ không phải nơi đối diện, vì người nhạc sĩ có một giọng nói rủ rỉ ấm áp đến độ bạn sẽ không muốn bỏ qua, khi mà trong cái se se của mùa Đông nhiệt đới, ông kể cho bạn nghe về sự cô đơn, và nỗi khắc khoải của những bài hát buồn vô tận.

Nỗi cô đơn không có tuổi tác. Một cậu trai có thể trách hờn duyên số, giật giọng từ chối “Không! Tôi không còn yêu em nữa!” như một bàn tay đưa ra xô người con gái, như một tiếng sập cửa, như một cú nguẩy dỗi hờn. Em xem đó, như đứa trẻ nít, ta lấy của nó một cây kẹo, nó sẽ khóc để đòi lại cho bằng được mới nghe, rồi khi cây kẹo được chìa ra trở lại, có thể đã quá trễ, đứa nhỏ sẽ quẫy mình tức giận. Đàn ông, lớn bé chi đó, cũng đều là trẻ nít mà thôi.

Thế thôi mà cô đơn.

Càng có tuổi, nỗi cô đơn lắng vào trong, rồi những cậu trai lớn thành những người đàn ông, và những người đàn ông càng đắp thêm năm tháng lên tuổi đời. Họ học cách không quá bất ngờ với nỗi cô đơn, họ học cách thỏa hiệp rồi chung sống hòa bình với nó. Rồi đến một lúc, họ thở phào khi tìm lại nỗi cô đơn đến trong đời, hân hoan như chào đón một người bạn cũ, một thứ đã thân thuộc, và họ an toàn trong đó. Trong nỗi cô đơn riêng tư và êm ái ấy, họ đàn, họ hát, họ khóc kiểu đàn ông, và giải tỏa năng lượng cảm xúc. Những người đàn ông nghệ sĩ, họ trở nên ưu ái nỗi cô đơn riêng tây là vậy, thậm chí họ kiếm tìm, ngay trong cảnh đuề huề viên mãn. Cứ để yên cho họ loay hoay trong cái ổ cô độc ấy, họ là nghệ sĩ mà, họ lành hiền, và không gây tổn thương phương hại đến ai, như những chú dế, họ chỉ gáy lên tiếng vĩ cô độc của mình.

Tinh cầu này đông người lắm, một cộng đồng cô đơn đông đúc.

Họ không nắm giữ được nhau, trượt qua nhau, nên tìm chạm đến nhau bằng âm thanh, bằng ngôn ngữ, hay bất cứ món quà nghệ thuật nào được Tạo Hóa trao tặng cho.

Tại sao lại chỉ chia sẻ nỗi buồn khi mà đó không phải là tất cả của cuộc sống?

Bởi phàm bữa tiệc thịnh soạn khi được thiết đãi, đâu chắc đã thi vị bằng một củ khoai chia sẻ trong đắng cay. Một gói thuốc đắt tiền hào phóng cho nhau, đâu thể nhớ lâu bằng điếu thuốc duy nhất chuyền tay bạn hữu.

Cuộc đời là quả táo, bên xanh bên đỏ, sao không chọn phần tươi ngon mà thưởng thức, mà lại đắm đuối vào một nửa chát chua?

Vì sao Chúa trời phải mang trên mình thập giá?

Ôi không, Chúa trời mang thập giá bởi chúng sinh muôn loại, còn bạn thì đã miệt mài những hò hẹn showbiz đủ để hiểu bản chất nghệ thuật chân chính là hành vi vị thân. Đối với những người đàn ông thích buồn và biết khóc ấy, cũng chẳng nên quá bận lòng với phần chua chát mà ta cắn phải hay tự chọn cho mình, bởi khi vị đời được đẩy đến cực đoan dẫu chua hay ngọt, ấy là khoái cảm của việc sờ chạm đến thâm sâu cảm xúc đời người

Những kẻ tội nghiệp. Trong giai điệu bản nhạc buồn bã nhất những nốt cao hân hoan chào đón nỗi buồn “xin chào mi, khi người yêu đã bỏ ta đi…”

Hồi đó tôi còn trẻ lắm, cuốn Bon Jour Tristesse của Francoise Sagan đang rất thịnh. Kì lạ một nỗi, dẫu chưa kinh qua một nỗi buồn thật sự, mà đã cảm tác thành một thứ khoái cảm buồn bã “Buồn Ơi Chào Mi”. Dường như nghiệp mệnh từ khi ấy, đã dẫn dắt tôi tìm đến sự ủi an của nỗi buồn – một thứ an ủi tội nghiệp nhưng rất thật “nếu trên đường đời ta lẻ loi một mình, thì trên con đường tình ta có mi, buồn ơi!”

Khác với nhạc phẩm “Không!”, khi vế phủ định cuồng nộ của kẻ bị phụ tình lắng đuối với những note cuối cùng thống thiết “em ơi!”, thì “Buồn Ơi Chào Mi” lại kết thúc với đỉnh cao thăng hoa khoan khoái “ta có mi, buồn ơi!” Có phải từ trong tiềm thức, nhạc sĩ cự tuyệt ái tình viên mãn để đến ẩn trú trong nỗi cô đơn thường trực và an toàn?

Em có bao giờ biết cảm giác giải thoát khi được bật ra tiếng khóc? Tại sao lại tránh sợ và buộc lỗi cho nỗi buồn và những tiếng khóc? Tại sao không làm bạn với nỗi buồn và sự cô đơn để không còn hãi sợ nó? Tại sao không hoan hỉ đón lấy nỗi buồn cũng như niềm vui, khi đó là nỗi buồn cứu rỗi, khi những giọt nước mắt xoa dịu nhu cầu được khóc?

Con người ta cần khóc lắm chứ. Họ tới rạp cine, xem tiểu thuyết diễm tình và khóc cả ở những đám cưới. Chẳng phải cuộc đời này bắt đầu bằng tiếng khóc đó sao?

Khóc được – ấy là một ân phước.

Vậy chăng làm đau một nhạc sĩ, ấy là tặng anh ta một món quà?

Một món quà quý. Thường thì nỗi đau và những món quà quý đều được giữ gìn rất lâu.

Những mảnh vỡ quý giá và Nàng Thơ không đi chợ

Phần lớn những nhạc khúc buồn, những bản tình ca, những “tiếng khóc”, tôi khóc giùm người ta, tôi yêu ké những mối tình được sẻ chia và khóc nỗi lòng của họ bằng tiếng khóc duy nhất mà tôi biết – Âm Nhạc. Còn ra, bóng hồng bóng tía nàng thơ trong nhạc tôi, trước sau cũng chỉ hình ảnh một người đàn bà ấy. Là Nàng Thơ của một nhạc sĩ, nàng phải là người đàn bà mà gã đàn ông bên trong người nhạc sĩ sẽ mãi không có được. Nàng phải hư hư thực thực, và nàng nên ở đủ xa để không kịp bị cuộc thường nhật vợ chồng làm rõ vết chân chim vào buổi sáng thức dậy bên nhau. Nàng là Nàng Thơ, nàng đâu thể tuềnh toàng xống áo, nàng cũng chẳng thể đi chợ đau đáu chuyện cơm rau, và ắt hẳn nàng cũng không nắm rõ chuyện củi cao gạo kém ra sao ngoài đời. Nàng mong manh là vậy, nên người nhạc sĩ sẽ chọn cho nàng sự bảo bọc an toàn bằng khoảng cách và thời gian. Nàng mong manh là vậy, sao nàng giáp mặt được cả những điều xấu xí đời thường mà cuộc chồng vợ sẽ thố lộ suồng sã với nhau?

Nhạc sĩ yêu cuộc tình hay người tình?

Tôi yêu cuộc tình, bởi nó nên thơ quá đỗi. Cái thời thiếu niên tinh khôi như mới, cả nỗi buồn và sự mất mát cũng mang cái đẹp đầu đời. Nói rằng tôi yêu người tình cho đến tận ngày nay cũng vừa đúng vừa sai. Bởi tôi nhớ như in giọng nói, tôi nhớ cách nàng luôn ân cần hướng về tôi, tôi nhớ tà khăn nàng quấn, nhớ cả cặp bông tai nàng chọn đeo làm đẹp mắt tôi. Nhưng nào đâu phải tôi yêu bà ấy đủ để mang cuộc đời ra bù đắp một cuộc tình dang dở cho nhau.

Tôi nuôi dưỡng hình ảnh đó, cuộc tình đó, rồi tôi nâng niu trân quý đặt vào một góc thiêng liêng trong tim, để không điều gì, kể cả thời gian, chạm được đến mà thay đổi điều đẹp đẽ chí tôn ấy trong lòng, ngay cả chính nàng.

Nếu một khi bị tước đoạt đi bóng vía cuối cùng để mặc lòng tơ tưởng, để thả rông thói lãng mạn vô hại của mình, ấy sẽ là khi “tình yêu đã chết trong tôi, nụ cười đã tắt trên môi, chỉ còn tiếc nuối khôn nguôi cô đơn bơ vơ tiếng hát lạc loài…”

Nếu không vì nghiệp chướng mà Romeo và Juliette gánh chịu, liệu họ có hạnh phúc về sau?

Tôi cho là không đâu em à.

Họ, những nàng thơ, và những chàng Romeo, họ trẻ trung, đa cảm và dại dột quá đỗi, họ khó lòng kinh qua cho tròn vẹn với những cuộc hôn nhân.

Nghe chừng như hôn nhân là một môi trường đào luyện con người?

Đúng hơn là môi trường tốt nhất.

Đó có phải là một môi trường khắc nghiệt?

Quá khắc nghiệt!

Chẳng phải người ta vẫn thường muốn trưởng thành, tự hoàn thiện bản thân trước khi bước vào hôn nhân?

Thường là vậy, và họ sẽ nhận ra rằng họ đã sai! Hôn nhân là dấu chấm hết của ái tình, và đào luyện con người trở thành những kẻ trưởng thành trong cô đơn.

Có vẻ như môi trường đào luyện ấy không hề mang màu sắc thú vị hay lãng mạn cho một dating diva còn say sưa những hò hẹn miên man. Rồi bạn tự hỏi, vậy sao người ta lại vẫn đến với nhau và thành vợ chồng?

Vì phần số tạo nên điều đó. Vì họ cần dừng chân và thả neo. Vì người ta cần tìm đến bên một người tri kỷ tốt để cùng tựa vai và làm nên những đứa trẻ.

Than ôi, luận điệu của hôn nhân chức năng quá cằn cỗi, thực tế đến nhẫn tâm nếu tất cả những gì bạn quan tâm về hôn nhân là những mẫu mới nhất của Vera Wang! Và người đàn ông bé nhỏ mang khuôn diện hòa lành ấy lại một lần nữa, với giọng trầm trầm mực thước, đặt ra trước bạn một thực tế khó coi: Nếu không vì tình tri kỷ, sự gần gũi ấm áp ủi an, và vì những đứa trẻ, hôn nhân sẽ chỉ còn là một dấu chấm buồn cuối cùng của rất nhiều điều lãng mạn mà không mở ra điều gì cả!

Vậy ra người đàn bà của nhạc sĩ, để bước vào âm nhạc của ông, nàng sẽ phải đứng lên và bước ra khỏi cuộc đời ông?

Làm chi nữa, bởi đã có một người đàn bà bỏ ra đi, lâu lắm cả vài chục năm rồi em ạ!

Hoàng Tử Bé và buổi xế chiều khoác khăn shawl màu tím

Đương nhiên là bạn muốn được kể về Nàng Thơ trứ danh nọ, người đàn bà đã ra đi để vĩnh viễn ở lại ám ảnh mọi giai điệu, ca từ của một Nguyễn Ánh 9 tài danh

Và câu chuyện bắt đầu…

Từ rất nhiều mùa Đông trước, như bao vạn cuộc tình trên đời, một cậu trai nào đó, bởi chọn theo nghề ca xướng mà vuột tay đánh mất cuộc tình được coi là đầu đời. Chàng bỏ nhà ra đi làm chàng nhạc công chơi dương cầm: “Từ lần đầu nhìn thấy cây đàn dương cầm, tôi 17 tuổi, lập tức bị mê hoặc trước tạo vật hoàn thiện đến vậy. Từ cung bậc cho đến cấu trúc đẹp hoàn mỹ. Tôi vẩn vơ thán phục người nào chế ra cây đàn hoàn hảo đến vậy, như một khí cụ tuyệt mỹ và đắc dụng như một phương tiện, như một món quà mà tôi về sau bỏ cả đời để tự tau luyện đặng sử dụng thuần thục nhất, nói nỗi lòng mình bằng thứ xúc cảm vô ngôn.”

Từ nỗi đam mê bất chợt ấy, lịch sử tân nhạc Việt Nam có một Nguyễn Ánh 9 với những ca khúc đi vào huyền thoại, từ “Không!”, cho đến Đêm Nay Ai Đưa Em Về, Mùa Thu Cánh Nâu, Cô Đơn,…

Tôi xưa giờ yêu màu tím. Cái màu của kỷ niệm và của chân trời. Em có bao giờ thấy màu tím của chân trời chiều chưa? Nó mong manh khó nắm bắt lắm, rồi thoắt đã thấy chuyển sắc, khi hồng khi xanh. Phải ngồi thật lâu, lâu lắm, để nắm bắt được một khoảnh hắc thăm thẳm trân quý ấy.

Như một hoài niệm ái tình vậy, chờ cả đời khắc khoải mới chợt nhận ra rằng nó vừa thoảng qua đời ta. Thế thôi, rồi tơ tưởng tiếc hùi hụi cả đời.

Bạn thoáng nghĩ đến Le Petit Prince – vị hoàng tử trên tinh cầu cô độc và những buổi hoàng hôn hồi hồi điệp điệp vào một ngày quá đỗi buồn. Cho đến bây giờ, độc giả của Antoine de Saint Exupery vẫn ngưới mặt nhìn trời và hân hoan tin rằng Hoàng Tử Bé đã tìm về bên bông hoa của cậu.

Bởi điều này vẫn có thể xảy ra.

Rồi có những khi, cái mong manh chọn bước ra ngoài vùng dĩ vãng huyễn hoặc để chào mời cuộc gắn kết muộn mằn. Người đàn bà ngày xưa ấy, đã một lần trở lại tìm ông, hàng chục năm sau đó.

Nàng ngày xưa chỉ là một người con gái bình thường lắm, dại miệng mà so đo, nàng đâu đẹp bằng vợ tôi. Ấy mà cái ngày Nàng quay trở lại, nàng chọn mặc một tà áo tím, đôi bông tai và chiếc khăn shawl mỏng quấn quanh vai cũng màu tím nhạt. Nhưng rồi tôi để bà ấy lại ra đi một lần nữa… Tôi trót gắn bó quá rồi, với nỗi khắc khoải mất mát xa xôi, ắt sẽ lạ lẫm lắm, hồ nghi ngờ vực lắm, và lúng túng muôn phần trong một sự viên mãn tròn đầy. Tôi để bà ấy ra đi, để bà ấy được mãi là Nàng.

Những Nàng Thơ, họ không thể làm vợ?

Có chứ, nhưng của người đàn ông khác. Nàng sẽ đi chợ và chăm sóc cho một ngôi nhà khác, mặc tình. Còn vợ cũng không thể làm Nàng Thơ. Vợ là người bạn đời, người bạn của suốt cuộc đời. Vợ sinh ra những đứa trẻ, nàng sẽ dồn phủ lên đó tất cả tình yêu của mình, và khi ấy, đứa trẻ nít bên trong người đàn ông sẽ chịu phận ra rìa. Đó là khi họ lại vùi mình vào góc cô đơn nho nhỏ ấy, ta thán và sáng tác những bài ca về tình ái vĩnh hằng.

Em biết đấy thôi, đàn ông, họ là những trẻ nít to bự sống lâu năm. Vợ, họ nên là người đàn bà của cuộc đời.

Họ yêu và chịu gán đời mình với một người nghệ sĩ, ắt phải là người đàn bà có tâm hồn và vị tha vô lượng, điều đó sẽ giúp họ vượt trên tầm nhi nữ thường tình.

Nhân nhắc chuyện lại nhớ ông Đoàn Chuẩn. Âm nhạc của ông cũng tương tư tôn thờ duy nhất một hình ảnh Nàng Thơ, mà hẳn là không phải bà nhà. Bà biết, và thản nhiên sống cùng, xem như là hồn ma bóng quế ai cũng mang theo mình. Ông nhạc sĩ nọ quả may mắn cưới được người vợ hiểu biết, nên cũng vì vậy mà Nàng Thơ, dẫu ngoài đời thật ra là một ca sĩ, vẫn vĩnh viễn là hồn ma bóng quế, là khói là hương để mượn vía mà tụng ca. Người vợ nọ không than phiền hờn lẫy, bởi bà hiểu rằng người nhạc sĩ yêu Cái Đẹp, chớ có phải đâu ông yêu người đẹp. Những nhạc sĩ, ở đây tôi chỉ nói đến phái lãng mạn chuyên chính, họ tưng tiu bóng vía Nàng Thơ lắm, nên không thể cậy nghệ sĩ tính mà phóng túng vô luân. Họ tội nghiệp, họ chỉ xin giữ lại cho riêng mình một góc riêng mẫn cảm mà người bạn đời am hiểu sẽ tôn trọng mà không khuấy động đến. Ấy là cái Tôi còn lại cuối cùng cần giữ cho riêng mỗi người, ngay cả khi đương trong cuộc vợ chồng. Phần còn lại, người đàn ông vẫn sẵn lòng hiến trọn để đáng làm bạn với nhau trong suốt cuộc đời.

Nàng vũ nữ thiết hài và bản tình ca duy nhất

Ông gặp người đàn bà của mình khi nàng đang vào độ rạng ngời hương sắc – một vũ công cabaret 20 tuổi. Rồi họ chọn gắn ghép hai cuộc đời lại với nhau.

Hồi đó tôi 25 tuổi khi cưới bà. Tôi tìm đến bà vì bà cũng là một nghệ sĩ, một người bạn tốt để dựa đời vào nhau. Rồi cũng có chút phản kháng đắng cay, khi tôi quyết không thương cô nào gia đình thượng lưu hay trí thức, để cho họ thấy chúng tôi xướng ca mà không vô loài, rằng chúng tôi, những người nghệ sĩ đến với nhau vì cảm thông thấu hiểu, sẽ ở được với nhau trọn vẹn cuộc phu phụ chứ không như người đời chê bôi. Trong quyết định đến với nhau của tôi, có chút bốc đồng và phản kháng, ít nhiều dư chấn cuộc tình đầu không may. Trong đó, có cả sự tìm kiếm hướng về một tri kỷ, hơn là một người tình.

…Tôi về cưới vợ thế là xong,

Vợ tôi không đẹp bằng em mấy,

Cũng đủ cho tôi thỏa ấm lòng…

Bạn ngân nga cùng người nhạc sĩ những vần thơ đã cũ, chợt thấy nhói lòng cám cảnh cho cả hai người đàn bà trong đời một người đàn ông.

Chúa tạo người đàn bà ra đặng trừng phạt đàn ông. Đàn ông tham lắm, càng tham càng nhiều sự trừng phạt. Họ muốn có người tình, họ đòi thêm tri kỷ, rồi họ muốn rằng đó là hai người khác nhau.

Phải chăng ý thức được thuộc tính tham lam ấy khiến người đàn ông an tâm hơn với với sự tham lam của mình mà mặc tình dung túng?

Ấy không, chớ nói như vậy! Ý thức được, phải coi đó là tội lỗi. Một khi coi là tội lỗi thì mới lãnh nhận được “sự trừng phạt”. Thế rồi ta giác ngộ, yêu thương, bù đắp, chớ đâu phải để buông tuồng dung túng bản thân cho đến ngày chính sự trừng phạt cũng bỏ rơi ta, vì kẻ vô độ đã không còn xứng đáng với bản thân sự trừng phạt.

Mỗi năm, vào sinh nhật vợ mình, tôi luôn mua tặng vợ một món quà, dù lớn hay nhỏ, cũng một món quà. Rồi có một năm, tôi không có tiền, không có một chút gì giá trị để làm quà tặng vợ. Thôi thì tôi chỉ có âm nhạc, lại nhủ lòng bao năm kề cận, bao năm bà ấy đắng cay lắng nghe những lời tương tư dành cho hình bóng khác, tôi muốn viết tặng bà ấy một ca khúc, đầu tiên, duy nhất, và thật thiêng liêng.

Tôi nói lên tất cả những gì tôi đã làm, những suy nghĩ, tình cảm tri ân tôi dành cho người bạn đời. Tôi ví mình như con thuyền ngu khờ mải mê theo dòng ra biển bỏ bến, đến khi tơi tả sóng gió biển đời, tôi cám ơn ngày về còn thấy bến vẫn chờ đợi bao dung. Tôi thấy mình nhỏ bé và mỏi mệt lắm, tôi ở lại nương nhờ vào bến. Tôi kết thúc bản tình ca đầu tiên và duy nhất ấy bằng một câu, xót mình, thương người: “Hạnh phúc nào không tả tơi, không đắng cay?”

Bản thu duy nhất tôi cậy nhờ một ca sĩ, và do con trai hòa âm. Một bản thu giản dị nhẹ nhàng thôi. Vợ tôi nghe xong bảo tôi rằng đó là món quà bà thích nhất.

Em giữ đừng phổ biến bản nhạc này, bởi lần duy nhất tôi dành tặng Âm nhạc cho bà ấy, vợ tôi nghe xong chỉ nói “Đối với em, bấy nhiêu đây là đủ rồi!”. Hãy cứ để cho một lần dù ít ỏi, tôi dành cho vợ tôi một điều duy nhất.

Kẻ tội đồ và lời trách cứ bằng ca từ viết lại

Có hồi tôi tưởng rằng mình nên giải nghệ rồi đổ bệnh vì nghỉ quanh ở nhà. Tôi chợt nhận ra mình thiếu thốn cực kì, mất thăng bằng, và cho đến tận lúc này, tôi mới nghiệm ra rằng vợ tôi đã yêu thương tôi nhiều đến độ nào. Bà về với tôi năm 20 tuổi thanh xuân, đương là vũ công cabaret đầu tiên ở Sài gòn. Suốt mấy chục năm bên tôi, bà chưa bao giờ thố lộ rằng bà ấy khắc khoải nhớ thương sân khấu biết chừng nào. Có đôi lần tôi mời bà theo tôi đi làm, coi tôi diễn đờn, bà ấy chối từ với lí do “lẽ nào mình ngồi chơi khi chồng mình làm việc”. Sau này tôi nghĩ, có lẽ bà chỉ muốn tránh thương nhớ ánh đèn sân khấu về đêm.

Ông có yêu thương bà nhà không?

Có chứ!

Như một người tình?

Người đàn ông im lặng rất lâu, tưởng như ông không nghe thấy câu hỏi, hay bởi người hỏi đã tỏ ra quá chừng thô bạo.

Nhưng rồi ông nói, thật sự nói.

Đời tôi mang tội với hai người đàn bà: người tình cũ và người vợ. Tôi nói ra đây không cầu mong vị thứ, chỉ mong nói cho trọn lòng mình vậy thôi. Dẫu gì các bà ấy cũng đã tha thứ cho tôi cả cuộc đời tôi, đời họ rồi.

Hạnh phúc nó đơn sơ và gần gũi lắm, nhưng người ta chỉ nhận chân ra được qua những vòng vèo bầm dập của cuộc đời.

Khi người ta trẻ, người ta kì vọng vẽ vời nhiều thứ lên dung mạo hạnh phúc lắm. Phải chăng việc nhận chân ra hạnh phúc giản dị kề bên chỉ có khi người ta mỏi mệt săn tìm để chuyển sang cam nhận?

Người đàn ông hiền hòa nở một nụ cười bao dung: Lão luyện quá! Một phần nào thôi, dù là một phần khá lớn. Thôi thì thương tôi, hiểu cho tôi. Duyên phần là vậy, nó đến, và mình biết nó không giống như điều mình khắc khoải kiếm tìm, nhưng khi mệt mỏi và yếu đuối, con người ta thường làm được những việc không ngờ.

Dường như điều ông khắc khoải tìm kiếm không phải là một mối tình lãng mạn đã qua, mà đúng hơn ông khắc khoải kiếm tìm nỗi đau mà cuộc tình mang lại?

Nói vậy cũng đúng, hoặc giả em có thể hiểu rằng “hạnh phúc nào mà không tả tơi?” Thâm sâu trong niềm phước hạnh, ấy chẳng phải là nỗi đau và ngược lại? Chẳng phải bay bổng lên trên những ca từ của nỗi đau là một giai điệu thăng hoa hân hoan bay bổng tưởng chừng tréo ngoe? Tôi nghĩ có chăng đấy cũng là việc tuân theo cái lý lẽ đăng đối âm dương của vạn vật trên đời.

Có phải tại ngôi sao lấp lánh nhờ nó ở xa cho kẻ sĩ tương tư?

Có thể lắm, tôi thương tưởng cái long lanh kí ức, nào đâu phải tôi yêu một hành tinh.

Có lần, trong bản Lặng Lẽ Tiếng Dương Cầm, tôi kết bằng câu “Lặng lẽ một tiếng đàn trong đêm, một nỗi buồn không tên, một tình yêu tôi đã quên.” Vợ tôi trách rằng tôi viết vậy là dối lòng, ma ngụy mà tầm thường lắm, rồi bà sửa ca từ lại cho tôi thành “một nỗi buồn không tên, một Tình Yêu đâu dễ quên”…

Bạn buột miệng “Bà ấy ắt phải rất yêu ông”

Người đàn ông bé nhỏ lặng người nhìn ra ngoài cửa sổ, nắng chiều muộn mằn hắt lên hiu hắt những nét trầm ngâm – như một khoảnh khắc mong manh của màu tím chân trời. Không gian se thắt lại khi ông run run cất tiếng, nhẹ như một hơi thở dài “Tôi có lỗi, có lỗi nhiều lắm…”

photo by DaiNgo

Người nhạc công-nhạc sĩ huyền thoại ấy giã từ cuộc hẹn hò đầu Đông bằng một lời cám ơn và một cái bắt tay bằng những ngón dương cầm nhẹ thênh, ấm áp.

Ông ra về, mong manh không tiếng như khi ông đến.

Bước ra khỏi bộ quần áo vị quan tòa tình ái, chỉ còn lại người đàn bà, f. diva nhìn theo cái dáng nhỏ bé hao mòn của người đàn ông lớn tuổi, và thấy thật buồn, buồn đến vị tha.

 

 

Có con cừu đực chấm bi…

Đàn ông thì không phù phiếm. Họ làm việc, rất quan trọng, và không có thời gian.

Bởi họ cần minh chứng cho sự giản dị và tính thực dụng thuần túy đàn ông tính.

Đối với không ít người, đặc biệt là tại thị trường Việt Nam, thời trang nam là một trong những lãnh vực thừa thãi, phi nghĩa và tẻ nhạt.

Các người mẫu nam mệt nhoài, thưa thớt và lúng túng vì ít đất diễn.

Các nam nghệ sĩ, những nhân vật tiên phong cho phong cách phục sức phái mạnh, bị các nhà thiết kế bỏ rơi vào tay các nhãn hiệu quốc tế, hoặc lúng túng cài cắm thêu đính lên thân mình bất cứ thứ gì lấp lánh nhặt được từ các món phụ kiện dành cho quí bà.

Người ta có tất cả 2 lựa chọn mua sắm: các công ty dệt may nội địa và các nhãn hiệu nước ngoài.

Người ta cũng có không quá nhiều lựa chọn cho kiểu dáng: T-shirt hoặc sơ-mi, ống dài hay ống ngắn, bỏ vào hay bỏ ra.

Đàn ông thì không phù phiếm. Họ làm việc, rất quan trọng, và không có thời gian.

Bởi họ cần minh chứng cho sự giản dị và tính thực dụng thuần túy đàn ông tính.

Cho đến khi một vài người đàn ông khác xuất hiện, như những con cừu chấm bi giữa một đàn cừu kẻ sọc.

 

Trái cherie phù phiếm và những hạt đậu lạc loài

Có thể gọi show diễn bộ sưu tập Thu-Đông của những chàng trai nhà Maschio là một “Liên Hoan Chấm Bi Toàn Thành”. Từ giờ tiệc cocktail trước show diễn, gian khánh tiết khách sạn StarCity lốm đốm họa tiết polka-dot, sự khác biệt duy nhất, là thứ họa tiết trông như những chiếc mũ nấm này được hãnh diện trưng trổ bởi những anh chàng điển mã.

Nhà thiết kế của bộ sưu tập lại là một trong những nhân vật hiếm hoi trong đêm diễn không mang trên mình những đốm polka.

Trần Minh Dũng: Đó là một cú pháp PR cơ bản thôi, chúng tôi gợi ý cho các khách hàng quen thuộc của mình, đặc biệt là celebrity, mặc những bộ trang phục của chính họ mua từ Maschio.

Sành Điệu: Khách hàng của anh, những người đàn ông ấy, có tỏ phản ứng dè dặt khi nhận được yêu cầu như vậy?

TMD: Chắc chắn không. Họ là khách hàng của Maschio, những người tìm đến giải pháp tách biệt bản thân khỏi bầy cừu.

SĐ: Và như một sự kiện thời trang cùng tất thảy thói cầu kì của nó, quy định trang phục dành cho khách mời đã là…

TMD: …Fabulous! Đó là nguyên tắc cơ bản hàng đầu và không phải là vô định.

SĐ: Có trường hợp vi phạm dress code tưởng chừng như không hề khe khắt đó không?

TMD: Có chứ, thời may không nhiều. Một chiếc váy boheme giữa một sự kiện sang trọng, phía trên là một mái tóc pixie chẳng hạn.

SĐ: Tại sao anh không nhắc nhở?

TMD: (nhún vai) biết sao được, trên đỉnh ly kem không chỉ có cây dù và trái cherie, đôi khi có cả những hạt đậu phộng nữa. Tôi thường biến sự cẩu thả của kẻ khác thành động lực làm việc của bản thân. Rất tiếc, trong trường hợp của chiếc váy boheme lạc loài, như slogan của Maschio: “Sorry ladies, we serve men only!” (Xin lỗi chị em, nơi đây chỉ phục vụ các quý ngài!)

 

Đại ca Sicile, thuyền gondole và văn hóa ‘thời trang công sở’

SĐ: Nhắc đến những cây dù, trong bộ sưu tập phụ kiện đi kèm, có cả những chiếc dù. Có cái bằng nhựa trong, có cái màu hồng, ý tôi nói là rất hồng…

TMD: Người ta đã quên mất thi vị của những sự cầu kì kinh điển. Bộ sưu tập mùa này của Maschio không hoàn toàn ‘tân kì’ hay ‘táo bạo’ như người ta thoạt nghĩ. Vẫn là những nét hào hoa quá vãng, hình ảnh chiếc nón phớt của các đại ca Sicile, vuông khăn lụa quấn quanh cổ của tay chèo thuyền gondole ở Venice, hay chiếc quần âu xếp pleat ống hẹp gấu “lơ-ve”, đeo dây vai như những thầy kí London hồi cuối thập niên 1950,… Cũng như sự trở lại của họa tiết chấm bi từ thời Brigitte Bardot đối với phụ  nữ, trào lưu của nam giới càng về sau càng thể hiện rõ xu hướng hoài cổ, phục hưng vẻ thẩm mỹ hào hoa của những “tháng năm tươi đẹp”, tức thời kì cuối 1950 đến thoái trào 1960. Công việc của nhà thiết kế ở đây là đặt xu hướng này dưới hệ quy chiếu của thẩm mỹ đương đại.

 

Maschio Fall-Winter quả đã là một cuộc diễu hành tươi tắn của những hình ảnh quá vãng. Những cậu trai như quá vội dậy thì, lênh khênh trong những cặp ống quần gấu ngắn, trên trán đội lệch chiếc mũ Peter Pan, như chính hình ảnh của nhà thiết kế nhỏ thó trong chiếc jacket cổ điển và mái tóc như thể được chải bằng brillantine.

Nhưng cuộc sống của những người đàn ông trong đô thị đương đại không có chỗ cho mũ phớt, dù cầm tay và brillantine. Họ chỉ có những chiếc xe máy, mũ bảo hiểm và những cuộc họp nơi mọi chiếc sơ mi thì kẻ sọc và những chiếc jacket luôn sẫm màu – người ta gọi nó bằng một thứ thuật ngữ không tồn tại trong làng thời trang thế giới: thời trang công sở.

Sự phù phiếm trong thiết kế phải chăng đã nhuốm đậm màu sắc lãng mạn phi lý của anh chàng designer được ủ ấm trong studio sáng tạo?

TMD: Sai. Sự phù phiếm đòi hỏi phải được tính toán một cách bài bản và chuyên nghiệp. Tất cả mọi người, nấm và các con bọ dừa đều có thể chấm bi. Form cắt của Maschio, vốn là lợi thế chuyên biệt cho tính nhận dạng của thương hiệu, cho phép từng mẫu thiết kế được hiệu chỉnh chuẩn mực gần như sản phẩm may đo. Trong cấu tứ của bộ sưu tập cũng vậy, từng chương luôn được dẫn dắt bởi những thiết kế cơ bản, dễ “chiều” đám đông, và tăng dần các điểm nhấn trọng tâm cho đến cao trào của tính cầu kì trong thiết kế.

Ngay cả trong bộ sưu tập phụ trang những túi xách, ví cầm tay bằng da của Maschio, tôi không ngây thơ nghĩ rằng khách hàng của mình sẽ cần một món vật gì đó để cầm cho…vui tay. Kích cỡ và form dáng của túi và ví chính là phản ảnh của xu hướng siêu mỏng trong trào lưu kiểu dáng hi-tech. Cuối cùng thì khách hàng của chúng tôi là mẫu thanh niên thế hệ quẹt thẻ, họ không cần quá nhiều cho “hành trang xuống đường” của mình, khi mà mốt túi messenger đã trở thành quá khứ.

SĐ: Với sự cân nhắc tính toán mang tính chức năng “tập trung vào tính ứng dụng” đó, tôi không thấy có chỗ cho những chiếc áo sơ mi màu hồng chói có nắp túi ngực chấm bi.

TMD: Sự tính toán ở đây không hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa “chức năng”. Một chiếc khăn, trong hệ quy chiếu của thời trang, không hề là một “dụng cụ giữ ấm cổ, ngừa đau cổ họng”, và người ta cũng không mặc quần short chỉ vì trời nóng.

Cũng như vậy, người ta cầm dù không chỉ vì trời mưa và đội những chiếc mũ vành không đủ rộng để che nắng.

SĐ: Có phải anh đang muốn nói đến một ý thức hệ tân tiến, văn minh hơn của cấu trúc tháp nhu cầu?

TMD: Đúng vậy. Nếu tôi không có điều kiện, quần áo vẫn rất cần thiết vì nó che thân, bảo vệ da và tránh sự khắc nghiệt của khí hậu. Thời may, xã hội chúng ta đã vượt trên nhu cầu đó, họ bắt đầu tìm đến những thương hiệu ồn ào đủ để hét to giùm họ tuyên ngôn kiêu hãnh “Tôi giàu!” Khi tất cả mọi người đều tin hoặc nghĩ là họ giàu rồi, ắt hẳn nhu cầu tiếp theo sẽ là thông điệp “Tôi sành điệu”, “Tôi văn minh” hay “Tôi yêu chấm bi!”

Thời trang không dành cho người xấu

Thế là thời trang trở thành thông điệp, một thứ tuyên ngôn cá nhân. Đôi khi những tuyên ngôn vẽ vời trên bộ da thứ hai ấy trở thành một kiểu ngoa ngôn.

SĐ: Chúng ta đang quay trở lại câu chuyện “chiếc áo làm nên thày tu”…

TMD: Đúng và không đúng. Chiếc áo có thể làm nên thày tu, nhưng thày tu đã là người chọn áo. Ở một tầm mức nào đó trong bản chất của thời trang, con người chọn những bộ áo phù hợp với mình. Như người ta hay nói là “nhằm tôn lên vóc dáng và che khuyết điểm”. Một số rất ít những người khác, tôi thích mấy người này, thì tự xoay sở sao cho vừa vặn với chiếc áo mà mình thèm muốn.

Kẻ túng bấn trong đời sống tinh thần và một xuất thân nhạt nhẽo sẽ đi khoe mình đã đọc hết các tác phẩm văn học cổ điển và nghe nhạc Jazz. Để thuyết phục kẻ khác tin, họ sẽ đi đọc văn học cổ điển và nghe Jazz thật. Đó chính là tố chất hướng thượng của thời trang và các tín đồ thời trang. Người ta bắt các nữ sinh mặc áo dài ắt không chỉ với mục đích làm đẹp thành phố lúc giữa trưa. Những cô gái trẻ, loay hoay hiếu động trong hệ thống nút áo mong manh tráo trở, sẽ tự khắc trau luyện cho mình một phong mạo nhu mì nghiêm cẩn. Chiếc áo đẹp không dành cho những cái đầu cúi gằm và dáng lưng gù.

SĐ: Có ý kiến cho rằng thiết kế của Maschio chỉ “nhằm tôn vinh thân hình người mẫu”?

TMD: Đúng, nếu các người mẫu là khách hàng. Thời trang thực thụ là một thứ khá kiêu kì. Người ta có thể sở hữu một bộ thiết kế chỉ bằng cách bỏ tiền ra mua nó, và không cần tập luyện kiêng khem gì hết, mặc tình tự tố cáo những lớp thịt dưới vai, tảng lưng gù và cái cổ của một nhà vô địch cử tạ.

SĐ: Thời trang không dành cho người xấu?

TMD: Đừng vô ích cáo buộc cho thời trang tội danh duy mỹ, hay xem tinh thần duy mỹ là một cái tội! Nó làm người ta đẹp lên, tự tin hơn, cầu kì tinh tế hơn,… Tất cả những thứ đó đồng nghĩa với Văn Minh và Phát Triển. Và cuối cùng, sự phù phiếm, hay tính duy mỹ của thời trang, không hoàn toàn vô nghĩa. Ý nghĩa của nó còn được quy đổi thành lợi nhuận và sự thành đạt. Bằng chứng là thành công của những chiếc mũ phớt không che nắng, ô không che mưa và túi không đựng dụng cụ lao động của Maschio vừa qua.

SĐ: Người ta có thể tính toán ra sự phù phiếm và bán nó như một sản phẩm?

TMD: Tính phù phiếm, nếu được cân nhắc tính toán một cách khôn ngoan và đẹp mắt, chính là giá trị cộng thêm, và cũng là giá trị tinh thần thượng thặng của sản phẩm tiêu dùng. Hay nói một cách khác, nếu không có tính phù phiếm, thời trang sẽ chỉ là quần áo, Maschio là tên của một hợp tác xã may mặc, và thế giới sẽ không còn các tạp chí mà chỉ có các báo tờ đưa tin hàng ngày.

(bài viết đã được đăng trên tạp chí Sành Điệu)

 

Motel: Đại-hí-viện Của Những Tội-đồ

“Làm tình trong khách sạn” – sự đơn giản đến trần trụi ấy thừa sức kích hoạt từng tế bào háo hức của lòng hiếu kỳ bởi sắc màu nửa lãng mạn, nửa trác táng. Như những đứa trẻ khoái chí lén lút những trò hư hỏng kì thú, những người đàn bà vẫn cần đến những phiêu lưu tình ái như trong tiểu thuyết diễm tình, và những tình lang vẫn mơ cuộc vân vũ nguyệt phong trong khung cảnh phong tình tạm bợ sặc mùi “gái hư”.

Dục tình là một thứ đỏng đảnh, thất thường, và khi no nê thì hay dở chứng. Nó không vừa lòng với sự nhàm mòn, trong khi những cuộc phiêu lưu thử nghiệm lại có thể dễ dàng làm nó bị tổn thương, và thui chột.

Và hàng ngày, người ta vẫn ân ái, vợ chồng hay vụng trộm, đều đặn như một quỹ đạo, quỹ đạo của những cuộc phiêu lưu.

Những cuộc tình chính chuyên chạm đỉnh thăng hoa khoái lạc chốn phòng the, nơi nhân loại thực hiện cái việc tối trọng là…làm ra nhân loại. Trong khi đó, phần lớn các chuyện khác, xảy ra trước hay sau cuộc kết nối chính chuyên, và không mang màu sắc nghĩa vụ giống nòi, đều hầu hết xảy ra trong những căn phòng khách sạn, nơi đã từ rất lâu rồi đã không còn chỉ mang ý nghĩa thuần túy, là nơi ngả lưng qua quýt cho những khách lạ đi qua thành phố.

Những ngôi nhà, chung cư hay biệt thự, đều không gợi gì đến những cuộc phiêu lưu. Chúng là nơi khiến người ta nghĩ đến việc “làm ra con nít”, và gọi nhau là vợ là chồng.

Một lúc nào đó, những kẻ là vợ là chồng bước ra khỏi những ngôi nhà, để lại phía sau cánh cửa tổ ấm để tìm đến thứ khoái lạc cho thuê (qua đêm hoặc tính giờ), dù sang trọng hay tạm bợ, thả mình vào bầu không khí hoang đàng của nó. Dẫu đó là không gian thơm phức hương xa hoa, hay đặc quánh mùi lưu cữu, mọi thứ đều sặc sụa hơi hướm của những điều không được phép, mọi thứ đều nhuốm màu cấm kị của mọi trò ly kì ngoạn mục.

Một căn phòng khách sạn luôn hứa hẹn chực chờ phía sau cánh cửa của nó sự dung túng cho sự buông tuồng tối đa, những cuộc phiêu lưu hữu hạn, và hàng tỉ thứ tội lỗi nghe hết sức bậy bạ và hay ho, như một đại hí viện kì thú của những kẻ tội đồ.

Chiếc hộp khoái lạc

Mỗi căn phòng khách sạn, như vậy, là một vuông thế giới tự do nhưng đầy vẻ vụng trộm và những điều cấm kị. Những khách trọ ghé qua đó, họ thú vị với trò chơi hoan lạc và những vai diễn bị cấm bên ngoài xã hội. Cái không gian tự do ấy được đánh dấu từ ngưỡng cửa những căn phòng khách sạn, và bắt đầu từ khoảnh khắc chiếc chìa khóa phòng được trao, trước khi cánh cửa được khép chặt một cách cẩn trọng đầy ý nhị, an toàn nhốt chặt thế giới còn lại bên ngoài. Những bộ cánh xã hội được lột bỏ, dần dần chậm chạp, hay cuống cuồng hồ hởi, và cuộc phiêu lưu luôn được bảo toàn cho những kẻ trong cuộc, bởi họ cầm giữ chiếc chìa khóa trong tay, và có thể bất cứ lúc nào, bước ra khỏi cuộc viễn chinh lén lút trong vuông phòng khách sạn, và bước trở lại vào đại cảnh ngục tù của thực tế văn minh. Đó có thể được coi là một thú phiêu lưu an toàn nhất trong những trò liều mạng.

Dẫu là một trò thám hiểm chóng vánh những nhân dáng không quen, hay là cuộc ân ái với thân thể bạn tình đã quen thuộc, tất cả mọi thứ đều mới mẻ, ngượng ngập, lúng túng và cuồng vội. Khứu giác bị đánh động bởi hương sữa tắm rẻ tiền chung chạ, da thịt chạm hoang mang lạ lẫm vào những tấm drap trải giường dường như còn nồng sực mùi hoan lạc, đến cả những tiếng cót két cũng lạ tai trên chiếc giường chung chạ. Người ta được hân hoan ngắm thứ ánh sáng tù mù lạ lẫm chảy trên những phập phồng da thịt như đã quen tay quen mắt, và nơi đây, việc tắm rửa trở thành nghi thức dọn mình trước đại lễ hiến dâng.

Các tình lang lâu năm thoắt trở thành gã hoang đàng phóng túng, và những quí bà chính chuyên cũng nhuốm màu rù quến của loài mèo nhà đi hoang, dữ dội và nồng nàn. Thực dụng hay thi vị, bạo liệt hoặc dịu dàng, mỗi một sự va chạm vuốt ve đều có thể trở nên khác lạ, như một kịch bản cũ được tái dựng trên một phông nền đại cảnh mới, với các diễn viên hăm hở hóa thân vào cuộc yêu đương.

Và như thế, mọi thứ dường như trở nên thi vị hơn trong một khung cảnh mượn. Nơi đó không có những bức ảnh gia đình, những đôi dép trẻ con hay chiếc máy tính còn chưa đóng nắp. Tất cả đều lạ lẫm, nơi trú trọ của những kẻ vô danh tính với những tờ giấy tùy thân được giữ kỹ dưới quầy tiếp tân. Họ vào cuộc, và có thể là bất cứ ai. Không có một thứ gì để nhắc nhớ đến cuộc sống thường nhật quay cuồng quanh những khái niệm của tư cách, trách nhiệm, và một tỉ thứ thiêng liêng dễ gây cụt hứng. Những ràng buộc cuối cùng được tạm thời dỡ bỏ, và người ta vồ vập cuộc tự do ngắn ngủi trong những thước vuông của một căn phòng xa lạ, nơi tưởng như chốn chung chạ, nhưng trở nên riêng tư và an ủi đến tận cùng.

Gái khôn đứng ngoài khách sạn

Hãy hỏi một người đàn bà nếu nàng đã từng biết đến phong vị ái tình khách sạn.

Nếu nàng rùng mình vì sự nhớp nhúa, bạn có thể yên tâm cưới nàng làm vợ, vì căn hộ của bạn sẽ luôn được giữ vệ sinh tươm tất, và những đứa trẻ sẽ khỏe mạnh.

Nếu nàng háo hức trong những hồi tưởng miên man của những cuộc nguyệt vân không tiền khoáng hậu, bạn vẫn có thể yên tâm nắm lấy tay nàng mà yêu thương gắn kết, biết rằng các cuộc phiêu lưu thú vị sẽ không ngừng lại sau ngưỡng vợ chồng, chỉ có điều bạn sẽ có bên mình một người bạn đồng hành thú vị.

Nói một cách khác, thế giới đàn bà có thể được chia thành hai loại, gồm những người đàn bà bên ngoài và bên trong cánh cửa khác sạn.

Những quí bà quí cô bên ngoài cánh cửa khách sạn rùng mình miệt thị tất cả mọi thứ diễn ra sau những cánh cửa khép kín nọ, dẫu sẽ không hẳn từ chối một cuộc bàn tán vẽ vời đầy hào hứng về những gì diễn ra bên trong.

Với họ, khách sạn là nơi ngủ lại trong những chuyến công tác xa nhà, là những chuyến nghỉ hè với gia đình và những đứa trẻ.

Nhưng không dưới một lần, họ sẽ khao khát hau háu được thầm vươn tay chạm đến những lớp gối chăn của chốn ly kì hư hỏng ấy mà sờ soạng, được chậm rãi mân mê khi nhọc nhằn chì chiết từng tiểu tiết của những cuộc thám hiểm mà họ đã không thể chọn lấy cho tòa thiên nhiên hoang phế của chính mình. Bởi họ quá “khôn” để mạo hiểm khái niệm đức hạnh lẫn kiến thức về vệ sinh tình dục.

Và những căn phòng khách sạn, còn lại cho họ là những cuộc tổng tấn công giáp chiến hừng hực cuồng nộ quắt quay đi đòi lại những người đàn ông lầm lạc đã không còn thuộc về họ.

Cuộc đào tẩu của “gái ngoan”

Những người đàn bà thuộc thế giới phía sau những cánh cửa khách sạn (ở đây xin không bàn đến các cô gái “chuyên nghiệp”), họ vẫn là những cô gái ngoan, họ có đầy đủ một cuộc sống trọn vẹn bên ngoài kia, và đủ tham lam để tự cho phép mình những cuộc đào tẩu nho nhỏ, nơi những đôi giày chông chênh và kiểu cách được đá tung khi thân thể mất thăng bằng, và y trang vương vãi trên sàn nhà cũng không khiến họ phải nghĩ đến việc khom lưng dọn dẹp. Trong những khoảnh khắc hiếm hoi ấy, người đàn bà tự cho mình cái quyền thả tung không ngượng ngùng cả những đòi hỏi thầm kín nhất, nơi từng mạch máu mặc tình rung lên căng cứng, trong khi mọi tế bào tự do buông thả đến mềm nhũn trong cuộc quy hàng, thuần phục và hân hoan.

Trong những căn phòng xa lạ, họ tung hê hào phóng, và thả bật những tiếng kêu.

Trong những căn phòng xa lạ ở ngay trong thành phố, họ không đi quá xa, họ tìm vào sâu, rất sâu bên trong những ngóc ngách sâu kín nhất ẩn khuất trong tòa thiên nhiên, đòi được chạm đến tận những góc riêng tư kì hiểm nhất, để hoàn thành cuộc nhận-cho đến tận cùng của ái tình nhục thể.

Tất cả những điều đó, nghe hết sức bậy bạ, nhưng họ bước ra khỏi những cánh cửa ấy, giãn nở trong hân hoan phỉ mãn, khép lại những phập phồng da thịt sau hàng nút cài vội, như loài báo sau cuộc say mồi, họ trở về quỹ đạo hàng ngày, đàn bà, và ngoan, hơn bao giờ hết.

Quý bà hạnh phúc đằng sau cách cửa phòng khách sạn

Nhưng trong ái tình nhục thể, sẽ là cứng nhắc và thiển cận, nếu mặc nhận mọi cuộc “đào tẩu” một màu sắc lăng loàn trác táng như nhau. Khoảng cách chênh vênh giữa khái niệm “gái hư” và “gái ngoan” có thể mảnh như tơ. Đó là thứ lằn ranh vi diệu giữa những cuộc phiêu lưu với người đàn ông của mình cùng làm kẻ đồng hành, để cùng hưởng cuộc vui thú đượm hương vị kì thú ngọt ngào của trái cấm ăn chung, hay là những cuộc đi hoang của cấu cào đói khát, và sống sượng buông tuồng, hoang phí những món quà khoái lạc cho những thân thể không quen, và những giọt mồ hôi lạ mùi.

Sẽ là hoàn toàn sai lầm nếu người ta cho rằng việc thử nghiệm những bạn tình xa lạ sẽ là những cuộc đào tẩu thú vị của nhục thể. Bởi mỗi người đàn bà được cấu tạo tinh tế như một cây vĩ cầm mà cuộc mân mó hay vồ vập thô thiển của những gã nhạc sĩ tồi chỉ có thể cất lên những tiếng rít chói tai. Tàn cuộc, người đàn bà bước ra khỏi căn phòng của cuộc gió trăng tạm bợ, căng nứt từng tế bào vẫn đói khát một chút vuốt ve chỉ có thể đến từ da thịt tình nhân, chứ không phải những dập dồn chày dậm cối giã của kẻ qua đường thô lậu trong cơn đói dục bệ rạc, đó là khi cuộc giao hoan chỉ còn lại trơ trẽn một trò giao cấu đơn thuần.

Người đàn bà “khôn ngoan”, nàng thức dậy vào sáng sớm trong căn phòng khách sạn, với bữa sáng cho hai người được các khách sạn dư thừa điệu nghệ gửi đến tận giường, hoặc với một số điện thoại được đặt trên chiếc gối hãy còn ấm bên cạnh. Nàng thức dậy, bước ra khỏi đêm tân hôn thuê mượn,  nhấm nháp thị vị của cuộc độc thân biết đâu chẳng còn dài, và trở về nhà trong một sự nôn nóng hồ hởi không kém cuộc vân vũ vừa kịp tạnh khi tàn đêm.

Bởi biết đâu đấy, đây rất có thể là cuộc viễn chinh nho nhỏ sau cùng!

Scent of Man

 Trác Thúy Miêu

Các chương tiểu thuyết cổ điển chỉ nghe nhắc đến những người phụ nữ úp mặt vào áo nhân tình để tìm lưu hương vương vấn, tuy không tả kỹ lắm cái thứ lưu hương đó nó như thế nào, rạch ròi như những nhà phân tích mùi hương chuyên nghiệp. Thay vào đó, những diva lãng mạn lấy mùi những trang giấy cũ ố vàng để kích hoạt những tần số rung động nhuốm màu tinh văn liệt truyện.

Những trang giấy cũ, gợi nhớ những hau háu mơ mộng khi đọc trộm tiểu thuyết diễm tình trong chăn. Những trang giấy có mùi khói, mùi da thuộc cũ và mùi gỗ trầm, thứ mùi khàn khàn âm ấm, một thứ mùi đàn ông.

Những cô gái may mắn lớn lên trong thời kì cực thịnh của các dòng mỹ phẩm dành cho nam giới, ấn tượng đầu tiên với mùi hương đàn ông thường là những chai nước thơm cạo râu eau de cologne của các ông bố, và làn hương ngai ngái theo mỗi cú vỗ nhẹ dưới cằm đủ mạnh để át cái mùi ngủ nghê trễ nải của gian phòng, thấm vào cổ áo sơ mi đi làm và xộc thẳng vào mũi găn gắt khi họ cúi người đặt lên má các cô con gái rượu nụ hôn đánh thức. Thứ mùi hương trên cổ áo ấy, sau một ngày làm việc, sẽ chỉ còn lại một cảm giác cháy xém của xác oải hương khô, khen khét khói bụi và sặc nồng mùi mồ hôi, xăng cộ, đôi khi cả một chút vị chua chua của ly beer cuối ngày – thứ mùi trụ cột ấy tỏa ra ấm áp từ vuông ngực những người cha, những vị hoa tiêu tài ba của con tàu gia đình – thứ mùi không mĩ miều nhưng hứa hẹn sự an toàn mỹ mãn.

Và tất cả những điều đó, hình thành nên bức chân dung đàn ông hoàn hảo trong tiềm thức khứu giác đàn bà – bức tranh được vẽ bằng mùi hương và chiêm ngưỡng bằng mũi, nhưng rung động không kém gì một tuyệt phẩm hội họa, và kích thích sự thuần phục tự nguyện hơn mọi trò thủ thuật mây mưa.

Ghi dấu những phiên bản Sở Lưu Hương

Không phải tất cả các ông bố đều dùng cologne vào sáng sớm, còn các cô gái, họ lớn lên để tiếp nhận những người đàn ông ghi dấu vĩnh viễn vệt mùi riêng lên bức chân dung khứu giác ấu thơ nọ.

Người ta cho rằng bản năng giống đực khiến đàn ông lưu lại vệt mùi hương của mình tại mọi nơi họ đã qua, kể cả những chiếc giường và những người phụ nữ.

Hãy thử làm một cuộc hành trình điều tra hồ sơ tình ái trong cuộc đời một người đàn bà, chỉ bằng những lớp mùi lưu cữu chồng chất trong tiềm thức khứu giác của nàng.

Nếu nàng đã từng có một cuộc phiêu lưu trong những ngày nghỉ tháng hè trên biển, dấu ấn cuộc tình sẽ mang theo mùi hăng nồng của muối, quyện lẫn hương vị làn da ủ trong cát nóng, đủ hừng hực để gây cơn thèm muốn được thử úp mặt lên làn da màu đồng phập phồng nhựa sống, để uống ngập vào buồng phổi một thứ nhiệt lượng thơm tho hầm hập, ấm nóng và sạch, hứa hẹn những dồn dập mải miết của nhịp sóng nện vào bãi, dẫu đôi khi, trên thực tế, đó chỉ là mùi của những thùng gỗ ướp cá và những tấm ván thuyền chài!

Những anh chàng thể loại đầu đinh mặt thẹo, những quái nhân jean rách ngực trần sẽ nguệch ngoạc dấu vết riêng của mình trong tim và mũi phụ nữ bằng một mùi xăng dầu dễ gây váng vất từ những xưởng sửa xe, cái vị thép tanh tanh lành lạnh của nền văn minh bù lon con tán, mùi cao su cháy khét của những cặp lốp mô tô còn bốc khói nhựa đường. Sần sùi, mạnh mẽ, có vẻ như không chút điệu đà nhưng dễ dàng gây ngất xỉu. Đương nhiên, trên thực tế, hợp hương đầy khí phách ấy rất có thể sẽ đi kèm một “cú bồi” của mùi gàu trên mái tóc phong trần, và phần thân trên ủ lâu ngày trong áo khoác denim, nơi chưa một vệt deodorant nào đặt chân tới.

Những fashionista chuyên trị các người hùng công sở sẽ dễ bị quyến rũ bởi những thứ mỹ phẩm metrosexual bị ướp lạnh trong không gian phòng kín, trong khi các tay săn tình sành sõi sẽ dễ bị thu hút bởi hương gỗ trầm quí phái của những đọt cigar quyện chút hăng hăng cay giật của những chai rượu lâu năm.

Họ – những người đàn ông, là những phiên bản khác nhau của một Sở Lưu Hương hào hoa điệu nghệ, từ người hùng thể thao, tay phong lưu công sở, cho đến gã nghệ sĩ Harley phong trần,…họ xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới của người đàn bà, và lưu lại những vệt mùi gây nghiện. Nếu người ta có thể lần dở từng lớp gối chăn kí ức, để vùi mặt vào những vết lưu hương một thời hào hoa hay hầm hố, cũng sẽ đủ để gây một cơn dư chấn ái tình ngây ngất, thừa sức khiến con tim và đôi đầu gối nữ chủ nhân của lớp chăn gối ấy run rẩy thêm một lần nữa trong đời.

Và nếu người ta có thể tái tạo những mùi hương ấy, chắt lọc thành những giọt tinh chất quý giá và đựng vào những chiếc lọ đẹp đẽ, người ta sẽ dễ dàng tiết kiệm mọi trò vặt và mánh khóe để chinh phục ngay cả những bà hoàng.

Thứ tinh chất ấy, người ta gọi là eau de cologne, parfum pour homme, và cô đặc trong những thỏi sáp deodorant có bán ngoài siêu thị.

Vũ khí tối thượng trong cuộc chinh phạt phòng the

Người phương Tây không “thơm” người tình theo kiểu hít hà lên má, lên tóc, họ đưa môi ra và “chụt!” hay “muah!”, lối mà rất nhiều người trẻ, tiên tiến sau này bắt chước làm theo. Nhưng chính cung cách hôn hít ngộ nghĩnh của người Việt lại là những nụ hôn tình tứ một cách khôn ngoan và dễ gây nghiện, có phần hơn cả những vồ vập lập cập răng-hàm-mặt của người phương Tây.

Việc hít thở, phập phồng nuốt vào ngực cả một bầu mùi hương cơ thể được xem như một cuộc dạo đầu đầy kích thích, có phần hơn cả những vuốt ve suồng sã. Đó là một động thái vô thức của dục tính, của chiếm lĩnh và quy hàng. Cú hít đầu tiên sẽ quyết định cơn nghiện về sau kéo dài hay chóng vánh. Nó lan tỏa trong buồng phổi, rung giật từng mạch máu li ti của cơ thể, rồi một nụ hôn thật dài, thật sâu, đủ để đưa dòng mê hồn hương thốc thẳng lên đầu, gây tê liệt mọi khiên cưỡng cự tuyệt còn lại, để kéo theo là những căng tràn tham lam chinh phạt.

Khoái cảm của khứu giác còn kéo dài sau cuộc vũ vân phong nguyệt, đó là khi người đàn bà khoan khoái thả mình ngập ngụa giữa gối chăn còn nồng sực dư hương khoái lạc, lim dim thưởng thức sự hòa quyện rối rít diệu kì của mùi hương đặc thù của hai bản thể âm dương, pha trộn ngẫu nhiên hương mỹ phẩm được chà xát trên làn da nóng hổi, điểm xuyết sự rù quến thật thà của mùi mồ hôi lẫn lộn,… Tất cả được trộn nháo nhào và ướp hối hả vào từng sớ vải gối chăn, đủ gây đê mê, kích thích thứ xung động hóa học (chemistry) khiến tim đập nhanh hơn, đồng tử dãn nở. Và người ta sẽ gọi đó là rung động của ái tình.

Người đàn bà khi yêu say đắm nhất, thường không giặt chăn gối rất lâu sau lần ân ái đầu, và những tấm áo tình nhân được ưu ái ấp ủ, không chỉ để tìm lại sự mơn man của cổ áo đàn ông cứa lên cằm, lên má, không chỉ bởi luyến lưu những gồ ghề thô ráp của lớp vải chemise trên làn da đã nguội. Lạc thú trong những tấm áo đàn ông còn là một thứ điển lễ trong vô thức giống cái, khi tự ướp thân thể mình trong lưu hương của kẻ đã một lần ghi dấu cuộc chinh phạt huy hoàng, thứ mùi mê muội vẫn có thể một lần nữa rung lên những dây tơ đã từng một lần hoan hỉ bần bật cuộc nguyệt vân.

Và như vậy, ắt hẳn quý ông sẽ chẳng muốn dằng dai tra tấn người đàn bà của mình bằng những thứ mùi thật thà không cần thiết.

Bởi đôi khi, chỉ vài giọt cologne hay vài phút cho lễ nghi tắm rửa cũng đủ ma lực ám ảnh một đời người.

Thần Ái tình tịt mũi

Nếu bức tranh vị thần tình yêu là một tiên đồng bịt mắt cầm cung tên, thì cũng rất nên hiểu rằng với thị giác bị bưng bít như vậy, khứu giác của thần Tình Ái sẽ trở nên vô cùng mẫn cảm. Nhưng bản chất vị tha của tình ái sẽ dễ dàng khiến ngay cả những diva cầu kì nhất bỏ qua mùi nước hoa lạc điệu, đôi tất vứt bừa trên giường hay tuyến mồ hôi ướp tỏi của một gã háu ăn… cho đến khi gã trở thành chồng nàng và ướp cả thế giới của nàng dưới nách.

Không biết có bao nhiêu cuộc tình đã đi vào lối phai hương nhạt vị ngay khi mùi mồ hôi trên quần áo trở nên quá mãnh liệt để gọi là quyến rũ, và những chai dầu thơm thuở hẹn hò trở thành những hủ tục không còn cần thiết.

Những xung động hóa học hay ho biến mất, nàng sẽ chỉ ngao ngán nhìn người đàn ông của mình trong một hình hài bóng nhẫy bởi tuyến nhờn và nặc nồng như một két bia cũ đã hà hơi bật nắp.

Nàng nhận ra những dư hương luyến lưu chỉ là trò mù quáng của vị thần bị bịt mắt, và thói lãng mạn đã chăng hoa kết đèn cho những nhãn hàng mỹ phẩm đàn ông. Khi những mùi hương chỉ là hóa chất, và sự lịch thiệp chỉ là trò cảnh vẻ sớm bị rẻ rúng, người đàn bà còn lại với hôn nhân nặng mùi.

Chỉ có những điển lễ cầu kì, tư phong lịch lãm và kiến thức văn minh cơ bản mới đủ khiến một quý ông duy trì thói quen đáng quý ấy sau hôn nhân, và nằm ngoài mục đích “tìm bạn”.

Hẳn nhiên, đàn bà yêu đàn ông, chứ không say đắm kết hôn với những lọ nước hoa vĩ đại, nhưng ắt hẳn cũng không xứng đáng phải vờ vịt hạnh phúc khi hôn một cái gạt tàn và lên giường với món sữa chua đã quá hạn sử dụng nhiều năm.

Những cái nhăn mũi không còn là trò làm duyên vờ nũng nịu, những sợi dây thần kinh cảm nhận co thắt lại trước những cuộc tấn công với quy mô bom tấn vào khoang mũi. Những làn da co rút, hoảng loạn tránh né cuộc đụng chạm sỗ sàng, những màn chinh phục huy hoàng chốn phòng the trở thành cuộc chiến tranh hóa học, xen lẫn mùi nước hoa xịt phòng đầy tuyệt vọng.

Ái Tình quăng cung tên và úp mặt vào lòng bàn tay, đôi khi không chỉ vì khóc.

Dẫu thần là vị tiên đồng bịt mắt đùa dai, vô tình bắn đi mũi tên phần số vào đúng những xung tần khứu giác, thì cũng không nên trả đũa số phần bằng cách bắt vị thần khiếm thị tội nghiệp phải đưa tay bịt mũi.

Vì, đương nhiên, khi bận rộn bịt mũi, thần Ái Tình sẽ đánh rơi những mũi tên của mình!

 

lavender – note dư hương vintage

Jasmine nOir

Trong thế giới của mùi hương, mỗi hương liệu gốc đều mang trong mình một thứ ngôn ngữ và hình ảnh chỉ có thể “nghe” và “nhìn” được bằng khứu giác, như những màu gốc của vòng tuần sắc, từ đó mà được bào chế hình thành nên những hợp hương như việc kết hợp sắc màu mà thành hình bức họa.

Trong cái thế giới đa sắc ấy, oải hương (lavender) vừa là vẻ thánh thiện của tâm linh, vừa mơn trớn như thú vui nhục thể. Đó là mùi hương duy nhất vừa là hương thôn dã của những dặm dài ngai ngái mùi cỏ khô, vừa là mùi hương đài các của chốn khuê phòng đô thị. Đó là một người thiếu phụ hẵng còn hao gầy nét dậy thì hoang sơ, đã chớm chín muồi vẻ phong tình ý nhị của thuộc tính đàn bà.

Mùi hương của Chúa, những tên trộm, và những vị vua

Có lẽ những dấu vết xa xưa nhất của oải hương là các ghi chép trong Kinh thánh, về Đức mẹ khi tẩm đôi chân Chúa hài đồng bằng dầu hoa oải hương (được gọi dưới cái tên spikenard) và dùng mái tóc chính mình để lau khô chân Ngài cho đến khi căn phòng sực nức một hương thơm thoát tục. Điều này khiến lavender luôn mang theo nó một quyền năng thánh thiện để tránh tà ma, cùng một mùi hương vừa sảng khoái vừa thiêng liêng nghiêm cẩn. Người ta thường treo những bó oải hương khô trong nhà, buộc thành hình thập giá treo nơi cửa ra vào không nằm ngoài ý nghĩa này.

Những tìm tòi về sau lại được tìm thấy tận trong các Kim Tự Tháp, được người Ai Cập sử dụng như một trong những nguyên liệu cho công thức ướp xác bí truyền. Nhưng chính những người La Mã cổ đại đã đầu tiên đặt cho loài hoa màu tím này cái tên phổ biến cho đến nay: lavender, kết hợp từ lavere (tắm, rửa) và livendula.

Dẫu được yêu chuộng như những hiện thân sớm nhất của lối sống phù hoa và một nền văn minh tiến bộ, khi được du nhập đến Âu châu vào đầu thế kỷ 15, những nhánh oải hương tím biếc vẫn mang theo nó một quyền lực tâm linh huyền bí có từ những gốc gác truyền thuyết tôn giáo cho đến các ngôi cổ mộ Ai Cập.

Trong suốt nạn đại dịch tại London hồi thế kỷ 17, người ta truyền miệng nhau bí quyết buộc vào mỗi bên cổ tay một bó lavender đã chống nhiễm dịch. Các tay trộm mộ bào chế ra một thứ dung dịch mang tên Four Thieves Vinegar, pha với lavender để tắm sau mỗi lần đào trộm để xua đuổi dịch bệnh.

Dường như sự thanh tao tinh khiết của oải hương khiến mùi hương này không phải cam chịu chỉ quẩn quanh những khung cảnh ảm đạm của dịch bệnh và chết chóc như một thứ thảo dược sát trùng.

Ngoài các nạn đại dịch thảm khốc và phường trộm mả, mốt sính dùng hương lavender được đặc biệt ưa chuộng trong các gia đình hoàng tộc châu Âu. Vua Charles VI của Pháp luôn phải có những chiếc gối nhồi hoa oải hương (lavender) trong mọi chuyến vi hành. Nữ hoàng Anh Elizabeth muốn trên bàn phải luôn có hoa oải hương tươi được thay mỗi ngày – một màn thách đố oái oăm cho những nghệ nhân làm vườn của hoàng gia Anh, bởi thời tiết quanh năm ẩm ướt nơi đây. Vua Louis XIV cũng là một yếu nhân đặc biệt ưa chuộng thứ mùi hương quí tộc này, và cho hòa hương lavender vào nước tắm để ngâm mình, trong khi nữ hoàng Victoria đệ Nhất và đệ Nhị đều sử dụng mọi sản phẩm có nguồn gốc hương liệu lavender của hãng mỹ phẩm lừng danh London khi đó là Yardley and Co.

Mê hồn hương của thế trận phòng the

Dù Provrence là vùng trồng oải hương lớn nhất ở Âu châu, nhưng với sự ưa chuộng đặc biệt của hoàng gia và quí tộc Anh, lavender trở thành mùi hương đặc thù của xứ sở sương mù. Cũng từ việc gắn liền với hình ảnh phù hoa của thời Victoria, với những đóa hoa hồng Victoria đặc thù trong nghệ thuật trang trí thời kì này, oải hương từ đó được gắn liền với cảm giác thanh tao và sạch sẽ của khuê các tư gia các quí bà quí cô lịch sự.

Và các giới “quí bà quí cô lịch sự” không luôn nhất thiết là dòng dõi trâm anh thế phiệt. Mùi hương thanh khiết của thứ tinh dầu từng ướp xác các vị pharaon đã lan tỏa đến tận giường ngủ những ả giang hồ thời thượng ở khắp Âu châu. Và từ đó, mùi oải hương trở thành một ẩn dụ ý nhị kín đáo cho vẻ lẳng lơ phong nguyệt.

Nhưng một lần nữa, gái giang hồ London đã không phải là những người đầu tiên khám phá ra năng lực dục tình kỳ bí ẩn chứa trong mùi hương của loài hoa màu tím.

Đã từ rất lâu, lâu như chính lịch sử của chính nó, lavender và thủ thuật phòng the luôn song hành cùng nhau như một cặp đôi của thú vui Tình ái. Ngay từ trong an apocryphal book of Bible, nàng Judith đã tự tẩm ướp thân thể bằng tinh dầu oải hương để quyến rũ Holofernes. Nàng ám sát tay tướng bất bại và thành phố Jerusalem đã được bảo vệ như vậy, nhẹ nhõm và thầm lặng như làn hương của một loài thảo mộc.

Nữ hoàng Ai cập huyền thoại Cleopatra cũng không bỏ qua thủ thuật của mùi hương luyến ái này khi quyến rũ cả Julius Cesaer và Mark Antony. Còn nữ hoàng Sheba cũng không quên dâng tặng oải hương (dưới tên gọi spikenard), frankincense cùng myrrh lên vua Solomon.

Vào thời Tudor, các thiếu nữ thường nhấp những ngụm nước chưng cất từ lavender vào ngày lễ thánh Lukes, như một nghi lễ tụng ca tình ái, và họ ngâm nga “Thánh Luke, thánh Luke, hãy xót thương, hãy cho con nhìn thấy, trong những giấc mơ, nhìn thấy Ái Tình.” Còn các cô gái vùng alpine thường bỏ lavender vào gối như một bí quyết chiêu dụ ái tình, một thứ bùa ngải bằng mùi hương, còn các cặp tân hôn thì trải oải hương bên dưới nệm giường để thêm thắt ‘gia vị’ cho đêm động phòng hoa chúc.

Lavender thời thượng: note trầm hoài cổ

Ngày nay, khi mà công nghệ chế tạo mùi hương đã có khả năng tạo ra những hợp chất hóa học thay thế cho dòng nguyên liệu tự nhiên, vẫn không có một hợp chất nhân tạo nào thay thế được cho sức quyến rũ hồn nhiên của những nhánh lavender. Những cánh đồng hoa tím dài bất tận vẫn là niềm kiêu hãnh của các trang trại ngát hương vùng Provrence (Pháp).

Cũng như thuộc tính thời trang của các sản phẩm nước hoa, mùi hương cũng có những giai kỳ mang tính trào lưu, ảnh hưởng trực tiếp lên công thức bào chế của những thương hiệu cao cấp trên thị trường mỹ phẩm. Nhưng dường như lavender hồn nhiên tự tại vẫn luôn được ưa chuộng mặc nhiên với vòng xoay trào lưu của các dòng hương trái cây, hương gỗ hay hương hoa tổng hợp.

Khó lòng tìm ra một thương hiệu nước hoa xa xỉ nào trên thế giới chưa từng ít nhất một lần tung ra cho mình một dòng nước hoa với note lavender chủ đạo. Từ thương hiệu “chuyên trị” hương trái cây (fruity) như Lolita Lempicka cho đến những quả bom thương mại hình ngôi sao của Thierry Mugler.

Lavender còn được sử dụng đặc biệt phổ biến trong các hợp hương dành cho nam giới, từ các dòng thương hiệu xa xỉ cho đến các sản phẩm nước hoa cạo râu (aftershave) và giữ thơm cơ thể (deodorant).

Không chỉ mang lại cảm giác sảng khoái, đầy sinh lực cho sản phẩm, oải hương còn chứa trong nó vị tươi tắn gần giống hương vỏ quýt, nhưng lại có cả vị nồng hơi khô của hương gỗ, khiến cho lavender được sử dụng hợp lí cho cả sản phẩm dành cho nam và nữ, trung hòa tuyệt hảo các khía cạnh âm dương đối lập của tính chất mùi, cho phép lavender dễ dàng hòa phối với các dòng hương gốc khác để tạo hợp hương.

Mặc dù là một trong những thành phần hương gốc được sử dụng phổ biến nhất, những người sành hương vẫn chuộng các dòng sản phẩm thuần chất, tức hương nhiên liệu gốc không qua pha phối và bào chế.

Cùng với xu hướng tiêu dùng thông minh của các sản phẩm cao cấp, song song với trào lưu hoài cổ và thời trang vintage, lavender một lần nữa được đặc biệt ưa chuộng trong các sản phẩm làm sạch như xà-phòng nguyên liệu tự nhiên bào chế từ tinh dầu lavender, nước hoa cologne, body mist, v.v… Người ta có thể bắt gặp hương lavender ở bất cứ đâu, từ các spa cao cấp cho đến tận những tiệm bách hóa ven đường, được tẩm ướp trong các túi hương công nghiệp dùng để treo trong xe hơi hay tủ quần áo.

Dường như những dấu hiệu đe dọa thoái trào của đời sống đô thị, nạn “đại dịch” stress của thế giới, cùng với xu hướng tìm về các giá trị hoài cổ đã khiến người ta tìm đến oải hương không chỉ như một thứ mùi hương sảng khoái, giảm stress, mà còn là một dư hương luyến tiếc còn lại nét duy mỹ cầu kì của những thời kì văn hóa hoàng kim.

(bài viết đã được đăng trên tạp chí M-Mỹ phẩm)

Perfumista Nhập-môn: Hương-mục (List of Notes)

Một perfumista là một chi phái của tôn giáo thời trang thuộc dòng duy mỹ. Họ không nhất thiết phải là những diva kiểu cách, trên mình phủ một thiết kế non mùa của một brand thượng hạng. Bất kể phong cách trang phục hay trường phái thẩm mỹ thời trang, họ là những nạn nhân và tín đồ tuần tiết của thứ trang phục cuối cùng người đàn bà muốn giữ trên thân thể – Mùi Hương.

Họ không nhất thiết là những diva sẽ hãnh diện khoe với bạn bộ sưu tập những lọ nước hoa bự sự của mọi nhãn hàng có trên thế giới. Họ không nhất thiết phải quẹt mòn thẻ ngay tức thời vì một thiết kế vỏ chai. Một perfumista học được cách đánh giá và trân trọng các tuyệt tác điêu khắc công nghiệp mà kẻ khác gọi nôm na là “vỏ chai nước hoa”. Nhưng gout khứu giác sành sõi cho phép họ chạm đến từng giọt tinh túy thiêng liêng chứa đựng bên trong, và chỉ một perfumista mới có thể thấu đáo giá trị chân thực của một dòng nước hoa, vượt trên tag giá.

Nói một cách khác, một perfumista là một tín đồ thời trang mà độ cảnh giới đã cho phép tiếp cận và thẩm thấu đến phần tinh thần cốt cách tột vời nhất mà mắt thường không nhìn thấy được.

Điều đầu tiên mà một perfumista mới nhập môn cần thuộc nằm lòng, chương đầu của Hương Kinh tối thượng, sẽ là bảng phong thần các note hương cơ bản (hương mục). Nhưng trước khi tiếp cận những danh sách này, oái oăm thay, điều mà perfumista phải nhập tâm và xem làm chân lý lại là: không phải mọi thành phần của một hợp hương (ở đây là các loại nước hoa) đều đến từ Hương Mục, và không phải mọi món trong Hương Mục đều nhất thiết hàm chứa trong một hợp hương.

Hương Mục – những lời nói dối tỏa hương?

Các hãng nước hoa thường công bố những hương mục riêng, tùy thuộc vào dòng hương cụ thể. Mỗi loại nước hoa đều có hương mục do chính hãng công bố, hoặc được phân tích bởi các perfumista sành điệu, với chỉ sau vài tiếng quan sát biến đổi của mùi trên da. Thực tế có thể là một cú shock với perfumista mới nhập môn, bởi các phân tích này có thể rất xa rời với thành phần thật của nước hoa, mà dựa nhiều trên khả năng khứu giác và khả năng ngoa ngôn của công nghệ PR, với mục tiêu nhắm trúng tâm lí thẩm mỹ mùi hương của đối tượng thị phần. Một perfumista sẽ hiểu nguyên tắc cơ bản: hương mục không nhất thiết đồng nghĩa với công thức hoặc thành phần. Sẽ rất ngớ ngẩn nếu chỉ với hương mục ngắn gọn của Ungaro (by Ungaro) gồm nhài, nghệ tây và hổ phách, là bất cứ bà nội trợ nào cũng trở thành chuyên viên bào chế. Ngược lại, quả bom Thiền (Zen) mới nhất được nhà Shiseido tung ra với hương mục có đến 20 cái tên vi diệu: nho, cam bergamot, đào, thơm, hoa hồng xanh, lan Nam Phi, dành dành, táo đỏ, violet, lan chuông, lan dạ hương, hoa hồng, sen, hoắc hương, tuyết tùng, xạ hương, xạ hương trắng, hổ phách, nhang trầm và rong biển. Một perfumista sáng suốt sẽ tự hiểu rằng hoàn toàn có thể thành phần thực chất của Zen không hề nhỉnh hơn mấy tí so với Ungaro, và đó là bí mật tối thượng nằm trong phòng nghiên cứu của mỗi hãng, được bảo vệ nghiêm mật và tưng tiu như vũ khí chiến lược siêu tiên tiến.

Và đó không hề là điều mà các perfumista cần quan tâm đến.

Các hương mục ấy vẫn là những bản mô tả tinh tế và dễ hiểu nhất cho sự hưởng thụ và đánh giá của một perfumista am hiểu. Cho cùng một dòng nước hoa, bạn có thể va phải các hương mục khá khác nhau, hãy tham khảo, so sánh, và tổng hợp cùng với kiểm nghiệm nhạy bén riêng của mình.

Những câu nói ngớ ngẩn của perfumista mới nhập môn

Một hóa chất khá phổ biến trong công nghệ bào chế nước hoa là aldehyde. Chỉ có một perfumista mới toe mới có thể đến cửa hàng và đòi “Cho tôi loại nào không có aldehyde!” Hẳn nhiên, bạn sẽ được giới thiệu một loạt hương mục không ghi aldehyde, tặng kèm với nụ cười “bí ẩn” của nhân viên bán hàng. Bởi lẽ thành phần ấy không nhất thiết luôn được đề cập đến trong hương mục, và có rất nhiều dạng aldehyde khác biệt. Nên tỉnh táo lưu ý rằng, nếu bạn thấy “hương đào” trong hương mục, và hiển hiện trong mẫu thử, thứ bạn đang hít hà, rất có thể là aldehyde.

Một câu nói ngớ ngẩn khác “Tôi không ưa mùi xạ hương!”. Cần phải nói cho rõ là bạn sẽ không bao giờ có thể, hoặc cần biết những thành phần gì đã cấu thành cái gọi là “mùi xạ hương” trong một mẫu nước hoa. Và loại hương này có rất nhiều biến thể mang hương gỗ, phấn, trái cây, hay thậm chí thứ hương được gọi là mùi kim loại, v.v… Các perfumer thường sử dụng hơn một biến thể xạ hương trong cùng một hợp hương. Do đó, sẽ là một trò ngớ ngẩn nếu bạn muốn tỏ ra cầu kì và nằng nặc không thích mùi xạ hương.

Tương tự như với các thành phần hương mục khác, chẳng hạn hương hoa, với các biến thể vô chừng của nó. Việc tên loài hoa xuất hiện trong hương mục không hoàn toàn phải có nghĩa là hàng tấn cánh hoa tươi đã phải được chưng cất để có một ounce (28.35g) tinh dầu, mặc dù thành phần hoa tươi cũng được khai thác khá phổ biến, đôi khi kết hợp với hương tổng hợp và tinh dầu tự nhiên.

Trong một số trường hợp, các hợp hương thành phẩm có sử dụng chất liệu hương tái-thiết-kế. Đó là trường hợp của Hermes Brin de Reglisse do perfumer Jean-Claude Ellena thiết kế. Ông đã cho trích ly oải hương thành 50 nhóm phân tử, ngửi qua tất cả để loại bỏ 5 nhóm mà ông nhăn mũi cho là tạp hương, tái hợp 45 nhóm phân tử còn lại để có một hợp hương lavender tinh tế nhất. Tương tự, hoắc hương (patchouli) thường thấy trong các loại nước hoa thường là một hợp hương các ton mùi trầm và gắt chát, vốn được các fashionista hippy thời 1970 ưa chuộng, nhưng không còn phù hợp với thẩm mỹ khứu giác hiện đại, và có được một phiên bản hoắc hương tân thời và tinh xảo hơn rất nhiều. Các perfumista vốn không hảo dòng hoắc hương ngày nay sẽ khó lòng nhận biết dòng hương “kị rơ” ấy, dưới một “diện mạo” mượt mà nhuần nhã, hợp với khứu giác thành thị hơn.

Không chỉ có vậy, các đại phù thủy perfumer còn có thể cho ra các thành phần hương, với nhiều note trong cùng một thành phần, và được liệt kê trong hương mục như những thành phần độc lập. Điều này thường gặp với các note cùng nhóm, ví dụ nhóm hương “gỗ quý, hổ phách và xạ hương” hoàn toàn có thể chỉ là sự can thiệp của một hợp chất hóa học duy nhất. Một dòng nước hoa khác có thể sử dụng cùng hợp chất, và chỉ được nêu danh nôm na là “hương trầm”, trong khi trong một sản phẩm khác, hợp chất này lại có tên là “gỗ nhiệt đới”. Tương tự, nhóm “cây huệ và hoa cam”, “mimosa và nhài” hay “da thuộc, quế và tuyết tùng”,… đều có thể là những hợp chất duy nhất cho cảm nhận pha trộn của các note trong cùng nhóm sắc độ mùi

Tuy vậy, hương hổ phách (amber) vẫn khiến ngay cả các perfumista sành sõi nhất phải lúng túng. Sau khi nhà Prada tung ra dòng nước hoa nam giới Amber Pour Homme, không ít perfumisto đã khá hoang mang khi trong hương mục hoàn toàn không có thành phần hổ phách như tên gọi. Amber Pour Homme là một hợp hương tươi ngọt và hơi chát chúa của cam bergamot, quýt, dầu hoa cam, bạch đậu khấu, phong lữ, hoa cam, nhựa thơm, xạ hương, gỗ sandal, đậu tonka, vanilla, nghệ tây, hoắc hương và da.

Trên thực tế, hổ phách hoàn toàn không được sử dụng như một thứ nguyên liệu tự nhiên để chưng cất nước hoa. Hổ phách (amber) trong thuật ngữ bào chế mùi hương là một “gam” hay “accord” mùi hương gồm nhiều note như cánh kiến trắng, vanilla, đậu tonka, hoặc hoắc hương. Một hợp hương có thể hàm chứa các thành phần trên, hay cho một cảm giác mùi tương tự. Các hãng nước hoa có thể chọn liệt kê mọi note trong đó vào hương mục, hoặc chỉ tuần túy hợp nhất lại thành hổ phách (amber), hoặc gây hiệu ứng hơn là hổ phách lỏng (molten amber), hổ phách nóng chảy (hot liquid amber). Do đó, tốt hơn hết, chớ bao giờ tuyên bố rằng bạn thích những loại nước hoa màu trà đậm vì chắc chắn trong đó có nhiều hổ phách hơn!

Cà-lem, kem dâu và bánh bông lan

Nếu chỉ có thế, sau khi những kiến thức này được phổ biến đến mọi perfumista, và các hương mục chỉ còn là trò trí trá của các tay buôn hương ngộ chữ. Nhưng trên thực tế, các hương mục được xây dựng chặt chẽ và tinh tế dựa trên tham khảo cảm nhận mùi từ những chuyên gia mùi hương đắt giá nhất thế giới. Từ đó, hương mục được thiết lập như một cách thức hoàn hảo và trung thực nhất để mô tả cảm giác mùi của các tầng hợp hương, điều khả dĩ loài người có thể làm với sự giới hạn của ngôn từ trước những lớp hương tinh tế.

Mỗi thành phần trong hương mục gợi nhớ đến các mùi hương tự nhiên, trực tiếp động chạm đến những dây thần kinh khứu giác và kích hoạt cảm nhận, cảm xúc, để hình thành nên quyền lực tối thượng cuối cùng mà một dòng nước hoa có thể mang lại – một Thái Độ Cảm Xúc.

Mỗi ngày, ngành thời trang thế giới lại có thêm 2-3 dòng mùi hương mới, và hẳn nhiên, không perfumista nào dám tham vọng ngửi thử tất cả những sampler mới này, việc tham khảo hương mục sẽ nhanh chóng cung cấp cho perfumista những thông tin cơ bản nhất về tính chất và tinh thần của hợp hương mới. Một tín đồ hiện sinh, nghe metal rock, hay ưa mặc thời trang hobo sẽ không thể không xao xuyến khi tìm thấy trong hương mục của Diesel Fuel For Life có sự chát chúa của nho đen Hy Lạp và quýt, phảng phất một note hoài cổ hoắc hương, để kéo theo một note ngân tuyệt mỹ của nhài trên nền hương da thuộc, kết thúc một bức tranh toàn cảnh lập dị, nhiệt thành, nhưng vẫn đủ điệu đà.

Note “xanh lá lấp lánh” (sparkling green freshness) trong hương mục của dòng L.A.M.B.L (Gwen Stefani) khiến mọi perfumista ngay lập tức liên tưởng đến tầng hương đầu tươi mát, một kiểu mùi đại dương pha lẫn hương cỏ. Người ta còn nhận thấy cảm nhận hương của quả lê và đậu ngọt đúng như rong hương mục, dẫu không hẳn có dù chỉ một giọt tinh dầu đậu ngọt trong lọ nước hoa.

Tương tự, quả bom kẹo ngọt miss Dior Cherie với hương mục ngộ nghĩnh gồm kem dâu đá (strawberry sorbet), và bắp rang caramel (caramel popcorn) đã thực hiện một cú ngắm tài tình trúng phóc vào hồng tâm thị phần perfumista chanh cốm. Hẳn nhiên, nhà Dior không định xức cà lem kem dâu vào sau gáy các tiểu thư sành điệu, nhưng hương mục này đã trung thành tuyệt đối với cảm hương đỏm dáng, tươi tắn và một vị ngọt tổng thể vừa đủ dịu để không gắt nồng như trong các dòng hương của Dior dành cho các diva cỡ bự.

Cũng như vậy, Britney Spears hoàn toàn không định mang món trộn kì cục là quả vải, mộc qua vàng, trái kiwi và bánh bông lan để bào chế dòng nước hoa Fantasy.

Nếu bạn cảm thấy bị quyến rũ bởi hương mục cầu kì của Flower Princess (Vera Wang) gồm thường xuân non, quýt, hoa súng, hoa cam, hồng Ma-rốc, nhài sambac, mimosa, vỏ mơ, hổ phách, gỗ quý và xạ hương, thì chớ băn khoăn về việc có bao nhiêu quả mơ đã bị lột vỏ, và người ta làm gì với ngần ấy phần quả ngon lành còn lại. Điều quan trọng hơn mà một perfumista sẽ cảm nhận được, đó là cảm giác đi băng xuyên một vườn hoa kì lạ nhất hành tinh, nơi mỗi bước chân là một lớp hương kì ảo mới được lần dở trong một bản hòa ca của các note khoan nhặt đan xen.

Hương Mục là những tác phẩm ngôn từ thật sự, một nỗ lực hoàn hảo của con người hòng nắm bắt, với sự hạn hẹp của con chữ, cảm xúc vi diệu khôn lường của mùi hương. Một perfumista sẽ học được cách tôn trọng nghiêm cẩn trước các tuyệt phẩm ngôn từ này, nhưng nếu bạn vô tình cảm nhận được “mùi của mẹ” từ một mẫu sampler Jean Paul Gaultier nào đó, hãy bình thản và tin vào cái mũi của mình, dù trong hương mục không có nhắc tên bà thân mẫu ở nhà.

Dẫu sao thì hydroxycitronellal và galaxolide cũng là những từ quá trúc trắc, không hề làm bạn có vẻ thông minh hơn, nếu không muốn nói là chúng khiến bạn có cảm giác bản thân là một quả bom sinh học, trong khi không gian quanh bạn lại rõ ràng đang ngập tràn hương hoa súng quyện với xạ hương.

 (bài viết đã được đăng trên tạp chí M-Mỹ phẩm)

 

 

 

Sát-thủ Xăm Mình Man-Eater

Túy Ca

Một giải Academy, hai Screen Actors Guild, và ba Quả Cầu Vàng, đại sứ thiện chí của Liên Hiệp Quốc, và mẹ cả vĩ đại của những đứa con đa chủng tộc, tất cả những điều đó đều không đủ để nhận diện một người đẹp cinema.

Nhưng chỉ cần các nét phác của một sinh linh ăn thịt đàn ông, có đôi mắt sâu đen tóe lửa, cặp môi dày trều trào nhục dục, phía trên một vành xương hàm của đàn ông và một thân hình của tượng nhân sư Ai Cập xăm trổ nhì nhoằng, người ta biết đó là Angelina Jolie.

Cầm tinh con mèo, sinh ngày 4 tháng Sáu, 1975 tại thành phố của những thiên thần rách trời rơi xuống Los Angeles, thành tựu yêu đương của nam tài tử Jon Voight và cô đào Marcheline Bertrand, Angelina Jolie lớn lên trong kỷ nguyên thống trị của các ngôi sao giải trí thập niên 1990, nàng được giáo dưỡng để trở thành một ngôi sao thượng hạng, như bao công dân ưu tú khác của L.A.

Năm 1998, nàng ghi dấu son (và hẳn là một vệt son khá dày) lên màn ảnh Mỹ với hình ảnh của huyền thoại lưỡng tính Gia, với tất cả những gì bạo liệt, nóng bỏng, và bi thảm nhất của cô người mẫu Gia Marie Carangi yểu mệnh. Dù đã mất trong cùng quẫn và nghiện ngập, hào quang của Gia vẫn mang lại cho Jolie ngon ơ Quả Cầu Vàng đầu tiên cho nữ minh tinh xuất sắc nhất.

Vẻ sát thủ của Angelina Jolie, chất dục rất đàn ông và thân hình chắc lẳn của một type đàn bà đội đá vá trời đã khiến Jolie lập tức được đặt hàng cho một loạt vai liệt nữ hầm hố, mở đầu cho trào lưu kiều nữ cơ bắp. Cả thế giới đảo điên với hình ảnh người hùng Mỹ tân thời, một Rambo-giống-cái mặc quần cargo, áo tanktop, tóc đuôi gà, quai hàm thép và súng phóng lựu, chạy thình thịch trên màn bạc lẫn màn hình máy tính của các game thủ khắp nơi trên thế giới.

Cũng một phần vì vậy, ngay khi những hình ảnh teaser của Ông Bà Smith được tung ra, với cặp đôi vàng Jolie – Brad Pitt trong hai bộ suit đen siêu lịch lãm, cùng với những tin hành lang nóng hổi về cuộc dan díu ngoài chồng ngoài vợ của họ, người ta biết, một vụ nổ khôn lường sắp bắt đầu.

‘Cục cưng của nước Mỹ’ bị giật đồ chơi

Dù không ít dư luận chỉ khinh suất coi đây là trò PR vỡ lòng của nhà sản xuất, nhưng rõ ràng hiệu quả lăng-xê đã khiến Ông Bà Smith, từ một kịch bản ngớ ngẩn và tắc tị, đã trở thành một món đặc sản mà tất cả mọi người đều muốn nếm thử trên bàn tiệc giải trí đã sẵn ê hề.

Nhưng bản thân Jolie vĩnh viễn bị xăm lên trán hàng chữ vô hình “man-eater” khi mà hầu như cả thế giới phẫn nộ trước cảnh cô vợ bé bỏng tóc vàng Jennifer Aniston của Brad, với biệt danh “American sweetheart”, xuất hiện trước báo giới trong bộ dạng tiêu điều và đôi mắt sưng vù. Bản thân Jolie cũng không ngại ngần khi công khai thú nhận đã phạm một lời răn rất khó tuân theo của Chúa: nàng đã trót tham chồng người. Và tệ hơn thế nữa, nàng đã thành công.

Sát thủ man-eater đã cật lực củng cố hình ảnh vật dục vô độ và khêu gợi khôn lường với vị trí đại sứ thiện chí của Liên Hiệp Quốc. Nàng chễm chệ chiếm các hàng tít trang nhất của các tờ chính luận về các hoạt động nhân đạo hướng cho dân tị nạn và nạn nhân chiến tranh tại Cambodia, Darfur và Jordan, cùng hàng loạt lĩnh vực xã hội và môi trường khác. Nàng xuất hiện ở mọi nơi, dù là vùng chiến sự ác liệt hay tận hang cùng ngõ hẻm các nước thế giới thứ 3, lấm lem và căng mẩy trong những bộ trang phục đi đường tuềnh toàng, đôi mắt sát thủ máu lạnh nheo lại dưới nắng nhiệt đới, và đặt đôi môi gợi dục nhất hành tinh lên làn da cằn khô vì nạn đói và dịch bệnh của những bệnh nhi Nam Phi.

Các chính khách nghiêng mình nghênh đón nàng, mọi nơi nàng xuất hiện đều bị bao phủ bởi vầng hào quang nhấp nhóa flash của các phóng viên từ chính luận cho đến lá cải ba xu. Anniston có thể chưa nguôi cơn tiếc nam thần tóc hoe đến đứt ruột, nhưng nước Mỹ xá tội cho Jolie, dẫu đôi khi xã hội vẫn phải “cúng tế” cho thói háu tình của nàng vài chàng trai khỏe mạnh.

Những người đàn ông và những đứa trẻ

Với một khuôn miệng háu ăn phàm tục và gợi cảm đến run người như thế, 2 đời chồng đối với Angelina Jolie, quả nhiên vẫn còn khá kiêng dè khiêm tốn. Dường như thói háu tình của nàng thường phát tiết tại trường quay, ít nhất là lần đầu năm 1995, với nam tài tử Jonny Lee Miller, khi cùng diễn xuất trong bộ phim Hackers một thời cháy rạp. Họ ly dị bốn năm sau đó. Angie lập tức nối nhịp cầu vui với tài tử Billy Bob Thornton. Họ hãnh diện phô trương trên mặt báo một mối tình si mê say đắm. Trong một cuộc phỏng vấn, Jolie sáng ngời hạnh phúc, say sưa tỉ mỉ về cuộc làm tình đêm trước với chồng, và cam đoan rằng “mấy lần tôi tưởng mình sắp ngất”. Nàng ly dị với Billy vào năm 2003.

Jolie nhận nuôi một bé trai người Cambodia một năm trước khi ly dị và đặt tên là Maddox.Ba năm sau, Jolie tiếp tục nhận nuôi bé gái Zahara, và cùng năm đón vào cuộc đời mình thêm một thành viên nữa, có phần kháu khỉnh và chững chạc hơn bé Maddox và Zahara, tên là Brad Pitt.

Một năm sau đó, Jolie và Brad có cho riêng mình bé gái Shiloh. Cặp đôi hạnh phúc cùng nhau đến Sài gòn và nhận nuôi bé Pax Thien, và Thượng Đế tặng thêm cho họ một món quà hậu hĩ là cặp sinh đôi Knox Leon và Vivienne Marcheline vào cuối năm sau đó.

Hoan hỉ trước món quà tuyệt vời này, Jolie và Brad quyết định đề cao giá trị món quà của Chúa tới mức giá 14 triệu Mỹ kim cho những tấm ảnh độc quyền về cặp song sinh, được bán lại cho tờ People và Hello!, lập kỉ lục những bức ảnh celebrity đắt giá nhất. Cùng năm, với bàn tay đạo diễn kì tài của Clint Eastwood, Jolie vào vai người mẹ mất con Christine Collins. Nàng chỉ được ứng cử, nhưng hụt giải Nữ diễn viên xuất sắc cho vai ấy, bởi tất cả những gì được nhìn thấy, là tài nghệ phù thủy của Clint Eastwood, người đã tài tình biến một bà mẹ đông con thành một bà mẹ mất con.

Jolie Bí Sử – ngon mắt nhưng khó coi

Cuốn “Angelina: An Unauthorized Biography” của trùm viết tiểu sử Andrew Morton được tung ra, với 336 trang tin kỳ bí về cuộc đời Jolie, chờ đợi những ngón tay (được tỉa tót công phu) của độc giả sành điệu lật xoàn xoạt trong cơn hiếu kì căng giật. Ngay lập tức, trang điểm sách của các tờ báo hàng đầu không bỏ sót bất cứ một tiêu điểm kì thú nào được đề cập đến trong cuốn sách.

Vấn đề được bàn luận nóng nhất, dù nghe khá lạ tai, là trinh tiết của Jolie, do tờ USA Today khởi xướng. Andrew Morton cho biết Jolie mất trinh năm 14 tuổi, trên chiếc giường của mẹ ruột là cựu minh tinh Marcheline Bertrand.

Tờ Chicago Sun-Times đề cập đến chi tiết việc Jolie từng tiểu tiện vào chai nước Mountain Dew, bỏ vào tủ lạnh, rồi sau đó dùng để “thiết đãi” tình nhân của cha mình là tài tử Jon Voight.

Cuốn sách cũng nhắc đến vụ dan díu chóng vánh giữa Jolie và tay phi công thiếu niên DiCaprio, do các đại diện của họ dàn xếp năm 1988. Ít nhất, họ đã tắm cùng nhau dù, theo Morton kể lại, nam chính của Inception và ngôi sao của Salt đều cùng cho rằng kẻ còn lại không hấp dẫn giới tính đủ cho một cuộc dan díu hoàn chỉnh.

Ngoài ra, độc giả còn được biết rằng hình xăm tên người chồng sau là Billy Bob Thornton được Jolie ưu ái xăm sâu dưới phần bụng dưới bằng font chữ Helvetica để đời đời hậu thế lưu danh. Tác giả cuốn sách còn dí dỏm xoáy sâu vào chi tiết mà đáng lẽ ra, ngài Thornton đã có thể nhìn thấy trước kết thúc buồn của cuộc hôn nhân – Jolie đã không yêu ngài đến mức chọn font Garamond hay Century Gothic!

Morton cũng tô đậm chi tiết Jolie đã nhận nuôi bé Maddox như một món mồi để “nhử” Brad Pitt. Ngoài ra, cuốn sách còn công khai in những tấm ảnh gây shock của Jolie, khỏa thân toàn tập, và đang phê thuốc vật vờ trong một tấm khác.

Một bản tổng kết toàn tập cụ tỉ và kì thú cho tấm chân dung ngon mắt nhưng khó coi nhất Hollywood.

Dòng máu chiến binh, hay đả nữ đa tình với bản năng linh cẩu?

 

Mối tình đầu của Jolie là khi nàng 14 tuổi và kéo dài suốt 2 năm một cách nghiêm túc và hiếm hoi. Họ sống cùng nhau ngay trong ngôi nhà của mẹ nàng. Mãi về sau, Jolie vẫn coi đó như một đời chồng, về mức độ tình cảm, và chính cuộc chia tay đã thúc đẩy nàng tìm đến nghiệp diễn vào khi mới 16 tuổi.

Từ bấy đến nay, trong phần lớn các vai diễn, Jolie thu hút khán giả bởi ngoại hình và sắc màu cá tính của bản thân hơn là khả năng nhập vai. Người ta đến rạp để xem Jolie cáu tiết đấm đá tơi bời bọn ác, hay túm tóc lên gối các quí ngài, hơn là xem một số phận của nhân vật kịch bản. Nhưng xét về góc độ khác, nàng hoàn toàn có thể minh chứng cho khả năng nhập vai bằng việc rơi tòm vào chuyện tình có thật với bạn diễn. Bằng chứng đầu tiên xảy ra với phim Hackers năm 1995 và cuộc tình lãng mạn với tài tử Ăng-lê Jonny Lee Miller, mà theo nàng là người đàn ông đầu tiên sau mối tình tuổi teen.

Trên thực tế, họ không hề gặp lại hàng tháng sau khi bộ phim đóng máy, nhưng quả tình quá trình “xả vai” của Jolie diễn ra khá chậm. Họ kết hôn một năm sau khi bộ phim phát hành. Tân giai nhân má đỏ môi hồng, nghênh ngáo tiến đến bàn lễ trong chiếc quần giả da đen bóng, phía trên là T-shirt trắng, mà trên đó, nữ sát thủ khiến quan viên hai họ sởn tóc gáy với hàng chữ tên chú rể được nàng nắn nót bằng máu của chính mình. Một năm sau, họ li thân, và chính thức ly dị vào năm 1999, với lời giải thích của Jolie “Thời gian làm điêu tàn mọi thứ. Chàng là người chồng lí tưởng mà một cô gái có thể mơ tới, tôi sẽ luôn yêu chàng. Nhưng đơn giản là chúng tôi còn quá trẻ!”

Nhưng có lẽ còn một lí do khác ngoài tuổi tác, bởi ngay vào thời điểm ly thân, Jolie công khai mối quan hệ đồng tính với người mẫu-diễn viên Jenny Shimizu khi “nhập vai” (lần nữa) trong phim Foxfire (1996). Jolie tuyên bố rằng nàng “đã rất có thể cưới Jenny, nếu khi ấy tôi chưa lấy chồng tôi. Đó đã là một mối tình sét đánh đích thực.” Về sau, năm 2005, Shimizu còn kể lại rằng mối tình của họ kéo dài nhiều năm, thậm chí ngay cả khi Jolie đang công khai cặp kè với nhiều người khác.

Khi được hỏi nàng có phải là người lưỡng tính, Jolie trả lời: “Đương nhiên. Nếu ngày mai tôi phải lòng một phụ nữ, liệu tôi có thể hôn và sờ mó cô ấy không? Tất nhiên! Có chứ!”

Sau 2 tháng cặp kè, Jolie lại quyết định cưới Billy Bob Thornton vào năm 2000 tại Las Vegas. Đương nhiên, họ gặp nhau tại trường quay Pushing Tin (1999), và lại “nhập vai” hơi quá trớn, tuy chưa chính thức công khai bởi khi ấy Thornton đang đính hôn với nữ diễn viên Laura Dern. Như được kích thích với bản năng loài linh cẩu, Jolie ra sức trưng bày tấm chân tình của nàng theo một hình thức máu me rùng rợn không kém gì chiếc áo cưới đầu đời. Ngoài những trò âu yếm tán tỉnh nơi công cộng, cả hai đeo tòn teng trước ngực chiếc lọ nhỏ đựng vài giọt máu của tình nhân. Hẳn nhiên, nàng Laura Dern đáng được xem là một kích thích tố đáng kể đối với liệt nữ chiến binh. Nàng không thích tung chiêu vào không khí, và yêu cuồng nhiệt hơn nếu đó là người đàn ông đã thuộc về một người đàn bà khác. Thế là Laura hụt cưới vào tay Jolie.

Một khi đã sở hữu chiến địa, nữ sát thủ bắt đầu cảm thấy trống rỗng – người ta có thể chiến đấu bằng máu vì một miếng mồi, nhưng không hẳn vì muốn chung sống đời đời kiếp kiếp với con mồi ấy. Họ ly thân ba tháng sau đó và chính thức ly dị vào năm 2003, với lời tâm sự của Jolie “Chính tôi cũng ngạc nhiên với sự chóng vánh này. Cứ như thể chỉ qua một đêm, tất cả mọi thứ đều thay đổi, tôi nhìn lại chàng và chợt nhận ra chúng tôi chả có điểm chung nào cả. Và điều đó thật khủng khiếp, nhưng tôi cho rằng điều này xảy ra khi người ta gắn kết với nhau khi chưa hiểu rõ chính bản thân mình”. Một lần nữa, dường như Jolie còn quá trẻ.

Nhưng chưa bao giờ loài mèo giành nhau mồi vì chúng tìm thấy điểm chung với lũ chuột tội nghiệp.

Đầu 2005, Jolie tìm thấy Brad Pitt, thời may, chàng khá kháu khỉnh vừa miệng, và thậm chí còn đang thuộc về quyền sở hữu chính thức của cục cưng truyền hình Mỹ Jennifer Anniston. Đáng tiếc cho Jen, Brad và Jolie thủ vai Ông và Bà Smith, và Jolie lại một lần nữa “nhập” vai.

Thoạt tiên liệt nữ khăng khăng bác bỏ mọi tin đồn: “Để dan díu với một người có vợ, nhất là khi cha tôi đã từng phản bội mẹ tôi, là một điều tôi không bao giờ tha thứ cho mình. Tôi sẽ chẳng thể nhìn mặt mình trong gương mỗi sáng vì xấu hổ. Hơn nữa, tôi biết chắc rằng mình sẽ chẳng bao giờ tôn trọng và yêu thương nổi một tay đàn ông lừa dối vợ mình.” Nhưng Jolie rất cần ngắm mình trong gương mỗi sáng, và để tránh cho Brad trở thành kẻ lừa dối vợ, tốt hơn hết là anh chàng không nên có người vợ nào cả.

Một năm sau, Jolie hân hoan xác tín với tờ People rằng mình đang mang giọt máu của Ông Smith trong bụng. Từ đó tới nay, Brad vẫn nguyên trạng một người đàn ông không có vợ, Jolie vẫn nhìn ngắm mình trong gương mỗi sáng. Gần đây lại có tin những đứa trẻ đa sắc tộc của Ông Bà Smith đang thúc giục bố mẹ chúng kết hôn, trong khi các báo đưa tin với mật độ dày đặc những cuộc cãi vã căng thẳng tung trời chẳng khác gì đoạn kết của bộ phim Mr.and Mrs.Smith. Rõ ràng, Jolie đã quá nhập vai.

Soi bóng mình trong ống kính media

Trong suốt thập niên đầu của sự nghiệp, Angelina Jolie đã không hề sử dụng đến một đại diện báo chí nào, hoàn toàn trực tiếp và hoang dã trước mọi cuộc tiếp xúc của truyền thông. Nàng vô tư bô lô ba la chuyện yêu đương, ân ái, chuyện nàng lưỡng tính và khoái bạo dâm. Sau trận Jolie hôn thắm thiết em trai trong sự kiện Academy Awards năm 2000, lập tức chĩa mọi tia xoáy tìm mồi của các diều hâu báo chí, còn Jolie, sau trò nghịch dại mới hốt hoảng khăng khăng cự tuyệt bình luận hay cung cấp thêm tí ti thông tin nào về quá khứ đời sống tình dục của mình.

Nàng chuyển qua series chuyện nghiện ngập chích choác và chứng trầm cảm, chuyện hồi 1997, nàng tính đi mướn hitman về để…ám sát mình, hay chuyện nàng phải vào điều trị tâm lý trong viện UCLA suốt 3 ngày trước đám cưới với Billy Bob Thornton, v.v… Giới truyền tin trở nên mệt mỏi với việc “trình bày hoàn cảnh” mỗi ngày một chuyện của Jolie, các trang báo ngập tràn hình ảnh một Jolie không có gì hơn là tình dục và ma túy. Mãi cho đến giữa năm 2000, với việc Jolie làm đại sứ thiện chí của LHQ và nhận nuôi bé Maddox mới đối phó được phần nào với tình hình rác rưởi ngập ngụa trong hồ sơ truyền thông của nàng, gắn thêm vào đó những nghĩa cử của Liệt Nữ Quên Mình và Mẹ Cả Bao Dung.

Thậm chí ngay cả khi Jolie ngưng hoàn toàn các tiết mục trình bày hoàn cảnh, và quăng mình vào các sứ mệnh thiêng liêng của LHQ, một điều nàng không thể thay đổi được, ấy là ngoại hình rất hút press của mình, đặc biệt với đôi môi dày trĩu và thân mình xâm trổ tưng bừng. Nàng liên tiếp ẵm giải bình chọn “người đẹp nhất” hoặc “gợi dục nhất” bởi các tạp chí, trong đó có Vogue (2002), Esquire (2004), American FHM và British Harper’s Bazaar (2005), People và Hello! (2006), Empire(2007) và Vanity Fair (2009).

Với cả mớ rối ren những câu chuyện đời chắp vá, vẻ đẹp dục tính nóng bỏng và một sự tính toán nghiệt ngã lạnh lùng, Angelina Jolie trở thành một trong những celebrity có rating cao nhất thế giới. Cuộc gán ghép với Brad Pitt thậm chí làm tăng gấp đôi tỉ lệ những người biết và quan tâm tới Jolie. Cuộc “phiêu lưu” tình ái ấy không hề mang màu sắc phiêu lưu khi gia đình “8 ngọn nến lung linh” ấy trở nên lý tưởng tuyệt đối cho mọi thể loại nhãn hàng từ thời trang, mỹ phẩm, đến gia dụng và thực phẩm chế biến, theo kết quả khảo sát của ACNielsen trên 42 thị trường quốc tế. Riêng Jolie trở thành khuôn mặt đại diện của St.John và Shiseido từ 2006 đến 2008, một áp-phe hình ảnh khác với chiến dịch quảng cáo của Louis Vuitton năm 2011 trị giá 10 triệu Mỹ kim. Những con số này đặt Jolie lọt thỏm vào danh sách vàng Time 100 năm 2006 và 2008, trong khi tờ Forbes xếp nàng vào danh sách nữ minh tinh Hollywood có thu nhập cao nhất của 2009 (27 triệu Mỹ kim) và 2011 (30 triệu Mỹ kim). Và cuối cùng, Jolie chiếm luôn vị trí cao nhất của danh sách Celebrity 100 – bảng phong thần những celeb quyền lực nhất năm 2009.

Tử thần Nhật bổn, thầy mo Bangkok, tín ngưỡng Khmer và mã tọa độ Sài Gòn

Bộ sưu tập hình xăm trên thân thể nàng liên tục được sử dụng làm đề tài vấn đáp trong các cuộc phỏng vấn, một khi Jolie tưởng đã hết chuyện để kể, và các phóng viên đều muốn biết liệu đó phải chăng là những slogan tinh thần hay logo tín ngưỡng của nàng.

Mỗi hình xăm được nhặt nhạnh ở đâu đó, trong một cơn bốc đồng, với sắc màu đầu lâu xương chéo vô cùng bí hiểm được xăm vào da Jolie, như một ao ước tuyệt vọng của nàng được thấy mình gắn kết với một đức tin, hay một văn hóa xa lạ nào đó. Tất cả là 14 cái, ít nhất là ở những chỗ nhìn thấy được, với tất cả các thể loại tinh thần văn hóa, ý nghĩa tôn giáo, và ngôn ngữ nào hầm hố và cổ quái nhất mà nàng nhặt được trên đường ngao du thiên hạ. Từ câu cách ngôn tiếng Latin, danh ngôn của Tennessee Williams, một câu kinh sak yant, một con cọp dài 12 inches được ếm xì bùa  bởi thầy mo kiêm thợ xăm Bangkok, đến một chuỗi 6 mã tọa độ nơi chào đời của 6 đứa con đa chủng.

1. Ký tên: Chết

Tử thần Nhật Bổn đã ký tên mình bằng chữ kanji lên bả vai trái của nữ sát thủ từ khi nàng còn rất trẻ. Jolie cho rằng việc luôn nhắc mình về điều chờ đợi ở cuối con đường cũng là một cách để nhắc nhở và thúc đẩy nàng sống trọn đầy nhất mỗi ngày. Từ khi nhận nuôi bé Maddox, Jolie xăm đè lên đấy một lời kinh cầu nguyện sự chở che bằng tiếng Khmer.

2. Thập giá Latin đè rồng Hà Lan lè lưỡi

Rồng Lưỡi Xanh là giống bò sát đầu tiên được Angelina Jolie cho phép bám vào da thịt mình (gần như) vĩnh viễn vào những ngày cuồng loạn ở Amsterdam. Lúc tỉnh cơn phê, Jolie đã thống thiết ân hận và lại quyết định đi xăm một cái thập giá Latin màu đen đè lên con thằn lằn Hà Lan tội nghiệp. Tiện tay, nàng xăm luôn cạnh đó là câu ngạn ngữ Latin “Điều dung dưỡng ta sẽ hủy hoại ta” vào ngày trước hôn lễ với Jonny Lee Miller năm 1995. Nàng nôm na định nghĩa hình xăm và dòng chữ nọ là “những biểu tượng thuần túy, nói chung là tốt.”

3. Trái tim ngục tù

Đây là dòng danh ngôn của Tennessee Williams “A prayer for the wild at heart, kept in cages” để tưởng nhớ thân mẫu là cựu minh tinh Marcheline Bertrand: “Tôi chưa từng gặp một ai quanh đây có thể sống thực sự thật màu, từng giây trong ngày, một ai đó được tự do tự tại tột cùng… Nên đây là lời nguyện cầu cho những ai may mắn tìm thấy cho mình phước hạnh và cơ may để tự giải phóng bản chất… Những thứ quanh ta, những thứ cho ta cảm giác êm ái và an toàn, chúng chính là những ngục tù bủa vây.”

4. Cửa sổ, một cái gì đó, và lại Rồng

Một chị Hai xăm mình cỡ Jolie ắt không thể bỏ qua phần lưng dưới – “mặt bằng” ưa thích của dân xăm trổ vỡ lòng. Nàng chọn một lô một lốc món xăm linh tinh và đổ dồn vào đấy. Đầu tiên là họa tiết bộ lạc được xăm cùng thời với mẫu tự Kanji trên bả vai trái. Bản thân Jolie cũng không có một lí giải rõ ràng nào cho ẩn ý cao siêu của họa tiết nọ, ngoài việc trông nó khá ngầu.

Ngay cuối sống lưng là một con rồng cổ, cũng theo trường phái tribal. Nhưng các con rồng không ở lâu với Jolie, bởi sau này con rồng đầy ẩn ý sâu kín nọ cũng chịu chung số phận với rồng lưỡi xanh khi bị Jolie xăm một con cọp bengal to tướng đè lên.

Ngoài ra, nàng còn trổ thêm một cái cửa sổ tâm hồn trên lưng, bởi “Dù ở bất kì đâu, tôi luôn thấy mình đang nhìn qua một khung cửa sổ, ước mình đang… ở một nơi nào đó khác.”

Nhưng suy nghĩ lãng mạn và khá trung thực này của Jolie về sau cũng bị đuôi con cọp bengal nọ đè lên. Có lẽ bởi Jolie đã đến lúc cho rằng nàng đang ở chính nơi nàng muốn, cho dù đó là đâu, L.A hay Cambodia.

5. Ông cọp bengal

Ngoài lời kinh Khmer, ông cọp bengal trứ danh này là hình xăm nổi bật sau lưng Jolie. Từ mõm đến chóp đuôi “ông” dài 30cm, lẫy lừng cao 20cm, như một ghi dấu hãnh diện về tư cách công dân Cambodia của chủ nhân, được xăm tại Bangkok năm 2004, bởi nghệ nhân Sompong Kanphai, mất 2 tiếng ròng chỉ để vẽ phác thảo. Ông cọp được xăm hoàn toàn thủ công. Kanphai đã vừa kì công rị mọ trên lưng Jolie với một cái kim dài găm vào ống mực, vừa âm ỉ ngân nga một giai điệu Phật giáo cổ để thêm phù hộ cho hình xăm và đẹp lòng vị thân chủ danh giá ưa sắc màu tâm linh.

6. Lời nguyện cầu của con nhang đa đạo

Trên bả vai trái của Jolie là câu kinh tiếng Phạn, viết bằng mẫu tự Khmer, thoáng nhìn như những vết cào xé dọc một bên vai sát thủ. Đây là lời cầu nguyện bằng an cho nàng và bé trai Maddox người Cambodia mà nàng lần đầu nhận nuôi. Tạm dịch là: “Hãy để cừu nhân chạy xa khỏi con. Nếu gặp thời phú vượng, hãy cho con luôn giữ gìn của nả. Nhan sắc của con sánh bằng Apsara thần nữ. Nơi con đến, người theo chở che và phục dịch, vây bủa bốn bề.” Lời cầu nguyện này cũng được thực hiện bởi Sompong Kanphai tại khách sạn Pathum Thani, Thailand.

7. Know Your Rights

Hàng chữ gothic “Know Your Rights” được nắn nót vào ngay giữa hai bả vai được trích từ ca khúc của nhóm Clash ưa thích của Jolie. Nàng tâm đắc cho rằng đây là lời tuyên ngôn hàm ý sự tự tại trong giải phóng tính cách, đầy tính nhân văn pha màu punk rock.

8. Mẫu tự Ả-rập

Mặt trong cánh tay phải của Jolie chạy dòng chữ Ả-rập, theo Jolie giải thích, là “Sức mạnh của Ý chí”, trong khi nhiều tư liệu khác cho rằng dòng chữ này có nghĩa là “Quyết Tâm”. Dù có nghĩa gì đi nữa, những dòng chữ Ả-rập thôi không còn là đề tài nữa khi được xăm đè lên bằng một họa tiết lập thể xăm cùng với Billy Bob Thornton hồi cả hai còn trong cơn say tình.

9. Không phải tín đồ của Hermes

Phía trong cổ tay trái, Jolie xăm một chữ ‘H’ bằng mẫu tự cổ. Theo nhiều nguồn tin, hình xăm này để nhớ về em trai, trong khi James Haven đoan chắc đây là vết dấu tình sầu của tình lang thời vụ Timothy Hutton. Cuộc tranh cãi cũng chấm dứt khi Jolie xóa bỏ hình xăm này bằng laser.

10. Billy Bob, Hắc Long, tia laser và những vết cào bằng chữ số

Trên cánh tay trái, Jolie từng xăm tên chồng cũ Billy Bob (khi chàng chưa cũ) và một con rồng đen. Tia laser trở nên được việc vào ngày họ chính thức ly dị, Jolie thở phào đánh sượt và tuyên bố “Tôi sẽ không bao giờ ngu dại đi xăm tên đàn ông lên người mình nữa!”

Con rồng đen được xăm lên khi họ bắt đầu cuộc sống vợ chồng, đương nhiên cũng cùng chung số phận với hai đồng loại khác của nó, và ngài Chồng. Vết xóa bằng laser được che phủ bằng một thực đơn dài ngoằng bí hiểm, thật ra là các kí hiệu tọa độ về vị trí địa lý, nơi các con nuôi và con ruột nhà Brangelina chào đời theo thứ tự: tọa độ-phút-giây:Maddox Chivan Jolie-Pitt

N 11º 33′ 0″ E 104º 51′ 00″: một điểm gần một cái hồ ở đâu đó quanh phi trường Phnom Penh, nơi Maddox sinh ra.

N 9º 2′ 0″ E 38º 45′ 0″: tọa độ căn nhà tại thủ đô Addis Ababa của Ethiopi, nơi bé gái Zahara chào đời.
S 22º 40′ 26″ E 14º 31′ 40″: là tọa độ khu nghỉ dưỡng Swakopmund trên bờ biển Namibia, nơi Jolie sinh bé gái Shiloh năm 2006.
N 10° 46′ 0″ E 106º 41′ 40″: “địa chỉ định vị” của Hòn Ngọc Viễn Đông Sài-gòn, Việt Nam, nơi bé Pax Thien chào đời.
N 43º 41′ 21″ E 07º 14′ 28″: được xăm lặp lại 2 lần là tọa độ thành phố Nice, nơi Jolie hạ sinh cặp song sinh Knox và Vivienne.

BOX: Tuyên ngôn ngắn

Về tình trạng tâm lý của bản thân: Điều trị tâm lý? Tôi không cần thứ đó, tôi có các vai diễn của mình.

Về quá khứ: Người ta trẻ, người ta xỉn, người ta lên giường, người ta thủ dao trong người. Đời thế đấy!

Về việc sẽ ra sao nếu bắt quả tang Billy Bob ngoại tình: Tôi đã nói ảnh rồi, tôi mà bắt được, tôi sẽ không giết vì tội nghiệp sắp nhỏ của ảnh, tụi nó cần có ba. Nhưng mà tôi đánh. Tôi nhớ chỗ hết mấy chấn thương cũ do chơi thể thao, tôi sẽ nhè vô đó, và đánh luôn cô ả kia nữa!

Về phiên bản điện tử của Tomb Raider: Thế này nhé, cỡ ngực tôi là 36-C, cô hoạt hình là double-D, còn nhận vật Lara Croft trong phim là cỡ D.

Với tờ People ngày 8 tháng Bảy, 1996: Có một cái gì đó êm ái và dễ chịu khi nghĩ về cái chết. Việc nghĩ mình có thể chết ngày mai sẽ giúp bạn tự do hoàn toàn để yêu ngày hôm nay.

Về màu tóc của mình: Họ quá chú ý vào cặp môi tôi và không ai hay biết sự thật là tóc tôi vốn màu vàng hoe. Hồi nhỏ có lần má nhuộm tóc cho tôi, và tôi thấy như vậy đẹp hơn, cho đến tận bây giờ.

Đăng trong: on Tháng Mười Một 11, 2011 at 11:48 Sáng  Phản hồi (3)  
Tags:

mụ đồ tể mặc váy jersey

Trác Thúy Miêu

Mọi tín đồ đều biết đến DKNY, nhưng cái tên Donna Ivy Faske vùng Forest Hills của New York lại là một sự xa lạ phía sau Donna Karan – một nhân vật không có số phận, không có cả những nét phác scandal lòe loẹt cho một tên tuổi chiếu trên làng thời trang thế giới.

Trên hành lang danh vọng của thời trang thế giới, bà là nhà cách mạng của thời trang dân chủ với danh xưng Nữ Hoàng Bán Lẻ.

Nhưng khi thời trang qua đi bởi chính vòng xoay đào thải của cuộc thăng trầm suy – thịnh, Donna Karan chỉ còn lại trong hồ sơ tội ác nhân loại một ả đồ tể mặc jersey và một chiến lược sự nghiệp tưởng như không tì vết.

Cảm hứng sáng tạo: Con người thật, cuộc sống thật

Ngay từ những ngày đầu, Donna Karan đã khẳng định nền tảng tư duy thực dụng, được xem như động cơ và cảm hứng thiết kế cho sự nghiệp của mình. Bản thân là type diva sự nghiệp với đầy đủ tố chất thực tế, logic của lối sống này, Donna Karan chính là đại diện mẫu mực nhất cho thị phần đối tượng của mình. Bà dùng chính mình để kiểm nghiệm các thiết kế, và những ý tưởng sáng tạo cũng xuất phát từ chính tủ quần áo riêng của bà. Đối với nhãn hàng DKNY, với các thiết kế trẻ trung vui mắt dành cho thị trường phổ thông, Donna đã lấy chính phong cách và gout thẩm mỹ của con gái Gabrielle (sinh 1975) làm đối tượng và ý tưởng. Những người quen biết với gia đình bà cũng dễ dàng suy luận ra “chàng thơ” của dòng thời trang nam không ai khác chính là chồng và chiến hữu của Donna – Stephan Weiss.

Cuộc đời Donna Karan cũng phẳng lặng, trơn tru và đầy tính an toàn như chính chiến lược sự nghiệp của bà. Bà kết hôn với Mark Karan năm 1974 và có cùng nhau một con gái. Cuộc hôn nhân chỉ kéo dài một năm, để lại cho cả hai một mối quan hệ hữu hảo dài lâu. Một năm trước khi kết hôn với Mark, Donna có một cuộc hẹn hò blind-date với Stephan Weiss. Họ lại tìm đến nhau và kết hôn 10 năm sau đó, chắc chắn lần này không là một cuộc hôn nhân blind-marriage. Weiss đích thân thiết kế cho ngôi nhà và sân vườn của họ tại bãi biển Long Island, trong khi Donna đảm nhiệm phần trang trí nội thất. Bản thân Weiss là một nhà điêu khắc nên ông đã thiết kế nên vỏ chai cho dòng nước hoa đầu tiên của Donna mang tên bà. Mùi hương bên trong vỏ chai cũng chính là cảm xúc gợi nhớ đến mùi hương trên gáy của chồng. Họ cũng có cho riêng mình những xung đột, đặc biệt khi Donna muốn trở thành nhà thiết kế Hoa Kỳ đầu tiên khơi gợi trào lưu váy sarong cho nam, Weiss đã kiên quyết cự tuyệt việc phải mặc thiết kế này của vợ.

Nữ hoàng bán lẻ và phiên bản couture thân thiện

Tiếp tục công cuộc xô đẩy thời trang cao cấp xuống đường và tràn vào tận từng siêu thị thân thiện, năm 1993, Karan phát triển dòng thời trang Anne Klein Đệ Nhị, dòng thời trang đầu tiên dung hòa giữa thẩm mỹ couture và tag giá dân chủ cho tín đồ trung lưu trở xuống. Anne Klein II lập tức trở thành một siêu hiện tượng của thị trường bán lẻ, kiến tạo nên cả một “chiều không gian” mới của thế giới mua sắm dành cho những quí bà quí cô ưa điệu đàng nhưng cũng khá chặt chẽ chắc lép với hầu bao.

Chiến công giàu tư duy thương mại này đã khiến đối tác Frank Mori tự tin hào phóng tưới tắm 10 triệu Mỹ kim cho Donna thiết lập đế chế riêng Donna Karan New York. Donna đã không phụ lòng chiến hữu khi tức thì chào sân bằng quả bom hàng chợ gây chấn động thị trường, với những thiết kế bó sát cơ thể theo thị hiếu bình dân, nhưng với hơi hướm sang cả của thời trang cao cấp, mà vẫn bảo đảm sự thoải mái về cơ thể lẫn hầu bao của các shopper bằng việc sử dụng chất liệu jersey/len. Cú dội bom nhắm trúng thị phần những “diva sự nghiệp” với thu nhập trung lưu và trên trung lưu. Để khắc phục tính bình dân của chất liệu, Donna chọn màu đen để áp dụng cho phần lớn các thiết kế, bảo đảm tính phù hợp cho cuộc sống, công việc, ngay cả việc sửa soạn quần áo vào buổi sáng cũng trở nên nhanh chóng tiện lợi hơn, mà vẫn khá phù hợp nếu phải bất ngờ tham dự một sự kiện long trọng hoặc lãng mạn vào buổi tối. Mọi việc trở nên đơn giản và dễ dãi hơn cho các tín đồ, với chỉ một thiết kế để năng động vào ban ngày và còn là bộ cánh đắc lực cho những cuộc phiêu lưu chóng vánh sau một ngày làm việc và lao động căng thẳng (!)

Nhưng mãi cho đến 1989, khi Donna tung ra chiêu thức tuyệt đỉnh là dòng thời trang giá rẻ DKNY, với những mẫu bodysuits giá 90USD và áo khoác blazer giá 300USD, Donna Karan chính thức trở thành nữ hoàng hàng hiệu chợ với số lượng tín đồ tăng theo cấp số nhân. Bà hô hào ủy lạo tiêu chí “ai cũng có thể mặc hàng hiệu”, thân thiện với từng tín đồ mỏng thẻ, trong khi cùng lúc vẫn o bế các diva thượng lưu bằng dòng Donna Karan chính thống với mức giá kiêu kỳ. Các tín đồ bình dân tung hô vạn tuế, hào phóng chà quẹt lên những chiếc thẻ tín dụng vốn đã mỏng dính, và cùng lúc đóng góp củng cố vững chắc cho dòng couture thật sự đang dùng để phục dịch những thân chủ thượng lưu của bà Nữ Hoàng Bán Lẻ. Chiêu bài “chỉ thiết kế nên những gì chính tôi mặc được” đã khiến mọi fashionista tiết kiệm đều có thể yên tâm rằng mình đang sở hữu một món cũng cùng lúc nằm trong tủ quần áo của Karan, và dễ dàng bỏ qua thực tế là họ khó lòng chia sẻ được một thiết kế nào với những thân chủ cục cưng thực sự của bà.

Profile thương mại của Diva Văn hóa Phổ thông

Các mối quan hệ giao thiệp của Donna kéo từ Hollywood đến tận Washington cũng đã là một yếu tố cực kì quan trọng trong việc khuếch trương uy tín cá nhân. Với những tín đồ và thân chủ trung thành hàng đầu cỡ Barbra Streisand, ngôi sao truyền hình Candace Bergen, danh ca Michael Bolton và các quí ông cine Larry Hagman, Richard Gere và Warren Beatty, Donna Karan có được cho mình một danh sách thân chủ an toàn, thượng thừa, và đầy tính chắt lọc để bảo đảm tiêu chí sang trọng, công phu nhưng cũng thừa tính thực dụng của thiết kế. Các thân chủ cục cưng này cùng lúc vô tình trở thành những khuôn mặt đại diện sáng giá cho nhãn hàng, nhằm đúng hồng tâm thương mại bởi fan của những hình tượng này, không ai khác, cũng là đối tượng được Donna nhắm tới. Họ có thể là những fashionisto trí thức và fashionista hiện đại, với tư duy Mỹ thuần chủng, dù dân Mỹ lẫn Barbra Streisand chưa bao giờ được xem là “tộc người” có gout ăn mặc hào hoa nhất địa cầu. Họ là những quí cô wannabe với một mức thu nhập vừa đủ cho nhu cầu tự chiều chuộng, nhưng không có tham vọng ghi dấu thảm đỏ. Họ đọc Danielle Steel, nghe Kenny G, nghiên cứu kỹ về mỗi kì bầu cử tổng thống, và xem Pretty Woman là siêu phẩm điện ảnh bất hủ của loài người. Một profile an toàn, hoàn hảo, và chiếm đại đa số đối tượng công dân Hoa Kỳ tiêu biểu. Điều này tiếp tục dẫn dắt đến cho Donna một lượng thị phần châu Á đáng kể, với thế hệ trẻ đang được Âu-hóa mạnh mẽ, được trang bị một hệ tư duy hướng về “giấc mơ Mỹ”.

Khi bà cựu đệ nhất phu nhân Hillary Rodham Clinton xỏ tay vào bộ suits, và đặc biệt là chiếc váy kiểu “cold shoulder” màu đen của Donna Karan, còn chồng bà – ngài Clinton, thực hiện cuộc vận động bầu cử trong diện mạo kiểu cách nhưng thân thiện dân chủ với những bộ suits bằng crepe xanh lính thủy, thì con số các tín đồ của thương hiệu DKNY cũng theo đó mà tăng lên vùn vụt, có phần nhỉnh hơn đáng kể số phiếu bầu cho vị tổng thống chịu chơi. Bản thân hình ảnh bà đệ nhất phu nhân trở nên bất biến với những mẫu tutrle-neck bằng jersey đen bình dân của Donna Karan.

Thoát khỏi những chiếc váy thun bó sát thời kỳ đầu, Donna Karan đã “lên đời” cho các tín đồ của mình với những bộ váy chiffon dài, suits kiểu Edwardian, những kiểu váy thắt dưới ngực để xí xóa vòng eo công sở, áo ống mặc với quần thụng có dây vai, và mớ phụ trang xích nhợ vui mắt. Mỗi bộ sưu tập là một bữa tiệc buffet cho mọi gout chọn lựa hay phong cách cá nhân.

Với sự tỉnh táo hoàn toàn này, Donna Karan tự  cấp cho mình một chỗ ngồi ngon lành trên chiếu trên làng thời trang thế giới bởi sự hùng mạnh và đầu óc chiến lược, hơn là về tinh hoa hay quái tính trong sáng tạo.

Từ bàn đạp thời trang, bà dấn thân tiếp vào lãnh vực sản phẩm nội thất và mỹ phẩm. Cuối thập niên 1990, Karan hoàn thiện cả một tiểu đế chế, gồm cả thời trang trẻ em, nước hoa, mỹ phẩm dưỡng da, mỹ phẩm trang điểm, tất, mắt kính và túi xách cùng các dòng hàng phụ trang, như những thế chân kiềng siêu vững mạnh cho thế lực thời trang của nhãn hàng.

Mất chưa đến 10 năm để Donna Karan gầy dựng đế chế chỉ dựa trên một nền tảng giản dị: nếu chính Donna cần những món căn bản trong menu thời trang của một diva thực dụng – một cái bodysuit, váy quấn, áo khoác nhẹ bằng chiffon và một chiếc jacket – thì mọi phụ nữ cũng đều đang cần những món ấy, và rất nhiều trong số họ vẫn luôn thiếu, dù chúng căn bản, thân thiện và tối thiết đến mực nào.

Lối tư duy này đã dễ dàng đẩy Donna lên bệ quyền lực của những tên tuổi tiếng tăm nhất làng thời trang Hoa Kỳ, và cả thế giới.

Chiến lược dân chủ đã dễ dàng khiến Donna Karan nhanh chóng chinh phạt thế giới với 300 chi nhánh quốc gia, với 27 cửa tiệm độc lập, và hệ thống phân phối trải miệt mài từ Âu châu đến Viễn Đông và Nhật Bản.

Giải thưởng Best Woman Designer in the World và Best American Designer to Emerge in 20 Years đã kết thúc cho Donna Karan một hồ sơ cá nhân hoàn hảo và đầy uy lực cho những cuộc chinh phạt tiếp nối, bởi quãng đường phía trước của DKNY và Donna Karan còn quá dài.

Chiến lược phổ cập Couture đằng sau chiêu bài dân chủ

Đầu thập niên 1990, dòng DKNY mang về 365 triệu Mỹ kim chỉ bằng chiến lược bám sát vận động trào lưu của thời trang đường phố, kết hợp với mốt grunge của nhóm tín đồ choai choai, hơi xuề xòa chuệch choạc và chắp vá, và thuần dưỡng để trở thành trào lưu chính thống dành cho thị phần chững chạc hơn, mà vẫn bảo đảm sự táo bạo hợp thời.

Năm 1992 đã ghi dấu bàn ghi điểm mặn mòi nhất của Donna Karan: dòng thời trang cơ bản mang cái tên chân chất Essentials – collection theo công thức trọn bộ gồm áo khoác nhẹ, quần, váy quấn, và bodysuits, đã ngay lập tức mang về ngon ơ 15 triệu Mỹ kim chỉ trong một năm đầu. Donna được đà làm tới với Essentials for Men.

Cùng lúc với chiến dịch thời trang bình dân, các dòng couture xa xỉ của bà cũng được âm thầm nâng cao tính xa xỉ với những chiếc váy giá 2,000USD và những bộ suits giá 2,500USD. Trong khi đó, mặc nhiên với tính thực dụng, mức giá của Essentials vẫn khá cao đối với thị trường dân chủ. Tuy vậy, vào giữa thập niên 1990, chiếc mũi thính của Donna đánh hơi được xu hướng độc quyền hướng đến cá nhân tính và những phiên bản hạn chế, dù với mức giá siêu hạng. Nhanh chóng rũ bỏ lá cờ cách mạng hàng hiệu toàn dân, Donna gấp rút hình thành dòng Donna Karan Collection với tiêu chí nhận diện thương mại là tính công phu, cầu kì, với những chất liệu thủ công, bán thủ công, hoặc quí hiếm với mức giá bán lẻ không dưới 6,000USD/sản phẩm. Cũng từ thời điểm này, bà bán linh hồn cho những hợp đồng khai thác lông thú với các nông trại tận bên Tàu.

Nói một cách khác, hợp đồng ma quỷ giữa Donna Karan với tệ nạn khai thác lông thú đã là lời tuyên chiến của cá nhân bà với phe khủng bố cực đoan PETA.

PETA đại chiến

Cũng như chính trị với các thế lực, và cả các nhóm khủng bố, đôi khi quá khích, nhưng thường là với động cơ nhân đạo, đối với giới thời trang, cái tên gây rùng mình nhất loạt vẫn là thế lực quá khích PETA – hiệp hội nhân đạo bảo vệ động vật. Đứng đầu trong danh sách đen của PETA là những quyền lực thượng hạng của làng thời trang từng có tiền án sử dụng chất liệu lông thú trong các thiết kế, gồm cả gã thiết diện quản gia Karl Lagerfeld, nữ hoàng băng giá Anna Wintour, hiệp sĩ râu kẽm John Galliano, và tay phong lưu Ý Giorgio Armani v.v… Trong đó, một hồ sơ đáng kể với la liệt những thành tích bất hảo thuộc về cái tên Donna Karan. Từ 2008, vụ áp-phe giữa nữ đao phủ New York với các nông trại cung cấp lông thú, hầu hết ở Trung Quốc, với phương pháp khai thác dã man đã khiến bà nghiễm nhiên trở thành mục tiêu tấn công số một của tổ chức PETA.

Ngày 17 tháng Năm, 2008, các nhà hoạt động đã phong tỏa khách sạn Sheraton Boston, nơi Donna diễn thuyết tại hội nghị Yoga Journal Boston Conference. Họ đồng loạt cuộn mình vào tư thế yoga có tên gọi ‘rabit pose’, người nhuộm đầy máu, đương nhiên là giả, tái hiện cả một khung cảnh máu me thê lương của các xưởng lột da thỏ, ám chỉ đến sự ứng dụng bừa bãi chất liệu này trong các thiết kế của bà.

Bốn tháng sau đó, các nhà hoạt động lại tiếp tục phong tỏa buổi diễn tại Boston với những biểu ngữ đòi hỏi Donna ngưng ngay việc sử dụng da và lông thú trong thiết kế thời trang. Tháng 12 cùng năm, các nhà hoạt động lì lợm và cũng đa chiêu bày trò hóa trang thành đồ tể, mình khoác những tấm lông thú sũng máu biểu tình trước cửa tiệm của bà tại Boston, khiến các fashion diva ra vào chốn này không khỏi kinh hồn tởn đảm và ít nhiều rợn tay khi chạm vào những thiết kế bằng lông thú xa xỉ đang bày bán tưng bừng mùa Giáng sinh.

Mụ hàng thịt thỏ và lời nói dối mùa Giáng sinh

Lập tức Donna phải ứng phó bằng cách nhượng bộ. Hai ngày trước đêm Giáng sinh 2008, như một gương phục thiện mẫu mực, Donna công khai tuyên bố các dòng hàng mùa thu cho 2009 sẽ tuyệt đối không dính một cọng lông thú nào, và cũng cho biết bà hoàn toàn không hề có kế hoạch lâu dài nào dành cho chất liệu này. Lời hứa khôn ngoan nhưng rõ ràng là mập mờ có chủ đích ấy đã không khiến các nhà hoạt động PETA mảy may nghi ngờ, và coi đó là món quà cao thượng giành cho muông thú trong mùa Giáng sinh 2008.

Cuộc sống muôn loài diễn ra an lành cho đến mùa thu 2010, có vẻ như Donna đã kịp lên một kế hoạch ngắn hạn khác cho chất liệu lông thú, Donna nuốt vào chiếc lưỡi thảo mai và tung ra bộ sưu tập áo khoác với lông thú các loại ngập đến tận cằm.

Phái PETA giận dữ đáp trả bằng cả một sự kiện đình đám vào tháng Mười, ngay sát bên một sự kiện xã hội do Donna cùng đệ nhất phu nhân Mỹ Michelle Obama tổ chức. Các nhà hoạt động nhất loạt giơ cao hỗn danh mới dành tặng cho quý bà đồ tể: “Bunny Butcher” (Mụ Hàng Thịt Thỏ). Hầu như ngay lập tức, với sự hỗ trợ vô tình của giới truyền thông, hỗn danh này lan rộng và trở nên phổ biến một cách hiệu quả không kém gì những sản phẩm thời trang nhà DKNY. Mỗi cú click với từ khóa Bunny Butcher sẽ cho ra hàng loạt các hình ảnh tả thật ghê rợn về công đoạn lột da thú và con số gây rùng mình: 50 triệu con vật vô tội bị lột da sống mỗi năm để phục vụ nhu cầu trưởng giả của các fashionista vô tâm và các nhà sản xuất vô lương.

Tháng 11, 2010, tường Facebook nhà Donna bị phủ ngập lụt các comment lên án, thậm chí thóa mạ. Các Facebooker gửi comment cũng có trên ảnh đại diện mình một chữ cái, và tuần tự hiện lên màn hình là dòng chữ BUNNY BUTCHER. Một chiêu khủng bố nhỏ nhoi nhưng hiệu quả nhờ sự bền bỉ và cơn cuồng nộ của thành viên hội PETA. Donna Karan, lần thứ 2 trong đời, khoác vào mình một cái tên mới.

Những tiếng rít thê lương bên ngoài lớp kính cách âm

Tờ The Observer cho biết qua thông tin nội gián, phái PETA đã được tòa thị chính một số thành phố cho phép bao vây các văn phòng sở hội của Karan và khủng bố bằng những tràng tiếng kêu rít của thỏ. Họ hi vọng tiếng kêu thét kinh hoàng nọ sẽ nhắc bà nghĩ đến những cuộc hành hình và những cơn đau đớn đang hàng ngày diễn ra để cung ứng cho các “ý tưởng” của bà. Các thành viên mang theo các biểu ngữ “Donna Karan: Đạo đức giả kiểu mới” và đương nhiên là cả những biểu ngữ mang hỗn danh Bunny Butcher!

Theo kế hoạch, cường độ tiếng ồn sẽ không vượt quá 75 decibel cho khoảng cách 10 feet, khoảng tương đương giữa tiếng ồn của máy giặt và máy cắt cỏ. Cuộc biểu tình đồng loạt đã không thể chạm đến trái tim trơ lì cay nghiệt của tay nữ đồ tể da nâu, nhưng đủ khiến các con nghiện thời trang một phen hoảng loạn khi các chi sở của tông đồ hàng đầu tràn ngập tiếng ồn lò mổ.

Những tiếng thét thống thiết và ám ảnh này còn có thể vang lên bất cứ lúc nào trên đường dây điện thoại của hội sở chính của Donna Karan, dồn dập và kinh hoảng hơn bất cứ lúc nào vào những ngày trước tuần lễ thời trang. Tệ hại hơn nữa, đây là vụ khủng bố hiếm hoi được bảo vệ bởi sở cảnh sát NYPD.

Các nhân viên của nhà DKNY chuyển trạng thái từ cáu kỉnh đến căng thẳng và hoảng loạn, mỗi chiếc điện thoại như một quả bom sẵn sàng phát nổ bất cứ lúc nào, với tiếng kêu rú thảm thiết của những con vật tội nghiệp. Nhưng bản thân Donna Karan vẫn lạnh lùng xuất hiện mỗi ngày, với các vệ sĩ luôn túc trực sát sườn. Bên trong tòa nhà sở hội, mọi công đoạn chuẩn bị vẫn được lạnh lùng tiến hành, tuân thủ tuyệt đối từng chi tiết trên các phác thảo bồng bềnh lông thỏ, trong khi tiếng thét của chúng vẫn vang lên bên ngoài những lớp kính cách âm.

Những ngày tiếp sau đó, không ngả lòng trước sự cứng rắn của ả nữ đồ tể da nâu, các nhà hoạt động tiếp tục nhắm vào đối tượng thị phần của những sản phẩm thời trang xa xỉ của Donna Karan. Những đoạn clip được quay tại các nông trại lông thú ở Trung Quốc, lần ngược theo nguồn điều tra về xuất xứ chất liệu lông thú được Donna Karan sử dụng cho các thiết kế của bà, được tung ra, kèm các tag mang tên Donna Karan, khiến mỗi cú click của cư dân mạng đều lập tức được dẫn đến những cảnh tượng gây kinh hoàng diễn ra phía sau những thiết kế xa xỉ. Đoạn clip mô tả chi tiết từng công đoạn, từ cảnh những con vật vô tội bị lôi xềnh xệch ra khỏi cũi và kêu thét khi bị chích điện cho đến chết. Một số con khác bị cứa cổ và cắt bỏ bàn chân trước khi thực hiện việc lột da. Bên dưới những cảnh tượng thê lương ấy vẫn là thông điệp thống thiết của hiệp hội PETA kêu gọi nhân tính và lòng trắc ẩn trong mỗi fashionista để kiên quyết tẩy chay sản phẩm làm từ lông thú, và yêu cầu Donna Karan hãy cùng với các tên tuổi lừng danh trong làng thời trang như Calvin Klein, Stella McCartney, Ralph Lauren, và Tommy Hilfiger tham gia chiến dịch bãi bỏ 100% việc sử dụng lông thú tự nhiên.

Chiến dịch chống Donna Karan lên đến đỉnh điểm vào đúng tuần lễ thời trang New York. Các “cảnh sát nhân đạo” của hội PETA xuất hiện khắp nơi, ồn ào hay thầm lặng, trà trộn vào giới thượng lưu cùng đám săn tin, và mọi đòn thù đều tìm nhắm vào cái tên đứng đầu danh sách đen: Donna Karan.

Bà lọt vào đến hậu đài buổi diễn từ trước, được bao bọc bởi các vệ sĩ. Bộ sưu tập thừa sức làm điên tiết bất cứ thành viên PETA nào bởi không chỉ ngập ngụa lông thú, mà còn công nhiên ngập ngụa lông thú sau lời hứa vờ vịt cách đó không lâu.

Cuộc thập tự chinh trường kì, dai dẳng và quyết liệt của các thành viên hội PETA tuy đã không thành công trong việc áp lực lên tay đồ tể mặc váy, nhưng đã đạt hiệu quả tuyên truyền đối với giới fashionista. Donna Karan lập tức bị liệt vào đối tượng tẩy chay của một thị phần khác lớn gồm các shopper văn minh và cả các shopper ranh mãnh, khi mà sự ủy lạo của các hiệp hội nhân đạo đã giúp đẩy mạnh mãi lực của các chất liệu lông nhân tạo. Các diva chuẩn mực nhất vẫn được mặc tình tự dung túng mình trong sự ve vuốt êm ái của những lớp lông dày mịn mà không hề băn khoăn về một con thú nào đã phải chịu hành hình để cúng tế cho cuộc phù hoa dư dật của loài động vật tự nhận mình là văn minh nhất.

Nhật ký đồ tể

Một ngày làm việc của tôi thật sự bắt đầu từ khoảnh khắc tôi mặc quần áo vào. Tôi coi đó là công việc. Tôi là một người mẹ, với tất cả những bận rộn của một phụ nữ bình thường, và tôi cần đơn giản hóa mọi thứ để chỉ tập trung vào những gì tối thiết. Điều này đòi hỏi một sự linh hoạt trong phong cách ăn mặc để bất cứ lúc nào, tôi cũng có thể sẵn sàng lên máy bay và biến mất một lèo nhiều ngày liền. Từ chính một lối sống như vậy mà tôi làm nên bộ mix-and-match “seven easy pieces”, dù ông chồng cũ của tôi là Stephan thường giễu cợt ý tưởng đó, nhưng chúng trở nên rất phổ biến.

Khi tất cả mọi thứ bắt đầu, lúc đó là ở căn hộ nhỏ của tôi ở đường 70, khi tôi ngồi ngó trân vào hộp đựng giày, trên đó in dòng chữ “Maud Frizon/Paris, London”. Và tôi nghĩ “Ô kìa, Donna Karan/New York! Hoàn hảo biết chừng nào!” Và thế là mọi chuyện bắt đầu. Chuyện này thú vị đây, bởi tôi ở cung Thiên bình, và tôi không thể tự quyết điều gì cho đời mình cả. Nhưng điều đó không thành vấn đề, khi tự chêm vào chữ New York, có nghĩa là tôi đã gắn kết Donna Karan vào một điều gì đó vĩ đại hơn cả chính Donna Karan.

New York là nơi tôi sống và làm việc. Sau chuyến du lịch đầu tiên đến Phi châu, tôi đột nhiên cảm thấy thật khó tái hòa nhập vào đời sống thị thành ở đây. Như thể tôi quên mất đường về. Tôi yêu thiên nhiên và cần sống trong không gian của tự nhiên. Tôi yêu biển, và tuyết, trừ hồi gãy giò vì trượt tuyết. Lúc ấy tôi không ý thức được tốc độ của mình, phải có một cái gì đó ngăn tôi hay khiến tôi trượt chậm lại. Giờ tôi điềm tĩnh và có kiểm soát hơn rất nhiều, phần lớn nhờ vào yoga. Hi vọng tôi sẽ thiền định hiệu quả để có thể sớm chơi trượt tuyết trở lại.

Quay trở lại chuyện New York, đương nhiên tôi là dân New Yorker chánh hiệu, nhưng đừng ngạc nhiên khi tôi nói rằng tôi hoàn toàn không phải là dân đô thị phố lớn. Tôi mê mải với những nền văn hóa khác biệt, mê mệt những tấm váy đỏ ở Bhutan, những hoa văn Phi châu, không chỉ vì sự khác biệt và quyến rũ, vì theo tôi, chúng là những bộ đồng phục của toàn thể con dân xứ đó. Ai cũng biết là tôi mê những thứ đồng phục. Nó khiến người ta trông đẹp đẽ đĩnh đạc hơn, những bộ váy thùng thình của các thầy tu là một kiểu đồng phục như vậy. Cảm hứng sáng tạo tôi sẽ được sản sinh ra từ nơi tôi ở, nơi tôi đã từng đi qua, chúng hiển hiện trong các thiết kế của tôi, ngay cả khi tôi hoàn toàn không nhận thức điều này.

Tôi ý thức được sự may mắn của bản thân. Tôi ở trong một căn hộ hoành tráng nhìn xuống Central Park, một ngôi nhà mát trên bãi biển ở Hamptons, và bây giờ là nhà ở Parrot Cay, Turks & Caicos. Trước khi mất, Stephan và tôi đã làm lễ hấp hôn ở đó, chúng tôi đã dự tính bao điều, rằng sẽ cùng nhau xây dựng nên một chỗ để quần tụ gia đình.

Sau khi Stephan qua đời, tôi chuyển sang mặc màu trắng, gần như là thường xuyên. Trước đó, tôi hay mặc màu đen vào mùa Hè, và thói quen đó cũng thay đổi, như thể tôi đã không thể mặc lại màu đen lên người. Trong tang lễ của anh ấy, tôi đã yêu cầu tất cả mọi người mặc màu trắng. Stephan đã là cả thế giới đối với tôi, là người tình, là cảm hứng, là người dẫn đường, là sức mạnh, sự sáng tạo, và là chiến hữu mật thiết của tôi, tất cả của tôi. Tất cả những điều chúng tôi đã cùng nhau tạo dựng, từ gia đình cho đến sự nghiệp, đều xuất phát từ một tình yêu lớn. Giờ tôi đã là bà với 7 đứa cháu, cả bé Stefania 3 tuổi, mà tôi khẳng định là một phiên bản nhỏ xíu của chính tôi. Con bé mê quần áo, ham chui vào phòng thiết kế để chơi trong ấy. Không chừng 20 năm nữa, nó sẽ thuê tôi về làm.

Như cháu tôi bây giờ, thời trang có từ trong máu chảy trong cơ thể tôi. Bà thân tôi làm việc ở Đại lộ 7 – hồi đó là khu trung tâm của công nghệ may mặc Mỹ. Bà là người mẫu, bố tôi là thợ may ở đường 41 và Broadway. Bố dượng tôi sau này cũng là một thợ may ở Đại lộ 7. Tôi thì khi ấy muốn trở thành ca sĩ, hay vũ công, nhưng giấc mơ đó không bền lâu, chính xác là từ khi tôi phát hiện ra mình mê làm những bộ leotard bó sát và những đôi tất dài hơn là việc đích thân múa may trong đó!

Con gái tôi, Gabby, ra đời khi tôi đang thực hiện bộ sưu tập cho Anne Klein. Khi đến nhà thương, người ở hãng gọi điện và hỏi khi nào tôi quay về làm việc được, tôi chỉ trả lời “Nhân tiện, tôi vừa sinh con gái!” Tôi những tưởng mình sẽ là một bà mẹ ở nhà và làm việc nội trợ, thế rồi Anne Klein qua đời chỉ vài ngày sau đó, vào đúng ngày trình diễn bộ sưu tập đó.

Tôi bị ám ảnh thật sự bởi những thiết kế vừa khít thân người. Chẳng phải chính cơ thể là điều quan trọng nhất đó sao? Nó đi lại, nói năng, tất cả đều xảy ra khi một thiết kế được đặt phủ lên thân thể. Đó phải là một bộ da thứ hai, vừa vặn tuyệt đối, và thoải mái tuyệt đối.

Sau đó là đến mùi hương, quan trọng như con ngươi của mắt vậy. Mùi hương là thứ có khả năng gợi nhớ và kích hoạt tiềm tức. Hồi mới phát triển dòng nước hoa đầu tay, tôi muốn nắm bắt được mùi hương của da dê thuộc, và thứ mùi trên gáy Stephan, cùng với hoa lily Casablanca, tất cả trong cùng một lọ. Rồi tôi đặt tên cho nó là Gold. Tôi luôn bị quyến rũ bởi sắc vàng kim, bởi sự nồng nàn và quyền năng đầy uy lực của sắc màu đó, vậy là lily Casablanca để nhấn nhá, hổ phách cho sự gợi tình và hơi ấm, tôi có Gold. Vàng kim và đen luôn là hai sắc màu ưa thích của tôi.

Như đã nói, tôi là một Thiên Bình chính hiệu, luôn vận động để duy trì thăng bằng, và luôn cực đoan trong việc chạm đến tận cùng của mọi thái cực. Hồi tôi vừa làm mẹ, vừa làm việc, tôi khiến mọi người quanh tôi kinh hoảng về áp lực mà tôi phải trải qua. Nhưng tôi vẫn luôn mở lòng với những điều rộng lớn hơn, ý nghĩa hơn. Thế rồi thương hiệu cũng đã hơn 20 năm tồn tại, có một điều gì đó trong tôi mãi không thay đổi. Chúng ta sống nhanh trong thời cuộc hiện đại và mọi thứ cần được đơn giản hóa, trong đó có cả việc ăn mặc của một phụ nữ. Điều cuối cùng một nữ nhân hiện đại cần là những trò rườm rà phù phiếm.

 Đối thoại nhanh

Về ý muốn đi ngược lại chu trình mùa thời trang chung:

Khi mới thành lập nhãn hàng, các show diễn của chúng tôi rơi vào tầm tháng Tư và Năm, còn bây giờ là tháng Hai. Vấn đề tôi muốn đặt ra với cả ngành công nghệ thời trang, và với chính mình là: tại sao tôi lại PHẢI trưng bày các thiết kế của mình ra vào tháng Hai? Tôi không hề muốn các khách hàng của mình tại tuần lễ thời trang New York nhìn thấy trước những gì sẽ được bày bán vào mùa Thu. Trong ngành công nghệ giải trí thì khác, công chúng chỉ thật sự biết về một bộ phim khi nó chính thức được công chiếu. Vậy hà cớ gì chúng ta phải cung cấp quá nhiều thông tin hoàn chỉnh về những sản phẩm của sáu, thậm chí bảy tháng sau? Điều này phi lý và vô nghĩa đối với tôi.

Về việc bà muốn các show diễn chỉ dành cho nội giới thời trang

Người ta cần những show diễn thời trang, nhưng đấy là nội giới công nghệ, chứ không phải một trò tiêu khiển cho đại đồng công chúng ngoài kia. Tất cả những vụ “giao lưu” kiểu này cần chấm dứt. Tôi không muốn các show diễn của mình lên sóng truyền hình, bị bàn tán trên Internet và những thông tin hình ảnh không bị phát tán đến tận những tay phó may hạng bét để nhanh chóng ăn cắp mẫu mã, và thậm chí tung ra thị trường trước hàng chính hãng. Hãy thôi nhầm lẫn giữa công nghệ thời trang và công nghệ giải trí. Thời trang cần có kỷ luật và sự cô lập chuyên nghiệp.

Về thời kì lập nghiệp

Tôi vẫn nhớ đã những lời khuyên can kiểu “Ôi, cô sẽ chẳng bao giờ là nhà thiết kế thời trang đâu”. Trước khi làm thiết kế, tôi đã từng muốn vẽ minh họa thơi trang. Tôi đến xin việc ở tờ Women’s Wear Daily và được trả lời rằng “Có lẽ cô không nên tiếp tục vẽ nữa”. Vậy đó, thuở lập nghiệp của tôi như vậy, không biết phải làm gì, và luôn luôn không được chào đón. Tôi thậm chí chưa tốt nghiệp trung học.

Về tư duy sáng tạo của bản thân

Khi thiết kế, tôi hy vọng rằng mình đang sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ, hay chí ít là những sản phẩm có sức sống dài hơi. Vai áo sẽ có thể to hơn hay nhỏ hơn một chút, gấu váy có thể hết nâng cao lại hạ thấp, nhưng quan trọng là nét kinh điển cơ bản. Tôi noi theo sức sống trong thời trang nam giới nói chung, nhưng với sự gợi cảm của quyền năng nữ tính.

Về tương lai của thời trang

Ngày xưa, thời trang có nghĩa là thiết kế nên một bộ váy, trưng diễn nó trên runway, vậy đó. Ngày nay mọi thứ trở nên phức tạp hơn rất nhiều… Tôi cho rằng thời trang đang ở kì đoạn phát triển đỉnh cao, và điều đó phụ thuộc vào ý thức tiêu dùng. Ngoài kia, người ta luôn nghe thấy những câu đại loại “Đây là mẫu hot nhất mùa này.”, nhảm nhí hết sức. Tự thân hành vi tiêu thụ phải chứa đựng trong nó sự nhận thức, chứ không bị lệ thuộc một cách thụ động vào trào lưu, và đôi khi những thứ họ muốn mặc chỉ đơn giản là những thứ khiến họ thấy thoải mái, từ trong cảm xúc tinh thần cho đến tác phong ngoại hình, mà điều đó thì không liên quan lắm đến vòng quay miệt mài, và đôi khi ngớ ngẩn của thời trang.

Về môi trường

Thế này nhé, thời trang không thể thiếu màu đen, và với sự phát triển công nghệ hiện đại, không có thứ nguyên liệu màu nhuộm nào cho màu đen mà hoàn toàn thân thiện với môi trường cả.

Nếu có thể chọn bất cứ ai, đã mất hay còn sống, để ngồi hàng đầu danh dự trong show diễn của mình, bà sẽ chọn ai?

Tôi muốn thấy bạn bè mình, và chồng tôi nữa, dù ông ấy đã không còn. Đối với tôi, khoảnh khắc tự thân tiến ra runway là một điều gì đó rất riêng tư. Dù bao nhiêu năm đã qua đi, trải qua bao nhiêu show diễn và bộ sưu tập, tôi vẫn cần, dù một khoảnh khắc ngắn ngủi kết nối với chút gì của cái Tôi thuần túy.

Thứ khùng điên nhất trong túi xách của bà?

Hàng ngày, tôi dùng túi đeo quanh hông. Tôi mê loại túi này lắm dù biết điều này rất phi thời trang. Thứ khùng điên nhất trong túi chính là bản thân chiếc túi. Đối với tôi nó là món phụ trang bất ly thân. Chưa kể là nó giúp che đậy khá nhiều thứ mà một người đàn bà muốn che đậy.

Món thời trang quan trọng nhất?

Tôi luôn mê áo khoác da thật cool. Và nữ trang nữa chứ! Luôn luôn phải là một món gì đó trông thật “nghệ” và trưng trổ gout cá nhân, ví dụ như một món trang sức Haiti, nó mang theo mình cả một linh hồn riêng, và khi trở thành vật sở hữu của bạn, nó trở thành chính một phần của con người bạn.

Từ khóa cuối cùng bà vừa search trên Google?

Tôi chỉ định theo dõi hoạt động trên website của mình, và tìm xem có những phim gì để coi tối nay.

Đó phải chăng là cách thư giãn sau tuần lễ thời trang?

Không, vì ngay bây giờ tôi đã phải tăng tốc làm việc rồi

Vậy bà thư giãn vào lúc nào?

Tôi đã không nghỉ ngơi gì ít nhất cũng đã từ vài tháng nay. Đôi khi tôi ước mình có thể chậm lại, và thư giãn, và tôi xoa dịu cơn thèm bằng cách đi xem phim và nhá bắp rang.

người đàn bà mặc quần và nhảy múa

Túy Ca

Nàng cũng có thể là một giai nhân đồng tính nữ tiên phong và ngổ ngáo nhất trong lịch sử nhân loại với những người tình mà người ta vĩnh viễn không bao giờ được biết tới. Hình tượng lưỡng tính ấy cũng rất có thể đã chỉ là một siêu phẩm liều lĩnh và hoàn hảo của công nghệ PR thời tân điện ảnh. Nhưng điều mà Marlene để lại cho thế giới là những chiếc quần dành cho quí bà, những người đàn bà thích sải những cặp trường túc để đạp đổ định lề, và để nhảy múa.

Lưỡng tính hay phi giới tính?

Nàng bao phủ đài huyền thoại bản thân bằng một làn sương khói lẫn lộn thực ảo, với lời xác thực duy nhất được kẻ trong cuộc mang theo xuống tuyền đài, bỏ lại phía sau hàng thế hệ tín đồ vĩnh viễn ôm trong lòng mối ngờ hoặc về những sự thật nhạy cảm không thuộc về mình. Mặc nhiên, phong cách, nghiệp mệnh và tuyên ngôn sống của nàng mãi mãi được ngưỡng vọng và tôn vinh bởi những tâm hồn tự do, những đứa con trai và con gái của Thần Ái Tình phi giới tính.

Nàng chưa từng khẳng định bất cứ cuộc dan díu ái tình nào với một phụ nữ, trong khi các nhân vật do nàng hóa thân, luôn biến đổi khôn lường, và luôn phảng phất một sự nhập nhằng bất định giữa hình hài một người đàn bà sắc sảo, ngấm ngầm lửa dục, và một khi nào đó khác, nàng lại có sự quyến rũ của một quí ngài lạnh lùng và tàn nhẫn. Không ai được biết đến một madame Marlene thật sự.

Vậy mà nàng lại là tất cả để đại diện cho tinh thần tự do luyến ái và tất cả những lý tưởng tối thượng mà cộng đồng gay trong thế giới đương đại vẫn hết lòng ngưỡng vọng và tụng ca.

Chính vẻ lưỡng tính thanh lịch và quyến rũ kì lạ của Dietrich khiến nàng trở thành hình mẫu lí tưởng của dòng bút siêu xa xỉ MontBlanc mang tên nàng: Marlene Dietrich như một sự ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho một tinh thần mã thượng quí phái bên trong dáng vẻ của một tuyệt tác nghệ thuật cầu kì và tinh xảo. Dòng Marlene Dietrich là những thanh viết máy mạ bạch kim và nạm một viên saphire màu xanh biếc, gợi nhớ tinh thần siêu phẩm Blue Angel.

Một sản phẩm xa xỉ nổi tiếng khác của thế hệ siêu tín đồ của madame Marlene là dòng nước hoa Angel của Thierry Mugler. Tay tài hoa cổ quái đích thân thiết kế vỏ chai hình ngôi sao sắc lạnh, bên trong chứa thứ hợp hương màu xanh biển óng ánh thuần khiết. Hình ảnh đôi lưỡng quyền cao, mái tóc hung chải chuốt và vẻ lạnh lùng quí ông phía trên một thân hình Vệ Nữ của Dietrich cũng luôn ám ảnh các bộ sưu tập haute couture của Mugler, tạo nên những thế hệ phiên bản sặc sụa khí chất nữ quyền.

Phong mạo của nàng, ngang tàng nhưng không thô lậu. Marlene sở hữu cho mình một sự khôn ngoan tinh tế của một diva sành sõi, khéo léo chọn những bộ nội y tôn tạo kiêu hãnh cho khuôn ngực cao, những bộ smoking chít eo sắc sảo, những cặp quần dài khoe tối đa đôi trường túc trứ danh, và kỹ năng trang điểm tuyệt nghệ cho đến về sau vẫn làm khuôn mẫu cho những tín đồ trường phái pinup, những cặp lưỡng quyền cao bên dưới đuôi mắt khép hờ, trễ nãi và gợi tình.

Như một nàng thơ bất hủ của thời trang và tinh thần avant garde, vị tổ nghiệp haute couture Yves Saint Laurent đã từ khí chất lưỡng tính ma mị của madame Marlene mà làm nên một cuộc cách mạng vĩ đại, vĩnh viễn đảo lộn tủ quần áo nhân loại dưới cái tên cũng sặc sụa hơi khói như giọng ca của chính nàng – Le Smoking.

Cây vĩ cầm mồ côi và Thiên Sứ bạc phần

Maria Magdalene Dietrich sinh ngày 27 tháng 12 năm 1901, tại Berlin, con gái của một trung úy cảnh sát. Nàng lớn lên giữa môi trường của âm nhạc và bắt đầu biểu diễn vĩ cầm từ năm 12 tuổi. Nàng luôn ưng chọn mặc những bộ tuxedo của các cậu con trai hơn là mặc váy. Dường như nàng đã hiển hiện tài năng của một thần đồng âm nhạc cho cả một tương lai được định hình trải thảm. Nhưng chỉ vài năm sau đó, cuộc đời cô nhỏ tomboy chợt rẽ ngoặt ngoạn mục, khi cô mất cả cha lẫn mẹ trong một vụ tai nạn, và chính Marlene bị thương nặng nơi cổ tay, nàng không còn chơi vĩ cầm được nữa. Tất cả những gì nàng còn lại cho tương lai chỉ là một phong mạo dị biệt và một tâm hồn vĩnh viễn đóng cửa với thế giới bên ngoài.

Mãi mãi về sau, không ai biết gì về những năm hoa niên trong đời Marlene sau đó, cho đến mốc thời gian 1921, cô thay tên đổi họ và thi tuyển vào trường kịch nghệ nổi tiếng khắt khe nhất nước Đức của đạo diễn Max Reinhardt. Marlene đã không đủ xuất sắc để dành được suất học tại học viện danh tiếng của ông. Dietrich tái xuất trong buổi diễn thử trước mắt Reinhardt 2 năm sau đó, lần này, Reinhardt thua cuộc, còn Dietrich nghiễm nhiên trở thành học viên kịch nghệ của ngôi trường khắc nghiệt nhất Berlin. Nơi đây, nàng đã bắt đầu sắm một vài vai phụ trên cả sân khấu ca kịch lẫn một số phim ngắn, cùng lúc làm thuê tại một xưởng làm găng tay để trang trải học phí. Sau khi ra trường, Marlene đã bắt đầu hình thành tên tuổi của mình trong thị trường màn bạc mới, khi này còn là kỹ xảo tân kỳ trong làng giải trí thế giới.

Dường như số phận đã mỉm cười và xoa đầu cô nhỏ thích mặc đồ con trai. Êm ái như một bước dạo đài vinh quang, Marlene – như một cô đào mới nổi và đang được ưa chuộng, kết hôn với đạo diễn Rudolf Sieber và có với nhau bé gái Maria. Lại một lần nữa, dường như con đường trải dưới chân Marlene trở nên rõ ràng và quang đãng, nếu như không có cuộc gặp gỡ định mệnh với tay đạo diễn người Áo, kẻ đã âm thầm trong một thời gian dõi theo từng khuôn hình màn bạc thuở ban đầu của nàng, từ khi còn là một cô học trò trường kịch nghệ.

Khi này, nàng Marlene 29 tuổi với hơn 20 bộ phim trong hồ sơ, và vừa trúng đậm một vai để đời trong bộ phim làm nên huyền thoại của Josef von Sternberg – Blue Angel. Quả tình, cái tên đầy màu sắc hi vọng Thiên Sứ Xanh đã phù trợ một đòn bẩy tuyệt hảo, chính thức bắn tung cả Marlene lẫn Sternberg lên vòm trời cao nhất của các minh tinh thượng thặng, lưu danh mãi về sau. Điều duy nhất bị bỏ lại sau lưng nàng là chồng và con gái Maria, khi cùng Sternberg lên đường chinh phạt hào quang Hồ Ly Vọng.

Nước cờ mạo hiểm của “quí bà mặc quần”

Cho đến tận nay, các nhà phê bình và cả giới thời trang vẫn xem hình tượng Marlene Dietrich trong Blue Angel là một hình hài tiên khởi của nét quyến rũ lưỡng tính mãi mãi trở thành dấu ấn bất hủ của huyền thoại Marlene. Một trong những scene gây dư luận nhất ở Morocco, nàng xuất hiện trong bộ smoking đen của đàn ông và hát tặng một quí bà, hiển nhiên là đang ngất ngây vì những lời ve vuốt thốt lên từ một bộ dạng lịch thiệp lưng ong. Marlene nhón tay cầm lấy cành hồng đặt trên đùi người phụ nữ, hôn nàng thật nhẹ lên môi, và chính thức in dấu son của nụ hôn đồng tính nữ đầu tiên lên lịch sử màn bạc thế giới.

Đó đã là một nước cờ hình ảnh liều lĩnh nhưng Marlene đã thắng. Mọi khán phòng lặng ngắt với những đôi mắt mở to và những bộ hàm tê liệt, trước mắt họ là một người đàn bà “dám” mặc quần áo đàn ông và công khai thứ cảm khoái nhục dục kì quặc của việc luyến ái với kẻ được Chúa cho một chức năng và thân thể giống như chính mình. Thế mà trông nàng mới lộng lẫy, ma mị, và trên hết, trông nàng mới gợi tình làm sao!

Không lâu sau, Dietrich được đánh giá là người mặc nam phục đẹp nhất Hollywood.

Hiệu quả của nước cờ liều đã được khẳng định, và không còn có gì có thể ngăn Sternberg cùng Marlene tiếp đục theo đuổi hình tượng lưỡng tính của cái mà họ cùng gọi là “trò hề ở Morocco”. Nàng xuất hiện ở khắp nơi trong một phong thái được chờ đợi trước – hẳn nhiên là ngời ngời nam tính, nhưng luôn gây bất ngờ. Khi thì kiểu đồng phục lính thủy phóng túng phong tình, lúc thì bộ tuxedo trắng ngạo nghễ dáng vẻ công tử bột, thậm chí là cả những bộ quần áo lót của nam giới, vỗ về ôm chặt lấy những đường cong đàn bà. Quí bà quí cô ngỡ ngàng lần mò cảm xúc xa lạ khi ao ước được nàng ném cho những ánh đong đưa qua đuôi mắt dài sắc lẻm, cùng lúc không quên nhắc cánh đàn ông nhớ rằng đằng sau lớp áo quần của chính họ là một thân hình Vệ nữ xanh xao, tràn trề nhục dục, nhưng có vẻ như, chỉ “có vẻ” thôi, không dành cho các quí ngài!

Những giai thoại quanh nữ thần luyến ái

Một cách cố tình, hay chỉ vì chính Marlene cũng say sưa với cuộc sổng chuồng của một góc quái tính dục tình tiềm ẩn, nàng mặc nhiên ve vãn, dù bằng một sự ý nhị rất đàn bà, với mọi cô đào có mặt ở phim trường. Những giai thoại ái tình lập tức được truyền miệng, người ta đồn rằng nàng có thể ân ái cả với đàn ông lẫn đàn bà, và tên của các nữ yếu nhân được nhắc đến nhiều nhất là Edith Piaf và đào Greta Garbo.

Phần lớn những giai thoại dựng đứng quanh người đàn bà mặc quần là những cuộc đồn thổi khoái trá của giới đói tin nhàn hạ, hoặc nhờ công thêu dệt tận tâm của các tay phóng viên lá cải, nhưng một sự thật được minh chứng duy nhất trong hồ sơ tình sử của Marlene là cuộc tình dài hơi với nữ sĩ Mercedes de Acosta. Họ công khai những cử chỉ luyến ái, với Acosta ở vị thế mềm mại và lệ thuộc của nữ giới, và Marlene trong vai trò người đàn ông, mà ngày nay giới lesbian gọi là “femme” và “butch”. Mối quan hệ “bạn hữu” này kéo dài 10 năm. Vài năm sau khi Marlene mất, con gái bà, trong cuốn tự truyện, có nhắc đến các giai thoại về mối tình giữa bà và Greta Garbo nhưng cũng không có lấy một lời khẳng định rõ rệt nào. Hẳn nhiên, công chúng vẫn có nhu cầu gắn đính hai cô đào đối thủ trên màn bạc, cùng được biết đến bởi vẻ quyến rũ đầy nam tính này vào thành một đôi đồng tính ái hoàn hảo, với đầy đủ tính li kỳ huyễn hoặc sặc mùi màn bạc cine.

Ngoài ra, trong suốt quãng đời sự nghiệp của mình, Dietrich được biết đến như một bậc thầy trong nghệ thuật kích hoạt cơn đói tin của công chúng và báo giới bằng những vụ dan díu tình ái, chóng vánh hoặc kéo dài hàng thập niên, mà không nhất thiết phải sỗ sàng tự vén màn phòng the. Khi thủ diễn trong bộ phim Destry Rides Again, Dietrich ngả vào vòng tay bạn diễn là tài tử Jimmy Stewart. Mối tình kết thúc ngay khi bộ phim đóng máy. Năm 1938, người ta lại nghe đồn chuyện nàng gặp gỡ và quyến luyến với văn sĩ Erich Maria Remarque, rồi đến 1941 là người hùng quân đội và tài tử cine Pháp Jean Gabin. Cuộc tình ồn ào cuối cùng của Marlene, khi này đã hơn 50 tuổi là với nam tài tử Yul Brynner, và tiếp theo là một số vụ dan díu chóng vánh kéo dài đến khi huyền thoại lưỡng tính này trên 70 tuổi. Trong hồ sơ tình sử của Thiên Sứ Xanh còn có John Wayne, George Bernard Shaw và John F.Kennedy. Cho đến tận cuối đời, Dietrich vẫn bảo bọc cho người chồng bị bỏ rơi và nhân tình của ông tại Âu châu, và về sau tại một trang trại ở San Fernando Valley, California.

Trên thực tế, không ai biết chính xác điều gì đã xảy ra, ngay cả các chuyên gia điện ảnh, các tay viết tự truyện lừng danh nhất cho đến tận bây giờ vẫn chưa ngưng cuộc cãi vã, với những chứng cớ bác bỏ lí lẽ lẫn nhau về xu hướng tình dục của Marlene và danh sách những bạn tình của nàng. Một nửa chiếc giường còn lại, bên cạnh Marlene, vẫn luôn là một dấu ba chấm lững lờ.

Điệu cabaret phản chiến và hồ sơ điệp viên nhị trùng

Đại Thế Chiến nổ ra, đích thân Hitler viết thư mời Dietrich quay về Đức và thẳng thừng đề nghị nàng làm nhân tình, không quên lời cảnh báo rằng cuộc sống của nàng có thể trở nên rất “bất tiện” nếu từ chối. Marlene, cũng thẳng thừng và ngang tàng không kém, từ chối tay độc tài hiếu sát với tư cách một công dân Hoa Kỳ chính hiệu. Con gái và người chồng bị bỏ rơi của nàng khi này cũng đang sống tại Mỹ, và Marlene hồn nhiên tin chắc rằng họ đang được bảo vệ an toàn tuyệt đối khỏi các cuộc tấn công của quân Nazi. Không chỉ ngừng lại ở lời chối từ kiêu hãnh, trong suốt những năm chiến tranh, Dietrich không ngừng truyền bá các thông điệp chống Quốc xã đến với công chúng Đức của nàng, bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Nàng thân chinh xông pha đến các mặt trận quốc tế, mặc quần shorts đội mũ chóp, nhảy điệu cabaret và hát “Falling In Love Again” bằng thứ giọng điệu đàng sặc khàn hơi khói. Mãi về sau, Marlene vẫn coi đây là thời kì ý nghĩa nhất cuộc đời biểu diễn của mình. Nàng trở thành người đàn bà đầu tiên được trao tặng huân chương Tự Do (American Medal of Freedom), và nhận Huân chương Bội tinh Pháp quốc.

Về sau, trong hơn 150 trang hồ sơ về Marlene Dietrich của FBI, người ta còn tìm ra những chứng cứ cho thấy sự nghi ngờ của chính phủ Hoa Kỳ dành cho cô đào gốc Đức, và đồng thời một lá thư tay do điệp viên đặc vụ E.E.Conroy gửi Hoover, nhắc về việc Dietrich bị quân Nazi bắt vào tháng Giêng năm 1945 tại Pháp, cũng với tội danh gián điệp.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, con gái và cháu trai của Marlene còn khẳng định rằng trong suốt 11 năm ẩn dật cuối đời, bà vẫn duy trì hoạt động chính trị, qua các cuộc điện thoại với một số chính khách đối lập hàng đầu thế giới, trong đó có Ronald Reagan và Mikkhail Gorbachew.

Dân Do Thái ở Hollywood liệt Dietrich vào danh sách đen trong suốt gần hai năm vì cho rằng bà theo xu hướng thân Quốc Xã, trong khi đối với không ít dân Đức, Dietrich vẫn bị coi là kẻ phản quốc.

Năm 1996, sau một số tranh cãi, người ta đã quyết định không lấy tên nàng đặt cho một con đường ở Berlin Schoeneberg – nơi sinh trưởng của Marlene. Tuy nhiên, tháng Mười Một, 1997, trung tâm Marlene Dietrich Platz được khai trương tại Berlin, vinh danh giai nhân giọng khói – người đàn bà nổi tiếng của nước Đức, biểu tượng tuyệt mỹ của Tự Do và Dân Chủ.

Ngày 16 tháng Năm 2002, Marlene Dietrich được công nhận là công nhân danh dự của thành phố Berlin.

Quý bà phả khói vào những bản tình ca

Sau những hoạt động mang màu sắc chính trị tự do của thời kì Đại Thế chiến, sự nghiệp điện ảnh của Marlene, vào những năm 1950 đã đi đến hồi suy tàn. Sternberg không ngần ngại bỏ rơi Thiên Sứ Xanh một thời, với lời tuyên bố rằng nàng “sẽ chẳng ra gì” nếu không có ông ta.

Rất có thể Sternberg đã đúng, nếu vai trò anh thư Đại Thế Chiến của Marlene đã không thuyết phục đến như thế, để đặt nàng trên đỉnh cao ái mộ của công chúng trên toàn thế giới. Người ta nhắc đến nàng ở mọi nơi, từ các chiến hào đến các quân y viện. Như hình ảnh một nữ thần chính nghĩa mồm ngậm tẩu, mình bận chemise đàn ông, gõ những bước cabaret vui nhộn trên sân khấu dã chiến, Marlene vượt qua ánh sáng của một Blue Angel để lẫy lừng như một tượng đài lịch sử. Và một cách vô tình, như một sự tưởng thưởng xứng đáng, Marlene Dietrich trở thành vũ công cabaret cao giá nhất thị trường giải trí, kịch nghệ thế giới lúc bấy giờ.

Nàng thường xuất hiện trong show diễn của mình, thoạt tiên trong những bộ váy lộng lẫy thuần chất đàn bà, bó sát lấy thân hình Vệ Nữ. Nửa phần sau của chương trình là khi một nửa còn lại trong nàng tái xuất, trong chiếc mũ chỏm điệu nghệ và bộ tuxedo kinh điển, giữa những tiếng huýt sáo tung hô hay trầm trồ kinh ngạc. Phong cách này cùng giọng ca khàn trầm hiếm có khiến Marlene dễ dàng tiếp cận các ca khúc vốn chỉ giành cho các divo, mà trong đó, One For My Baby và I’ve Grown Accustomed to Her Face là hai nhạc phẩm vĩnh viễn ghi dấu ấn người đàn bà giọng khói, dù nàng không hề là ca sĩ đầu tiên và duy nhất từng thể hiện các version này.

Dấu ấn dị biệt của Marlene lên các ca khúc bất hủ luôn là một thứ ám ảnh ma mị khiến ngay cả những tình khúc lãng mạn nhất cũng trở nên cũ kỹ, rù quến bởi một chất âm thanh nửa ẩm ướt đàn bà, nữa chát chúa rệu rã như whisky, như cigar, như tiếng trầm trong cổ họng đàn ông. Dù đó là điệu bông lông phù phiếm I Can’t Give You Anything But Love, hay ủy mị kinh điển như La Vie en Rose dưới cái tên Đức Das Lied Ist Aus. Nàng nheo mắt qua vành mũ kéo sụp, và hé miệng phà hơi, thế là đóa hoa ái tình Pháp vĩnh viễn mang mùi muội khói nồng nàn như tiếng rên chăn gối của người đàn bà Đức. Với Dietrich, Where Have All The Flowers Gone không còn chỉ là một bài ca phản chiến, mà trở thành một lời tố cáo đay nghiến tất cả, và một chút rung cảm đàn bà, trong bản điếu ca những cánh xuân thì theo nhau về huyệt mộ “Những chàng trai đi về đâu? Ra chiến trường, từng người một…Những cánh hoa bay về đâu? Ra nghĩa trang, từng cánh một…”

Sau chiến tranh, tour lưu diễn tại Đức năm 1960 của Dietrich đã tạo nên những xung động dư luận cực đoan trái chiều. Nhiều người Đức phản ứng dữ dội và gọi nàng là người đàn bà phản quốc, trong khi phái dân chủ tiên tiến tôn vinh nàng không chỉ như một siêu sao giải trí, mà như một vị anh hùng đương thời. Những tiếng la ó lẫn tung hô ấy đã chỉ đem về cho Marlene một điều duy nhất: tour diễn là một quả bom dư luận thật sự và thành công ngoài sức tưởng tượng.

Sự đón nhận cũng vẻ vang tương tự khi nàng đến Israel và làm điều liều lĩnh nhất có thể vào thời kì này: hát các ca khúc phản chiến bằng tiếng Đức giữa vùng đất những người Do Thái.

Nhưng số phận, cũng chính số phận đã từng tạo ra chấn thương nơi cổ tay khiến nàng vĩnh viễn từ giã nghiệp vĩ cầm năm 12 tuổi, đã gieo xuống Thiên Sứ Xanh chứng ung thư vòm họng vào năm 1965. Marlene tài tình vượt qua cơn bạo bệnh, nhưng lại phát hiện các chấn thương mạch máu ở chân. Nàng hầu như sống hoàn toàn dựa vào các liều thuốc phiện và rượu để chống chọi với những cơn đau.

Cú ngã trên sân khấu Shady Grove Music Fair tại Washington DC năm 1973 đã khiến Marlene bị chấn thương nặng phía đùi trái, và đến năm 1974, nàng lại tiếp tục bị gãy chân phải. Trước đó một năm, trả lời phỏng vấn với Clive Hirschorn, Thiên Sứ Xanh cay đắng thốt lên “Bạn có cho rằng tất cả những điều này thật lộng lẫy mê hoặc? Bạn có thấy rằng đây là một cuộc đời tuyệt diệu khi tôi nhảy múa, diễn ca? Sai bét. Có thể đã từng đúng, vào một thời nào đó, nhưng không phải bây giờ. Bây giờ, tôi tiếp tục diễn để kiếm tiền.”

Cuộc hồi hương cuối cùng của Thiên Sứ Xanh

Nàng – không nằm ngoài quy luật buồn của đàn bà, già đi, khi mà ngoài kia, sau cuộc chiến, thế giới đã nhiều hơn những nữ hiệp mặc quần. Những bước cabaret trở nên quá nhanh và mạo hiểm. Cú ngã cuối cùng khi đang biểu diễn ngày 29 tháng Chín,, 1975 đã khiến Nữ Thần Nhảy Múa nằm liệt giường, hiện nguyên hình một người đàn bà mong manh và kiệt quệ.

Kiêu hãnh, và bị thương tổn bởi thời gian, trong suốt thập niên cuối đời, Dietrich chối từ mọi sự xuất hiện trước công chúng hòng vĩnh viễn giữ lại những hình ảnh hoàng kim cuối cùng. Bà dời đến sống trong một căn hộ nhỏ ở Paris, nơi chỉ có người trợ lí thân tín được lui tới tiếp xúc với bà, mọi sự liên lạc với thế giới bên ngoài đều được thực hiện qua điện thoại. Những gì Marlene còn lại để thế giới chạm vào, chỉ còn là một huyền thoại được bao bọc bởi sương khói nghi hoặc, va một chất giọng cũng sặc khàn hơi khói. Cho đến khi tình trạng của bà trở nên trầm trọng, những người thân duy nhất còn lại quyết định phải đưa bà về một nơi nào đó để gọi là “nhà”.

Nhưng thủ tục đưa Marlene về nước Đức đã quá chậm trễ.

Ngay vào khi những hồ sơ cuối cùng được hoàn tất, Thiên Sứ Xanh vĩnh viễn về trời, khép lại một quãng đời mờ hoặc, chỉ còn vọng lại đến nay những rộn rã tiếng gót giày cabaret.

Tang lễ diễn ra tại nhà thờ thánh mẫu La Madeleine, Paris với hơn 3,500 người đưa tiễn. Những giọt nước mắt thầm lặng của đám đông đứng nghẹt hai bên đường vĩnh biệt Thiên Sứ Xanh trong hình hài người đàn bà mệt mỏi, đắp trên mình lá cờ hoa của Hợp Chủng Quốc – nơi bà đã tỏa sáng và phụng sự như một công dân kiêu hãnh. Linh cữu sau đó mới được đưa về Berlin, nơi Marlene Dietrich được đặt nằm tại nghĩa rang Friedenau, gần mộ thân mẫu, và không xa ngôi nhà nơi bà đã sinh ra.

Trên bia mộ của Dietrich tại Berlin khắc dòng chữ “Hier steh ich an den Marken meiner Tage” (Tạm dịch: “Nơi đây ta đứng lại, bên cột mốc cuối cùng”), trích từ sonnet Abschied vom Leben của thi hào Theodor Korner.

Đứa con gái ngỗ nghịch của nước Đức, Marlene Dietrich, cuối cùng cũng hoàn tất một đoạn đường hồi hương trọn vẹn.

Nhiều người cho rằng Marlene là một mẫu hình lưỡng tính, hơn là một nữ đồng tính ái. Nhưng những cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn dằng dai, cùng cuốn tự truyện trần tình của con gái bà, một phần nhúng tay vào cuộc hiếu kì đào bới những câu chuyện trên chiếc giường của người đã ra thiên cổ. Đám đông hiếu kỳ ấy mãi mãi không bao giờ được chiều chuộng. Họ bị ngăn lại bởi một bức màn duy nhất ngăn giữa một cô đào và vạn muôn công chúng: tấm màn bạc, loang loáng nét hào hoa của “quí bà lịch thiệp” người Đức trong siêu phẩm bất hủ Thiên Sứ Xanh. Người ta chỉ được phép biết chắc những điều Marlene cho phép: nàng là người đàn bà Đức có trái tim quả cảm, một lòng kiêu hãnh đến ngạo ngược, kẻ đã phà một làn hơi khàn đặc vào các bản tình ca bất hủ và những ca khúc phản chiến trứ danh – người đàn bà mặc quần, nhảy múa, và đá tung những định lề và cả những nỗi sợ.

Đồng tính ái hay dị tính ái, Marlene Dietrich vẫn luôn là một huyền thoại lộng lẫy nhất của những tâm hồn Kiêu Hãnh và Tự Do.

Những cuộc phiêu lưu luyến ái hay xu hướng tình dục của Marlene vĩnh viễn chỉ là huyền thoại, và, nhân danh lòng ngưỡng vọng của thế giới dành cho người đàn bà tài hoa ấy, chúng luôn nên được giữ nguyên như vậy.

mưa, đăng-ten và những người đàn bà rải vỏ trứng quanh mình

by f.

 

Oi, rồi thoắt gió thoắt mưa đồng bóng, phố thị nhiệt đới cũng có một mùa hạ rất riêng. Kẻ hoài cổ nắc nỏm chuyện mưa xưa, mưa bao mùa về trước. Các cuộc vui đô thị thưa người, city diva cũng chẳng thiết tha chuyện đường mưa lấm gót slimheel.

Mùa của phấn son cũng biếng nhác cuộc hân hoan tô lục chuốt hồng, khi mà váy maxi không tiện, mini chẳng đành.

Người ta bỏ phố theo vết nắng mà tìm ra biển, bởi làn da tín đồ chưa bao giờ đủ rám giòn màu nắng. Bomb bikini loang loáng rải khắp thềm lục địa. Mùa căng mẩy lụa là gây ngứa ngáy nhãn cầu còn hơn muối biển. Mùa vô tư hay cố tình thủ ác mà trêu ngươi nét xuân tình nõn nường trên cát. Mùa phơi phóng phô phang. Mùa biển cho người ta hạn định cuối cùng của e dè quan ngại.

Bikini đại náo các bãi săn đông nghẹt tín đồ trang bị cho cuộc đào thoát về với biển, bỏ lại phía sau mưa phố thị thưa người.

Những kẻ ở lại trong lòng phố bỗng thấy trân quý chốn đi về một cõi, khi những đêm mưa muộn cũng trở nên ấm cúng đến nao lòng, khi cuộc hân hoan gần gụi cũng lắm miền khám phá thưởng ngoạn ngược xuôi, dẫu đã dễ đến vạn lần lên xuống quen chân quen mắt. Những mảng ren tinh xảo khiêu khích cả thị giác lẫn xúc giác được trau luyện đến mỏi mòn trong cuộc tài tình Đại Vận Hội Phòng The. Một lượt lụa là vờ vịt bộ tịch ấp e dè dặt, lại khéo cường điệu kể tả tòa ngọc ngà phập phồng thúc hối cất giấu bên trong, và cả những chiếc nơ bé xíu đến độ chỉ có thể chiêm ngưỡng bằng kính lúp hoặc phải được soi gần, rất gần.

Đón mưa, phố thị thinh lặng nhưng đâu thể ngoảnh mặt quay lưng mà không tưng bừng những đại lễ bikini chiêu dụ tín đồ mọi trường phái.

Đón mưa, đến cả những mảnh ren, những dải nơ bé xíu cũng có câu chuyện riêng của mình về người đàn bà bé nhỏ của nước Pháp với mũi kiếm Nhật cắm trên lưng và những tảng đăng-ten siêu tinh xảo trong tay, một mình làm cả cuộc cách mạng.

Trong cả những hân hoan ồn ã ngược xuôi ấy, trong cả những tuần lễ thời trang Thu Đông rấp ranh chuẩn bị mùa thảm đỏ huy hoàng cuối năm, còn có cả những hoài niệm về những tượng đài xưa cũ từng một thời dẫn lối huy hoàng, về cả những ngôi sao đã tắt, và những vị vua đã băng hà.

Nhưng địa cầu đâu thể tắt nắng chỉ bởi một mùa mưa.

Bước Moonwalk vẫn in dấu hoành hành từng vỉa hè phố thị đâu thể lãng quên bởi một cuộc ra đi.

Balmain tôn vinh những cầu vai nhắc nhớ hồn vía một quân vương showbiz, hãng song tự LV trân trọng xỏ vào bàn tay kiều nữ một chiếc găng trắng đính đá, lóng lánh như lệ nhỏ xuống vào ngày mặt trăng không còn nhảy múa…

Từ thiên đường vọng xuống từng album vẫn còn được con dân vị vua quá cố truyền tay nắc nỏm giọng thiên thần “You Are Not Alone”.

Và ở một nơi nào đó trên bề mặt địa cầu, liệt nữ thời trang Frida tóc vàng 35 tuổi tung tràn lên sàn catwalk cuộc diễu hành hoa lệ, thả dài những bóng nét giai nhân quá vãng, ngập ngụa trong lông thú, đôi trường túc rẽ sóng lụa màu, tung hô 9 thập kỷ tên tuổi một triều đại thời trang.

Phố thị vào hạ, trời kéo mây, đâu phải vắng bóng mặt trời.

Các thành trì có thể sụp đổ, những đại hiệp ngông cuồng có thể mang án lưu vong ô nhục, nhưng cô gái vàng Frida vẫn làm nên những đợt sóng thần xa xỉ tại kinh đô thời trang Ý, như tiền nhân hắc y nữ Chantal nước Pháp từng một thời tạo cả một vụ nổ cách mạng nội y.

Và những người đàn bà như vậy, đã đủ để quý ông nín thở, khẽ, thật khẽ thôi, vui lòng rón rén nhón chân mà chiêm ngưỡng và nâng niu?

(Bài viết cùng kì http://hoaianhv.wordpress.com/2011/06/30/victorvu/ http://hoaianhv.wordpress.com/2011/07/05/michaeljackson/)

Quyền lực những lá cờ hình tam giác thắt nơ

Trác Thúy  Miêu

Đối với nhiều fashionista am hiểu, Chantal Thomass được coi là người đàn bà Pháp thứ hai làm nên diện mạo các diva tân thời của kinh đô thời trang hoa lệ, ngoài Coco Chanel.

Nếu Gabrielle Coco Chanel từ một nàng ca kỹ hộp đêm đã tạo dựng nên cả một phong cách Pháp thanh lịch, cổ điển với trường phái tiết giản (minimalism), thì đối với Chantal, từ một cô nữ sinh trường dòng khổ hạnh, bà đã nhuộm hồng chốn phòng the nữ giới bằng cuộc cách mạng gợi tình với đăng ten, ruy băng và bèo nhún.

Cô nữ sinh khắc khổ và những nhát kéo trên bộ đồng phục trường dòng

Tóc bob mái ngố nhuộm đen nhánh như lông quạ, son môi đỏ choét như ớt suốt 24 giờ/ngày, mắt mèo mi thưa, cặp kính cận “mẹ-của-Harry-Porter”, hắc y toàn tập như các tín nữ Thanh-giáo mộ đạo, mấy ai ngờ Chantal Thomass lại là vị nữ pháp sư đằng sau những thiết kế gợi tình, trẻ con và nhỏ xíu. Phép màu của bà là những tảng đăng-ten thưa hơn tơ nhện, những rẻo vải mong manh màu hồng, họa tiết chấm bi và những chiếc nơ bé đến nỗi phải soi bằng kính lúp.

Bản thân Thomass, như hầu hết các tượng đài thời trang thế giới, chưa hề trải qua trường lớp đào tạo bài bản nào về thiết kế thời trang. Phần lớn các trường hợp đều do niềm đam mê từ thuở nhỏ, với thú làm đỏm cho chính mình đã nuôi lớn ước mơ để thành động cơ sự nghiệp. Thomass đến với thiết kế thời trang như một công việc thật sự khi 18 tuổi, và thiết kế cho những thân chủ cùng độ tuổi với mình – những cô nhỏ khả ái và dư thừa lãng mạn của Paris.

Bà có nỗi đam mê kì lạ dành cho mọi thứ quần áo lót, không hẳn là những thứ đang được gọi là trang phục lót vào thời đó – những vật thô ráp cứng còng với chức năng chủ yếu dùng để che đậy, chèn ép và diệt dục. Chantal âm thầm ngập ngụa trong hình ảnh hoài cổ về những nữ nhân trang nhã trong những bức họa đầu thế kỷ, những vũ công cabaret lẳng lơ phồn thực và những mảnh nội y diêm dúa lấp lóe ý nhị hay buông thả phô phang đã làm nên vẻ quyến rũ bất hủ của họ.

Năm 1970, Chantal công diễn bộ sưu tập đầu tay của mình, với những thiết kế do chính người mẹ của bà may, từng mẫu một. Đó là một bộ sưu tập đồ sộ chi chít những món vật kì ảo xinh xắn và ngỗ ngược: những dải dây lưng thắt nút to bản, những chiếc corset, và một tỉ món nội y lỉnh kỉnh lang cang lạ mắt được trưng phơi, bày biện ra với giới thượng lưu, những quí bà đức hạnh, các quí cô cả thẹn và cả những quí ngài đạo mạo.

Đương nhiên, đó trở thành vụ scandal của một người đàn bà hư hỏng và thú vị. Chantal ngay lập tức quần tụ được cho mình một nửa thành phố ngưỡng mộ và một nửa còn lại gồm toàn những kẻ chỉ chực trói gô bà điệu ra tòa Dị Giáo.

Điều này khiến Chantal trở thành một gương nữ sĩ tiên phong cách mạng giải phóng phụ nữ Pháp – với những vũ khí có hình thù đỏm dáng nhất trong lịch sử các cuộc cách mạng.

Nội y từ trước cho đến lúc này, là từ dùng để chỉ những gọng sắt hoặc sừng và những chiếc quần lót to như bao gạo, được coi là “nội y Tiền-Chantal”.

Bản thân Chantal không cho rằng mình đã làm bất kì động thái đả phá mang tính cách mạng nào. Bà tiếp cận nội y, hồn nhiên như một nhà thiết kế thuần túy, như chính bà khi còn là cô nữ sinh cầm lên chiếc kéo để cắt xén bộ đồng phục khổ hạnh, chỉ để tôn tạo và tìm cách trả chúng về đúng hình mạo của những món trang phục mĩ miều, xứng hợp ấp ôm trực tiếp lấy thân thể người đàn bà. Chúng phải là những mảnh hoàn hảo bé tí và tinh xảo, chúng phải tôn vinh và ca tụng, thay cho chèn ép và che đậy. Và như vậy, Chantal trở thành vị nữ anh hùng cách mạng bất đắc dĩ.

Thị trường phản ứng với từng thiết kế của bà bằng sự vồ vập của những lớp da thịt đàn bà bị bỏ quên và đè nén hàng thế hệ.

Xã hội thượng lưu phản ứng với các thiết kế đó bằng thái độ phẫn nộ và giận dữ trước một dấu hiệu băng hoại của đức hạnh nữ nhân.

Người tình, người chồng và chiến hữu trong hậu đài

Năm 1967, ngay giữa hồi nóng bỏng nhất của những biến đổi xã hội tại Pháp, bà kết hôn với chàng sinh viên trường École des Beaux Arts tên Bruce Thomass.

Không mấy ai biết, cuộc hôn nhân tuyệt đẹp ấy đã là mùa tái sinh của Chantal với những giấc mơ bị đè nén dưới lớp áo khổ hạnh của cô tiểu thư lãng mạn.

Ngoài bà thân sinh của Chantal Thomass, Bruce Thomass là người thân thứ hai kề cận bên bà như một chiến hữu vô giá.

Không chỉ ở vai trò người tình và người chồng, Bruce còn là đồng nghiệp tri kỷ của Chantal khi sát cánh cùng bà tạo dựng nên mầm mống đầu tiên của hãng Ter et Bantine, thiết kế, sản xuất và kinh doanh những món trang phục trẻ trung và… bất thường nhất cho thị phần trẻ.

Bruce đích thân thiết kế nên những chiếc khăn choàng vẽ tay và ngay lập tức lọt vào mắt xanh Dorothée Bis. Các thiết kế gây sốt khác của ông là mẫu tạp dề viền bèo, những chiếc cổ áo đỏm dáng dành cho nữ sinh, và kiểu tay áo phồng như những quả bóng bay được lùng mua ráo riết tại cửa hiệu đầu tiên của họ trên đại lộ Saint Bermain năm 1967. Ngay lập tức, con mèo cái trứ danh của Pháp – người đẹp Brigitte Bardot trở thành thân chủ quen mặt của họ, cùng designer riêng của nàng là Jacqueline Jacobson cũng mê đắm những món hàng đậm chất baby-lady của cặp song kiếm nhà Thomass. Chỉ riêng mỗi mùa, hai fashionista tuẫn tiết này đặt mua đến hàng trăm mẫu như những tay đầu cơ biển lận.

Năm 1975, Chantal và Bruce chính thức thiết lập đế chế của họ với thương hiệu Chantal Thomass. Chantal làm Giám đốc Sáng tạo và Bruce, với sở học vững vàng và sự khôn ngoan bài bản, trở thành Giám đốc Kinh doanh và Phân phối.

Cùng với danh tiếng của Chantal Thomass, tag giá của sản phẩm thương hiệu cùng tên bắt đầu được lên đến hàng siêu xa xỉ. Sự trẻ trung, nét thiết kế tinh nghịch, gợi tình nửa trẻ con, nửa đàn bà của nhãn Chantal Thomass trở thành vẻ đẹp thời thượng được vồ vập sủng ái không chỉ bởi những cô nhỏ tuổi teen.

Mũi kiếm Nhật trên lưng người đàn bà Pháp

Những thành công dồn dập của thương hiệu Chantal Thomass lọt vào tầm ngắm của hãng cá mập Nhật Bản World Co. Năm 1985, họ trở thành đối tác tài chính của Chantal Thomass. License thương hiệu bắt đầu gia nhập thị trường Âu châu và Nhật bản với những dòng hàng phát triển đa dạng gồm cả đồ da, tất, giày, mắt kính, đồng hồ, trang phục trẻ em, khăn chòang, nội y, và, đương nhiên, áo tắm. Chỉ riêng ở Pháp đã có đến hàng tá cửa hiệu Thomass được rải bom tưng bừng khắp nơi.

Cả thế giới đắm chìm trong đại dịch hân hoan của ren và bèo.

Nhà Chantal kiêu hãnh phần phật lá cờ hình tam giác thắt nơ.

Tinh thần trẻ trung trong thiết kế của Chantal đặt bà vào hàng chiếu trên danh sách các tượng đài phong cách Paris.

Không như đa số trường hợp các nhà thiết kế lừng danh khác, Chantal đã có cho mình một khởi đầu sự nghiệp êm ái như chính những sản phẩm của bà, dẫu có kích động dư luận đa chiều đến mấy. Trải dài dọc theo những bộ sưu tập, những dòng thiết kế mới là những cột mốc màu hồng thắt nơ của đầy phù vinh sự nghiệp và hạnh phước riêng tư.

Nhưng những lối rẽ cho một tâm hồn nghệ sĩ không luôn là những nẻo đường viền ren.

Khoảng tối sự nghiệp của Thomass đã đến khá muộn, sau thời kì đại hưng thịnh của nhãn hàng Chantal Thomass, với sự hợp tác về tài chính của hãng tài phiệt Nhật World Co., khiến nhà Chantal bay trên đỉnh phù hoa trong thế rồng thêm vây.

Đến giữa thập niên 1990, tay đồng minh cá mập, với tỉ lệ cổ đông chiếm 92% trở mặt trong tham vọng độc chiếm thương hiệu đã đủ vững mạnh, để có thể khai thác giá trị thương hiệu mà không cần đến sự hiện diện của đích thân hắc y nữ Chantal.

Những dự án phát triển với tham vọng bá chủ được âm thầm chuẩn bị, ê-kíp sáng tạo người Nhật rắp ranh chờ lâm chiến.

Chướng ngại vật cuối cùng là người đàn bà Pháp – mẹ đẻ của thương hiệu, khi này chỉ còn vỏn vẹn 8% cổ phần, và một lòng tin tưởng hồn nhiên vào đối tác.

Là người đàn bà của tinh thần lãng mạn chuyên chính, gót chân Archille của Chantal là tìm đến một đối tác hùng mạnh để chăm lo cho hoạt động kinh doanh tài chính, và bản thân chỉ vùi đầu bên những trang phác thảo, như xưa kia bà đã từng tin tưởng dựa vào phu quân Bruce Thomass ở vai trò chiến hữu, kiêm Giám đốc Kinh doanh của Ter et Bantine.

Việc cuối cùng cần làm đã được thực hiện, World Co. phủi tay nhẹ hẫng. Madame Chantal ngây ngô bị đuổi việc khỏi thương hiệu của chính mình.

Tay trắng bước ra khỏi “ngôi nhà sự nghiệp” do chính tay mình gầy dựng, Chantal thậm chí mất cả quyền khai thác cái tên của chính mình, khi này đã là một thương hiệu với tiềm năng siêu lợi nhuận trên thị trường thời trang nội y.

Còn World Co., với lợi thế tài chính và tham vọng bá chủ của loại đồng minh rắn độc, điểm yếu duy nhất của họ lại chính là một thực tế: họ không phải là Chantal Thomass, dù họ sở hữu cái tên lẫy lừng ấy.

Vỏn vẹn một năm sau, dẫu được chống lưng bởi cả một thế lực tài chính hùng hậu, “Chantal Thomass”, khi không còn Chantal Thomass, tuyên bố phá sản.

World Co. trở thành kẻ bại binh tay trắng tháo chạy khỏi cuộc lộn sòng tráo chúa, ngậm ngùi rao phát mãi trong sự phỉ nhổ của nội giới thời trang Pháp.

Nữ hoàng đánh thuê và chiến dịch “Trả lại tên cho em”

Trong suốt những năm lưu vong, Thomass tránh hoàn toàn không đụng đến các phác thảo thiết kế nội y, những tưởng sẽ vĩnh viễn giã từ thế giới của những mảnh ren đã từ lâu là cuộc đời và nguồn sáng tạo của bà.

Suốt 4 năm sau khi bị phủi tay khỏi thương hiệu riêng, người đàn bà bị mất tên, với điều duy nhất có thể làm và làm giỏi là thời trang, đã âm thầm chuẩn bị cho một cuộc trở lại.

Dẫu cái tên thương mại bị tước mất, giá trị của Chantal Thomass – người đàn bà, lập tức được vồ vập đón nhận bởi những thương hiệu hàng đầu khác trong cùng lãnh vực.

Ngay sau khi vụ lật đổ được công khai ra ngoài, đại gia các thể loại vớ lụa Wolford từ Áo, vốn đã nhăm nhe ngó nghiêng giai nhân Pháp liền đưa cánh tay hùng mạnh mời gọi Chantal thả bước lưu lạc về đây, với danh nghĩa cố vấn sáng tạo cho dòng thời trang áo tắm. Ngay tiếp sau, nhờ vào hợp đồng không mang tính độc quyền với nhà Wolford, Chantal lại tiếp tục nhận lời bắt tay với thế lực nội y Mỹ nổi danh Victoria’s Secret.

Sau màn phù phép điệu nghệ của Madame Chantal lên hai thương hiệu vinh hiển hàng đầu Mỹ và Âu châu, các đại gia thiếu gia ngành thời trang nội y bắt đầu cuộc đua thỉnh vía nữ pháp sư đại tài. Từ Antinéas cho đến Rosy, dẫu cho đến tận lúc này, Chantal vẫn chưa muốn đụng cây đũa phép đến dòng thiết kế nội y.

Một số người cho rằng vụ đảo chính phũ phàng năm 1995 vẫn còn gây tổn thương tâm lí sâu sắc cho Chantal.

Những kẻ hiểu phụ nữ hơn cho rằng Madame Chantal, với lòng tự tôn và trung thành tuyệt đối với danh tiếng Chantal Thomass, sẽ không bao giờ chia sẻ nguồn năng lượng sáng tạo cho bất cứ thiết kế cùng loại nào của các đối thủ cạnh tranh tương lai, dẫu khi này, họ đang đóng vai trò những cánh tay nghĩa hiệp.

Một số khác đưa ra nhận định, chính những hãng danh tiếng nọ phải e ngại dấu ấn cá nhân của người đàn bà Pháp sẽ lấn át cả tố chất thẩm mỹ đặc thù của họ.

Nhưng không ai để ý nhận ra rằng Thomass đang tận dụng khoảng thời gian “lưu vong” thu thập kinh nghiệm về phát triển, đa dạng hóa dòng hàng, và tham khảo chiến lược sáng tạo của những hãng cạnh tranh hàng đầu.

Cùng lúc, không mấy ai biết bà vẫn phác thảo nên những thiết kế nội y bạo liệt nhất từ trước đến nay, và âm thầm kết nối với hãng Dim của Sara Lee.

Năm 1998, vụ kiện World Co. đi đến hồi kết, Thomass dành lại cho mình quyền sở hữu thương hiệu. Ngay lập tức, Thomass chính thức kết giao với đồng minh mới Sara Lee với 2/3 cổ phần, chịu trách nhiệm sản xuất cho dòng hàng nội y của Chantal Thomass.

Từ giới truyền thông lan ra câu nói đùa “Phái thủ cựu run sợ đi là vừa. Hắc y nữ đã trở lại, và hung bạo hơn bao giờ hết.”

Người ta nín thở đợi chờ một cơn chấn động chào mừng sự trở lại ngoạn mục của một Monte Christo mặc váy.

Madame Chantal đã không để họ phải chờ lâu.


Nhà cách mạng vì quyền bình đẳng trở thành phần tử phản động và cuộc giải oan tại bảo tàng Marseille

Năm 1999, đánh dấu cuộc tái xuất vinh hiển, Thomass tung ra liền tay bộ sưu tập gây chấn động nhất của mình, trưng trổ nghễu nghện ngay trong những cửa sổ bày hàng long lanh nhất của mặt tiền Galeries Lafayette Paris.

Chưa đủ nặng tay, Chantal quyết định cho những thiết kế này phải được trưng bày ngoài cửa sổ trên người thật.

Các khung cửa kính trưng bày những thân hình nõn nường lượn lờ trêu ngươi, trên mình vỏn vẹn vài bai rẻo vải xinh xinh, chỗ trong chỗ đục.

Cả Paris lên cơn sốt rần rật.

Vỉa hè mặt tiền Galeries Lafayette đông nghịt các quí ông hân hoan, và cả các quí bà thục đoan đang giận dữ. Cả hai nhóm người đều muốn lột xé và đốt những rẻo vải tinh xảo nọ, vì những lí do rất khác nhau.

Từ một nhà cách mạng tiên phong trào lưu giải phóng phụ nữ, sau vụ lùm xùm trên vỉa hè căn phố đài các nhất Paris này, Chantal chính thức trở thành đối tượng đả kích của những “đồng chí” cũ – những nhà hoạt động nữ quyền. Họ cực lực phản đối và công kích Chantal, gọi hình thức trưng bày sản phẩm của bà là hành động phỉ báng giá trị phụ nữ trong xã hội, xem họ như những món hàng mua vui, và gán cho bà luôn cái tội ủy lạo lối sống sa đọa, tôn vinh thú vui nhục dục, xem đó là giá trị duy nhất của nữ giới.

Những cửa sổ trưng bày của Chantal khi ấy quả tình trông không khác gì những cửa kính bày biện thân xác của khu đèn đỏ ở Amsterdam (nơi mại dâm được coi là hợp pháp). Chưa bao giờ một cuộc trưng bày thời trang nữ, nhất là một cuộc trưng bày nội y, lại thu hút nhiều nam giới tụ tập đến vậy.

Trước phản ứng quyết liệt và mạnh mẽ của phái hoạt động nữ quyền, Chantal buộc phải ngưng cuộc triển lãm.

Bà có thể đã từng chống lại cả phái thủ cựu Paris những năm 60 cho đến những con cá mập tài phiệt thời trang từ phương Đông, nhưng việc đối đầu với một đám đông phụ nữ giận dữ tự xưng là những nhà hoạt động xã hội thì lại là việc hoàn toàn khác.

Mặc nhiên với biến cố trên, năm 2001, Musée de la Mode de Marseille (Thời trang Bảo tàng Viện Marseille) vẫn thừa nhận vai trò của Thomass Chantel, với cuộc triển lãm 230 mẫu thiết kế thần sầu của hắc y nữ Chantal huyền thoại tại viện bảo tàng thời trang Marseille. Năm 2001 đã là cột mốc đường hoàng chấm dứt làn sóng phản kháng từ các nhà hoạt động xã hội.

Từ đây, những thiết kế điển hình của bà chính thức được nhìn nhận như cột mốc lịch sử thuần túy của thời trang, có tác động mang tính cách mạng đến quan niệm thẩm mỹ và đạo đức xã hội. Ngoài ra, đối với ngành công nghệ thời trang, Chantal chính là nhà thiết kế gián tiếp tạo nên một cuộc thay đổi lớn trong quan niệm tiêu dùng, nơi mà phụ nữ có thể công khai mua sắm nội y như một thú tiêu khiển chứ không chỉ vì nhu cầu, hoặc phải giấu diếm, xấu hổ khi ra tiệm mua những món hàng “tế nhị” này.

Thế lực đăng-ten

Danh dự “nhà cách mạng bất đắc dĩ” được khôi phục vẻ vang. Chantal trực chỉ thị phần có ân oán xưa là Nhật Bản và chinh phục hoàn toàn các giai nhân xứ Phù Tang. Say máu chiến, hắc y nữ Paris tiếp tục tấn công thẳng vào thị trường Hoa Kỳ với buổi diễn ra mắt chễm chệ giữa Saks Fifth Avenue hào nhoáng tháng 4 năm 2001. Từ đây, nhà Chantal Thomass phủ sóng license toàn cầu, với mạng lưới phân phối đồng loạt bùng nổ tại Âu châu và Nhật Bản.

Trứ danh với dấu ấn nữ tính cùng cực trên từng thiết kế nhỏ xíu, nhưng đáng được kiêu hãnh phô phang không kém gì những bộ trang phục haute couture. Chantal trở thành cái tên nhắc nhớ đến những gì đỏm dáng, mong manh, một kiểu rù quến ngây ngô, ít nhiều láu cá theo kiểu đàn bà-trẻ con đặc thù của các kiều nữ Pháp. Đây đó vẫn gợi nhớ đến những bộ đồ lót của các thanh nữ dậy thì căng mẩy, như muốn công khai phô phang cơ thể đương độ “đòi tình vật vã khôn nguôi”. Đó là những mảnh đồ lót người ta có thể tưởng tượng đang phập phồng phía sau bộ áo của những Carole Baker kem sữa, mỡ màng trong Baby Doll, hay cô nhỏ quá quắt Lolita của Sue Lyon. Nhưng dù cho có lật từng lớp ren viền trên những tấm áo quần nhỏ xíu ấy của nhãn Chatal Thomass lên mà soi bằng kính lúp, người ta vẫn không bao giờ soi lấy được một nét nào của hơi hướm dục tình thô thiển.

Với Chantal, chốn phòng the là thánh đường của nghệ thuật tán tỉnh, nơi cơ thể phụ nữ được yêu kiều trưng trổ gọi mời, kích động như một công viên giải trí của những đường lượn dễ gây lộn ngược tim phổi đấng trượng phu nào có cơ may thưởng lãm.

Đó là những thiết kế có khả năng gây khô cổ và ngứa ngáy nhãn cầu một cách dễ chịu.

Dấu ấn của bà, với hai màu hồng và đen được lưu lại trên mọi thiết kế sản phẩm của thương hiệu Thomass Chantal không chỉ nội y, mà cả những chiếc dù hồng điệu đà, những cây nến, những lọ nước hoa yêu kiều cho đến văn phòng phẩm. Năm 2001, Chantal thiết kế kiểu búp-bê được đặt tên là “Frimousses de creatueurs” cho một chiến dịch của tổ chức Unicef để bán đấu giá. Đó là một cô búp-bê mô phỏng nhân vật Miêu Nữ trong bộ đồ lót đen đầy màu sắc S&M (bạo dâm).

Người đàn bà bên dưới lớp nội y

Như một nữ sĩ thực thụ, Chantal luôn tìm động cơ và cảm hứng sáng tạo từ chính hình ảnh và cuộc sống riêng của mình. Các thiết kế chính là hình ảnh của bà, đến ngay cả những người mẫu của nhãn hàng Chantal Thomass cũng được trang điểm theo phong cách pin-up ưa thích của bà với màu son đỏ ớt, cặp mắt khói và mái tóc bob nhuộm đen nhánh ngang mặt. Đó chính là thế giới của Madame Chantal được nhân bản và bao trùm lên không gian quanh bà, ghi dấu đậm đà trên từng đường nét thiết kế mang tên Chantal Thomass.

Phản ảnh chính cuộc sống và tinh thần của mình, mỗi kì đoạn thăng hoa trong sự nghiệp sáng tạo và kinh doanh của người đàn bà ma thuật ấy, đánh dấu cho mỗi cột mốc thăng hoa cảm xúc tâm hồn của chính bà. Năm 1981, khi mang thai lần đầu, mọi cảm xúc và tình thương yêu đàn bà nhất trong Chantal đã làm nên một vụ nổ đình đám với dòng hàng trang phục bầu. Các bà bầu tròn trĩnh phồn thực trên sàn diễn nhà Thomass yêu kiều, căng mẩy vẻ đẹp đàn bà chín muồi, rần rật nữ tính với đường cong thiên chức được tôn vinh ca tụng bằng những chất liệu xa xỉ nhất và các chi tiết trang trí tinh xảo nhất, đánh dấu cho giai kỳ thăng hoa đỉnh điểm của bản năng tính nữ trong cuộc đời mỗi người đàn bà.

Khi con gái đầu lòng bắt đầu lớn lên, từ tình mẫu tử bung nở bên trong bộ váy đen bất hủ, Chantal tiếp tục tung ra dòng thời trang trẻ em, vẫn phản ánh chi li phong cách đầy kịch tính và đỏm dáng bất hủ của phong cách thiết kế Chantal Thomass trên những bộ sưu tập dòng hàng chính. Các biên tập viên thời trang rút ra một kết luận rằng, người ta có thể đọc trộm nhật ký của người đàn bà áo đen ấy, chỉ với việc xem các thiết kế từng mùa của bà.

Chantal tôn vinh, ca tụng và than khóc qua chính những mảnh chất liệu cỏn con kì diệu ấy. Những điều đó được rút từ tâm can người đàn bà lãng mạn nhất Paris, khiến chúng trở thành những ‘tác phẩm thời trang’ thuyết phục hơn tất cả.

Đến nay, thương hiệu Chantal Thomass phủ sóng toàn cầu với hơn 25 cửa hiệu chính rải rác khắp nơi trên thế giới. Riêng cửa tiệm tại Paris trên phố Faubourg Saint Honoré, vốn được coi là sở hội chính của nhãn hàng, là điểm thu hút những quý bà, quý cô thượng lưu mĩ miều nhất đến từ Nga, Nhật Bản, hành hương đến kinh đô hoa lệ chỉ để phủ hồng chốn phòng the ở cố quốc với những món vật linh tinh từ túi vải đến dép bệt, mang dấu ấn tài hoa của nữ pháp sư mái ngố.

Vào phòng tắm với Chantal, hay cuộc viễn chinh chưa phải là cuối cùng

Chantal Thomass không ngừng bao phủ thế giới quanh những nữ thân chủ của mình bằng ‘thế lực đăng ten’ đầy màu sắc gợi cảm và thứ thẩm mỹ mang hơi hướm nhục dục cổ điển. Từ các món phụ trang, kiểu dáng sản phẩm công nghệ cao, gần đây nhất, cuộc bành trướng mới của nữ pháp sư áo đen lại gây chấn động khi lan tỏa trùm đến lãnh vực thiết kế nội thất.

Hãng sản phẩm nội thất THG vừa bắt tay với Chantal để giới thiệu dòng thương hiệu đầy chất thơ Poemes. Đối với Chantal – bà chúa của những mảnh nội y tinh xảo và nghệ thuật tán tỉnh chốn phòng the, thì “phòng tắm nên được đối xử như một tiểu thánh đường của những lễ nghi khoan khoái. Người phụ nữ cần được cảm thấy dễ chịu nhất với chính mình trong không gian này, nơi nàng được chiều chuộng và chăm sóc từ nhan sắc đến tinh thần, nơi nàng phô diễn điệu nghệ nhất tâm hồn và gout thẩm mỹ bản thân. Nơi này cũng là một trong những chiêu rù quến khéo léo, tinh tế và “gợi” không kém gì một món trang sức, mùi hương nước hoa hay những bộ nội y quyến rũ.”

Tại showroom JCD trên đại lộ Haussmann, Paris, các món cocktail đã sẵn sàng, ánh đèn spotlight lấp loáng trong ánh flash camera cùng hướng về quý bà áo đen của nước Pháp – Chantal Thomass trong buổi giới thiệu dòng sản phẩm trang trí nội thất hợp tác cùng THG Paris.

Cả gian phòng showroom tráng lệ được nữ pháp sư biến thành một phòng tắm tráng lệ tràn ngập dấu ấn thẩm mỹ phòng the. Bà điệu nghệ và kiêu hãnh vén bức màn bí mật cuối cùng của góc thiên đàng thầm kín nhất của người phụ nữ và trưng trổ điểm tô biến không gian ấy thành một tác phẩm nghệ thuật – phong cách sống thật sự đáng trầm trồ.

Hẳn nhiên, mọi thứ ngập trong các sắc độ hồng ấm áp, ngọt ngào và măng tơ nhất. Có thể thấy rõ ảnh hưởng trào lưu vintage hoài cổ được ghi dấu trên những ngọn đèn bằng sứ, những mảng giấy dán tường in hoa, những vòi nước tinh xảo bằng đồng và bạc,… và ngự trị trong đó là một cô mannequin bận trên người bộ đồ lót kiểu mới nhất của chính Chantal Thomass.

Tổng Giám đốc hãng THG, ông Michel Gosse không giấu được lòng tán thưởng: “Chantal hiểu phụ nữ tinh sâu đến độ chỉ cần một bàn tay tài hoa ấy cũng đủ để làm nên cả một thế giới hoàn mỹ, bao bọc nâng niu những người đàn bà một cách điệu nghệ và chu đáo nhất.” và ông lập tức tuyên bố quyết định sẽ giao toàn bộ trách nhiệm sáng tạo thiết kế cho dòng hàng nội thất nhà tắm vào tay vị nữ pháp sư áo đen.

Nhưng nổi bật trên cả những sáng tạo xa xỉ của chính mình cho lần “bành trướng” mới, chính Chantal Thomass mới là điểm thu hút mọi sự chú ý. Bà xuất hiện, như mọi lần, trong kiểu tóc đen nhánh không một sợi xô lệch, bộ trang phục đen tuyền cài hoa trên ngực, nửa gothic nửa pinup như thể vừa bước chân ra khỏi câu chuyện của anh em nhà Grimm, với “làn da trắng như tuyết, môi đỏ tựa máu, tóc và mắt đen như gỗ mun”… Điệu nghệ ngồi xuống bên thành chiếc bồn tắm tao nhã, bà trả lời cuộc phỏng vấn với Maison à Part với một phong mạo minh mẫn thiệp liệp xứng danh nữ sĩ Paris

- Cuộc phối hợp với hãng THG đã bắt đầu ra sao?

Chantal Thomass: Khác so với nhiều lời đồn đại, chính tôi mới là người chủ động tìm đến với THG. Từ sau buổi triển lãm Maison & Objet, tôi lập tức cảm nhận mối tương hợp về quan điểm và tư duy sáng tạo với thương hiệu này. Tôi thiết kế nên những trang phục kín đáo nhất của phụ nữ, và phòng tắm là thế giới của tất cả những gì thầm kín nhất trong thế giới của người phụ nữ. Chuyện tác hợp là lẽ đương nhiên.

- Các ý tưởng và phương thức thực hiện đã đến với bà ra sao?

Chantal Thomass: Như mọi khi, tôi mang theo vào lãnh vực mới này những chi tiết đặc thù trong thiết kế nội y của mình và điều chỉnh chúng cho phù hợp vào không gian nội thất. Giả dụ, trên tay vặn của vòi nước là họa tiết ô quả trám quen thuộc của nhãn hàng Chantal Thomass, và trên bồn tắm là những từ tiếng Anh mà tôi yêu thích bởi tính “gợi” của chúng.

- Người đàn bà trong phòng tắm ấy, họ là ai?

Chantal Thomass: Bởi đây là khái niệm sản phẩm xa xỉ, đương nhiên họ sẽ là những thân chủ hàng đầu, và hẳn nhiên là phụ nữ. Đương nhiên, không gian này vẫn chào đón các quí ông!

chiếc váy hoàn hảo & ngày Tình-ái lên ngôi

by f.

Có lẽ đã từ lâu lắm rồi, từ ngày vương quốc Anh chào đón vị công nương tóc vàng Diana, không chỉ con dân xứ sương mù, mà tất thảy mọi tín đồ thời trang trên toàn thế giới mới lại được dịp nắc nỏm dõi theo một sự kiện hoàng gia với độ hot vượt hẳn so với giải Oscar hay Grammy của showbiz: đám cưới Hoàng gia.

Người ta chờ đợi một câu chuyện nàng Lọ Lem có thật, vị hoàng tử khả ái của nước Anh đã cho thần dân của mình nàng công nương mà họ muốn. Nếu các nàng dâu hoàng tộc trong truyện thần thoại phải trải qua những cuộc thi của nữ công và trí tuệ, với sự đỡ đầu của những bà mẹ đỡ đầu siêu nhiên, thì đối với nàng Catherine Middleton, trước sự chờ đợi của không chỉ các con dân Anh quốc, mà dưới sự xét nét nghiêm khắc và kì vọng của giới thời trang quốc tế, dường như chiếc váy hoàn hảo để đưa nàng đến ngai vàng của hạnh phúc và danh giá chỉ có thể được làm ra bởi một huyền thoại thời trang thế giới.

Đó là khi nàng Sarah Burton – nữ truyền nhân trẻ của Lee McQueen quá cố, thật sự bước vào vai nàng Lọ Lem của câu chuyện cổ tích. Cả thế giới nghiêng mình, dân chúng tung hô, các biên tập viên thời trang gật gù tưởng thưởng.

Catherine Middleton trở thành vị công nương hạnh phúc nhất.

Và Sarah Burton bước vào ngai tột đỉnh chiếu trên làng thời trang thế giới với chiếc váy cưới vĩnh viễn đi vào huyền thoại.

Lại một câu chuyện khác…

Cách đó hơn một thập niên, một cô dâu khác, một nữ biên tập viên thời trang ngấp nghé độ tuổi 40, cũng đi tìm cho mình một chiếc váy cưới. Nhưng nàng đã không may mắn như Kate Middleton – nàng đã không tìm được “chiếc váy hoàn hảo” cho mình. Kết cục là nàng lấy chồng, sống hạnh phúc đến nay, và thế giới có một đế chế váy cưới mang tên Vera Wang.

Và cứ như thế, thế giới luôn cần thêm những nàng Lọ Lem lên ngôi…

Và những người đàn bà, vẫn mãi mê những cuộc kiếm tìm để làm nên những câu chuyện cổ tích.

Họ tìm kiếm những chiếc giày còn lại,

Họ tìm kiếm những bộ váy hoàn hảo,

Đôi khi, dù phải hôn cả những chú ếch…

Người ta lại nhớ về bà hoàng đa tình của 8 cuộc hôn nhân trong đời, 8 câu chuyện cổ tích không có đoạn kết “hạnh phúc bên nhau đến cuối đời…” – mắt tím đa tình Liz Taylor.

Những người đàn ông đến và đi, người đàn bà lại nghiêng mình tìm những chiếc giày, tìm hôn những chú ếch,…

f. vẫn mải mê trên con đường riêng của mình, con đường thời trang, nhặt nhạnh những câu chuyện cổ tích về chiếc váy hoàn hảo, những nàng Lọ Lem có thật, và cả những chàng hoàng tử ếch.

Điều gì sẽ xảy ra, khi chàng ếch không còn tin vào chuyện cổ tích, khi lãng mạn chỉ là xảo thuật điện ảnh, và hoa chỉ được dùng để cắm trong nhà?

Khi đó, những món quà sẽ không phải bọc giấy hoa, và những người đàn bà sẽ không cần quần áo.

Thế giới nghiêng mình tán thưởng sự lịch thiệp của nàng tân nương hoàng tộc, nữ hậu duệ thời trang lên ngôi tột đỉnh chí tôn, người đàn bà đẹp yên nghỉ sau chuỗi tình dài long lanh cười nói, và đại tẩu Wang vẫn hàng mùa bọc thế giới ô trọc trong lụa và voile…

Những gã gallant vẫn tìm để yêu chiều những người đàn bà đẹp, chọn lấy một để mơ mòng những đứa trẻ kháu khỉnh do nàng sinh ra, dẫu kết thúc cho câu chuyện đẹp sẽ đến tiết mục yêu chiều thể hiện qua những chiếc cặp lồng.

Còn đàn bà, những người đàn bà may mắn,….

Họ vẫn cần được thả mình tưởng thưởng cho lời tán tỉnh, ru trọn giấc về một chiếc váy hoàn hảo của cuộc viễn mộng ngày tình ái lên ngôi.

Và như thế, cuộc sống trở nên thi vị hơn, khi có những thứ thời trang không-chỉ-để-che-đậy, những lớp giấy hoa gói quà, những bó hoa trước cửa lúc 8 giờ sáng, và cả những đám cưới hoàng gia.

(Viết nhân dịp cô Kate Middleton bận váy Sarah Burton về làm dâu hoàng gia Anh-quốc)

phú quang – ngày không gió

Jasmine nOir

photo by Tien TuTe

Khi mà những người đàn ông không còn gói giấy hoa quanh những món quà, và những tập thơ không còn bán chạy, diva lãng mạn và tuyệt vọng của f. sẽ cần có cho mình mọi thi vị để ve vuốt thói phù phiếm lãng mạn của nàng.

Bạn sẽ tìm đến một thi sĩ, nhưng không muốn cuộc hẹn hò kết thúc trên một quán bia vỉa hè, nơi thi hứng cũng giàu như đạm?

Bạn sẽ tìm đến một chàng nhạc sĩ để nghe bản vàng tình Thu, nhưng xác suất không thấp là bạn sẽ kết thúc bằng cuộc tranh luận về thời giá của dịch vụ nhạc chuông nhạc chờ.

Còn f., tháng này, f. có cho bạn cuộc hẹn hò với người đàn ông mùa Thu có cái tên của thịnh vượng và ánh sáng, kẻ có thể dùng một thứ âm nhạc xa xỉ để gói lại những vần thơ, và đính lên đó một cái nơ tình tứ và bán ra với một cái giá kiêu kỳ – một thứ âm nhạc haute couture chính hiệu: Phú Quang.

photo by Tien TuTe

“Sao lại trách mùa cũ không còn xuân?”

Ắt nhiên, khi hò hẹn với Phú Quang, khi lúc này đã chớm Thu, không đâu bằng chính nơi Phú Quang đã chọn tìm về, dẫu bạn phải băng xuyên hàng ngàn cây số và vài chục phố to ngõ nhỏ Hà Thành.

Hãy đặt vé máy bay và cho phép mình một cuộc phiêu lưu nho nhỏ, dẫu sao cũng đã chớm Thu.

photo by Tien TuTe

Bạn, dater bôn ba của f., sẽ thấy mình đứng trước một căn nhà màu xám chì nặng nề, vọng từ trên gác xuống là một tiếng trả lời trầm trầm, khản đặc. Than ôi, rất có thể dater của f. đã chậm chân, ông đã kịp là “chàng trai với màu tóc khác”

Ngồi trong căn phòng khách tê tê màu chì biệt lập hoàn toàn với cái ồn ào của một Hà Nội lô xô mới cũ, bạn – kẻ đã phải băng hàng ngàn cây số để đến hẹn, trách khéo người nghệ sĩ đã mải đắm đuối với mối duyên đã cũ với đất Hà thành mà rời bỏ mối duyên Sài Gòn 25 năm.

“Ngày tôi quyết định xa Hà Nội vào sống trong Sài Gòn, tôi đã tặc lưỡi tự hứa với mình: rồi đây sẽ có ngày trở lại. Hà Nội với tôi là một thứ ân tình day dứt, Hà Nội là nàng thơ, là người đàn bà chưa tìm lại được. Nhưng Sài Gòn đón tôi vào, cái mảnh đất phù suy ấy, dung dưỡng tôi và những bài hát của mình, như một người tình rộng lượng. Sài Gòn như một chuyện tình muộn, tưởng chỉ dan díu một cuộc, thoắt cái cũng đã 25 năm mặn nồng ấm lạnh. Nếu bắt buộc phải đem ra so sánh với nỗi khắc khoải dành cho Hà Nội có điều gì đó thiêng liêng như máu mủ, như gia đình, thì Sài Gòn với tôi lại là người đàn bà đa tình nhưng trọng nghĩa.

Thoắt cái, cái tặc lưỡi “rồi đây…” ấy cũng hóa ra hơn hai thập niên mòn mỏi, hơn hai thập niên đủ để tôi thống thiết “càng xa em, anh càng thấy yêu em…”

Hà Nội giờ rộng hơn xưa nhiều lắm, tôi cũng không biết liệu điều đó có thật cần thiết hay không, bởi dường như lòng người tỉ lệ nghịch diện tích phố thị. Thành phố càng rộng, lòng người càng hẹp. Đến giọng nói, căn phố, bây giờ cũng khác. Tôi nhìn thấy, nghe thấy, nhưng không màng, tự thu vén cho mình một nơi tách biệt nhưng vẫn đủ không quá xa phố, để mỗi ngày còn dễ lui tới vào ra.

Người ở xa có lòng thương tưởng tìm về, không khỏi cảm giác mất mát. Thậm chí có người chạnh lòng cho cái mất mát rất riêng mà đâm ra giận chốn xưa không tròn vẹn hình ảnh vàng son quá vãng. Vậy là sai lắm, hồ đồ lắm, dù rất đáng thông cảm. Hà Nội, hay con người, cũng như cây kim đồng hồ, nó ắt nhiên phải chạy xuôi…chiều kim đồng hồ, có gì là phi lý? Như vậy chẳng khác gì người rũ áo quay lưng đã mấy chục năm, nay lại trách người đàn bà cũ không còn xuân.”

Cuộc tình muộn và những kẻ lạc quan kì cục

Hà Nội, nàng bị thời cuộc ngược đãi, hay phải chăng quá nhẹ dạ nông cạn để vội đắp đổi lên mình những mảnh thị thành ô tạp và ngô nghê?

25 năm, bản thân người ra đi liệu có còn giữ được vẹn toàn? Ngày xưa, cái chuẩn mực người Hà Nội nó tinh tế lắm. Nào là âm sắc, ngữ điệu, tư phong,… dẫu gì cũng là cái chất Tràng An thanh lịch. Như thể cô gái còn son kén chồng vậy, rằng chàng phải tài hoa trí lực ra sao, lại phải hào hoa lãng mạn tinh tế thế nào. Nhưng phải là một người đàn bà, phải hao mòn trải nghiệm lắm lắm, mới định được chân dung của người đàn ông lí tưởng nhất cho mình. Giờ đây, tôi quan niệm, cứ người sống ở Hà Nội và biết yêu nó, đã là người Hà Nội. Bằng không, xét nét kín kẽ ra, tiền nhân Lý Công Uẩn cũng khó lòng được xem là người Hà Nội.

Dường như chuyện tình đẹp giữa người nhạc sĩ và Hà nội đã đượm màu thỏa hiệp của hôn nhân, và bạn, dater sành sõi của f., không khỏi nghĩ đến sắc màu lãng mạn trung niên trong bản Romance 1.

“Đó là một bản phổ nhạc cho bài thơ của thi sĩ Ý Nhi, nhưng tôi viết về một câu chuyện có thật, về cuộc tình muộn của một người đàn bà…”

Người ta bảo “Mối tình đẹp nhất trong đời một người đàn bà là mối tình đầu… sau hôn nhân”?

“Buồn quá! Không nhất thiết phải như thế. Mỗi cuộc tình là một màu sắc cần có cho một cuộc đời, dù ngọt ngào hạnh phúc hay đau đớn dày vò, thậm chí thê thiết,… tất cả đều đẹp. Những kẻ yêu nhau, và những người đàn bà đang yêu, tất thảy đều lãng mạn, những kẻ thực ra yêu sống đến ngô nghê. Họ là những kẻ si mê đến nghiện cả những nỗi đau. Những kẻ lạc quan kì cục.”

Trong âm nhạc của nhạc sĩ, tôi không thấy có cả những màu sắc này? Vậy ra ông không hề là một tín đồ của trường phái lãng mạn đa sầu?

“Tôi thừa nhận mình là tay lãng mạn, nên yêu sống lắm, và không có thời gian. Tôi không chọn đặt tâm trí mình vào những góc tối, những bề mặt xấu xí. Còn bao nhiêu thời gian cho một kiếp người, sao lại chọn sống với những điều gây đau khổ u mê? Trong bao nhiêu màu sắc trên bảng màu của người họa sĩ, bao nhiêu nốt nhạc trên các phím đàn, sao không pha một bảng màu tươi tắn, hay gom góp lại một hợp âm dịu dàng để tụng ca và xoa dịu? Đời sống này đã vội vã lắm rồi, sao lại phí hoài thời gian để chấp nê nhau? Một đời người, cũng chẳng đủ để yêu bằng hết những điều tốt đẹp, hà cớ gì dày vò nhau chỉ vì vài vết lấm lem gặp phải trong đời?”

Tiếng khóc đàn ông và lòng bao dung của ái tình thống hối

Nói đến những mảng màu buồn, có lẽ người ta vẫn chưa quên bản Có Một Ngày, chuyện người đàn bà lại tìm về những cuộc săn lãng mạn, bỏ lại sau lưng một tiếng khóc thầm trong lồng ngực đàn ông.

“Đúng, Có Một Ngày đã là một nỗi buồn đàn ông, một người đàn ông làm thơ. Bản này phổ nhạc thơ của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm. Nhưng cái buồn ấy, nó cũng đa sắc lắm. Trong nguyên bản, có một câu rằng ‘những buồn vui anh chưa bao giờ có’, về sau tôi mạn phép sửa chữ “chưa” thành chữ “không”. Với tôi, nỗi buồn trong nguyên bản dường như tuyệt vọng và bạc nhược quá. Tôi có thể yêu thương và mất mát, nhưng biết từ chối mang lại những buồn vui không thật, những lãng mạn chỉ để ve vuốt cái hình thức cuộc tình.”

“Người đàn ông, em ạ, có thể ra đi rất xa và yêu như một nỗi ám ảnh cả đời. Họ cũng có thể trở về và yêu say đắm từ đầu một cuộc tình đã cũ, một người đàn bà đã khác. Nhưng trong ngay cả nỗi buồn cạn cùng nhất, khi vòng tay bị chối từ, người đàn ông vẫn từ chối dâng tặng những bó hoa thừa.”

Trái tim mẫn cảm khốn khổ của bất kì diva lãng mạn nào cũng có thể bị xát muối bởi một thực tế như vậy. Sự bao dung cũng không phải là vô chừng, khi người ta cự tuyệt ái tình hình thức.

Bởi họ, trên Hỏa tinh và vào mùa Thu, luôn có khả năng nhìn xuyên thấu mọi bộ cánh ngụy trang, để bao dung với những điều rất thật.

Họ không mê muội, họ tinh mắt thính tai hơn cả những trai trẻ phong tình. Họ vị tha, và kẻ cả. Bạn không thể đánh lừa một người đàn ông trưởng thành bằng dung nhan mỹ phẩm và thẩm mỹ truyền hình nhiều tập. Nhưng dưới mọi lớp mỹ phẩm, người tình về chiều sẽ vẫn tìm thấy người đàn bà thật sự để yêu, với mọi hào quang chân thật nhất, và một lối lãng mạn thi vị đằm thắm, bền bỉ nhất.

Đến đây, diva duy mỹ của f., bạn đã có thể đường hoàng thả lỏng mình một chút, và chớ ngại nếu có một lúc nào đó lớp phấn sáp có chút hao mòn. Món quà đến cùng tuổi tác, không chỉ luôn là những cuộc phong nguyệt muộn mằn, nơi người ta cố trưng trổ cho trọn vở diễn tài hoa lãng mạn. Những người tình muộn, những người tình cũ, những kẻ lãng mạn lâu năm, họ không có thời gian để soi mói một chút lấm lem chểnh mảng, hay vài sợi tóc nhạt màu.

Người ta cứ ngỡ tôi phong tình và kén chọn lắm. Hàng trăm ca khúc, dễ tôi phải yêu đương kịch liệt đến cả trăm phen, ắt trong nhà lúc nào cũng tấp nập bóng hồng bóng tía. Kì thực, thậm chí có những khi là tưởng tượng, là rung động ‘ké’ các nhà thơ mà thôi. Một mình tôi, có thể tưởng tượng cả cuộc tình.”

 “Có bận, có ông thầy tướng số bảo đùa tôi rằng tôi đáng ra sống đến 100 tuổi, nhưng đến năm 99 tuổi, thất tình mà chết. Nghe ngộ nghĩnh, nhưng cũng có cái đúng của nó, em à, tuổi nào mà chẳng để yêu nhau một phen lãng mạn ra trò?”

photo by Tien TuTe

Sự lãng mạn cuối cùng

Phải chăng vào mùa Thu của cuộc đời, những người đàn ông trở nên vô nhiễm và sự lạc quan ấy, là khiên cưỡng hay kiên cường?

“Không, tôi học được cách sử dụng những chiếc mặt nạ vô nhiễm. Những tổn thương không thể sẻ chia, tôi chọn giữ cho mình.”

Mặt nạ? Thứ đó ngày nay có nhiều, những vật hay ho đẹp đẽ dùng để diễn trò.

“Không hẳn. Có những thứ mặt nạ dùng để bảo vệ những gì mẫn cảm bên trong. Như thế, người ta sẽ sống với nhau thành cộng đồng, thành đôi thành cặp. Không phải là trò ngụy trang giả tạo, nhưng để bảo vệ cho nhau.

Trước nhà tôi có cái loa phường, một thứ rất Hà Nội, thậm chí đáng được gọi là một duyên cũ của Hà Nội thời của tôi. Nhưng cái duyên ấy lại hay phát ngay vào giờ sáng sớm, và vào ngay đoạn cuối giấc ngủ quý báu của tôi. Thay vì càu nhàu như một ông già cau có của khu phố, hay tệ hơn là cuốn gói đi tìm một nơi nào đó tốt hơn cho mình, tôi chỉ cần một lớp cửa kính tốt, thế là vẫn có thể an nhiên sống ở đây, yêu thích nơi này một cách nguyên vẹn, với một sự thu xếp an ổn và khéo léo.”

Một người đàn ông lãng mạn đích thực sẽ đủ tế nhị để đưa tay tắt máy trợ thính trước những tràng liến thoắng của người đàn bà mình yêu. Một chút thực tế, đôi khi rất cần cho một sự lãng mạn dài hơi.

 

“Hãy đi ngang hồ Tây, vào một ngày có gió!”

Ngoài kia vẫn điêu tàn và ồn ã. Ngoài kia, phố vẫn chảy xiết trong cuộc thêm vào mất đi của hồn phách Tràng An. Người đàn ông đón vào lòng mình một cuộc tình đã cũ, hay chính Hà Nội đang đón vào lòng, vỗ về một kẻ mải mê đuổi bắt cảm xúc tương tư đã quá lâu, và tình yêu trong người nhạc sĩ, có còn chăng là những vớt vát tuyệt vọng của thống hối, khi ngoài kia vẫn ồn ã những điêu tàn?

“Những thêm mất của thời cuộc, kẻ thương tưởng lâu năm đâu thể không nhìn thấy. Tôi cũng chả phải tăng hay sãi mà mũ ni che tai, đến không nhận ra âm sắc Tràng An nay đã phần nhiều pha tạp, lại dường như to hơn, khàn đục đi, và ồn ã ra nhiều. Nhưng chính khoảng cách thời gian 25 năm ấy, khiến người ta thanh thản và bao dung hơn nhiều. Những điều trông thấy, âu cũng là cuộc sống, tôi cũng là “chàng trai có mái tóc khác màu”. Nay lại về được đây, là để yêu thương, để bù đắp cho chính mình. Sao không chọn nhìn trời vẫn xanh, sương vẫn phủ trắng Tây Hồ, cốm đến mùa vẫn là cốm non. Có những điều thời cuộc không bao giờ chạm tới được, sao lại chọn đau khổ vì những thay đổi hiển nhiên để tự dày vò và thất vọng, đến nỗi phí hoài cả 25 khắc khoải tương tư?”

Có còn nơi nào trên bề mặt địa cầu cho những người tình và những cuộc hò hẹn?

Ngày xưa, mùa Đông lạnh lắm, những người tình cũ hẹn nhau ngoài phố, chỉ đủ cho một vòng tay ôm và một nụ hôn vội thấm thía cả tháng trời. Ngày ấy, những cổ áo lông sẽ đẫm sương giá, và những làn môi tê dại. Bây giờ có lẽ cũng vẫn thế, cũng có thể bởi máy điều hòa trong phòng khách sạn.

Bạn hơi rùng mình, nghĩ về những cuộc hẹn hò với vang đỏ lúc 3 giờ chiều cách đây vài tháng, và những vòng tay rối rắm ven cầu Long Biên vừa chứng kiến đêm qua.

“Thời cuộc mà, những kẻ lãng mạn trẻ trung, hãy để yên cho họ yêu đương và lãng mạn theo một cách rất riêng thời cuộc. Nhưng Hà Nội đâu phải chỉ có thế, tôi vẫn tìm thấy những nuông chiều tình tứ của Hà Nội dành riêng cho mình. Hãy cho phép tôi được hôm nào mời em đi café sáng, chắc em sẽ hiểu.

Hà Nội vẫn chiêu đãi chúng ta đấy chứ. Em chờ xem, một ngày nào có gió, hãy đi ngang hồ Tây, em sẽ thấy mặt nước hồ vẫn lăn tăn như cách đây bao lâu. Vẫn liêu trai lắm, duyên lắm, đáng yêu lắm!”

Người đàn ông mùa Thu đến bên cây dương cầm và ngồi xuống. Những hợp âm trầm, khô khốc, văng các nốt nhạc rời rạc khắp gian phòng màu xám. Ngoài sân, tàng cây đơn độc lặng thinh, không run rẩy dù chỉ một chiếc lá.

Có lẽ Thu hẵng còn chưa trọn mùa, Hà Nội hôm nay lặng gió.

photo by Tien TuTe

8 bộ váy & 7 người đàn ông

Túy Ca

Đối với bất kì cô dâu nào trên thế giới, khó lòng hình dung họ chọn xỏ chân vào đôi giày boot thay cho một đôi pump bọc satin trang nhã để xuất hiện trong ngày cưới, đặc biệt khi đám cưới đó hứa hẹn bị đặt trước ống kính khát tin của báo giới và dưới ống hiển vi săm soi của thời trang giới. Nhưng một khi đó là Elizabeth Taylor – bà hoàng của những đám cưới, thì 8 hôn lễ trong đời cho phép bà những cuộc “thể nghiệm” đa dạng cho dung mạo một tân nương, hay một “trường phái” chọn chồng. Điều đó khiến một đôi boot da dê màu xám, kiểu váy có mũ trùm, một chính khách đạo mạo hay một tay thợ hồ hoàn toàn không có gì đáng để ngạc nhiên, bởi đối với Liz, không có đám cưới nào bị đặt dưới áp lực “đời người chỉ có một lần”.

Mãi về sau, người ta vẫn còn nhắc nhớ về giai nhân đa tình này cùng cái nhìn nửa khôi hài, nửa hồn nhên đến chua chát của bà về các cuộc hôn nhân của mình: “Tại sao tôi ham lấy chồng nhiều vậy hả? Không biết nữa, hồi nhỏ, ba má tôi dạy con gái kỹ lắm, ông bà dặn tôi rằng chớ có lăng nhăng đào hoa phong nguyệt, yêu đặng lấy thì hẵng yêu, mà lấy vì yêu thì hẵng lấy. Tôi là tôi truyền thống thủ cựu lắm, nên làm y chang như vậy.”

Cùng với nền giáo huấn gia phong như vậy, người đàn bà mắt tím đã thủ cựu cực đoan như vầy:

Đám cưới đầu…tay: Canh bạc tình bắt đầu với một con bạc

Năm 1950, Liz tròn 18, căng mẩy nhan sắc và mọi tiềm năng hứa hẹn cho một vụ nổ màn bạc. Sau mọi cuộc giáp đấu so tài của những cuộc tình với những trang quân tử thuộc hàng tột đỉnh thượng lưu, trước những tiếng thở dài sườn sượt của nam nhân toàn cầu, ngày 06 tháng Năm năm 1950, nàng đội khăn voile theo chồng, ở đây là Corad Nicholson Hilton – kẻ thừa tự tập đoàn khách sạn Hilton lừng danh thế giới và là ông cố của cặp kiều nữ đa chiêu Paris và Nicky Hilton ngày nay. Chàng Hilton con giống cha như đúc: bảnh bao, hào nhoáng, và cực kì duyên dáng khi không say rượu.

Nhưng chàng rất ít khi không say rượu.

Vào đám cưới đầu tay của mình, Liz, như hầu hết các cô gái khác, chọn cho mình một diện mạo kinh điển thuần túy với chiếc váy dài bằng satin trắng được thêu tay, đính ngọc trai. Đây là một món quà cưới tuyệt hảo từ hãng phim MGM dành cho cô đào cục cưng của họ vừa thủ diễn hoàn hảo trong bộ phim “Father of the Bride” cùng Spencer Tracy. Chiếc váy thoạt tiên do Helen Rose thiết kế trong loạt phục trang dành riêng cho Liz trong bộ phim này. Rose đã cần đến 15 thợ may chuyên nghiệp làm việc trong suốt 2 tuần liền để thực hiện chiếc áo cưới. Liz mặc cùng với vương miện nhỏ bằng ngọc trai màu kem, phủ một tà voile dài 10 yards,đôi dép bọc satin giản dị và bó hoa lan trắng. Với lệ bộ tinh khôi như vậy, nàng xuất hiện trong ngày cưới, rỡ ràng hạnh phúc, tươi tắn dung nhan, phơi phới cùng tình quân lí tưởng bước vào cuộc vợ chồng.

Đáng lẽ nàng đã có thể chọn lựa cho mình một điều gì đó tốt hơn. Bởi đáng tiếc, nếu nàng khi này đã chớm thành danh trên màn bạc, thì phu quân gia thế của nàng cũng không hề kém cạnh về danh tiếng hoang đàng của chàng trên…chiếu bạc.

Sau lễ cưới huy hoàng, nơi mà cánh phóng viên còn ghi nhận lại được là tân lang xỉn quắc cần câu trong phần lớn thời gian, Conrad tiếp tục lết bết lê bê trong suốt đi trên tàu Queen Mary để cùng nàng hưởng tuần trăng mật tại Âu châu. Chàng còn công khai lè nhè tán tỉnh các nữ hành khách trên tàu hoặc gầy sòng bài sát phạt bí tỉ bỏ mặc cả cô vợ trẻ. Về sau, khi nhắc lại những tháng năm sống cùng Conrad, Liz đã ước rằng giá như đã được chàng “bỏ mặc” nhiều hơn nữa, bởi mỗi khi đến gần Liz trong tình trạng say xỉn, quý công tử nhà Hilton đã không biết thương hoa tiếc ngọc mà thẳng tay giở trò thượng hạ tay chân khiến đôi mắt giai nhân tím cả trong lẫn ngoài. Tuần trăng mật trở thành hành trình khám phá con người thật và mặt trái của ái tình đối với Liz.

8 tháng sau, nàng thất thần thất thểu tháo gỡ cuộc đời mình ra khỏi cuộc hôn nhân, đáng ra phải được gắn kết bởi lời thề “dù say hay tỉnh”, với tay playboy quý tộc bất kham, cùng thói côn đồ đã trút sóng gió không nương tay lên bến đỗ đầu đời không bình yên của người đàn bà mắt tím.

Hạnh phúc đơn sơ không dành cho mèo hoang bất trị

Vừa tháo thân khỏi vòng tay bạo lực của Conrad, nàng ngã quỵ vào cánh tay nâng đỡ lịch lãm của nam tài tử người Anh Wilding hơn nàng đến 20 tuổi – một quý ông thực thụ đối lập hoàn toàn với cơn ác mộng 8 tháng với Conrad Hilton. Lần lên xe hoa thứ hai của người đàn bà mắt tím, ngày 21 tháng Hai năm 1952 rơi ngay vào giai đoạn trào lưu “hôn nhân dã chiến”. Đây là thời kì của các đám cưới đơn giản và những bộ váy cưới không khác xa thường phục là mấy. Không nằm ngoài trào lưu thời thượng đó, trong suốt 15 phút chóng vánh của hôn lễ giản dị tổ chức tại Caxton Hall, London, Liz xuất hiện trong chiếc váy bằng len dạ màu xám, chỉ hơi dài quá gối, tổ điểm giản dị với ve áo và cổ tay bằng organdy trắng cũng do Helen Rose thiết kế. Liz giản dị, an phận và được bảo bọc như một cô gái ngoan hoàn toàn sẵn sàng cho một tổ ấm an toàn cùng vị phu quân lịch lãm. Cuộc hôn nhân thứ 2 này mang lại cho Liz 2 đứa con trai Michael Jr. năm 1953 và Christopheer năm 1955.

Nhưng rồi sự chênh lệch về độ tuổi, thói đỏng đảnh cô đào cục cưng màn bạc đã đem lại cho Wilding những trận thất điên bát đảo. Như chưa đủ hưởng thụ những chào mời phiêu lưu êm ái của cuộc đời, nàng Liz bất trị rời bỏ vòng tay trang nam tử và lại dong thuyền tung tẩy ra khơi.

Người hùng thắng lén và hôn nhân phi-li-dị

Trong tất cả những “thử nghiệm” về thời trang cưới của Liz, có lẽ đây là lần duy nhất nàng cũng không bỏ sót trải nghiệm không phải là không phổ biến của một số chiếc bẫy hôn nhân: cô dâu có bầu. Với giọt máu của người tình Mike  Todd đã thành hình được 2 tháng trong bụng, cô nàng đa tình cần phải lập tức li dị chàng Wilding bị cắm sừng để trao lại phần thưởng cho người hùng…thắng lén, và nơi duy nhất có thể đáp ứng nhu cầu pháp lý trớ trêu trên một cách chóng vánh là Mexico. Nàng chọn Acapulo, nơi Todd “kế vị” vai trò phu quân người đẹp ngày 02 tháng Hai, 1957, chỉ 2 ngày sau khi anh chồng tội nghiệp bị hất cẳng trong một phiên xử li hôn chóng vánh.

Thiếu phụ rạng ngời hạnh phúc, và thở phào khi trào lưu đám cưới dã chiến của thập niên 1950 đã lắng, nàng trở lại hình mạo nữ hoàng couture với chiếc váy gắn mũ trùm lạ mắt màu xanh lơ, form váy lòa xòa kiểu “thánh nữ” để phảng phất che vòng eo lúc này đã chớm phát triển. Về sau, bà hoàng còn nhắc về Mike Todd như một trong 3 cuộc tình lớn của đời mình, bên cạnh Burton và đồ trang sức. Đây cũng là cuộc hôn nhân duy nhất trong đời Liz mà không kết thúc bằng một vụ ly dị bởi chàng qua đời chỉ 1 năm sau đó.

Chiếc nhẫn cưới trong huyệt mộ và gã Do Thái gặp thời

Sau khi đánh bại Wilding tại Acapulo để rước nàng về dinh, Mike Todd chỉ thụ hưởng hạnh phúc trong chính xác 418 ngày trước khi qua đời trong vụ tai nạn máy bay thảm khốc năm 1958 khi bay với chiếc chuyên cơ riêng được âu yếm đặt bên “Lucky Liz”.

Người ta không thể tìm thấy một mảnh thi thể nào của chàng, trong cỗ quan chỉ đặt chiếc nhẫn cưới chôn theo kẻ tình lang đã ra thiên cổ.

Ngay lập tức, bờ vai được đưa ra hứng lấy giọt lệ trang đài của thiếu phụ, và dần dà hứng trọn cuộc đời nàng lại là bờ vai của bạn thân nhất của kẻ quá cố – Eddie Fisher. Ông là ca sĩ nổi danh thập niên 1950, và cũng là phù rể trong đám cưới của Liz với Mike. Vào khi này, Fisher vẫn đang kết hôn cùng cô đào Debbie Reynolds. Tệ hơn nữa, chàng lại còn đắc thắng thổ lộ cùng tay viết nữ Hedda Hopper khét tiếng trong giới truyền tin rằng “Dẫu gì thì anh Mike cũng đã chết, mà tôi thì còn sống… Chị nghĩ tôi sẽ làm gì nào? Đi ngủ một mình hả?” Kết quả là nàng quả phụ ngã vào vòng tay gã cơ hội láu cá, thậm chí nàng còn quyết cải đạo theo Do thái giáo và đám cưới tổ chức ở đền Beth Shalom tại Las Vegas. Chú rể đội chiếc mũ kipa truyền thống của người Do Thái và mặc complet xanh biển, trong khi người đẹp tái giá xuất hiện với bộ váy nhà Jean Louis bằng chiffon xanh lá cực kì sang trọng, tay áo dài trong mờ, chiếc mũ trùm đầu xếp nếp lòa xòa gợi nhớ bộ váy cưới với chàng Todd xấu số. Rể phụ chính là con riêng của Todd với người vợ trước.

Tay Do thái hào hoa cuối cùng đã chiếm giữ được tấm nhan sắc nhất bậc địa cầu về làm của riêng trong một thời gian khá dài trong lịch sử những cuộc hôn nhân của phu nhân mắt tím: những 5 năm.

Nhưng trên cả quãng đường 5 năm của cuộc hôn nhân lắm điều tiếng, việc khiến công chúng nức nở tâm đắc lại chính là thái độ của cô đào bị phụ tình Reynolds. Vốn cũng là bạn thân của Liz, khi nhận được tin, nàng chỉ điềm tĩnh trả lời với báo giới rằng “quả không có gì đáng ngạc nhiên khi bị đánh đổi lấy người đàn bà đẹp nhất thế giới”. Sự vị tha đầy kiêu hãnh của Reynolds còn tiến xa đến mức nối lại tình bạn cùng Liz. Vài năm sau, họ xuất hiện cùng nhau trên show truyền hình These Old Broads và cùng cười cợt thân thiện khi bêu xấu đức phu quân Do Thái của cả hai.

Dõng tướng đô con và Cuộc tình vinh danh nữ hoàng Ai Cập

Những tưởng tay chèo hồng nhan đã cặp bờ cuộc hôn nhân Do thái, sau 5 năm yên ổn, giới truyền thông lại một phen nhốn nháo trước cuộc phiêu lưu ngoài chồng ngoài vợ lộ liễu của nàng Cleopatra đa tình và chàng tài tử đô con cùng thủ diễn trong bộ phim huyền thoại cùng tên năm 1963. Khi này, Fisher vẫn là chủ nhân ông hợp pháp của kho tàng nhan sắc đang vào đỉnh điểm của danh vọng màn bạc, còn võ tướng mình trần Burton vẫn đang kết hôn cùng cô dào Sybil Williams. Đến mức này thì cả giáo hội Vatican cũng phát chán với trò lẳng lơ của cô đào trắc nết và khép cả đôi vào tội danh ô nhục “erotic vagrancy”. Mặc nhiên, đôi nhân tình tội lỗi song đẹp đôi vẫn chìm đắm vào bùa ngải đam mê, và để được danh chính ngôn thuận thuộc về nhau, cả hai đồng lòng thực hiện hai cuộc li hôn chóng vánh với nửa kia tạm bợ của mình để cùng tay trong tay rạng ngời hạnh phúc trong lễ cưới nhất bậc vương giả tổ chức tại Ritz-Carlton, Montreal, sau khi tòa thị chính Toronto thẳng thừng từ chối họ.

Nhà thiết kế phục trang điện ảnh lừng danh Irene Sharaff – cũng là người thiết kế phục trang cho Liz trong vai trò Cleopatra, đã mang hơi hướm nữ hoàng Ai Cập khoác lên cho Liz bộ dạng một hoàng kim trong chiếc váy chít eo màu vàng hoàng hậu, mái tóc dày màu gỗ mun uốn thành những lọn lớn nặng trĩu, đóng khung khuôn diện nuột nà của siêu minh tinh có đôi giếng sâu màu tím hớp hồn được chuốt tỉa theo đúng tinh thần Cleopatra. Trên ngực người đàn bà đang yêu là chiếc trâm đính kim cương và ngọc bích trị giá 150,000 Mỹ kim – món quà của tân lang hào hiệp.

Nhưng trước sự tẩy chay ồn ào của công luận, lễ cưới của họ chỉ diễn ra trước cặp mắt của 9 người bạn thân thiết nhất.

Sau hôn lễ huy hoàng, Liz muốn toàn tâm toàn ý cho cuộc hôn nhân mà nàng cho là quan trọng nhất đời, đến mức người đẹp có thân hình Vệ Nữ đã cố tình tự làm cho mình tăng cân để tránh những lời mời đóng phim.

Burton đã lọt vào đôi giếng lòng thăm thẳm ấy và trị vì thịnh vượng trong suốt 10 năm – cuộc hôn nhân “bền vững” nhất trong đời vị nữ hoàng bất trị.

Cuộc tái hôn hoang dã và sự bất lực của thần linh Tswana

Trong suốt một thời gian sau đó, người ta nhắc đến cuộc sống hôn nhân của họ có phần còn ồn ào hơn những vai diễn của cặp minh tinh tài tử này. Liz và Richard thả mình vào một cuộc sống xa xỉ. Thu nhập của cả hai tổng cộng lên tới 88 triệu Mỹ kim vào thập niên 1960, và cũng trong cùng thời kì đó, họ cùng nhau góp sức xài hết 65 triệu vào những món quà bằng kim cương – niềm đam mê ám ảnh của Liz, và chứng nghiện ngập của Richard.

Những cuộc cãi vã, thậm chí hành hung đã diễn ra như điều tất yếu. Các nhà đạo đức thở dài lấy họ ra làm gương răn đe các tín đồ tình ái ưa sống vội.

10 năm hương lửa mặn nồng khiến 16 tháng li dị dường như quá sức chịu đựng của đôi tình nhân “nhiều chuyện” nhất lịch sử showbiz. Họ lại va vào nhau, hoàn toàn bất lực, tuyệt vọng, và mê đắm đủ để sẵn sàng yêu thêm một lần và cưới thêm một lần.

Không còn là “cô dâu mới”, nhưng bà hoàng tình ái vẫn lộng lẫy khác thường trong bộ váy caftan dài màu xanh lá trang trí hoa văn avian, hợp kì lạ với địa điểm được chọn cử hành hôn lễ lần này – Nam Phi, kết hợp với một sự kiện từ thiện. Đám cưới tổ chức tại Chobe Game Reverse, nhìn ra dòng sông thơ mộng hoang dã của Botswana, với vị chủ lễ địa phương thuộc bộ lạc Tswana. Cũng với tinh thần hoang dã của người tình tuyệt sắc, “cựu” lang Burton cũng gây shock trong bộ lễ phục gồm quần trắng và áo cổ lọ màu đỏ thắm.

Các vị thần người Tswana đã không nhiệt tình phò hộ cuộc tái duyên của đôi tài tử giai nhân, họ lại li dị, lần này cho mãi về sau, chưa đầy một năm sau đó.

Trả lời phỏng vấn, Liz chỉ có một cách giải thích về cuộc tái hôn và 2 lần li dị với cùng một người đàn ông “Có lẽ vì tôi yêu chàng quá đỗi.” Tỏ ra mềm yếu hơn cả tình nương, Burton suy sụp và đau khổ trong lời tán thán trên báo “Tôi bảo nàng hãy đi đi. Và nàng làm như vậy thật.”

Đám cưới thôn trang và bà nghị đi boot

Sau cuộc hôn nhân dài hơi đuối sức, người đẹp đa tình tiếp tục tìm quên người tình nghệ sĩ bằng cách gật đầu ưng thuận gá nghĩa cuộc hương lửa với người tình chính khách nhưng cũng không kém phần hào hoa John Warner. Warner đã từ một sĩ quan Hải quân Hoa kỳ đã thăng tiến hoạn lộ và khi này đang là thượng nghị sĩ Mỹ. Giới truyền thông, đặc biệt các tạp chí thời trang thất vọng bởi hình ảnh hôn lễ không được công bố rộng rãi đến công chúng hình ảnh lộng lẫy của “bà nghị” kiều diễm. Những bức ảnh hiếm hoi được truyền đến công chúng khi này cho thấy Liz khoác bộ váy cashmere màu xám và tím lavender, khoác áo khoác đồng màu điểm lông cáo bạc, với giày ống suede xám. Nàng xuất hiện bên sườn đồi của trang trại vào đúng hoàng hôn, muộn mất cả tiếng đồng hồ, mắt tím biếc trong khung cảnh chiều quê mê hoặc, đủ để các vị khách mời danh gia thế tộc bỏ qua việc phải chờ nàng soạn sửa, và cả nỗi phiền muộn phải rón rén cẩn trọng giữa những đống phân bò của vẻ đẹp thôn trang thuần túy.

Không chỉ những vị khách mời hôm ấy đã phải rón rén. Cuộc sống một bà nghị giữa thủ đô Hoa Thịnh Đốn cũng đã khiến giai nhân màn bạc phải nín thở nhón chân. Nàng rơi vào trầm cảm và nhập viện.

Chàng thợ hồ số đỏ lạc vào xứ sở Neverland (nơi người ta không lớn)

Sau 6 năm đằng đẵng vào vai bà nghị, Liz cuối cùng cũng li dị với Warner vào 1982. Người ta những tưởng bà hoàng đa tình cuối cùng cũng đã mỏi mòn với những cuộc mặn nồng dài ngắn và những bộ váy cưới khoác vào lại cởi ra. Nàng, khi này đã là một mệnh phụ chín nẫu nhưng vẫn còn nần nẫn mùi đài các nét lẳng lơ, trước sự ngạc nhiên thán phục của báo giới, không buồn xỏ tay vào một chiếc váy cưới nào trong suốt gần một thập niên.

Người ta đồn rằng khi này, người đàn bà ắt đã cần cho mình một cánh tay không chỉ để vuốt ve cuộc mặn nồng, hay đưa ra để cho nàng khóc tạm cuộc hôn nhân trước đó. Nàng cần một cánh tay đàn ông có thể xây một tổ ấm, hay đúng hơn là một bến tàu vững chãi cho chuyến đò hồng nhan an tâm cặp bến.

Thế là nàng chọn Fortensky – một công nhân xây dựng tình cờ lọt vào đôi mắt tím tại viện Betty Ford Clinic, nơi nàng từng phải nằm điều trị chứng trầm cảm.

Một đám cưới linh đình như thể bù đắp gần một thập kỷ không cưới xin đã diễn ra tại dinh thự cổ tích Neverland của người bạn thân thiết nhất của bà – Vua Pop Michael Jackson. Hôn lễ cổ tích này đã tiêu ngoén của giai nhân với bề dày của cả tên lẫn tuổi này đến 1.5 triệu Mỹ kim. Cả thế giới lại được một phen ngóng dõi theo từng chi tiết diễn ra trong buổi lễ, với Vua Pop là người đại diện đàng gái để dẫn lối tân nương kì cựu đến bên bàn lễ. Michael đã thể hiện lòng trân trọng đối với vinh dự này bằng không chỉ một mà hẳn một đôi găng tay màu đen. Chàng tân lang “thợ xây tổ ấm” cũng được bà hoàng đa tình trang hoàng lộng lẫy với bộ tuxedo Versace cáu cạnh. Nhưng mọi sự chú ý vẫn hướng về cô đào đang độ hồi xuân, ngời ngời lộng lẫy trong bộ váy ren vàng mơ thêu viền đăng ten vỏ sò – một tuyệt tác couture của đại gia lịch lãm Valentino. Về sau, Valentino kể lại vớ Women’s Wear Daily rằng ông đã đề nghị hai giải pháp màu: xanh và tím, dựa trên màu mắt độc đáo của Liz, và một form dáng mảnh dẻ lịch lãm. Nhưng đóa hương sắc hồi xuân lại muốn sắc vàng rạng rỡ và một vẻ lãng mạn tột cùng cho bộ váy cưới thứ 8 của mình.

Đáng tiếc, tay nghề xây dựng của phu quân trẻ tuổi hẵng còn quá non như tuổi đời của chàng. Tòa lâu đài tình ái của họ chính thức sụp đổ chỉ 5 năm sau đó.

Lần cuối cùng người ta nghe nhắc đến anh chàng thợ hồ số đỏ là khi anh chàng bị bắt giam vì tội hành hung một người tình nào đó.

Những vị hoàng tử và những chú ếch

Hẳn nhiên, trong cuộc đời một người đàn bà, nhất là một người đàn bà đẹp, nàng sẽ phải hôn khoảng vài trăm con ếch cho đến khi một trong số chúng nổ bụp và biến thành hoàng tử để lấy làm chồng. Với bà hoàng đa tình của Hollywood và 7 chàng bạch mã hoàng tử của mình, người ta cũng có thể ước chừng số lượng những con ếch được hôn. Nói một cách dung dị hơn, là những cuộc phiêu lưu tình ái không kết thúc bằng hôn nhân và li dị.

Ngay cả cuộc hôn nhân “đầu tay” với hoàng tử ếch Hilton nghiện rượu, nàng Liz nhẹ dạ đã trải qua hai chuyến đính hôn mấp mé cặp bờ với người hùng thể thao Glenn Davis, người đã từng đoạt cúp Heisman Trophy và rạng ngời hạnh phúc đeo quả bóng vàng danh dự của mình quanh chiếc cổ kiêu sa của giai nhân mắt tím. Mãi đến sau này, chàng mới tẽn tò hay rằng trò hứa hôn chỉ là chiến thuật thân mẫu Liz dùng để PR con gái. Ngoài ra, đáng kể trong tình sử Taylor còn có chàng William P. Pawley Jr.,  – quý tử của ngài đại sứ Hoa kỳ tại Peru và Brazil. Chàng hứa hẹn với gia đình nhà Taylor cả một thế lực tài chính chỉ để chấp thuận cho rước nàng về dinh. Là một nhà công nghiệp cỡ bự và một nhà sản xuất phim, chàng hứa hẹn với chị gái Sarah Taylor cả một xưởng phim để lấy lòng. Tôn sùng tôn chỉ hôn nhân vì tình, nàng Liz vẫn quyết không buộc mình phải theo gót nàng Kiều. Sau khi đạo diễn phim Mogul là Howard Hughes tội nghiệp rời bỏ cuộc cạnh tranh dành bàn tay người đẹp, chàng Sơn Tinh hùng mạnh đã cầu hôn người đẹp bằng cách rải lên nàng cả một cơn mưa kim cương lóng lánh từ trực thăng. Nhưng ngay cả món voi chín ngà ngoạn mục này cũng không mua được lòng yêu của người đẹp đa tình.

Những chàng ếch khác không thiếu mặt những trang quân tử thời thượng của giới showbiz lúc bấy giờ, trong đó có cả huyền thoại Frank Sinatra, công tử hào hoa Henry Kissinger và cả Malcolm Forbes trong số những tên tuổi nam tử trải dài lấp lánh suốt đoạn hải hành của chuyến đò tình người đàn bà mắt tím.

Thực hư cuộc hôn nhân thứ 9

Những năm tháng về sau khuất dáng trên màn bạc, và sau cuộc phiêu lưu với chàng phi công số đỏ, như các minh tinh màn bạc cùng thời, Liz dốc toàn tâm lực vào các hoạt động từ thiện như một cách trả nợ nhân gian.

Trên khuôn diện mỹ nhân một thời vang bóng, ngay cả những chuyên viên thẩm mỹ hàng đầu thế giới cũng xuối tay bất lực trước những nét khắc vạch của thời gian.

Di chứng của thời thanh tân chỉ còn để lại chăng bệnh tim, các hội chứng về xương và chứng alzheima ác nghiệt khiến Liz phải chuyển dời ngôi vị từ ngai vàng nhan sắc để ngồi trên chiếc xe lăn.

Người ta không còn nhớ Liz. Người ta không còn thật sự nhìn thấy Liz nữa, bởi ống kính paparrazi đã quá quen thuộc với một Liz trong những tà áo cưới và vòng tay của một đức ông chồng mới.

Để Liz tái xuất, cần có một cuộc hôn nhân…

Hay chỉ vì Liz cần, dẫu một lần cuối, xỏ tay vào chiếc áo đã mặc vào trút ra trước đó những 8 lần.

Vậy là sau gần 3 thập niên vắng bóng hoàn toàn khỏi màn bạc, cũng như khỏi những hàng tít bình luận áo cưới của các tạp chí thời trang, người ta lại nghe tin đồn Liz, khi này đã gần 80 tuổi, lại sắp…kết hôn.

Người đàn ông có-vẻ-như là cuối đời của bà xuất hiện cùng Liz tại mọi cuộc lễ lạc từ thiện, âu yếm đẩy chiếc xe lăn, trên đó ngự huy hoàng khối thân hình đồ sộ của cô đào cụ từng một thời là người đàn bà đẹp nhất thế giới.

Và nếu câu chuyện thành sự thật và họ kết đôi, Jason Winters – tên của chàng, sẽ là người đàn ông da màu duy nhất trong bộ sưu tập các mẫu đức lang quân của Liz Taylor.

Đến nước này, các hàng tít báo lá cải đã phải thốt lên ngao ngán “Không phải vậy nữa chứ, Liz?” (‘Knot’ Again, Liz!).

Hầu hết bạn bè thân tín của cả hai đều cho rằng đây chỉ có thể là tin đồn nhảm. Liz chơi thân với cả Jason và Erik Sterling qua những hoạt động từ thiện, và giữa họ chỉ có thể là tình bạn.

Nhưng chính bà hoàng tình ái cũng bóng gió ám chỉ việc sửa soạn kết hoa lên chiếc xe lăn của mình qua một vài cú update mập mờ trên Twitter.

Cùng lúc, nữ chủ nhân của hai giải Oscar dành cho phim Who’s Afraid Of Virginia Woolf và Butterfield 8 cũng bộc lộ tham vọng vai trò hiện thân nữ minh tinh quá cố Norma Desmond trong một dự án bạc tỉ, tái dựng lại huyền thoại điện ảnh thập niên 1950 SunsetBoulevard. Các ứng viên sáng giá của vị trí này lúc bấy giờ là Glenn Close, Meryl Streep và Barbra Streisand. Trong cuộc cạnh tranh tài sắc này giữa các nữ kì phùng địch thủ, còn là cuộc “đọ rating” gay gắt mà vũ khí sở trường của Liz vẫn luôn là những đám cưới ồn ào (hay ít nhất là tin đồn về một đám cưới hứa hẹn sẽ ồn ào!)

Vậy là cả một kế hoạch tỉ mỉ được dàn dựng và thiết lập bởi ê-kíp PR sừng sỏ nhất Hollywood – Liz phải tái xuất. Không rõ có vì một trùng lặp ngẫu nhiên, đây cũng là thời điểm Dame Elizabeth (danh vị “dame” do nữ hoàng ban tặng vào năm 2000) bắt đầu có những hình ảnh xuất hiện đầy âu yếm bên ngài Jason Winters có nụ cười quảng cáo kem đánh răng Hypnos.

Người ta bắt đầu thấy xuất hiện nhan nhản trên các tạp chí vịt ăn cải hình ảnh Miss Taylor gần 80 chục tuổi, trông như thuồng luồng trong bộ đồ người nhái được thả xuống biển để…tung tăng chơi với cá mập tại bờ biến Hawaii như một bằng chứng lạc quan về tình trạng sức khỏe của mình.

Lần khác, người ta lại thấy hình ảnh người đã từng một thời là bà hoàng màn bạc bước lên chuyên cơ riêng, mình mặc bộ đồ thùng thình theo kiểu hiphop, trên cổ nhì nhằng những món xích nhợ lòe loẹt vui mắt, trông không khác gì một hiện thân khổng lồ nhão nhoét của Ali G. Trong tiếng thét thống thiết của giới thời trang, “bà hoàng tình ái” đội trên đầu chiếc mũ lưỡi trai nhí nhố – tác phẩm bụi phủi của hip-hop designer Ed Hardy.

Túc trực quanh hồ bơi của bà tại dinh thự ở Los Angeles là cả một đội quân hướng dẫn viên thể hình thuộc hàng thiện chiến nhất luôn túc trực trong cuộc đấu tranh chống phá mỡ thừa.

Bà cho vời đến những thầy mo thầy cúng nổi tiếng nhất để nhờ linh hồn Maltese Terrier Sugar tư vấn, hoặc để xua đuổi tà ma mà bà tin là của người chồng thứ hai – tài tử Ăng-lê Michael Wilding đang ám ngôi biệt thự của bà tại Bel-Air.

Không rõ chàng Wilding năm xưa có vì thương tưởng mà vẫn năng thăm viếng tình nương từ cõi vô thường, hay bởi vai diễn đòi hỏi một cấp độ rating thượng thừa mà Liz không thể đáp ứng được với 30 năm tuyệt nhiên không tái xuất, nhưng rõ ràng, các tay sừng sỏ của Paramount Pictures đã chịu thuyết phục rằng Liz – từ cát bụi lãng quên, nay đã thật sự tái xuất, ồn ào như xưa, hoàn toàn xứng tầm thủ diễn vai trò của ngôi sao quá vãng trong Sunset Boulevard.

Đó đã là cả một cuộc vận động ứng cử thật sự.

Ngay cả những bạn bè thân thiết nhất của Liz cũng hiểu, nàng muốn tung đồng xu may rủi lần cuối để chờ lóe lên huy hoàng lần cuối ánh hào quang nghệ thuật và danh vọng.

Nàng muốn lên đỉnh một lần cuối, và sẽ nằm mãi trên đó.

Người ta thậm chí còn cho rằng Winters có nghi vấn về giới tính. Quả tình, ngoài những người tình và các ông chồng, những người đàn ông thân thiết nhất quanh bà đều là giới đồng tính. Liz và Jason đều có những bạn bè chung trong giới đồng tính thượng lưu ở Hollywood. Thậm chí tất cả ê kíp trợ lí, chuyên viên cho đến phục vụ của bà tại biệt dinh đều là dân đồng tính.

3 năm trước đó, người làm vườn của Liz đã tố cáo việc bà sử dụng người phục vụ đồng tính của mình là Jean-Luc Lacquement, trẻ hơn Liz những 40 tuổi, làm “nô lệ tình dục”. Trước tòa, Jean-Luc ví “nghĩa vụ tình dục” của mình với việc “nhún mình trên chiếc đu cũ cót két”

Trong khi đó, sự thân mật giữa Jason và Liz thậm chí đến mức ông cho thiết kế lại một phần biệt thự ở Hawaii của mình riêng cho Liz với y tá túc trực và mọi tiện nghi xa xỉ nhất. Tuy vậy, sự âu yếm quan tâm ấy vẫn chưa đủ thuyết phục người ta tin rằng đó là dựa trên động lực ái tình.

Không ai chịu quên rằng bà đã lão luyện trong làng giải trí hơn 6 thập niên, không ai có thể biết nhiều hơn Liz về cách làm thế nào để nổi tiếng (trở lại!)

Chiếc váy cưới duy nhất Liz chưa mặc

Mặc dù chính Liz phủ nhận tin đồn hôn lễ với Jason, người ta liên tục nghe xì ra đâu đó những thông tin rằng stylist riêng của Michael Jackson là Keith Holman sẽ kết hợp cùng nhà thiết kế nữ trang Chritian Tse để làm nên chiếc turban nạm kim cương trị giá 3 triệu Mỹ kim cho nàng dâu kì cựu. Liz muốn chiếc vương miện cô dâu lấp lóe viên kim cương 30 carat giữa đỉnh và viền mỗi bên là chẵn chịu 40 viên màu vàng hoàng yến. 12 nghệ nhân hàng đầu sẽ cùng tác tạo nên tuyệt phẩm lạnh lùng này.

Chiếc váy cưới thứ 9 của giai nhân mắt tím cũng do đích thân Holman thiết kế theo kiểu kaftan siêu xa xỉ với màu hợp cùng chiếc vương miện.

Nàng cùng tân lang trẻ hơn mình 29 tuổi dự định sẽ giao lời thề nguyện đến khi răng long (ắt họ có thể bỏ qua lời nguyền đến khi đầu bạc) trước khoảng 200 khách mời.

Nhưng Jason Winters đã vĩnh viễn chậm chân.

Chiếc vương miện trứ danh nọ, cho đến nay, vẫn không một ai được nhìn cho mãn nhãn, ngày đôi mắt tím duy nhất trên thế giới vĩnh viễn khép lại – ngày 23 tháng Ba 2011, sau 8 cuộc hôn nhân và 54 bộ phim vào một ngày thứ tư, sau khi con tim đong đầy tình ái ấy chịu khuất phục trước thời gian và chứng trụy tim.

Buổi chiều của nữ hoàng tình ái đã buông màn trước khi có thể chờ ánh hào quang của Đại lộ Hoàng hôn

Và chàng ếch cuối đời đã không trở thành hoàng tử để dìu nàng (theo nghĩa bóng lẫn đen) cặp bến hôn nhân.

Tử thần nắm giữ con tim nàng, cướp đôi ngọc tím trên mắt nàng làm của riêng vĩnh viễn. Cát bụi làm người tình cuối, ôm vào lòng và chôn sâu mãi mãi vóc hài huyền thoại nhan sắc của nhân loại, trên mặt đất chỉ còn lưu dấu giai nhân những truyền thuyết ái tình, những thước phim kinh điển, 4 người con, 10 người cháu và 4 đứa chắt mang dòng máu những người đàn ông khác nhau.

Khi được hỏi bà muốn khắc gì trên mộ chí của chính mình, bà trả lời “Nơi đây an nghỉ Elizabeth. Nàng ghét bị gọi là Liz. Nhưng nàng đã sống.”

Đương nhiên rồi, Liz ạ, đương nhiên là vậy rồi!

quỷ cái tóc vàng hoe

Trác Thúy Miêu

Ngày 15 tháng bảy, 1997, bên ngoài dinh thự Versace Mansion, hay còn có tên là Casa Casuarina tại Miami, Gianni Versace ngã gục dưới lằn đạn kẻ cuồng sát.

Thảng thốt và hoang mang, mọi sự chú mục đổ dồn vào chiếc ngai nhà Versace hẵng còn ấm hơi Gianni.

Ai có thể ướm vừa chiếc ghế tột đỉnh của một triều đại gia đình trị cường thịnh và chuyên chế như Versace?

Kẻ hậu duệ nào sẽ ghi dấu sáng tạo lên khúc khải hoàn ca của logo nữ thần đầu rắn?

Bất cứ bàn chân nào cũng sẽ quá nhỏ bé để đặt lên dấu giày Gianni, huống hồ chi đó là bàn chân của một người đàn bà – nàng Donatella Tóc-Vàng-Hoe (hỗn danh sau khi Gianni dành tặng dòng nước hoa Blonde cho cô em gái út hồi thập niên 1980.)

Phía sau một vị vua băng hà luôn là một kẻ thừa tự, và theo trong di chúc của Gianni, đó là con gái của Donatella, Allegra Versace. Theo di chúc, Allegra sẽ sở hữu 700 triệu Mỹ kim của ông bác Gianni vào đúng sinh nhật tròn 18 tuổi, cùng với tòa biệt thự khu Lake Como danh giá nhất Manhattan.

Tất cả những điều đó có nghĩa là một món quà sinh nhật quá đỗi đồ sộ của người bác ruột hào phóng cho tiểu thư Allegra, cũng đồng nghĩa với việc bà Donatella phải đứng ra thay vị nữ ấu vương cầm quyền nhiếp chính.

Dona Tóc-Vàng-Hoe cáng đáng trị vì ra sao, người ta biết đến qua hình ảnh Fabia do Gina Gershon thủ diễn trong series truyền hình Ugly Betty mà không một fashionista có lương tri nào không biết đến.

Một “quỷ cái” làng thời trang chính hiệu.

“Muốn tỏ ra thông minh, đi mà làm khoa học!”

Không chỉ thừa hưởng của Gianni một đại cường quốc thời trang đang hồi thịnh trị, Donatella còn thừa hưởng uy tín và lòng mến mộ, mối quan hệ thân tình từ những celebrity hàng thượng thừa showbiz thế giới. Ngay từ ngày nhậm chức tổng lãnh, bà Tóc Vàng Hoe đã lập tức cùng chồng cũ là cựu người mẫu Paul Beck khai thác triệt để các mối quan hệ này cho mục đích PR. Từ đó, Versace là nhà thời trang đầu tiên khởi trào mốt tận dụng các celeb thượng thặng để trình diễn các bộ sưu tập hơn là những cô em model vô danh mỏng mảnh. Chiêu thức đã đạt hiệu quả mỹ mãn, hình ảnh và uy tín Versace sau cái chết của Gianni lại càng rầm rộ trên mọi kênh thông tin, tại mọi sự kiện thảm đỏ đáng quan tâm nhất, từ châu Âu đến Hoa Kỳ. Người ta không thể không nhận ra phong cách Versace được khoác lên mình những bạn bè mật thiết nhất của anh em Gianni-Dona: J.Lo, Madonna, Christina Aguilera, Johathan Rhys Meyers, Demi Moore. Đặc biệt, Beyonce và January Jones được ưu ái chọn là hai khuôn mặt đại diện cho hình ảnh quyền lực Medusa của đại gia Versace.

Donatella Versace than vãn rằng công nghệ biểu diễn thời trang ngày nay “không có đủ sự hãnh tiến”, và bà cho rằng đã đến lúc quay trở về thời kì của các đại nữ catwalk, những supermodel đúng nghĩa, cưỡi đầu con sóng runway và “celebrity hóa” cả một tập hợp những cô mannequin lờ đờ vô danh phi cá tính.

“Đây chính là thời điểm tồi tệ. Đây chính là lúc người ta cần một điều gì đó, trội bật, có cá tính. Người ta cần nuôi dưỡng lòng hãnh tiến của những cô gái này, để cho nền thời trang một ai đó chí ít như Kristen trước đây – hãnh tiến điên cuồng và lộng lẫy hớp hồn…”

Tư tưởng này của Donatella không nằm ngoài trường phái catwalk của Gianni trước đây. Ông đã là nhà thiết kế đánh dấu cho kỷ nguyên của những supermodel thế giới. Show Fall Winter 1991 về sau được coi là cột mốc huyền thoại, một sự kiện không chỉ của ngành công nghệ thời trang, mà là một đại lễ tôn vinh những “nghệ sĩ chân dài” thực thụ.

Donatella hồi tưởng “Lúc mà anh tôi đặt cùng lúc lên runway những Christy, Linda, Cindy và Naomi – họ cùng nhau hát bản Freedom, với George Michael ngồi ngay hàng đầu, đó đã là một khoảnh khắc làm nên huyền thoại, khi mà siêu mẫu thật sự trở thành những siêu nhân vật – lộng lẫy, xa vời và được tôn vinh, ca tụng. Đó còn là cuộc tái chiếm sàn runway của các người mẫu ảnh, khi mà vào thời đó, người mẫu ảnh hầu như chỉ làm việc với photographer trong studio, người mẫu trình diễn thì chuyên làm việc với đạo diễn ngoài catwalk. Nhưng những siêu mẫu, họ sáng rực, và càn quét mọi lãnh địa.”

Donatella tự nhận mình đã là vị quân sư cho anh trai, khích lệ ông tái dựng và tận dụng hình ảnh supermodel: “Hồi đó, các nhà thiết kế không ưa các cô mẫu nổi tiếng. Họ sợ hình ảnh cá nhân của người mẫu có thể lấn át trang phục, họ sợ rằng người ta xem người mẫu nhiều hơn là quan tâm đến thời trang. Tôi đã bảo anh Gianni ‘Đừng sợ như bọn ngốc ngoài kia. Danh tiếng kết hợp cùng danh tiếng sẽ chỉ cho anh một vụ bùng nổ tiếng tăm!’ Nó nhuộm sắc màu cá tính lên chính bộ trang phục, supermodel đủ giỏi và trội bật để góp phần song tác cùng designer. Mọi runway show đều cần những màu sắc như vậy, đó là khi màu sắc của sự sống, của những nhân vật yêu kiều và phù phiếm, được tác hòa cùng sắc màu của chất liệu mỹ thuật, của thiết kế. Bằng không, một show diễn sẽ lê thê phát ngán.”

Bà cho rằng tính cách Ý không bao giờ dung nạp được những điều bị coi là nhàm chán. Tóc Vàng Hoe chọn nghiêng về thái cực màu mè, nơi mọi thứ có thể chỉ là ánh hào quang nhân tạo cảnh vẻ, nhưng lộng lẫy và thu hút: “Ngày nay, người ta ưa trường phái tự nhiên. Những cô model được trang điểm nhẹ, tóc tai không cầu kì, phong cách diễn trơ lạnh không chút biểu cảm,… Ngốc thế. Cứ như thể người mẫu là phải xuất hiện một cách lầm lì, vô cảm, và thậm chí là quá nghiêm cẩn thì mới mang lại cho show diễn cái vẻ văn hóa chuẩn mực và chuyên nghiệp vậy. Nhưng bản chất người mẫu và thời trang không phải là như thế. Từ trong cội rễ, thời trang là sự sinh động đầy giá trị tiêu khiển. Phụ nữ mặc thời trang để cảm thấy đẹp hơn, vui thú hơn với bản thân, chớ nên bao giờ quên điều đó. Nếu bạn tách sự thú vị ra khỏi thời trang, nó chỉ còn lại bộ quần áo – một thứ sản phẩm có chức năng giữ ấm và che thân, rõ ràng một nền văn minh không xa lắm thời hồng hoang,” và Đại nữ Tóc Vàng Hoe đế thêm, không hổ danh đàn bà Ý “Này, nếu muốn tỏ ra thông minh mô phạm, đi mà làm nhà khoa học. Tôi không phải là một nhà khoa học.”

Cú trở mặt của “hảo hữu” Donatella

Mặc tình với mọi mối quan hệ mật thiết với giới showbiz, bà Tóc Vàng Hoe cũng phản ứng rất nhanh với thái độ khinh thị khi những “bạn bè hảo hữu” này có ý định đổ bộ vào lãnh vực thiết kế để lánh thân khi về vườn.

Trong một cuộc nói chuyện với phóng viên tờ Reuters, Donatella cho rằng một ngôi sao nhạc pop có thể rêu rao rằng mình vừa thiết kế ra một dòng thời trang nhảm nhí nào đó, nhưng một thương hiệu thời trang hàng đầu thì cần nhiều hơn là một vầng hào quang vô thực để duy trì thế thượng phong.

Phải chăng liệt nữ Tóc Vàng Hoe đang tự mâu thuẫn với chính chiến thuật quen tay bấy lâu của mình?

Chẳng phải nhà Versace đã vang danh là một đế chế “làm nên” trào lưu siêu mẫu, được xây dựng trên những mối quan hệ mang màu thảm đỏ?

Madonna, Beyonce và Victoria Beckham đều tự phong mình là những nhà thiết kế tân thế hệ, dẫn đầu trào lưu “chuyển hướng ngành nghề” của nhiều hậu duệ, trong đó có Taylor Swift với cuộc phiêu lưu vào lãnh địa vốn xưa nay đã có những nhà thời trang chuyên nghiệp cỡ Versace xưng hùng xưng bá.

Đối mặt với cuộc xâm thực của những “bạn bè” cũ vào lãnh địa thời trang, liệt nữ Tóc Vàng Hoe nhà Versace ngọt nhạt và kẻ cả lên tiếng, cho rằng “đó có lẽ chỉ là trò tiếp thị. Hầu hết các bộ sưu tập của họ đều nhắm vào thị phần dưới trung lưu, ắt hẳn có fan hâm mộ của họ trong đó. Với một thị phần như vậy, không cần quá nhiều sức sáng tạo để bán hàng đâu.”

Donatella, kẻ từng thừa hưởng từ người anh quá cố những mối bạn bè thâm giao cùng những sting, Elton John và Jennifer Lopez, còn cho biết rằng bà không mảy may bận tâm đến cuộc đổ bộ rầm rộ của giới showbiz về vườn vào lãnh địa thời trang, bởi “Họ không là thân chủ của Versace, và cũng không là đối thủ. Thị phần của Versace là các ngôi sao thực thụ.”

Gần 20 năm kể từ bộ sưu tập đầu tay, và cũng ngần ấy năm trang hoàng cho những ngôi sao, Donatella thừa biết rằng “sự hào nhoáng của cuộc đời ngắn ngủi của một ngôi sao chỉ đủ để làm chất liệu sáng tạo cho những bộ sưu tập phản ánh lại tủ quần áo cá nhân của chính họ. Người ta phải cần được sống trong một thế giới thực, giữa những nguồn xung động có thực của đời sống để mà từ đó phát sinh ra sáng tạo.”

Hẳn nhiên, từ khi ra tay nhiếp chính nhà Versace, cuộc đời Tóc Vàng Hoe đã không chỉ có tiệc tùng và những cuộc giải phẫu thẩm mỹ miên man. Cú shock tài chính đến tưởng như phá sản hồi 2004 đã xây dựng cho bà một sự chín chắn đuổi kịp những nếp nhăn mà số phần vương giả không xóa mờ được.

Tóc Vàng Hoe nhập vai Thánh Mẫu Hậu Đài

Dù bị phủ nhận vai trò lăng-xê và mất việc vào tay những ngôi sao làng showbiz, giới người mẫu thời trang vẫn mang ơn Versace dưới triều đại Gianni – người ta coi ông là ‘tổ nghiệp danh dự’ của các siêu mẫu. Gianni Versace đã là một trong những nhà thiết kế tiên phong cho cuộc cách mạng “thánh hóa” vai trò người mẫu lên hàng những ngôi sao runway, và từ đó hình thành nên một tầng lớp thượng tầng catwalk, những siêu mẫu.

Sau khi ông mất, giới thời trang có một bà Tóc Vàng Hoe đứng lên ‘vén màn sự thật’ về thời kì cách mạng siêu mẫu này, rằng chính bà, ở vai trò quân sư của anh trai, mới là kẻ đã thai nghén và thực hiện ý tưởng đó.

Tiếp nối sau khoảng thời gian đáng nhớ của những tên tuổi cựu trào Naomi Campbell, Cindy Crawford, Christy Turlington và Linda Evangelista, nhà Versace lại bắt tay vào công cuộc “celeb hóa” những đợt siêu mẫu hậu duệ. Gần như phủ nhận hoàn toàn danh tiếng của những cô gái vàng làng thời trang, Donatella từ nhận mình (hay nhà Versace) là nhân tố o bế thánh hóa những tên tuổi như Kate Moss, Kristen và Amber Valletta “Ban đầu Kristen và anh tôi không ưa nhau lắm. Cô ấy điên khùng, còn Gianni thì không chịu đựng nổi những trò gấu ó liên tiếp xảy ra giữa Kristen và Linda. Bao nhiêu là chuyện, như phim truyền hình nhiều tập không đoạn kết vậy…Một bữa nọ, Kristen và Linda cùng  xuất hiện với mái tóc nhuộm vàng nhưng chân tóc màu đen, cả hai cô làm ầm lên chuyện ai bắt chước ai. Thật mà, đối với giới người mẫu, chuyện cọng tóc, thậm chí cái chân tóc cũng thành chuyện lớn. Họ gọi đến thợ làm tóc, thợ nhuộm tóc, rồi lôi tôi ra làm chúng để xem cô nào mới thật sự là tiên phong cho cái mốt tóc hai màu này. Vào thời đó, thật ra, Steven Miesel mới thật sự là người sáng tạo ra mốt tóc đó, mà Kristen là khách hàng của anh ta, và như vậy, Kristen thắng cuộc. Vậy đó, cứ mỗi lần xuất hiện một khuôn mặt mới là y như rằng có chiến. Chuyện ‘ma cũ ma mới’ thường tình.”

“Chuyện thường xảy ra nhiều nhất là trong hậu đài, các cô cũ mới cứ gọi là loạn ngậu lên. Linda phải ra sàn diễn, đang chuẩn bị nhồi nhét mấy miếng đệm ngực thì phát hiện ra mất một chiếc. Cô ấy gào ầm lên, lải nhải mãi một câu ‘Cái ngực bên kia của tôi đâu rồi? Ngực tôi đâu rồi?’ Tôi nghĩ Kristen chơi trò đó, vẫn luôn là Kirsten. Gianni phản ứng ra sao à? (Bà đổi giọng nhái giọng thì thào cáu tiết của ông anh mình) ‘Đấy, em thích mấy vụ điên khùng này chứ gì? Thì đấy, đi mà lo cho họ!’ Tôi bị mắc kẹt chính giữa, loay hoay lùng nhùng giữa đám người mẫu nhiễu sự và ông anh nổi cọc. Thế rồi mọi chuyện cũng đâu vào đó, giờ họ đều là hình tượng thời trang hết rồi: Kate, Amber, Kristen, ngôi sao tuốt tuột.”

“Nguyên tắc hay thủ thuật của tôi đơn giản lắm: không bao giờ mảy may ý định thay đổi các cô ấy. Họ là bất khả thay thế, và để được như vậy, bản thân họ phải tự khẳng định hình ảnh trội bật riêng của mình. Tôi tôn trọng mọi cá tính. Như Kate chẳng hạn, cô ấy 16 tuổi khi tôi book cô ấy cho Avedon. Kate bị đặt vào một ổ toàn ma cũ thứ dữ, cỡ Linda và Kristen. (Bà thu mình nhái giọng lí nhí của Kate hồi tuổi teen) ‘Con xin phép ra ngoài mua điếu thuốc nhé?’ ‘Không, ngồi yên đấy – để tôi đi mua cho!’”

“Giờ đây, tôi lại sắp chụp cho một chiến dịch quảng cáo mà tôi rất hài lòng hãnh diện mùa Xuân Hè này. Lần này là với  Georgia Jagger, do Mario Testino chụp. Vụ này sẽ hay đây!”

Bộ sưu tập Xuân Hè 2010 mang của nhà Versace quả đã rất “hay”. Donatella đã tung lên sàn diễn những thiết kế thuần chủng Versace, một nỗ lực để vượt khỏi cái bóng lấn át của ông anh thiên tài bằng kỹ thuật “phục chế” những họa tiết in nổi tiếng của Versace dưới một hình hài tân tiến, đầy sinh lực và cực kì hợp thời.

Điên rồ, lòe loẹt, và lạc quan không khoan nhượng!

Một năm trước đây, những thiết kế của Donatella đã xuất hiện trên f. như một chiến thắng vinh hiển thật sự của kẻ kế nghiệp Gianni – một tinh thần lạc quan không khoan nhượng của Tóc Vàng Hoe, một khởi đầu màu kẹo ngọt cho chặng đường tân thế hệ.

“Để tồn tại trong giới thời trang, bạn phải triệt tiêu được nỗi sợ, đặc biệt trong bối cảnh chung đầy khủng hoảng và những vụ sụp đổ như hiện nay. Đây mới là lúc để chính bản năng sinh tồn cứu lấy mình, đứng lên và làm một điều gì đó khác biệt, thậm chí khinh suất. Lối mòn cũ đang bị đe dọa, đứng chết trân vì sợ hay mở lối mới thoát khỏi lối mòn, bạn tự chọn lấy. Bộ sưu tập này mang trong nó một sinh lực, tôi cảm nhận được điều đó, bởi từ khi thực hiện phác thảo, tôi trang bị cho mình một tâm thế hoàn toàn tự tại và lạc quan, và điều này đã thể hiện trên các thiết kế, tôi tin chắc sẽ thể hiện trên những báo cáo tài chính của chúng tôi.”

“Tôi đã chọn câu chuyện Alice in Wonderland làm nguồn cảm hứng, đặc biệt là trên các họa tiết in. Có những hình ảnh, chi tiết đặc thù của câu chuyện này, con thỏ với cái đồng hồ chẳng hạn – đó chính là thế giới của Versace: điên rồ và đa sắc!”

Sau bàn thắng màu kẹo ngọt cùng tư duy lạc quan không khoan nhượng ấy, Donatella Versace chính thức được thừa nhận là một luồng sinh khí trẻ trung, đầy tính thực dụng – điều khi này đang rất cần như một luồng kháng thể cho vận mệnh nhà Versace trước nạn đại dịch phá sản của thời trang lí tưởng haute couture.

Với nền thịnh trị kiên cường bất chấp sự lung lay đầy đe dọa của thời trang cao cấp thế giới, những review ca tụng trên khắp các kênh thông tin, và với cả khuôn mặt quái dị đỏ quạch màu nắng St.Tropez, bị biến dạng bởi những cơn nghiện thẩm mỹ đến tuyệt vọng, cùng với lối sống vương giả, đại nữ Tóc Vàng Hoe thật sự trở thành một nhân vật được báo giới đặc biệt ưu ái như một hiện tượng quái nhân điển hình sặc mùi showbiz của làng thời trang.

Bà là vế đối lập của huyền thoại lịch lãm Chanel.

Ngai vàng của bà chỉ là một thứ quyền vay lực mượn.

Sự phú quí của bà cũng chỉ là cái kén ấm áp từ vong hồn người anh trai tài hoa hào phóng.

Uy tín xã hội của bà giữa giới celebrity cũng được thừa hưởng từ Gianni.

Đến ngay cả hỗn danh Tóc Vàng Hoe cũng xuất phát từ một thứ màu nhuộm giả hiệu.

Ở bà, không có lấy một hơi thở nào, một chi tiết nào trên hình hài phong mạo là có vẻ đường hoàng nghiêm cẩn chi cả. Ngoài lòng hãnh tiến và tham vọng gánh vác đế chế mang khuôn mặt nữ thần tóc rắn, thì tất cả những thứ khác về Donatella, thuộc tính Donatella, đều…to ngoại cỡ. Bà ồn ào, vồn vã đến bị coi là sỗ sàng, mái tóc vàng chóe bất thường, đôi môi tều ra bởi silicon và nước da bị rán vàng quá tay ngoài những bãi biển St.Tropez. Như chính logo nữ thần Medusa, từng sợi tóc, từng vẻ mặt dáng điệu của Donatella cũng hét lớn “Đừng giỡn mặt với bà!” – một thứ uy quyền nạt nộ và lấn át. Nhưng ngay khi Donatella mở miệng, lại là một tràng liến thoắng không rõ lời, đặc sệt âm sắc Ý, và những tràng cười hể ha khanh khách, đôi khi bị cho là một lòng suồng sã gượng gạo lây nhiễm từ môi trường showbiz. Nói chung là không có bất cứ thứ gì hoàn toàn tự nhiên từ Donatella, không đến mức giả trá, nhưng tất cả đều bị cường điệu đến rối rắm và ồn ào, đến từng sợi tóc.

Bản thân Vàng Hoe là một tượng đài khăn khố, với khuôn diện là một cặp môi mũi sưng phồng nằm trên một bộ tóc to. Tất cả lô xô chen chỗ trên một hình hài hạn chế của một sinh linh. Có lẽ so với người anh trai thiên tài, Donatella đại diện nhiều hơn cho sắc màu và phong cách nhà Versace, tuy khó lòng gọi bà là một giai nhân, Donatella có đầy đủ tố chất ngoại hình của một nhân vật hoạt hình nặc nồng thái độ.

Dư luận nhún vai: “Lại một sinh linh tội nghiệp thêm vào cho thế hệ những con nghiện dao kéo!”

Tuyệt vọng chống trả tuổi tác và ngoại hình khá mờ nhạt, Tóc Vàng Hoe đã trải qua triền miên các lần nâng da mặt cho đến khi các mặt cứng đơ vì bị lèn chặt dưới lớp da bị kéo căng như mặt trống, phía trên là một đôi môi tều hẳn ra ngoài, nặng trĩu silicon, cùng chiếc mũi như nhảy chồm ra khỏi khuôn mặt. Bà có chân dung như một bức tranh biếm họa, điều duy nhất không buồn cười ở đây là đó là người thật, nên thậm chí có phần gây kinh sợ. Tất cả những điều đó góp phần khiến tiếng tăm Donatella càng thêm lừng lẫy bởi sự góp mặt trong Top 10 ca giải phẫu thẩm mỹ quá tay trên thế giới.

Khi được một phóng viên cắc cớ hỏi liệu có bao giờ bà sẽ quyết định thôi nhuộm tóc và hé lộ màu tóc tự nhiên của mình, Donatella rùng mình, liến thoắng trệu trạo bởi đôi môi nặng trĩu silicon “Tự nhiên? Tự nhiên cái gì? Tôi không tin vào cái thể loại đàn bà thuần túy tự nhiên 100%. Nhảm nhí! Đối với tôi, tự nhiên là một phẩm chất của thức ăn, rau chẳng hạn, chứ không phải là của mặt hoặc tóc.”

Tóc rắn, tóc vàng và tóc bạch kim

Hình ảnh quen thuộc tuy không ngừng tự biến dạng của Lady Gaga trong video Edge of Glory, với bộ corset và dây lưng to bản lấy từ bộ sưu tập cuối cùng của Gianni, đến bộ dạng của Donatella trong mái tóc hoe vàng, mình mẩy bó giò trong kiểu váy da bó sát người, đóng dát nhì nhằng bù loong con tán, đã làm nên một cặp đôi nữ quyền cho lãnh địa ca nhạc và thời trang, đáng mặt tín đồ và tông đồ của thương hiệu nữ thần đầu rắn.

Donatella cũng khẳng định rằng mối thân tình mật thiết với Nữ hoàng Làm Quá Gaga cũng là một quân bài lợi hại khi tờ Thời báo New York đăng tải bài viết phơi bày hệ thống quyền lực và danh dự trong việc bố trí, sắp đặt tại một fashion show, từ vị trí đường dây catwalk, cho đến những vị trí danh dự trên dưới trước sau của hàng ghế đầu. Tất cả được phơi bày như một thế trận cờ người của trò chơi quyền lực: “Tất cả mọi người đều tò mò muốn biết ai sẽ được xếp chỗ ngồi ngay cạnh Gaga.” Vào những ngày này, thường đó sẽ là chỗ của Donatella Versace, và danh tiếng như cồn của Gaga sẽ quyết định cho danh dự và uy tín của cặp mông vinh dự được đặt trên chiếc ghế cận kề.

Cao hơn cả vinh dự và hiệu ứng PR của việc cặp kè thân thiết với Nữ hoàng Làm Quá, Donatella không ngừng phủ sóng giới celebrity bằng những thiết kế có khả năng thét to thương hiệu Versace một cách tròn vành rõ chữ nhất, tuân thủ tuyệt đối phong cách chủ đạo của nhà Versace từ những năm 1980: gợi dục với chủ trương bạo lực. Bất cứ fashionista mới nhập môn nào cũng phân biệt được tinh thần Versace qua những logo đầu Medusa, thiết kế trên da hoặc simile đen, những màu chói đậm chất Ý, và đặc biệt là bất cứ cấu trúc thiết kế nào để phù hợp với những đôi trường túc đi boot cao. Đó là Versace, Gianni đã khẳng định và Donatella đang tiếp nối, sẽ luôn là như vậy!

Mối thâm giao bồ tèo với Gaga đã giúp Donatella một lần nữa hồi sinh cho bản tuyên ngôn phong cách Versace. Dân tình nội giới thời trang đồn rằng bà đã gửi một bức thư cho Gaga, với lời lẽ đại loại rằng bà tin rằng nếu anh mình còn sống, ông sẽ rất muốn xem thần tượng âm nhạc thượng đẳng tân thời này là “nàng thơ” và thân chủ. Lời ve vuốt đã đạt hiệu quả như ý, Gaga hãnh diện và hào hứng diện những bộ vintage nhà Versace khi chụp bìa tờ Harpers Bazaar, đặc biệt ưu ái những bộ leggings và bouse lụa in họa tiết sặc sỡ. Ngược lại, Donatella tiếp tục tắm tưới ngôi sao đa chiêu nhưng hảo ngọt bằng những lời tán tụng hào phóng đặc sệt chất hoa mĩ cải lương Ý, và đương nhiên là cả những thiết kế độc bản hào nhoáng dị thường nhất, nguyện làm ngọn đại phong nâng cánh chim bằng cho nữ hoàng Làm Quá luôn duy trì đỉnh cao phong độ trong cuộc đua ồn ào hào nhoáng của showbiz.

Tình bạn Tóc Vàng Hoe và Làm Quá đã thật sự trở thành một cuộc khắng khít thêm vây cho rồng. Với chiến thuật “tất cả cùng thắng” của nữ nhiếp chính đa mưu, danh tiếng nhà Versace lại một phen đại hùng bá, song song với những tiếng trầm trồ vô điều kiện luôn cất lên sau mỗi bộ trang phục mới của Nữ Hoàng Làm Quá.

Thần nữ Medusa giá rẻ

Đế chế thời trang cao cấp đang chăm chút cho bộ vía quái nhân làm quá Lady Gaga và còn bắt tay cùng đại gia thời trang sỉ lẻ H&M để tung ra dòng thời trang high-street. “Tận thế rồi!” là tiếng tán thán của những tông đồ thời trang chuyên chính, khi Tóc Vàng Hoe như đang tham dự cuộc đấu giá điên cuồng để mua về cho mình cả thế giới.

Quyền lực Medusa còn tràn xuống đến tận tầng thời trang đường phố, với sự kết hợp giữa nữ nhiếp chính Vàng Hoe và tập đoàn “thời trang sỉ lẻ” H&M để tung ra dòng thời trang high-street đại trà bình dân loảng xoảng zipper đinh tán và simile giả da, với cơn sốt được dự kiến khởi phát từ những gian hàng rải khắp New York.

Quyết định “bình dân hóa” thương hiệu qua sự hiệp thông cùng hãng H&M, cách đó chỉ 3 năm, còn là điều không tưởng đối với Donatella. Chính bà đã từng cho rằng đẳng cấp của Versace nếu đi vào thị trường thời trang đường phố sẽ gây nhiễu sóng thị phần mục tiêu – tức thị phần fashionista xa xỉ. Nhưng một lần nữa, hiệu ứng “win-win” lại chứng tỏ uy lực của nó đối với cơ đồ tài chính nhà Versace qua bài học của nhà thiết kế Matthew Williamson.

Năm 2009, khi thiết kế dòng high-street cho H&M, Matthew Williamson đã không khỏi ngờ vực hiệu quả thương mại của chủng hàng ít nhiều hơi hướm bình dân này tại các cửa hiệu của mình. Liệu các quý bà thượng lưu có còn muốn tới lui một chốn cung cấp thứ thời trang xa cạ cho những tay shopper mỏng thẻ? Liệu họ có chấp nhận chi trả gấp 10 lần cho cùng một nhãn hàng có thể được mặc bởi bất cứ ả “nobody” nào đó trên đường? Kết quả đã là một vụ mùa béo bở bất ngờ, tác động trực tiếp và đẩy doanh số dòng hàng cao cấp lên một cách chóng mặt.

Cả diva xa xỉ lẫn fashionista tiết kiệm đều hân hoan, cả nhà thiết kế lẫn tập đoàn H&M đều hỉ hả, hiệu ứng “win-win” được minh chứng vẻ vang và ngay lập tức không lọt khỏi tầm cân nhắc của Tóc Vàng Hoe đa mưu nhà Versace.

Nhưng Donatella đã chuẩn bị cho mình một chiến lược sáng tạo khác hẳn. Nữ thần Medusa chỉ chấp nhận thân thiện hơn với lợi ích nhân đôi, cả về tài chính lẫn hiệu ứng PR. Thay vì tung ra một version đường phố của bộ sưu tập chính của nhãn hàng, Donatella quyết định đưa vào thông cáo báo chí một màn PR đầy tính giải trí hứa hẹn “cháy chợ”: bộ sưu tập dành cho H&M sẽ là những thiết kế lấy cảm hứng từ chính những cột mốc trường phái qua từng thời kì của nhà Versace. Một bộ lược sử phong cách Versace bằng thời trang.

Collection Donatella for H&M là một tập hợp hổ lốn những bộ váy bó siêu ngắn gắn chi chít đinh ốc bằng đồng, những chiếc áo “mô-tô bay” giả da đen, váy đen chéo, và hẳn nhiên là không vắng mặt những chiếc khăn lụa chói chang sắc màu cải lương Ý Đại Lợi.

Những thiết kế vừa mang tính tân trào, vừa mang hơi nhang đèn “hồi tưởng” phong cách chính chuyên Versace những thời kì hoàng kim quá vãng đã minh chứng rằng không ai có thể yêu và hiểu thấu đáo phong cách Versace hơn chính người con gái dòng họ Versace.

Nội giới thời trang hân hoan chúc tụng sự thành công của liên minh Versace-H&M. Luke Day, giám đốc thời trang tờ GQ Style nhận định rằng “Những năm thinh lặng héo hon sau sự ra đi của Gianni đã chỉ là quãng thời gian để Donatella tự chuẩn bị cho mình bản lãnh toàn năng xứng danh kẻ thừa tự.”

Sophia Neophitou, tổng biên tập tờ 10 Magazine cũng đồng tình rằng “Thời điểm là yếu tố tối trọng trong thời trang, và Donatella có nó. Đó là tất cả những gì liên quan đến quyết định thời điểm chuẩn xác để tái sinh một trào lưu, một hình tượng, và một quyền lực đủ thành công để một lần nữa biến nó thành trào lưu cực thịnh.”

Thị trường các fashionista đường phố tung hô Donatella như một nữ anh hùng đấu tranh vì bình quyền giai tầng của thời trang. Margareta van den Bosch, cố vấn sáng tạo của tập đoàn H&M tuyên bố rằng bộ sưu tập lần này của đại hiệp tóc vàng “Là một cuộc ‘xuống đường’ hào nhoáng của thời trang xa xỉ. Bộ sưu tập Versace for H&M cho phép người ta sở hữu những thiết kế đặc sệt đẳng cấp Medusa với mức giá bình dân của đại gia thân thiện H&M.” Tất cả quá đủ để chuẩn bị cho một vụ nổ thương mại có sức chấn động toàn cầu – Versace cho tất cả!

Đối với nhà Versace, trong bộ não có thật phía sau mái tóc vàng hoe của Donatella là một bài tính đơn giản mà trong đó, đáp án không chỉ là lợi nhuận, bà nhìn thấy được sự hoành bá của hình ảnh Versace ở diện rộng, một đòn “mị dân” tài tình đúng thời điểm của thời trang cao cấp Italy đến với những tín đồ kém may mắn, một sự “hạ cố” duyên dáng tuyệt vời của nữ thần tóc rắn: “Được hợp tác cùng H&M là một hân hạnh và một sự kích thích cao đối với tôi. H&M chính là cầu nối để Versace chạm đến được thị phần rộng lớn cuả tập đoàn cường thịnh này. Mọi thứ đều sẽ thuần chất Versace, hoàn hảo cho H&M lẫn tín đồ Versace khắp mọi nơi.” Để nêu gương “dân chủ”, chính bản thân đại nữ Ý cũng chọn diện một trong những thiết kế bình dân này để xuất hiện tại buổi trình diễn bộ sưu tập thời trang nam của nhà Versace tại Milan ngày 20 tháng Sáu. Bà xuất hiện, váy giả da bó sát, bù lon đinh tán dát như vẩy khắp người, oai như một đại tướng thời trang với diện mạo bản thân làm chiêu bài PR dân chủ.

Gianni-Phẩy & gương liệt nữ nhiếp chính quên mình

Nhưng đối với nội giới thời trang cao cấp, bà Tóc Vàng Hoe vẫn chưa thể khoác lên mình vầng hào quang của quyền lực haute couture chính thống, đặc biệt sau những chiến thuật PR thương mại nặc nồng màu sắc con buôn.

Đúng một năm 3 ngày sau cái chết của Gianni, như một đại lễ giỗ đầu người anh thiên tài và quyền lực, Donatella tung đòn khẳng định cuối cùng, với bộ sưu tập couture đầu tay Versace Atelier tại khách sạn Ritz Paris.

Như chính hương hồn Gianni vẫn từng làm, Donatella cho dựng đường runway trên mặt nước hồ bơi khách sạn, nhưng lần này, đó là một catwalk bằng kính trong suốt, nơi Naomi, Linda, Kate Moss và những model kì cựu sánh vai cùng các celeb tiếng tăm nhất showbiz lướt ra như bầy ngư nữ.

Ngoài sự đông vui nhộn nhịp, ngoài danh tiếng của các nhân vật ngồi kín hàng ghế đầu, và ngoài khung cảnh tráng lệ của buổi diễn, các nhà phê bình thời trang không thấy gì nhiều của một Donatella – bên – ngoài – cái – bóng – Gianni. Người ta mỉa mai rằng Donatella đã hoàn tất mỹ mãn buổi gọi hồn ông anh quá cố, bởi những thiết kế trong bộ sưu tập rõ ràng chỉ xứng đáng danh hiện Gianni-Versace-Phẩy.

Bà Tóc Vàng Hoe khăng khăng tuyên bố “Mọi hoạt động trong suốt năm qua của tôi đúng là tiếp bước anh mình. Nhưng tôi đã không hề giở các phác thảo của Gianni ra xem để làm cảm hứng cho bộ sưu tập này.”

Khẩu khí kịch liệt ấy cũng không giúp gì được cho uy tín của Donatella trong giới haute couture, trong khi ở ngoài kia, thị trường thời trang vẫn sùng sục sôi với những chiêu bài PR và thiết kế ready-to-wear cháy chợ.

Với liên tiếp những cú dội bomb ầm ĩ lên thị trường thời trang thế giới, vị đại nữ nhiếp chính Tóc Vàng Hoe đang ồn ào minh chứng cho kì đại phù thịnh của nhà Versace.

Đến một lúc nào đó, thời trang giới và chính bản thân Donatella cũng tin rằng bà đang trở thành gương liệt nữ đứng lên chống đỡ cơ đồ vì lí tưởng của người anh trai.

Đến một lúc nào đó, báo giới và chính bà cũng thành thật tin rằng, cuộc chiến của Tóc Vàng Hoe hoàn toàn không còn màu sắc vị thân và hãnh tiến.

Và đó là khi người ta tin rằng Donatella Versace đã hoàn tất tư cách của một đại tổng lãnh thật sự của đế chế Medusa.

“Hãy yên lòng, Gianni!”

Nhưng việc chọn Lady Gaga là celebrity ruột và vụ hạ cố giao du với thị trường xa cạ H&M, không hẳn nằm ngoài dự đoán của Donatella, lại càng khiến danh thơm một thời nhà Versace bị tẩy chay bởi giới thời trang cao cấp và các nhà phê bình chuyên chính.

Tờ Newsweek gọi đó là con đường “Từ Giẻ Rách đến Nhung Lụa – và ngược lại”. Show thời trang nam diễn ra tại Teatro Versace ở Milan cũng được mô tả lại là một “cuộc diễu hành buồn tẻ, thê lương và vô hồn trong cố gắng tuyệt vọng đào mồ lật mả những hào quang rơi vãi từ thời Gianni, từ lâu rồi đã là quá khứ.” Rõ ràng là sự ồn ào của nhà Versace, những mối quan hệ giao đãi với cộng đồng celeb thượng thặng vẫn không khỏa lấp được một thực tế là nhà Versace cho đến thời điểm này vẫn phải được bù lỗ bởi doanh số của các sản phẩm nước hoa, và một phần nhỏ vào các sản phẩm phụ trang, đặc biệt là kính mát.

Khi cuộc kinh thương còn chưa đến hồi ngã ngũ, mối ngờ vực về sự thành công của bộ sưu tập “hoài cố” của Donatella, theo Thời báo New York, vẫn nằm ở tính phi lý và “không biết tự lượng sức” của liệt nữ Tóc Vàng Hoe: “Đối với phần lớn phụ nữ, một chiếc váy giá 1000 USD nên là một thứ gì đó ở trên trang bìa tạp chí hay quấn phủ mình mẩy một ngôi sao, chứ không hẳn là thứ được treo trong tủ quần áo của họ. Vậy mà giờ đây, thậm chí có một website tên là Rent the Runway còn đang hi vọng biến những tuyệt phẩm haute couture trở thành những thứ người ta có thể sở hữu chưng diện được dễ dàng theo cái kiểu đi thuê mướn chung chạ rẻ mạt, như mượn một cuốn phim ở Netflix vậy.”

Donatella trở thành kẻ tội đồ bôi nhọ tượng đài haute couture chuyên chính do chính anh trai mình gầy dựng lên. Ngay trên chiếu trên của thời trang thế giới, người đàn bà tóc vàng có đôi môi trĩu nặng ấy xuất hiện mọi nơi, ồn ào như một nhân vật hài hước với giọng lưỡi thương buôn.

Nếu có một khía cạnh tích cực nào đó mà người con gái họ Versace này đã cống hiến được cho hương hồn Gianni, đó ắt hẳn là lòng tiếc nuối khôn nguôi của dân tình nội giới vào mỗi tuần thời trang, khi họ thống thiết gọi thầm “Ôi Gianni, cầu cho vong hồn ông ấy được yên nghỉ!”

Carla Bruni – kỳ nữ háu tình

Túy Ca

 Nàng quá đa tài, người ta quên mất nàng là ai.

Nàng quá đa mang, không đủ để hùng bá riêng tây một cõi.

Rất có thể, một Carla Bruni uyên bác mắt khói chân dài cũng chỉ đủ để lẫn vào những bậc giai nhân tài danh khác của châu Âu và thế giới.

Một giọng ca, một tài năng âm nhạc, và ngay cả tấm thân trần cũng không đủ để tạo ra một người đàn bà khiến đàn ông mê đắm, trẻ thơ khiếp sợ và đàn bà căm ghét.

Nhưng đó là Bruni, và nàng còn uyên thâm học thuật của một thú chơi tao nhã khác: Ái Tình.

Như một học giả hay một nhà sưu tầm đầy tham vọng, nàng thu hút những người đàn ông quyền lực và chiếm hữu, hay thậm chí chiếm đoạt họ một cách thật đàn bà.

Đương kim đệ nhất phu nhân Pháp là người vùng Turin, Ý, và là ái nữ thừa tự cả hàng CEAT của ông nội là Virginio Bruni Tedeschi.

Trên hồ sơ còn lưu lại, Bruni là con gái của nghệ sĩ dương cầm Marisa Borini và nhà soạn nhạc Alberto Bruni Tedeschi.Nhưng vào năm 2008, bùng nổ thông tin với cuộc hôn nhân danh giá cùng tổng thống đương nhiệm của nước Pháp, bà tân đệ nhất phu nhân trả lời với tờ Vanity Fair rằng thật ra, người cha sinh học của nàng là một người Ý gốc Brazil tên là Maurizio Remmert – một nhạc sĩ Tây ban cầm trẻ đã có 6 năm dan díu với mẹ bà.

Năm 1975, đảng Red Bridgades – một nhóm khởi nghĩa đỏ đang hoành hành tại Ý vào thập niên này, với nạn bắt cóc nhằm vào các gia đình thượng lưu, gia đình Carla bị đe dọa và buộc phải rời bỏ Turin đến Pháp khi nàng mới tròn 7 tuổi. Mọi kì vọng khôi phục của gia đình được dồn cho việc học của Carla, nhưng 37 chuyến tàu điện ngầm mỗi ngày để đến trường đã sớm khiến cô tiểu thư Ý ngán ngẩm nghiệp đèn sách.

19 tuổi, hào quang đầy rù quến của catwalk chốn kinh đô hoa lệ đã là được điều mà những tay Marxist Ý không làm được – bắt cóc cô tiểu thư khả ái khỏi vòng tay bảo bọc của gia đình và con đường học vấn. Nàng giã từ giảng đường và trở thành người mẫu.

Về sau nàng hồi tưởng “Khi ấy, tôi chỉ muốn được tự do và độc lập khỏi bố mẹ mình, nghề người mẫu đã đến như một giải pháp sáng giá và có khả năng cho hiệu quả tức thời. Người ta có thể được nhận việc ngay lập tức và tự học thêm chỉ trong vòng đôi ba tháng đầu.” Mãi về sau trong cuộc đời mình, Carla vẫn giữ nguyên được cho mình tính cách ấy: chọn những thử thách lớn, học thật nhanh, và đáp thẳng đến đích trong một thời gian ngắn nhất.

Từ catwalk đến studio

Bruni được chào đón vào công ty môi giới người mẫu City Models và lập tức lọt mắt xanh Paul Marciano – chủ tịch và giám đốc sáng tạo hãng Guess? Cùng với Estelle Lefébure, Bruni xuất hiện trong chiến dịch quảng cáo thời trang jeans của Guess? và đây đã là chếc chìa khóa mở lối runway cho Bruni xuất hiện tại các show và shot ảnh với những tên tuổi thượng thặng khác như Chirstian Dior, Givenchy, Paco Rabanne, Sonia Rykiel, Christian Lacroix, Karl Lagerfeld, John Galliano, Yves saint-Laurent, Shiatzy Chen, Chanel và Versace. Nhanh chóng, nàng góp mặt trong danh sách 20 người mẫu thời trang cao giá nhất của những năm 1990, với thu nhập 7.5 triệu Mỹ kim mỗi năm.

Đường runway không bao giờ là đoạn đường đủ dài đối với cả những giai nhân bền bỉ nhất. Như mọi người mẫu sáng giá và biết tính toán, thời đoạn những năm từ 1997 đến 2005, thế giới thời trang lại mất thêm một mỹ nhân vào tay các phòng thu. Cô nàng đa tài và đa đoan gửi những bài viết ca từ của mình đến Julien Clerc năm 1999 và từ đó, ông viết nên 6 ca khúc trong album Si j’etais elle của mình năm 2000.

Louis Bertignac cũng đã phải cậy đến khả năng viết ca từ của người đẹp Ý trong 10 trên 12 ca khúc trong album Longtemps, trong đó có 2 bản do chính nàng song ca cùng Louis là Les Groleuses và Sans toi. Năm 2006, Bruni thu âm Those Little Things – phiên bản Anh gữ của C’es Petits Riens của Ferge Gainsbourg cho album Monsieur Gainsbourg Revisited.

Album No Promises của Bruni lại là một cuộc chơi kì thú và đầy thi vị khi người đẹp bỏ qua những ca từ của riêng mình mà chỉ hát những ca khúc phổ nhạc từ những áng thơ lẫy lừng của Willian Butler Yeats, Emily Dickinson, W.H.Auden, Dorothy Parker, Walter de la Mare và Christina Rossetti, phát hành tháng Giêng năm 2007.

Sàn diễn thời trang và danh tiếng trong làng nhạc đã không chỉ mang lại cho cô tiểu thư Ý danh vọng và tiền tài trong một độ tuổi còn quá trẻ, nàng còn được phần số runway ưu đãi vuốt ve bởi những cuộc đón đưa cặp kè với nhũng quý ông danh tiếng bậc nhất showbiz, từ tình nhân thủ thỉ khúc tình blues Eric Clapton cho đến tay anh chị hàng đầu của bầu trời sao rock Mick Jagger. Nhưng những ông hoàng và vị chúa ấy vẫn không giữ được cho mình một tòa thiên nhiên diệu vĩ làm của riêng, bộ ảnh nude phát hành năm 1993 của Bruni đã được mua lại trong một buổi bán đấu gia1 năm 1993 với giá 91,000 USD, nôm na là cao gấp 60 lần so với mức giá được kì vọng. Dường như mức khai thác mô hình kiến trúc kì vĩ nhất của nàng kiến trúc sư hụt vẫn chưa thỏa, Bruni trở thành người mẫu xuất hiện trong cuốn Body Painting: Masterpieces by Joanne Gair (Những Tuyệt phẩm Của Joanne Gair).

Cha và con và đàn bà, A-woman!

Nhưng giọng ca như hơi khói ngọt ngào, mái tóc nâu mái ngố và đôi mắt mèo sâu thẳm cũng chỉ đủ để khơi gợi hình ảnh một bản sao tuyệt hảo của nữ danh ca Francoise  Hardy của đầu thập niên 60, từ giọng ca đến phong cách.

Những ca từ nồng nặc mùi hương đàn bà, cùng chất giai điệu rõ mùi trữ tình tân thời cũng chỉ đủ để đưa nàng vào hàng chick-flick âm nhạc. Đến cả những đợt phủ sóng internet với ảnh khỏa thân cũng chỉ đủ để thêm vào cho thế giới một nàng thơ trí thức của những photographer từ thương mại đến nghệ thuật.

Tất nhiên, nàng lãng mạn, háu đói, đa tình và chóng chán. Nói về người đàn bà như thế, người ta thường nhắc nhiều đến những người đàn ông.

Lật lại hồ sơ tình án Bruni Carla, người ta tìm thấy cả một bộ sưu tập những mẫu vật phong phú về hình thức và thể loại, nhưng cùng có một điểm chung là tài hoa và quyền lực. Họ – những chàng trai trẻ và những ông vua nhiều lãnh vực, phải toát ra từ họ cái hấp lực mãnh liệt của giống đực để sở hữu được tấm thân và trí tuệ nàng Carla, dù chỉ trong một thời gian ngắn.

Trong các cuộc tình đình đám nhất trong đời, có lẽ cuộc dan díu tay ba oái oăm vói những người đàn ông nhà Enthoven đã khiến Carla Bruni trỏ thành mẫu ‘nàng thơ’ điển hình đầy nguy hiểm và luôn đặc biệt ưu ái các quý ông vì tư phong tài khí của họ, và trong đó, đẳng cấp xã hội hay quyền lực chỉ là một lợi thế cộng thêm không đáng kể.

Bruni yêu và từng có thời gian sống chung với Jean Paul Enthoven, nhà văn và đại gia xuất bản hàng đầu của Pháp. Ông hội đủ đến thừa mứa những tư chất của một quý ông hào hoa đúng điệu, với màu da rám nắng, mái tóc dợn sóng màu bạch kim và những chiếc áo jacket tuyệt khéo. Đó là cả một hình ảnh hoàn mỹ của một quí ngài thuần chất và một quyền lực văn chương.

Đáng tiếc, cuộc tình tưởng như đẹp tuyệt của ông và nàng kiều tóc nâu đã sớm chấm dứt khi nàng, trong một chuyến đi nghỉ cùng con riêng và con dâu của quý ngài, lại rơi đắm đuối vào vòng tay chực chờ hóng hớt của chàng tiến sĩ triết học Raphael Enthoven – con trai của Jean Paul Enthoven. Chàng khi này đang kết hôn cùng nữ tiểu thuyết gia Justin Levy – con gái nhà triết học Bernard-Henri Lévy. Về sau, người đàn bà đa tình còn ghi dấu cuộc tình với Enthoven-Con trong một ca khúc của album Quelqu’un m’a dit, với tựa đề là Raphael.

Về sau, Bruni thẳng thừng chối bỏ quãng thời gian hương lửa với cha của Raphael trên tờ Vanity Fair “Tôi chưa bao giờ ân ái cùng ông ta, một phút cũng không.”

Không chỉ là thi hứng cho Bruni viết ca khúc Raphael, cuộc tình oái oăm này đã là nỗi đau khiến Justine viết nên cuốn Rien de Grave năm 2004 sau khi cuộc hôn nhân đổ vỡ bởi người đàn bà Ý. Một năm sau đó, cuốn sách được chuyển ngữ với tựa đề Nothing Serious, trong đó, nàng Justine tội nghiệp vẽ nên chân dung một người mẫu, một sản phẩm kinh điển của thủ thuật thẩm mỹ, kẻ đầu độc cuộc hôn nhân của nhân vật nam chính. Justine gọi nàng “Paula” là một thứ “đỉa cái đeo bám độc địa với nụ cười của kẻ hủy diệt.”

Mặc nhiên, đôi nhân tình tội lỗi vẫn đến với nhau, gắn kết cuồng loạn và kết quả là bé trai Aurelien ra đời năm 2001. Nhưng cuối cùng, kẻ tội đồ Raphael vẫn không thể sở hữu người đàn bà đa tình và bất trị – nàng vẫn tự cho mình là “người đàn bà chóng chán” và “dị ứng sự dai dẳng xói mòn của các mối quan hệ ràng buộc”. Họ chia tay vào tháng Năm 2007.

Đó cũng là tháng Năm không quên của Nicolas Sarkozy, khi ông đắc cử tổng thống Pháp.

Ngài tổng thống ‘đột biến’ và hồ sơ tình sử quý bà mắt khói

Họ gặp nhau tại một buổi dạ tiệc ở ngoại ô Paris, và trước khi nàng ca sĩ-người mẫu Carla Bruni lướt các đầu ngón tay trên dây guitar để cất lên chất giọng ngư nữ sặc khói của mình, ngài tổng thống Pháp đã ra chiều nghiêng ngả.

Kể từ khoảnh khắc đó, tất thảy khách khứa của buổi tiệc không khỏi ghi nhận rằng ngài tổng thống đã dành trọn buổi tối để trò chuyện xoắn xuýt bên người đẹp nổi tiếng đa tình, với thực đơn ưa thích là trái tim của những người đàn ông quyền lực.

Họ công khai rời buổi tiệc cùng nhau.

Đó là chuyện xảy ra vào ngày 14 tháng Mười Một, 2007, giữa hai kẻ: chàng vừa mới đắc cử tổng thống và nàng thì mới chia tay “người tình con nít” Raphael. Bữa tiệc định mệnh đã diễn ra tại dinh thự Marnes la Coquette của Jacques Seguela, cố vấn PR của các đời tổng thống Pháp, kể từ Francois Mitterand.

Suốt cả tháng trời sau đó, Sarkozy gọi điện cho Bruni vài lần mỗi ngày, gửi hàng bó hoa hồng đến nhà nàng, mang về từ tận Trung Hoa chiếc nhẫn làm quà cho người đẹp, và – theo các tờ lá cải đói tin – thậm chí hủy một cuộc hẹn ăn tối với lãnh đạo Liby là tướng Muammar Gadaffi chỉ để ở bên nàng.

Ngày 6, tháng Mười Hai, 3 tuần sau lần đầu gặp gỡ, người ta nhìn thấy người đàn bà được báo giới Pháp mệnh danh là “man-eater” đi ra khỏi nơi ở của tổng thống – điện Elysee. Các trợ tá truyền thông của tổng thống phải yêu cầu các phóng viên ảnh đang vo ve quanh đấy đi chỗ khác chơi, nhưng không ngăn được lực phát tán của các tin đồn đầy đủ cơ sở nhưng chưa được đăng tải công khai trên bất cứ đầu báo nào, và cũng chẳng có một lời bình luận chính thức nào theo sau những bức ảnh chụp cận cảnh bàn tay tổng thống, nơi chiếc nhẫn cưới đã được tháo bỏ. Cánh báo chí căng phồng vì “nghẹn” tin, họ chỉ còn chờ một tín hiệu đèn xanh từ đại diện truyền thông của tổng thống.

Trong thời gian chờ đợi, Sarkozy và Bruni vẫn tiếp tục trêu ngươi công luận bằng những lần xuất hiện cùng nhau vô tư trước rừng flash của các paparazzi. Họ trông thơ thới và hạnh phúc khi đứng bên nhau cùng xem trò chuột diều hành ở công viên Disneyland Paris, bên cạnh là cậu con trai 6 tuổi của Bruni, Aurellien, và mẹ nàng.

Chị gái Carla Bruni, diễn viên-đạo diễn Valeria kể rằng “Khi em tôi muốn có một ai đó, nó chỉ việc bỏ anh ta vô túi… Thế đấy, như hồi Mick Jagger ấy, cô ấy qua lại bao đêm ở nhà Eric Clapton và lại nằm vào tay Mick… Ngay cả khi gần 40, Carla vẫn yêu như một đứa 16 tuổi.”

Đối với Sarkozy, mọi việc đã không chỉ đơn giản như “bỏ vào túi”. Việc công khai mối quan hệ với Carla đã là cả một ván bài đặt cược thanh danh. Hồi đầu năm 2005, khi mới li thân cùng vợ trước là Cecilia – cũng là một cựu người mẫu – ngài đã trót dại miệng tuyên bố trên sóng truyền hình rằng “Tôi không bao giờ muốn thiên hạ bàn tán gì về đời tư mình nữa hết.”

Nếu quả tình như vậy thì ngài tổng thống đã không làm gì giúp thiên hạ ngoảnh mặt quay lưng hỏi hàng tỉ chi tiết hay ho vui thú trong đời tư của ngài cả. Ngài đi du ngoạn trên thuyền ở Riviera, ngài nghỉ lại nhà một người bạn ở bên bờ hồ vùng Wolfeboro, Mỹ, bên mình lúc nào cũng kè kè đệ nhất sát thủ tình ái tóc nâu, bảo giới paparazzi quay ống kính đi chỗ khác có khác gì đánh đố chính mình.

Lại nhớ ngay trong đêm đắc cử, chỉ độ non nửa năm trước khi đắm đuối với Bruni, ngài còn hùng hồn tuyên bố với dân chúng rằng “Nếu bạn thích bà Jackie Kennedy, bạn sẽ chết mê Cecilia Sarkozy!”. Thế rồi chỉ vài tháng sau đó, ngài li dị với người đàn bà từng được hãnh diện đem ra so sánh với cựu đệ nhất phu nhân duyên dáng nhất lịch sử Hoa Kỳ. Và bây giờ thì ngài lại đang lâng lâng trong vòng tay người đẹp đa tình nhất nước Pháp.

Bệnh phô trương đời tư của Sarkozy, so với các vị tiền nhân của ngài – những người đàn ông Pháp nhưng biết lau mép tinh tươm trước công luận, đã khiến nước Pháp cau mày. Cuộc khảo sát ý kiến của tờ Dân Paris (Le Parisien), sau khi trưng trổ loạt ảnh của Bruni, đã cho thấy 45% cho rằng tổng thống đang phô bày quá mức đời sống riêng tư. Có vẻ như người Pháp đã ý thức được rằng họ đang có cho mình một đời tổng thống khá “đột biến” ngay từ khi họ chọn ông trong đợt bầu cử, nhưng không ai ngờ đến mức độ này. Người ta bắt đầu xôn xao phân tích mổ xẻ hồ sơ ái tình và cuộc đời người đàn bà tinh quái đã tha hóa vị tân lãnh tụ của nước Pháp. Và người ta tìm thấy Eric Clapton, Mick Jagger, Donald Trump, cha con nhà Enthoven, luật sư Arno Klarsfeld, diễn vên Vincent Perez và Charles Berlling, và cả ngài nguyên thủ tướng Laurent Fabius.

Nữ thượng khách hoàng gia, cục cưng của chú K., và tội đồ của Pháp quốc

Chỉ vài tháng sau ngày nhậm chức, vị tân tổng thống đã phải đối mặt với những đợt sóng chỉ trích về sự “biến dạng” của bản thân so với hình ảnh của ông những ngày còn tranh cử. Người ta bình luận về phong cách màu mè của ông, oán trách cuộc li hôn ngay tắp lự, và giọt nước cuối cùng làm tràn ly là cuộc dan díu công khai chớp nhoáng giữa ông cùng nàng Bruni trứ danh, khi này vừa kịp rẫy bỏ cậu chàng Raphael tội nghiệp, khi này còn chưa kịp nguôi ngoai nỗi hận do nàng là kẻ “không thuộc về hôn nhân”. Không hẳn bởi muốn hối chuộc với người tình cũ về lời tuyên bố phũ phàng nọ, Bruni, trước khi nước Pháp kịp hoàn hồn, trở thành phu nhân tổng thống, khi mà những bức ảnh nude của nàng trên mạng internet hãy còn nóng rẫy.

Chính khách hào hoa và kỹ nữ đa tình, cặp đôi tội đồ của Pháp quốc, cuối cùng cũng tìm được nửa kia vừa vặn. Một khi móng tay nhọn gặp vỏ quýt dày, chúng cắm ngập và không buông rời nhau nữa!

Công luận, và cả những tạp chí thời trang Pháp – tại đất nước mà gout thẩm mỹ được coi là tư chất thiêng liêng, đành chán ngán gọi Nicolas là “ngài Tổng thống Bling-Bling” trước sự ưa thích đặc biệt của ông đối với những món phụ trang rặt mùi showbiz. Người ta cho rằng tổng thống rành rẽ về giá cả các loại đồng hồ cao cấp hơn hẳn giờ làm việc trung bình của một công nhân. Và trong mọi oán thán thấu trời xanh ấy, Bruni hối chuộc cùng toàn thể công dân Pháp bằng việc cải tạo gout thẩm mỹ của Sawkozy. Với những tư vấn khéo léo của người vợ mới, Ngài lập tức rũ bỏ chiếc đồng hồ Rolex to sụ vàng chóe bất khả ly thân để thay vào đó chiếc Patek Philippe lịch thiệp tân kỳ, và dân chúng thở phào khi không còn thấy ngài long nhong chạy bộ trong bộ vía Bois de Boulogne nhễ nhụa mồ hô mồ kê ở công viên phía Đông Paris nữa. Thay vào đó, các cuộc chạy bộ của ngài tổng thống được tháp tùng chặt chẽ cùng bà tân phu nhân kiều diễm, quanh những lối đi trải đá của khuôn viên điện Elysee.

Cuối cùng thì chắc gì nước Pháp đã vị tha hơn với Francois Mitterrand nếu khoảnh khắc mà họ biết về đứa con gái ngoài giá thú và người tình “phòng nhì lâu năm” của ông không phải là khi họ xuất hiện phía sau linh cữu vị cố tổng thống đa mang. Nước Pháp thủ cựu bài tân, và thất vọng nhún vai trước vị tân tổng thống không hay dấu giếm các cuộc tình. Nước Pháp nhún vai, một cách “rất Pháp” và phẩy tay cho rằng ngài Sarkozy “trẻ dại” ắt chẳng qua chỉ đang phải đối mặt với khủng hoảng và áp lực tâm lí của vai trò mới và cuộc li hôn đáng tiếc.

Dẫu sao thì một đệ nhất phu nhân lãng mạn và đẹp mắt cũng không phải là một điều quá tệ cho truyền thống đa tình của nước Pháp.

Và như thế, nàng Bruni tóc nâu được chấp thuận một cách êm ái hơn.

Không chỉ được chấp thuận, Carla Bruni đã minh chứng được tố chất lí tưởng của một người phụ nữ chuyên săn những quí ông quyền lực, ngoài khả năng ca hát, viết lách và đường nét thân hình, đó là vẻ khả ái lịch thiệp của một mệnh phụ thanh lịch pha trộn tuyệt vời của một người đàn bà Ý và một công dân Paris!

Chuyến công du gây nức lòng nước Pháp của nàng cùng chồng đến thăm Hoàng gia Anh theo lời mời của Nữ hoàng đã thật sự là một chiến công của phong cách thời trang trong môi trường chính trị. Báo chí Anh ca tụng sự lịch thiệp đến hoàn hảo và những bộ trang phục theo phong cách Jackie Kennedy nhưng lại hoàn toàn mới lạ, tân thời trên thân hình mảnh dẻ rất “chiều mốt” của bà đệ nhất phu nhân nước Pháp. Chú Karl – thiết diện quản gia của thương hiệu thượng đẳng Chanel, kẻ luôn tỏ ra cay nghiệt phũ phàng với những kiều nữ bậc nhất thế giới, đã không tiếc lời xuýt xoa tán tụng tổng thống phu nhân, cũng một thời từng là người mẫu được nhà Chanel ưa chuộng: “Nàng quả là một phụ nữ có học thức, lại lanh lợi quảng giao nhưng nền nã và đài các. Nàng thuần thục mọi nguyên tắc xã giao thượng lưu và tinh thông nhiều ngoại ngữ. Tất thảy phu nhân của các vị nguyên thủ quốc gia khác rất nên trông vào sinh vật duyên dáng hoàn hảo này mà tự vấn – những gì nàng khoác lên người, những gì nàng thốt ra cửa miệng, và cái cung cách của nàng trong phục sức lẫn phát ngôn.”

Trước khi đến Anh, vụ lùm xùm về bộ ảnh khỏa thân của nàng vừa được nhà Christie tổ chức đấu giá lại càng khiến mọi ống kính báo giới chĩa dồn về Bruni, hàng đầu là những ống ngắm xét nét của các tạp chí thời trang. Người ta săm soi từng li trên làn da nào được phép hở lộ của giai nhân danh giá, và hẳn nhiên là cả gout ăn mặc, đến tận những món có trong tủ quần áo của nàng cũng được điều nghiên khe khắt. Là tín nữ tuần tiết của Christian Dior (dưới thời John Galliano, đương nhiên) đã được cộng đồng tín đồ Anh tán thưởng như một khiếu thẩm mỹ hàn lâm sang cả.

Nhưng không phải shot ảnh khỏa thân nào, dù đầy đủ tính nghệ thuật đến mấy, cũng bảo đảm hiệu quả hi hữu như vậy, và đệ nhất phu nhân Pháp ý thức điều này một cách tuyệt đối. Tháng Tám, 2008, nàng Bruni đâm đơn kiện một hãng sản xuất túi xách đã “tận dụng” ảnh khỏa thân của tổng thống phu nhân, bức ảnh được chụp từ khi nàng còn là người mẫu. Nhà thiết kế Pardon đã cho xuất xưởng 10,000 chiếc túi loại shopping cỡ lớn, in bức ảnh khỏa thân của Bruni chụp năm 1993, nàng đang chú mục vào ống kính camera, đôi búp măng lịch lãm đã bắt tay khắp lượt các nguyên thủ hàng đầu thế giới, khi ấy đan chéo che phủ lên góc đàn bà giữa hai chân nàng.

Cựu tổng thống Mỹ George W.Bush khi ghé thăm nước Pháp cũng đã phải nghiêng mình chịu khuất phục hoàn toàn trước sự duyên dáng của gia chủ phu nhân. Ngay giữa cuộc họp báo, ông nói với Sawkozy rằng “Quả là ân phước được gặp gỡ quý phu nhân nhà. Quả là một quý bà thông minh và duyên dáng, và tôi hiểu được vì sao ông đã quyết định cưới bà làm vợ. Và ngược lại, tôi cũng thấy được vì sao mà bà nhà đã ưng thuận ông đây.”

Còn bản thân vị tổng thống hạnh phúc đã hãnh diện nói trong một cuộc phỏng vấn khi được hỏi về vị phu nhân nổi tiếng của mình, bằng một giọng Anh đặc sệt chất Pháp “I am happy like nev-air.” (Tôi chưa bao giờ hạnh phúc như vậy)

 

Nỗi đau best-seller và Carla độc địa

Trong những huyền thoại ái tình của Carla với những người đàn ông, điều không thể không nhắc đến là mối thâm thù sâu sắc của con mèo cái háu ăn Italy với một nửa còn lại của thế giới: những người đàn bà.

Mà theo lẽ thường, những người đàn ông theo gout của Carla: tài hoa và quyền lực, lại không bao giờ ở trạng thái độc thân.

Đó là khi chiếm hữu trở thành chiếm đoạt.

Và một kiêu binh tình ái như Carla, lòng trắc ẩn là một cảm xúc phù phiếm, và người ta phải đủ bản lãnh để dẫm chân lên cả những ông hoàng để…đến với những ông hoàng khác.

Sau cuộc hôn nhân đình đám với người hùng cuối cùng Sarkozy, người ta ngoái đầu nhìn lại và thảng thốt nhận ra những cuộc tình, thậm chí những cuộc đời bị hủy hoại trải dài trên lối đường tình đệ nhất phu nhân. Trong đó có cả thần tượng âm nhạc Mỹ Eric Clapton, phù thủy ái tình Jerry Hall, và siêu rocker Mick Jagger.

Quả tình, cuộc hôn nhân ‘một bước lên bà’ của Bruni đã khiến không ít kẻ thất thần bật ngửa, đặc biệt là các công dân thủ cựu của nước Pháp. Trước khi về nâng khăn sửa túi cùng vị phu quân danh giá, nàng đã từng sở hữu một hồ sơ tình sử ồn ào và khá phức tạp, với cuộc dan díu phong nguyệt cùng tay rocker không kém phần ầm ĩ là Mick Jagger.

Bruni gặp Jagger qua Clapton – người khi này vẫn gọi nàng là “tình yêu của đời tôi”. Trước lòng hâm mộ của người yêu dành cho nhóm Rolling Stone, Clapton đưa nàng đến hậu đài của Mick tại New York, và đã phải kèo nài với chàng rocker bất trị “Làm ơn đi Mick, không phải cô này, tôi nghĩ rằng mình đang yêu thật đấy”. Nhưng Mick Jagger lờ béng lời tuyệt vọng của ông hoàng blues, chỉ vài ngày sau, Bruni Carla đã bắt đầu cuộc tình mới với Mick, và tỉnh bơ ghi dấu đường tình bằng một “hòn đá lăn” (rolling stone).

Nàng Jerry Hall bốc lửa, khi này vẫn đang là vợ chàng Mick háu gái, đã công khai ghi tên Bruni vào sổ thù vặt và cho rằng kiều nữ Ý này chính là nguyên nhân vụ li thân giữa họ.

Cuộc dan díu trái khoáy giữa Carla và Raphael bắt đầu khi chàng và vợ là Levy Justine đến nghỉ mát tại nhà của cha họ ở Morocco năm 2002. Jean-Paul cũng mang tình nhân – bà mẹ kế hờ đa tình và nguy hiểm.

Trong cuốn sách của Justine về sau, cặp nhân tình Louise và Adrien – đôi con người trẻ trung, thông minh, đầy tham vọng và cuồng nhiệt, đã yêu nhau từ tuổi nhỏ. Nhưng rồi chàng rơi vào vòng tay rù quến mụ mị của nhân tình cha mình – mụ Paula người ních đầy những túi silicone thẩm mỹ, một người mẫu về vườn chuyển sang làm ngôi sao nhạc rock, trong một kỳ nghỉ mát của đại gia đình. Levy mô tả lại về Paula “Tôi thấy bà đẹp và nguy hiểm với khuôn mặt như tạc từ sáp. Khi bà mở miệng cười, đó chỉ là một chuyển động đủ để nhe lộ hàm răng…Bà đẹp và nguy hiểm, với khuôn diện của một kẻ sát nhân.”

Levy Justine còn viết lại rằng mụ đàn bà mang hỗn danh Kẻ Hủy Diệt ấy “hành xử như kẻ sở hữu thế giới, thế giới có tất cả những người đàn ông. Chẳng biết từ khi nào, tôi nhận ra rằng bà muốn người con sau khi đã hưởng thụ ông bố, và rằng bên trong cái vẻ vui tươi ấy, bà ta đang khát khao hủy hoại?”

Sau khi cuốn sách được xuất bản năm 2004, Levy tâm sự rằng nàng không có sự lựa chọn nào khác: “Tôi quá đỗi đau thương, tôi bị hủy hoại hoàn toàn và muốn chết. Thật khủng khiếp khi bị ruồng bỏ. Khi tôi bắt đầu viết, tất cả mọi thứ thay đổi. Viết ra mọi thứ, nó giúp cứu rỗi và xoa dịu một cách diệu kì.” Nàng Bruni tóc nâu, lúc này đã có con cùng Raphael, chỉ tỉnh bơ trả lời báo chí “Tôi mà nhìn thấy cô ta, là tô giết.” và tiện tay xát thêm chút muối vào vết thương vừa được cứu rỗi của Levy “Ai chẳng biết rằng: không có các ông chồng bị giằng mất, chỉ có những bà vợ chẳng bao giờ học nổi cách giữ chồng.” Đòn phản pháo khủng khiếp nhất được tung ra giữa hai kỳ nữ của làng văn và làng nhạc, khi Bruni viết hẳn một ca khúc lấy tên người tình. Trong đó, nàng tinh quái và ý nhị mô tả những khoảnh khắc cuồng nhiệt của họ bên nhau “Chàng trông như thể thiên thần, thế mà yêu đương như loài quỷ dữ… Bốn âm và ba tiếng Raphael, em mân mê gọi mãi cho từng chữ tên chàng ve vuốt tâm can.”

Chả rõ cái tên Raphael đã vuốt ve tâm can người đẹp ra sao, nhưng rõ ràng thú vui “được” đàn bà ghét đã gần như là một cơn nghiện đến cùng thói ngạo tình của giai nhân Ý.

Đến ngay cả ê kíp PR tinh nhuệ của tổng thống cũng bó tay bất lực trước làn sóng đả kích ngày một dữ dội từ các bà vợ cũ nổi giận, khi ở phía đường chân trời, cựu phu nhân Cecilia gầm gừ đe dọa xuất bản cuốn tự truyện của mình, hứa hẹn cay nghiệt gấp bội bà vợ cũ của Raphael Enthoven trước kia.

Tòa thiên nhiên hoang phế bên trong lớp váy quý bà

Đường tình của người đàn bà được kết thúc tại bàn thờ trước Chúa, và đó chưa phải là cảnh cuối cùng của cuốn phim đời.

Sau khi kết hôn với nguyên tổng thống Pháp, bà tân đệ nhất phu nhân vẫn tiếp tục tung ra album thứ 3 mang tên Comme si de rien n’etait, gồm những ca khúc tự sáng tác, ngoài bản You Belong to Me sặc mùi hạnh phúc hôn nhân là được cover lại, và một bản khác dựa theo tứ thơ La Possibilite d’une ile của Michel Houellebecq. Dấu hiệu duy nhất của một chính khách phu nhân mà nàng lưu dấu trên album này là việc đóng góp toàn bộ lợi nhuận của album cho hoạt động nhân đạo.

Ngày 18 tháng Bảy, 2009, tại Radio City Music Hall, thành phố New York, bà tổng thống phu nhân tài sắc của nước Pháp đã hát tặng tổng thống Nelson Mandela nhân dịp sinh nhật lần thứ 91 của ông.

Dường như không một lãnh địa nào thường đón nhận gót slimheel lạc loài của các nàng model về hưu lại thiếu dấu giày Bruni. Không yên vị với vị trí hậu phương của đức phu quân nguyên thủ, Bruni nhận lời thủ diễn trong một phim của Woody Allen, thuần túy với một lời giải thích không thể ‘phụ nữ’ hơn: “Tôi hoàn toàn không phải là một diễn viên, nhưng làm sao người ta có thể ngoảnh mặt với một cơ hội như vậy. Sau này, tôi sẽ kề cà kể lại cho lũ cháu chắt của mình rằng tôi đã từng làm một phim với Woody Allen hẳn hòi.” Bộ phim Midnight in Paris được công chiếu năm 2011, với bà đệ nhất phu nhân đa đoan xuất hiện trong vai một hướng dẫn viên tại Musee Rodin.

Sự nghiệp âm nhạc của bà tổng thống vẫn tiếp diễn với những dự án cùng những đàn anh khét tiếng của showbiz thế giới, từ David Bowie cho đến Duran Duran.

Hẳn nhiên, một bà đệ nhất phu nhân đa tài lại đa mang, với hình ảnh nude phủ sóng ngập lụt internet như vậy, quả là một đề tài khai thác không bao giờ nhạt trò. Cuốn sách gần đây nhất của phóng viên Jonathan Alter mang tên The Promise, dựa theo tựa một ca khúc của Carla, lại đóng góp thêm những tình tiết nóng rẫy về đời sống ái tình của ‘quý bà người Ý’ sau cuộc hôn nhân đình đám nhất nước Pháp.

Các trang nam tử vẫn thường xuýt xoa tấm tắc trước mảnh thân lụa là của Carla ắt hẳn đã phải đấm ngực tiếc nuối khi được biết rằng giai nhân đa tình ấy đang phải kìm nén các cơn khát tình bên đức ông chồng nguyên thủ.

Có vẻ như ngay cả thân hình mảnh mai của một người mẫu cũng sẽ phải bị o ép lại thật hà khắc để chui vừa chiếc áo lịch thiệp của một đệ nhất phu nhân. Trong cuốn The Promise, nàng Carla tội nghiệp than vãn chuyện bị đức phu quân thờ ơ chăn gối, khiến cả nước Pháp tiếc chúi nhủi cho một tòa thiên nhiên hừng hực bị thí hoang bỏ phế. Theo tác giả, việc chính sự quốc gia đã khiến tổng thống không rảnh tay chiều chuộng vợ nhiều như nàng mong đợi, nhưng tuyệt nhiên không thấy nhắc đến trong sách rằng nhiều như nàng mong đợi là nhiều…bao nhiêu.

Không che giấu nổi lửa tình hừng hực bên trong cơ thể người đàn bà đẹp lại đang độ 42 chín mùi lại sẵn đam mê chuyện ái ân phong nguyệt, Carla tìm đến thú vui tâm sự chuyện tế nhị với các quí bà khác mong tìm đồng cảm. Ở đây cụ thể là bà Michelle Obama – đệ nhất phu nhân Huê kỳ, trong một lần nàng Carla cùng chồng đi công du tại Mỹ. Đáng tiếc, trước hạnh phúc thừa mứa hay sự kín đáo tế nhị của bà Obama, nàng không tìm được sự đồng cảm. Bruni hối tiếc hồi tưởng có lần do mải mê ân ái mà ngài Sarkozy đã phải để một chính khách ngồi chờ mãi, phu nhân Obama phá ra cười và cho nàng biết rằng chưa một chính khách nào phải chờ chực tổng thống Hoa kỳ bởi cùng một lí do, rất có thể bởi tình hình chính sự của Mỹ không quá phức tạp như nước Pháp đủ khiến vị tổng thống trẻ lơ là chuyện chiều chuộng vị phu nhân danh giá nhất quốc gia.

Cả cuộc đời Carla là chuỗi dài săn bắn thành công những người đàn ông của quyền lực, nhưng đến đỉnh cao của cuộc săn và người hùng cuối cùng, nàng đôi khi lại ước giá như ngài là một anh thợ mỏ thì tốt hơn. Trước đây, ngài Sarkozy luôn nổi tiếng bê trễ về giờ giấc, ngay cả đối với các sự kiện quan trọng. Với tình sử cũng li kỳ không kém và hai lần hương hỏa hôn nhân, ông luôn được các bà vợ thừa nhận là một người tình cuồng nhiệt, thậm chí bà Cecilia còn phải than vãn về sự “cuồng nhiệt” quá trớn của đức ông chồng bất kham. Trong sách còn nhắc lại chuyện ông từng mời cả trung đội kiều nữ về cung điện Elysee để hát hò nhảy múa tới khuya như một vị vua chính hiệu.

Cuốn phim cuộc đời của nàng Carla Bruni vẫn chưa dừng lại ở đó, sau hôn nhân.

Không chỉ là những ẩn ức phòng the.

Không chỉ là những bộ quần áo mới cho tổng thống.

Tháng Năm, 2011 vừa qua, thế giới và cả nước Pháp, với lòng ưu ái hay hiếu kì, lại được tin nàng Carla, mặc nhiên với những lời than vãn về cuộc hương lửa đang hồi vơi nhạt, nàng lại đã có mang.

Thế giới đã có cho mình một người mẫu, ca sĩ, nhạc sĩ, người tình Carla.

Và tất cả trông đợi một chương mới sau serie chuyện tình cuối, một Carla – người mẹ.

Liệu quí bà đa mang đã chịu dừng chân?

Đệ nhất phu nhân hay quốc cừu của nước Pháp?

Chỉ trong vòng một năm kể từ ngày nhậm chức của tổng thống, đã có 76 cuốn sách viết về bộ ba Sarkozy, Carla và Cecilia. Mặc dù người Pháp cố tỏ ra miệt thị phong cách phục sức trưởng giả của tổng thống, điều này vẫn chứng tỏ một sức hút rất “showbiz” của ông đối với các công dân của mình, và nhân tố kích hoạt cho “rating” của ông không gì khác hơn là chính những ồn ào tăm tiếng vây quanh Carla.

Ngài Ngoại trưởng Bernard Kouchner gọi bà là một “Mẫu quyền lực đàn bà chính cống. Đây hoàn toàn không phải là một mẫu ‘người tình tổng thống’ như Pamela Harriman – Carla là một nữ sát thủ ái tình, một kiểu Don Juan mặc váy chính hiệu.”

Tuần san Le Canard Enchaine gọi kiểu “khoe bồ” của tân tổng thống là “Chương trình truyền hình thực tế The Sarko Show – một chương trình dài tập, nơi mà ngài tổng thống không chỉ lên kịch bản thường nhật, mà còn trực tiếp đạo diễn và thủ diễn.”

Cố vấn chính trị của Sawkozy, ông Jean-Luc Mano, kêu trời: “Làm ơn đi, các vị tổng thống không phải là tộc người thay vợ mỗi tuần!”

Nhật báo Le Monde cho rằng Sarkozy đang sắm vai “một đại hiệp với trái tim vĩ đại đang sử dụng thuần thục 2 đạo cụ kinh điển nhưng đầy quyền năng: Tiền và Tình.”

Christian Salmon, nhà phân tích chiến lược nổi tiếng trong giới chính khách Pháp, thì tiên đoán rằng những câu chuyện màu mè của “bộ phim truyền hình lê thê của Sarkozy” sẽ sớm nhạt trò và phá sản trước áp lực của thực tế “Đó là số phận của những serie truyền hình: mỗi tập lại phủ định tập trước. Cô cựu người mẫu này hất cẳng cô cựu người mẫu kia. Nhưng rồi một ngày, mọi thứ sẽ trở về thực tế.”

Ca sĩ, nhạc sĩ người Ý Simone Cristicchi đã công khai giễu cợt Bruni và đức lang quân của nàng trong bản Meno Male được trình diễn khơi khơi tại giải San Remo Italian Song Festival 2010. Bruni cũng được mời là ca sĩ khách mời danh giá của chương trình nhưng đã thông báo rút lời chấp thuận xuất hiện.

Những phát ngôn từ Carla Bruni:

“Thi thoảng tôi cũng yêu một ai đó trong một cuộc tình chung thủy lâu dài, nhưng tôi thích độc thân và những mối quan hệ mở. Thế đấy, ái tình thì vĩnh cửu – nhưng đam mê thì chỉ có tuổi thọ lối dăm ba tuần là cùng. Còn tình dục, đó là một thứ dễ chịu hiếm hoi của tuổi tác, khi sự mẫn cảm lẫn khoái cảm tỉ lệ thuận với tháng năm.”

Đối với hỗn danh “man-eater” do báo giới phong tặng, Bruni cho rằng “Thà làm kẻ tiên phong còn hơn ôm phận làm một túi thịt nhão. Man-eater, đó  hoàn toàn không hề là một biệt hiệu quá tệ để gọi một người đàn bà.”

hẹn hò trong thang máy

Jasmine nOir

Gã là “ẩn số” sự kiện thời trang Fashion Boulevard 2 của uy quyền độc tự f.

Người ta nói rằng gã văn minh, kiêu ngạo và khó chơi.

Không như chàng nhóc cưng màn bạc hồi tháng trước, bạn không muốn bẹo má tay công tử bột này.

Bởi bạn ngửi thấy mùi thép lạnh.

Bạn khoanh tay rung đùi nửa nguyện cầu cho Fashion Boulevard 2 thành công, nửa muốn trù ếm cho gã bóng bẩy lếu láo kia ngã oạch trên mớ mảnh ghép lego khùng điên của chính gã.

Tất cả những điều đó đều có nghĩa là gã đã lọt mắt xanh diva tháng Tám.

Và khi bạn để ý một nhân vật nào đó, có nghĩa là bạn sẽ có anh ta cho cuộc hẹn hò đêm cuối Hạ của mình.

Gã đòi các người mẫu phải có mặt và tập luyện suốt gần một tuần trước sự kiện – điều không tưởng, hão huyền và ngô nghê khiến bạn cười khẩy.

Đến cả cái vẻ sạch sẽ, bất khả tiếp cận của gã trong bộ tuxedo đen và cổ sơ mi trắng lốp viền quanh khuôn mặt non choẹt, như bạn thấy trong số f.17 cũng khiến gạn ghét cay ghét đắng gã một cách vô cớ.

Những ngày gã xuất hiện ở Sài gòn là những ngày bạn không thể tiếp cận gã. Các cú điện thoại không người nhận, những tin nhắn không hồi âm. Và điều này khiến cho sự khó chịu của bạn càng trở nên quá chừng hợp lí. Đó quả là một đồ khó chơi!

Chớ nôn nóng dội bom rung lên điện thoại của gã, bởi bạn hoàn toàn có thể hình dung ra chính gã mới là kẻ đang mấp mé bờ vực điên tiết nổ tung. Fashion Boulevard 2 khi này vẫn chỉ là những mảnh ghép lộn xộn nháo nhào. Còn bạn thì chắc chắn không muốn nghe gã đàn ông xa lạ này gào lên trên điện thoại.

Hãy bình tĩnh và chọn cho mình một đôi giày mới cho đêm dạ tiệc thời trang. Hãy mân mê khoái trá đôi gót slimheel nhọn hoắt và bén ngót khi nghĩ về cuộc hẹn mà gã chắc chắn không thể lỉnh trốn được!

Gã là của f., sẽ là thế! Sẽ phải là thế!

Giai điệu trên đĩa than và món quà gửi từ backstage

Bạn sẽ xuất hiện tại Fashion Boulevard, chậm rãi quan sát từng mảnh ghép khi này đã thành hình một đại dạ tiệc tráng lệ. Qua rèm mi giả dày kịt, bạn dõi theo một gã hề có bộ mặt sầu thảm, trên tay là chiếc bảng trắng ghi cộc lốc dòng chữ “Vỗ Tay”. Cả khán phòng làm theo, còn bạn thì chậm rãi nghiến hàm, như thể đang nhai rau ráu một tên phát-xít tưởng tượng và rủa thầm: “Đồ kẻ cả!”

“Người đàn ông trong đêm” của bạn đến tận khi này vẫn chưa lộ diện. Ắt hẳn gã vẫn đang nháo nhào với đống lùng nhùng khăn khố trong hậu đài. Hãy điềm tĩnh vắt chéo đôi chân và xem liệu gã có những gì hay ho mà trưng trổ.

Và bạn, vintage diva tuẫn tiết, sẽ lịm người khi những thứ “hay ho” mà gã có lại là những khung hình vàng ố chân dung “lệnh bà” Coco, là những trang layout đầy kiêu hãnh của f., là giai điệu chanson bản Aux Champs Elysees rè rè âm hưởng đĩa than.

Gã bày biện trước mắt bạn cả những ngặt nghèo vụn vỡ của nỗi cô độc, những cơn co giật của một năng lượng sống điên cuồng đòi thoát thai, và những cú bắn bật người lên không trung, những gã khùng đâm đầu khỏi cao ốc như một siêu anh hùng lãng mạn, những cuộc đập phá hân hoan ngông cuồng, những mảnh vôi vữa tù ngục vứt ngổn ngang trên thánh đạo runway, ném cả vào hàng frontrow danh giá khi này đang rầm rộ hò la kích động.

Vị tân tổng đạo diễn còn đủ hào hoa lịch thiệp để chu đáo gửi đến cho bạn một món quà khả ái từ cánh gà: chiếc bánh kem dầy dặn mỡ màng hình viên kim cương mang trên mình mẫu tự đủ để tim bạn rung lên phỉ mãn: f.!

Bạn bị gã chinh phục từ khi chưa giáp diện.

Và bạn khó chịu với điều này, nó khiến bạn càng muốn sở hữu thứ quyền lực ấy cho cuộc hẹn đêm nay.

“Vậy ra anh là Việt Tú, tất tật ngần này?”

Sẽ khó có thể tìm thấy anh chàng tổng đạo diễn của bạn trên đôi giày cao gót lênh khênh, trừ khi bạn chịu khó lom khom cúi người và vạch rẽ những đám đông đang hân hoan chúc tụng.

Gã ở đó, trước mặt bạn. Không, trước cổ bạn, vì khi này, bạn đang nhìn vào tổng thể hình hài…bé dí dị của gã độc tài.

Việt Tú – vị tân tổng đạo diễn vẻ vang của Fashion Boulevard, cao không quá một ngón út xinh xẻo, thật đấy!

Gã hớn hở toe toét sau một chương trình ắt được khen là thành công. Gã phì phò thở như chihuahua chạy đường trường, tay còn lăm lăm bộ đàm đen trũi, trên lưng là chiếc ba lô kềnh càng ngoại cỡ. Thiếu một chiếc “ca lô đội lệch” là bạn đã có thể hoàn tất bức chân dung Chú Bé Loắt Choắt.

Phải rất cố nén, bạn mới không buột miệng “Thì ra Việt Tú là anh đây. Tất tần tật chỉ có ngần này thôi hả?”

Hãy cho gã thêm 15+ phút để hoàn tất công đoạn đón nhận những lời cảm ơn, những cái vỗ vai chúc mừng khiến gã chúi nhủi. Và đến khi bạn thấy đã quá đủ cho quý cô f.diva phải chờ đợi, hãy tiến đến, túm lấy gã bằng hai chiếc quai ba-lô trên vai và cứ thế lôi tuột vị tổng đạo diễn vinh quang đang la ó ra thang máy.

Chúc mừng bạn, f.diva, (phù!) bây giờ đã có thể bắt đầu cuộc hẹn hò đêm cuối Hạ còn rất dài của bạn.

Tên độc tài mị dân

Cậu nhỏ đang mệt nhoài của bạn cần một chiếc ghế bành êm ái và một li giải khát mát lạnh. Gã nhao nhao gọi nước trái cây lẫn sparkling water như một anh phu khuân vác mệt nhoài nhưng kén chọn. Còn bạn thì kín đáo rút chân khỏi đôi slimheel dưới gầm bàn, chậm rãi mân mê mặt thảm với đôi chân trần, thoải mái nhất có thể để bắt đầu câu chuyện với vị tổng đạo diễn vẻ vang khi này đang hút nước ép rồn rột qua ống hút.

Hãy êm ái và nhàm chán như những gì gã có thể chờ đợi từ một ả phóng viên đi giày cao gót.

f.: Thế nào?

VT: Ah, tốt, tôi hài lòng, tôi thấy OK!

f.: OK? Khách hàng của anh không muốn thấy OK! Một Việt Tú chẳng lẽ chỉ hài lòng với OK?

VT: Được, haha, nếu em muốn biết, đã có những thứ tôi chưa thực hiện được, chiếc lồng sắt đưa xuống tận runway, cuộc tương tác không chỉ bằng thị giác mà bằng cả xúc giác với khán giả,… Tôi đã e đó sẽ là những thủ pháp quá tay. Nhưng với những gì đã có, tôi vui sướng với một sân chơi rộng và được bảo đảm vững chắc. Tôi thích thái độ này của f., họ tìm đến một vị bác sĩ và đủ tin tưởng để không can thiệp và mặc anh ta làm công việc của mình. Tất cả mọi người đều thắng. Tôi không nhảy cẫng reo hò. Tôi ngồi đây, “the show’s over”, tôi hẹn hò, và thỏa mãn.

Gã ngồi đó, bé xíu lọt thỏm trong chiếc ghế êm ái, xoa tay hài lòng nhã nhặn ra chiều khiêm tốn. Gã – kẻ đã bắt cả một trung đoàn trường túc tập luyện cật lực suốt 6 buổi, kẻ vừa mới cách đây không lâu còn áp đặt cả ê kíp lẫn khách hàng vào trận đồ ý tưởng của gã và thậm chí ngoan cố từ chối chia sẻ quá trình thực hiện. Đến tận phút cuối cùng, gã còn lếu láo áp đặt cả khán phòng bởi những “mệnh lệnh” cụt ngẳn viết trên bảng trắng: “sắp tới giờ diễn”, “vào khán phòng”, ngồi xuống, và “vỗ tay”!

“Không, tôi không còn là kẻ chuyên áp đặt, mà tự coi mình là một thuyết khách thì đúng hơn. Tôi “đề nghị” người mẫu cùng hợp tác và thỏa hiệp với họ để giảm bớt cường độ tập. Tôi vẽ nên cho f. một giải pháp ‘win-win’ nơi mọi người cùng thắng. Tôi thuyết phục bỏ ý tưởng cho Mercedes lăn bánh ra sân khấu để họ thật sự thuyết phục hơn nơi trung tâm tiểu lộ. Và tôi ‘nói’ với họ “Xin Mời Vào Trong Khán Phòng” chứ không thét toáng “Vào Khán Phòng”!

Chỉ là một thông điệp, một mục đích, sự khác biệt nằm ở chiến thuật và sự hiệp thông cần có.

Đó là điều mà tôi chỉ mới học được vài năm gần đây, sau một thời gian dài vào vai độc tài chuyên chế.”

Bạn hiểu, trước mắt bạn không chỉ là một tay độc tài suông, hắn là một tay độc tài với chiến lược mị dân.

Khuôn mặt gã Nã Phá Luân nhỏ thó nhăn nhúm lại thành một nụ cười hềnh hệch ngượng nghịu. Gã lấy tay gãi sột soạt lên cái đầu húi cua: “Nhưng mà như thế tốt hơn mà, đúng không? Tôi thấy ai cũng vui cả mà.”

 

Ít nhất là 2 kẻ trong cuộc hẹn khuya khoắt đã cùng vui với một tiếng cười ngượng nghịu phá vỡ tảng băng sơ giao. Bạn sẽ ngạc nhiên khi khám phá ra rằng gã loắt choắt tuềnh toàng trước mặt bạn, kẻ ngỡ như quá chừng lí trí, lại hoàn toàn có thể có một cuộc hàn huyên tâm đắc với bất cứ fashionista nào.

Gã nói với bạn về John Bé Bỏng, gã nấc lên cùng bạn khi nhắc đến Lee McQueen, và cùng nhau lặng đi trước sự lụi tàn oan khuất mang tên Christian Lacroix.

Tên độc tài đầu trọc thoắt trở thành đạo hữu, và f. đoan chắc bạn – nữ độc giả tuẫn tiết của f., khó lòng ngăn được ý muốn bế gã vào lòng mà vỗ về khi gã thốt trầm tư “Haute couture đã mất quá nhiều, kể từ sau Yves!”

Tay đạo diễn tài hoa của cuộc hẹn thoắt hỏi: “Em nghĩ tôi thích mặc thiết kế của ai?”

Nhân danh Christian Dior và Gianni quá cố, gã đang mặc một chiếc áo polo – loại thực tế nhất mà bạn có thể nghĩ đến!

Fashionisto Việt Tú lại một lần nữa ngượng nghịu “Vì tôi đang đi làm mà!”

Câu bao biện đó thừa đủ để bạn đánh giá gout thời trang của gã – đó chỉ có thể là Tom Ford!

Việt Tú bật reo lên tâm đắc, và gã chêm dầu vào lửa “Giày John Richmond nữa!”

Và cứ như vậy, Chúa phù hộ John Bé, John Lớn và Lee McQueen, bởi họ đã phù hộ cho cuộc hẹn hò của bạn. Hãy nâng ly hỉ hả hàn huyên cùng đạo hữu tâm giao mới của bạn, nâng ly cho Fashion Boulevard, haute couture, Tom Ford và những cuộc hẹn đêm hè!

 

Tom Ford, mùi thép lạnh và gã độc tài bị chơi khăm

Với một manh mối đầu tiên, hãy thử trò chơi áp đặt của chính bạn!

Bạn có thể không là một nghệ sĩ, có thể không là một văn sĩ, lại càng không là một kỹ sư tin học có chỉ số máu nhiễu i-ốt ngất trời. Bạn là một fashionista và nắm vững tri thức của nền văn minh thời trang, hãy tận dụng nó.

Chàng mặc Tom Ford và xỏ John Richmond – một sự cân bằng tuyệt đối! Hãy nhẩm lại thật nhanh những gì bạn đã đọc về Tom trên một số f. cách đây đôi tháng, gã mại bản Hoa kỳ điển mã. Than ôi lại là một trường phái lịch lãm và thực dụng, mùi thép lạnh ngay từ đầu đã không đánh lừa bạn. Một sự cân bằng tuyệt đối của tính thực dụng tỉnh táo trong đẳng cấp và tính xa xỉ ngông cuồng, được ngụy trang tinh tế bởi trường phái minimalism pour homme.

Tất cả là một con toán. Hoàn hảo và chân phương.

Những bung phá giãy giật, hay hào hoa nệ cổ mà bạn vừa được xem, nếu được xây dựng nên bởi một gã mặc Tom Ford, thì tất cả chỉ là một bài toán đẹp mắt.

Tom Ford, đúng, họ Nguyễn nhỏ thó đã chọn đúng trường phái thời trang cho chính mình.

“Có một người đã đặt cho tôi một câu hỏi đủ khiến thay đổi con người tôi khá nhiều ‘Bi kịch của người làm nghệ thuật chính là cuộc đeo đuổi tuyệt vọng những hình ảnh do người khác vẽ nên.’ Điều đó rất đáng sợ! Từ đó về sau, tôi luôn bảo đảm chỉ thể hiện ra những gì mình có thể kiểm soát được thấu đáo, hơn là chạy theo viễn mộng dù ám ảnh đến mấy. Công việc của tôi là trò đi trên dây, và điều cuối cùng tôi muốn đó là một cơn hoa mắt mất kiểm soát thăng bằng.”

“Tôi là một tay bốc đồng và cực đoan. Điều này không tốt cho việc đi trên dây chút nào. Nếu không nhờ sự tỉnh táo của tính logic, tôi đã không thể thu xếp cho bãi chiến trường sáng hôm nay trở thành một chương trình như chúng ta vừa có mà không có lấy một lần run-through.”

Bạn phải thừa nhận rằng gã không sai. Petit John sẽ làm được điều đó bằng niềm tin, Lee McQueen làm điều đó bằng những nỗi bất an đầy cuồng nộ, Lacroix làm điều đó bằng lòng kiêu hãnh, trong khi Ford sẽ ngồi xuống, và giải toán.

“Thế đấy, mọi người cho rằng tôi đi học làm đạo diễn, trong khi những điều đầu tiên chúng tôi được trang bị lại là tài chính nghệ thuật và làm sao để trở thành những thuyết khách. Thế là tôi, từ một gã lếu láo ngang tàng, trở nên văn minh và tử tế ra, để học những bước đi đầu tiên cần có. Miễn là đến La Mã, tính toán, thuyết phục khách hàng và ê kíp, bất cứ điều gì có thể làm để bảo vệ chương trình được thành hình như ý, ‘the show must go on’, là thế!”

Trong một khoảnh khắc, ánh mắt tinh ranh của gã lóe lên. Bạn lại ngửi thấy mùi thép lạnh, và rùng mình.

Dater lãng mạn, hãy kiêu hãnh ra về, may ra bạn còn kịp sụt sùi với vài trang Danielle Steel trong ánh nến trước khi đêm cuối hạ tuyệt diệu trôi qua. Sự lãng mạn không có việc gì làm ở đây cả, đặc biệt với một gã đi giày Richmond và mặc Tom Ford.

Còn dating diva của f., hãy xỏ lại chân vào đôi gót nhọn của mình. Người đàn ông trước mặt bạn, mặc nhiên với kích cỡ bỏ túi của hình hài tướng mạo, anh ta không hề là một chú chuột dễ vờn!

Bạn sẽ muốn lật gã đổ nháo nhào khỏi lý trí, bạn muốn biết gã trông như thế nào, khi bị giật ra khỏi cái thế cân bằng đáng ghét của kẻ đi trên dây như vậy.

Liệu gã đã bao giờ hét lên với những nàng model mảnh dẻ bất khả tự vệ của f.? Đã bao giờ gã bắt vuột sự cân bằng tỉnh táo của một cục CPU?

“Một lần, tôi mất bình tĩnh và gào toáng lên giữa một chương trình. Cả ê kíp hoảng loạn im phắc, bỗng có một bàn tay vỗ nhẹ lưng tôi. Tôi sừng sộ quay phắt lại và thấy vợ mình đứng đấy, tay bế con. Cô ấy bảo ‘Anh, con… tè!’”

Bạn đông cứng cả người, rụt rè hỏi “Đứa bé có làm sao không?”

“Vâng, cháu đã tè! Còn tôi thì mềm nhũn cả ra.”

Còn bạn, đôi chân trần dấu dưới gầm bàn của bạn cũng đang mềm nhũn ra trước hình ảnh được vẽ nên trong trí tưởng tượng, pha lẫn chút khoái trá với viễn cảnh gã độc tài bị chơi khăm.

 

Kẻ vẽ bậy lên chân dung của f.!

A, vậy ra người ta vẫn luôn có những cái nút điều khiển đâu đó trên quả bom bốc đồng và cục tính trước mắt bạn.

Những cái nút kích hoạt hay để giữ nó lạnh tanh ngoan ngoãn giữ nguyên hình thù khối thép lạnh.

“Tôi có những khoảnh khắc khùng điên và thói du côn của mình, nhưng biết cách thu xếp để chúng không làm phiền người khác và biến mình thành một tay người rừng. Nếu một người đã từng leo lên một chiếc cần cẩu cách mặt nước 20m để nhảy tòm xuống tìm chút adrenalin cho vui thì khó lòng có thể đánh giá là một thằng cha bình thường được, theo nhiều nghĩa.”

Điều này có lóe lên trong bạn một hình ảnh vừa nhìn thấy đâu đó? Rất có thể từ một điều gì đó trong chính buổi dạ tiệc Fashion Boulevard 2.

Cú va đập. Thói liều mạng ngẫu hứng. Những sự co giật trong chiếc thang máy ngột ngạt. Những thân hình nhún bật khỏi một vụ nổ, lao ra không trung giữa những vụn thủy tinh lấp lánh.

Gã đó! Tất cả là gã, một bức chân dung tự họa khéo léo đan xen vị kỷ vào toàn cảnh cung lộ thời trang hào nhoáng của f.

Trước mắt bạn là một tội đồ – kẻ đã ngạo mạn nguệch ngoạc bức chân dung tự họa lếu láo lên mẫu tự f. chí tôn!

Thậm chí người ta còn trả tiền cho gã nữa!

“Vâng! Tất cả là tôi! Là em! Là bất cứ ai trong khán phòng. Là Petit John nhập đồng trên catwalk, là Lee McQueen co quắp trong tủ! Đó là chính tôi một ngày đang để tóc dài bỗng thích cạo trọc, mẹ tôi khóc thất thanh chả hiểu việc gì khiến tôi chán đời xuống tóc, không, tôi chỉ chợt muốn cạo đầu, và thấy thích. Đó chính là tôi ngày 22 tuổi, muốn leo lên một cái gì đó cao nhất và nhảy xuống. Lúc đó tôi nghĩ gì? Tôi tự do, thế thì bay thôi! Thế là tôi bay!”

Vâng, có lẽ “đồng nữ” Mai Khôi cũng đã vừa trải qua một ngày như thế, để xuất hiện tại Fashion Boulevard với mái tóc quái nhân.

Gã trầm giọng, như thể độc thoại “Khi ở một mình, tôi điên lắm!”

Trong một cố gắng để đánh tan dấu lặng, f. đã rụt rè hỏi Việt Tú “Mà này, cái ông Tây nghịch dại ấy, cuối cùng thì có bị kẹp chân vào giữa hai cái xe hơi không? Và cậu thanh niên nhảy lầu nọ, ắt là đoạn cuối đau lắm nhỉ!”

“Thú thật, tôi không biết nữa. Tôi không định mang lại cho người một câu chuyện có hồi kết, hay thậm chí là một thông điệp. Tôi chỉ cố mang lại cảm xúc, và cảm xúc nên đa diện, nó là thuộc tính cá nhân.”

“Tôi thì tôi nghĩ ông ta bay lên, và cậu thanh niên nọ tiến vào không trung, như Peter Pan ấy, bước ra cửa sổ, và bay! Cái kết mở dành cho khán giả.”

f.: Khi người ta tin rằng mình sẽ bay và họ sẽ bay?

VT: Tôi tin là thế!

f.: Nếu tôi cũng tin anh, khán giả cũng tin anh và về nhà nghịch dại. Nếu sáng mai báo đăng tin những vụ nhảy lầu hàng loạt, anh nghĩ sao?

VT: Họ chẳng tin tôi đâu. Mà nếu có, họ sẽ bay, thật mà! Và nếu có, quả thật hay ho.

Và cả chúng tôi nữa, Tú ạ, những diva của f., chúng tôi cũng tin là vậy!

“Hãy đưa tôi vào thang máy với anh!”

f.: Sẽ có lúc anh tiếp đất, anh bạn ạ, sẽ tới lúc đó.

VT: Vâng, cái phía bên kia sườn dốc. Đó là lẽ thường và tôi đang tận hưởng hiện tại một cách tối đa. Tôi là Phật tử, tin vào luật nhân quả, và đang cho rằng mình sẽ có một con dốc êm ái cỏ xanh.

f.: Hiện giờ, anh đang ở đâu trên quả đồi của mình?

VT: Tôi không thể biết được, tôi chỉ thấy mình đang bay, và thỏa mãn.

f.: Vì anh đang bay với một sợi dây an toàn?

VT: Đúng! Đó là vì sao tôi quan trọng gia đình. Tất cả mọi thứ liên quan đến gia đình thức tỉnh một nửa lý trí trong tôi. Tôi cô độc, như tất cả mọi người. Tôi luôn muốn biết rằng: Bên ngoài cái phòng thang máy cô độc khùng điên ấy, tôi có những mối dây, những sự liên kết. Điều này gắn liền tôi với sự sống, và hỗ trợ sự thăng hoa.

f.: Hãy đưa tôi vào cái thang máy của anh, tôi hứa sẽ không làm phiền!

VT: Tôi sẽ không khùng điên co giật một cách tự nhiên trong đó được nữa.

f.: Nhưng anh đã bày biện trước cả một khán phòng đông người ngày hôm nay cả những cơn co giật và những hình thù vặn vẹo xấu xí phía sau sự hào nhoáng của thời trang đấy thôi?

VT: Vâng, đó là cách chia sẻ của tôi, bên ngoài không gian riêng và bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Rất thật, không ngụy tạo, nhưng cũng không thô lậu, hay áp đặt cái Tôi một cách suồng sã riêng tư.

f.: Hay vì môi trường công việc khiến anh phải bắt gã lập dị bốc đồng mặc vào bộ tuxedo bảnh chọe?

VT: Vậy phải cảm ơn mọi người đã làm tôi văn minh lên!

f.: Anh cô độc hay tự cô lập?

VT: Vị trí của một đạo diễn đòi hỏi tôi tự cô lập để đối diện với sức ép một mình. Chương trình không cần một sự hoảng loạn lây lan. Trong cuộc sống và đối với những người thân xung quanh cũng vậy. Tôi không tự cô lập, tôi chỉ bảo vệ họ khỏi những điều không ai khác giải quyết được ngoài chính tôi.

Mỗi người có những cái thang máy khép kín riêng của mình. Có người nhấn nút đi lên rồi lại đi xuống, giãy giụa cho qua cơn cô độc. Những kẻ khác mở cửa ra và làm khá nhiều việc được coi là điên khùng.

Đêm hẹn hò cuối Hạ của bạn cũng đã gần tàn, nhưng tay đạo diễn nhỏ thó vẫn ngồi lại “Không, cứ ngồi lại đi, chúng ta cứ nói tiếp câu chuyện. Lúc tối thì tôi mệt thật, nhưng công việc cũng đã xong rồi, tôi không có lí do gì để mệt mỏi nữa”

Hãy bình an ngồi lại bên chiếc bàn trong gian sảnh khách sạn về khuya, mặc cho ngay trên đầu bạn, những mảnh cuối cùng của tiểu Champs Elysees một đêm đang được dỡ bỏ.

“The show’s over”, hãy tiếp tục lan man trôi cùng người đàn ông nhỏ xíu với đôi mắt tinh ranh ấy, trôi thật xa đến nơi nào bạn muốn: những cửa sổ cao tầng và những chiếc cần cẩu, những tượng đài thời trang,…

Hoặc bạn có thể chọn ra về, hưởng thụ những bước tản bộ trên lề hè khuya, và cho phép gã sẻ chia cuộc thể thao muộn mằn và trong lành ấy.

Cuối cùng thì điều gã muốn mang lại vẫn luôn là cảm xúc, và cảm xúc bạn cần có khi ấy, vào lúc quá nửa đêm, là sự an toàn, dẫu Việt Tú đủ nhỏ bé để trông như một bé con, lấc cấc xấp ngửa mang trên lưng chiếc ba lô quá khổ.

Và bạn chợt nhận ra, bạn vừa bước ra khỏi chiếc thang máy rất riêng của gã!

Photo by DaiNgo

bữa tiệc hào hoa trên cung đường hình chữ f.

Trác Thúy  Miêu

Những sự kiện thảm đỏ của làng giải trí năm 2011 hẵng còn thưa thớt, nhưng những runway show càng ngày càng trở nên chuyên nghiệp của các nhà thời trang độc lập và các tạp chí “chủ xị” lại càng khiến Fashion Boulevard 2 có vẻ như sẽ phải là một ẩn số thú vị để tạo được dư luận xứng tầm.

17 tháng sau lần ra mắt số tạp chí đầu tiên, gần một năm sau Fashion Boulevard 1, và sau rất nhiều lần dời ngày tổ chức, cuối cùng thì người ta mới cuối cùng chọn ra được một vị tổng đạo diễn mới của Fashion Boulevard, và một danh sách khách mời chọn lọc nhất có thể.

Mãi cho đến tận khi những cuốn tạp chí số mừng f. tròn một tuổi với hình ảnh một “tiểu thánh nữ” da nhuộm nhũ vàng óng được ôm ấp bởi một vầng hào quang vải vóc màu đồng, người ta vẫn chưa nghe tin gì về cuộc tái xuất lần 2 của buổi tiệc sinh nhật Fashion Boulevard.

Không hào hứng như những cuộc dự đoán về kẻ thay thế vai Giám đốc Sáng tạo nhà Dior, nhưng nội giới thời trang và truyền thông Việt Nam vẫn coi thời điểm và tổng đạo diễn Fashion Boulevard 2 là những ẩn số có giá trị bên bàn tửu hậu trà dư.

Sáng ngày 19 tháng Bảy 2011, tân tổng đạo diễn Việt Tú xuất hiện tại khách sạn Intercontinental, nhìn những mảnh ghép còn hỗn độn, và tự hỏi, như lời anh tâm sự sau đêm diễn, “Bằng cách quái nào người ta có được một đêm diễn thành công từ những mảnh ghép lộn xộn này?”

Đến tận những phút cuối của buổi chiều trước giờ đón khách, những cánh thiệp cuối cùng mang logo viên kim cương màu bạc vẫn còn được gửi đi…

Như một giai điệu phức hợp được sinh ra từ trò hoán đổi vị trí của 7 nốt nhạc, vị nhạc trưởng nhỏ thó đã chơi trò chơi đó với những mảnh ghép của mình trong những giờ đồng hồ cuối cùng của…

Bản giao hưởng “Tiểu lộ Phù hoa”

Chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ, thế trận “công trường” của phòng khánh tiết khách sạn Intercontinental đã kịp thoát xác. Những tiếng ồn cuối cùng được rút về phía hậu đài. Runway được bảo toàn tuyệt đối. Khi những tấm khăn cuối cùng được trang trọng phủ lên ghế khán đài, cũng là khi phía bên ngoài, một con đường nhỏ đã kịp thành hình, những quầy boutique được dựng lên,… Paris đã không được xây dựng trong một đêm, nhưng tiểu Champs Elysees đã sẵn sàng trải lối chờ in dấu slimheel và những gót giầy quí ông lịch lãm.

Khi những khách mời bước ra từ thang máy khách sạn Intercontinental buổi tối hôm đó, trước mặt họ đã kịp trải dài cả một mô hình thu nhỏ của cung lộ xa xỉ Champs Elysees, nơi những giai nhân lẫy lừng của làng celeb Việt, những nhân vật thuộc hàng kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai làng thời trang đang dạo bước, giữa một tiểu Champs Elysees nhì nhoằng ánh flash. Dễ dàng nhận thấy những khuôn mặt sáng giá sẽ ngự trị hàng frontrow danh dự của Fashion Boulevard 2. Trong đó, người đàn bà đẹp Thủy Hương quấn mình trong chiếc váy dài như nếp rũ trên mình tượng Hy Lạp màu cỏ úa, khuôn mặt trang điểm nhẹ tênh tự tại nhan sắc đàn bà, khoác tay nhiếp ảnh gia Phạm Hoài Nam – ‘big uncle’ của các stylist và người mẫu Sài thành. Người đẹp không tuổi Giáng Mi trong gown lụa lệch vai màu xanh forest thẫm, vẽ hoa lan tím, song hành cùng cuộc “hẹn hò” tháng Sáu của f. Lương Mạnh Hải. Búp bê Trà Mi Idol tái xuất trong mái tóc pixie và nụ cười màu son trầm, nhưng cuộc náo loạn thật sự tập trung xung quanh ‘đồng nữ’ Mai Khôi, với mái tóc nhuộm gần như bạch kim, đôi lông mày “có như không” và hai vạt tóc đỏ ối màu dâu hai bên vành tai. Đây cũng là lần đầu “người đàn bà trẻ con” xuất hiện với bộ dạng và thần thái thuần túy của một cậu nhóc giảo hoạt như vậy, khiến cô ca sĩ hiện sinh hút flash hơn bất cứ chiếc váy dạ hội lộng lẫy nào.

Đối lập với hai nàng tomboy là đại nữ Thu Minh rực sáng đường cong diva trong chiếc váy bó sát màu xanh lơ, vẫn cặp kè cùng mỹ nhân ngư Mỹ Lệ đằm thắm trong kiểu váy cocktail đỏ rượu chát, rõ ràng là do chính “tiên cá miền Trung” tự thiết kế. Lừng lẫy giữa khu “tiểu lộ” Champs Elysees còn là ảnh hậu Diễm My trong chiếc váy đen giản dị, vẫn mặn mòi nhan sắc quý bà, makeup artist Hạ My khoác trên mình dấu ấn colorblock thương hiệu DMC.

Một khuôn mặt người mẫu không thể thiếu trong giàn yếu nhân của f. vẫn là quả bomb tình tứ Quỳnh Thy, trước mọi sự dự đoán, đã không xuất hiện trong đôi boots da lênh khênh mùi mẽ S&M, hay bộ corsette tung tẩy đường cong dễ gây nổ nhãn cầu – nàng mặc áo dài tân thời với vành khăn lụa mỡ gà vấn quanh tóc.

Khung cảnh diễn ra quanh một khu tiểu lộ tái hiện thánh địa Champs Elysees, với hai bên vỉa hè là những boutique thu nhỏ của nhãn nội y Vera, rực hồng phô diễn những mảnh nội y tinh xảo, đối lập với boutique xanh ngắt màu truyền thống của đại gia Mobiphone. Trung hòa trong khung cảnh sầm uất ấy là boutique ngát mùi hương thảo, đậm màu vintage Âu châu của L’Occitane, trưng bày những lọ sản phẩm long lanh đầy uy lực của thế giới làm đẹp và những bí quyết nhan sắc quý bà.

Kiêu hãnh xuất hiện giữa tiểu Champs Elysees còn là sự ngạc nhiên mang nhãn Việt Nam – Vitajeans với những sản phẩm thời trang thông minh, hứa hẹn dấu ấn đẳng cấp và một cuộc cách mạng phù phiếm cho chất liệu denim.

Ngay giữa trung tâm cung lộ là chiếc Mercedez phô bày vẻ quý phái đáng thèm muốn của một cỗ máy chứa đầy ưu chất, trong một thiết kế thông minh và hào nhoáng, bên cạnh là vẻ long lanh đầy ảo giác của hãng Martell đang phân phát khắp gian sảnh những tiếng lanh canh lịch lãm, nơi những vị thượng khách của f. chưa kịp vãn cuộc hào hoa trên những bộ sofa xa xỉ của thương hiệu Phố Xinh xếp đặt khéo léo ngay trung tâm gian sảnh.

Họ đứng và ngồi.

Họ giao đãi, ôm hôn, và cười với các ống kính.

Mọi cái đầu luôn ngoái nhìn về phía vị yếu nhân mới xuất hiện và những cuộc náo động bỏ túi trên thảm đỏ, để rồi mau chóng quay đi…

Họ – những khách bộ hành lộng lẫy của Fashion Boulevard, dạo bước trên cung lộ nhỏ viền quanh khán phòng, khi này như một quả bom hình viên kim cương đang chờ phát nổ.

Và người ta biết, đó là khi bữa đại tiệc thật sự hẵng còn chưa bắt đầu.

 “Aux Champs Elysees! Aux Champs Elysees!”

“Khi người ta bắt đầu”, theo chủ đề của Fashion Boulevard 2, đó có thể là những hoài niệm hoang phế, đó có thể là những di ảnh tàn tích ố vàng, và những giai điệu có khả năng rung lên những cung tơ dăng nhện,… Khi người ta bắt đầu, là khi họ đang có thể là tất cả, như boutique bán mũ đầu đời của bà hoàng phong cách Coco, như anh thợ Louis với ước mơ hòm xiểng của phả hệ song tự LV, như f. bây giờ, và như Paris ngày ấy.

Một vũ công, trong trang phục đen trắng như một anh hề Âu châu cổ, tay cầm tấm bảng báo showtime, lặng lẽ len lỏi giữa những cuộc hàn huyên, những tiếng lanh canh chúc tụng, giữa rừng đèn flash đang săn đón từng những nụ cười yếu nhân nở hoa trên backdrop,… Khi những tiếng xôn xao còn chưa lắng xuống, dòng người đã lặng lẽ dồn về cánh cửa khán phòng.

Những “gã hề mặt sầu” như những hướng dẫn viên lặng lẽ dẫn dắt khách mời tiến vào khán phòng tối và lạnh, nơi ngự trị ở trung tâm là viên kim cương khổng lồ mang mẫu tự f., chiếu sáng sàn catwalk là một chữ f khổng lồ trắng toát, trải dài im ắng chờ đợi cuộc diễu hành của những dấu slimheel.

Một vũ công khác lẳng lặng đi dọc lối runway, trên tay là chiếc bảng trắng với hàng chữ chân phương có chút lăn tăn trào phúng: “Vỗ Tay”

Và… “Bang! Bang!” – vụ nổ mang tên f. bắt đầu, dịu dàng như một…giai điệu.

Những hình ảnh đầu tiên loang loáng trên màn hình led lại không là một khung cảnh lộng lẫy xa hoa như những gì được chờ đợi ở Fashion Boulevard, mà là những hình ảnh đen trắng của những hoài niệm một Paris thuở ban đầu, của xô lấn điêu tàn bên hào nhoáng. Giai điệu intro hoang hoải của ca khúc Bang Bang bằng tiếng Anh được cất lên, một tiềm thức xưa cũ nhắc nhớ hơi hướm Sài thành một thời khi khán phòng lặng người trước những khung hình ố vàng thời phim đèn chiếu của một Eiffel độc nhất vô nhị, của Khải Hoàn Môn và thấp thoáng mái vòm cung Louvre… Người ta chìm vào một đô thị ố vàng, buồn bã bước vũ cabaret. Tiểu lộ Fashion Boulevard và những ánh flash trước đó vài phút như đã kịp lùi xa gần 2 thế kỷ.

Vẫn những khung ảnh ố vàng, nhưng khán phòng đã kịp dậy lên những tiếng xuýt xoa từ hàng ghế nội giới thời trang, khi màn hình xuất hiện những bức chân dung son trẻ của người đàn bà áo đen Coco Chanel với chuỗi ngọc trứ danh viền quanh cổ, cũng là khi giai điệu chuyển sang giọng chanteur đặc sệt chất hoa lệ của thánh địa thời trang thuở ban đầu: “Aux Champs-Elysées, aux Champs-Elysées, Au soleil, sous la pluie, à midi ou à minuit,  Il y a tout ce que vous voulez aux Champs-Elysées…”

Cứ như vậy, Paris ùa về giữa lòng Saigon, vẹn nguyên tráng lệ mà đượm sắc hoang tàn ngay giữa khán phòng khi này đang vang dậy tiếng vỗ tay lan tỏa từ hàng frontrow đầy phấn khích.

Bước ra từ vùng ánh sáng vãng hoài vintage của Paris những thập niên tân trào ấy, những vũ công trong các bộ trang phục nhị sắc trắng đen, u uất gợi nhớ thời hoàng kim của cabaret, những chú hề buồn thảm của chợ phiên xưa cũ. Tất cả là một thể điêu tàn của những thân hình vụn vỡ, những cánh tay vẫn vươn lên, những thân hình rướn cao trong quằn quại thoát thai – sự quằn quại cuối cùng trước khi Paris rùng mình để sáng bừng tên tuổi một thánh địa thời trang hào hoa và diễm lệ.

Đoàn kiêu binh đằng sau những trang tạp chí

Như chính bản chất của Sáng Tạo, thời trang là một quy trình lặp lại không ngừng của những vế phủ định. Phủ định quan kiến thẩm mỹ, phủ định trào lưu, phủ định tiền lệ và phủ định chính mình. Bộ sưu tập của Vitajeans trình diễn trong đêm Fashion Boulevard 2 đã là một vế phủ định đẹp mắt của tiềm lực biến hóa ẩn mình sau bề mặt thô ráp những thớ vải denim.

Người ta có những nhà thiết kế và những boutique độc lập. Tất cả chỉ còn chờ những thế lực mới, những cái đầu lạnh và những bàn tay trọng thị đằng sau những phủ định dẫu ngông cuồng nhất – những điều chờ chực nổ tung sau những layout khổng lồ trên màn hình chữ f.

 

Những tiếng vỗ tay vang dội khi màn hình chuyển sắc, khi những hình ảnh các tượng đài thời trang trở nên sống động và gần gũi hơn, với layout hút hồn của chân dung John Bé Bỏng, Hắc Miêu Naomi, vị vua đột biến M.J,… những sự tồn tại vĩnh hằng xen lẫn với những cuộc lật ngai ngoạn mục của toàn cảnh thời trang đương đại. Xen kẽ là những trang nhật kí của nàng city diva tên f. với những cuộc hẹn hò và những trang nam tử showbiz, từ gã người rừng Ngô Quang Hải, người tình lịch lãm lúc 3 giờ chiều Trần Bảo Sơn, cho đến hung thần hỏa tinh Victor Vũ, vị vua một đêm họ Đàm và “người tình cuối” Lương Mạnh Hải. Đó chính là khi những sải chân kiêu kỳ của trung đoàn trường túc trong màu xanh denim bước ra từ những trang layout khổng lồ của f. trong bộ sưu tập của Vitajeans.

Nếu những khung hình hoang hoải màu retro hoài cổ đã mang khán phòng về với Paris từ nửa đầu thế kỷ 20, thì bộ sưu tập VitaJeans lại hiển hiện một sự tái thịnh được báo trước của trào lưu 1970 với lưng quần cao đến ngang eo, ống loe, những bộ jumpsuit khêu gợi đến ngạo ngược, màu son đỏ bầm bên dưới kiểu tóc bob-demi và những đôi giày denim cao lênh khênh nghễu nghện.

Rõ ràng với Fashion Boulevard 2 năm nay, VitaJeans vẫn đang khẳng định xu hướng “thời trang hóa” của nền công nghiệp dệt may nội địa. Họ – những tân tài phiệt thật sự đứng sau mọi nền công nghệ thời trang tiên tiến, với cái đầu thép, nắm trong tay thế lực tài chính song hành cùng lòng cầu thị hướng thượng, sẽ quyết định một bệ đỡ vững chắc cho một nền công nghệ thời trang có hệ thống và chuyên nghiệp.

Năm nay, tài năng mới lên ngôi của Vita Jeans đã tỏ rõ một sự thận trọng khôn ngoan khi nhẹ nhõm đón đầu vòng quay với cuộc trở về được hứa hẹn của thời kỳ hippy thoái trào. Những ống quần loe mà giới thời trang đã hơn một lần đẩy đến cực thịnh vào thập niên 1970 và những năm giữa 1990 lại được tung ra trên sàn catwalk fTV. Phối hợp cùng mốt jumpsuit vẫn còn đang được rầm rộ ưa chuộng, cùng một cuộc thể nghiệm cá nhân được điều tiết cẩn trọng với trò chơi hiệu ứng bề mặt chất liệu, VitaJeans đã tung ra một bản song tấu thú vị giữa vũ khí chủ lực denim với chất xốp nhẹ của tule và bề mặt dầy dặn của những mảng len đan sợi.

Lịch lãm, khôn ngoan và vừa đủ tính “nghịch ngầm” đã là những yếu tố được hòa lẫn, đẩy đến cao trào là sự xuất hiện của diva runway Hoàng Yến, với một hơi hướm rõ rệt tính haute couture, lối cắt vải trúc trắc cho dáng vẻ một bà hoàng khéo vờ vĩnh vẻ xộc xệch lả lơi. Vedette cục cưng của f. – Thanh Hằng, kết thúc bộ sưu tập với thiết kế váy voyager với hàng cúc đồng chạy dọc thân trước, hé mở vừa đủ để thấp thoáng đôi chân bá chủ catwalk Việt, và phần mũ trùm bằng len nửa ngổ ngáo như punk, nửa nhắc nhớ những tấm voile tiền Phục hưng cũ kĩ, xa vời và ma mị – một lữ khách duyên dáng thực sự của con đường hình chữ f.

Jean hoang đàng và ngổ ngáo đã được thuần dưỡng như vậy, trong một dáng vẻ tân thời của hippy thành thị version 2011. Đồng tình hay chỉ xem đó là một thể nghiệm, người ta vẫn đọc được rõ ràng chủ thuyết mới của thương hiệu hàng đầu công nghiệp dệt may Việt Nam – họ mới chính là những chủ nhân ông mới, không chỉ của nhân lực, thiết bị và nguồn ngoại tệ, họ mới chính là những ngọn đại phong nâng cánh chim bằng cho một thế hệ sáng tạo mới, dư sức bật sáng trên đường runway kiêu hãnh của fashionTV.

Cỗ chiến xa bằng thân người và đường runway vô tận

Sự có mặt của biên đạo múa Tấn Lộc trong ê kíp thực hiện chương trình ngay từ đầu đã hứa hẹn những sự đầu tư thật sự cầu kì của ngôn ngữ cơ thể.

Liệu con đường runway chữ f. có đủ rộng cho những kẻ điên rồ và những tài hoa chuyên đập phá và bày bừa?  

Và Tấn Lộc, như mọi lần, đã không làm người xem thất vọng.

Một trong những chi tiết đắt giá nhất của Fashion Boulevard 2 đã là phần phối hợp song nữ Thanh Hằng – Hồ Ngọc Hà. Xứng mặt vedette, người đẹp họ Hồ xuất hiện đột ngột ở cuối đường runway sải bước về phía đệ nhất trường túc Thanh Hằng. Hai nhan sắc hàng đầu của làng giải trí và thời trang đã cùng nhau thể hiện một sự gặp gỡ tương hỗ ngoạn mục của hai ngành công nghệ vốn xưa nay song hành khắng khít, nhưng luôn tồn tại độc lập bên nhau. Ca khúc Thức Tỉnh của Hồ Ngọc Hà, cùng chất lửa của người đẹp khi đá văng đôi giầy cao gót để thực hiện vũ đạo cũng đủ để đánh thức cả khán phòng quay trở về với âm thanh thực tại.

Nhưng đỉnh cao của nghệ thuật hình thể trong bữa tiệc thị giác Fashion Boulevard 2 lại không nằm ở những động tác bốc lửa của tân diva họ Hồ và nàng sơn dương catwalk. Sự có mặt của biên đạo múa Tấn Lộc trong ê kíp thực hiện chương trình ngay từ đầu đã hứa hẹn những sự đầu tư thật sự cầu kì của ngôn ngữ cơ thể, và Tấn Lộc, như mọi lần, đã không làm người xem thất vọng.

Những vũ công được che kín mặt xuất hiện từ mọi phía của khán phòng, như tiến ra từ chính bên trong khán giả. Như những hình hài cổ quái, họ trườn lên khi thì ở catwalk, khi thì đột ngột ở trung tâm sân khấu, vặn vẹo cơ thể như hiện thân của mầm mống ý tưởng sáng tạo, được điều khiển và nâng đỡ, thoạt tiên với sự ngô nghê, gãy gập của những con manequin vô hồn. Tiếng vỗ tay hào hứng vang dội không ngớt trong khán phòng khi cái nhân dạng mong manh yếu ớt ấy tưởng như đổ sập xuống, lại khéo léo được nâng lên, trôi đi một cách kì quái trên runway chữ f., lướt trên những lớp thân thể lăn xuôi như cỗ chiến xa bằng những thân hình cuồn cuộn.

Tất cả, sự mong manh của ý tưởng sáng tạo, tinh thần đột phá và sự lao động sáng tạo cật lực, đôi khi là tính hiệp thông của những cá nhân ghép lại như một đại đồ hình những quân bài,… tất cả được tài tình tái hiện, chỉ qua những nhân dạng khuất diện tuyền một màu đen.

Đèn vụt tắt, tháp người sụp đổ. Người ta sẽ không bao giờ biết được liệu những vòng lăn có trôi đến cuối con đường. Nó đã được sinh ra, nuôi sống và thành hình, cái đích đến, điều ở cuối con đường, đối với những tâm hồn tự do, không bao giờ nên là một câu trả lời được biết trước.

Tấn Lộc đã tài tình thả lại trên sàn runway những dấu chấm lửng khoáng đạt, và chính khán giả của anh sẽ tự biết cho riêng mình đoạn cuối của con đường.

Quay trở về với khán phòng Fashion Boulevard 2, khi này bùng nổ tiếng vỗ tay rạo rực, đó vẫn là câu chuyện của “Khi Người Ta Bắt Đầu”, với Paris thời kì đen tối và hình hài hiện thân Sáng Tạo đang còn lảo đảo những bước yểu mệnh ban đầu.

 

Cuộc diễu hành ngược chiều từ highstreet colorblock đến haute couture

Người ta chờ đợi gã trọc đầu trứ danh trổ tài hoa mỹ trên đường băng chữ f.

Người ta chờ đợi những siêu phẩm cồng kềnh và xa xỉ.

Và người ta đứng bật dậy vỗ tay khi gã tung ra những đốm sắc rực rỡ nhu mì của những gì rất thật – highstreet. Rồi gã khéo léo dẫn dắt con đường ngược lối cao trào, tìm về những kho tàng cảm xúc thể hiện qua hình hài ý tưởng mang dấu ấn những bậc thầy.

Phần 2 của Fashion Boulevard là một sự thức tỉnh được vực dậy từ âm thanh, ánh sáng và sắc màu – một trạng thái cực đoan nhất của bảng màu palette. Với ngôn ngữ của colorblock đương thịnh trên nền cấu trúc thiết kế hoàn toàn cơ bản của phái minimalism, Đỗ Mạnh Cường đã khéo léo đóng vai trò dẫn dắt khán giả đi ngược lại một cung đường thời trang, từ những thiết kế gần gũi của trào lưu đương đại, ngược lên dòng thiết kế váy dạ hội, nhắc nhớ những trào lưu đã qua, đã từng một thời hoành hành thảm đỏ khắp nơi trên thế giới, và kết thúc ở những thiết kế đậm nét haute couture, hiển hiện những nguồn gốc tư tưởng mang tính trào lưu của các phong cách hàng đầu làng thời trang thế giới. Một đoạn đường ngược chiều thú vị lần theo quy trình của thời trang tìm về những nguồn ý tưởng, một đoản khúc tụng ca và dẫn giải mạch sống haute couture, những nguồn ảnh hưởng tư duy đan chéo và tự tiết giản, hóa thân để hiển hiện sống động không chỉ trên thảm đỏ, dạ tiệc, mà còn có khả năng tràn xuống tầng thị phần ready-to-wear thân thiện.

Bộ sưu tập của DMC đã được bắt đầu xu hướng tân trào của chính đời sống thời trang tại Việt Nam, với trào lưu colorblock, thậm chí thấp thoáng ứng dụng của ảnh hưởng quốc phục hay tứ thân, nhưng bảo toàn dấu hiệu mãi lực mạnh mẽ cho hiệu quả thương mại của các thiết kế, vốn được xem là yếu tố hàng đầu của thời trang ready-to-wear.

Tuân thủ tính khúc chiết trong bố cục của một collection chuyên nghiệp, Đỗ Mạnh Cường lại một lần nữa phát huy sở trường này với hàng loạt những thiết kế dạ hội đơn sắc. Sự bay bổng của chất liệu vải được chọn lựa cầu kỳ đã kích thích những tràng vỗ tay từ khán phòng, và kích hoạt ánh flash rộ lên hàng loạt từ phía khu vực nhiếp ảnh cuối runway. Cao trào của bộ sưu tập dừng lại ở đỉnh điểm hòa sắc – màu đỏ trong sắc độ cực đoan nhất, trong sự xa xỉ ngập ngụa của chất liệu, bắt đầu với Hoàng Yến ngạo nghễ như một Nữ Hoàng Đỏ, và kết thúc với một Thanh Hằng chìm ngập hoàn toàn trong sắc tía cùng cực đài các đế vương.

Và người ta, những tín đồ am hiểu, bật lên tiếng vỗ tay tán thưởng cho ‘hành trình ngược’ từ đường phố đến runway cao cấp, từ thị trường thân thiện đến haute couture, và mọi biến động trào lưu thời trang thương mại ngược về những tư tưởng ngông cuồng nhất của những tượng đài thời trang siêu thực.

Không chỉ là một bộ sưu tập thuần túy như trong một runway show giới thiệu sản phẩm, bộ sưu tập DMC đã thật sự làm đúng vai trò phục trang, hòa mình vào tổng thể thông điệp của chương trình, tái hiện một cách tráng lệ những hình hài, phong cách được tôn vinh trên các chuyên mục thời trang của f., như một quãng đường đồng hành hiệp thông và ngoạn mục của f. cùng DMC.

Những kẻ ngớ ngẩn

Ngay sau đêm diễn, khi tiểu lộ Champs Elysees lại đông nghẹt những khăn áo và tiếng lanh canh chúc tụng, không ít vị khách vẫn còn hoang mang đưa mắt nhìn nhau, những tin nhắn điện thoại vẫn được kín đáo gửi đi, và những lời xì xầm đã được truyền tai, dư âm còn hiển hiện trên status một vài người đã có mặt trong khán phòng Intercontinental đêm ấy: “Thế rồi cuối cùng, thằng cha ấy có làm sao không? Mà có chuyện gì khiến y buồn làm vậy?”

Đêm ấy, trong bữa dạ tiệc mừng f. tròn 1 tuổi, đã có một thân hình bay ra khỏi cửa sổ building.

Chỉ có vài người biết rõ đoạn kết của cú nhảy.

Dường như cơn phấn khích sắc màu của bộ sưu tập DMC sẽ cần một liều an thần tinh tế, điều không nằm ngoài trận đồ của tổng chỉ huy Việt Tú.

Tiếng vỗ tay lắng xuống, catwalk lại một lần nữa chìm vào bóng tối và khán phòng thở ra.

Trên màn hình là hình hài một người đàn ông trong trạng thái co giật, hai cỗ máy bốn bánh sơn đen lùi xa dần như kéo thẳng căng hết mức mọi dây thần kinh. Người đàn ông dịu cơn co giật, ánh mắt nhẹ nhàng mở – khai sáng và tĩnh tại. Tiếng bánh xe nghiến trên mặt đường nhựa, tiếng động cơ gầm rú như của loài mãnh thú, người ta co mình lại khi hai cỗ máy lao thẳng vào nhân vật khi này nhẹ nhõm một động tác nhún mình.

Một cú va chạm.

Một cú cất mình lên không trung.

Màn hình và cả khán phòng, trong một tích tắc, đông lạnh trước một khung hình thoát tục.

Một cậu thiếu niên bước những bước vô hồn vào trong thang máy, một ánh sáng lẻ loi chiếu rọi xuống đầu. Cánh cửa khép lại, bất khả vãn hồi.

Lại là những cơn co giật dữ dội, những va chạm gay gắt của xung lực khoái cảm và sự đau đớn tột cùng.

Cánh cửa thang máy mở ra, đôi mắt của nhân vật long lanh một thái cực tột cùng của hưng phấn.

Đôi bả vai chậm chạp co lại.

Bầu trời ở trước mắt và thành phố ở dưới chân.

Người ta có thể lắng nghe tiếng tim đập theo những bước chạy slow-motion nhắm thẳng phía ánh sáng, phía độ cao, và về phía vực thẳm.

Góc máy từ bên ngoài lớp kính mô tả một nhân dạng lờ mờ, dãy dụa trong một bầu nước tù hãm, đòi đoạn cuộc khai minh.

Va chạm!

Những mảnh thủy tinh óng ánh vụn vỡ, thân hình tìm thoát ra ngoài không gian. Về phía ánh sáng. Về phía đỉnh cao. Và về phía vực thẳm.

Khung hình chết lặng trong hình ảnh một cuộc thoát thai.

Ai biết đâu đấy, gã chán đời ngớ ngẩn đã rất có thể đập mặt xuống lòng đường và báo chí sẽ có một vụ tự tử.

Nhưng để làm nên những kiệt tác, những bộ sưu tập, những tạp chí và những Fashion Boulevard, người ta cần những cú va đập của những kẻ đủ tỉnh táo để chấp nhận vực thẳm, nhưng tin một cách tuyệt đối vào đỉnh cao.

Màn hình đã dừng lại. Không có một vụ tự tử nào cả, chỉ có một mẫu tự f. đầy kiêu hãnh và quyền lực, và một khán phòng Fashion Boulevard vang dội tiếng vỗ tay.

 

Nhà vô địch ở vạch xuất phát và runway vô hạn

Như một lời tự sự phía sau những hào nhoáng trên runway hay trên các trang bìa tạp chí, sự quẫy đạp mãnh liệt của những cơn thoát thai mang tên Sáng Tạo lại được tái hiện qua những hình hài co giật trong lồng sắt. Những cánh tay, những thân mình vũ công điên cuồng len lỏi với cường độ được đẩy cao cho đến khi những rào chắn sụp đổ.

Khán phòng Fashion Boulevard 2 tràn ngập những tiếng vỗ tay kích động và đồng cảm trong một sự giải thoát được thể hiện tuyệt hảo qua ngôn ngữ múa. Những mảnh tường vỡ bị đập nát và bạo liệt tung hê lên catwalk, vào cả khán giả, những động tác tự do đầy hân hoan phấn khích, một cơn mê sảng lây lan…

Và trong chính đống đổ nát hân hoan cuộc khai mở chặng đường đầu ấy, chiếc bánh sinh nhật với mẫu tự f. trứ danh và số 1 đầy kiêu hãnh được đốt lên sáng rực, vây xung quanh là ê-kíp không-thể-gọn-hơn của f., cùng dàn đồng ấu những thiên tinh váy trắng và khúc ca trong trẻo vẫn vang lên, hồn nhiên, tự tại, khi người ta bắt đầu, trải dài trước mắt là con đường mang mẫu tự f. không có điểm dừng: “Congratulations and celebrations!”.

f. tin vào haute couture và sức sống của sự lãng mạn.

f. tin vào những kẻ bước chân ra khỏi cửa sổ và bay.

f. tin vào những nhà vô địch ở vạch xuất phát và những đường runway vô hạn.

Bởi f. không cô độc.

Bởi Fashion Boulevard sẽ còn tiếp diễn hàng năm, như những cột mốc kiêu hãnh trên những cung đường tráng lệ của thời trang.

Và đó sẽ là một runway không có điểm kết thúc.

f. tin là vậy!

Image sources: DaiNgo, VicNguyen, Any Arena

ngày mặt trăng không còn nhảy múa

Túy Ca

Với không chỉ một chiếc găng đính đá, Michael Jackson vươn tay đến lãnh địa Pop và bao phủ thế giới trong nhiều thập niên bằng hình ảnh, giai điệu và những bước nhảy của mình. Và cũng chính bàn tay đeo găng ấy đã rải rắc khắp thế giới những cơn sốt phụ trang, những cầu vai, tua ngù, nón fedora…mãnh liệt không kém cơn sốt âm nhạc của chính mình.

 “Tôi cũng là một con người, biết đau và chảy máu. Tôi còn là một tay cả thẹn.” Vua Pop đã có lần tự sự như vậy trong một trong những cố gắng để thú nhận rằng sâu, rất sâu bên trong hình hài cổ quái của một tượng đài huyền thoại, ông cũng là một con người bình thường. Nhưng chưa bao giờ điều này tỏ ra thuyết phục cả, cho đến cái chết của ông.

Có lẽ người ta không nên sửng sốt vì Michael đã ra đi, mà đúng ra nên ngạc nhiên rằng nhân loại đã từng sản sinh ra Michael.

Cậu Nhỏ Nhà Jackson

Michael Jackson chớm mang mệnh “thiên tử showbiz” từ khi còn ở độ tuổi mà tất cả những đứa trẻ khác còn chưa hiểu nghĩa của từ “nổi tiếng”. Sinh năm 1958 tại khu dân cư lao động thị trấn Gary, Indiana, Michael đã biểu diễn trong nhóm đồng ấu với các anh em trong nhà – ban Jackson Five từ khi 6 tuổi và nhanh chóng trở thành giọng ca chính. Nước Mỹ yêu quí cậu nhóc đen thui có đôi mắt ướt và vũ đạo ngộ nghĩnh như yêu một chú khỉ kháu khỉnh biết làm trò. Không mấy ai biết rằng, một động lực biểu diễn đáng kể của cậu nhóc nhà Jackson chính là nỗi sợ. Về sau, ông kể lại rằng cha mình, ông Joe Jackson, một nhạc công guitar bất đắc chí, thường xuyên đánh đập những cậu nhỏ Jackson Five và những buổi tập đàn hát của họ đã diễn ra trong tiếng dây lưng vút xuống bất cứ lúc nào.

Những cậu nhỏ nhà Jackson, với những trận mưa roi, vẫn liên tục đạt những kỷ lục của chính mình, nhưng sự trội bật đặc biệt của nhóc Michael đã vội bỏ xa các anh em của mình và chính chiếc nôi Jackson Five. Về sau, album Thriller của ông, năm 1982, với các hit bất hủ Beat It và Billie Jean cho đến tận nay vẫn được ghi nhận là album bán chạy nhất trong lịch sử showbiz thế giới – trên 100 triệu bản. Năm 1984, ông nhận giải thưởng danh dự do tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan trao tặng tại tòa Bạch Ốc về những hoạt động xã hội chống nạn nghiện rượu và ma túy. Một năm sau đó, ông cùng Eric Clapton viết nên We Are The World – ca khúc được mệnh danh là bản “quốc tế ca không chính thức”.

Nhưng cũng vào thời kỳ này, Michael Jackson – vẫn nguyên vẹn là nhóc Michael trong một hình hài trưởng thành, bắt đầu cho thấy những dấu hiệu phản ứng với danh vọng của chính mình. Những tin đồn hành lang về căn phòng oxygen có thể hoàn toàn là bịa đặt, mà về sau có bằng chứng cho thấy chính ông đã tiếp tay lan truyền, tương tự câu chuyện về việc ông mua lại bộ xương Người Voi, cùng những chuyện truyền khẩu quái dị khác. Chỉ riêng chuyện ông nhận nuôi chú tinh tinh Bubbles là hoàn toàn có thật. Như một đứa trẻ, dẫu là một đứa bé thần đồng, Michael gắn bó mật thiết với Bubbles dẫu luôn muốn được vây quanh mình bởi những bạn bè thân thiết nổi tiếng của thượng đỉnh làng showbiz thế giới.

Đây cũng là thời kỳ nước da của ông trở nên sáng màu hơn thấy rõ, cùng lúc với sự biến đổi nhanh chóng của khuôn mặt.

Ông vẫn được yêu quí bởi lượng khổng lồ những fan sùng đạo trên toàn thế giới. Bản Bad năm 1987 tiếp tục là bom tấn dội xuống thị trường âm nhạc toàn cầu. Nhưng Jackson hoàn tất cuộc biến hình hoàn chỉnh để từ nhóc Michael trở thành quái nhân Wacko Jacko (Jacko Lập Dị)

Vượt trên cả tham vọng tự biến mình thành một hình hài đa chủng tộc và phi giới tính, Michael bắt đầu thực hiện giấc mộng níu giữ thời gian. Ông tự xây cho mình một công viên giải trí và đặt tên là Neverland (Xứ Sở Không Bao Giờ), thả vào đấy cả một vườn thú, nơi Vua Pop ngập ngụa trong một thứ tình yêu an toàn và thật thà nhất không hề bị tác động bởi danh tiếng, tài sản hay độ cao chiếc mũi của ông.

Michael-Không-Chịu-Lớn bắt đầu tìm đến với những người bạn “đồng trang lứa” – những đứa trẻ. Phần lớn ở đúng vào độ tuổi khi mà cậu nhóc ban Jackson Five bắt đầu sự nghiệp solo.

Hoàng Đế Lưỡng tính

Sau thành công hiển nhiên của kiểu nón fedora và găng tay trắng, Michael bắt đầu tỏ rõ một sự lưu tâm đặc biệt đến các món phụ trang, liều lĩnh bước khỏi hình ảnh chuẩn mực lúc này vẫn còn đang sốt rần rật của chính mình trước đó. Cùng với sắc đỏ của chiếc áo khoác da, Vua phủ sóng thần dân bằng những cơn sốt kiểu tóc xoăn ướt gel thả dài xuống mắt và đôi kính mát kiểu aviator tráng thủy. Hẳn nhiên, ngoài những con chiên mộ đạo bạo tay, phần còn lại của thế giới vẫn chọn cho mình một vài món trong cả bộ sưu tập phụ trang lỉnh kỉnh ấy để tự trang bị cho mình, từ kiểu kính aviator specs cho đến những chiếc áo khoác da, hay kiểu tóc dập gãy lăn tăn hoành hành mái tóc fashionista khắp nơi trên thế giới. Hẳn nhiên, với cơn sốt Billie Jean và tiết tấu kích động của Beat It vang lên trong từng quán karaoke có mặt ở khắp mọi nơi, ai mà không muốn trên mình có chút gì có chất Michael?

Niềm đam mê phụ trang đã dẫn lối phong cách Vua Pop đến giai kỳ cực thịnh của trường phái “More Is More” của những năm đỉnh điểm cầu kỳ. Những bộ suit sắc sảo và vành mũ phớt đã đi vào quên lãng, thời đại áo khoác da găng tay kim tuyến cũng trở nên đại trà và xoàng xĩnh. Vua trở thành một tượng đài siêu xa hoa và hình mạo rổn rảng nhì nhoằng phụ trang như một cây Giáng Sinh hào nhoáng.

Năm 1984, khi được vời đến tòa Bạch Ốc để nhận giải thưởng đầy vinh dự từ tay thủ tướng Reagan, Michael đã xuất hiện dưới phong cách quân sự đa binh chủng: jacket xanh lính thủy đính cườm với ngù vai vàng, chiếc găng đính đá bất ly thân, giày loafers đen và kính mát aviator kiểu phi công.

Đây cũng là thời kỳ rõ nét nhất của xu hướng phi giới tính trong hình ảnh của Michael. Những chiếc jacket cổ điển được tân thời hóa với dáng cắt ôm eo gần giống như những chiếc jacket nữ, trong khi những tua ngù xích nhợ, cổ áo vương giả dựng cao, ôm lấy khuôn mặt với chiếc mũi cao vót như Kim Tự Tháp, xương cằm được chỉnh cho thon thả và lớp mỹ phẩm ẻo lả tô hồng chuốt lục cho khuôn diện của một vị Vua.

Chính bắt đầu từ thời điểm này, khát vọng vĩ cuồng tạo nên một hình ảnh không tuổi, phi giới tính và phi chủng tộc đã đẩy Vua Pop sa đà một cách tuyệt vọng vào những cuộc giải phẫu chỉnh hình quá tay. Chiếc mũi của Ngài trở nên thanh tú đến dị dạng và khiến người ta không khỏi hình dung hốc mũi ghê sợ trên chiếc sọ người, làn môi mỏng như lá lúa, chiếc cằm được khắc đẽo sau bao lần đã biến dạng vẹo vọ, và màu da quá nhiều lần xử lí đã thành một sắc trắng bạch tạng khiến ông hoàng showbiz không còn có thể phơi ra dưới ánh nắng ban ngày bộ dạng yếm thế của mình.

Những Phù thủy Thời trang Phía Sau Ngai Vua Pop

Ngoài những nhà thiết kế hàng đầu được Vua Pop tin cẩn như Balmain, Versace, Roberto Cavalli, Ngài vẫn có riêng cho mình hai chuyên viên thân tín – những vị đại thần mang trọng trách chuyển hóa ý tưởng, thông điệp và những giấc mơ của Ngài thành những thiết kế trang phục để lại dấu ấn bất hủ về sau. Hai cái tên Michael Bush và Dennis Tompkins là hai nhà thiết kế được giới thời trang kiêng nể bởi trọng trách vẻ vang lẫn những thiết kế xuất thần. Nhưng họ cũng còn được coi là hai con chiên ghẻ của thời trang giới khi cúc cung tận tụy 25 bên ngai Vua Pop, tự triệt tiêu mọi ý tưởng và cảm xúc cá nhân để thuần túy chuyển dịch ý tưởng của Vua thành những bộ trang phục biểu diễn đầy quyền năng.

Họ giấu mình phía sau ngai và vầng hào quang của Vua Pop, lẳng lặng làm công việc của mình. Nói một cách khác, họ cần mẫn chui nhủi trong kho trang phục của Ngài Ngự với hàng chục ngàn bộ mà phần lớn đều mang hơi hướm quân đội. Trong studio của họ là một tượng mannequin Michael được làm theo đúng từng li số đo cơ thể của Vua, và nhận những lời ra lệnh theo kiểu “Đây là những gì người ta đang mặc ở ngoài kia, hãy làm tốt hơn vậy!”

Và họ đã làm tốt hơn vậy!

Nhưng gánh vác trọng trách chăm sóc cho diện mạo Vua Pop không chỉ có cặp song kiếm Bush-Tompkins. Chiếc áo khoác da “Thriller” trứ danh đã góp phần đáng kể khiến cú sốt Michael thêm phần sôi nổi chính là Deborah Landis. Với yêu cầu dàn dựng của music video nổi tiếng này, với cảnh tượng những thây ma lê lết vật vờ lách qua những cỗ quan tài rệu rã, trở về từ cát bụi nhà mồ. Về sau, khi kể lại, Deborah đã tự hỏi “Cái gì sẽ khiến Michael nổi bật giữa khung cảnh bãi tha ma mà vẫn thích hợp với hòa sắc của bối cảnh đầy tử khí ấy?”. Deborah cuối cùng đã tài tình định sắc cho màu đỏ huyền thoại cho chiếc jacket da của Michael – một sắc đỏ của máu khô và những vết rỉ sét. Và bà đã làm nên cả một huyền thoại, một cơn sốt cho toàn thế giới, và một bệ phóng mới cho hình ảnh Michael.

Ngai Hoàng-hậu Hai Lần Đổi Ngôi

Vụ scandal lạm dụng tình dục trẻ em đầu tiên vào năm 1993 đã đẩy trò chơi làm Peter Pan đến mức độ nguy hiểm và ghê tởm. Nạn nhân đầu tiên là cậu Jordan Chandler 13 tuổi, nhưng những người lớn – bố mẹ người bị hại, đã chấp thuận bãi kiện với sự dàn xếp từ người đại diện của Vua Pop. Báo chí xoay chiều dư luận với nhận xét lấp lửng rằng đây quả là một vố hời cho nhà Chandler. Một năm sau, Vua Pop cưới Lisa Marie Presley – ái nữ của Vua Rock N Roll Elvis Presley. Một hôn lễ môn đăng hộ đối hoàn toàn xứng đáng cho sự lựa chọn của một vị vua. Chàng hát tặng nàng bản hit bất hủ lưu danh lẫy lừng mãi về sau như khúc tình ca duy nhất nổi bật của Vua Pop: You Are Not Alone. Cuộc hương lửa chóng vánh lụi tàn khi Hoàng Hậu Pop đem chuyện than phiền kể lể với báo giới rằng chồng nàng mỗi đêm trát mỹ phẩm lên mặt còn nhiều hơn chính nàng.

Họ li dị (không hoàn toàn bởi lí do trên) nhanh chóng sau đó. Năm 1996, Michael đặt lên ngôi hoàng hậu một người đàn bà bình thường và thô kệch: Debbie Rowe – một y tá khỏe mạnh đã cho ông hai đứa con Prince và Paris.

Bé Blanket sinh năm 2002 là đứa con thứ ba của Vua Pop mà cho đến bây giờ danh tánh người mẹ vẫn được dấu kín. Không rõ Michael xem đây là một món quà của Thượng Đế hay một vụ tai nạn, nhưng khi Blanket mới được mấy tháng, các fan hâm mộ luôn tụ tập trên vỉa hè nhìn thấy Vua với nụ cười điên dại đang cầm bé bằng hai tay và đung đưa trên không từ một balcon cao tầng ở Berlin.

Không hẳn vì sự kiện trên, nhưng cuộc đời và sự nghiệp Vua Pop trở nên điêu tàn một năm sau đó. Album Invincible được tung ra hồi 2001 thất bại thảm thương trong khi các album khác vẫn bán ngon ơ 10 triệu bản. Những lời đồn đại trở nên ồn ào hơn chính âm nhạc của ông.

Bí mật Phía Sau Cổng ‘Địa đàng Cổ tích’

Năm 2002, phóng viên truyền hình Anh Quốc Martin Bashir thuyết phục thành công Vua Pop xuất hiện trong phim tư liệu của kênh Granada TV. Cuốn phim phát sóng một năm sau đó với những bối cảnh kỳ dị bên trong những bức tường của vương quốc Neverland, với Vua Pop thừa nhận rằng ông thường đón những đứa trẻ cơ nhỡ đến và mời ngủ lại trong phòng mình.

Khán giả trên toàn thế giới kinh hoàng nhìn cảnh Vua Pop tay nắm tay với cậu Gavin Arvizo 13 tuổi mà ông kết bạn sau khi cậu bé được thông báo đã mắc bệnh ung thư. Ngay sau khi cuốn phim được tung ra, Michael Jackson bị bắt vì những hành vi “dâm đãng và vô luân” đã được thực hiện với cậu bé Gavin.

Tháng Giêng 2005, Vua Pop xuất hiện trước tòa, tiều tụy và cổ quái hơn bao giờ hết và không còn lại gì của một siêu sao “bất khả xâm phạm” như hồi vụ kiện của Jordan Chandler một thập niên trước đó. Vua Pop trèo lên nóc xe trước đám đông tụ tập trước tòa để lên tiến minh oan. Tất cả những gì người ta nhìn thấy là một con nghiện morphine và thuốc giảm đau Demerol. Ông chỉ còn là cái bóng thảm hại của chính mình

Suốt 14 tuần tiếp theo, theo lời tờ Los Angeles Times, là một tấn trò nhiều tập của “Quái đản Và Quái đản Hơn” (“Weird And The Weirder”). Các bằng chứng đồi trụy được tìm thấy bên trong tòa “lâu đài cổ tích” Neverland được đưa ra, chứng nghiện rượu – thứ nước mà ông gọi là “Nước Ép Chúa” (Jesus Juice) khi dụ dỗ bọn trẻ. Jackson cố minh chứng rằng mối quan hệ giữa ông và những đứa trẻ là hoàn toàn trong sáng. Chỉ với một ê kíp biện hộ siêu thiện chiến, Michael Jackson thoát án nhưng vết nhơ và những nghi vấn vĩnh viễn ghi dấu lên tượng đài Vua Pop.

Vết Nhơ Ấu dâm & Gã Hề Xiếc Trước Cổng Pháp đình

Hình nhân cổ quái đáng thương mang tên Jackson ấy đã chỉ sống lại dưới ánh đèn sân khấu, và được chiêu hồn bởi những tiếng hò la của đám đông cuồng mộ bên dưới. Nhưng các scandal về vụ kiện ấu dâm và những tin đồn rầm rĩ về các cuộc giải phẫu chỉnh hình liên hồi của Michael đã trở nên ồn ào hơn cả âm nhạc của ông. Người ta không còn quan tâm đến âm nhạc của ông bằng việc liệu chiếc mũi nhân tạo chông chênh trúc trắc kia khi nào sẽ rớt văng khỏi mặt rồng Vua Pop. Trong suốt thời gian hầu tòa về vụ kiện có liên quan đến hành vi lạm dụng tình dục trẻ em, đám đông hỗn loạn các fan cuồng tín, cùng rừng ống kính hầu như luôn túc trực tại cổng pháp đình, săm soi nôn nóng chờ xem hôm ấy Ngài mặc gì, và trên hết liệu mũi hay cằm của Ngài hôm ấy có chẳng may sút sổ lúc nào không.

Trung thành với nghiệp giải trí muôn dân, Vua không hề làm đám đông của ngài thất vọng với nguyên tắc không bao giờ lặp lại bộ trang phục đã một lần xuất hiện. Các phó may thượng thừa lão làng làm việc cật lực ngày đêm để cung ứng nhu cầu phô diễn cho vị vua yếm thế, bởi không mấy khi Ngài xa giá liên tù tì như vậy. Tuy thế, mỗi bộ trang phục vẫn phải được thiết kế và kiểm duyệt khắt khe về kiểu dáng và chi tiết sao cho tuyệt đối ưng ý, đặc biệt trong dịp ngài xuất hiện gần với “thần dân” của mình đến vậy, trong một dịp dễ sụp đổ hiệu ứng PR đến vậy. Người ta lại được dịp nhìn ngắm những bộ suit cầu kì tuyệt kỹ nhất, những chiếc nút đồng, những kiểu mề đay đại tướng đẹp huy hoàng thất đảm, và sau mỗi chuyển động của Ngài khiến vạt jacket chuyển dịch lại lóe lên điệu nghệ khoe lớp chất liệu xa xỉ sáng màu sặc sỡ của chiếc vest tinh xảo bên trong.

Ngay cả khi đứng trước vành móng ngựa, đối diện với tội danh nhơ nhuốc nhất của các tội danh, Vua cũng từ chối hòa lẫn vào đám đông hay tỏ ra chút gì nhu mì trước bồi thẩm đoàn. Thậm chí, một lần Ngài còn ngạo mạn xuất hiện trước thẩm phán, trên mình là bộ pajamas, phía sau là đám đông được thỏa thuê đáp ứng lòng hiếu kỳ và nhu cầu giải trí.

Sau vụ kiện ô nhục nọ, Michael đến sống tại Bahrain trong một cuộc ẩn cư chờ ngày vinh hiển tái xuất. Người ta đồn rằng Ngài đã ẩn dật tại đó để có thời gian tìm cho mình một diện mạo mới và không cho phép bất cứ điều gì xảy ra có thể khiến người ta lãng quên Ngài. Giới thời trang khắc khoải chờ đợi không kém gì các con dân của Vua Pop. Bởi họ biết, dẫu trong bất cứ bộ da và trang phục nào, Ngài sẽ không xỏ tay cùng một thứ gì của chính mình và bất kì ai khác. Và đó chính là giới hạn duy nhất về phong cách và thời trang mà ông hoàng giải trí này để lại cho nền công nghệ giải trí lẫn giới thời trang.

Ra đi cùng với “biện hộ đoàn” thiện chiến nọ, cùng những thói quen siêu vương giả khác của Vua Pop là một khoản tài sản khổng lồ tan vào mây khói.

Ông không còn bao giờ quay trở về Neverland và dọn đến sống tại Bahrain với các con một cuộc đời lưu vong tại dinh thự của Sheikh Abdullah – người đã từng chi hàng triệu Mỹ kim để thu âm các ca khúc do Sheikh viết.

Năm 2006, Neverland bị buộc đóng cửa. Từng món tài sản tư trang bị mang ra bán tống tháo trong một phiên đấu giá ô nhục. Người ta còn nói rằng ngay cả từng cánh cổng của Neverland cũng được gỡ ra đấu giá.

Những năm cuối cùng, Vua Pop 50 tuổi lại tiếp tục trượt sâu vào khánh kiệt, bệnh tật và ô nhục. Vua Pop trở thành Chúa Chổm. Ông liên tiếp ra hầu tòa bởi những vụ kiện do chính những kẻ tín cẩn trước đây đâm đơn. Sheikh kiện nợ 7 triệu Mỹ kim, nhà sản xuất John Landis – đạo diễn video Thriller hồi 1982 cũng kiện cáo vụ lằng nhằng ăn chia lợi nhuận của music video lừng danh này. Tổng cộng 45 vụ kiện tụng cùng ập đến, phần lớn là từ các chủ nợ.

Các bác sĩ báo động về tình trạng sức khỏe của ông, đòi hỏi một cuộc đại phẫu ghép phổi.

Vua hầu như không còn xuất hiện nơi công cộng, một phần vì những cuộc phẫu thuật chỉnh hình không còn cho phép ông phơi mặt ra dưới ánh sáng mặt trời nữa. Những lần ống kính đói tin của các paparazzi hiếm hoi ghi lại được hình ảnh Vua Pop, ông luôn thiểu não một cách đáng sợ trong bộ dạng khủng khiếp, khuôn mặt thường xuyên được che khuất sau lớp khẩu trang, kính mát và nón kéo sụp ngang trán.

This Is It!

Cả thế giới chờ đợi sự trở về huy hoàng của Vua trong cuộc tìm lại tình cảm của công chúng, để thanh minh và gột rửa thanh danh.

Nhưng dường như với một sự mẫn cảm kì lạ nào đó, chỉ riêng giới thời trang lại linh cảm thấy một cuộc ra đi.

Mùa tuần lễ thời trang trước khi Michael đột ngột qua đời đã diễn ra như một đại lễ tế sống Vua Pop. Các sàn diễn thời trang tràn ngập những hình ảnh quá vãng hoàng kim của Vua Pop. Nhà Balmain – thương hiệu “ruột” của Michael Jackson, đưa vào bộ sưu tập những mẫu jacket lóng lánh hạt pha lê, trong khi nhà Givenchy đính những hàng khuy vàng lên những mẫu jacket gợi nhớ những chiếc áo kiểu sĩ quan một thời đình đám. Không nằm ngoài dự cảm u buồn ấy, catwalk nhà Louis Vuitton lấp lánh những chiếc găng đính đá trắng.

Nhà Swarovski được mùa một cách vẻ vang, và cùng lúc chuẩn bị cho những bộ “chiến bào” ưu tú nhất cho màn khai pháo tour diễn tái xuất vào tháng sau tại London của Vua Pop.

Buổi diễn đầu tiên vĩnh viễn không bao giờ được bắt đầu.

Thay vào đó là bộ phim cuối cùng đi vào lịch sử cùng tên với tour diễn xúi quẩy nọ, cái tên cũng chứa đầy dự cảm: This Is It!

Vua Đã Không Chờ!

Tuy khánh tận với những món nợ khổng lồ liên tục gây áp lực, Michael không thể ngưng làm việc. Và đó là khi người ta quyết định This Is It sẽ diễn ra trong 50 ngày hoành tráng hứa hẹn sẽ lại làm nên lịch sử và khoảng từ 50 triệu đến 100 triệu Mỹ kim lợi nhuận, sẽ được diễn ra tại khán trường O.2 ở London trong vòng 2 tuần sau đó.

Thoạt tiên, Michael không muốn kéo dài hơn 10 ngày, nếu không có một vụ kiện nợ khác với con số hàng triệu Mỹ kim vừa mới kịp khởi kiện tại tòa án Hoa Kỳ. Vua Pop đành tăng số buổi diễn lên 50 để cày bừa trả nợ.

Người ta đồn rằng, với tình trạng sức khỏe và tâm lí mong manh hiện tại và áp lực 50 buổi diễn, rất có thể chất lượng biểu diễn của cựu hoàng sẽ sa sút trầm trọng, hoặc thậm chí ông sẽ sử dụng cả những kẻ thế vai trên sân khấu. Mặc lòng, hơn 800,000 vé đã được bán vèo trong vòng 5 tiếng đồng hồ. Chủ tịch AEG Live, Randy Phillips, ở tư cách người đại diện của Michael khẳng khái tuyên bố rằng Michael Jackson đang ở điều kiện thể lực khả quan ngang ngửa bất cứ ai bằng nửa tuổi mình, thậm chí ông ta hoàn toàn sẵn lòng đổi bất cứ thứ gì để có được thân hình và thể trạng của Vua Pop vào thời điểm đó (!), và việc dời ngày diễn lại đôi ngày hoàn toàn không liên quan gì đến điều kiện sức khỏe của Michael Jackson cả.

Có tin rằng This Is It sẽ được triển khai thành tour lưu diễn thế giới và xuyên Mỹ trong vòng 3 năm.

Người ta chờ đợi Michael trong cuộc tái xuất tráng lệ huy hoàng, dành lại ngai vàng Vua Pop.

Đêm cuối cùng trong đời, sau buổi tập, Ngài còn hồ hởi hỏi “Tất cả đã sẵn sàng cho London chưa? Bao giờ đi? Tôi chờ hết nổi rồi!”

Đêm đó, Ngài thật sự đã không chờ được.

Nếu đã có một lúc nào đó trong suốt cuộc đời và sự nghiệp, Michael tỏ ra siêu nhiên nhất, chính là lúc ông chết trong hình hài một người đàn ông vỡ nát và bất tử.

Đứa nhỏ nhà Jackson cuối cùng cũng đã nhắm mắt cuộc thanh bình.

Có lần ông đã nói “Nếu bạn đặt chân vào cuộc đời này biết rằng mình được yêu và giữ nguyên hiểu biết đó đến ngày cuối đời, thì tất cả những gì xảy ra ở đoạn giữa đều có thể giải quyết”

Ở cái “khoảng thời gian ở giữa” đó của mình, Michael đã phải giải quyết nhiều hơn bất cứ ai.

Nghiệp Mệnh & Nước Mắt Từ Ngai Vàng

Bản chất của nghệ thuật giải trí vẫn là Sáng Tạo – điều dẫn dắt theo yếu tố của kịch tính và biến cố. Jackson đã rõ ràng sinh ra với một định mệnh dư thừa tính kịch một cách thật thà và ồn ào nhất. Những khuất tất phía sau ngai Vua Pop lại chính là những gì làm nên quyền năng huyền thoại của Ngài, sặc mùi bi kịch lãng mạn. Hẳn nhiên, nghĩa “lãng mạn” ở đây không nên hiểu theo cách dùng từ của âm nhạc dòng quê hương và thiệp mừng Valentine.

Chính phái Lãng mạn là trường phái vong thân nặng nghiệp của những cá thể dị biệt được Thượng Đế ấn đặt vào tay món quà sáng tạo như một dấu ấn định mệnh của kẻ đảo ngược trật tự. Hay chí ít là tự phong một cách kiên định.

Michael cho rằng nghiệp mệnh của đời mình là làm thiên sứ giao hòa mọi ranh giới chủng tộc, giới tính, thế hệ cho đến tín ngưỡng. Ông xoáy vặn những thái cực đối lập ấy, xoáy vặn chính tâm hồn, hình dạng và âm nhạc của chính mình để kết thúc bằng một diện mạo hoàn chỉnh: đớn đau, vẹo vọ, và là Tất Cả.

Ngôn ngữ thông điệp của ông không chỉ là nhạc Pop – thứ ngôn ngữ đại chúng, mà còn là hình ảnh, là trang phục, vũ đạo và cả cuộc đời bị lậm vào đấy, say sưa tự hoại như trong cuộc tế thần thiêng liêng với tiếng hò la dậy sóng của những tín đồ cuồng nhiệt trên khắp thế giới, được úy lạo nhiệt tình bởi các bảng xếp hạng và những cú hit lợi nhuận album gây choáng váng.

Nhưng định nghiệp mê cuồng ấy đã được vận vào một số phận có thật, một vóc hài con người đầy hạn chế và quá đỗi mẫn cảm. Ông, theo khoa học và các bác sĩ, hoàn toàn không phải là một thiên sứ hay siêu anh hùng, nhưng cưu mang bên trong một tài hoa kiệt xuất và mọi ưu luân của số phần. Jackson, cuối cùng, là một sinh linh ôm chân xuýt xoa sau một ngày, một đời đạp đổ những barrier của giới tính, chủng tộc hay tuổi tác. Rồi thời gian biến tất cả thành bụi, cả những sinh linh nổi tiếng hát hay hay những sinh linh phi giới tính.

Ông đã là một con người kiệt xuất và kiệt sức. Từ ngai vàng đế chế Vua Pop, ông vươn đến tham vọng của một hình tượng siêu nhiên. Hôm nay Ngài là Diana Ross, hôm sau Ngài đã biến hình thành Peter Pan. Mỗi note cao thót tim, mỗi bước nhảy chao nghiêng cả trục trái đất, và mỗi bộ trang phục ông chọn khoác trên mình cũng đều dùng để phục vụ hình ảnh đầy tham vọng ngây ngô và lãng mạn này. Ngài truyền bá cho khán trường bên dưới một thông điệp hướng thượng cực đoan về quyền năng của tín ngưỡng Michael “Và cả các bạn nữa, những sinh linh của Mẹ Trái Đất, cũng tự do và đầy quyền năng để trở thành bất cứ thứ gì bạn muốn!”

Người ta chỉ bị giới hạn bởi giới hạn của những ước mơ.

Và một nghệ sĩ giải trí làm cho bạn có thể tin vào điều đó, cảm nhận được phép màu đó, dẫu chỉ trong một tích tắc, ngàn năm tinh hoa trời đất chỉ sản sinh ra một.

Và Michael đã được chọn.

 

 

 

hẹn hò ở Hỏa-tinh

Jasmine nOir

Hồ sơ trích ngang của ‘người đàn ông trong tháng’ của f. khá sáng và thoáng: đạo diễn trẻ, đang nổi, phim hot cháy rạp, không có nghi án giới tính. Nôm na là thẳng tưng và hợp mốt như màn hình plasma.

Là dater sừng sỏ của f., đến lúc này bạn có thể tự tin cho rằng các đạo diễn phim hoàn toàn không phải là một kinh nghiệm hẹn hò mới mẻ gì. Bạn biết là một cuộc tranh luận/độc thoại về điện ảnh sẽ diễn ra và bạn, dating diva sành điệu, sẽ biết cách hiểu người đàn ông bằng thứ ngôn ngữ thật thà nhất qua chính góc nhìn của Đấng Sáng-tạo phía sau ống ngắm camera.

Nhưng nếu bạn là mẫu phụ nữ hiện đại, một chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho bình đẳng giới, f. chân thành khuyên bạn không nên ghé mắt vào góc nhìn của Victor Vũ – đạo diễn mà, theo f., có thành tích… ghét phụ nữ nhất.

Thế giới trong khuôn hình của gã chỉ rặt những tay háu gái (womanizer) ba hoa và láu cá, phụ nữ là những sinh linh thảm hại không lối thoát, còn Hạnh Phúc và Cái Đẹp là một đoạn hoạt cảnh karaoke bướm hoa lòe loẹt.

Gã khăng khăng bảo đó là một phim hài. Còn bạn sẽ khẳng định rằng đó là một kịch bản thật buồn với kết cuộc bi thảm.

Khán phòng của gã hể hả cười, hân hoan ra về.

Bạn sẽ thẫn thờ ra về với tâm trạng hoang mang và quyết tâm nóng bỏng là đưa gã đạo diễn bảnh trai – cha đẻ của bộ phim buồn thê lương nọ, lên bàn mổ của cuộc hẹn hò trong tháng.

“Vùng an toàn” của người đàn ông

Victor Vũ vui vẻ nhận lời hẹn, vui vẻ nhắn tin xin lỗi vì đến muộn đôi phút, và bạn nên vui vẻ đáp lễ rằng chàng cứ an tâm mà lái xe cho cẩn trọng.

Thẳng tưng như chiếc cổ áo sơ-mi của chính mình, gã lập tức làm thất vọng chút lịch thiệp tử tế quan tâm của bạn:

Victor: Tôi không lái xe bao giờ.

f.: Ý kiến không tồi. Đấu trí với giao thông là một trò phi lý máu xương. Nhưng anh không định nói mình là một “tree-hugger” ( “Ôm cây” – tiếng lóng chỉ các nhà hoạt động môi trường) đó chứ?

Victor: Không, hoàn toàn không có chuyện tree-hugger ở đây. Sao phụ nữ vẫn hay tài tình tìm ra một cách giải thích duy mỹ và lãng mạn thế nhỉ? Chỉ đơn giản là tôi không muốn làm một motobyke-hugger (“ôm xe” – một lối chơi chữ của nhân vật)

Tại sao tôi phải tự hành xác băng ngang thành phố trên xe máy khi có thể để mặc việc đối phó giao thông cho người rành việc hơn, còn tôi thì vẫn tiếp tục làm việc, giải quyết công việc qua điện thoại, hay đơn giản hơn là tranh thủ nhắm mắt nghỉ ngơi hoàn toàn trong vài phút?

Chào mừng đến thế giới huỵch toẹt, thật thà và có hình một chiếc hộp của Victor Vũ! Người ta gọi đó là xa xỉ. Khi bạn bao bọc quanh mình bằng không gian an toàn của tiện nghi tối ưu, nơi, hơn bất cứ chốn nào khác, bạn là trung tâm, bạn là nhân vật chính.

Và thật tuyệt vời nếu luôn có thể mang không gian an toàn ấy quanh mình mọi lúc mọi nơi.

f.: Ngoài làm việc, hẹn hò qua điện thoại và ngủ ra, anh còn làm gì khác trong xe nữa?

Victor: Em muốn ta nói chuyện về điện ảnh không?

Gã pháo thủ ngồi đó, trước mặt bạn, bên ngoài chiếc xe tăng của mình, hơi khoanh tay phòng thủ như ngầm ra tín hiệu “Thế giới riêng của tôi, đáng tiếc, không bán vé tham quan.”

“Gã khó chơi” điềm nhiên thò cánh tay đạo diễn xoay chuyển chiều hướng cuộc nói chuyện tưởng như đang đến hồi thú vị. Còn bạn, thật sự thì diva nào chẳng thích tự một lần mềm mại đặt mình vào bàn tay đạo diễn, mặc chàng lèo lái cuộc nói chuyện.

Người đàn ông cần được ở trong “vùng an toàn” (comfort zone) của mình thêm một chút nữa.

Họ thích nói chuyện về những gì họ biết chắc.

Với Victor, đó sẽ là điện ảnh và… phụ nữ. (Ít ra là những người phụ nữ trong thế giới qua khuôn hình của gã)

Đàn ông và đàn bà trong ống kính Victor

“Không, tôi hoàn toàn không phải là một kẻ chống phá… phụ nữ. Tôi không chống họ, và không phá phách gì ở đây cả. Những khuôn diện đời thường, ngay cả những bi kịch đã được điện ảnh hóa, để khán giả vừa có thể tìm thấy chính mình trong đó, nhưng lại cho phép họ có thể thoải mái bông lơn và cười với những bi kịch oái oăm ấy”.

Lờ qua những chuyện lùm xùm bên lề về thủ pháp dàn dựng của gã, điều đáng lưu tâm nhất đối với dating diva lúc này là liệu có phải người đàn ông đang ngồi đối diện với bạn đây chính là một đạo diễn hằn học nhất với phụ nữ trong lịch sử điện ảnh Việt Nam.

“À không, thoạt tiên, đây hoàn toàn không hề là vấn đề với phụ nữ. ý tưởng kịch bản được bắt đầu như một phần tiếp theo của bộ phim trước đó, để khắc họa rõ nét hơn một tuyết nhân vật phụ trong phim này.

Đó là một tay hoang đàng chi địa, sanh ra trên đời số đã bọc nhung. Một thằng cha mê gái chính hiệu, một tay săn tình thiện nghệ bách phát bách trúng.

Hắn mê gái, nhưng không biết gì về việc yêu một người đàn bà.

Hắn ăn tạp và gặp vấn đề về tiêu hóa.

Hắn thiện nghệ trong tình trường khi ái tình chỉ là tán tỉnh và chiếm hữu, nhưng lại hoàn toàn là một kẻ ngờ nghệch thô lậu khi yêu.

Hắn đa tình nhưng gia trưởng, thảm hại và khôi hài.

Tôi lấy làm thú vị với tay này từ khi y còn là vai phụ trong Passport To Love và quyết định đẩy bật hắn lên trong Battle Of The Brides (Cô Dâu Đại Chiến).

Nhưng phàm hễ cứ nói đến mấy cha Don Juan là phải nói đến những người đàn bà quanh họ.

Bởi những người đàn bà ấy làm nên họ, và tay chơi hào hoa thực chất chả có gì và là gì cả, nếu không có những người đàn bà ấy. Thế đấy!”

“Những người đàn bà làm nên người đàn ông” ấy, thật ra, trong thế giới (điện ảnh) của Victor, họ là những mẫu hình thảm hại dù cho gã có cho là điển hình đến mấy: một cô tiếp viên hàng không bất an và muôn đời bị hất cẳng, đến cuối phim vẫn bị hất cẳng, một nàng bác sĩ trí thức và phù hoa rốt cuộc vẫn bị tẽn tò một cú chán chê, cô bếp trưởng dư dả tình yêu, cá tính dữ dội và cả sự cô đơn đáng thương bị chà đạp lên niềm kì vọng mang tên gia đình. Cuối cùng, chua chát nhất vẫn là nàng diễn viên giảo hoạt, tỉnh táo, tay chơi hạng nặng nhưng vẫn không dấu cái chua chát đầy bi kịch của cô gái ngạo tình. Không, với tất cả những mẫu phụ nữ ấy, Victor không dành cho họ điều mà công chúng Việt Nam vẫn quen chờ đợi: một kết cục có hậu.

Còn nhân vật chính, được tô vẽ cường điệu như một điển hình “người mẫu trang bìa” của một hoạt cảnh karaoke trường phái quê hương, sặc mùi quảng cáo tỉnh lẻ. Nàng thả bước dạo đến đâu, ong bướm cùng mọi thể loại côn trùng theo chân nàng đến đấy. Nàng họa sĩ lãng mạn với những scene ngớ ngẩn không ít chát chua trong thủ pháp hài hước – người đàn bà trong mộng của gã Don Juan đa tình, cuối cùng lại là câu chuyện bi đát nhất của lòng thù hận. Đến tận cuối phim, nàng vẫn chưa một lần yêu, với tuổi thơ béo phì bị ngược đãi, và xác suất tái phát phì cho thì tương lai. Nhân vật trung tâm hoàn toàn bế tắc.

Gã Don Juan tháo chạy tả tơi, phía sau là một tứ quen thuộc của Hollywood với hàng trăm cô gái giận dữ đuổi theo sát nút, hứa hẹn mọi loại hình tùng xẻo ghê rợn nhất.

Khán giả òa cười và đứng lên phỉ mãn ra về, trên màn ảnh vẫn còn những cô gái trong những bộ váy cưới trắng muốt, mắt long sát khí. Cái Đẹp không còn, và Ái Tình chỉ là trò lật lọng.

Một chuyện phim buồn

“Điều quan trọng là khán giả, đại đa số khán giả, đã cười với tất cả những điều đó. Ta đang nói đến những tay ‘womanizer’, và khán giả muốn nhìn thấy họ khổ sở lên bờ xuống ruộng với những tình huống khôi hài. Khán giả muốn nhìn thấy anh chàng bảnh mã phải hoảng loạn, ngu khờ và lãnh đủ.

Xét vấn đề từ chiều hướng khác, từ phía những người đàn bà trong cuộc đời anh ta. Tôi cố ý chọn thủ pháp cường điệu hóa để gây một cuộc cười xòa vui vẻ. Các nữ khán giả hể hả tâm đắc nhìn gã phong tình khốn đốn, trong khi những người đàn ông sẽ nhìn vào đấy và thoáng nhận ra một nét nào đó của những người đàn bà anh ta từng biết trong đời.

Họ có thể là những phụ nữ tuyệt vời: xinh đẹp, năng động, trí thức, và tôn thờ chồng con, v.v… Nhưng mọi thứ đều có mặt trái của nó, chuyện ta vẫn thường gặp tuy không phải là luôn luôn. Một cô nàng nổi tiếng và xinh đẹp sẽ thừa sành sỏi và tỉnh táo để tận dụng lợi thế của mình. Cô nàng hiện đại năng động lại hóa ra sa đà vào cuộc tìm kiếm một bóng tùng quân để mặc sức hưởng thụ cuộc sống như loài dây leo. Cô nàng lãng mạn si tình lại thường luôn mang trong mình nỗi ghen tuông đầy bất an, trong khi cô nàng cá tính, giỏi bếp núc và sống khép kín lại luôn chứa đựng bên trong cả một tên quân phiệt mặc váy. Trên thực tế hẳn nhiên, những mặt trái ấy là muôn hình vạn trạng, mà 5 khuôn mẫu tôi đưa ra chỉ là 5 trường hợp điển hình để xây dựng nên một kịch bản vừa khôi hài theo kiểu cường điệu, vừa có một mức độ gắn kết thực tế phù hợp.

Nhưng rõ gã là một kẻ tàn nhẫn quá lắm. Nữ khán giả tìm thấy họ trong chính những nhân vật phim, họ hả hê truy sát kẻ đa tình, và cuối cùng, còn gì lại bên ngoài ống kính? Cảnh buồn thảm nhất của bộ phim chính là khi khán vô tư thuê thỏa cười nhiều nhất: những người phụ nữ đau khổ mắt vằn tia máu, chạy mải miết theo kẻ phong tình đang hớt hải thoát thân.

Bi kịch cho tất cả mọi người em ạ. Trong một nét phác của bộ phim, bóng đen ám ảnh phía sau lưng gã phong tình là người cha của gã – cũng từng là một tay hào hoa, đang kết thúc cô độc trong căn phòng tối. Gã tuyệt vọng quyết thoát khỏi cái bóng ma định mệnh ấy, tìm cho mình một ý trung nhân thật sự lý tưởng (điều mà cả tôi lẫn em đều biết là vô vọng). Hẳn nhiên, nàng phải đẹp và có cả luôn một tâm hồn đẹp, đảm đang, tinh thông cầm kỳ thi họa. Đó là khi tôi đưa thủ pháp cường điệu vào bối cảnh xuất hiện của cô gái, lí tưởng như trong một đoạn phim quảng cáo sáo rỗng khôi hài nhất. Hoa nở nơi nàng dạo bước, chó chim hoa quả lẫn côn trùng cánh cứng, cánh mềm nô nức chập chờn, các nam nhân lăn quay dãy giật,… Và ngay lập tức, trong đầu khán giả đã bật lên câu hỏi “Ở đâu ra cái hiện tượng huyền bí sặc mùi thương mại quảng cáo này?”. Gã Don Juan bị sét đánh đứ đừ, một lần cho cả đời, và ngời ngời hạnh phúc không kém gì những người đàn bà của gã trước lời hứa hẹn thiên đàng hôn nhân.

Điểm bi kịch mạnh mẽ nhất ở đây, đó là sự xuất hiện của cô gái đã gieo rắc hạnh phúc và niềm tin cho cả hai thế hệ Don Juan, từ người cha già hồ hởi trên xe lăn, cho đến tay chơi đương đại.

Ừ, em nói đúng, kịch bản này thật bi thảm, cho tất cả. Nhưng điều tuyệt vời nhất là khi ta có thể cười vào những bi kịch của chính mình.

Quỷ Cái Ghen Tuông, Mẹ Nữ Oa, Tiểu Thư Tầm Gửi và Sát Thủ Phòng The

Đến đây, khi câu chuyện về điện ảnh đã lững thững trôi được nửa buổi. Tay đạo diễn từ lúc nào đã buông đôi cánh tay khoanh vòng trước ngực và trở nên hào hứng hơn. Bạn biết đó là lúc bạn có thể khoanh chân ngồi nghe những lời nói thật.

Những lời nói thật của đàn ông về những người đàn bà.

Điều này không hứa hẹn một hẹn hò lãng mạn, nhưng hãy xem đây là chuyến du hành nhỏ đến sao Hỏa – thế giới của đàn ông, với tay hướng dẫn viên đang hồi hào hứng.

Có bao giờ bạn tự hỏi sao Kim trông ra sao nếu nhìn từ sao Hỏa?

Có bao giờ bạn muốn soi bóng chính mình bằng góc nhìn của một người đàn ông?

Và một người đàn ông, họ nhìn thấy gì trong gương mỗi sáng?

Tôi tin là tất cả mọi người đều xứng đáng được yêu. Tôi đã chọn 5 mẫu điển hình lí tưởng nhất cho hầu hết mọi “tình vị” của đại đa số đàn ông.

Họ gần như lí tưởng.

Họ xứng đáng được yêu.

Nhưng họ, trong góc nhìn điện ảnh của tôi, không được yêu, vì họ không biết cách yêu.

Một cô tiếp viên hàng không trí thức, xinh đẹp, giàu tình cảm. Nhưng nàng áp đặt lên mỗi người đàn ông trong đời mình sự bất an từ những vết thương quá khứ. Nàng đa tình và khát tình, hẳn nhiên là một món mồi quá khó bỏ qua của những gã Don Juan. Cho đến khi bản chất trăng hoa của gã đàn ông đẩy nàng vào ngõ cụt, nàng cũng lập tức lộ rõ nguyên hình con quỷ ghen tuông vô độ chờ sẵn bên trong. Những hành vi gây cười như đội tóc giả hóa trang, xới tung giường ngủ người tình để “tìm tang chứng”,… tuy được xây dựng theo lối cường điệu hóa để gây cười, nhưng trên thực tế, hoàn toàn không quá xa rời những gì một người đàn bà ghen có thể làm để ràng buộc cuộc tình, làm đau địch thủ và làm xấu chính mình. Nào, là phụ nữ, em thừa biết những điều khủng khiếp hơn còn có thể đến cùng cơn ghen của phụ nữ.

Ha, vâng, Những sinh linh quằn quại vì cơn tủi thân bạo liệt!

Và em có cho rằng người đàn ông sẽ muốn ở quanh quất bất cứ đâu gần cái bầu không khí trinh thám độc địa ấy không? Nàng luôn chờ đợi một tay bạc tình, hẳn nhiên nàng sẽ có cho mình chính điều nàng luôn e sợ.

Ở mẫu người phụ nữ thứ hai. Nàng giỏi nội trợ, sinh ra để làm bà chủ gia đình. Mạnh mẽ, tỉnh táo, kiên định và chuẩn mực hơn một sĩ quan quân đội. Đó là những đứa con gái của mẹ Nữ Oa đội đá bằng một cái đầu mẫn tuệ, vá trời với đôi cánh tay….cường tráng. Họ nâng niu chăm bẵm người đàn ông của mình với tình yêu của một người mẹ, phủ ngập chàng bằng thức ăn và những vòng tay khép chặt – một người mẹ đau buồn và khắt khe. Hơn ai hết, những người phụ nữ như vậy khao khát được yêu, và cho đi vồ vập để được yêu và giữ người mình yêu. Vấn đề duy nhất của họ: họ muốn được yêu theo cách mà họ muốn. Họ – những nhà quân phiệt mặc váy, muốn kiểm soát cả thứ không khí mà người đàn ông của họ hít vào thở ra. Đương nhiên, khi nàng vô tình biến mình thành người mẹ, những đứa con sẽ muôn đời sa vào trò vui thú bậc nhất là trốn chuồi ra khỏi vòng tay thép để làm tất cả những gì hay ho bị cấm. Và những người phụ nữ như vậy, điều họ có được, thay vì tình yêu, lại là lòng kính trọng và nỗi sợ từ người đàn ông của mình. Bi kịch đấy hoàn toàn không hề cường điệu.

Một mẫu phụ nữ khác, tưởng chừng như hoàn hảo với đầu óc văn minh hơn, được “mô hình hóa” trong không gian điện ảnh của tôi qua nhân vật cô nữ bác sĩ. Nàng văn minh và văn hóa đầy người, không nhọc lòng ghen tuông bệnh hoạn và cũng chẳng có thời gian để chăm bẵm quản lý người đàn ông của mình. Mẫu phụ nữ thường hay được cho là “hiện đại, tự tin, năng động”. Với một trình độ như thế, nàng có cho mình một áp lực công việc khổng lồ đè nặng lên đôi gót slimheel hợp thời trang và tinh tế. Có vẻ nàng hoàn toàn hợp lý để cứu rỗi anh chàng Don Juan vào một cuộc hôn nhân lí tưởng, nơi chàng hoàn toàn vẫn còn cơ hội cho những cuộc trăng hoa ngoài chồng ngoài vợ. Nhưng những gã womanizer háu ăn vô độ vẫn tự cho mình quyền an toàn rằng, người đàn bà của mình sẽ luôn ở đó, sau ngưỡng cửa gia đình để chờ đợi. Nhưng điều này không có trong thực đơn của nàng bác sĩ, cô gái cần được tung chăn giữa đêm để chạy đến các cuộc vui thú với bạn bè, cần một cuộc sống xã hội bạo liệt hơn để tự bù đắp thú hưởng thụ cho chính mình. Và cuối cùng, người đàn bà bên trong tấm áo blouse năng động, trí thức ấy chỉ muốn vứt toẹt sự nghiệp để an ổn cuộc hôn nhân tầm gởi. Tay hào hoa cũng không sẵn lòng hy sinh những cuộc săn bắt hái lượm của mình để phụng sự bà hoàng năng động, và đương nhiên là hắn ngán ngẩm tháo chạy.

Type phụ nữ duy nhất trong 5 hình mẫu này ‘có vẻ’ ít bi kịch nhất là cô đào cine bốc lửa. Nàng tỉnh táo, giảo hoạt, biết sử dụng nhan sắc của mình để tiến thân. Nàng quả là một Don Juan mặc váy, ngang ngửa những gã đàn ông mà nàng gặp phải. Ái tình với nàng là một cuộc đối đầu có chiến lược hẳn hoi, và dường như nàng không thể bị tổn thương. Bi kịch của nàng tuy không được thể hiện lồ lộ trên màn bạc, nhưng bên trong sự chai sạn đó vẫn là thứ chán chường của tình trường ê chệ. Có thể chỉ riêng nhân vật này cũng đủ để phát triển cả một bộ phim về mẫu Don Juan mặc váy. Họ đẹp,  đầy đủ “giá trị giải trí cao cấp” và có vẻ như rất an toàn cho quý ông. Họ không khóc lóc ủy mị tuyệt vọng, họ không dễ bị tổn thương. Họ đẹp và sòng phẳng trong cuộc đổi chác khoác áo ái tình. Nhưng bi kịch của một nàng sát thủ phòng the sẽ luôn là sự trơ lì chai sạn sau mỗi cuộc đối đầu không tim mà chính nàng đã hào hứng tham gia. Liệu có thật hay không những người đàn bà sinh ra chỉ để làm tình nhân? Tôi không tin có người phụ nữ nào không ôm trong mình giấc mơ thiên đường hôn nhân, dẫu chỉ dưới hình thức một chiếc nhẫn đính hôn nặng ký.

Ái tình: duy trì nòi giống hay liệu pháp chống cô đơn?

Những gã đàn ông trong thế giới của Victor, họ trăng hoa hoang đàng như một bản năng, được khống chế tùy thuộc vào nền tảng giáo dục và bản lãnh tự thân có được. Nhưng ngay cả khi không hề kiểm soát được bản năng truyền giống và nhu cầu tự mân mê lòng tự tôn giống đực, họ vẫn đòi hỏi người ở đàn bà của mình, ngoài khả năng phụng sự và làm mát mặt anh hùng, cả lòng vị tha thừa thãi đối với những cuộc vụng trộm ngoài chồng ngoài vợ.

Phải chăng họ muốn quá nhiều?

Và chính xác là họ muốn gì?

Thượng Đế tạo ra người đàn ông với tất cả thói tham lam của những thằng nhỏ háu ăn. Đối với những tay hào hoa, sự việc còn tệ hơn nữa, vì họ là những đứa nhỏ được quí bà quí cô chiều chuộng.

Thói trăng hoa có thể được giải thích một cách uyên bác bằng bản năng nguyên sơ của sinh vật có chức năng truyền giống và nghĩa vụ tăng dân số chủng loại hay chủng tộc, bộ tộc của mình. Nhưng với một gã Don Juan, tầng “văn minh” được nâng cao. Họ mang trên lưng những bóng đen của nỗi sợ, điều này được thể hiện thoáng qua nhân vật người cha. Như những nghệ sĩ đại tài được yêu mến, điều khủng khiếp nhất là ngày bị bỏ quên trong đơn độc. Hay những vị tướng quen chinh phạt, bách chiến bách thắng, điều khủng khiếp nhất là ngày binh khí hoen rỉ, trên bảo dưới không nghe, và chẳng còn lấy một người phụ nữ để chinh phục. Trong cái vẻ thỏa thuê ngụp lặn của một anh chàng tốt số, có cả cái tuyệt vọng của một gã cần được yêu.

Sự thật không giàu tính tiểu thuyết như em nghĩ đâu! Phụ nữ vẫn thường bao dung và vị tha là vậy. Nhưng hãy nghe tôi, trên thực tế, hay nói đúng hơn là thứ thực tế hồn nhiên của đàn ông, một tay womanizer vơ vét tất cả những người đàn bà quanh họ chỉ đơn giản vì… họ có thể. Và trong mỗi người đàn ông thứ thiệt đều có một gã womanizer. Nếu đạp đổ mọi barrier, nếu không vì sợ thằng cha khác oánh cho một trận, nếu không có một người đàn bà duy nhất để yêu và tôn thờ, nếu không vì hàng tỉ rào chắn đạo đức, luật pháp, lẫn điều kiện tài chính để đáp ứng cuộc hào hoa, tôi tin bất cứ anh chàng nào cũng sẵn lòng tán một lèo cả tá cô nàng, nếu anh chàng có thể.

Thế đấy, anh chàng hào hoa không hẹn hò với tất cả những người phụ nữ đó chỉ vì cả nghĩ lo xa với nỗi sợ chiếc giường cô độc 30 năm về sau.

Lối cả nghĩ đó là tư duy của một người đàn bà, và họ áp đặt lối tiểu thuyết diễm tình đó lên hành vi của đàn ông, lí giải theo cách mà họ có thể hiểu và chấp nhận được.

Từ đó, đàn ông và đàn bà rời sao Hỏa sao Kim và chung sống hòa thuận trên trái đất.

Đàn ông, họ hồn nhiên như thú nhỏ. Như với tất cả những cái cột điện và gốc cây gặp phải, đàn ông “yêu đương” và hò hẹn bởi vì họ có thể.

Diva Hẹn-hò của f., chào mừng bạn đến với sao Hỏa – xứ sở của những thực tế tàn nhẫn và hồn nhiên! Và hãy bắt tay thân thiện với hướng dẫn viên Victor, thay vì vặn tréo tay anh ta, dù bạn đang rất muốn làm như vậy.

Gái xấu không được yêu và Hỏa tinh không hoàn hảo

Tất cả chúng ta đều biết Hoàn-hảo là mộ cái đích vô tưởng mà nhân gian vẫn mải mê tìm đến.

Các tay săn tình thiện xạ cũng vậy.

Đàn ông, họ tìm đến sự hoàn hảo để sở hữu.

Phụ nữ, họ tìm đến sự hoàn hảo để đắp nó lên người và lượn qua lại trước mũi gã thợ săn.

Trò này nhàm, nhưng hiệu quả.

Những người đàn bà hạnh phúc với trò chơi làm Thượng Đế, phân phát tình yêu thương bác ái như rải thóc ra xung quanh mình. Những người đàn bà hoàn hảo khốn khổ! Vào cuối ngày và cuối đời, họ sẽ úp mặt vào thói cả nghĩ đàn bà mà không tránh được một hiểu biết rất thực tế: khán-giả-người-đàn-ông yêu say đắm vai diễn hoàn hảo, còn người nghệ sĩ sau lớp trang điểm tuyệt mĩ và những trò tiểu xảo tài tình sẽ vẫn là cô nhỏ béo phì của nỗi ám ảnh thiếu thời, bị chế nhạo, tự ti và đầy thù hận.

Ha, gái xấu không có quyền được yêu.

Dù tháng năm có đắp đổi lên khối hình thù ấy những lượt là khăn khố.

Nụ cười thỏa mãn cuối phim của cô gái, tay cầm chiếc hamburger cỡ bự, sao mà đáng buồn và thê lương đến thế, khi khán phòng hể hả cười, rôm rả vỗ tay và lịch kịch đứng lên ra về.

Anh muốn nói gì vậy, đạo diễn?

Rằng còn có những người đàn bà là những tâm hồn vẹo vọ tuyệt vọng có khả năng cào cấu cao. Họ đáng thương và luôn cố tỏ ra đáng yêu.

Tình yêu của họ là thuốc độc và sự hủy diệt.

Điều đáng thương ở đây, khi gã trai khờ khạo vẫn yên tâm đã tìm ra cho mình tấm gối mềm để ngả đầu ngơi nghỉ, thì người đàn bà đã kịp tự đầu độc chính mình với lòng thù hận và những thủ đoạn và nỗi quằn quại bất an của lòng tự ti khốn khổ.

Tôi muốn nói với những tay săn tình thiện xạ trong khán phòng “Ey, ông bạn, cẩn trọng, hết sức cẩn trọng với những ả thỏ ngon nõn nường tuyệt mĩ, có cắm hoa trang trí!”

Rất có thể lúc này, bạn – dater văn minh tiến bộ của f., đang rất muốn báo ngay tới một tổ chức xã hội bảo vệ quyền bình đẳng giới để khởi kiện gã đạo diễn này ngay-lập-tức! Gã đang nói với tôi rằng, những mẫu phụ nữ “gần-hoàn-hảo” chỉ là những ả biến thái tâm thần muôn đời không được quyền hạnh phúc.

Nhưng cuối cùng, đây vẫn là thứ thực tế nằm trong khuôn hình của Victor. Hãy thở phào và bình an, bởi rất có thể sự Hoàn Hảo chân chính sẽ nằm đâu đó, bên ngoài sao Hỏa.

Ái Tình không có vai diễn

Tình Yêu không hề được phân vai trong phim của Victor Vũ. Trong suốt cả bộ phim vui vẻ này, không có nhân vật nào mang tên Tình Yêu cả. Tất cả chỉ là gã womanizer và những người đàn bà tuyệt vọng loay hoay với nhau trong một bức tranh hẹp không chút mùi vị Ái Tình chuyên chính.

Trong bức tranh bế tắc ấy, chìa khóa của vấn đề nằm bên ngoài khung tranh.

Bởi Ái Tình vị tha và duy mỹ chứ không bám víu và thủ đoạn vặt.

Ái Tình kiêu hãnh và tự trọng chứ không thảm hại và đói khát.

Và Ái Tình từ chối nằm trong cùng một khung tranh với những biến thể tật nguyền ấy của chính nó.

Ái Tình nằm trong một khung tranh đẹp đẽ hơn, có lẽ trong một chuyện phim khác.

Nào, em đang nói về vấn đề không nằm ở trong bức tranh điện ảnh của tôi mất rồi. Đó là một vở hài kịch và mọi người đã cười. Thậm chí đã có những khán giả quay lại xem rất nhiều lần đến thuộc thoại. Còn em, em suy nghĩ quá nhiều, và em cau có khổ sở vì một trò đáng ra phải làm em vui.

Em sẽ luôn là một khán giả không hạnh phúc của điện ảnh trong khi chúng tôi bày đủ chiêu trò ra sức chiều chuộng em. Thật khó để một người đàn ông, dù anh ta làm đạo diễn, có thể làm em hài lòng hay hạnh phúc được.

Nào, thả lỏng, bình yên, và cười nếu em thấy buồn cười, đừng suy nghĩ quá nhiều.

Thế đấy, đừng suy nghĩ quá nhiều, bạn đang ở sao Hỏa – xứ sở của những thực tế hồn nhiên. Nơi đây các cô gái ‘tóc vàng hoe’ và thị phần công chúng dễ tính sẽ thấy dễ sống hơn chăng?

Đúng thế, hãy hạnh phúc với những gì em có được!

Người đàn ông đi trên vỏ trứng

Có thật là bạn quá khó chiều và quá khó hưởng thụ không? Bạn, nữ độc giả của f. – những cô gái thuộc lòng cả Sex and the City lẫn God father?

Nhưng tôi là Victor Vũ chứ không phải là Francis Ford Coppola. Victor Vũ thì bị chơi khăm những khi mặt trời lặn sớm và không còn đủ ánh sáng cho buổi quay, Victor Vũ bất lực với xử lí hậu kì không ưng ý, Victor Vũ cũng còn dây dưa với cả ti tỉ những vấn đề có liên quan đến sản xuất và phát hành. Victor Vũ không định xây dựng một bộ phim huyền thoại của lịch sử điện ảnh Việt Nam, không định gây chấn động thế giới bằng một vụ nổ TV series, càng không định dắt tay Cô Dâu Đại Chiến đến thảm đỏ Oscar. Victor Vũ chỉ đã cố hết sức mang đến cho em một điều gì đó nhẹ nhõm và vui vui. Hãy thư giãn và đón nhận.

Nhưng tôi – khán giả của các anh, có quyền được đòi hỏi và tôi đòi hỏi được chiều chuộng. Diễn xuất xoàng xĩnh, biến cố tâm lí thô thiển, những góc máy ngớ ngẩn,… Làm ơn đánh giá khán giả của các anh cao hơn chút nữa đi.

Khán giả có quyền khó tính. Vậy hãy khắt khe, hãy đòi hỏi, nhưng hãy đến rạp để biết chúng tôi đã đi đến đâu. Hãy cho ngành công nghệ nội địa một cơ hội.

Nếu muốn được chiều chuộng tốt hơn, hãy cho tôi biết em là kẻ ngồi trong khán phòng của tôi, và cho tôi biết em cần được chiều chuộng ra sao cho đẹp ý.

Chiều chuộng phụ nữ cũng vậy, ngay cả tay womanizer rảnh rang thừa sinh lực nhất cũng chỉ chiều chuộng những người đàn bà của hắn mà thôi.

Nếu em im lặng quay lưng, và chờ đợi một kỹ năng chiều chuộng tinh tế hơn của điện ảnh Việt, em sẽ mỏi mòn và chúng ta không gặp được nhau. Hãy chê, nhưng hãy đến rạp.

Đừng bắt tôi vào vai nhà phê bình điện ảnh, tôi đến rạp để được chiều chuộng.

Vậy hãy thả lỏng và đừng áp đặt cách chiều chuộng. Trước hết, em có thể hài lòng ghi nhận sự nỗ lực và thiện chí. Kẻo không em sẽ rơi vào tình trạng của cô nàng Nữ Oa quân phiệt với sai lầm áp đặt cách được yêu.

Em thấy đấy, suy nghĩ quá nhiều, điều này luôn là nguồn căn những nỗi bất hạnh tự tạo của phụ nữ. Một chút hồn nhiên sẽ mang lại bình yên.

Không thấy anh liệt kê vấn đề nghiêm trọng này của phụ nữ trong 5 tuyến nhân vật nữ điển hình của anh.

Em đang khiến tôi muốn xây dựng cả một kịch bản mới. Tên của nó rất có thể là “Eggshells” (Vỏ Trứng). Em thấy thế nào?

Tại sao lại Vỏ Trứng?

Vì ở quanh người đàn bà duy mỹ và nghĩ nhiều, chúng tôi có cảm giác mình chưa đủ tốt. Hãy để ý những người đàn ông quanh em, em có thấy họ luôn cẩn trọng rón rén đến mức như thể họ đang nhón chân lò dò quanh em không? Họ đang cố không làm vỡ những mảnh vỏ trứng em trải quanh mình. Có lẽ  những mảnh vỏ trứng ấy như một thứ bộ lọc để bảo đảm kẻ tiếp cận chiều chuộng được em sẽ phải là sinh vật tinh tế nhất địa cầu.

Nhưng, Ái Tình vốn kiêu kỳ…

Vâng, và em sẽ phải chờ khá lâu, trong khi những anh chàng khá khẩm quanh em sẽ vẫn sơ ý đạp vỡ vài mảnh vỏ trứng.

Các đạo diễn Việt có “rón rén” quanh thị phần khán giả khó tính không?

Tôi không trả lời hộ cho các đồng nghiệp khác được. Nhưng riêng bản thân tôi thì luôn luôn.

Hỏi thật nhé, nãy giờ anh có đang “rón rén quanh em” không?

Phù, thật may em hỏi. Có!

 Photo by BigFoot

những nhà vô địch ở vạch xuất phát

by f.

Giới thời trang chấn động: hiệp sĩ râu kẽm Galliano – người hùng haute couture cuối cùng đã dại dột đến nỗi bị truất ngôi hỏi thánh đường Dior!

Trong những lời tiếng ong ve chê cười trách cứ, le lói một sự khấp khởi hiếu kì.

Thay vì than khóc cho vận mệnh văn minh haute couture, người ta ngấm ngầm chờ đợi Galliano tái xuất: kiêu bạc và điên rồ như gã đã từng và sẽ luôn.

Người ta nhận ra: những tháng ngày tung hoành đế chế Dior cũng chỉ mới là một sự khởi đầu của Big John.

… và cuộc vui, như thế, chỉ mới bắt đầu.

Người ta sẽ chúc gã một “khởi đầu khác tốt đẹp hơn”, và đó là một lời chúc ngớ ngẩn nhất trên đời.

Bởi chưng mọi sự khởi đầu đều ắt nhiên tốt đẹp.

Đó là khi người ta chưa nhìn thấy đích đến nhưng đường đi đã trải dài trước mắt.

Đó là khi phía sau chỉ là khoảng trống chờ được lấp đầy.

Đó là khi người ta có thể quyết định lấp đầy khoảng trống phía sau ấy bằng niềm vui, nỗi buồn, thành công hay những cú ngã thích đáng.

Và như vậy, đứng ở vạch xuất phát luôn là những gã khổng lồ, những người hùng và những quán quân.

Và cả những kẻ lãng mạn nữa. Bởi khi người ta bắt đầu, tất cả những sự tính toán tỉnh táo nhất, những hoạch định khôn ngoan nhất, tất cả chỉ chịu sự khống chế duy nhất: giới hạn của trí tưởng tượng.

Trẻ con thành thị cứ mặc tình vẽ bức tranh có lúa có trâu, chú bé thôn quê sẽ tô màu lên những nàng công chúa.

Một thiếu niên 14 tuổi mang họ Vuitton sẽ cuốc bộ hết một quãng đường dài đến kinh kỳ để học nghề hòm xiểng,

cô đào hộp đêm Gabrielle Chanel sẽ ấp ủ cuộc cách mạng nữ quyền giấu trong những chiếc mũ nhỏ đỏm dáng và hợp hương ma lực đánh số 5, hay con chiên ghẻ gia đình họ Versace sẽ vẽ vời nên những bảng màu kiêu hãnh trong chiếc lò gạch của gã, vạch cả bức đại đồ dẫn đến tâm bão thánh địa Milan.

Bởi khi ấy, họ có tất cả và không gì cả để mất.

Sự bắt đầu, luôn là điều tốt đẹp.

Cho dù khoảnh khắc đứng trước mặt nước bao giờ cũng mang tính quyết định cho một cú nhảy đầu tiên, và tiếng khóc luôn bật lên khi ánh sáng cuộc đời chiếu rọi hình hài sơ sinh.

Mà chăng, có sự khởi đầu nào không đi cùng cơn đau và tiếng khóc?

f. đã có cho mình một sự khởi đầu của một năm đồng hành, một năm đáng kiêu hãnh trên từng trang mục.

f. đã ra đời vào đúng thời điểm của lời báo động sụp đổ của những nền văn minh haute couture.

f. đã ra đời trong khi ngoài kia, cả thế giới thời trang hẵng còn chới với sau sự ra đi của tượng đài tóc vàng YSL, đã kịp phải bàng hoàng khóc tiễn Alexander McQueen, và giới quý tộc bảo thủ thành Paris đứng lên vỗ tay và rơi lệ khi cựu hoàng phong lưu Lacroix kiêu hãnh nghiêng mình trước khi rút lui vào vùng tối của cô đơn và khánh tận.

Nhưng rồi f. vẫn đồng hành với những cuộc hò hẹn miên man hàng tháng để thấy rằng thế giới còn bao kẻ tụng ca trường phái lãng mạn cho một đêm ái tình tri âm tở mở.

f. vẫn không thiếu những mùa săn kinh động gót slimheel những fashionista trên khắp mặt địa cầu trong cơn hân hoan mua sắm, như tiếng tụng ca của đàn tín đồ hướng về những thánh địa thời trang và xoay vần bánh xe thời cuộc, với những tag giá phong lưu chóng mặt và cả những gout thẩm mỹ điên rồ nhất.

Và rồi…

Giữa cuộc hoang mang những mất mát của thánh đường haute couture, một giấc mơ mang số 5 của Gabrielle Chanel còn lừng lẫy đến tận nay, phong nhã một lá cờ nhị sắc.

Trải dài từ Cựu Thế giới đến tận những thánh địa mua sắm Á châu, biểu tượng song tự LV vẫn đường hoàng ngự bậc chí tôn lifestyle thượng đẳng.

Ngay từ những số đầu tiên của f, nữ thần tóc vàng cổ quái mang họ Versace đã đứng lên cầm quyền nhiếp chính thương hiệu nữ thần tóc rắn, và “chàng Lọ Lem râu quai nón” Tom Ford lại khởi sắc lẫy lừng trong một sự-bắt-đầu-lặp-lại với giấc mơ mang tên điện ảnh.

Và cuối cùng, cú bẻ lái định mệnh ngông cuồng của một anh thợ làm đầu, biết đâu đấy, vẫn rẽ sóng đời dong buồm đến đỉnh tượng đài showbiz đương đại, ngự trị lẫy lừng trên bể lệ những người đàn bà.

Trong tay quý độc giả sành điệu khi này là ấn phẩm ghi dấu niềm kiêu hãnh của một sự khởi đầu duy mỹ như thế, mang mẫu tự  f.

Với tất cả những gì để có chỉ có thể được hạn chế bởi biên giới của những trí tưởng tượng của ê kíp những con người lãng mạn, liều lĩnh và điên rồ nhất,…

… và như thế, cuộc vui thật sự chỉ mới bắt đầu.

Đàm Vĩnh Hưng – Người ta gọi Ngài là Vua

Jasmine nOir

Có bao giờ bạn hò hẹn với một nhân vật mặc áo màu hồng cánh sen, tóc nhuộm nửa đen nửa vàng, và cảm thấy đây là người giàu đàn ông tính nhất mà mình từng gặp?

Có bao giờ bạn hò hẹn với một sinh vật thượng đẳng có bản năng bầy đàn mạnh mẽ như một con sư tử và chải chuốt hơn một con công?

Có bao giờ bạn hò hẹn với một người đàn ông có khả năng tán tỉnh và chiều chuộng cùng lúc hàng chục phụ nữ tại cùng một địa điểm, và khiến cho tất cả bọn họ hạnh phúc thỏa thuê suốt hàng tiếng đồng hồ?

Có bao giờ bạn đã hò hẹn với một ông vua, dẫu là một vị vua be bé của một nền công nghệ con con?

Người ta gọi Ngài là Vua, và Ngài hành xử như một vị con giời chính hiệu.

Người ta phàn nàn Ngài trùm mền lên sân khấu, Ngài bảo rằng bọn ngu mới không nhìn ra cái đẹp cái sang của bộ quần áo mới.

“Ngài” là một hỗn hợp tài tình giữa vẻ cải-lương-Mỹ của Elvis Presley, vẻ lấc cấc ngổ ngáo thiên tử hoang đàng của Frank Sinatra, dư thừa chiêu chước chỉ thua Nữ Hoàng Làm Quá Lady Gaga và đồng bóng không kém một Sir Elton John kiểu cách. Ngài cai trị một đế chế âm nhạc riêng tây mà ngay cả các siêu sao trên kia đều không thể chạm tới được. Đế chế ấy, như thành phố Venice trên sông, được xây dựng trên một bể nước mắt – những giọt nước mắt đàn bà.

Và bạn – nữ độc giả may mắn của f. lại sắp sửa hò hẹn với Ngài.

Và đến lúc này, bạn đã thừa biết “Ngài” là ai.

Riêng việc hình dung việc hò hẹn với tay dị nhân showbiz bóng bẩy cũng rất có thể đã làm bạn hết hồn hoặc phì cười.

Ấy là vì có lẽ trong những lời đồn, không có một ai nói với bạn rằng bạn đang dọn mình hò hẹn cùng kẻ giàu đàn ông tính hơn bất cứ nhân vật nào bạn có thể va phải trên chặng đường dài những hò hẹn miên man với showbiz Việt.

Thật đấy!

“Ngài ngự” khó chơi

Đã rất khó để một người đàn bà bất kì có một cuộc hò hẹn với Ngài, huống chi đó là một phóng viên và không thuộc hệ thần dân của Ngài. Dating diva thân mến, chớ vội nản lòng bởi vị quân vương ngụp lặn trong sự ưu ái của đám đông ngập ngụa, hãy cho Ngài một chút gia vị đúng gout “Này nhé, 15 năm sự nghiệp rỡ ràng và em không cho rằng anh đã có một bài viết xứng tầm khẩu khí, và em cho rằng mình là người phù hợp. Mong anh không bỏ qua cơ hội này!”

Và điều đó đã phát huy hiệu quả, “đức Ngài” nhận lời gặp mặt.

Hẳn nhiên, bạn sẽ không ngạc nhiên nếu Vua không muốn vi hành đến một điểm hẹn nào đó dù nhất bậc xa xỉ đất Sài thành đi chăng nữa. Bạn được vời đến tòa vương phủ với địa chỉ dễ gây lúng túng.

Chớ lo, bạn sẽ không thể lạc đường được. Hãy để mặc trực giác dẫn bạn đến ngôi biệt thự sặc mùi Ngài Đàm, với những bước tường kiên cố bằng đá tối mù, đôi cổng nặng nề, và con  chó pug mặt ngầu đang tru tréo méo giật nghênh tiếp.

Không cần phải nhìn thấy vị “hoàng thân” họ Dương mí lót đang ngồi hể hả đánh bài trong phòng bảo vệ, bạn biết bạn đang tiến vào tổng hành dinh của Ngài Đàm.

“Em có 30 phút. Và nếu em thú vị thì biết đâu đấy, có thể lâu hơn vô chừng!”

Và bạn biết, dating diva bất bại của tôi, bạn có thể an lòng với câu chuyện chóng vánh 30 phút chạm mặt rồng và an toàn rút lui trong danh dự.

Hay bạn sẽ rút găng tay ra, như một hiệp sĩ trung cổ chính hiệu và ngạo nghễ nghênh tiếp lời thách thức kiêu bạc của vị vương tử ngông cuồng.

Chàng “phó cạo” và bánh xe Định Mệnh

“Ngài”, hẳn nhiên, không phải con của trời mà xưng đế. Tiểu sử xuất thân của Ngài cách đây 15 năm đã không còn là sự lạ, với bước ngoặt tài tình của anh thợ làm tóc giàu tham vọng để thẳng tiến đến ngai vua Pop, nhưng không bao giờ là thừa đối với ngài thượng đỉnh chí tôn để đắm đuối ca câu “thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời…” đi ngược dòng quá khứ thuở cờ lau

“Không, tôi chưa bao giờ nghĩ đến ngày hôm nay sẽ như vậy cả. Khi ấy, bà tôi đưa ra một yêu cầu hãy suy nghĩ và chọn lấy một cái nghề.

Thế là tôi suy nghĩ.

Thế này nhé, quần áo thì dư giả lắm mỗi tháng may một bộ đồ, chớ tóc thì khi nào chả cần được cắt. Ấy là chưa kể một tỉ thứ lung tung khác cần được làm với tóc.

Thế là tôi chọn nghề làm tóc.

Thật ra nếu lúc ấy tôi chọn làm anh bán gạo cũng được, bởi tóc dẫu mọc ra hàng ngày nhưng những người đầu trọc sẽ vẫn phải ăn cơm.

Dẫu cho đến tận lúc này tôi vẫn không dám huênh hoang với em là tôi hát hay, nhưng tôi hoàn toàn tự tin rằng nếu em để tôi chạm đến mái tóc của em, em sẽ không bao giờ có thể bỏ tôi mà đến với bất kì tay thợ nào khác.

Là một tay thợ làm tóc, anh là tất cả: một chuyên viên thẩm mỹ, bác sĩ tâm lý, một nghệ sĩ giải trí và một thiên sứ với chức năng xoa dịu mọi vết thương lòng cho đến những mái tóc bị cắt hỏng. Anh phải đứng phía sau họ, mơn trớn từng lọn tóc, cho họ lờ mờ cái cảm giác ấm áp của hơi ấm người đàn ông từ phía sau, hầu chuyện tâm tình của các bà, và cùng lúc túm tóc giật tai họ với nhì nhoằng một tỉ thứ dụng cụ với la liệt các chai bình hóa chất nửa như tay thợ sửa đồng hồ, nửa như một bác sĩ trong cuộc đại phẫu vi diệu.

Ca hát khi ấy chỉ là điều tôi có thể làm cho chính mình một khi đã chọn một cái nghề khác vì gia đình.

Vả lại, làm sao mà dám nghĩ mình sẽ sống được với giọng ca chứ, khi mà người ta ai cũng phụ thêm cho tôi lòng ngờ vực về sự nghiệp ca hát của mình.

Giọng tôi nó không phải thứ trong trẻo lanh lảnh như những người bạn đồng lứa, nó mờ đục và đuối hơi. Mũi khoằm mặt ác cũng chả hứa hẹn gì việc dễ dàng được công chúng trẻ yêu mến. Nhưng điều tôi tự tin rằng mình có hơn không ít đồng nghiệp đồng lứa, đó là khả năng tự lắng nghe mình, và tỉnh táo tìm cho mình những gì có thể làm để che đậy, lấp liếm, nếu không nói là khắc phục sở đoản.

Tin tôi đi, 95% giọng hát các bạn đang nghe đều tự cho rằng mình hát hay, kể cả các thí sinh của các cuộc thi. Tôi nằm trong 5% còn lại.

Tất cả chúng ta khi sinh ra đều được đặt vào tay một cái bánh lái khắc chữ Định Mệnh. Có kẻ trân trọng nhận lấy rồi lênh đênh cứ thế mà trôi đến cuối mạng. Những kẻ khác, không nhiều, đưa tay nắm chặt lấy cái bánh lái nọ và…bẻ ngoặt tứ tung.

Không, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ thộp lấy bánh lái số phận mình mà bẻ lái một cú quá mạng thế này. Mọi sự đã đến, việc duy nhất mà tôi có thể làm với những cơ hội là đưa tay đón nhận một cách hết mình nhất.

Nhiều hơn một cách để chiều chuộng những người đàn bà

Vậy mà Ngài đã gác kéo buông lược và bỏ lại sau lưng những người đàn bà có mái tóc không được chăm sóc.

Có bao nhiêu cách để chiều chuộng một người đàn bà ngoài việc tạo cho nàng một kiểu tóc đẹp, hả em? Tôi đã chỉ từ bỏ nghề làm tóc một khi sân khấu ca nhạc đã có thể bảo đảm cho tôi một sự nghiệp vững vàng, và điều đó đã không chỉ xảy ra qua đêm.

Tôi đã nuôi đam mê một cách lãng mạn, điên khùng và xả thân nhất. Đã có những tháng ngày khủng khiếp của cuộc sống, khi mà chủ nợ đến đứng trước tiệm, làm xong cho khách, vừa nhận tiền chưa cầm nóng tay là đã bị lấy mất. Thế mà tôi vẫn bỏ tiệm lại cho thợ vào đúng mỗi 5 giờ chiều, trong đầu chưa mảy may suy nghĩ mình sẽ một ngày nổi tiếng. Tất cả những gì tôi có thể làm khi ấy là thỏa mãn cơn thèm hát của bản thân.

Nhìn lại thời đấy mới thấy mình…nặng nghiệp. Không có phòng thu, tôi nhờ đứa bạn leo lên ghế đứng, thả tòn teng chiếc mic karaoke xuống trước mặt, còn mình thì chụp headphone lên đầu, vờ như nghêu ngao hát để chụp hình lại. Rồi cũng len lén đi in danh thiếp, dưới tên ghi dòng chữ “Singer”, là sướng rồi!

Rồi tôi đi hát. Chẳng có gì là to tát, chiều chiều sửa soạn chuẩn bị rồi đến sân khấu và chờ. Tôi hát ở bất cứ đâu, sân khấu ngoài trời, tụ điểm, lễ lạc cưới hỏi, v.v… Tối về thấp thỏm nhét dưới nệm giường, dăm ba chục hay vài trăm, cứ cuối tuần lôi ra đếm lại, được tuần nào gom hết phong bì mà được 500 ngàn là mừng húm.

Thế rồi cũng có được cho mình đĩa nhạc đầu tiên, dưới sự đỡ đầu hào sảng của danh hài Hoài Linh – người luôn đóng vai trò một nguồn tác động lớn đến sự thành danh của một Ngài Đàm. Khi mà đĩa nhạc đang rất thành công ở hải ngoại thì các hãng phát hành trong nước vẫn rất dửng dưng với tay ca sĩ ham hố nhưng vô danh. “Ngài” đã phải gõ cửa khắp nơi, thậm chí nghĩ ra trò gửi kèm…phiếu làm tóc miễn phí trong hộp đĩa. Nhưng khi đó, oái oăm thay, chính sự thành công của đĩa đầu tay tại hải ngoại mới thật sự giúp cái tên Đàm Vĩnh Hưng được ghi nhận dễ dàng hơn bất cứ phiếu cắt tóc miễn phí nào của anh thợ cạo vĩ cuồng.

Rồi những phong bì dưới nệm giường bắt đầu nhiều hơn và dầy hơn, rồi đêm ra mắt đĩa nhạc đầu tay đã rất đông ở những phòng trà mà trước đây một “Hưng nào đó” đã từng mơ ước được đặt chân vào… Và người ta có một Ngài Đàm cổ quái, bạo ngược và tột bậc phong lưu.

Bao nhiêu năm đã qua? 15 năm có lẻ. Cú bẻ bánh lái Định Mệnh ngoạn mục đã đưa Ngài đi rất, rất xa…

Không dành cho trẻ em dưới 30 tuổi

15 năm có lẻ đã qua cho Ngài Đàm, còn bạn, f.dater kiêu hãnh ạ, nếu bạn khẽ kín đáo liếc xem giờ với ít nhiều đắc thắng bởi kim đồng hồ lúc này đã vượt khá xa quỹ thời gian kiêu kì ki bo mà Ngài dự định dành cho bạn. Và bạn biết đây mới là lúc bạn ra tay cầm lái và câu chuyện thật sự được bắt đầu với “Ngài ngự”.

Vậy đó, “đức ngài” ranh mãnh đã bắt đầu sự nghiệp hò vè của mình với đám đông khán giả mẫn cảm nhất: khán giả trẻ. Họ sung sức, dễ bị kích động và giỏi hò la gây một đám náo động chẳng cần vì lí do gì. Vào thời đó, những năm đầu 2000 của Bình Minh Sẽ Mang Em Ra Đi, Say Tình,…

Nhưng trong sự bất ngờ của ngành giải trí đang sắp trở thành một vườn mẫu giáo với độ “trẻ hóa” đáng ngại của sao cũng như khán giả, Đàm đột ngột rời bỏ thị phần nhạc trẻ ngay khi đang ngời ngời lừng lẫy nhất. Ngài cầm lên chiếc mic nạm đá óng ánh và hát nhạc đỏ lẫn vàng.

Và, trong sự ngỡ ngàng tiếp nối của giới showbiz bởi một nước cờ…kì cục, một khối lượng khán giả hùng hậu khác trỗi dậy trong tiếng hò la hâm mộ, hết thảy họ là những nữ đại gia, những phụ nữ nhất bậc trong doanh giới, những quý bà quý cô của những nhan sắc nồng hương mãn khai.

Những đêm phòng trà cháy vé chật nghẹt người, và những đại nhạc hội xa xỉ cầu kì làm nên huyền thoại showbiz Việt.

Chưa một ai dám làm thế.

Chưa một ai dám quay lưng lại với khán giả teen.

Chưa một ai dám liều mạng đặt mình vào một khán phòng toàn phụ nữ, và, tệ hơn nữa, phụ nữ trung và cao niên. Đó không hẳn là những người đàn bà biết rõ mình muốn gì, nhưng tất cả bọn họ đều biết chính xác thứ họ không cần và không ngại ngần tẩy chay một “vì sao lạc”. Đó là những người đàn bà không Có nhiều thời gian, hay không Còn nhiều thời gian để phung phí vào một đêm tình ca nhạt nhẽo.

Sức mạnh nào cho phép Vĩnh Hưng không ngủ quên trong lòng bọn trẻ? Vị quân sư nào đứng phía sau nước cờ ngoạn mục ấy? Và bằng cách nào, sau khi Ngài mở đường lập quốc xưng vương, đã không hề có lấy một ngôi sao nào khác dám đặt chân vào vạch đường chinh phạt tưởng như rất đơn giản đã được dọn sẵn, hướng đến một đối tượng công chúng hẳn nhiên là mầu mỡ phồn thực hơn rất nhiều?

“15 năm sự nghiệp và chưa một phóng viên nào bóc bài của tôi như vậy nên ắt phải tỏ lòng cảm mến với kẻ đã nhìn được một nước cờ đã cũ nhưng vẫn còn hiệu quả đến giờ.

Vậy là ta quay trở lại từ đầu ván cờ với trò bày binh bố trận tưởng tượng. Khi ấy, tôi đã từng là ca sĩ hát lót cho các ngôi sao “babyface”, đó là khi tôi quan sát và hiểu về khán giả trẻ.

Họ nhạy cảm, dễ chiều nhưng mau quên.

Họ khỏe phổi nên hét to, nhưng hầu như chẳng bao giờ mua vé hay đĩa gốc.

Họ hồ hởi lắm trò, được trang bị dư dả băng rôn biểu ngữ kèn loa hoa gấu, nhưng họ còn có cả internet và máy nghe nhạc mp3 để download nhạc.

Bọn trẻ béo phì vì chứng bội thực “nghệ thuật”, còn tôi thì lại không có lấy cho mình một khuôn mặt “baby” và thích nhận cát-sê trong hậu đài hơn là gấu bông trên sân khấu.

Còn công chúng của nhạc vàng, chớ vội nghĩ họ chỉ toàn là những bác tài ngoài quốc lộ giải trí với radio, hay những chị tiểu thương khóc với phim truyền hình và nghe đĩa lậu. Đó còn là những quý ông gọi rượu đầy bàn hào sảng, là những quý bà quý cô giỏi xông hương khán phòng bằng mùi dầu thơm chánh hãng. Tôi không tin vào thứ nghệ thuật bị rẻ rúng và cho không, và khán giả của tôi cũng vậy.

Tôi đã chọn cho mình thị trường những nỗi buồn và hồi ức các kiểu.

Niềm vui chóng vánh và thưa như tấm áo mới, trong khi nỗi buồn mọc dài và dày vò như tóc.

Nỗi buồn ở lại lâu hơn niềm vui, em ạ. Nó gây trầy xước và ám ảnh.”

Phiên chợ của những người đàn bà khóc và những bản tình ca của các đại ca.

Và không là sự lạ, khi các city-diva vồ vập đến với những đêm của Ngài Đàm như mỗi khi buồn, họ tìm đến tiệm làm đầu, tìm cái cảm giác nỗi buồn được mân mê lâm râm.

“Người ta vẫn cho rằng thị trường giải trí là một cái chợ dân chủ, trăm bán vạn mua, và quyền lựa chọn định đoạt nằm trong tay công chúng – những Thượng Đế. Còn tôi, tôi tự dành lấy cho mình cái quyền chọn lựa ấy, tôi là một trong trăm người bán, chọn lấy cho mình những tri kỷ tâm đắc trong cả vạn người mua.

Và tôi tin rằng chỉ những nghệ sĩ tự đặt mình được vào vị trí dẫn trào lưu mới làm được điều đó. Hoặc một thằng liều. Tôi luôn cám ơn trời đất cho mình sự tỉnh táo để nhận chân khả năng bản thân và hướng mình vào nơi thích hợp, nơi có thể khoan khoái chạm đến tim người, những cái động chạm vuốt ve mà cảm xúc tưởng thưởng của chính mình cũng lớn lao không kém gì người nhận.

Đấy, em nghĩ xem, trong 100 người đàn bà, có hết 99 người đã từng buồn vào một chiều từ rất nhiều năm về trước vì nỗi ngồi chờ người yêu mà cuối cùng thì chàng cũng không đến. Rồi mọi thứ xảy ra, cuộc sống xảy ra, đến cùng tuổi tác. Rồi họ đến gặp tôi, cất lên một câu “Ra phố hôm nay thấy buồn lên mắt…” để trong tích tắc đánh bại cả hàng thập niên tuổi tác bể dâu, để dìu tâm hồn người đàn bà về đúng nơi nàng đã từng đẹp nhất. Đôi khi em biết không, người ta có thể nghe được cả tiếng thở dài vang lên từ dưới khán phòng.

Và đâu chỉ có họ, còn những người đàn ông, các đại gia, những tay giang hồ khét tiếng dữ dằn đất cảng, giành cho những xốn xang đằng sau bặm trợn nanh nhe vuốt duỗi của các đại ca ấy thì có nào là Giã Từ, nào là Cho Vừa Lòng Em, rồi Xin Lỗi Tình Yêu, v.v… để thấy họ lặng thinh ngồi nhâm nhi thưởng thức, tôi đã nói rồi đấy, giữa kẻ nhận người cho, mấy ai biết ai phỉ mãn hơn.

Và, đương nhiên, còn cả một nhạc mục vui vui cho bọn trẻ – những thính giả vẫn kiên cường với tôi, mà tôi thì không hề bỏ bê bọn trẻ ấy. Họ vẫn được chiều chuộng với những bản phối dance, remix đúng màu nhạc vũ trường trên nền những ca khúc kiểu Đành Thôi Người Ơi.”

Không chỉ chiều chuộng khán giả của mình, Ngài chiều chuộng luôn cả giới truyền thông bằng những vụ nổ scandal to nhỏ luôn vây quanh nơi nào Ngài đặt chân đến.

Báo giới thận trọng với Ngài, hẳn nhiên. Chả ai có thể đoán được những thông tin về tài sản của Ngài, vụ án viên kim cương, hay ti tỉ những câu chuyện vẫn đều đặn vây bủa xung quanh cái tên ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, liệu Ngài là nạn nhân hay tác giả.

Ngài Đàm: Dở thật đấy, tôi chưa bao giờ là tác giả của scandal về chính mình cả.

f.: Này, anh không cần tỏ ra thận trọng và nhàm chán với em đâu.

Ngài Đàm: Tôi nói thật, không phải vì thận trọng, mà vì chưa tới lúc tôi phải cần đến các scandal để tiếp tục nổi tiếng.

f.: Vậy anh đang định nói rằng anh là thỏi nam châm thu hút những scandal đến nỗi không ít người tin rằng anh nổi tiếng vì gặp rắc rối.

Ngài Đàm: Ngược lại cũng được chứ, sao không nghĩ rằng tôi gặp rắc rối vì quá nổi tiếng?

Khoái cảm quyền lực và ông hoàng thiếu thốn

Vậy đấy, trong đế quốc của đức Ngài, Ngài vuốt ve nỗi lòng các cô các mợ, Ngài phục vụ chu đáo các đại ca cỡ bự, và Ngài tiêu khiển luôn cho hội trẻ quái tính, vậy có bao giờ Ngài Đàm hát để ve vuốt chính mình?
”Đó là những khi tôi hát quá thời lượng chương trình, tức là thường thì sau bài thứ 15 trong đêm.”

“Tôi là thế, thừa biết cách tự chiều chuộng dung túng nghệ sĩ tính của mình. 15 bài chẳng hạn, đúng thỏa thuận, nhận cát-sê chừng ấy, chưa đã cổ họng mà bước khỏi sân khấu là đồ vứt đi. Không vừa lòng ban nhạc mà dằn giỗi giật trợn, cũng là đồ vứt đi. Hát cho mình là hát khi chỉ còn loe ngoe vài ba khán giả vẫn chơi hết mình, hát cho mình là khi chỉ còn một cây guitar trên sân khấu mà vẫn không ngại cất giọng, theo tôi, nghệ sĩ tính là vậy: chịu chơi và chơi…chết bỏ! Và chính những khi đó là tôi hát vì mình một cách thuần túy nhất, khi sự sòng phẳng với hợp đồng, và việc phụng sự với khán giả đã trọn vẹn, phần còn lại sẽ là cuộc chơi bung trần của riêng tôi, mà thường thì đây mới chính là phần mà khán giả ‘thăng’ cùng tôi nhất.”

Ngài yêu họ vì họ yêu Ngài, vì họ nuôi sống và tác tạo nên cả một vương phủ đề huề? Hay trong sự chiều chuộng những người phụ nữ trong khán phòng của mình, Ngài đang tự vân vê lấy khoái cảm của quyền lực, thứ quyền lực điều khiển và tiêu khiển với cảm xúc và hoài niệm?

“Không biết từ bao lâu, tôi biết mình là người thiếu và thèm tình thương. Tôi không có may mắn được đắm mình trong những vuốt ve của cha mẹ. Hai em gái nhỏ của tôi đã chết lâu rồi, tôi về ở với ông bà ngoại và làm quen đến thản nhiên với những lời hà khắc lẫn đòn roi rơi xuống đầu mỗi ngày, đó là tất cả những gì tôi biết về hai tiếng gia đình. Về sau này, khi biết được có ai đó yêu mến mình, trời ơi, tôi sẽ phải gặp cho bằng được, tôi sẽ níu giữ cho bằng chắc những gì hiếm hoi có được. Nếu nghe có ai đó thần tượng mình, tôi sẽ liên lạc, cố chạm đến họ cho kỳ được mới nghe, cái cách mà tôi ‘chạm’ đến từng người trong khán phòng trước mặt tôi, một cách tha thiết nhất.”

Một đứa nhỏ bán vé số, một bác xe ôm giữa khuya nghêu ngao hát một bản của Đàm Vĩnh Hưng cũng khiến tôi lâng lâng như nít nhỏ được xoa đầu.

Ai mà chẳng cần biết mình được yêu quý hả em? Nó như một cơn nghiện càng nhiều càng chưa bao giờ là đủ. Càng vồ vập ngập tràn càng khát và trăn trở bất an.

Khán giả đâu chỉ là những kẻ trả lương hậu hĩ. Họ chịu đến với Hưng, ngồi xuống lắng nghe Hưng, và để mặc cho Hưng kể những câu chuyện về những vết trầy xước của chính họ trong tim. Tôi cần điều đó vô cùng. Và tôi biết họ cũng vậy, không kém gì tôi.

Và đứa nhỏ thèm được yêu thương ngày xưa, hiểu quá rõ cảm giác của những người đàn bà trong khán phòng của mình, khát khao nhoi nắm lấy một sợi dây dẫu mảnh mai nhất nối đến vì sao đang ca hát nhảy múa hào hoa trên vùng sáng sân khấu. Và Ngài Đàm sẽ không bao giờ quay lưng lại với những khao khát đó, từng người một, và tất cả họ, tài tình như hoàng đế vi hành cưỡi dê, gieo rắc hạnh phúc hân hoan trong khắp cõi hậu cung hùng hậu của Ngài.

Nhận và cho, bất kể, những gì là tình yêu hoặc thuộc tính của tình yêu nếu đã không may mắn được nhận, sẽ thăng hoa bù đắp khi cho. Và hơn ai hết, kẻ thiếu đói sẽ hiểu thấu đáo nhất của nghệ thuật hào phóng cho đi.

- Khán giả cho tôi tất cả mọi thứ. Họ trả lương tôi và họ yêu tôi.

- Nhưng họ là những kẻ vô cùng thất thường.

- Thì tôi cũng có bình thường đâu.

Nuốt, Nhổ, và Xảo thuật Chính trị

Mỗi một ngày, thần dân trong đế quốc của Ngài được chào mời bởi hàng loạt những khuôn mặt ngôi sao mới từ bên ngoài. Họ trẻ đẹp hơn, lắm trò hơn, và được hậu thuẫn hùng hậu bởi những ê-kíp thiện chiến sặc mùi công nghệ hơn Ngài Đàm ngày xưa rất nhiều.

Công chúng, họ no nê vô tâm trong những chào mời bất tận và hầu như bị ru ngủ vào trạng thái thụ động hoàn toàn. Những bộ phim hạng bét ngô nghê vẫn chật rạp, những giọng ca đuối hơi và phong cách kim sa giấy bạc vẫn có fanclub, và công chúng dưới khán phòng hả hê mở miệng đón nhận bất cứ thứ gì được chào mời vào mặt…

“Đúng, nhưng họ không tê liệt hoàn toàn, vì họ biết nhổ trả lại những thứ không thể nuốt trôi. Em tin tôi đi!

Em tưởng đế quốc của tôi được bảo vệ bằng một cái âu thủy tinh ma thuật khổng lồ hay sao vậy? Hay tay nông dân đang ăn nên làm ra trên thửa ruộng của mình không bị vài anh địa chủ rình mò thâu tóm? Em nghĩ tôi có thứ thành quách nào mà không kẻ tham vọng nào nghĩ đến chuyện chinh phục? Thậm chí đôi khi tôi còn hồi hộp mong chờ một kẻ hậu sinh đáng mặt khả úy đến làm một trận lật đổ coi chơi.

Nhưng khán giả của tôi, những người đàn bà trong khán phòng của tôi, họ hồn nhiên và dễ dãi, nhưng không dễ chinh phục, và, vâng, họ sẽ nhổ trả những gì không hợp khẩu vị. Họ – những khán giả của tôi, đã không còn là những bộ nhai ngoài kia nữa, họ được bảo bọc trong đế chế vàng. Họ cần tất cả những gì tôi đã làm và tốt hơn thế.”

Tôi loáng thoáng nghĩ đến chính sách ngu dân bằng rượu và thuốc phiện, và niềm thú đau thương của ảo giác, tôi nghĩ đến những khuôn mặt lâng lâng hạnh phúc bước ra khỏi phòng trà những đêm của Ngài Đàm…

“Tại sao không, nếu xảo thuật chính trị được áp dụng một cách khôn ngoan và lành mạnh trong công nghệ giải trí và làm cho người ta hạnh phúc hơn vào cuối ngày, và bốc người ta ra khỏi thứ thực tế khó nhai trong vòng vài ba tiếng, để hồ hởi hạnh phúc chờ đợi album tiếp theo?

Nhưng ngu dân hay mị dân đi chăng nữa, cũng là một môn nghệ thuật thượng đẳng. Nó khiến người ta phải miệt mài sáng tạo và đặt mình ở thế thăng bằng trên một sợi dây mấp mé bờ vực thất sủng. Nó bắt người ta phải đa mưu túc trí. Nó đòi hỏi được vận động và làm mới liên tục để chiều chuộng thấu đáo cả một thị phần công chúng rộng lớn, nơi từng khán giả một là mỗi vũ trụ riêng biệt và siêu phức tạp.

Một đồng nghiệp trẻ nào đó sẽ không thể đảo chính đế chế Ngài Đàm chỉ bằng cách làm như chính tôi đã làm vì khi ấy, đứa trẻ tội nghiệp ấy đã kịp lỗi thời và chỉ đơn thuần ngô nghê nhại lại những mảng miếng cũ xưa.

Còn làm khác Đàm và hay hơn Đàm? Tôi vẫn đang chờ đợi đây, cả công chúng của tôi cũng vậy.”

Từ ngày đó đến nay, người ta nghe loáng thoáng ở đâu đó kiểu rung ngân bẻ giọng, lối gào bốc lên tận vòm họng của Ngài Đàm, thậm chí là từ những đồng nghiệp được đào tạo bài bản hơn Ngài rất nhiều. Và từ đó đến nay, người ta vẫn thấy thi thoảng các ca sĩ lại đeo lên mình những cặp cánh lông vũ mà chính Ngài khi lần đầu làm đã nhắc nhớ đến những show diễn gây ngứa ngáy nhãn cầu của Victoria’s Angels, hay sau những poster Ngài oai phong lẫm liệt trong military style đã khiến sân khấu ca nhạc rầm rộ xuất hiện cả quân đoàn các tướng tá cho đến binh nhì, trong khi chính Ngài lại nhắc nhớ mang máng đến dáng dấp Đại đế Pop nhà Jackson và hình ảnh người hùng mũ đỏ quá vãng… Ngài là một “trend follower”, mang vào mình những bộ cánh lớn, nhưng chưa bao giờ có ai lấy được những điều đó từ Ngài, và chưa từng có một cuộc lật đổ, dù chỉ là manh nha.

Đó chính là vì sao hàng năm vào ngày Halloween người ta vẫn ào ào giả dạng Lady Gaga, nhưng thế giới chỉ có được một Lady Gaga không bao giờ nhạt trò. Sự khác biệt duy nhất: Lady Gaga dù cũng khoác vào bộ cánh của đàn chị Maonna, và nếu có phải khoác lên cặp corset Jean Paul Gaultier, thì ít ra cặp corset mà Gaga mặc còn biết…bắn pháo hoa tung tóe. Và sẽ phải có một quái nhân khả úy như vậy để truất ngôi Đàm.

“Họ bước vào lãnh địa của tôi, và nếu không có một sức sáng tạo phù thủy, họ sẽ làm gì ở đó? Vàng, đỏ, sến, bốc, hay thậm chí khùng điên quái tính,… tất cả đều đã được “Đàm hóa”. Mảnh đất này đã được thâm canh triệt để. Đế chế đã được thiết lập, thần dân ngoan ngoãn và phủ phê và họ có một vị đại tướng quân như thế. Một lần nữa, nếu có một ngôi sao nào khác muốn ‘công thành’, tôi muốn hỏi để làm gì? Họ sẽ làm được những gì để khác tôi và tốt hơn tôi đã từng làm?”

Tôi nhớ mãi bàn tay của Ngài, những ngón tay khum khum như những cái vuốt bằng thép trùm xuống như một thứ thành trì vững chắc. Tảng băng đã thật sự được phá. Ngài say sưa hể hả, Ngài như nhập đồng, nhưng ánh mắt sáng quắc vẻ tinh anh của một đại tướng quân thật sự, và nụ cười khoái trá lạnh ngắt của một phù thủy đa mưu.

Tượng đài Vĩ nhân Hay Huyền thoại Quái nhân?

Hẳn nhiên, Ngài không chỉ “lao động” để vinh danh hậu vận. Có người cho rằng Ngài đang leo bục “Ông Hoàng Làm Quá”, có kẻ cho rằng dẫu hay dẫu dở, Ngài vẫn đang xây dựng cho nền âm nhạc đương đại Việt Nam cả một tượng đài, dù để tụng ca sen huệ hay để phóng phi tiêu về sau. Còn Ngài, Ngài cho mình là tượng đài hay quái nhân của làng nhạc?

“Quái nhân? Không, tôi không có diện mạo của một quái nhân. Tôi giàu tính giải trí, giỏi làm những gì khiến người khác phải banh mắt ra mà nhìn, khen chê và bình phẩm đã không còn là vấn đề, và như vậy, tôi vô tình hay tự đặt mình vào vị trí tiên phong nên dị biệt. Và tất cả những điều đó đều “showbiz tính” lắm chứ, đâu đủ khác biệt để gọi là “quái nhân”? Nghệ sĩ giải trí nào chẳng muốn hình tượng bản thân giàu tính giải trí, và trội bật.

Sự khác biệt duy nhất là có kẻ thành công, có kẻ không.

Tượng đài ư? Chưa đủ!

Đã có những ca sĩ, nhạc sĩ đi trước của dòng nhạc vàng, họ gặp tôi và nói lời cảm ơn vì đã làm cho họ “sống lại”. Thậm chí tôi cho rằng họ đã hơi “thần thánh hóa” quá tay, nhưng tôi hạnh phúc và ghi nhận sâu sắc.

Có thể tôi đã góp vai trò khiến dòng nhạc vàng tái thịnh, và tôi hài lòng với điều đó. Nhưng để gọi là một “tượng đài”, liệu vậy đã đủ chưa, trong khi tôi còn quá nhiều trò còn hay hơn thế nữa mà chưa kịp thực hiện?

Có thể 3 năm nữa, và tôi cũng không biết vì sao lại là 3 mà không phải 2 hay 4. Nhưng ngay thời điểm hiện tại, chưa, tôi vẫn thấy là chưa đủ để tự đặt mình lên bệ tượng đài.”

Chiêu khiêm tốn không thành, Ngài hiển nhiên thiên nhiều hơn vào hướng “quái tính”. Ngài hẳn hoi không là giọng ca hàn lâm, các Hội đồng Nghệ thuật sẽ luôn chau mày nhìn xuống Ngài trong khi công chúng vẫn hò la cổ vũ. Nếu không là những giải thưởng dân chủ dựa trên sự bình chọn của số đông, có lẽ Ngài đã chẳng có lấy cho mình một danh hiệu, giải thưởng chính thống nào.

Dòng nhạc Ngài chọn cũng chẳng có gì gọi là hàn lâm uyên bác, mà cũng không hẳn là dòng underground chất chứa những mầm mống tiên phong. Ngài chẳng là ai cả, và Ngài xây cho mình một cái bệ công chúng hùng hậu, nơi họ công kênh Ngài lên mà thành một tượng đài sống có hình thù…ngộ ngộ

“Tôi thừa nhận mình không thích những thứ…hàn lâm và đàng hoàng. Ngay cả trong cuộc sống cũng vậy, một gã giang hồ, một cô gái điếm có thể ngồi xuống làm bạn với tôi. Hát diễn ngay ở đất Hải phòng giữa những đại gia hầm hố thứ thiệt, Đàm Vĩnh Hưng vẫn có thể chiều chuộng họ với những bản tình ca vàng tưởng như lỗi thời và ủy mị, và đổi lại, họ yêu quý tôi theo cách của họ. Tôi chẳng bao giờ ngồi xuống lắng nghe một cô bé nào đó khóc rống lên với tôi rằng đêm qua cô ấy đã bị “hại một đời”, nếu không muốn nói là tôi sẽ chúc mừng cô ấy.

“Với tôi, âm nhạc hàn lâm thuần túy là những gì hồn nhiên thu phục con người và được một Hội Đồng Thẩm Định khắt khe nhất duyệt chuẩn – đó là Thời Gian. Tôi đào mồ mả những bài nhạc vàng nhạc đỏ (gọi một cách hàn lâm là “ca khúc bất hủ”), phủi bụi nó, “Đàm Vĩnh Hưng hóa” nó, và trả lại cho nó cái long lanh hoàng kim để chiều chuộng thế hệ công chúng của tôi, những người đã quá lâu, trước tôi, không được nền âm nhạc đương đại vuốt ve chiều chuộng đúng kiểu.

“Tôi không đàng hoàng và ghét những thứ ‘đàng hoàng’, nhưng chỉ có những ca sĩ cựu trào đã không còn đủ sức may cho nhạc vàng một tấm áo mới của tay thợ lành nghề, họ đã rơi nước mắt khi cám ơn tôi.”

“Và như vậy, tôi hài lòng vì đã “cà chớn” một cách rất đàng hoàng, chứ nhất quyết không len chân cố “đàng hoàng” một cách…cà chớn!”

Thôi nào, từ khi Đàm Vĩnh Hưng còn bận bịu với thị hiếu công chúng trẻ thì thị trường đương đại vẫn có nhạc vàng đấy thôi?

“Vâng, có, nhưng là một thứ nhạc vàng bị “phục chế nguyên bản”. Những tiếng rên rỉ rung ngân đồng điệu đến hàng thập niên, những tiếng vút giọng gió vào cuối câu… Nhưng tôi biết mạ cho những ca khúc ấy bằng một diện mạo mới, và chỉ khi nó vận động, nó mới sống. Em biết đấy, người ta chỉ phục chế lại những thứ đã mất, với tôi, nhạc vàng vận động, nó khác đi, mới hơn, mà không ai khác, tôi khẳng định là không – ai – khác, có thể lặp lại được, hoặc đã làm được về trước.

Em biết đấy, chỉ có con người là già đi và trở nên lỗi thời thôi, âm nhạc thì không.”

Nhưng anh không hề định nói rằng anh là một người hùng cứu tinh của nền văn minh nhạc vàng bị quên lãng đấy chứ?

“Tôi có nói đâu, công việc của tôi và công chúng của tôi nói đấy chứ. Thật ra, mọi chuyện đơn giản hơn sự suy diễn lãng mạn của em nhiều. Thị phần nhạc vàng và công chúng của nó là một miền đất rộng, đầy tiềm năng trù phú đang bị ngành công nghệ giải trí bỏ quên lãng phí đấy mà thôi. Và tôi là kẻ khai khẩn khôn ngoan, khác người, và tự biết mình sẽ phải mệt mỏi hơn rất nhiều lao vào cạnh tranh cuốc xẻng với những sân khấu, hoặc sân đấu, vốn đã quá đông. Các ca sĩ kiểu “sao sữa” (baby-face) ra đời nhan nhản, thậm chí cả những ca sĩ quá lứa đã thành sao…yogurt vẫn còn dai dẳng bám lấy thị phần khán giả teen.

Tôi chỉ tay vào một trong những poster bìa album được lộng khung treo dằng dặc trên “bức tường danh vọng” đối diện. Tấm ảnh được chụp trong bối cảnh của một live show, Đức Ngài tỏa sáng phần phật ở trung tâm, những bóng đen của khán giả che khuất sân khấu, khiến cảm giác không khác gì Ngài đang đứng trên một cái bệ được xây dựng bằng những tín đồ hân hoan.

- Anh nhìn kìa, đó chẳng phải là hình ảnh của một tượng đài?

- Em có thấy vĩ nhân nào tự xây tượng đài cho mình chưa? Hãy để công chúng làm điều đó, nếu họ không thể chờ đến 3 năm!

Vầng Thái dương Trong Lòng Kim Tự Tháp

Và nếu bạn đã có ở đó, nữ độc giả của tôi ạ, với thiên tính giàu trắc ẩn, ắt bạn cũng sẽ xót xa thở hắt ra:

- Anh có mệt không, trên cái ngai hoàng đế của mình?

- Anh rất sợ cái vị trí đó…

- Nhưng anh đã lập quốc?

- Các vị vua thường bị phế truất, êm ra cũng băng hà. Các ngôi sao thì có quá nhiều, mà sao nào cũng lập lòe leo loét vay mượn ánh sáng của nhau. Tôi muốn làm thái dương – một mặt trời duy nhất.

- Vậy để em hỏi lại, vầng thái dương có mệt không 15 tỏa nhiệt trên bầu trời của mình?

- Nói thiệt, 15 năm, tôi chưa thấy mệt. Tổ nghiệp chọn không nhầm người để đãi, và tôi dám tự hào cho rằng mình là kẻ hiếm hoi xứng đáng. Tôi có khả năng một cách tự nhiên, gần như một bản năng, để nhìn xuống khán phòng và thấy những sự chới với cần được vuốt ve nâng đỡ. Tôi biết khi căng khi chùng sợi dây điều khiển và tính toán những khoảnh khắc để hớp hồn họ. Tôi biết chiếu tia nhìn xuyên thấu ánh sáng lòa mắt của sân khấu để thôi miên “thần dân” của mình, hoặc khiến họ phải quay đi chỗ khác. Tất cả những bản năng tự nhiên ấy không hề được đào luyện mà thành, tôi không hề mệt mỏi khi sử dụng năng lực của mình, nếu không muốn nói là sự say sưa với thứ quyền lực ấy càng khiến tôi mạnh mẽ hơn.

Than ôi, mỗi ngày qua, ngành công nghệ giải trí lại đẻ ồ ạt những thế hệ tiểu quái nhân, tuyệt vọng trong cuộc đua khốc liệt để trở nên khác biệt. Còn những người đàn bà thì luôn ý thức được rằng họ không bao giờ được chiều chuộng đầy đủ cả. Ngài đặt tay mình lên bánh lái Định Mệnh, và nó đã xoay với tốc độ chóng mặt đến mức chỉ cần một giây buông tay, Ngài sẽ bị hất ra, và “thần dân” của Ngài sẽ lại tiếp tục yêu chuộng một tượng đài mới mẻ.

“Đó ắt nhiên là sự nghiệt ngã của nghề. Người ta nói “khán giả quên nghệ sĩ chứ nghệ sĩ không bao giờ quên khán giả”. Điều này không sai, nếu nghệ sĩ không làm gì để khán giả phải nhớ tới.

Nếu phút ngơi tay ấy có đến, tôi sẵn sàng chấp nhận. Nhưng một khi bánh lái Định Mệnh còn nắm vững trong tay, tôi đang làm tất cả những gì có thể để xây dựng những tường thành kiên cố (mà chưa thể thổ lộ cụ thể ngay lúc này). Để thay chỗ một Đàm Vĩnh Hưng, hãy nghĩ đến vượt qua những cái bẫy trùng điệp của một Kim Tự Tháp.”

f.: Anh đã trù hoạch cho một Kim Tự Tháp để nghỉ ngơi và được tôn thờ vĩnh cửu?

Ngài Đàm: Tôi luôn nghĩ rằng mình sẽ chủ động bước ra khỏi showbiz vào thời điểm và tư thế được tính toán từ trước – Mặc dù có lẽ điều đó sẽ là khó. Rất khó!

f.: Anh có tin rằng mình đủ mạnh để làm điều đó không?

Ngài Đàm: Nói thật nhé, tôi thật sự không biết nữa!

Và đó là khoảnh khắc đầu tiên trong suốt cuộc nói chuyện, trông Ngài mới yếu ớt làm sao!

Mọi vị vua trong lòng các Kim Tự Tháp đều rất đỗi yếu ớt và mong manh, là vậy!

Con Quỷ và Cuộc Vui Cuối Cùng

“Thậm chí em có tin là tôi đã nghĩ rất nhiều cho sự nghiệp về sau của mình, khi thời gian không còn cho phép tôi làm hài lòng khán giả của mình nữa? Thậm chí tôi đã định rằng sẽ quyết không xuất hiện trên sân khấu mà chỉ phát hành album, và nếu có xuất hiện trong một vài sự kiện quan trọng, tôi sẽ cần có một tấm màn phủ xuống che lại khuôn mặt mình. Tôi muốn giữ trọn vẹn cho khán giả một hình ảnh Đàm Vĩnh Hưng như họ từng biết. Vâng, tôi đã nghĩ đến cả việc đi ẩn cư một thời gian, như thể khi yêu nhau thì người ta cần giữ lấy một chút gì bí ẩn, và đôi thoảng cần xa nhau để thèm muốn nhau hơn vậy.”

f.: Vì kiêu hãnh?

Ngài Đàm: Không! Vì kịch tính. Kịch tính dẫn đến sự hiếu kỳ. Tình yêu có thể nhạt màu và mòn mỏi, nhưng lòng hiếu kỳ luôn luôn bảo đảm cho mọi sự tươi mới và dư dả giật gân.

Em còn nhớ vụ lùm xùm về “vụ án” ca khúc Phố Đêm? Tôi đã cầu ngày cầu đêm để chờ “được” khởi kiện và cấm trình bày ca khúc này. Đó là tất cả những gì tôi cần lúc đó cho một vụ nổ truyền thông thật sự. Chỉ cần tôi “được” cấm thể hiện ca khúc này một thời gian, cứ cho là từ 6 tháng đến 1 năm, và tôi sẽ đường hoàng đẩy ca khúc với lai lịch kịch tính ấy lên hàng hit kỷ lục của showbiz. Đáng tiếc, tôi chỉ bị phạt 30 triệu!

f.: Anh là một con quỷ!

Và ngài cười, khoái trá.

Dường như Ngài đùa ngạo cả với điều đáng xem là việc kinh sợ nhất của một ngôi sao, hay cả một mặt trời.

“Nếu một ngày tôi thức dậy và mất giọng, tôi sẽ điềm nhiên cho đó là sự an bài của bề trên. Điều xâm chiếm tôi khi nghĩ đến ngày bước xuống khỏi sân khấu không hề là nỗi sợ. Làm sao người ta lại phải sợ một điều được biết trước và hiểu rõ?”

f.: Vậy cảm giác đó là gì?

Ngài Đàm: Buồn!

Đức Ngài đã lặng đi. Lâu. Rất lâu. Và bạn thấy mình có trách nhiệm khuấy động lại cho mình một cuộc hò hẹn đang hồi rôm rả (và lúc này đã quá giờ đánh vợt của Ngài ngự)

f.: Thôi nào, em biết mà, anh sẽ có một cuộc về vườn tưng bừng siêu xa xỉ. Dạ Tiệc Trắng nhé? Gấp 10 lần Dạ Tiệc Trắng nhé? Và mê mải ngắm thần dân mình tha thiết quý yêu trong tuyệt vọng ra sao. Anh thấy thế nào?

Và Ngài lại thoắt trở lại hào hứng say sưa như đứa nhỏ sắp đầu têu một trò rắn mắt.

“Tại sao không là một tour diễn từ biệt em nhỉ? Như Cher ấy, tour diễn giã từ sự nghiệp của bà kéo dài 3 năm đến khắp nơi trên thế giới, lời giã từ dai nhách nhất lịch sử công nghệ giải trí thế giới, sáu câu vọng cổ bất tận trước khi ôm lưỡi kiếm xuyên thân mà lăn đùng xuống sân khấu. Một cuộc chia tay huy hoàng và dài hơi. Tại sao không nhỉ?”

- Ha, cái đó gọi là tàn hơi cố đấm ăn xôi.

- Không, đó là cuộc vui cuối cùng.

- Cuối cùng thật không?

Ngài lặng đi

- Tôi đã dự định sẽ chỉ giã từ sân khấu khi đã chuẩn bị cho mình một bãi đáp an toàn. Những tấm gương tiền nhân đã rõ, những nghệ sĩ lớn mòn mỏi trong lãng quên và nghèo khó. Những chuỗi đêm không còn được lắng nghe tiếng pháo tay, cảm giác của kẻ được công chúng công kênh yêu mến, tung lên cao, và người nghệ sĩ một ngày rơi xuống mặt đất lạnh, không còn có lấy một cánh tay khán giả ái mộ đưa ra. Đám đông mới đã kịp hình thành xung quanh những tượng đài mới. Người nghệ sĩ đứng dậy để nhận ra mình ở trên những cánh tay và bay trên không đã lâu, không còn nhớ cách để tự đi bằng đôi chân của chính mình. Không, điều đó tôi nhất quyết không chọn cho mình.

Lúc này, nữ độc giả minh mẫn và đa nghi của f., bạn có thể tự hỏi liệu đó có phải bởi không khí thiếu ẩm trong căn phòng lạnh nơi Ngài tiếp bạn đã khiến mắt Ngài ngấn nước đỏ hoe.

“Lát nữa tôi sẽ dẫn em đi xem nhà. Trong cái gọi là “phòng Sự Nghiệp” của tôi không thiếu một bài báo, một tấm vé ca nhạc nào từng có tên tôi. Trong đó có 4 bức tượng mannequin mặc 4 bộ trang phục đã từng gây shock giới báo chí, các giải thưởng, băng đĩa. Có cả cuộn băng cassette tự thâu với thùng karaoke ngày trước, tôi còn giữ cả cho mình một cái bàn làm tóc trong nhà nữa. Và mỗi khi tôi nhìn lại căn phòng ấy, tôi biết, người ta sẽ không phụ tôi, quên tôi nhanh đến vậy đâu. Tôi biết những đứa bé 3 tuổi nhất quyết không chịu ăn nếu không nghe…Say Tình. Rồi chúng sẽ lớn lên, sẽ nói với con cái chúng rằng “Đã từng có một Đàm Vĩnh Hưng…”

f.: Liệu khi đó, anh có vượt qua nổi sự tự tôn hình ảnh để xuất hiện trở lại trên sân khấu?

Ngài Đàm: Sẽ là ở những sự kiện thật sự xứng đáng, và tôi muốn khán giả khi ấy sẽ phải đứng lên để đón nhận tôi.

f.: Đón nhận một sự ban phát?

Ngài Đàm: Sao nào? Tôi đang lao động ra trò để xứng đáng.

“Cho phép tôi hát tặng mẹ em!”

“Dạ Khúc Cho Tình Nhân” đã là một lá thư tình Ngài gửi cho những người đàn bà của mình, trong bìa hộp hình chiếc phong bì đóng dấu triện nhựa mạ vàng hình chiếc vương miện. Những lá thư tình của vị hoàng đế mà người ta có thể mua được cho mình sau mỗi đêm diễn của ngài hoặc ngoài nhà sách.

“Tôi đã phải vắt óc để nghĩ ra trò đó với cái phong bì như vậy. Mặc kệ email, SMS và Yahoo Messenger, những người đàn bà vẫn cần nhận được những bức thư tình đã cũ. Và giờ thì tôi lại tiếp tục vắt óc ra để nghĩ trò gì khác cho album tiếp theo. Em biết đấy, chiều chuộng họ, không bao giờ là đủ.”

Một cuộc tình không sòng phẳng khi một bên phải trổ hết tài nịnh đầm và miệt mài làm mới mình để được yêu thương. Bên còn lại thì vô tâm và sẵn sàng quay lưng lại khi có một ai đó khác lắm chiêu giỏi chiều hơn như thế. Chẳng phải “đức Ngài” tối thượng đang tỏ ra lụy tình quá lắm với toàn cõi hậu cung của mình?

“Đành rằng thế. Nhưng lúc này những người đàn bà ấy đang yêu tôi, và tôi tin mình là kẻ duy nhất. Với những chiều chuộng thấu đáo tâm can của mình, với tất cả những gì tôi đã làm để tiêu khiển cho họ cho đến tận những điều điên rồ nhất, tôi tin rằng khó có một “người đàn ông” nào khác có đủ sức lực, nếu không nói đến óc sáng tạo và tài năng, để dẫu chỉ lặp lại hết những gì tôi đã từng làm. Một người đàn bà vô tư nhất đi chăng nữa, cũng sẽ không thể quên một người tình hào hoa và tận tụy rất mực với Nàng. Không chỉ muốn mình được yêu, tôi còn đang làm tất cả để người ta phải tiếc nuối khi tôi không còn có thể cho họ những vuốt ve chiều chuộng.”

Những ngày xưa của một Vĩnh Hưng len lén in danh thiếp ca sĩ, của gã khật khùng với “phòng thu” tự tạo, của những đồng cát-sê còm cõi dưới nệm giường ấy, phải chăng tư chất quá rõ rệt của một thuyết khách, một chính trị gia, một thương gia văn hóa đã lấn lướt ít nhiều cái chất nghệ sĩ tính khùng khùng và vong thân của Ngài Đàm?

“Nghệ sĩ tính, hay khát vọng vong thân vẫn luôn ở đấy. Đó là điều đầu tiên và tối thượng cho vị trí của tôi ngày nay. Nhưng cũng chính để giữ mình thăng bằng trên chiếc ngai vàng tự tạo này, chỉ nghệ sĩ tính thôi thì hóa ra tôi sẽ là tay nghệ sĩ phóng túng và vô trách nhiệm với chính sự nghiệp của mình. Không phải vô cớ mà một phần (phần nổi và rộng) của âm nhạc trở thành công nghệ, và “thính giả” trở thành “thị trường”.

“Và ở hai vế của “cuộc tình” này, khán giả là những người cần được bay bổng đê mê và có thể xa rời thực tế đến chừng nào họ muốn. Và nếu người nghệ sĩ cũng vậy thì thực tế đáng buồn là cuộc tình đó sẽ khó bền. Người đàn ông không danh vọng sự nghiệp chi gọi là thứ đàn ông chưa thành nhân, có yêu mấy cũng tới lúc đuối tình. Một anh nghệ sĩ nghèo có lãng mạn đến mấy cũng tới lúc rõ mặt anh hèn bạc nhược bất tài kém chất. Và ắt nhiên, người đàn bà sẽ chọn thả mình theo những ngôi sao sáng hơn, và sáng bền hơn. Chính vì vậy mà tôi không còn có thể tự cho phép mình thả rông nghệ sĩ tính để rồi phải đóng vai kẻ sĩ không gặp thời. Đam mê thì vẫn đấy, nhưng tình yêu cũng cần có kỷ luật của nó, nhất là khi người ta vào vai người đàn ông.”

f.: Phụ nữ là ai, đối với anh?

Ngài Đàm: Họ là những người dễ đến bên tôi, chấp nhận tôi, yêu thương tôi, và để mặc cho tôi yêu thương lại. Họ ngoan, và tôi thích như thế. Họ biết yêu thương và tán tụng, tôi cần được như thế.

Họ có thể dễ dàng nhận từ tôi điều tôi rất giỏi cho, và dễ dàng cho tôi điều tôi muốn.

Nước mắt của họ làm nên đế chế của tôi.

Trong tôi có hai con người em ạ, và điều đó cho phép tôi vừa yêu họ, vừa hiểu họ cần gì.

f.: Phụ nữ, sau cùng, vẫn cần sự an toàn. Mà với Ngài Đàm, kẻ đã từng “dám” bỏ thị phần nhạc trẻ, không có gì bảo đảm cho những người đàn bà của anh rằng anh sẽ không bẻ lái một cách đột ngột, một ngày không ngờ nào đó.

Ngài Đàm: Tôi thích cho khán giả của mình đứng tim lộn ruột và bị bất ngờ. Em biết đấy, đàn bà, họ sẽ không còn yêu nồng nàn đến thế nếu người đàn ông không có chân, không biết đi, và an toàn tuyệt đối.

Rồi Ngài đột ngột hỏi, như thể chợt nhận ra, giữa cuộc nói chuyện, rằng ngay bên cạnh Ngài đang là một người đàn bà đến-từ-bên-ngoài

- Tối nay em rảnh không? Anh mời em đi nghe anh hát. Em muốn mời ai đi cùng không?

- Vâng, nếu anh cho phép, mẹ nhé?

- Đúng rồi, mẹ nhé! Nói với mẹ em rằng anh Hưng trân trọng mời, và sẽ hát tặng bà những bản hay nhất anh chưa từng hát ở bất cứ đâu.

Hãy tưởng tượng một cuộc hẹn hò, nơi người đàn ông muốn gửi cho mẹ bạn một món quà!

Vị khách mời trong đêm cung nội

Cuộc nói chuyện phải tạm ngưng tại đó bởi bên ngoài trời bắt đầu tối, và rõ ràng bạn đã làm đức Ngài không chỉ lỡ buổi đánh cầu lông mà cả buổi tập bài để chuẩn bị cho đêm diễn chỉ còn cách vài tiếng đồng hồ.

Hãy để mặc Ngài sửa soạn dọn mình cho buổi thiết triều tối nay, còn bạn, nữ độc giả mê phiêu lưu của f., bạn cũng sẽ không muốn xuất hiện vào buổi tối với cùng một bộ dạng. Hãy vào vai vị nữ khách mời lịch thiệp nhất để làm một chuyến thăm thú vương quốc Ngài Đàm.

Hai cuộc hẹn trong cùng một ngày, bạn có tất cả 3 tiếng đồng hồ để băng qua nửa thành phố về nhà, bằng mọi cách làm cho mình tươi tắn tỉnh táo lên, ăn nhẹ cho bữa tối và có mặt tại phòng trà trước khi đức Ngài xuất hiện.

Hẳn nhiên, mọi sự đã được Ngài sắp đặt chu đáo và thân mẫu của bạn được đối đãi như đệ nhất diva, còn bạn thì bắt đầu điều nghiên quan sát các “thần dân của đế chế Ngài Đàm” đang lục tục kéo vào.

Bạn sẽ thấy diễu qua trước mắt một đoàn diễu hành nửa vui nhộn nửa u buồn của dòng áo khăn đài các, những bộ tóc giả nhắc nhớ dáng dấp đệ nhất giai nhân họ Thẩm, những cặp mi dày cộp kiểu đầu thập niên 70, những bàn tay bất khả dối già đính những bộ móng được tỉa tót cầu kỳ. Không gian nồng nực cuộc giao chiến hỗn loạn giữa các dòng mùi hương  bị trộn lẫn đến mức khó gọi tên.

Không khó để kẻ mới đến ngay lập tức nhận rõ các quý bà quý cô nơi đây đã hình thành những nhóm tầng lớp như trong một xã hội thật sự. Một tốp các quý bà mà lớp trang điểm khai rõ gốc gác hải ngoại của chủ nhân tỏ vẻ thu hút sự chú ý một cách đặc biệt và bạn sẽ được rỉ tai rằng đó là hội “fan ruột” của đức Ngài. Nhưng mọi ánh nhìn đột ngột hướng về quý bà thuộc tầm cao niên với mái tóc khổng lồ mà xuất xứ trào lưu rõ ràng là từ cuối thập niên 50, lớp trang điểm sành sõi và nụ cười ngây ngô hồ hởi. Nhân vật nọ phải có một người dìu bên cạnh để tiến về hàng ghế sát sân khấu, tay cầm bó hoa to trắng tuyền. Bà ngây ngô cười và ngây ngô an vị, mặc cho những tia mắt và tiếng rít mãng xà từ phía sau tới tấp phóng đến. Người ta có thể đếm thấy trên mái tóc kiểu “beehive” của bà có tất cả 4 chiếc kẹp tóc cùng lỉnh kỉnh lang cang các món nữ trang, như thể bà đã dốc cả tráp cổ vật lên người trước khi xuống phố.

Bạn sẽ không muốn bỏ lỡ cảnh xa giá của “ngài ngự” và sẽ lỉnh ra ngoài, ngắm những quý bà chậm chân sau cuối đang tiến vào bên trong. Đúng giờ hẹn, chiếc xe của Ngài xuất hiện. Nụ cười và cả đôi mắt đỏ hoe đã biến mất. Ngài bước khỏi xe, earphone cắm vào tai và miệng vẫn nhẩm bài. Lướt ngang qua bạn, Ngài chỉ kịp nói nhanh “Sao em chưa vào?”

Bên trong khán phòng lúc này người ta đang rệu rã lướt vội qua những ca sĩ hát “tiền trạm”, những mái đầu đội tóc giả bắt đầu ngọ ngoạy tứ phía và lầm rầm hỏi giờ, và…Ngài nhảy tót lên sân khấu, sung sức như một kiêu binh say máu.

Trong khi cả phòng trà đứng bật dậy trong tiếng vỗ tay như hồ hởi thở phào và reo vui cùng lúc, bạn thì suýt sặc nước bởi sự xuất hiện dũng mãnh hết hồn của Ngài, với một bông hoa to oành cắm đầy lông vũ, trông như một chú gà trống vạm vỡ đậu trên vai ông vua Pop Việt nhỏ thó.

Trong suốt hai ca khúc đầu, Ngài đã lập tức trổ tài điệu nghệ, và bạn lạc ngơ ngác vào không khí phòng trà đầu 1970 với tiếng vỗ tay bốc trần sau mỗi bước chachacha xăng-cốp (syncopation) xưa cũ được thi triển tưng bừng trên sân khấu.

Và ngay khi bạn hoang mang tự hỏi đêm còn dài bao lâu thì bạn chợt nhận ra rằng cuộc vui thậm chí chưa thật sự bắt đầu.

Ngài túa đẫm mồ hôi, và bằng một cử chỉ dứt khoát, tháo bỏ lớp áo khoác bên ngoài có đính con gà trống, xăn tay áo sơ-mi, Ngài lướt ánh mắt quét khắp khán phòng như một đại tướng quân đang duyệt binh. Ánh mắt Ngài dịu lại, mềm ra, xoáy vào vùng tối khán phòng.

Ngài muốn sự im lặng tuyệt đối.

Ngài muốn thả chùng mọi nơ-ron thần kinh và tế bào cảm xúc.

“Dù cho mưa, tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời…”

Bạn bất chợt nhận ra mình cũng đang thở hắt ra.

Đức Ngài, từ trong vầng sáng spotlight, dường như nhìn nhanh về phía bạn với một cái nháy mắt ranh mãnh, nửa đồng tình, nửa như đắc thắng “Em thấy chưa, tôi đã nói mà!”

Cao hứng, Ngài giải tán ban nhạc và chỉ giữ lại một guitarist với lí do sẽ hát những bản thật đặc biệt chưa bao giờ tập cùng ban nhạc, như để minh chứng cho điều Ngài nói ban chiều “bọn ca sĩ mất nghệ sĩ tính là đồ vứt đi. Đã hát thì chỉ cần một cây guitar cũng hát!”

Và bạn tin tôi đi, Ngài đã thật sự hát.

Đã không có một chi tiết nào của cuộc nói chuyện ban chiều được bỏ qua. Những xảo thuật, những trò mơn man tâm lí, với ân sủng được tài tình chia đều cho từng người đàn bà trong khán phòng, những mảng miếng sặc mùi sân khấu, những trò tung hứng đổi trao,… Ngài thỏa thuê hào phóng đêm nay, mặc sức phủ ngập khán phòng của mình trong những thăng hoa của ảo giác. Ngài di chuyển liên tục trên sàn diễn, không bỏ qua một ánh mắt, một khuôn mặt nào từ bên dưới khán phòng, nơi mỗi người đàn bà đều tin rằng bài hát ấy dành cho mình, nơi mỗi người đàn bà đều tin rằng họ đang ở trong cuộc diện kiến riêng tư với chính Ngài Đàm, trong khi Ngài, như tay chatter thiện nghệ có thể “chat” với nhiều users, cùng lúc nâng niu trò chuyện với từng khán giả đang bị thôi miên.

Người phụ nữ tóc kiểu beehive cầu kì run rẩy đứng lên, bó hoa trắng lộng lẫy trong tay, Ngài Đàm hơi nghiêng mình trong một tư thế ban phát tài tình để đón nhận.

Bà run rẩy ngồi xuống, vẫn nụ cười ngô nghê và ánh mắt long lanh vô hồn.

Ngài bước qua, tiếp tục tài tình điều khiển khán phòng của mình, trong khi bạn, người-đàn-bà-đến-từ-bên-ngoài âm thầm nghiêng mình trước cuộc tán tỉnh ngoạn mục đến khó tin của loài mãnh thú đầu đàn với tất cả những thần dân đang hạnh phúc của cái đế chế đầy hoài niệm và mùi mỹ phẩm ấy.

Đêm thiết triều đã đặc biệt kéo dài hơn thường lệ. Những người đàn bà bước ra khỏi phòng trà với ánh mắt long lanh hồ hởi, bạn sẽ tưởng như có thể thấy đồng tử họ đang giãn nở thỏa thuê. Người ta kháo nhau rằng ngày hôm nay, Ngài “thăng” bất ngờ và “xuất chiêu không ghê tay”, còn bạn sẽ âm thầm giữ riêng cho mình một sự tri ân lặng lẽ.

Phía bên ngoài, Đức Ngài dân chủ và thân thiện vẫn còn bị bao vây giữa vòng ưu ái của thần dân. Đề huề, phỉ mãn.

Hãy lịch thiệp từ giã, bởi thời gian dành cho bạn đã hết.

Hãy bước ra khỏi vương quốc hào hoa trên bể lệ ấy, trả Ceasar lại cho những gì thuộc về Ceasar.

Sau cuộc hẹn rốt cuộc đã kéo dài gần 10 tiếng đồng hồ, dating diva của f. sẽ thong dong gõ gót trên đường về một mình, lắng nghe vọng lại từ một chiếc taxi nào đó cái lối bẻ giọng rè rè của anh thợ làm tóc 15 năm trước: “Hỏi trời xanh có chăng Định Mệnh?…”

God is Gay

by f.

Một năm, người ta có đến biết bao nhiêu ngày để yêu một người đàn bà?

Này nhé, hai tháng đầu năm liên tiếp, ngày 14 và ngày 08, sinh nhật, kỷ niệm hẹn hò, kỷ niệm ngày cưới, hay thậm chí cả đêm Giao thừa cho đến tận sau mùng 4 Tết,…

Và đàn bà, họ vẫn cho vậy là chưa đủ.

Đàn bà… 

Họ nấu nướng, làm đẹp, yêu đương, và sinh nở.

Họ sải bước trên sàn catwalk với những cái bụng lép kẹp, thống khổ kiệt quệ trong những phòng gym và làm những điều đớn đau phi thường trong các thẩm mỹ viện.

Họ hơi phiền toái, hoài cổ, và đòi được nghe câu “Anh yêu em” mọi lúc, trong điện thoại, qua email, bên bàn ăn và cả trên giường.

Để được yêu, họ nấu nướng, làm đẹp, yêu đương và sinh nở…

Đàn ông…

Đàn ông chi xài hào phóng, phụng sự và tung hô phụ nữ trong hoa và mọi thứ hình trái tim vào một số ngày nhất định trong năm hoặc mỗi cuối tuần.

Đàn ông kiên nhẫn lặp đi lặp lại “Anh yêu em” mỗi khi được hỏi. Thi thoảng họ rút ngắn lại thành “Yêu!” hay về sau thậm chí “Ừ thì yêu em!”

Rồi trong những ngày còn lại của năm, họ yên tâm khẳng định mình là những kẻ yêu phụ nữ.

Bởi người ta hay nhầm lẫn giữa một tay mê gái, và người đàn ông biết Yêu phụ nữ thật sự.

Những người đàn ông khác…

Họ ở đó, trong vùng tối của hậu đài, hiểu rõ sự ve vuốt êm dịu của những búp cọ làm nên lớp nền hoàn hảo, và cả sự thống khổ cần thiết của những chiếc nịt ngực và những cặp gót chênh vênh.

Họ – những kẻ duy nhất thấu đáo nỗi ô nhục của một khuôn mặt trần và mái tóc lạc kiểu, họ chia sẻ với đàn bà những cơn rùng mình thẩm mỹ trước làn sóng thời trang thực dụng, và làm nên những ốc đảo xa xỉ cho những ước mơ thầm kín hoang đường nhất của quý bà. 

Không có họ, đàn bà lạc lối.

Không có họ, đàn bà không thể đàn bà đến vậy.

Những người đàn ông ấy, họ chìa cánh tay hào hiệp (được nhuộm màu đồng hoàn hảo) dìu Đàn Bà về ngai vàng dành cho nàng.

Trải dài hàng tuần lễ thời trang mỗi năm, Những-người-đàn-ông-yêu-phụ-nữ tung ra những bộ cánh để yêu chiều phụ nữ, đoán trước những ước ao đàn bà rồi tạo nên những trào lưu để đáp ứng, cung phụng, và dẫn dắt, tiên phong.

Hàng mùa, họ định hình cho những phong cách trang điểm mới, hiểu rõ sự bất an của đàn bà để khỏa lấp cho họ những khiếm khuyết li ti nhất.

Không chỉ say sưa phụng sự đàn bà, mà hơn thế, họ say sưa Kiến-tạo nên đàn bà.

Với họ, đàn bà là mẹ, là nàng thơ, là hồng nhan tri kỷ, là bff (best-friend-forever), và là những tạo vật mỹ miều tinh xảo nhất xứng đáng được tôn tạo nâng niu.

Họ, những người đàn ông yêu mẹ tuyệt đối, những kẻ từ thuở ấu thơ đã bị ám ảnh bởi những bóng hồng nhan vang danh bất hủ, và luôn vây quanh mình bởi những người đàn bà thật sự xứng mặt giai nhân.

Ngược lại, họ bao phủ đàn bà bằng sự tinh tế và xa xỉ mà không hề cho rằng đó là sự hoang đàng phù phiếm.

Họ sản sinh ra thời trang, chỉ để dâng hiến, cưng chiều và xoa dịu Đàn Bà.

Họ là những Marc Jacobs, Alexander McQueen, Jean-Paul Gaultier, Yves Saint Laurent,…

Họ là những chuyên viên trang điểm, hair designer, từ hậu đài những runway show danh giá nhất thế giới, cho đến những tiệm làm đầu trên những nẻo phố thị heo hút ở bất kì đâu trên đại cục toàn cầu.

Tôi còn nhớ trong một lần gặp gỡ với makeup artist Nguyễn Háo Mộng Hùng, nhà ảo thuật phía sau những nhan sắc lẫy lừng tên tuổi làng showbiz Việt. Tôi hỏi anh:

- Anh có yêu đàn bà không?

- Có!

- Yêu nhiều chừng nào?

- Yêu đến mức tôn thờ. Tôi yêu họ không phải để đưa họ vào giường, mà để đem họ vào trong chính tôi.

Một năm, người ta có đến biết bao nhiêu ngày để yêu một người đàn bà?

Đối với Những-kẻ-yêu-đàn-bà-nhất, câu trả lời là 365 ngày và tất cả các tuần lễ thời trang!

Và Thượng-đế làm ra người đàn bà.

Ngài ắt hẳn đã phải là một người đàn ông. Một người đàn ông với gout thẩm mỹ tuyệt vời!

‘Don’ Galliano – Hiệp sĩ Râu Kẽm Xứ Gribatal

 

Trác-Thúy-Miêu

Đúng 50 năm về trước, vào tháng 11 năm 1960, tại Gibratal, Tây Ban Nha, Juan Carlos Antonio Galliano Guillén ra đời. Không có thiên sứ mặc haute couture loan tin, và thế giới thời trang vẫn hoàn toàn bình yên cùng vòng xoay đều đặn của trào lưu. Những nền văn minh cổ và các tàn dư quá vãng hẵng ngủ yên trong quên lãng, và Christian Dior cũng vừa gầy dựng mầm mống đầu của vương triều xa xỉ.

Nửa thế kỷ sau đó, hoàng gia Anh và cả nước Pháp, cùng ngành công nghệ thời trang lẫn mọi diva showbiz thế giới hoan hỉ kỷ niệm 50 năm bôn tẩu hành hiệp giang hồ của gã quý tộc râu kẽm sinh nhầm thế kỷ với danh xưng Bố-Cả (Big Papa John)

PHÁP THUẬT ĐẦU TAY CỦA PHÙ THỦY ĐƯỢC PHONG THÁNH

John Galliano, không nghi ngờ gì nữa, là cái tên mà mọi fashionista nhập môn đều cung kính ngưỡng vọng, cho đến các diva thượng thừa hãnh diện tỏ mặt thân tình mà gọi là Bố-Cả (Big Papa John), trong khi những chiến hữu khét tiếng của làng thời trang và truyền thông lại ưu ái gọi là John-Bé-Bỏng. Đối với các sinh viên ngành thiết kế, bản thân Galliano là một ngành học, và đối với cả hai quốc gia Ăng-lê lẫn Pháp-quốc, ông là một vị anh hùng.

Sinh trưởng ở Gibratal, Galliano, lúc này là Juan Carlos Antonio Galliano Guillén, chưa có tước vị CBE lẫn RDI, lại lớn lên ở London. Đây cũng là nơi ông gieo hạt giống đầu tiên mang nhãn hàng tên mình trước khi trở thành nhà thiết kế chính của tên tuổi haute couture huy hoàng nhất nhì Paris lẫn thế giới – Christian Dior.

Kể từ bộ sưu tập tốt nghiệp năm 1984 mang tên Les Incroyables, John Galliano đã lập tức trở nên trứ danh với trò hô biến cả không gian trường Nghệ thuật London, tài tình đưa những khán giả may mắn trong khán phòng ngày hôm ấy lên một chuyến tàu vượt cả không gian lẫn thời gian để thấy mình ở giữa những đường phố Paris thời kỳ Cách mạng Pháp, rồi bần thần kinh ngạc ra về, váng vất âm hưởng thánh ca báo tin lành “When a child is born” về sự ra đời của một Đấng Sáng tạo trẻ tuổi, mở đường cho một biên niên mới của cục diện thẩm mỹ thời trang.

Kể từ đó, Galliano liên tiếp gây ra những vụ kinh thiên động địa tương tự, mà sự kinh ngạc lẫn cảm xúc vẫn không hề suy chuyển như show diễn tốt nghiệp đầu tay. Dẫu đó là nhà hát Opera Garnier ở Paris biến thành bữa dạ tiệc phóng túng của giới thượng lưu Venice những năm đầu thế kỷ, hay những nhà ga tồi tàn của Gare d’Austerlitz thành những phế tích văn minh Maroccan cùng giai nhân da đỏ huyền thoại Pocohontas mình mặc couture,… Galliano chưa bao giờ cạn kiệt ma lực quyến rũ kỳ lạ và một sức sáng tạo không biết nguội qua bao thập niên.

Gã mải miết vùi đầu vào những cảm hứng sáng tạo luôn đến từ những giai kỳ quá vãng, những nền văn minh bị quên lãng hay văn hóa hương xa, rồi nhảm nhí chắp vá thêu thùa những mảnh kiếm tìm lộn xộn một cách bừa bãi, vô tội vạ trong cùng một khối hình thiết kế hài hòa đến mức khiến người xem phải nghi hoặc về kiến thức lịch sử mỹ thuật chính kiến thẩm mỹ của bản thân.

Và như thế, Galliano “lãng mạn vào đời”, hung hăng như gã Don Quijote máu chiến, và trong mắt gã, mỗi cối xay gió là một gã khổng lồ, mỗi ả giang hồ là một giai nhân tuyệt sắc.

TỪ “PETIT JOHN” ĐẾN “BỐ CẢ GALLIANO”

Nhưng điều khiến John Galliano thật sự trở thành một vĩ nhân của giới thời trang lại chính bởi bản sắc cá tính của bản thân: sặc sỡ, lòe loẹt và thất thường hơn bất bất kì show diễn nào của vĩ nhân ngoại hạng này.

Sinh ra ở quê nội Juan Carlos, Gilbraltar, John Galliano trải qua những năm đầu đời tại Tây Ban Nha. Ông hồi tưởng lại khoảng thời gian này: “Tôi cho rằng những gì đã chiếu qua trước mắt tôi khi ấy: những khu chợ cổ, những vuông vải dệt tay, những tấm thảm, mùi gia vị lẫn thảo dược, sắc màu Địa Trung Hải,…tất cả đã gieo mầm trong tôi những xúc cảm với vải vóc, khối hình, những nỗi ám ảnh nhiều màu, từ đó mà hình thành cái mà người ta cuối cùng gọi là những bộ sưu tập thời trang”.

Năm 1966, gia đình ông chuyển đến Streatham phía Nam London, nơi cha ông hành nghề thợ sửa ống nước, rồi họ lại trôi nổi đến Dulwich để thật sự an cư. Galliano theo học trường Wilson’s Grammar for Boys, nơi tư chất mỹ thuật trong cậu nhỏ nhà Galliano bắt đầu phát sáng. Nhưng không hẳn qua tác phong hay hình thức. Cậu Galliano trẻ tuổi và các chị em gái của mình, Rosemary và Immacula, luôn là những đứa trẻ nghiêm nghị trong những bộ đồ được là phẳng, hồ cứng với những đường pleat sắc lẻm, thậm chí dù chỉ để ra tiệm tạp hóa đầu ngõ hay đi dã ngoại.

“Hồi đó, cư dân khu Nam London sẽ chẳng thể hiểu được gia đình chúng tôi, những kẻ nhập cư đến từ một nền văn hóa xa xôi, còn tôi thì không hiểu họ. Đã là cả một trận shock văn hóa kéo dài đến tận năm 16 tuổi, đến với cư dân thủ cựu của London từ một nếp gia phong thuần chủng Tây Ban Nha, từ những ngôi chợ địa phương sặc sỡ và đầy mùi hương mà chúng tôi đã mang theo bên mình khi bắt đầu chuyến tha hương đằng đẵng.”

16 tuổi, Galliano nhập học tại East London College để học ngành thiết kế, và thật sự tìm cho mình một góc của thành phố này nơi cậu có thể hòa nhập, giữa những con người của mỹ thuật, những trường phái đa bản sắc. Galliano chuyển tiếp lên học tại học viện mỹ thuật Central Saint Martins và một ngôi sao được khai sinh. “Tôi đã làm việc cật lực. Vùi đầu trong thư viện và không lúc nào ngưng tay vẽ.”

Cảm hứng cho bộ sưu tập đầu tay của ông đến từ Danton – một kịch bản của Nhà hát Quốc gia mà ông cũng có tham gia cộng tác về phục trang. Những chiếc áo khoác lộn ngược đã được thiết kế khi vào đầu những năm 80 lúc bấy giờ, bố cục đảo nghịch chưa hẳn là một điều được giới thời trang hoan nghênh hay đón nhận, những mảnh thủy tinh vỡ như những món vật trang sức thô sơ lóng lánh, những dải ruy-băng 7 sắc cầu vồng được khâu một cách ý nhị đến bất ngờ lên mặt trong của chiếc áo, khoác bên ngoài sơ mi organdie mềm mại tinh thần lãng mạn cổ kính.

“Tôi đã thật sự mê mải toàn tập với bộ sưu tập ấy. Và nó vắt kiệt tôi. Cho đến tận bây giờ cảm xúc đó vẫn trọn vẹn. Tôi say đắm vẻ lãng mạn, bạn biết đấy, những trò lang thang ngõ phố dát cuội, mình mặc vải organdie. Bộ sưu tập ấy có một tỉ thứ để vẫn ám ảnh tôi dai dẳng đến giờ.”

Nhà kinh doanh bán lẻ thời trang Joan Burstein cũng đã chia sẻ cảm xúc ấy trầm trọng đến độ lập tức dành toàn bộ các khung cửa tại cửa tiệm London của bà để trưng bày các thiết kế đầu tay này. Và ngay lập tức, chúng gần như bị “thổi bay” khỏi các kệ hàng một cách thần kỳ. Nhưng mặc nhiên cho lòng ưu ái vồ vập, thậm chí điên rồ của thị trường thời trang thế giới dành cho sự xuất hiện của ngôi sao mới mọc John Galliano, ông vẫn không thể tiếp tục cho xuất xưởng những thiết kế đòi hỏi kỳ công bởi thiếu sau lưng một Mạnh Thường Quân tài chính đủ liều để đưa tay nâng đỡ gã quái nhân mới tốt nghiệp.

Đằng sau màn khai pháo đầy uy lực là một khoảng lặng bức bí đầu tiên trong sự nghiệp Galliano. Những năm đầu khó khăn thập niên 90, nhãn hàng của Galliano vắng bóng hoàn toàn đến vài mùa thời trang và ông quyết định chuyển đến Paris, nơi bà nữ tổng biên tập cửu đỉnh chí tôn của nhà Vogue – Anna Wintour xả ơn mưa móc, dẫn dắt Galliano đến với đại gia PaineWebber International và tòa biệt thự vốn tráng lệ của Sao Schlumberger đang sắp thành phế tích để làm địa điểm trình diễn.

Đêm ra mắt “chào sân” của Galliano với Paris, thiệp mời là những chiếc chìa khóa hoen rỉ. Các siêu mẫu sáng giá lúc bấy giờ: Kate Moss, Christy Turlington và Naomi Campbell lăn xả diễn không công cho John Bé-Bỏng mà không đòi lấy một xu cho số cát-sê vốn kéo dài đến 5 chữ số. Chỉ có 17 thiết kế được trình diễn vào phút cuối, tất cả đen tuyền bởi khi ấy, gã John-tay-trắng chỉ có thể chi trả nổi cho vài ống vải đen tốt nhất có thể, và vắt từ đấy ra những tuyệt tác thời trang gây sửng sốt. Kể từ đấy, John Galliano chính thức trở thành con dân ưu tú được sủng ái nhất của Paris hoa lệ, chễm chệ chiếu trên của làng thời trang thế giới, nơi ông được vồn vã thân tình chào đón bằng hỗn danh Big Papa John.

LVMH – ĐẠI PHONG NÂNG CÁNH CHIM BẰNG

Sau Anna Wintour, kẻ thật sự trân trọng đến thấu đáo thiên tư của Galliano lại chính là ngài chủ tịch chí tôn Bernard Arnault của tập đoàn LVMH quyền lực. Vào giữa những năm 90, Galliano tái sinh cho những chiếc váy cắt xéo vải và phà vào đấy một làn hơi đương đại tươi mới đến độ khó ngờ bởi xuất xứ từ trào lưu thập niên 30 của mốt này và chính thức ghi dấu ấn cá nhân trên những thiết kế như những phần thưởng chỉ dành cho những kẻ sống trong kỷ luật kiêng khem ngặt nghèo nhất, cùng với kỹ thuật cắt may siêu hạng.

Tuy vậy, Arnault cũng đã phải tỏ ra rất táo bạo bất cần khi đi đến quyết định chính thức đặt lên cái đầu điên khùng ấy vương miện Chief Designer của Givenchy vào tháng Mười, 1995. Sự liều mạng nổ trời được bưng bít nghiêm ngặt đến tận những giây cuối cùng, đến ngay cả John Galliano cũng không dám để hé lộ thông tin, dù là với cha mẹ mình.

Không lâu sau, những lời đồn rỉ tai được rùng rùng truyền đi, khi đồng nghiệp tiền nhiệm Alexander McQueen cất cánh khỏi Givenchy để đáp xuống một đỉnh núi cao và muôn phần trù phú hơn, vẫn trong lãnh địa cai quản của Arnault, là nhà Christian Dior, cũng là con đường mà về sau, chính Galliano cũng lặp lại như một quy luật.

Cho đến nay, sự liều lĩnh đó của Arnault đã hoàn toàn giải thích được cho sự hùng mạnh của tập đoàn, khi mà John Galliano vẫn là tay tài hoa mắn đẻ với hàng tá bộ sưu tập mỗi năm. Các boutique của nhà Dior trở thành giá đường nơi các tín đồ thời trang xếp thành hàng dài cho một cơ hội sở hữu từ những bộ váy cưới couture cho đến các tuyệt tác giày, hay những lọ nước hoa ma mị mang dấu ấn của tay vĩ nhân đồng bóng Galliano, treo tag giá kiêu kỳ của một thánh thể thiêng liêng khó chạm.

Một lí giải hiển nhiên nhất cho sức chinh phục ngọt ngào này chính là tinh thần lãng mạn đến sến sũng nhưng lại được dựa trên một kiểu sảng giật thẩm mỹ siêu hàn lâm. Đó là cả một tổng thể của những thiết kế mê hoặc đầy màu sắc cổ trang, trên nền những không gian tráng lệ hay điêu tàn, và thái độ trình diễn như trong cơn mộng du của kẻ sinh nhầm thế kỷ. Và điều này dễ dàng hạ knock-out bất cứ quý bà quý cô nào đã một thời từng là trẻ nít.

Galliano nắm giữ trong mình quyền năng để kể lại những cơn hoài cổ hoang tưởng của mình qua vải vóc, trang phục, qua trò bài phối tài tình của các show diễn và qua chính bản thân mình, trên cả một designer, mà như một celebrity chính hiệu. Phía sau bộ dạng ẽo uột của tay “nghệ” trường phái sến chính chuyên này là uy lực của một thiên tài bị dày vò bởi cơn cuồng vọng được đào vọc vào lòng đất sâu, như một nhà khảo cổ khùng, vực sống dậy cả những nền văn minh chết yểu, những giá trị thẩm mỹ quá vãng và dát vàng phủ gấm hoa lên đấy.

LỄ TẤN PHONG HUY HOÀNG & 800 GÃ SANCHO PANZA KHÙNG-MỘT-NỬA

Tất cả cái bản sắc nửa mụ mị nửa uyên thâm đó của John khiến cho con đường thời trang trở nên bội phần trắc trở cho những đồng sự phải vào vai điếu đóm tội nghiệp cho tay Don Quijote thời trang sống lộn thời này.

Người cộng sự lâu năm của ông, Amanda Harlech đã có lần bất đồng với chiến hữu đồng bóng của mình và vẫn còn chưa quên hệ quả của sự dại dột ấy: “Tôi chỉ dám xung đột với tay này đúng một lần, và cảm giác là bị sóng thần cùng lúc quật vào mặt và ụp lên đầu đến tối tăm trời đất. Gã ta nghiệt ngã, cực đoan và đầu bò đầu bướu hơn bất cứ cái gì người ta tưởng tượng được.”

Không hẳn giới thời trang chưa bao giờ phải dung túng một gã hâm cuồng như vậy. Hay nói một cách khác, cư dân trên đỉnh haute couture của thời trang thế giới, chỉ rặt những bản sắc thất thường, đồng bóng và quái tính nhất của nhân loại. Nhưng những năm đó, John Galliano đã là tay du côn được nội giới, làng giải trí và cả giới truyền thông ưu ái đặc biệt.

Ngày rời chiếc tổ mát tay Givenchy và ngự ngai sáng tạo nhà Dior, John Galliano tiến hành lễ “tấn phong” vinh quang tại Grand Salon của tòa bản doanh tráng lệ House of Dior giữa lòng đại lộ Montaigne, Paris. Tất thảy 800 nhân sự cùng lúc tề tựu tại đây nghênh đón vị tân thiên tử.

Nhưng nửa khấp khởi nửa thắc thỏm âu lo tại buổi ra mắt chính là những trợ tá phòng thiết kế, bởi tiếng tăm về sự thất thường, thói cầu toàn ương bướng, những ý đồ oái oăm và câu chỉ đạo cửa miệng “Bó sát vào! Nhỏ lại! Ngắn nữa lên!” của Galliano. Nhưng họ thật sự say mê thói đỏng đảnh đi cùng tài hoa tuyệt nghệ của vị tân vương lẫy lừng, và vị tha cho rằng những thất thường trái nết ấy chẳng qua là do trái tim đa sầu đa cảm lẫn những cảm xúc sến sũng sượi của “Petite John”.

“Giờ tôi chỉ còn nhớ đúng hai chi tiết ở cái buổi nhậm chức ấy. Trước hết, đó là tôi thật sự muốn biết và nhớ tên từng người có mặt ngày hôm ấy. Và điều thứ hai cứ lải nhải trong đầu là: Trời đất, mình đã làm gì thế này?!”. Những năm này, John Galliano xuất hiện tại Paris, ăn mặc đúng kiểu punk “bụi đời chính chuyên”: “tôi mặc đại loại một bộ pajamas và áo khoác hàng hiệu trông gớm như bịch rác” khi nhớ lại hình ảnh bản thân những ngày mới lưu lạc đến Paris năm 1990. Chiến hữu của John từ những ngày cơ hàn – hairsdresser Sam McKnight thì cười khẩy “John quá sến để làm punk, chỉ là cậu ta khéo bày đặt mớ vải vóc trên người cho ra chiều bặm trợn thì có! Đó đã là một chàng trai đúng kiểu lịch thiệp văn nhân, như Tyrone Power vậy.”

Nhiếp ảnh gia Nick Knight sừng sỏ cũng lên tiếng bao biện cho vĩ nhân khật khùng của Paris rằng “John hoàn toàn không phải kẻ ương bướng bảo thủ, ngay cả trong tranh luận hay mâu thuẫn chuyên môn. Từ trong bản chất, đây là một tay quá đỗi dịu dàng, không phải sinh ra để cà khịa hay chơi ngông. Chỉ có điều anh chàng được ban cho một đôi mắt và cái đầu để nhìn sự vật và tư duy một cách hoàn toàn khác biệt.”

Lịch thiệp, và cầu toàn. Tay cắt khét tiếng Ăng-lê Stepen Jones còn nhớ lại lần bước vào studio của John để chứng kiến cảnh ông ta đang chỉ đạo nhân viên đổ tràn rượu vang đỏ lên tấm vải satin màu cream tuyệt mỹ chỉ để có cho bằng được sắc độ hồng như xác pháo đẹp mê người mà không nhà dệt nhuộm nào đáp ứng nổi.

Sự ngông cuồng ấy chính là cái mà công chúng lẫn cộng đồng nội giới đòi hỏi ở những “design divo” của họ, đặc biệt là khi các divo tài hoa ấy gàn dở một cách đẹp mắt và ra tiền.

NHỮNG LẦN XUẤT CHIÊU XÍ HỤT

Galliano – ở cương vị tướng tài nhà Givenchy hay tổng lãnh mỹ thuật vương triều Dior, đều đã thành công đề huề đáng kinh ngạc cả về tính nghệ thuật của thời trang cao cấp, lẫn tính thương mại mà thoạt tiên, không ai dám trông đợi ở ông, ngoại trừ Ngài Chủ tịch xâm mình Arnault.

Kẻ kế vị đã lẫy lừng tỏ rõ sự vượt trội về khoản đảm đương buôn bán hơn chính cả huyền thoại tiền nhiệm M.Christian Dior. Đến cả những họa tiết in lem nhem hình mảnh giấy báo cũ của gã cũng thuyết phục thị trường đến sốt lên sốt xuống.

Nhưng cũng không có nghĩa là tay Don Quijote chưa có lần bắn trật hay đâm chém loạn xạ đến gãy khiên văng giáo. Bản thân gã cũng nhìn lại và thừa nhận những vụ phủ sóng thị trường ngớ ngẩn nhất trong đời, trong đó có vụ hồi 1998, khi gã vay mượn hình ảnh vòng hông hừng hực nâu rẫy như những cái bình đất sét của những người đàn bà Casati trong họa phẩm nổi tiếng đầu thế kỷ, mà theo gã về sau là hơi bị giáo điều, để thiết kế nên bộ sưu tập ready-to-wear Xuân Hè năm ấy.

Những bộ suit được cắt tuyệt hảo, nhưng phong cách thể hiện thì chán phèo. Galliano đã đích thân xem xét từng bài nhận xét sau buổi diễn, đã âm thầm ái ngại cho những boutique của Dior khắp toàn cầu sẽ phải cố đẩy bán kì hết những mẫu thiết kế nhạt duyên của mùa ấy.

Thời may, với lực lượng kinh doanh sừng sỏ và những tín đồ vô tư của cái tên đã hóa thánh Dior, lợi tức nhà Dior về khoản thời trang đã tong tả tăng gấp 3 lần chỉ trong khoảng từ 1998 đến 2005.

Và, ở một góc độ nào đó, sở trường của Galliano cũng chính là sở đoản. Các thiết kế của ông  trông không khác gì phục trang sân khấu, những mẫu haute couture gần như những bộ hóa trang, cộng với các đường nét trào lưu lịch sử được trộn lẫn vô căn cứ. Các nhà phê bình thời trang ái ngại cho mãi lực của các thiết kế, góp ý rất xây dựng rằng “Mọi thứ trong một bộ ready-to-wear phải được tách rời và bán lẻ từng món cho mỗi phong cách gout thời trang riêng. Và chỉ có các fashionista quái tính, những “cục cưng” thật sự của Big Papa mới dám kết hợp tất cả lại để hoàn chỉnh một tổng thể rất lung tung vô thưởng vô phạt về học thuật như vậy.”

Và ngược lại, thất thường hoang mang như chính mình, các thiết kế của Galliano lại không ít lần tỏ ra quá nhún nhường, kìm nén như một hành vi tự mài nhẵn khiến công chúng của ông phải thất vọng. Người ta mặc nhận ông ngông cuồng, người ta muốn có những vụ nổ, những cuộc đốt đền ngoạn mục, và Galliano sẽ xuất hiện với một bộ sưu tập dài lê thê những chiếc váy chiffon “sến lúa và chả có gì là đặc sắc”. Các nhà phê bình cần một hình nhân để công kích cũng phải chán nản với sự nhũn nhặn không được báo trước này. Người ta hụt hẫng tẽn tò, đùng đùng phẫn nộ, nhưng ngỡ ngàng khi các diva Hollywood đột nhiên xuất hiện trên thảm đỏ, mình mặc mẫu váy nhạt nhờ thiếu thái độ của Papa John, và đẹp vô song. Thế là các fashionista, các cô choai choai học đòi lại hào hứng tung hô vạn tuế và sắm về cho mình những thiết kế chỉ cách đó không lâu khiến cả Paris ngáp dài ngáp ngắn. Và rồi người ta cũng phải xiêu lòng trước gã hải tặc dịu dàng khéo tay nọ – gã khả ái quá chừng!

NỖI LÒNG ĐẠI NGHIỆP: HIỆP SĨ TÀI CHÍNH & HIỆP SĨ HOÀNG GIA

John Galliano cũng hoàn toàn không phải là tay không biết thỏa hiệp. Đó cũng chính là lí do vì sao thói hoang tàn vung tay trong những thiết kế haute couture xa xỉ của ông vẫn hoàn toàn không làm phương hại đến sự thịnh vượng ngất ngư của nhà Dior thời “hậu Galliano”.

Dù trước đó luôn được xem là một tay theo trường phái phi chính thống, nhưng Galliano lại khéo léo điều tiết tính thương mại trong mỗi thiết kế và định hướng phong cách mùa hiệu quả đến mức chiếc túi Saddle lần đầu được ra mắt năm 2000 đã vĩnh viễn được ghi nhận trong từ điển tuyệt tác thiết kế thời trang, như một cột mốc huy hoàng cả về tiếng tăm lẫn tài chính cho nhà Dior.

Trong vai trò của mình, Galliano cùng Bernard Arnault – kẻ luôn phải duy trì sự tỉnh táo cẩn trọng tối đa lèo lái hai đại chiến thuyền tập đòan Christian Dior Group lẫn LVMH, cùng tìm cách dẫn dắt lẫn chiều chuộng thị trường. Galliano kể lể: “Nào là phải mua vui cho fashionista Miami, chiều chuộng khu thị phần châu Á, và cả những quý bà Do Thái ngày càng đông ở khu thượng lưu Mỹ, đặt tất cả lên cùng một sàn diễn và, làm sao thì làm, phải thống nhất trong cùng một mẻ thiết kế cho mỗi mùa.” Bằng một phép thuật nào đó, Galliano làm được tất cả chuyện này, đặc biệt với dòng haute couture, và gây tranh cãi một cách hàn lâm nhất. Những khối hình cơ thể bị cường điệu, những đôi gót cao chạm phù điêu loằng ngoằng quái đản, những hàng mi cong vút thưa rỉnh, vẻ mặt nhợt nhạt của những con búp-bê bằng sứ cổ,… Những hình ảnh quảng cáo đầy vẻ siêu thoát, các buổi diễn ngoạn mục đã đẩy tên tuổi Dior lên hàng chúa chổm phong cách tình dục ám ảnh, vẻ xanh tái hợp mốt cổ điển và xa xỉ tối đa cả về phong cách lẫn lợi tức thống kê được sau mùa.

Mặc được, hẳn nhiên là các thiết kế này được hàng loạt ngôi sao Hollywood minh chứng là mặc-rất-được, và chưa hết, đó là cái cảm giác gấm nhung ve vuốt khi có thể sở hữu được những mảnh mê sảng ấy chỉ tốn một vài chi khoản hậu hĩ.

Năm 2000, Galliano mải miết với nguồn ảnh hưởng “clochard” hoang dại trong bộ sưu tập Dior Haute Couture, với hình ảnh Erin O’Connor khoác trên người bộ váy giá $20,000 trông như thể làm ra từ những tờ báo cũ. Con số nọ chả mảy may làm nhụt chí các diva Pháp vốn sẵn tính ngông rồ. Mọi cửa tiệm của nhà Dior bị công phá bởi hàng lượt quý bà quý cô thượng lưu hồ hởi với nguyện vọng biến bản thân thành những mụ lang thang đói rách với giá tương đương quy mô một tài khoản tiết kiệm nho nhỏ. Cư dân Paris vẫn còn nhắc lại những ngày mà dường như chưa bao giờ đại lộ vương giả Montaigne lại tràn ngập những mụ “du thủ du thực” tươi vui phè phỡn và gợi tình đến vậy.

Nhưng cùng lúc, phái anti-fashion, các nhà hoạt động xã hội, và thanh niên tiến bộ Pháp lại đùng đùng phẫn nộ với những tờ ngân phiếu đáng giá học bổng trọn đời của một sinh viên được các diva hào phóng vung vít cho nhà Dior. Và đại lộ Montaigne lại đông lên gấp đôi bởi những kẻ biểu tình bị chọc giận bởi những tag giá 5 chữ số, treo trên thiết kế sặc mùi hưởng thụ vô cảm của nhà Dior. Họ tụ tập trước tòa doanh sở nhà Dior để chờ “nói chuyện phải quấy” tận mặt tay thiết kế “nhẫn tâm phóng túng” Galliano.

Một buổi sáng, tài xế chiếc limo của ông nhận cú điện thoại từ văn phòng yêu cầu lái xe chạy vòng vòng quanh khu đại lộ chờ cho đến khi đám đông lắng dịu. Còn Petite John thì ngơ ngác “Tôi có hay biết gì đâu, tưởng tụi choai choai hội hè gì đó ngoài phố. Vài đứa đi mấy đôi trainers của Adidas coi cũng mốt miếc lắm chớ!”

Hẳn nhiên thì bây giờ John Bé-Bỏng đã có thể cười được. Nhưng tình hình khi ấy hoàn toàn chẳng có gì vui vẻ cả. Mặt trái chả vẻ vang gì của việc leo ngai sáng tạo nhà Dior là việc mang trên vai trọng trách rất giật gân là liên tiếp các mùa phải duy trì sự thịnh vượng của vương triều Dior giữa tình thế ngả nghiêng của nền kinh tế chung, gánh vác luôn khoản thua lỗ trong những license khác của tập đoàn.

Sự thỏa hiệp mang tính kinh tế ấy đã hoàn toàn có thể giết chết một thiên tài. Nhưng rồi gã hải tặc râu kẽm, trước sự kinh ngạc của nội giới và sự hài lòng thỏa thuê của tập đoàn, vẫn sòn sòn đẻ dày đặc những thiết kế haute couture hoang tưởng nhưng sặc mùi thương mại, và những bộ sưu tập ready-to-wear xa xỉ nhưng quyến rũ đến cháy chợ. Và ngày ngày, tay phù thủy nhỏ thó vẫn tung bay mái tóc dài, ăn vận quái hơn bất cứ designer quái tính nào nhất, và gõ đôi boot cao dị hợm trên lộ Montaigne, nơi ngự trị uy quyền tổng hành dinh Dior.

Chỉ có một lần duy nhất trong đời, John Galliano mới ăn mặc ra chiều nhã nhặn. Đó là ngày gã đến điện Buckingham năm 2001 trong bộ suit Brioni, nhưng không mặc shirt bên trong, để nghiêng người nhận danh hiệu cao quý Commander of the British Empire từ tay nữ hoàng, trong khi ban quân nhạc hoàng gia trỗi lên khúc nhạc “Hello, Dolly” để xưng tụng danh thơm tay hiệp sĩ râu kẽm – vị anh hùng nhỏ thó của 3 quốc gia.

BỘ GIÁP TRỤ CÓ TAY HỀ BÊN TRONG

Người ta “phải lòng” với John Bé-Bỏng vì thói cả thẹn, và bởi sự pha trộn giữa vẻ ngổ ngáo hải tặc Tây Ban Nha, cái gàn dở khật khùng của một nghệ sĩ Pháp và sự lịch lãm đa sầu của nhà quý tộc Ăng-lê cùng lúc pha trộn trong ông. Những ai không may mắn được nhìn thấy những khía cạnh cá nhân ấy của Big Papa sẽ vẫn yêu say đắm cái vẻ đỏm dáng siêu phàm của ông khi bước ra cuối mỗi buổi diễn như tiểu phẩm phục trang huy hoàng kết thúc cho bộ sưu tập. Ông lòe loẹt như một con công, “nhập vai” hoàn hảo: khi thì hung hăng bạo liệt, lúc thì ngớ ngẩn mộng du, hay oai phong đường bệ như một quý ngài thời Trung cổ. John luôn chọn một cách cực kì tỉ mỉ công phu hình hài cho chính mình sau mỗi bộ sưu tập, như một nhân vật nam chính và duy nhất của vở hí kịch tạp kỹ tài tình.

Người ta nói John lên đồng, John bị vong nhập.

Nhưng rồi họ lại phải gai người như cảm mạo trong show trình diễn bộ sưu tập “Máu” tưởng nhớ vụ hành hình Marie Antoinette. John bước ra trên đường băng sáng choang trơn nhẵn phản chiếu ánh đỏ độc loang loáng, tóc đen bệt lại rũ che nửa mặt, đôi mắt tóe lửa như phải sốt, hàng ria kẽm chém một vệt sắc lẻm mỏng như lá lúa ngang mặt.

Gã khệnh khạng, tang tóc nhưng kiêu hãnh như một note sau cùng của trường ca quân chủ bi tráng, chống mũi kiếm xuống mặt sàn catwalk và ưỡn ngực kiêu hùng lần cuối. Máy quay của đài FashionTV lướt qua hàng ghế khán phòng với hàng front-row rặt những tên tuổi khét tiếng nhất làng thời trang và showbiz thế giới lặng lẽ đứng lên trong giây phút mặc niệm xuất thần, trước khi tràng pháo tay và những tiếng thét tán thưởng lạc giọng muốn nổ tung cả đường runway loang máu.

Như một đại kịch sĩ chính hiệu, hiệp sĩ râu kẽm Galliano điệu nghệ nghiêng mình.

Thói gàn dở và cầu toàn vẫn luôn khiến Galliano làm những việc khôi hài. “Này nhé, tôi chịu trách nhiệm công ăn chuyện làm cho 800 thần dân của đại doanh sở Dior cùng 15 bộ sưu tập mỗi năm. Và tất loạt các trang báo thời trang cần có hình ảnh một John Galliano không chút tiều tụy. Bạn có thể ăn chắc rằng tôi phải tập luyện thể hình thể trạng như một vận động viên thứ thiệt.”

Từ cậu thanh niên chỉ khoái tiệc tùng hộp đêm thâu đêm suốt sáng, Big Papa dành ra 13 giờ đồng hồ mỗi tuần để tập tành giữ dáng cùng huấn luyện viên riêng. Nào là cử tạ, quyền-Anh, cho chí aerobics. Big Papa chạy bộ ngay cả vào ngày Giáng sinh. Ông ăn uống tuân thủ niêm luật cực kỳ khoa học, tính toán sao cho đến đúng mùa thời trang, khi mà ông phải hoàn tất trung bình 40 ca thử trang phục mỗi ngày và vẫn xuất hiện thập thành tráng lệ trên catwalk cuối mỗi buổi diễn.

Đối với John Galliano, việc chưng diện cho bản thân mỗi ngày là cả một môn kỹ năng nghệ thuật với sự chuẩn xác của khoa học, và phải được hành xử như một điển nghi thiêng liêng. Howard Tangye, giảng sư hướng dẫn khi ông còn đi học tại Central Saint Martins College London, còn nhớ lại “Có khi John đến lớp, tề chỉnh trong một suit như một nhân viên ngân hàng cần mẫn lương thiện, trong khi cả sân trường lốc nhốc những hội hippie lòe loẹt, các hiệp sĩ phục hưng và lũ punk mọi rợ. Người ta không đoán trước được cậu ấy, nhưng sẽ luôn có một đám đông bạn đồng học đón chờ sự xuất hiện mỗi ngày của John.”

Cây viết nổi tiếng và người chiến hữu thân thiết của Galliano, Camilla Morton, lại liên tưởng đến câu chuyện Phù Thủy Xứ Oz khi nhắc đến ông “Xung quanh John là bầu không khí mê loạn bao phủ lấy anh ta, nhưng John ở ngay tâm bão, nơi y hồn nhiên, tỉnh táo và tự tại nhất như thời lọt lòng mẹ, cả thẹn và vẫn còn thích mê mấy cục xà-phòng Ăng-lê nhảm nhí.”

Đối với một kẻ có tinh thần và diện mạo quá khích như John, điều này nghe có vẻ “trai ngoan” quá đỗi, nhưng Petite John, khi được hỏi về điều này, lục khục cười vọng ra từ phía sau bộ giáp trụ méo mó của Don Quijote “Thề giữa trời, đánh chết tôi cũng chẳng dám mặc kì cục ấy ra đường. Nhưng đó là John Galliano – nhà thiết kế. Còn đây là John Galliano – Tôi.”

 

tôi là một con mèo…

Trác Thúy Miêu

“Một con mèo nhỏ nhất cũng mang trong mình uy lực biến một căn nhà hoang lạnh trở thành một chiếc ổ ấm êm.” Pam Brown 

Tôi là một con mèo, một con mèo chuyên chính.

Vâng, quý vị không nghe nhầm, một con mèo, đúng vậy!

Và đó không hoàn toàn là một điều quá tệ.

Khi là một con mèo, bạn không có nhiều bạn bè. Xã hội quanh bạn chia ra làm 3 loại rõ rệt: đồng loại, kẻ thù, và những khán giả hâm mộ. Bạn có quyền ra vẻ dòng dõi quý phái dù đêm qua bạn vừa đánh nhau một trận chí tử để dành một cọng lông chim sẻ. Nên nhớ, dân Ai Cập cổ tôn thờ bạn, bọn con gái mới lớn cho đến những bà già lập dị cung phụng bạn, bọn chó thì chỉ muốn ăn tươi nuốt sống bạn, lũ trẻ nít chỉ chực cột lon sữa bò vào đuôi bạn, nhưng còn đàn ông, a, những người đàn ông…

 

NHẬT KÝ MÁNG XỐI: LÀM MÈO THẬT LÀ TUYỆT?

Thế này nhé, là một nam nhân chân chính, không ai lại mở miệng nói rằng mình thích mèo cả. Họ thích bọn chó to con vạm vỡ, chúng hào hển phấn khởi bất cứ lúc nào, yêu thương theo kiểu nô bộc và vong thân phụng sự, điều đó luôn có vẻ tốt hơn cho đàn ông.

Nhưng tốt chưa bao giờ đồng nghĩa với hay ho.

Mèo không hẳn tốt cho họ, nhưng rất hay ho.

Bởi với một con mèo, việc gọi được nó đến và để yên cho họ ve vuốt, đã là cả một nghệ thuật dụ dỗ năn nỉ chinh phục khéo léo và tốn kém. Người ta sẽ không có cảm giác như một nhà vô địch khi vò đầu bọn chó, chúng luôn sẵn đấy một cách trung thành vô điều kiện. Còn mèo thì không, mèo chỉ dành bộ lông nhung của chúng cho bàn tay các nhà vô địch.

 

Và một khi là một con mèo, bạn sẽ phải biết cách luôn có dáng điệu uyển chuyển quyến rũ, mọi mái nhà, bờ tường, cành cây cho đến máng xối đều phải được đối xử như những đường catwalk. Bạn sẽ phải luôn chăm sóc cho bộ lông nhung của mình dù mới đêm qua bạn ngủ ở một cái máng xối hay một căn hộ cho thuê hạng bét. Bạn sẽ biết cách uốn người yểu điệu tỉa tót bất cứ khi nào có thể, đặc biệt khi ý thức mình đang có khán giả.

Đàn ông, họ là những khán giả cuồng nhiệt, một cách ồn ào tán tụng huýt sáo theo bước bạn đi,hoặc thầm lặng lén lút ve vuốt bạn bằng ánh mắt ló ra phía trên cái khẩu trang vợ tặng. 

Không người đàn ông nào muốn anh em bạn nhậu cho đến vợ hay người yêu của họ nhìn thấy cảnh họ để bạn nằm lên đầu gối cho họ vuốt ve. Nếu đó là một con mèo có hai chân trước hai chân sau và một cái đuôi, họ sẽ bị cười cợt là đồ ủy mị, gàn dở, hâm đơ. Còn nếu đó là một con mèo đi cao gót không mọc ria, tức là bạn, thì coi như đi tong sự an nguy của cái cuộc đời lắm nỗi sợ của họ.

Thế nên tốt hơn hết, chính bạn sẽ phải là kẻ bảo đảm rằng những giây phút êm ái của cả người và mèo ấy sẽ muôn đời là những bí mật cần được chôn vùi.

Bạn sẽ không gào la khoe sướng, sẽ không dệt thơ tình trên Facebook hay đổi relationship status của mình sang một trái tim đỏ chót phô trương. Là mèo, bạn sẽ hưởng thụ tất cả những vuốt ve cung phụng, một cách yểu điệu nhất có thể, và…âm thầm sướng, cùng lắm là gừ gừ một cách tao nhã trong họng như một con mèo chuyên chính và có tư cách.

Hoặc tốt hơn thế nữa, hãy tập cách luôn rơi xuống đất êm ái trên bốn chân uyển chuyển, bởi nếu bị bắt quả tang, bạn sẽ không hốt hoảng đau lòng, khi họ quăng toẹt bạn đi mà chối đây đẩy “Đâu nào, có con mèo nào đâu?”

Họ sẽ làm vậy, thật đấy!

Và nếu bạn là một con mèo, một con mèo chuyên chính, bạn sẽ tiếp đất uyển chuyển và phủi mông bỏ đi, đầy khinh thị.

Ai biết đâu đấy, bạn có thể quay về với cái máng xối tối qua và yêu kiều nằm xuống với dáng vẻ một nữ vương tị nạn, hoặc cũng có thể đến với một cái ổ nhung thời vụ mới nào đó.

Và như vậy, việc là một con mèo, cũng không phải là quá tệ.

Nhưng hầu như bạn sẽ chẳng bao giờ biết được đêm sau mình sẽ ngủ ở đâu.

NHỮNG Ả MÈO ĐẦY BẤT TRẮC

Vâng, tôi là một con mèo, một con mèo chuyên chính.

Và tôi không phải là con mèo duy nhất trên cõi đời này.

Tôi chỉ là một con mèo viết báo, nữ độc giả yêu kiều của f. ạ!

Có chán vạn giống mèo trên đời. Chúng ở đây tự bao giờ không ai biết. Và bọn có 9 kiếp này cũng chẳng có vẻ gì là sẽ biến mất khỏi bề mặt trái đất một ngày đẹp trời nào đó đâu. Chả ai biết được khi nào chúng sẽ quyết định biến đi, dù bạn có mong mỏi điều này đến mấy.

Chúng có mặt ở khắp mọi nơi và làm đủ mọi nghề: thư ký, phục vụ, y tá, thợ làm móng, giám đốc kinh doanh, phó phòng nghiệp vụ, oshin giúp việc nhà và bất cứ nghề ngỗng tử tế nào khác, thậm chí làm rất giỏi. Đã qua rồi cái quan niệm rằng mèo sống được là nhờ chúng…là mèo và kiếm ăn trong những cuộc thả bộ về khuya.

Mèo, một con mèo chuyên chính, là một sinh vật kiêu hãnh.

Một con mèo chính chuyên sẽ săn chuột vì cuộc mưu sinh, và vờn đàn ông như một trò tiêu khiển cao quý.

Quý ngài đừng mong hỏi tôi cách săn và bẫy được một nàng mèo.

Quý bà chớ hỏi tôi cách truy tìm dấu vết và ụp bẫy một nàng mèo tưởng tượng hay có thực nào đó của ông nhà.

Chả ai làm vậy được với mèo cả. Chúng sẽ gọi bạn đến khi cần và tự bỏ đi khi hết vui.

Nhưng đó là những con mèo chuyên chính.

Có cả những ả mèo mang bản năng ra làm kế mưu sinh hoặc thậm chí mưu cầu hạnh phúc. Chúng ồn ào và có những cái móng dài để bám víu quyết liệt. Những ả mèo chiến binh.

Và chúng luôn để lại dấu vết. Một ả mèo chiến binh sẽ luôn lập tức vây bủa người đàn ông với những dấu vết theo một bản năng tiềm thức của động thái khẳng định sự tồn tại và khoanh vùng lãnh thổ ngự trị. Chúng để mùi và vết lại khắp nơi.

Quý ông sẽ chẳng bao giờ có thể đủ cẩn thận với một con mèo một khi đó là một ả mèo chiến binh. Chúng kín đáo hay nồng nực để lại mùi hương ở mọi nơi chúng đi qua hay chạm vào. Quý ông sẽ chẳng ngờ được lọ nước hoa quý phái mà mình vừa mua tặng mèo lại có thể được sử dụng để chống lại…vợ mình. Những ả mèo giàu tham vọng luôn để lại muôn vàn dấu vết. Đó có thể là vết móng ‘cào yêu’ trên vai, sau lưng, vệt son môi vờ vĩnh ấn hờ lên má, trên cổ áo, miệng ly. Và đó còn là những sợi tóc (kì lạ, tóc mèo dường như luôn tỏ ra có khả năng bám dính cao hơn tất cả mọi thứ tóc tử tế bình thường). Chúng vương đầy trên áo, kẹt lại ở yên xe, lọt thỏm trong túi áo, dính chặt trên đệm gối… Như thể từ trong vô thức, chúng luôn muốn được phát hiện và sẵn sàng xù lông xòe móng lao vào cuộc tử chiến tay đôi.

Đó là những ả mèo đầy bất trắc. Và tôi lấy làm tiếc cho quý ông nào đủ ngu ngơ để dây vào thể loại này. Đó là những ả mèo không chỉ muốn được cung phụng yêu chiều ở cái góc nhung lụa thậm thụt của chúng, những ả mèo này, đằng sau vẻ nũng nịu dễ bảo, là những kẻ tàn phá, xâm lăng và có tiềm năng hủy diệt. Chúng hủy diệt những căn nhà, nhà càng to chúng càng muốn phá. Nếu tôi là quý ông, tôi sẽ chẳng đánh đổi mái nhà và bà nhà để lấy một ả mèo như vậy. Loại mèo ấy, chúng chẳng thuộc về ai.

 

MỜI QUÝ ÔNG VUI LÒNG ĐI CHỖ KHÁC CHƠI! 

Bà nhà hãy cứ là bà nhà, mèo có đến ngày cuối của kiếp thứ 9, sẽ vẫn là một con mèo, cao quý hay phù phiếm, kiêu hãnh hay đớn hèn đeo bám, mèo sẽ vẫn là mèo.

Và nếu bạn muốn săn cái ả mèo quái dị đang điên cuồng để lại những dấu vết thách thức và đe dọa rù quến người đàn ông của mình, tôi sẽ trả lời rằng đó là một cuộc chiến đớn đau, phi lý và không đẹp mắt. Nó sẽ khiến bạn vật vã thảm thê trong cuộc cắn xé cào cấu, những đồ đoán, suy diễn, rình mò, sẽ hằn lên khuôn diện của bạn những nếp âu lo cằn cỗi và tuyệt vọng. Nó sẽ trải bày trước người đàn ông của bạn những thảm thê níu kéo tuyệt vọng kém cơ, trong khi ả mèo đáng ghét vẫn đỏng đảnh kiêu kỳ và hưởng thụ.

Nó sẽ khiến giọng nói của bạn the thé hơn trên điện thoại.

Nó sẽ khiến ngôn từ của bạn trở nên hồ đồ nanh nọc.

Nó sẽ khiến bạn trở thành mụ đàn bà đầy ác ý, độc địa và thảm hại.

Như đã nói, mèo, chúng có ở khắp mọi nơi, và nếu tôi là bạn, tôi sẽ chẳng dám mong việc đánh đuổi tất thảy loài mèo đến kỳ không còn một mống trên mặt đất.

Mèo đã đến đây từ rất lâu và sẽ tồn tại thêm khá lâu hơn nữa.

Người ta không thể săn mèo.

Nhưng có thể chiến thắng một ả mèo.

Và chỉ có một con mèo mới đủ sức chiến thắng một con mèo khác.

Quý ông vui lòng đứng dẹp sang một bên, đây là chuyện giữa hai con mèo với nhau.

Đây là vấn đề của lòng kiêu hãnh, danh dự và ái tình, ít nhiều không…liên quan mấy đến quý ông, đặc biệt là những quý ông đã dây dưa với mèo.

MỖI CON MÈO LÀ MỘT TUYỆT TÁC 

“Như thế nào để là một con mèo để chiến thắng một con mèo?” Quý bà sẽ hỏi tôi như vậy.

Bởi có thể chính bạn đã quên: bạn đã từng là một con mèo, một con mèo chuyên chính.

Mỗi người đàn bà sinh ra trên đời đều mang trong mình bản chất của loài mèo.

Việc đầu tiên là tìm về những tập quán cơ bản nhất của loài mèo.

 

Những cuộc chinh phục trong nhà

Quý bà có bao giờ nhìn thấy một con mèo thở hồng hộc, hổn hển và ngoáy đuôi tít mù để nói với bạn rằng bạn đang được yêu? Hãy quan sát một con mèo khi đón người đàn ông về. Mèo sẽ uyển chuyển đến sát bên cạnh, lim dim ngái ngủ vờ vịt. Chúng sẽ dụi trán vào người đàn ông, khéo léo lướt qua tai, xuống cổ rồi chạy dài suốt sống lưng đang cong lên khoan khoái. Chúng quấn quít mềm mại và rối rắm khiến người ta như bị trói chân tại chỗ một cách dễ chịu đến không nỡ cất chân. Tất cả là một vũ điệu đầy nữ tính của trò uốn éo chào mời những vuốt ve cưng nựng. Một “trò mèo” công hiệu.

Hãy thử đặt một ngón tay lên người chúng. Chỉ một ngón tay thôi. Để thấy toàn thân chúng rung lên đê mê, mắt lim dim lơi lả, và người đàn ông sẽ chẳng thể nhớ được cuộc họp ngày hôm đó đã dài ra sao và chàng đã muốn đấm vô mặt cái tay khách hàng khó chơi ấy đến chừng nào. Trong tay chàng lúc này là một sinh vật mềm mại, mong manh, và cần được yêu chiều và xứng đáng được yêu chiều. Cái cảm giác người hùng ấy chính là cách mà mèo “ve vuốt” lại.

Đã nói rồi, những người đàn ông, luôn phải là những nhà vô địch, bằng cách này hay cách khác. 

Đặc quyền tỉa tót

Bạn có bao giờ nhìn thấy một con mèo xuềnh xoàng diện mạo vì như thế “thoải mái” hơn? Bạn có bao giờ nhìn thấy một con mèo đi đứng nằm ngồi cẩu thả chỉ vì nó đã có chồng?

Bạn có bao giờ nhìn thấy một con mèo chối từ ve vuốt với lí do là nó nhức đầu và đang rất cáu?

Hãy vươn mình khoan khoái sưởi nắng và tỉa tót tỉ mỉ cho diện mạo của mình, xem đó như một đặc quyền và thú vui. Ngay cả khi cuộc sống của một con mèo không nhàn tản chi cho lắm giữa bôn ba những vụ đánh nhau và các cuộc săn, nhưng bạn sẽ chẳng bao giờ thấy chúng ra vẻ tất tả lầm than.

Đó chính là lí do bạn sẽ chẳng bao giờ thấy một con mèo bị stress, hói đầu rụng tóc hay đau dạ dày và có túi mỡ dưới mắt. 

Tình yêu lồng bàn và biện pháp chống mèo hoang

Nhưng một con mèo, loại mèo chuyên chính, sẽ chẳng bao giờ túc trực với thứ tình yêu chờ sẵn trong lồng bàn để bị xem là thứ cơm nguội khi đói lòng.

Mèo đến và đi tùy nghi. Hãy đừng để mình được gọi tới, bạn sẽ chẳng bao giờ để mình vào cảnh bị mời đi chỗ khác chơi.

Một con mèo chính chuyên phải biết vờn, trước khi ra đòn quyết định hạ knock out tay lử đử tội nghiệp. Hãy thi thoảng chối từ và hờ hững đủ để những phút cận kề là một cả một cuộc chinh phục nho nhỏ của nhà vô địch trong nhà, và biến tất cả mọi việc trở thành một trò tiêu khiển hay ho đẹp mắt chứ không phải những nghĩa vụ mang tính chức năng của cuộc sống chung đằng đẵng.

Hãy để lại quanh chàng một thứ mùi hương khẳng định lãnh thổ theo tập quán của loài mèo. Thứ mùi hương khuê phòng mà khi vắng bóng người đàn bà của mình, sẽ khiến chàng xốn xang như thể bạn đang hiện diện, và thứ mê hồn hương đối với chàng sẽ lại đóng vai trò hiệu lực không kém gì một chai xịt chống…mèo với công hiệu “hạ gục nhanh tiêu diệt gọn” mọi ý đồ xâm lăng của những con mèo khác.

Đương nhiên, đó hoàn toàn không nên là mùi nước rửa bát hay món thịt kho quá lửa.

Hãy để lại dấu vết, như một con mèo chính hiệu, qua chiếc cổ áo là phẳng phiu của người đàn ông được chăm sóc, qua vẻ phởn phơ hạnh phúc của kẻ no tình khi chàng bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà để bước ra thế giới bên ngoài lắm mèo, đầy bất trắc.

Những tiếng gừ gừ êm ái, những dụi đầu và ve vuốt, cả những cú vờn, những trò bắt thả đầy hứng thú khiến ngôi nhà trở thành một ổ nhung ấm áp với đầy đủ những trò vui của thứ tình ái không già.

Và người đàn ông sẽ chả dại gì phí thêm sinh lực cho những thú vui thời vụ với những con mèo xa lạ đầy tốn kém và nhiễu nhương.

Tôi nghĩ thế.

Người ta rất không nên tiêu diệt loài mèo, mà rất cần có thêm những con mèo trên đời, những con mèo nhà, là vì vậy!

phong-lưu lúc 3 giờ chiều với Trần Bảo Sơn

Jasmine Noir

Nếu Giáng-sinh vừa qua có là một hẹn hò đơn côi và dẫu những đám đông hạnh phúc vô tri trên đường có mang cái vẻ hân hoan đến đáng ghét đến mấy, thì đêm hẹn hò đầu năm, bạn vẫn cần cho mình một quý ngài xứng tầm trúc mã để đắp bù mọi nhu cầu được chiều chuộng, để hãnh diện phô phang với diện mạo lẫn rating của bậc quân tử áo vest tóc chải mượt kề cận đón đưa.

Bạn sẽ không muốn chàng quá trẻ để đi giày thể thao, T-shirt hạng bét trong đêm trọng đại của năm.

Bạn sẽ không muốn chàng quá u sầu hoài cổ để mình phải ngao ngán nghĩ đến phía bên kia con dốc cuộc đời.

Bạn ắt sẽ muốn chàng chuẩn chu lịch lãm, lại dư sức buông thả chút bông lơn ý nhị.

Chắc chắn bạn sẽ không thể chối từ một người hùng màn bạc với rating ngất ngưởng trời xanh, sẵn sàng tung ném hào phóng những ca tụng như thả mưa kẹo ngọt khiến bạn mặt mũi tối tăm.

Và trong cả vẻ lịch lãm ngây ngất ấy, vị nam thần tân niên của bạn sẽ còn la một tri kỷ tương tâm đến mức sẵn sàng gọi red wine cho bạn khi chỉ mới hơn 3 giờ chiều!

Và nếu đó là cuộc hẹn hò lí tưởng để bắt đầu một năm mới, f. có Trần-Bảo-Sơn.

Mưa kẹo ngọt và vang đỏ lúc 3 giờ chiều

Đó đã là một blind-date, ít nhất là đối với chàng, vì hẳn nhiên là tên tuổi celeb gắn liền với block-buster Việt trong năm, chàng sẽ luôn phải đến những cuộc hẹn với cả những cô nàng phóng viên chưa bao giờ gặp mặt.

Chàng cười sáng rực cả tòa đại sảnh khi thấy bạn, chào thân thiện như “đúng rồi!”, và… tỉnh rụi lướt qua, ngó nghiêng tìm kiếm, khiến bạn phải ngao ngán tiến đến gần khều nhẹ “Em đây!”

Chàng sẽ ngay lập tức lấp liếm cho tai nạn nho nhỏ vừa qua bằng một nắm kẹo ngọt bất thần hào phóng trút lên đầu bạn: “Anh không ngờ em…đẹp quá!” Hẳn nhiên, đến lúc này, dẫu chàng có trễ hẹn 30 phút, chưa hề có một cú hit thương mại và một giải thưởng điện ảnh danh giá, và dẫu mọi lời tán tụng có láo toét quá tay đến đâu, chàng vẫn hoàn toàn xứng đáng được thứ tha vô điều kiện và quí yêu hết mực.

Lịch lãm và chuẩn chu, nhưng đây không phải là người đàn ông có vẻ đẹp…lương thiện. Này nhé, mái tóc chàng xài gel khéo léo không có lấy một sợi rơi ngoài nếp, tố cáo sự tỉ mẩn yêu chuộng ngoại hình của chủ nhân, đuôi mắt nheo lại khi cười mà bản thân chàng luôn tin là rất hiền, lại mang máng nhắc nhớ đến những vết chân chim làm nên một khuôn diện Bố Già. Nói chung, chàng hoàn toàn mẫu mực cho một ngoại hình của một tay phản diện hào hoa, hay một loại tội phạm trí thức xưa cũ, và điều này hấp dẫn hơn tất thảy vẻ ngô nghê chân chất của một nam vương thể hình cổ to cằm bạnh.

Nghĩ đến Robert Di Niro và God Father, dating diva hoài cổ sẽ tiếc đứt ruột nếu chàng không nghe jazz, trên bàn không có ly red wine long lanh đỏ sẫm, và không có một điếu cigar cắm ngang mặt.

Sau khi suy nghĩ trên được tiết lộ, chàng sẽ tâm đắc như một ông già miền Tây tìm được bạn nhậu giữa trời Tây, hưởng ứng và khoắng khuấy cả đại sảnh khách sạn để tìm đúng loại cigar đúng gout của chàng – thứ cigar dành cho dân tài tử nhập môn nhưng trang nhã, thân mỏng vừa chừng, khói nhạt và thơm. Vậy đó, quý ngài tháng Giêng không là Từ Hải thì cũng là một trang Thúc Sinh nhu nhã sành luật chơi!

Và bạn, nữ hoàng hò hẹn của f., hãy cứ bình an thoải mái ngả mình trên chiếc sofa như thể đang ngồi trong chính ngôi nhà của mình: bạn và buổi hò hẹn của mình đang thật sự được chăm sóc rất chu đáo.

An ổn bên quý ngài phong lưu

Chàng thật thà thổ lộ “Trên hết, tôi không phải là ống khói chuyên nghiệp. Nhưng với cigar, đó là cảm giác của đẳng cấp, chừng nào nó chưa to bằng cườm tay và có mùi gỗ cháy.”

Thế này nhé, để dễ liên tưởng, cảm giác đó như thể thọc tay vào lớp lót của một chiếc Birkin chính hiệu vậy, fashionista ạ, trong trường hợp bạn không phải là một ống khói chuyên nghiệp.

Mr.January của f. hẳn nhiên là một tín đồ chuẩn mực của trường phái hưởng thụ xa xỉ vì động cơ duy mỹ, và bạn dễ dàng đoán được rằng logo khủng bố của nhà Versace sẽ làm chàng phát hãi, nhưng những món vật tinh tế của Gucci hay YSL sẽ nằm trong sự ưu ái chọn lựa của chàng.

Câu chuyện của thú xa xỉ tiếp diễn và bạn nhận ra mình đang say sưa tán chuyện với một đạo hữu của tín giáo duy mỹ, say sưa tâm đắc như nhau. Chàng ngưỡng vọng sự tinh tế và bao phủ những đại diện của nó quanh mình.

“Điều quan trọng hơn hết, trên cả giá trị hù dọa của món hàng hiệu, là sự dễ chịu mà nó mang lại. Và với tôi, sự dễ chịu là sự chừng mực.”

Bạn biết đấy, tỉ lệ làm nên tất cả sự khác biệt giữa thẩm mỹ trọc phú và sự lịch lãm chuẩn chu. Và ắt hẳn một gout hưởng thụ như vậy đã không đơn thuần đến từ một đường đời trải thảm.

Tôi đã đi qua nhiều nơi và gặp nhiều người. Tôi có tuổi trẻ bồng bột nổi gân, và có cả những tháng ngày làm việc cật lực cho cuộc sinh tồn như mọi người đàn ông bình thường khác trên đất Mỹ. Có cả những cuộc phiêu lưu kì thú bét nhè, hưởng thụ cuộc sống đến tận cùng mọi ngõ ngách. Và bây giờ, tôi vẫn vậy, nhưng một cách có chọn lọc, giá trị của hiểu biết là vậy đó!

Tôi nhận thấy mình hướng “nội” hơn, ở đây là cả về nhận thức lẫn phong cách sống. Không thể nói mình đã biết hết ngoài kia có những gì, nhưng nếu muốn bước ra ngoài cho một chuyến phiêu lưu, tôi sẽ chọn đặt chân ra một cách chủ động và khôn ngoan, chứ không còn là chàng thanh niên…dễ dụ.

Nhưng dường như trong vẻ trai lơ đứng tuổi, người đàn ông hoạt bát với dung mạo “cinema phản diện” này vẫn chưa có vẻ gì là sẵn sàng quay lưng lại với những cuộc phiêu lưu của sự nghiệp, những lối ngoặt bất ngờ của số phận.

“Đúng vậy, tôi đang sống cuộc sống của mình thì những sự chào mời dẫn dắt nhau đến. Ở giữa đấy Mỹ, đã cách đây 8 năm, tôi – gã trai không bao giờ nghĩ sẽ dây dưa đến showbiz, nhận lời quay clip cùng ca sĩ Thu Phương. Và những lời đề nghị của màn bạc đến với tôi, gã phiêu lưu trong tôi nhún vai tự hỏi ‘tại sao không?’ Và say, và học hỏi, và mê…”

…và cuộc phiêu lưu chưa kết thúc.

Trần Bảo Sơn: Người đàn ông phong lưu, đến già đến chết vẫn phong lưu. Nhưng ở mỗi thời điểm và vị trí xã hội, họ sẽ phong lưu theo một tâm thái khác.

f.: Ý anh là khi họ khôn hơn, họ sẽ phong lưu…lén?

Trần Bảo Sơn: (cười) Nói lén thì không hẳn, bởi đã phải “lén” thì còn gì phong lưu? Nhưng đến một độ trưởng thành của người đàn ông, họ sẽ tự hình thành cho mình một thứ tự rõ rệt những gì là tối thiết, những điều có ý nghĩa, và những thứ phù du. Họ biết cả điều mình muốn, nhưng rõ hơn thế, họ biết rõ những thứ họ không cần. Phong lưu chắt lọc là vậy!

A, đó chính là sự khác biệt giữa người đàn ông biết thưởng thức khói thơm và cậu thanh niên té ho vì sặc thuốc.

Có thể đi cạnh người đàn ông luôn biết dừng trước khi say, tắt thuốc trước khi nghiện, quả là không hợp ý một quý cô lắm máu liều, thặng dư lãng mạn cho lắm. Nhưng nếu bạn là một dater chuẩn mực kiểu cách, hay bởi quá lấy cuộc hẹn tân niên làm điều hệ trọng, không muốn điều chi vấy bẩn buổi hẹn đầu thì xin chúc mừng bạn, bởi chàng sẽ ngưng uống trước khi say, tắt thuốc trước khi nghiện.

Và khi đó là Trần Bảo Sơn, bạn sẽ chẳng lo xiêu vẹo đôi slimheel dìu gã khật khùng bét nhè hơi rượu, hay vấy bẩn bộ cánh đêm giao thừa bởi hơi khói nồng nặc mang về đến tận cửa phòng mình thứ hơi hám hạng bét có thể có được từ các làng nướng bình dân.

Và bạn hẳn chưa quên lời mẹ dặn trước khi bước ra khỏi cửa cho vũ hội đầu đời: “Hãy ra về khi đang vui nhất!” Cứ nghe lời các bà mẹ, và bạn sẽ tránh được những cuộc phong lưu lén và có một cuộc vui an toàn.

Những cậu bé chơi búp bê và những người đàn ông trong công viên giải trí.

Đương nhiên, khi là một celeb, chàng đã quen với việc phụ nữ để tâm đến chàng, một phần vì sự quyến rũ của ánh hào quang “người của công chúng”. Nhưng ngay cả trước đó, khi còn là một anh chàng phi-celeb, ắt hẳn gã đàn ông có đuôi mắt sát gái này cũng đã hưởng không thiếu những ánh mắt ái mộ công khai từ quý bà quý cô.

Chàng cười “Cũng có. Tạm gọi là…đủ xài!”

Và với tâm thái của kẻ có “đủ xài”, bạn hiểu rằng quý ông đối diện dư dật cơ hội trải nghiệm những tấm hồng nhan danh tiếng. Sự bất an rất tiềm thức sẽ khiến bạn tự hỏi: Sẽ phải là một người đàn bà như thế nào để rù quến được gã trai lơ duy mỹ này?

“Tôi không hẳn là người quá kén chọn, mặc dù hẳn nhiên, tôi yêu cái đẹp một cách công khai (mà tại sao không?). Nhưng cái gì khiến tôi thấy người phụ nữ đẹp lại là một vấn đề khác. Trước hết, quan trọng là nàng không xấu. Nàng không thể xấu được!”

Đến đây, cuộc nói chuyện thật sự trở nên thú vị khi mà bạn có thể yên lòng dẹp qua quan điểm cliché “Không có phụ nữ xấu.” Rõ ràng, có phụ nữ…không đẹp. Có thể họ không đẹp chỉ vì không biết làm đẹp, nhưng điều đó không quan trọng, bởi cuối cùng thì họ không đẹp.

“Và Không Đẹp còn có nghĩa là nhạt. Tôi không thể thấy điều gì đẹp đẽ ở người phụ nữ mà tôi không thể tâm đắc truyện trò được, điều đó là đương nhiên. Có những cô gái có thân hình cân đối, khuôn diện sáng sủa, nhưng vẫn không được coi là một giai nhân.

“Nói rằng có những người phụ nữ xấu thì e rằng hồ đồ thô lỗ quá. Nhưng tôi có thể nói: có những người phụ nữ hấp dẫn, khiêu gợi (xin đừng vội nghĩ đến nghĩa dung tục!), và những phụ nữ không sexy chút nào, dù cố tưởng tượng đến mấy!”

Chàng duy mỹ đến không khoan nhượng, và điều này rất dễ khiến bạn ít nhiều hoang mang tự vấn bản thân. Diva đa tình ạ, bạn chả có gì phải băn khoăn cả, sự thật là chàng vẫn đang hào hứng hầu chuyện cùng bạn, và bất cứ dấu hiệu bất an nào sẽ khiến bạn hao hụt đáng kể ấn tượng đang rất hay ho của mình.

“Xin đừng nghĩ rằng quan niệm về sự khiêu gợi hay sexy là chỉ nhắc đến thân hình bốc lửa hay vẻ buông tuồng lẳng lơ. Trong một khái niệm rộng hơn, người đàn bà có duyên ăn nói, biết sử dụng tinh tế nét đầu mày cuối mắt mới thật sự tạo nên được sức quyến rũ giới tính.”

Nhưng đó lại là người đàn bà thu hút không kiểm soát, họ thu hút tất cả, như những thỏi nam châm tham lam, mà các quý ông lại vốn e dè những người phụ nữ như thế. Họ quyến rũ, nhưng đầy bất trắc, và ban phát mãnh lực quyến rũ vung vãi khắp nơi.

“Điều này không dễ làm tôi e ngại đâu, nếu không muốn nói nó càng kích thích máu chinh phục trong mỗi người đàn ông thực thụ.”

Những kẻ phong lưu thích hưởng thụ, thường là những chiến binh giỏi và những nhà mạo hiểm đầy tham vọng chinh phục. Nhiệm vụ của bạn là trở thành đỉnh núi cao, hay nói một cách khác, biến mình trở thành chiếc cúp vàng vô địch.

Đã có một cách gọi người phụ nữ như vậy trong tiếng Anh: nàng là một “trophy”. Không hẳn vì thân thể nàng kiêu kỳ như một chiếc cúp vô địch, mà còn bởi để chạm đến báu vật eo nhỏ vô song ấy, người ta phải là một nhà vô địch!

Mà chàng thì muốn đó là một cái trophy có duyên, khéo ăn nói và gợi cảm.

Từ bao giờ đàn ông thích đàn bà gợi cảm biết nói?

“Thế này nhé, những người đẹp theo kiểu “sit down, shut up and look good!” (ngồi xuống, ngậm miệng và đẹp!) cũng có thể khá thú vị đối với mấy tay trai lơ còn tuổi chơi búp-bê. Nhưng khi người đàn ông nghĩ về đàn bà theo một cách nghiêm túc hơn, họ trở nên tỉnh táo và chọn lựa. Kỹ và cẩn trọng như chọn kẻ tri âm vậy.”

f.: Ý anh muốn nói là đàn ông sau khi lấy vợ sẽ thuyên giảm khả năng hưởng thụ thú vui?

Trần Bảo Sơn: (cười) Cũng khá đáng kể! Khi trẻ, chúng tôi là những cậu trai mê trò chơi cảm giác mạnh và phải chơi bằng được tất cả mọi trò ở tất cả các công viên nào mới nhất. Và đến một lúc nào đó, người đàn ông sẽ vẫn say sưa hưởng thụ những trò hay ho đó, nhưng chỉ trung thành với một cái công viên duy nhất mà thôi. Đó không hẳn là nơi có đủ tất cả mọi trò, nhưng đó luôn là nơi tốt nhất. Vậy đó, người đàn bà của cuộc đời – nàng sẽ là môi trường thân thiện và an toàn.

f.: Có khi nào cậu nhỏ lớn đầu tiếc nhớ một số trò phiêu lưu mà cái công viên của chàng không có?

Trần Bảo Sơn: Dù có lâu lâu, thú thật, có nhớ, là nhớ chơi cho vui vậy thôi, chớ không tội gì phí sức phiêu lưu khinh suất, vì quả tình, những trò đó mình cũng đã chơi hết rồi, tiếc gì nữa!

Tay thợ săn ngồi trong chiếc bẫy

Một tay săn mồi bóng bẩy với chiến lược cáo già như chàng, và tình yêu thiết tha đối với đời sống tự do, chàng đã lang thang trên đường tình ra sao để sập bẫy hôn nhân một cách huy hoàng làm vậy?

“Tôi gặp nàng lần đầu vào cái độ tuổi mà thứ cuối cùng tôi muốn là hôn nhân. Ánh đi ra từ mé phải nhà hát Hòa Bình, còn tôi đang đi cùng một cô gái khác. Tôi giữ cho mình cái quyền tối thiểu nhất của tay trai lơ chưa vợ và nhìn hút mút chỉ theo cô ấy. Và trong một khoảnh khắc, như đinh đóng cột, tôi tự nhủ: đây sẽ là người đàn bà làm vợ mình!”

Và chỉ thế, không chiến lược, không hoạch định, không tấn công du kích. Họ gặp nhau sau đó 1 năm, 6 tháng sau mới quen nhau và 2 năm sau chàng vĩnh viễn không thuộc về phần còn lại của thế giới.

“Nếu em hỏi vì sao thì đó sẽ là câu hỏi khó. Tôi có thể nói ra đến sáng những điều lý tưởng nhất về ‘nguyên tắc chọn vợ’, nhưng kì thực là hai năm đó đã trôi qua và cuốn tôi đi cho đến một ngày, tôi hết hồn nhận thấy mình đang chuẩn bị cho đám cưới. Tôi nhìn lại người đàn bà mình chọn, nàng là một trophy chính hiệu, và tôi hài lòng.”

Như một tay thợ săn thiện xạ gặp chuyện cắc cớ trớ trêu. Chàng đã vô tình tăm tia được nàng sơn dương tuyệt mỹ nhưng đã không giương súng. Cuộc bắt vờn kéo dài đằng đẵng, tay thợ săn siêu chiến lược sắp bày cả một vòng bẫy vây khốn, và chính vào thời điểm quyết định sập bẫy, chàng bừng tỉnh ngó quanh, thấy chính mình đứng trong cùng chiếc bẫy chả rõ ai đã dựng nên.

Mặc tình, đó là một chiếc bẫy êm ái và để bị nhốt chung với một người đàn bà như vậy, gã trai lơ dấn bước, và trở thành quí ông.

Còn bạn, và tôi, đứng bên ngoài chiếc bẫy hôn nhân mà ghé mắt nhìn vào cặp đôi danh giá, tất cả dường như là một trò cắc cớ của duyên phần, và mong rằng một chiếc bẫy tương tự sẽ chưa vội bất thần ụp xuống đầu bạn hay đầu tôi vào 2011.

Bởi những cuộc hẹn hò quá chừng êm ái.

Bởi sự chiều chuộng ấm áp của cuộc hẹn “mở hàng” đầu năm quá hứa hẹn gọi mời, xin chưa vội kết thúc những hẹn hò bất tận!

“Ô hay, anh lại thế nữa rồi!”

Với sự xuất hiện của câu chuyện về chiếc bẫy hôn nhân, câu chuyện được lái đến một lãnh vực mà chàng sẽ say sưa thao thao bất tuyệt: Điện ảnh, và giải đề cử Bông Sen Vàng!

f.: 4 ứng viên, nếu sử dụng phép loại trừ khách quan nhất, anh tự cho mình xác suất bao nhiêu? 100% nhé?

Trần Bảo Sơn: Không, tôi chỉ biết làm tốt nhất có thể…

f.: Vậy ra “tốt nhất có thể” của anh lại không cho phép một tham vọng cỡ xác suất toàn phần?

Trần Bảo Sơn: Đam mê không có nghĩa là mù quáng. Đam mê có thể là mãnh liệt, nhưng chưa chắc điều đó đã khiến tôi là kẻ giỏi nhất.

f.: Vậy chúng ta hãy cùng chờ…

Và đến lúc này, kính thưa nữ độc giả đang lâng lâng của f., như mọi sự bất ngờ trong cuộc sống, ngay giữa cuộc hẹn hò “mở hàng” đầu năm, thực tế phũ phàng đánh thẳng vào mặt bạn: một người phụ nữ lạ mặt bước vào sảnh, không quá chói lọi, nhưng đủ trang nhã và đẹp mắt. Ngay lập tức đôi mắt có đuôi nheo khi cười của quý ngài tháng Giêng tố cáo thói phong lưu còn tiềm ẩn.

Chàng vẫn tiếp tục thao thao bất tuyệt về điện ảnh cùng bạn, và kín đáo quan sát nữ nhân xúi quẩy kia.

Chàng – không – hoàn – hảo! Bạn có thể hoang mang thất vọng, nhưng đó là thực tế, ngay cả với cuộc hẹn hò tân niên. Biết sao được, đó là Trần Bảo Sơn, đó là tay bảnh bao sát gái, là Robert Di Niro Á châu miệng ngậm cigar phơi phới chỉ mới xấp xỉ phong độ tứ tuần. Bạn chờ đợi chàng sẽ ngoan ngoãn như một con cừu thì xin mời bạn quay lại với cuộc hò hẹn cô độc hồi Giáng sinh!

f.: Anh đang phân tâm kìa!

Trần Bảo Sơn: Đâu nào? Ai?

Chàng vờ vịt nhìn quanh và vờ thờ ơ đảo mắt qua người đàn bà mới đến một lần nữa.

f.: Đó, thấy chưa?

Trần Bảo Sơn: Em nhận ra à? Điều này không tốt sao?

f.: Sẽ không tốt, không tốt tí nào!

Trần Bảo Sơn: Hãy nghĩ về vấn đề theo một cách tích cực nhé! Em sẽ luôn biết rằng người đàn ông của mình vẫn hoàn toàn có thể để mắt đến một ai đó khác, dù chỉ là liếc mắt đến thôi. Chẳng lẽ điều đó không thêm thắt chút gia vị của một thách thức thú vị? Em sẽ thấy vẫn cần giữ nhau, vẫn cần làm mới mối quan hệ và tán tỉnh nhau để khỏi nhàm mòn.

f.: Anh nhìn kìa, ở hai bàn khác, đang có 3 người đàn ông rất sẵn lòng thay thế vị trí của anh lúc này. Thế này nhé, hãy tưởng tượng em là một người đàn bà đúng mẫu xinh đẹp, hiện đại, năng động và tự tin. Em sẽ rời khỏi chiếc bàn này, sẽ tiến đến quầy bar kia, làm vài tư thế đổi chân và anh cũng sẽ thấy chúng ta cần phải giữ nhau đến độ nào.

Trần Bảo Sơn: Vậy thì tôi thua rồi! Em sẽ không biết đâu, chính ra đàn ông dễ bị thương tổn hơn rất nhiều. Trò thách thức nhau này vui, nhưng hơi đau tim.

f.: Vậy tốt hơn hết chúng ta đừng sa vào trò đau tim đó!

Trần Bảo Sơn: Được, để lần sau tôi ý thức hơn, như thế này… (chàng làm điệu bộ giả vờ nhìn quanh để liếc nhanh thêm một lần nữa về phía người đàn bà bàn bên cạnh) Như thế được chưa?

f.: Chưa ổn lắm!

Trần Bảo Sơn: Vậy lần sau em cứ nhắc khéo tôi nhé, chỉ cần liếc xéo một cái, tôi hiểu liền.

Còn bạn, nữ độc giả của f., bạn sẽ chọn lao đầu vào cuộc chiến tranh giành thế lực và chứng tỏ cho chàng thấy bạn có thể thu hút bất cứ người đàn ông nào xung quanh, hay bạn sẽ chọn nhắc khéo người đàn ông bảnh bao của bạn “Ơ kìa anh, lại thế nữa rồi!” để một lần nữa, nghe tràng cười nửa láu cá, nửa lúng túng của gã phong lưu sẽ muôn đời bất trị?

Đối thoại nhanh

TBS: Cuối cùng, đàn ông là vậy đó, họ tán tỉnh lung tung cả cuộc đời nhưng lại cực kì dễ bị tổn thương, không dễ hứng đòn tương tự từ người đàn bà của họ. Nên sẽ chọn gối đầu vào lòng người đàn bà nào thông hiểu, vị tha và…thân thiện với khả năng gây sát thương thấp nhất.

f.: Vậy ra anh sẽ mặc sức vui chơi và yêu đương với những tình nhân, và sẽ chọn cưới một tri kỷ?

TBS: Vâng, một người để yêu, nhưng còn có thể nói chuyện cùng, để song hành và chia sẻ.

f.: Hoặc chỉ cần cưới vợ ngoan, và biết đẻ.

TBS: Thế thì chán lắm!

f.: Chán thì ra ngoài mà chơi.

TBS: Còn ham chạy chơi thì cưới vợ làm gì?

Ngô Thanh Vân: “đừng lại quá gần các ngôi sao!”

Trác Thúy Miêu

 NTV có mặt trước phóng viên trong dáng vẻ casual và chiếc laptop, cao hứng huyên thuyên về vụ nổ boysband sắp tới, khoe những đoạn clip, đoạn trailer, những bộ phục trang biểu diễn của nhóm – sản phẩm đầu tay của nàng ở tư cách một manager chuyên nghiệp.

Giữa cuộc huyên thuyên hào hứng, nàng hắt ra một câu nghe như tiếng thở dài “Chị biết không, 1 tỉ năm rồi tôi chưa có được một cuộc café tán gẫu như thế này…”

Và cuộc nói chuyện với covergirl Việt đầu tiên của Elle cuối cùng cũng được thật sự bắt đầu.

 ĐƯỜNG CATWALK TRẢI DÀI BAO XA?

Cuộc nói chuyện với Elle, theo thông lệ, bắt đầu bằng việc quay lại từ một điểm mờ rất xa của khởi đầu sự nghiệp một thương hiệu NTV.

Tất cả đã bắt đầu đơn giản và khá suôn sẻ. Nhớ lại thời kì đầu ấy, kể từ những năm cuối thập niên 90 khi mới từ Na Uy về, Ngô Thanh Vân xuất hiện trên một vài đoạn clip nền karaoke, mình mặc áo dài giữa trưa đi lơ ngơ trên phố…hái hoa. Nàng rũ ra cười với hình ảnh chính mình.

Khi đó tôi biết rằng tôi sinh ra để lượn lờ trong phạm vi lãnh địa showbiz nhưng khởi điểm còn rất mơ hồ. Các đạo diễn gọi tôi đi quay, 300 ngàn một buổi, thế là tôi đi. Khi được yêu cầu trang điểm nhẹ, tôi hẵng còn khá ngô nghê với những món “hàng xén” màu mè ấy. Gần như là thọc ngón tay vào hộp màu để bôi bừa màu xanh lên mắt, một ai đó gắn hộ tôi hàng mi xộc xệch, thế là quay clip như ai.

Chỉ cách đây mấy hôm, tôi đi ngang phòng nhân viên và thấy họ xúm xít xem đoạn clip nọ, cười ngặt nghẽo, muốn độn thổ! 

Cuộc dạo chơi đang êm đềm trên catwalk và trước ống kính của những chiến dịch quảng cáo sáng giá, NTV rời bỏ thời trang.

Tôi tự thiết lập cho mình mục tiêu, và tôi đã đạt đến, tôi còn có thể đi bao xa trên đường catwalk? 

Nhưng đoạn đường tiếp nối trên sân khấu ca nhạc đã không hoàn toàn là những cuộc đi dạo hái hoa giữa trưa của những ngày đầu với thời trang.

Đã mất khoảng nửa năm để trở nên sành sõi hơn kể từ những ngày “hái hoa giữa trưa” ngộ nghĩnh ấy, để thật sự hòa mình vào những công việc của một nghệ sĩ giải trí. Các cuộc thi và danh hiệu đã khiến mọi việc dễ dàng hơn, cho đến khi tôi học đến bài học “nâng cao” của chuyên môn làm một “người của công chúng”. Tôi đối mặt với dư luận.

Những lần đầu tiên trong đời hứng đòn dư luận, tôi đã phát khóc và hoang mang không hiểu vì sao mình bị…ghét. Họ không thích tôi, họ không cho rằng tôi có thể ca hát gì cả và ý tưởng về vai trò entertainer bị cho là trò hỏa mù để lấp liếm sở đoản, dù gần đây đã trở thành trào lưu.

Lại mất thêm một thời gian nữa để hiểu rằng đấy không phải là Tôi mà họ ghét. Chẳng có gì là cá nhân ở đây cả. Ai cũng có thể là nhà phê bình, người của công chúng khi thì vào vai con búp bê để thỏa mãn như cầu mến mộ yêu quý, khi thì mang chức năng của một cái bao cát để hứng đòn xả stress,…chung quy là giải trí, và tôi đã phải làm đúng việc của mình. Bao cát chịu đòn, con búp bê được tung hô, mọi việc không thật sự liên quan quá nhiều đến một Ngô Thanh Vân.

Rất may, họ không đưa chân đi hộ quãng đường của tôi, khóc bằng nước mắt của tôi, và cũng không xài đồng nào tôi kiếm được từ khả năng và sức lao động của mình, thì những lời yêu ghét đó có chăng cũng chỉ là khi họ “vào vai công luận” một cách hiển nhiên nhất. Suy nghĩ này khiến tôi thanh thản, không cá nhân hóa mọi chuyện, và làm đúng việc của mình.

Trong lãnh vực ca nhạc, người ta vẫn nói rằng tôi đã không đi được đên đỉnh cao để tự gọi mình là diva. Nhưng thực tế là 8 năm kể từ khi đặt chân lên sân khấu ca nhạc, đây vẫn là lãnh vực cho tôi nguồn thu nhập chính, nằm ngoài vùng phủ sóng của thông tin báo giới.

Người ta nói đến những bộ phim và sự xuất hiện của “cặp đôi vàng” tại các buổi tiệc, nhưng trên thực tế, vai trò entertainer trên sân khấu ca nhạc của tôi vẫn là sự nghiệp và nguồn thu chính.

Điện ảnh cũng là một cuộc chơi, một đam mê lớn, và một chiến lược rating. Tôi thức dậy mỗi ngày để mặc vào mình bộ quần áo của nhân vật, ngày của tôi trôi qua không có những hào quang của NTV, những cuộc café với bạn bè mà hoàn toàn bị nhân vật và kịch bản chiếm lĩnh, ngay cả trong những suy nghĩ cuối ngày trước khi đi ngủ. Hào quang chỉ đến trong đúng vài phút, trong buổi ra mắt hay khi được kêu tên cho một giải thưởng. Và như vậy là đủ, dù sau đó là tiếp nối những dằn vặt đa chiều của dư luận, nỗi đe dọa thất thu và tổn thất tài chính. Nhưng người ta chấp nhận tôi dễ dàng hơn trên màn bạc, hào quang ấy đủ nổi bật để người ta quên rằng tôi vẫn đang tồn tại trên sân khấu ca nhạc chứ chưa bao giờ rời bỏ nó.

Người ta có thể không thích ca khúc tôi thể hiện, cho rằng tôi không có giọng ca khỏe, thậm chí tôi có thể không bao giờ là một diva âm nhạc thực thụ, nhưng hey, 8 năm rồi, tôi đi bằng chân của mình, khóc bằng những giọt nước mắt của mình, và xài những đồng tiền kiếm được bằng cái chất giọng không phải ai cũng thừa nhận ấy, và như vậy, tôi là một nghệ sĩ giải trí chân chính.

PHÙ THỦY CHƠI BÚP BÊ VÀ NHỮNG NGÔI SAO KHÔNG ĐỦ XA. 

Hơn mười năm kể từ mức cát-sê 50 000 và những chuyến “hái hoa giữa trưa” ngô nghê, NTV hào hứng với cuộc phiêu lưu mới ở cương vị một producer/manager chuyên nghiệp.

 Trên màn hình laptop là năm hình mẫu lý tưởng mới chờ đợi dội bom thị phần âm nhạc trẻ. Năm nhân vật hoạt hình bằng xương bằng thịt biết ca hát nhảy múa tóc xịt keo, mỗi chàng trai cho một gout phong cách điển hình nhất trào lưu sống thanh thiếu niên Á châu đương đại. Dẫu đó là Cool Dude mặt ngầu hay Prince Charming kiểu lãng mạn kẹo đường, tất cả làm nên một boysband hoàn hảo hứa hẹn hiệu quả thương mại hình ảnh, một thứ mà NTV đã thực hiện một cách xuất sắc với chính bản thân mình từ những ngày đầu của cuộc kinh doanh hình ảnh rỡ ràng thịnh vượng.

Tôi không có pháp thuật để biến những cậu nhỏ này trở thành các ngôi sao. Tôi có ê-kíp, có sự quyết tâm, điều kiện và phương pháp. Nhưng đây không chỉ là những cậu búp bê, bởi bản thân họ được yêu cầu tập luyện như những người lao động thật sự. Khi đến với buổi casting, đây là những bạn trẻ hoàn toàn lạ lẫm với showbiz nhưng có năng khiếu. Để biến năng khiếu thành kỹ năng, đòi hỏi một sự vận động tự thân ở cường độ cao nhất và thậm chí cả kỷ luật rèn giũa khắc nghiệt. 

Năm chàng ca sĩ tương lai sau khi được chọn sẽ ký vào một cam kết và từ đó, trong thời gian chuẩn bị cho sự ra mắt, họ gần như bị cô lập trong ngôi nhà của công ty và trải qua những quá trình “hóa thân” theo hệ thống đào tạo chuyên biệt cho đến khi thật sự sẵn sàng để được “tung” lên bầu trời với sứ mệnh tạo nên một vụ chấn động kha khá trên cái vòm vốn đã sẵn đầy sao của showbiz Việt. 

 Có lần, nói chuyện với Marketing Director của YanTV, một người Mỹ, ông ta đặt cho tôi câu hỏi “Tại sao ở nơi khác, các ngôi sao dễ dàng gây náo loạn ở bất cứ nơi đâu họ xuất hiện, trong khi các ngôi sao giải trí tại Việt Nam cùng lắm là khơi gợi được đôi ánh mắt tò mò?”. Các ngôi sao của ta kém thuyết phục hơn chăng? Hay họ chưa hoàn thiện công việc tiêu khiển cho công chúng đủ để được yêu mến? Đơn giản lắm, vì người ta không dễ dàng “vồ” được các celebrity Hollywood “thân thiện” ăn cháo huyết bên đường hay mở quán bình dân! 

Chúng ta có những ngôi sao sáng trên mỗi thị phần công chúng, phủ sóng từ hẻm lao động cho đến những phòng lounge giới thượng lưu. Nhưng chúng ta có những ngôi sao quá đỗi “thân thiện”. Và họ quá đông. Cả một bầu trời sẽ hòa đồng sáng rực với quá nhiều ngôi sao, nhưng trong quầng sáng ấy, sẽ không có vì tinh tú nào có thể quá sáng!

Nhưng ta đang nói đến thị phần công chúng phương Đông, đặc biệt là ở Việt Nam, tình yêu dành cho các ngôi sao phải được nuôi sống bằng sự thân thiện và bón mớm bằng những thông tin vặt mang màu xanh lá cải. 

Thế nên tôi đã không chọn ứng dụng tập quán quản lý của showbiz Hoa Kỳ mà đi theo đường lối đào tạo của K-Pop. Trên thực tế, chúng ta đều biết rằng chính khoảng cách giữa ta và một ngôi sao sẽ khiến chúng phát sáng và long lanh. Một khán giả thông minh sẽ an vị trên ghế khán giả và thưởng thức cái long lanh lấp lánh kì thú ấy. Lại quá gần một ngôi sao người ta sẽ hết hồn bởi sự thật món vật lấp lánh ấy chỉ là một bề mặt địa chất gồ ghề xấu gớm, hay thậm chí bạn sẽ một phen tẽn tò để phát hiện ra đó chỉ là ánh đèn hiệu của một chiếc máy bay.

Hẳn nhiên không phải đó là tất cả sự thật về các vì sao, nhưng tốt hơn là chớ lại quá gần vì tò mò, và tệ hơn nữa là khi các “sao” tự vận động lại quá gần để cầu mong chiều chuộng, đáp ứng lòng hiếu kỳ.

Ở đây, tôi không muốn nhầm lẫn giữa sự lễ độ và thân thiện với sự gần gũi đến mức suồng sã với công chúng. Một entertainer giỏi sẽ vẫn trọn vai ngay cả bên ngoài sân khấu, và một manager giỏi sẽ biết chọn vai phù hợp đến mức ‘ngôi sao’ thậm chí không phải gượng ép khiên cưỡng hay tự huyễn hoặc bản thân.

Đến từng chi tiết trên phục trang, đến từng ca từ hay nick name của mọi thành viên trong nhóm đều được quyết định dựa trên việc quan sát và tìm hiểu từng em một. Đó chính là họ, được cường điệu hóa trong không gian của sân khấu ca nhạc giải trí.

BÀI HỌC FRANKENSTEIN VÀ NHỮNG VÌ SAO PHẢN TRẮC  

Có lẽ tôi lầm, NTV không chơi búp bê mà nhắc nhớ nhiều hơn đến câu chuyện bi thương chứa nhiều ẩn ý mang tên Frankenstein và những con quái vật nhân tạo biết nổi loạn. Và đến đây thì trò chơi có vẻ không hẳn là an toàn lắm cho cô gái vốn chỉ biết đấm đá “như phim” trên màn bạc block-buster Việt.

Ý bạn nói về sự phản trắc? Đó đương nhiên được xem là rủi ro trong kinh doanh và không phải là chưa được lạnh lùng tính toán đến. Và không phải là chưa xảy ra.

Những ngày mới thành lập, tôi đã phải ngay lập tức đối mặt với những rủi ro bất ngờ nhất. Mải mê với chương trình Bước Nhảy Hoàn Vũ, tôi đã hể hả ôm giải Nữ Hoàng Khiêu Vũ ra về để đối mặt với một bãi tan hoang của công việc. Nhưng bạn thấy đấy, rồi thì tôi cũng đang chờ đợi cho mẻ “ra lò” đầu tiên.

Nếu bước vào lãnh vực này mà cứ ôm theo nỗi sợ rằng các ngôi sao sẽ bay tung tóe đi mất thì sẽ chẳng bao giờ đủ can đảm tung chúng lên bầu trời. Nỗi sợ sẽ kéo trì mọi nhiệt huyết, làm tê liệt mọi ý tưởng sáng tạo.

Tôi thích những trò mạo hiểm, sự sợ hãi được chuyển hóa thành adrenalin. Nhưng tôi chơi trò mạo hiểm quen rồi nên sẽ chẳng dấn thân nếu không được trang bị bảo hiểm tốt nhất. Lỡ có tuột tay thì cũng nhún vai tự cú đầu mình gọi những mất mát đó là “trả tiền ngu”.

Tôi trả tiền ngu hoài, nhưng tôi còn trẻ và thừa khả năng bắt đầu lại từ đầu. Điều quan trọng là ta biết cách từ chối phải trả giá bằng niềm tin. Và bây giờ, tôi tin những chàng trai của boysband này. Họ là những đứa em, có tố chất, được trau luyện bài bản ngặt nghèo, đôi khi vừa lười vừa ranh, nhưng ngoan và nhiệt huyết không kém gì chính tôi. Điều này khiến họ gần như là những cộng sự, hơn là những học trò.

Sự cẩn trọng cân nhắc mọi rủi ro, niềm tin có cơ sở và các biện pháp bảo hiểm, khó có rủi ro nào sẽ khiến tôi phải bất ngờ lắm, dù biết đâu đấy, để tôi thử xem sao!

Tôi có thể là đả nữ, nhưng không phải là Siêu Nữ. Một NTV sẽ không thể đào luyện và cho ra lò bộ sản phẩm năm hình mẫu hoàn hảo như vậy từ tính cách, tác phong đến diện mạo. Tôi chọn những đồng sự ưu tú nhất, từ makeup artist, designer cho đến biên đạo múa, nhạc sĩ, v.v… Sẽ là ngớ ngẩn nếu luôn đòi hỏi sự hoàn hảo, nhưng chỉ riêng việc hành xử như một kẻ luôn bị ám ảnh bởi sự hoàn hảo cũng có thể mang lại hiệu quả tốt nhất.

Trò chơi búp-bê của đả nữ có vẻ như đã đạt tới mức kiến tạo nên những “quả bomb giải trí” tuyệt đẹp với tư duy hành xử tối ưu, trong khi NTV-The Creator xoa tay hài lòng và bình thản chờ thời điểm chính thức “dội bomb” thị trường ca nhạc bằng một thứ tưởng như đã cũ trong những bộ outfit năm màu kẹo ngọt, và cương quyết khước từ mọi trường phái đơm bông kết hột. 

Nhưng người ta sẽ chẳng bao giờ có đủ boysband để dán kín tường phòng những cô gái trẻ, ít nhất là từ thời New Kids On The Block! Và đối với cô phù thủy trẻ, sau album Virus đình đám một thời, sau những bộ phim block-buster Việt, sau cả trò phiêu lưu ngoạn mục với Dancing With The Stars, cuộc chơi lớn thậm chí còn chưa thật sự bắt đầu.

“KHÔNG CÓ AI HÔN TÔI TRÊN XE BUS NỮA CẢ!” 

Có tất cả, ê-kíp cộng sự, một “gã trai thân thiện xóm Manor” điển trai để đứng bên cạnh trong mọi khoảnh khắc của điện ảnh, NTV dường như nói về phía bên kia của “cặp đôi vàng” như về một chiến hữu, hơn là một mối tình. 

Tôi cũng đã có những mối tình, những chuyến đón đưa bằng Bentley, những chào mời êm ái,… Nhưng thật khó để biết được rằng liệu những điều ấy có sẵn lòng đến với tôi cái ngày bước thấp bước cao quay karaoke clip vô danh với hàng mi vụng về xộc xệch?

Và có lúc, những chào mời ấy khiến tôi thấy rẻ tiền vô cùng, để thả lỏng mình như con rối dây, để được đặt vào những căn nhà và những chiếc xe.

Tôi vẫn chưa lớn lên lắm khỏi một Ngô Thanh Vân mới trở về từ Na Uy. Tôi vẫn mơ mộng những trò lãng mạn của café khuya, của những cuộc phiêu lưu trên lưng xe máy.

Trong cái thế giới này, mọi thứ được ấn định, mọi thứ đều phải đi theo một hệ thống bất thành văn nào đó. Bạn nói đến buổi tối lãng mạn tức là nói đến nhà hàng sang trọng, fine-dining và ánh nến. Bạn nói đến những chuyến đón đưa, là nói đến xe hơi hạng sang. Bạn nói đến hôn nhân là nói đến giá trị những căn nhà. Người ta loay hoay yêu đương cưới xin trong cái hệ thống ái tình và hôn nhân đã được mặc định ấy, và không ai xách xe máy chở tôi đi nhông, không ai dám liều mạng hôn tôi trên xe bus, và không ai la cà café với tôi nữa cả!  

Đây không hẳn là những ao ước nên có của một celebrity…

Chẳng biết từ khi nào, tôi trở thành một NTV khó lại gần. Đàn ông, họ ngắm tôi từ xa và đoán mò lung tung về những voi chín ngà gà chín cựa để chinh phục một celeb. Những người đến gần tôi để tự tin vào cuộc chinh phục thì gồng mình lên đến mức không thật, và làm những thứ mà họ cho là tôi cần. Điều này mệt mỏi quá lắm, không giống những gì tôi nghĩ về một mối quan hệ, về tình yêu.

Thế là tôi tìm cách quan sát những người hạnh phúc hơn ở xung quanh tôi, học ra rằng sẽ an toàn và dễ thấu hiểu nhau hơn nếu ca sĩ yêu bầu show, diễn viên yêu đạo diễn, thư ký yêu công chức, v.v… Thế là tôi tìm kiếm từ những con người trong thế giới gần hơn quanh mình, trong showbiz, trên sân khấu, phía sau hậu đài, và tôi tìm thấy những người đàn ông tài hoa, điển mã, và hầu hết là những anh chàng đồng tính. Tôi có về cho mình một mớ bạn thân, nhưng chẳng làm gì được họ cả! 

Vâng, chào mừng bạn đến với showbiz!

Và NTV lại tiếp tục cuộc tìm kiếm bên ngoài showbiz. Bên ngoài showbiz có các doanh nhân. A, đến đây thì nàng lại va vào những khái niệm ái tình được ấn định, va vào cái hệ thống bất thành văn của các mối quan hệ.

 Đại gia thì phải đi với kiều nữ. Kiều nữ showbiz yêu người đàn ông bên ngoài sân khấu, đó ắt hẳn phải là một đại gia. Mà tôi lại không phải là một kiều nữ. Tôi đánh đấm, mặt ngầu mình sẹo trên màn ảnh, không ngoan, và lì đòn trong sự nghiệp, không giống gì với một kiều nữ, ngoài “tiểu sử” nổi-tiếng-và-đã-từng-là-người-mẫu. Các đại gia sẽ không chịu đưa tôi đi leo núi, trượt tuyết, nghỉ hè mạo hiểm,… còn tôi thì có thể dư sức tự lo cho mình những chuyến shopping hải ngoại. Thế là những cuộc tìm kiếm bên ngoài sân khấu cũng không khá khẩm may mắn gì hơn.

Mà bạn biết không, sau những đấm đá múa may ca hát, vào cuối ngày, tôi vẫn là một người đàn bà, thật đấy! 

Cứ như thể điều đó nghe khó tin lắm vậy.

Tôi “đàn ông” hơn hầu hết đám bạn bè con trai của mình. Chúng nó ủ rũ ra vì một tỉ lí do ủy mị, còn tôi sẽ không an ủi hay khóc lóc cùng họ, tôi sẽ đưa ra các giải pháp, chọn thứ tối ưu rồi thực hiện cấp kỳ, để vượt qua những trò nỉ non đau khổ. Có lẽ tôi đã quá quen với việc tự chăm sóc cho chính mình mất rồi!

Tôi biết quá rõ bản thân mình, tôi sẽ té ngã ở đâu đó, và ngay cả khi nằm bẹp bò toài dưới đất sau cú ngã, tôi hoàn toàn ý thức được những bước tiếp theo. Và chẳng có gì giết tôi chết được cả.

Nhưng được thả mình vào một chút buồn đau cũng là một thú vui lành mạnh và cần thiết. 

Tôi biết chứ! Tin tôi đi, tôi vẫn thả mình đấm đá khóc lóc tức tối hay đau buồn, như một người đàn bà chính hiệu. Nước mắt cuốn theo độc tố tiêu cực ấp ủ bên trong. Khóc là một nhu cầu, và những giọt nước mắt là dấu hiệu của một tinh thần lành mạnh, khi ở một liều lượng nhất định.

Tôi sẽ mặc tình la khóc, không dấu giếm, trước mặt đạo diễn, khách hàng, nhân viên,…nhưng luôn luôn ý thức và tập trung vào ánh sáng cuối đường hầm, hay nghĩ cách đấm bể một lỗ thủng để tự tạo ra cho mình một nguồn sáng của lối thoát.

Đàn ông không thích điều này, họ thích nhảy xuống nước cứu tôi dù tôi biết bơi. Tôi thì có bản năng sinh tồn quá mạnh và thà bơi lấy bơi để tự cứu mình hơn là trông đợi một vị cứu tinh lề mề vướng víu. Nè, tôi đang bơi, đến một bờ nào đó hay để tự cứu khỏi thảm họa chết chìm, có thích thì bơi cùng tôi, sẽ rất vui và ấm áp, nhưng đừng dại dột bay vào cứu cứu gỡ gỡ, không khéo chết chùm!

Đã có một người đàn ông để bơi cùng chưa? 

Có và không!

Đừng cho tôi một câu trả lời như vậy, tôi còn một bài báo để viết! Mà độc giả của tôi thì họ đoán đó là Johnny! 

Johnny là một người bạn tuyệt vời, và một người thầy không khoan nhượng. Chúng tôi hiểu nhau đến mức có thể chỉ cần nói một từ, kẻ kia sẽ có thể biết được phần còn lại của câu nói. Đối với tôi, như thế đã là quá đủ để mối quan hệ đáng được xem trọng hơn cả ái tình và nặng nghĩa hơn mọi lời đồ đoán của công luận. Đây không phải là một bí mật, nhưng đây không phải câu chuyện của riêng tôi để mặc lòng chia sẻ.

Tôi thích danh xưng này, vì nó chứng minh được hiệu quả PR hình ảnh thành công. Nhưng bạn có thể có “Cặp Đôi Vàng” trên điện ảnh và tại những sự kiện showbiz mà không cần phải quan tâm đến những câu chuyện rất riêng phía sau, đặc biệt khi đó là Johnny, một người bạn tận tâm mà tôi chắc chắn không muốn làm thương tổn.

Đó là một celebrity thực thụ và một người có tài, hãy nói về công việc của chúng tôi!

mèo điên bên lề catwalk

Hoa Nhài Đen

Cho đến nay, gót slimheel của hắc miêu bất bại Naomi đã in dấu trên cả thảy hơn 500 bìa tạp chí, trong đó có những pháo đài tên tuổi cỡ Vogue Italia, Japanese Vogue, Elle, i-D, Glamour, Harper’s Bazaar, Interview, W, Vanity Fair và GQ.

Sau sự nghiệp lẫy lừng tả xung hữu đột, siêu binh catwalk thở hắt ra lời ta thán thấu tâm can: “Chúng tôi-những siêu mẫu, như thể những quân nhân, phải chiến đấu để giành từng bông mai cấp bậc trên cầu vai. Bây giờ người người làm siêu mẫu, danh xưng sử dụng bừa phứa. Kate Moss chẳng hạn, rõ là một siêu mẫu, nhưng sau Gisele Bundchen, chả còn cô nào xứng danh supermodel nữa cả.”

Báo đen công phá pháo đài truyền thông

Xuất hiện trong clip “Is This Love?” của danh ca Bob Marley từ năm mới 7 tuổi, nhưng điểm son đáng nhớ trong đời con báo đen của runway thế giới là khi mới 15 tuổi, trong khi đang thung dung thú window-shopping ở Covent Garden, con báo đen, khi này còn tơ, đã lọt mắt xanh cáo già Beth Boldt, cựu người mẫu hãng Ford, nguyên đại đầu lãnh hãng đại diện người mẫu Synchro. Vài cú chuyển mình điệu nghệ đã khiến cho Naomi ngay lập tức kí hợp đồng danh giá với nhà Elite Model Management, mở lối runway và mở luôn cả lối cho những chiến dịch quảng cáo gây đảo điên toàn cầu bởi những tên tuổi thân chủ cỡ Lee Jeans và Olympus Corporation.

Tăm tiếng làn da gỗ mun ngay lập tức được thị trường Hoa Kỳ đa chủng để mắt tới. Ngay sau đó là những mùa vụ huy hoàng với Ralph Lauren và Francois Nars. Chỉ mới ở độ tuổi 15, vào một ngày đẹp trời tháng Tư năm 1986, Naomi Campbel thập thành tráng lệ xuất hiện trên bìa tờ Elle, thế chỗ nữ tiền bối Veronica Webb, khi này đang chơi trò diva cancel buổi chụp. 2 năm sau, người bạn lớn của những giai nhân da màu thế giới – Yves Saint Laurent dọa dẫm rằng ông sẽ rút lại mọi hợp đồng quảng cáo khi ban biên tập Vogue Paris kiêu kỳ miệt thị từ chối để Campbell lên trang bìa. Kết quả là con báo tơ đen óng 17 tuổi đắc thắng yểu điệu uốn mình trên trang bìa danh giá của Vogue Paris số tháng Tám 1988, đánh dấu cột mốc lịch sử lần đầu tờ này phải cắn răng tôn vinh lên bìa một làn da…không trắng.

Sau vụ công phá thành trì Vogue Paris, Campbell tiếp tục trở thành người mẫu da màu thứ hai (sau Donyale Luna) chinh phục tờ bìa Vogue UK, một lần nữa, như số phận sắp bày, ở vai trò thế mạng cho đàn chuyên-gia-cancel Vernonica Webb. Tiếp nối là Vogue Nippon, rồi đến Time Magazine và cả thành trì dài vạn lý Vogue China.

Thừa thắng xông lên, người đẹp trút bỏ xiêm y pose luôn cho Playboy, giữ nguyên y trạng, trưng nổ tấm thân nữ thần trên cuốn Sex của siêu diva Madonna năm 1992, quần thảo chung với đích thân diva và tay rapper Big Daddy Kane.

Lãnh địa hắc miêu: Âm nhạc, chính trị, mỹ phẩm

Nếu thuật ngữ supermodel bao gồm cả ảnh hưởng xã hội thì rõ là con báo đen không nghi ngờ gì nữa, là ứng viên sáng giá cho danh sách những supermodel của thế kỷ. Năm 2009, nàng bỏ bomb truyền thông với những phát biểu công khai về nạn phân biệt chủng tộc của ngành công nghệ thời trang.

Trong cuộc phỏng vấn với tạp chí Glamour, con mèo cái xinh đẹp phì phì khạc nhổ công khai “Bạn biết đấy, tổng thống Hoa Kỳ có thể là một người da đen, đen cỡ nào dân tình cũng không cự cãi, nhưng ở tư cách một cô gái da màu, cho đến giờ tôi vẫn bị coi là trường hợp ngoại lệ trên bìa tạp chí hay cả trên catwalk. Những cô da màu sẽ luôn phải cố gắng cật lực hơn các đồng nghiệp da trắng rất nhiều để được hưởng sự tôn trọng và quyền lợi tương đương.” Đối với con báo đen không biết chùn chân này, bậc thầy và đàn chị đi trước mà nàng tôn thờ và noi gương chính là Vệ Nữ Đồng Đen Iman.

Nhưng Campbell đã không hề là ngoại lệ so với hai đồng nghiệp da trắng cùng thời là Cindy và Claudia khi cả 3 đều thất bại với những cuộc tấn công bên ngoài lãnh địa thời trang. Album Baby Woman và single Love and Tears của nàng đã phải chịu thảm bại. Baby Woman có phần may mắn hơn tí chút tại thị trường Nhật Bản trên hơn 1 triệu bản được tung ra trên thế giới. Con báo đen khôn ngoan liền lập tức ghi điểm thị trường Nhật bằng cú kết hợp với Toshinobu Kubota cho ra đời single La La La Love Song, cùng ca khúc Long Vacation nhắm trúng hồng tâm No.1 hit thị trường Nhật Bản với chuẩn xác là 1,856,000 bản được thị trường thẩm thấu toàn bộ.

Năm 1994, từ quầy băng đĩa, Campbell tổng tấn công các kệ sách bằng cuốn tự truyện được mong chờ mang tên “Swan”, kể lể câu chuyện của nàng thiên nga đen mỹ miều, những vụ tống tiền và các bí mật đen thăm thẳm trong quá khứ của nàng, qua ghi chép của Caroline Upcher. Hai năm sau, bộ ảnh mang tự Naomi được xuất bản, gồm những shot ảnh của nàng do Richard Avedon và các nhiếp ảnh gia hàng đầu khác thực hiện.

Như một sự hiện nhiên, với tinh thần không khoan nhượng của loài mèo, Naomi Campbell thành lập Design House of Naomi Campbell năm 1999. Cho đến nay, nàng đã cho tung ra 7 dòng nước hoa nữ, phần lớn tập trung vào thị trường Âu châu. Năm 2000, là dòng nước hoa mang tên Naomi Campbell và Naomagic, 2001 đánh dấu sự ra đời của Cat Deluxe, nghỉ ngơi 1 năm thụ hưởng thành công, năm 2003 chứng kiến sự ra đời của Mystery, tiếp theo là Sunset, nghỉ tiếp 1 năm và Paradise Passion được tung ra thị trường vào 2005. Gần đây, Cat Deluxe phiên bản mới mang tên Cat Deluxe at Night lại gây sóng gió thị trường mỹ phẩm.

Không chỉ là nhân vật chính của các chiến dịch quảng cáo đầy quyền lực của Versace, Ralph Lauren, Dolce & Gabbana, giao du mật thiết với những yếu nhân thời trang khét tiến như Azzedine Alaia, Karl Lagerfeld, Jean Paul Gaulteir, John Galliano, Vivienne Westwood, Marc acobs, Yves Saint Laurent, Gianni Bersace và Alexander McQueen, nàng còn cộng tác biên tập cho các đầu tạp chí danh giá như GQ trong phỏng vấn với Lewis Hamilton, Hugo Chavez và Christina Kirchner.

Chưa bao giờ biết cha ruột của mình, Naomi xem Quincy Jones và Chris Blackwell như cha, và tổng thống Nelson Mandela như một người ông.

Với sự ảnh hưởng sâu sắc của những bậc trượng phu lừng danh như vậy, Campbell chưa hề kết hôn, mặc dù hồi 2008, báo chí đã có thời đồn rùm về việc mỹ nhân thành viên trung thành của Đảng Lao động này đang sửa soạn về dinh với tay đại gia bất động sản người Nga Vladislav Doronin và thụ đạo Orthodox. Ngoài ra, con báo đen cũng có lần suýt sa gót vào bẫy hôn nhân với Adam Clayton – tay bass của ban nhạc U2.

Mỹ nhân cục tính, hay Mike Tyson có thân hình Vệ Nữ

Năm 2000, Campbell bị luận tội tại tòa Toronto về vụ hành hung cựu trợ lý của mình là Georgina Galanis. Năm 1998, con mèo đen hung tợn nổi cọc và choảng điện thoại vào cô trợ lý rồi dọa sẽ ném cô ta ra khỏi chiếc Peugeot. Hậu quả là lời xin lỗi công khai và khoản bồi thường được giữ kín con số, cùng cam kết trị liệu tại các giờ huấn luyện kiểm soát cảm xúc.

Không rõ các chuyên gia đã thuần dưỡng hắc miêu Campbell ra sao, nhưng bốn năm sau, cán cân công lý tỏ ra bao dung hơn với nàng ở vụ kiện tiếp theo, với khoản bồi thường trị giá 3,500 bảng Anh về quyền riêng tư bị các paparazzi tờ Daily Mirror bêu riếu bằng những shot ảnh cảnh nàng rã rời tơi tả bước khỏi một viện điều dưỡng.

Nhưng các buổi trị liệu và chuyên gia đã phải vò đầu bứt tóc bất lực khi vào tháng Ba năm 2005, con mèo đen cục tính lại lên cơn sài giật, tát tai trợ lý Amanda Brack rồi xông vào đấm đá túi bụi vào đầu cô này bằng cái điện thoại BlackBerry không chút tiếc thương, dù là với nàng trợ lý tội nghiệp hay với chiếc điện thoại đa năng. Phát ngôn viên Rob Shuter của nàng chối đây đẩy vụ này. Tháng Bảy 2006, cựu trợ lý Brack lại kiên trì tiếp tục vác đơn đi kiện cho bằng được, kể lể chuyện Campbell vừa đánh vừa thóa mạ tưng bừng. Đơn kiện được cô Brack cay cú tội nghiệp gửi đến 3 tòa ở 3 châu lục, đòi được bồi thường với con số không công bố. Cô đào Ý Yvonne Sciò cũng là một nạn nhân khác đã kể lại rằng Campbell đã “bỏ mặc tôi nằm đó trong vũng máu sau khi đấm vào mặt tôi như thể cô ta là một Mike Tyson giống cái vậy.”

Cho đến 30 tháng Ba 2006 tại New York, các nhà chức trách đã phải nhảy vào bắt giữ con mèo cái đang nổi khùng giữa trận thượng hạ tay chân người giúp việc của mình với món vũ khí quen thuộc là một chiếc điện thoại, lần này là một chiếc có nạm đá khiến người này ôm đầu bê bết máu khâu đến mấy mũi trên đầu. Lần này, giai nhân cục tính đứng trước khả năng thụ án từ một đến bảy năm dư sức mọt gông với tội danh hành hung cấp độ 2. Ngày 28 tháng Chín 2006, Campbell không buồn xuất hiện tại phiên xử, chánh án dọa sẽ kêu lính còng đầu nàng ngay tắp lự nếu còn ngoan cố khinh tòa.

Ngày 25 tháng Mười 2006, Campbell lại một lần nữa bị bắt ở London, cũng vì tội hành hung và được bảo lãnh tại ngoại. Ngày 14 tháng 11 cùng năm, một người giúp việc cũ khác của Campbell, Gaby Gibson, tiếp tục đệ đơn kiện Campbell, gọi nàng là “mụ siêu côn đồ cuồng tín”.

Hãng luật mà Campbell làm thân chủ, Sullivan & Worcester ngán ngẩm rụt đầu le lưỡi trước con mèo cái điên và chấm dứt hợp đồng với thân chủ phiền toái này vào năm 2006 – đỉnh điểm các vụ vác chiếu hầu tòa của Campbell, và sau đó lu loa loan tin rằng nàng là “con thú hoang xổng chuồng có hại cho an ninh cộng đồng”.

Mất hãng luật đắc lực để bảo vệ, Naomi vẫn không có vẻ gì là nao núng. Ngày 16 tháng Giêng 2007, nàng bị tuyên án tội tấn công một người giúp việc khác là Ana Scolavino. Siêu diva thời trang bị phạt lao động công ích 5 ngày và 2 ngày tư vấn điều trị tâm lí – môn mà nàng học hoài không tốt nghiệp, và phải thanh toán hóa đơn bồi thường thuốc men cùng bốn mũi khâu nhà chị Scolavino là 363 bảng Anh. Theo đài CNN, Campbell đổ thừa cho “lòng khao khát thiếu thốn tình cha”.

Nhưng ngay cả điều này lẫn uy tín nhà đài CNN, hay dẫu đại tổ thời trang Yves Saint Laurent có can thiệp lần nữa vẫn không lay động được thiết diện bồi thẩm đoàn và cán cân công lý. Ngày 19 tháng Ba lịch sử đã ghi dấu sự kiện con báo đen của runway thời trang thế giới ngậm ngùi yểu điệu kì cọ sàn nhà Sở Vệ sinh Thành phố New York, mở đầu cho 5 ngày lao động công ích.

Tháng Tám 2007, thẩm phán Michael Stallman tòa tối cao New York phán xét và luận tội hắc miêu hung tàn của runway thế giới về “hành vi côn đồ có hệ thống nhắm vào các nhân viên thuộc hạ của mình.”

Ngài Stallman quả đã minh chứng được bản luận tội sáng suốt nọ vào mùa Hè năm sau, khi mà con hoang thú diễm lệ lại một lần nữa bị bắt tại sân bay Heathrow vì định hành hung luôn cả một sĩ quan cảnh sát chỉ vì mất một cái túi trong mớ hành lý của mình. Ngay lập hãng British Airways tuyên bố khước từ vị hành khách danh giá nhưng bất ổn này trên mọi chuyến bay quốc ngoại của hãng. Các nhà chức trách dứ dứ đe dọa trước giai nhân bất trị nguy cơ mặc thời trang sọc đến 6 tháng tù và mức phạt 5,000 bảng, tội danh côn đồ bừa bãi thêm 2,500 bảng nữa, cộng thêm tội hăm dọa lẫn thóa mạ phi hành đoàn vị chi là thêm 1,000 vét túi.

Vô hiệu, 2 tháng sau, Campbell lại bi tố đến 5 tội danh có liên quan đến hành vi bạo lực và thóa mạ. Thần Công-lý ngán ngẩm giáng tiếp xuống tặc miêu bạo tàn đòn 200 giờ lao động công ích.

Kể từ đó, các tiếp viên hãng British Airways đồng thuận gán cho Campbell hỗn danh “hắc diện đại mỹ nhân” (golliwogg supermodel) để ám chỉ cơn ác mộng màu đen của các chuyên bay đầy kịch tính có mặt kỳ nữ du côn này.

Có vẻ sự thiếu thốn tình phụ tử của Campbell đã đến độ trầm kha khi chỉ mới đầu năm nay, tài xế limousine của nàng lại vừa phải cầu cứu sở Cảnh sát Nữu Ước khi bị “báo vờn” bằng một loạt tát và đấm lên mặt và thân thể. Hẳn nhiên là phát ngôn viên mỏi mòn của Campbell phải kêu toáng lên rằng “Đừng chỉ vì nàng thường xuyên có động thủ trong quá khứ mà tin ngay lời cáo buộc” và cho rằng rất có thể đã không chỉ có những cú đấm bay đi từ phía Naomi mà rất có thể “cô gái tội nghiệp” đã phải tung đòn với mục đích tự vệ. Lí lẽ này đã được Sở Cảnh sát Nữu Ước xem là câu đùa tếu nhất trong năm.

Huyền sử “viên kim cương máu” và giai nhân da màu giữa biệt điện Hồng Quân

Cũng trong năm nay, khi Mia Farrow lu loa tin Campbell đã có lần khoe rằng mình được thủ lĩnh đảng tự do Charles Taylor tặng viên kim cương máu (blood diamond) chưa mài cắt, khi cả 3 tham dự sự kiện gây quỹ từ thiện của tổng thống Nam phi Nelson Mandela hồi năm 1997. Campbell từ chối xác thực thông tin. Con báo đen đứng phắt dậy, phóng vút giữa chừng cuộc phỏng vấn với ABC News sau khi từ chối trả lời và tấn công một camera gần đó.

Tháng Bảy vừa rồi, người ta lại thấy báo đen xuất hiện tại tòa, lần đầu ở tư cách nhân chứng phiên tòa chống Charles Taylor, nơi mà việc cưỡng lệnh triệu tập của tòa sẽ bảo đảm tròn trịa 7 cuốn lịch cho báo đen sau song sắt. Campbell miễn cưỡng có mặt, luôn miệng kêu than rằng tòa đang làm phiền quấy nhiễu đến mình. Nàng chỉ khai rằng được Charles tặng “cục đá nhuôm nhoam xấu hoắc” tại một bữa ăn tối, mà về sau mới “nghe đồn” rằng đấy là một thứ…đại loại như kim cương, và nàng đã tặng lại cho Quỹ Thiếu nhi mang tên Nelson Mandela, qua tay vị đại diện đứng đầu là Jeremy Ratcliffe. Vị đại diện Ratcliffe gửi thư đến tòa kêu oan rùm trời, rằng thì là ông chưa bao giờ nhận một hạt tí ti kim cương nào từ tay con báo đen hay bất cứ ai cả, vì nhận đóng góp từ thiện bằng…hột xoàn là sai nguyên tắc hoạt động của quỹ này. Ngày hôm sau, đài BBC loan tin rằng Ratcliffe đã phản cung và thừa nhận có nhận kim cương từ tay kiều nữ báo đen.

Cho đến tháng Năm vừa qua, Naomi Campbell vẫn sống ở Moscow, nơi nàng từ nay xem là ngôi nhà thứ hai của mình cùng người tình trùm bất động sản Nga Xô. Nghe đâu nàng có nhúng tay tham gia công cuộc kinh doanh thịnh vượng cùng người tình. Họ sống trong dinh thự riêng vốn trước đây là đại bản doanh hào hùng của chính quyền Đảng Cộng Sản Xô Viết, nơi ngày nay trở thành tòa biệt điện huy hoàng của con báo ngông cuồng, vĩnh viễn chôn dấu bên trong mọi cơn thất thường sài giật của cựu siêu mẫu thế giới – báo đen mắt huyền Naomi Campbell.

(thuộc chùm bài Iman-Cindy-Claudia-Naomi, tạp chí f. số Tết 2011)

những chuyến đi không bao giờ là kết thúc…

by f.

2010 đã là một con số chẵn chịa và tròn đầy.

Và những ngày cuối năm, người ta sẽ quay đầu nhìn lại một lần con đường vừa đã đi qua. Có thể đó là bởi buổi chiều cuối cùng của năm đã tuyệt đẹp và thênh thang tròn đầy, hoặc có thể bởi 12 tháng và các mùa đã mang họ đi quá xa và quá nhanh. Từ rất xa, mọi thứ đều trở nên tốt đẹp cho lòng vị tha tở mở.

2010 – con số chẵn chịa tròn đầy, dù trong đó có cả những khoảng trống của mất mát mãi mãi không bao giờ bù đắp được, khi những nốt thăng nốt giáng của đoản khúc trong đời lại được trớ trêu sắp cận kề, có hợp có tan, có sinh có tử.

Năm 2010 đã chứng kiến sự ra đời tròn đầy của f. trong những ngày cả giới thời trang hẵng còn chưa lặng cơn chấn động khuấy đảo thánh địa haute couture với nỗi đe dọa diệt vong, và sự ra đi thầm lặng nhưng đau đớn của thiên tài đương đại trong sự thảng thốt của mọi headline tạp chí thời trang thế giới: Lee Alexander McQueen.

Nhưng phía sau sự khởi đầu đầy hoảng loạn ấy, nhìn lại tấm thảm đỏ mang tên thời trang trải dài 12 tháng, đã là những mùa thời trang không bình lặng. Flower power thế hệ mới ngự trị mốt Xuân Hè, tân hiện sinh lên ngôi không với trường phái Boheme mà lại dưới hình hài những bộ quân phục của phong cách Military ngỡ như đối lập.

Gã quản gia thiết diện nhà Chanel mang cục nước đá Nam Cực về làm tê liệt cả Paris, trong khi ở xứ sương mù, nhà Louis Vuitton tái hiện lại cả một biệt điện quá vãng, một thứ pháo đài của những tâm hồn hoài cổ nửa u uất nửa phong lưu. Và ngoài kia, ngôi sao pop Mỹ tuyệt vọng quấn những tảng thịt sống lên người, hát lên những lời ca lưỡng tính…

Giữa những trớ trêu sắp đặt cận kề ấy, như một ánh sáng cuối đường hầm, như chiếc phao cứu sinh cuối cùng vứt xuống cho cuộc sa lầy của tinh thần lãng mạn xa xỉ haute couture, những buổi tiệc huy hoàng nhất thập niên đã vô tình dồn tựu vào con số tròn trịa 2010. Những ngôi sao vẫn dát vàng lên thảm đỏ với phong cách tột đỉnh thượng lưu, trong khi ngoài thị trường thời trang ready-to-wear dậy sóng vintage với những sọc xanh lính thủy và vẻ đẹp pin-up xưa cổ hồi sinh.

Tinh thần lãng mạn đã không rời bỏ thế giới.

Những người đàn ông vẫn cần tắm tưới những người đàn bà bằng những cơn mưa kẹo ngọt.

Những gã trai lơ lâu năm vẫn dõi ánh mắt đa tình theo mỗi tuyệt tác thịt da đong đưa trên đôi gót slimheel, dù chỉ là thú phù phiếm của ánh nhìn tán tụng.

Và những giai nhân vang bóng một thời vẫn muôn đời không là quá vãng.

2010, đã có những tử biệt và lụi tàn.

2010, đã có cả những cuộc hồi sinh bất chợt của vẻ đẹp hoài cổ xa xưa.

Vòng thời trang vẫn cứ xoay…

Những trào lưu tái suy rồi tái thịnh, những kẻ tri kỷ vong niên làm lại cuộc hạnh ngộ dẫu có phải mất mát lại từ đầu.

Những chuyến đi, không bao giờ là kết thúc.

Bởi người ta vẫn luôn có thể gặp lại nhau, dưới những tán lá vườn Majorelle.

photo by Thảo

 

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 41 other followers